1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tác động của cam kết lao động trong hiệp định thương mại EVFTA đến quan hệ lao động tại các doanh nghiệp ở Việt Nam

21 119 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 46,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lời mở đầu 1.Tính cấp thiết của đề tài: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới thì vấn đề bảo đảm quyền lợi của người lao động trong quan hệ lao động ngày càng được coi trọng. Trên cơ sở coi người lao động là người trực tiếp làm ra các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trong thương mại quốc tế nên trước hết họ phải là người được hưởng lợi, được chia sẻ thành quả của quá trình này. Nhận biết được điều trên các nước phát triển là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization – WTO) đã nỗ lực để đưa các tiêu chuẩn lao động vào trong các thỏa thuận thương mại song phương và khu vực. Nội dung các cam kết về lao động, cơ chế thực thi và giải quyết tranh chấp cũng không ngừng được thúc đẩy và quy định ngày càng cụ thể trong các thỏa thuận với mức độ ngày càng chặt chẽ. Theo thống kê, từ năm 1993 đến nay, số lượng các Hiệp định thương mại tự do có chứa điều khoản về lao động không ngừng tăng lên từ 4 Hiệp định năm 1995 lên 72 Hiệp định vào năm 2015. Đối với Việt Nam , trong những năm gần đây Việt Nam cũng đã ký kết và tham gia đàm phán nhiều hiệp định thương mại tự do. Như tham gia Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương,…, và đặc biệt là sự ký kết Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Châu Âu(EVFTA) đã giúp nền kinh tế Việt Nam ngày phát triển và lớn mạnh hơn.Có thể nói Hiệp định thương mại EVFTA là cú hích rất lớn cho xuất khẩu của Việt Nam, giúp đa dạng hóa thị trường và mặt hàng xuất khẩu, đặc biệt là các mặt hàng nông, thủy sản cũng như những mặt hàng Việt Nam vốn có nhiều lợi thế cạnh tranh. Với những cam kết dành đối xử công bằng, bình đẳng, bảo hộ an toàn và đầy đủ cho các khoản đầu tư và nhà đầu tư của nhau trong Hiệp định IPA cũng sẽ góp phần tích cực vào việc xây dựng môi trường pháp lý và đầu tư minh bạch, từ đó Việt Nam sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư hơn đến từ EU và các nước khác. Vậy nội dung các cam kết lao động trong hiệp định thương mại EVFTA đến quan hệ lao động trong doanh nghiệp ở Việt Nam như thế nào? Các tác động của hiệp định thương mại EVFTA đến quan hệ lao động trong doanh nghiệp ở Việt Nam ra sao? Để tìm ra được câu trả lời cho những câu hỏi trên tôi trọn lựa đề tài: “Nghiên cứu tác động của cam kết lao động trong hiệp định thương mại EVFTA đến quan hệ lao động tại các doanh nghiệp ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu. 2.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: tác động của cam kết lao động trong hiệp định thương mại EVFTA đến quan hệ lao động tại các doanh nghiệp ở Việt Nam Phạm vi nghiên cứu: Về không gian: nghiên cứu: Môi trường Quan hệ lao động của Doanh nghiệp tại Việt Nam Về thời gian: Số liệu , thông tin thứ cấp,nội dung nghiên cứu thu thập từ năm 2015-2019. 3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu: Tổng quan những căn cứ lý luận quan hệ lao động và thực tiễn về cam kết lao động của hiệp định thương mại EVFTA về quan hệ lao động , trên cơ sở phân tích thực tế các tác động của cam kết lao động trong hiệp định thương mại EVFTA đến quan hệ lao động tại các doanh nghiệp ở Việt Nam, đề xuất một số giả pháp nhằm hoàn thiện những tồn tại, hạn chế và tăng cường tác động tích cực của các cam kết lao động đối với quan hệ lao động ở doanh nghiệp.. Nhiệm vụ nghiên cứu: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quan hệ lao động và giới thiệu tổng quát hiệp định thương mại EVFTA Đánh giá thực trạng tác động của cam kết lao động trong hiệp định thương mại EVFTA đến quan hệ lao động tại các doanh nghiệp ở Việt Nam Đề xuất một số giả pháp nhằm hoàn thiện những tồn tại, hạn chế và tăng cường tác động tích cực của các cam kết lao động đối với quan hệ lao động ở doanh nghiệp. 4.Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản như sau: + Phương pháp thống kê: Tổng hợp số liệu của công ty có liên quan đến tác động của cam kết lao động trong hiệp định thương mại EVFTA đến quan hệ lao động tại các doanh nghiệp ở Việt Nam. + Phương pháp phân tích: Phân tích các báo cáo liên quan tác động của cam kết lao động trong hiệp định thương mại EVFTA đến quan hệ lao động tại các doanh nghiệp ở Việt Nam.

