Từ thực tiễn trên, nghiên cứu để có những hiểu biết toàn diện, sâu sắc đánh giá được tác động của việc thúc đẩy ứng dụng CNTT trong CCHC của nước ta là một vấn đề cấp thiết hiện nay cả trên phương diện lý luận lẫn phương diện thực tiễn. Xuất phát yêu cầu đó tác giả đã chọn nghiên cứu đề10 tài: “Chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách thủ tục hành chính (Nghiên cứu trường hợp quận Thanh Xuân)”.
Trang 11
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ……… 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ……… 6
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ……… 7
PHẦN MỞ ĐẦU ……… 9
1 Lý do chọn đề tài ……… 9
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ……… 10
3 Mục tiêu nghiên cứu ……… 16
4 Phạm vi nghiên cứu ……… 16
5 Mẫu khảo sát ……… 16
6 Câu hỏi nghiên cứu ……… 16
7 Giả thuyết nghiên cứu ……… 17
8 Phương pháp nghiên cứu ……… 18
9 Kết cấu của Luận văn ……… 18
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN ……… 20
1.1 Công nghệ thông tin và cải cách hành chính ……… 20
1.1.1 Công nghệ thông tin……… ……… 20
1.1.2 Cải cách hành chính 23
1.2 Chính sách thúc đẩy Ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách hành chính tại Thành phố Hà Nội……….…… 36
1.2.1 Chính sách……… 36
1.2.2 Mối quan hệ giữa ứng dụng công nghệ thông tin và cải cách hành chính……….………
37 1.2.3 Chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách hành chính của Thành Phố Hà Nội ………
43
1.3 Một số kinh nghiệm của các nước trên thế giới và các tỉnh
thành trong cả nước trong việc thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông 45
Trang 22
tin vào cải cách hành chính………
1.3.1 Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới……… 45 1.3.2 Kinh nghiệm từ một số tỉnh thành trong cả nước… ……… 50
1.3.3 Bài học kinh nghiệm đối với Quận Thanh Xuân 55
Tiểu kết Chương I ……… 57
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ỨNG
DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CẢI CÁCH
HÀNH CHÍNH TẠI QUẬN THANH XUÂN………
58
2.1 Tổng quan về Quận Thanh Xuân ……….……… 58
2.1.1 Bộ máy quản lý hành chính của Quận Thanh Xuân……… 58
2.1.2 Khái quát chung về năng lực công nghệ thông tin của Quận
nhà nước………
74
2.2.4 Cung cấp dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp…… 79 2.2.5 Công tác quản lý điều hành công nghệ thông tin……… 80 2.2.6 Hiện trạng nguồn nhân lực công nghệ thông tin tại Quận
Thanh Xuân………
80
2.3 Tác động của chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông
tin trong cải cách hành chính đến phương thức quản lý hành
chính trong Quận Thanh Xuân………
Trang 33
vào cải cách hành chính tại Quận Thanh Xuân ………
2.3.3 Tác động của chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông
tin trong cải cách thủ tục hành chính đến Quận Thanh Xuân……… 91
* Tiểu kết Chương II ……… 95
CHƯƠNG III GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY VIỆC ỨNG DỤNG
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CẢI CÁCH THỦ TỤC
HÀNH CHÍNH TẠI QUẬN THANH XUÂN………… …
96
3.1 Phương hướng của ứng dụng công nghệ thông tin trong cải
cách hành chính tại Quận Thanh Xuân trong thời gian tới………… 96
3.1.1 Dự báo xu hướng phát triển của ứng dụng công nghệ thông
3.1.2 Phương hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách
thủ tục hành chính tại Quận Thanh Xuân………
99
3.2 Giải pháp thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin trong cải