Trang 1

Lời mở đầu1.Tính cấp thiết của đề tài:

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực vàthế giới thì vấn đề bảo đảm quyền lợi của người lao động trong quan hệ lao độngngày càng được coi trọng Trên cơ sở coi người lao động là người trực tiếp làm racác sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trong thương mại quốc tế nên trước hết họ phải làngười được hưởng lợi, được chia sẻ thành quả của quá trình này Nhận biết đượcđiều trên các nước phát triển là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới(World Trade Organization – WTO) đã nỗ lực để đưa các tiêu chuẩn lao động vàotrong các thỏa thuận thương mại song phương và khu vực Nội dung các cam kết vềlao động, cơ chế thực thi và giải quyết tranh chấp cũng không ngừng được thúc đẩy

và quy định ngày càng cụ thể trong các thỏa thuận với mức độ ngày càng chặt chẽ.Theo thống kê, từ năm 1993 đến nay, số lượng các Hiệp định thương mại tự do cóchứa điều khoản về lao động không ngừng tăng lên từ 4 Hiệp định năm 1995 lên 72Hiệp định vào năm 2015

Đối với Việt Nam , trong những năm gần đây Việt Nam cũng đã ký kết và thamgia đàm phán nhiều hiệp định thương mại tự do Như tham gia Hiệp định đối táctoàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương,…, và đặc biệt là sự ký kết Hiệp địnhthương mại tự do Việt Nam – Liên minh Châu Âu(EVFTA) đã giúp nền kinh tếViệt Nam ngày phát triển và lớn mạnh hơn.Có thể nói Hiệp định thương mạiEVFTA là cú hích rất lớn cho xuất khẩu của Việt Nam, giúp đa dạng hóa thị trường

và mặt hàng xuất khẩu, đặc biệt là các mặt hàng nông, thủy sản cũng như nhữngmặt hàng Việt Nam vốn có nhiều lợi thế cạnh tranh Với những cam kết dành đối xửcông bằng, bình đẳng, bảo hộ an toàn và đầy đủ cho các khoản đầu tư và nhà đầu tưcủa nhau trong Hiệp định IPA cũng sẽ góp phần tích cực vào việc xây dựng môitrường pháp lý và đầu tư minh bạch, từ đó Việt Nam sẽ thu hút nhiều nhà đầu tưhơn đến từ EU và các nước khác Vậy nội dung các cam kết lao động trong hiệpđịnh thương mại EVFTA đến quan hệ lao động trong doanh nghiệp ở Việt Nam nhưthế nào? Các tác động của hiệp định thương mại EVFTA đến quan hệ lao độngtrong doanh nghiệp ở Việt Nam ra sao? Để tìm ra được câu trả lời cho những câu

hỏi trên tôi trọn lựa đề tài: “Nghiên cứu tác động của cam kết lao động trong

hiệp định thương mại EVFTA đến quan hệ lao động tại các doanh nghiệp ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu.

2.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Trang 2

Đối tượng nghiên cứu: tác động của cam kết lao động trong hiệp định thương

mại EVFTA đến quan hệ lao động tại các doanh nghiệp ở Việt Nam

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quan hệ lao động và giới thiệu tổng quát hiệp địnhthương mại EVFTA

Đánh giá thực trạng tác động của cam kết lao động trong hiệp định thương mạiEVFTA đến quan hệ lao động tại các doanh nghiệp ở Việt Nam

Đề xuất một số giả pháp nhằm hoàn thiện những tồn tại, hạn chế và tăng cườngtác động tích cực của các cam kết lao động đối với quan hệ lao động ở doanhnghiệp

4.Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơbản như sau:

+ Phương pháp thống kê: Tổng hợp số liệu của công ty có liên quan đến tác độngcủa cam kết lao động trong hiệp định thương mại EVFTA đến quan hệ lao động tạicác doanh nghiệp ở Việt Nam

+ Phương pháp phân tích: Phân tích các báo cáo liên quan tác động của cam kếtlao động trong hiệp định thương mại EVFTA đến quan hệ lao động tại các doanhnghiệp ở Việt Nam

Trang 3

Chương 1 : Cơ sở lý luận về quan hệ lao động trong doanh nghiệp và hiệp định thương mại EVFTA

1.1.Tổng quan về Cơ sở lý luận về quan hệ lao động trong doanh nghiệp Khái niệm quan hệ lao động:

Trong nền kinh tế kế hoạch tập trung: quan hệ lao động là quan hệ giữa người

với người trong quá trình sản xuất Cách hiểu này được tiếp cận phổ biến trongnhững năm giữa thế kỷ XX và là một bộ phận cấu thành của hệ tư tưởng kể hoạchhóa tập trung, phổ biến ở các nước thuộc phe xã hội chủ nghĩa Hệ tư tưởng kinh tếnày không thừa nhận sự tồn tại của quan hệ mua bán sức lao động, không có quan

hệ chủ - thợ Do đó, mọi người bình đẳng và làm việc vì lợi ích chung

(Trích từ: Các nguyên lý Quan hệ lao động, NXB Lao động – Xã hội, TS.Nguyễn Duy Phúc (2012).)

Trong nền kinh tế thị trường: Tổ chức lao động quốc tế( ILO) đưa ra định

nghĩa về quan hệ lao động là: “Những mối quan hệ cá nhân vaf tập thể giữa ngườilao động và người sử dụng lao động tại nơi làm việc, cũng như các mối quan hệgiữa các đại diện của họ với nhà nước Những mối quan hệ như thế xoay quanh cáckhía cạnh luật pháp, kinh tế, xã hội học và tâm lý học và bao gồm cả những vấn đềnhư tuyển mộ, thuê mướ, sắp xếp công việc, đạo tạo, kỹ thuật, thăng chức, buộcthôi việc, kết thúc hợp đồng, làm ngoài giờ, tiền thưởng, phân chia lợi nhuận, giáodục, y tế, vệ sinh, giải trí, chỗ ở, giờ làm việc, nghỉ ngơi, nghỉ phép , các vấn đềphúc lợi cho người thất nghiệp, ốm đau, tai nạn, tuổi cao và tàn tật”

(Trích từ: Các nguyên lý Quan hệ lao động, NXB Lao động – Xã hội, TS.Nguyễn Duy Phúc (2012).)

Tổng hợp từ các luồng tư tưởng, các định nghĩa khác nhau về quan hệ lao động cho thấy chúng có cùng một cách hiểu thống nhất là:

Quan hệ lao động là hệ thống những mối quan hệ giữa người lao động và người

sử dụng lao động tại nơi làm việc hay giữa những tổ chức đại diện của họ với nhau

và với nhà nước Những mối quan hệ như vậy bị chi phối bởi lợi ích và xoay quanhcác vấn đề phát sinh thừ hoạt đọng thuê mượn lao động

1.2 Tổng quan hiệp định thương mại EVFTA:

Trang 4

- Từ tháng 10/2012 – tháng 8/2015: hai Bên đã tiến hành 14 vòng đàm phánchính thức và nhiều phiên đàm phán giữa kỳ

- Ngày 4/8/2015: hai Bên tuyên bố Kết thúc cơ bản đàm phán EVFTA

- Ngày 1/12/2015: hai Bên tuyên bố chính thức kết thúc đàm phán EVFTA

- Ngày 1/2/2016: hai Bên công bố văn bản chính thức của EVFTA

- Tháng 06/2017: hai Bên hoàn thành rà soát pháp lý ở cấp kỹ thuật

- Ngày 26/6/2018: hai Bên thống nhất tách EVFTA làm hai Hiệp định, một làHiệp định Thương mại (EVFTA), và một là Hiệp định Bảo hộ Đầu tư (EVIPA);chính thức kết thúc quá trình rà soát pháp lý đối với Hiệp định EVFTA

- Tháng 08/2018: hai Bên công bố chính thức hoàn tất việc rà soát pháp lý đốivới Hiệp định EVIPA

- Ngày 17/10/2018: Ủy ban châu Âu chính thức thông qua EVFTA và EVIPA

- Ngày 30/6/2019: hai Bên chính thức ký kết EVFTA và EVIPA

- Ngày 12/2/2020: Nghị viện châu Âu chính thức thông qua EVFTA và EVIPA

- Ngày 8/6/2020: Quốc hội Việt Nam chính thức thông qua EVFTA và EVIPA

- Đối với EVFTA, Hiệp định này đã chính thức có hiệu lực kể từ ngày 1/8/2020.Đối với EVIPA, về phía EU, Hiệp định sẽ còn phải được sự phê chuẩn tiếp bởiNghị viện của tất cả 27 nước thành viên EU (sau khi Vương quốc Anh hoàn tấtBrexit) mới có hiệu lực

Đối tác

- EU là một liên minh gồm 27 quốc gia ở khu vực châu Âu (sau khi Vương quốcAnh hoàn tất Brexit) và là một trong những đối tác thương mại lớn nhất của ViệtNam Cho tới thời điểm hiện tại, Việt Nam chưa có FTA nào với các quốc gia trongkhu vực này

- EU đã từng khởi động đàm phán FTA với khu vực ASEAN từ năm 2007, tuynhiên đến năm 2009 đàm phán đã bị dừng lại

- Về quan hệ song phương với từng quốc gia ASEAN, hiện EU đã ký kết FTA vàIPA với Singapore, chuẩn bị ký kết FTA và IPA với Việt Nam, và đang đàm phánFTA với Thái Lan, Malaysia, Philippines và Indonesia

- Năm 2019, EU là đối tác thương mại lớn thứ 5 của Việt Nam, và là thị trườngxuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam, chỉ sau Hoa Kỳ Đặc điểm nổi bật trong cơ cấuxuất nhập khẩu giữa Việt Nam và EU là tính bổ sung rất lớn, ít mang tính cạnhtranh đối đầu trực tiếp

Một số nội dung chính và các cam kết lao động trong hiệp định EVFTA

EVFTA là một FTA thế hệ mới, với phạm vi cam kết rộng và mức độ cam kếtcao Hiệp định gồm 17 Chương, 2 Nghị định thư và một số biên bản ghi nhớ Cáclĩnh vực cam kết chính trong EVFTA bao gồm:

Thương mại hàng hóa, bao gồm:

+ các quy định chung (gọi là cam kết lời văn); và

+ các biểu cam kết thuế quan cụ thể (gọi là cam kết mở cửa thị trường)

Quy tắc xuất xứ, bao gồm:

+ các nguyên tắc xác định xuất xứ chung

Trang 5

+ các quy tắc xuất xứ riêng cho những loại hàng hóa nhất định

Hải quan và thuận lợi hóa thương mại

Các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật(SPS)

Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT)

Phòng vệ thương mại (TR)

Thương mại dịch vụ (lời văn về quy định chung và cam kết mở cửa thịtrường):

+ Các quy định chung (gọi là cam kết lời văn); và

+ Các biểu cam kết mở cửa dịch vụ cụ thể (gọi là cam kết mở cửa thịtrường)

Đầu tư:

+ Các nguyên tắc chung về đối xử với nhà đầu tư

+ Cơ chế giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước và nhà đầu tư nước ngoài

- Tự do hiệp hội và công nhân một cách thực chất quyền thương lượng tập thể;

- Chấm dứt mọi hình thức lao động cưỡng bức hoặc ép buộc

- Loại bỏ một cách hiệu quả lao động trẻ em;

- Chấm dứt phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp

Trang 6

Chương 2: Thực trạng tác động của cam kết lao động trong hiệp định thương mại EVFTA đến quan hệ lao động tại các doanh nghiệp ở Việt Nam2.1.Đặc trưng của quan hệ lao động ở Việt Nam

Quan hệ lao động trong các nước có nền kinh tế thị trường có những đặc trưng cơbản Thứ nhất, QHLĐ là quan hệ vừa mang tính chất kinh tế, vừa mang tính chất xãhội; thứ hai, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn; thứ ba, vừa bình đẳng, vừa không bìnhđẳng; thứ tư, vừa mang tính chất cá nhân, vừa mang tính chất tập thể

Tuy nhiên, biểu hiện cụ thể các đặc trưng này ở các nước khác nhau có thể cónhững điểm khác nhau Đối với Việt Nam, về cơ bản, QHLĐ cũng mang đầy đủ 4đặc trưng nêu trên Song đây là vấn đề rất mới, đang trong quá trình hình thành,phát triển với những đặc điểm rất đặc thù cần phải lưu ý nhằm phát triển QHLĐ vừatuân thủ những nguyên tắc của thị trường, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể củaViệt Nam Các đặc điểm đó là :

- Thứ nhất: Việt Nam là nước từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp tồntại khá lâu trước đây, từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa (XHCN) cho nên nhận thức của các chủ thể về QHLĐ còn ở mức độkhác nhau Nhất là nhận thức của NLĐ, tổ chức đại diện của NLĐ và vai trò, tráchnhiệm của mình về QHLĐ trong cơ chế thị trường còn mờ nhạt, chậm đổi mới Khảnăng thực hiện quyền tự thương lượng, thỏa thuận trong việc lựa chọn việc làm, nơilàm việc và các vấn đề liên quan đến lợi ích của NLĐ còn hạn chế

- Thứ hai: QHLĐ ở nước ta được thiết lập và thực hiện trong tình trạng mất cânđối giữa cung và cầu lao động Trạng thái của QHLĐ phụ thuộc rất nhiều vào tươngquan cung cầu trong thị trường lao động, tức là mối quan hệ giữa nguồn cung vàcầu sức lao động Ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, cung lao động luôn nhiềuhơn cầu lao động, sự mất cân đối này không chỉ là về số lượng mà còn cả về chấtlượng sức lao động, đã tác động không nhỏ đến QHLĐ Như vậy NLĐ luôn luôn ởvai trò vị thế yếu hơn so với NSDLĐ trong việc thương lượng, thỏa thuận về cácvấn đề liên quan đến QHLĐ

- Thứ ba: Thể chế kinh tế thi trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam tuy

đã được thiết lập để tạo hành lang, khung khổ pháp lý cho QHLĐ hình thành vàphát triển, nhưng chưa được hoàn thiện, nhất là pháp luật về QHLĐ còn có một sốvấn đề chưa phù hợp với kinh tế thi trường, hội nhập quốc tế và trong điều kiệnkinh tế - xã hội luôn vận động phát triển nên phải thường xuyên bổ sung, sửa đổi

Trang 7

- Thứ tư: Doanh nghiệp Việt Nam phát triển khá mạnh trong những năm gần đây,nhưng có 98% là doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa, trình độ và năng lực cạnhtranh còn thấp, chưa có mối liên kết theo ngành để hình thành các chủ thể QHLĐcủa ngành Lao động trong các doanh nghiệp những năm gần đây được tuyển dụngchủ yếu từ nông thôn và nông dân, đội ngũ công nhân lành nghề còn ít và chưa hìnhthành đội ngũ công nhân nhiều đời, cha truyền con nối

- Thứ năm: Thiết chế chính trị của Việt Nam cũng có những điểm khác với cácnước Mặc dù mô hình của Việt Nam là phát triển nền kinh tế thi trường định hướng

xã hội chủ nghĩa có sự quản lý, điều tiết của Nhà nước, song các thiết chế QHLĐ cómột số điểm khác với nguyên tắc thị trường, nhất là về thiết chế đại diện người sửdụng lao động và người lao động

2.2 Thực trạng tác động của cam kết lao động trong hiệp định thương mại EVFTA đến quan hệ lao động tại các doanh nghiệp ở Việt Nam

2.2.1 Những bước tiến của Việt Nam và những việc cần làm:

Quốc hội Việt Nam đã bỏ phiếu phê chuẩn Công ước 98 của ILO về quyền tổchức và thương lượng tập thể vào tháng 6/2019 và phê chuẩn gia nhập Công ước số

105 của Tổ chức Lao động Quốc tế về xóa bỏ lao động cưỡng bức vào tháng6/2020, nâng tổng số Công ước cơ bản của ILO mà Việt Nam đã gia nhập lên 7 trêntổng số 8 Công ước

Việt Nam thông qua Bộ luật Lao động sửa đổi vào tháng 11/2019, với các nộidung tiệm cận hơn với các Công ước cơ bản của ILO

Theo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Việt Nam dự kiến phê chuẩncông ước còn lại, Công ước 87 về tự do hiệp hội và bảo vệ quyền tổ chức vào năm2023

2.2.2.Tác động đến chủ thể quan hệ lao động

Đây là nội dung mà hiệp định EVFTA tác động trực tiếp tới và là một trong những tác động quan trọng đến tình hình QHLĐ trong doanh nghiệp ở Việt Nam

Người lao động và Tổ chức đại diện của NLĐ:

Với việc dự kiến phê chuẩn công ước còn lại, công ước 87 về tự do hiệp hội vàbảo vệ quyền tổ chức vào năm 2023 đã tạo bàn đạp cho việc thành lập và phát triểnCông Đoàn cơ sở một cách mạnh mẽ Thể hiện qua số lượng CĐCS từ 48 nghìncông đoàn lên thành 126 nghìn công đoàn, tăng 78 nghìn công đoàn tương ứng xấp

xỉ 162% trong giai đoạn (2016-2018), cũng trong năm 2018 số đoàn viên và CĐCSđược thành lập theo phương pháp mới lần lượt là 97.231 và 1.010 ( Công đoàn cấptrên cơ sở sẽ không đứng ra thành lập Công đoàn ở cơ sở mà do chính người lao

Trang 8

động trực tiếp tổ chức Ban vận động thành lập Công đoàn cơ sở tại cơ quan, tổchức, doanh nghiệp và được Công đoàn cấp trên cơ sở tuyên truyền, vận động,hướng dẫn, giúp đỡ); còn trong báo cáo quý III năm 2019 số Doanh nghiệp có tổchức Công đoàn: ~ 10% Đến quý I của 2020 đã kết nạp mới 60000 đoàn viên côngđoàn, thành lập 1688 CĐCS tại các doanh nghiệp có từ 25 công nhân, lao động trởlên ( Theo bảng 1.1; 1.2; 1.4)

Từ những số liệu trên ta thấy với số lượng công đoàn được thành lập nhiều vàđặc biệt là việc thành lập CĐCS theo phương pháp mới đã tạo ra tác động mạnh mẽ

và trực tiếp đến: phúc lợi, việc được bảo vệ và một số quyền lợi, lợi ích của ngườilao động trong quan hệ lao động Từ đó người lao động cũng yên tâm, dễ dàng dượcgiải quyết các vướng mắc hơn trong quan hệ lao động

Từ việc ký kết hiệp định EVFTA Công ước 98 phê chuẩn Công ước 98 bao gồm

ba cấu phần chính nhằm đảm bảo thương lượng tập thể giữa người lao động vàngười sử dụng lao động có thể diễn ra một cách hiệu quả Đó là: bảo vệ người laođộng và cán bộ công đoàn không bị phân biệt đối xử tại nơi làm việc, đảm bảo chocác tổ chức đại diện của người lao động và người sử dụng lao động không bị canthiệp hoặc chi phối từ bên còn lại; và yêu cầu Nhà nước cần có các biện pháp vềpháp luật và thiết chế nhằm thúc đẩy thương lượng tập thể Từ đó đã tạo nền tảngcho tự do hiệp hội và công nhân một cách thực chất quyền thương lượng tập thể củaNLĐ kết hợp với việc CĐCS được thành theo phương pháp mới thì việc được thựcchất quyền thương lượng của NLĐ càng chắc chắn hơn

Cam kết chấm dứt phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp của EVFTA đãtạo một môi trường quan hệ lao động lành mạnh, tạo cơ hội phát triển bình đẳnghơn cho nữ giới cũng như các công việc chưa được công nhận trước đây Nó đãđược chứng minh dần qua các năm như trong báo cáo quý III năm 2019 nêu rằng có25,16 triệu Lao động làm công hưởng lương (Tỷ lệ nữ ~47,75%) ( Theo bảng 1.3 )Như vậy từ những tác động trên hiệp định EVFTA đã góp phần tạo cho ngườilao động sự yên tâm và dễ dàng trao đổi giải quyết các vướng mắc hơn trong quan

hệ lao động

Tác động đến NSDLĐ và Tổ chức đại diện của NSDLĐ:

Với việc càng ngày có nhiều CĐCS hơn đã giúp doanh nghiệp khi có thay đổi cơcấu, sắp xếp lại lao động, nhân sự hoặc cải tiến đầu tư, công nghệ, trang thiết bịphục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, Công đoàn cở sở có thể thay chủ doanhnghiệp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của công nhân, lao động; phản ảnh ý kiếnđộng viên, khuyến khích người lao động tự giác, có ý thức trong lao động, sản xuấtqua đó giúp Doanh nghiệp trong việc sắp xếp lao động một cách hợp lý để phát huy

Trang 9

tối đa hiệu quả của nguồn lực, cũng như chấm dứt hợp đồng lao động đối với nhữngtrường hợp không đáp ứng được yêu cầu của Doanh nghiệp

Công đoàn còn là cầu nối trong việc giải quyết các mâu thuẫn, xung đột giữangười lao động với người sử dụng lao động như giải quyết những vụ đình công,khiếu nại, khiếu kiện đã gây ra thiệt hại không nhỏ cho Doanh nghiệp Khi có tranhchấp xảy ra như đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, kỷ luật lao động, đìnhcông… Công đoàn cơ sở sẽ tổ chức đối thoại nhằm dung hòa lợi ích của người laođộng với người sử dụng lao động trên tư cách là một chủ thể độc lập, trung gian giảiquyết tranh chấp lao động, hạn chế công nhân hoặc người lao động tự ý bỏ việc, làmviệc không hết trách nhiệm, không tôn trọng cam kết, thoả ước lao động

Ngoài tác động tích cực của việc tự do thành lập tổ chức đại diện cho mình ở cấpdoanh nghiệp và cấp cao hơn thì nó còn đem đến thách thức rất lớn vì đây là câuchuyện liên quan trực tiếp tới doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ bỏ chi phí thế nàotrong bối cảnh 1 doanh nghiệp có nhiều tổ chức đại diện và sẽ gây nhiều rắc rối trên

thực tế Thể hiện ở việc trong năm 2019, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt

Nam (VCCI) thành lập được 9 chi nhánh tại các tỉnh, thành phố và ủy quyền cho 20hội đồng sử dụng lao động là đại diện các hiệp hội doanh nghiệp thực hiện chứcnăng đại diện người sử dụng lao động tại cấp tỉnh; Liên minh hợp tác xã Việt Nam(VCA) đã có cơ quan đại diện tại 63/63 tỉnh, thành phố; Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ

và vừa Việt Nam, từ 2008 đến 2019 đã mở rộng được số lượng thành viên từ 300doanh nghiệp lên 62.000 doanh nghiệp và có 59 hiệp hội tại các tỉnh, thành phố;Hiệp hội Doanh nghiệp dệt may Việt Nam có 800 thành viên trong phạm vi cảnước… Ngoài ra, nhiều hiệp hội doanh nghiệp được thành lập cả ở cấp trung ương

và địa phương, cả hiệp hội doanh nghiệp trong nước và hiệp hội doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài như Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản, Hiệp hội doanhnghiệp Đài Loan… để tham gia đại diện bảo vệ quyền và lợi ích của các doanhnghiệp

Như vậy tác động của EVFTA ảnh hưởng lớn đến mối quan hệ lao động củadoanh nghiệp tại Việt Nam và quan trọng hơn là việc đưa ra những đề xuất đểdoanh nghiệp tận dụng tốt hơn các cơ hội và vượt qua những thách thức mà cam kếtlao động của Hiệp định thương mại Việt Nam – EU có thể mang đến Từ đó có thểgiúp cho cộng đồng doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh và tham gia tốt hơn vàochuỗi cung ứng toàn cầu cũng như quá

Chính phủ:

Hiệp định EVFTA đã tác động đến sự hoàn thiện Bộ Luật lao đông của Nam, vớibước tiến thông qua Bộ luật Lao động sửa đổi vào tháng 11/2019

Trang 10

Quá trình sửa đổi Bộ Luật Lao động lần này đã đem lại những thay đổi đáng kểđến QHLĐ của Việt Nam như việc đã mở rộng đối tượng điều chỉnh củaBLLĐ2019; đồng thời quy định rõ QHLĐ cá nhân và QHLĐ tập thể, Đổi mới trướctiên là BLLĐ2019 mở rộng thêm đối tượng người làm việc không có QHLĐ.QHLĐ được quy định cụ thể hơn (tại khoản 5 Điều 3) đối với các tổ chức đại diệncủa các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền Điều này có nghĩa là nhiều người laođộng (NLĐ) sẽ được hưởng lợi từ sự bảo vệ của Bộ luật hơn so với trước đây Bêncạnh đó, lần đầu tiên BLLĐ2019 quy định rõ QHLĐ bao gồm QHLĐ cá nhân vàQHLĐ tập thể Theo đó, các nguyên tắc trong đối thoại thương lượng, cũng nhưnhững hỗ trợ can thiệp sẽ được áp dụng đối với các QHLĐ cá nhân theo hợp đồnglao động và QHLĐ đối với tập thể NLĐ.

Người lao động có quyền thành lập, gia nhập và tham gia hoạt động trong tổchức của NLĐ tại doanh nghiệp: Đây là nội dung thay đổi quan trọng nhất trongBLLĐ2019 Với quy định này, NLĐ có nhiều lựa chọn để tham gia vào quá trìnhthương lượng tập thể, giúp NLĐ được hưởng lợi ích công bằng hơn, mặt khác giúpcác doanh nghiệp có thể đàm phán để cải thiện năng suất cần thiết Có thể nói quyđịnh này đã gỡ một nút thắt tồn tại lâu nay trong vận hành hệ thống QHLĐ ở ViệtNam

Quy định về tổ chức người sử dụng lao động: BLLĐ2019 cũng thể hiện tiến bộlớn khi quy định quyền được tổ chức của cả người sử dụng lao động và NLĐ, cónghĩa là họ được thành lập các tổ chức đại diện cho mình để tham gia vào các cuộcđối thoại, thương lượng không chỉ ở cấp doanh nghiệp mà đối với các cuộc thươnglượng có nhiều doanh nghiệp tham gia và ở cấp ngành Điều này rất có ý nghĩa bởi

vì nó giúp người sử dụng lao động cũng như NLĐ điều chỉnh thỏa thuận lao độngtheo những thay đổi trong thị trường lao động và đàm phán mức độ linh hoạt cầnthiết nhằm duy trì tính bền vững trong thời gian dài hơn

Như vậy việc Hiệp định EVFTA tác động đến sự hoàn thiện Bộ Luật lao đôngcủa Nam, kết hợp với phê chuẩn gia nhập Công ước số 105 của Tổ chức Lao độngQuốc tế về xóa bỏ lao động cưỡng bức vào tháng 6/2020 và cam kết Loại bỏ mộtcách hiệu quả lao động trẻ em thì Chính phủ Việt Nam đã nâng cao được chất lượngmôi trường QHLĐ trong doanh nghiệp của VIệt Nam từ đó giúp NLĐ cũng nhưNSDLĐ của Viêt Nam phát triển hiệu quả và bền vững hơn trong tương lai

2.2.3.Tác động tới tương tác giữa các chủ thể về quan hệ lao động

Quan hệ lao động tập thể thông qua thương lượng tập thể và ký kết thỏa ước lao động tập thể:

Việc cam kết công nhân một cách thực chất quyền thương lượng tập thể trongHiệp định EVFTA đã tạo điều kiện để NLĐ và NSDLĐ thực hiện nhiều hơn các

Ngày đăng: 10/05/2021, 14:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w