cách thủ tục hành chính Quận Thanh Xuân……….………
107
3.2.1 Hoàn thiện tổ chức quản lý, chỉ đạo điều hành công nghệ
thông tin………
107
3.2.2 Xây dựng bộ phận chuyên trách về công nghệ thông tin… 108
3.2.3 Hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin cho chính quyền
điện tử cấp Quận và 11 Phường……….…………
110
3.2.4 Nâng cấp cổng giao tiếp điện tử cấp Quận……… 118
3.2.5 Đẩy mạnh các ứng dụng nội bộ trên cơ sở một hạ tầng công
Trang 44
* Tiểu kết Chương III ……… … 126
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ……… 126
Kết luận ……… 126
Khuyến nghị ……… 129
Phụ lục 1: Số liệu khảo sát chi tiết các trang thiets bị trong Quận Thanh Xuân………
Tài liệu tham khảo……… 131
Trang 55
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐND Hội đồng nhân dân
CNTT Công nghệ thông tin
TST Mạng truyền số liệu chuyên dùng cơ quan Đảng, Nhà nước
TT-TT Thông tin – truyền thông
KTXH Kinh tế xã hội
TTCN Thông tin công nghệ
KH&CN Khoa học và công nghệ
Trang 77
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1: Các phòng chuyên môn thuộc HĐND & UBND Quận
Thanh Xuân
59
Bảng 2.2: Các cơ quan đơn vị thuộc Quận Thanh Xuân 59 Bảng 2.3: Danh sách các Phường thuộc Quận Thanh Xuân 60 Bảng 2.4: Các cơ quan chính quyền thuộc phường 61 Bảng 2.5: Thực trạng mạng WAN Quận Thanh Xuân 65 Bảng 2.6: Thực trạng mạng LAN Quận Thanh Xuân 66 Bảng 2.7: Bảng tổng hợp các đơn vị có kết nối mạng LAN 67 Bảng 2.8: Hệ thống máy chủ của Quận Thanh Xuân 68 Bảng 2.9: Bảng hiện trạng thiết bị CNTT tại Quận 70 Bảng 2.10: Bảng tổng hợp trang bị phần mềm diệt virus bản quyền 73 Bảng 2.11: Các phần mềm chuyên ngành đang được sử dụng 78 Bảng 3.1: Chuẩn thiết bị bộ phận “ Một cửa” các phường 116 Hình 3.1: Các giai đoạn phát triển của trang Web CPĐT 98 Hình 3.2: Chính phủ điện tử và các dịch vụ cung cấp 102 Hình 3.3: Sơ đồ tổng quát mạng của Quận Thanh Xuân 111 Hình 3.4: Sơ đồ tổng quát mạng của các phường 112
Trang 8mà chứa đựng tính vượt cấp về chất lượng, hình thành nhiều thói quen mới, nhiều cách thức, kỹ năng sống và làm việc mới mang đặc trưng của thời đại Hơn nữa nước ta đang trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế đã tạo động lực và cơ hội thúc đẩy nền KH&CN phát triển Việc ứng dụng CNTT vào trong các hoạt động cải cách hành chính nhà nước, hướng đến xây dựng một chính phủ hiện đại và hiệu quả là một trong những điểm trọng tâm trong quá trình xã hội hóa thông tin, phát triển dân chủ và củng cố bộ máy chính quyền các cấp Hiện nay, mô hình Chính phủ điện tử (e – government)
đã được áp dụng rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới và mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho xã hội Tại Việt Nam, mô hình “ chính phủ điện tử „ đã được
Trang 99
đưa vào ứng dụng nhằm cải thiện bộ máy quản lý hành chính, giúp giới doanh nghiệp và người dân tiếp cận được với các chính sách của Đảng và nhà nước một cách nhanh và hiệu quả nhất
Trước tình hình đó Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo triển khai phát triển và ứng dụng CNTT trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong công tác quản lý và điều hành Nhà nước như: Chỉ thị số 58/CT- TW của
Bộ Chính trị BCH TW khoá 8, Quyết định 112/2001/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ về “Tin học hoá quản lý hành chính Nhà nước”, Bộ Thông tin và Truyền thông – Bộ Nội vụ đã ban hành Chương trình phối hợp số 2782/CTPH-BTTTT-BNV về việc thúc đẩy gắn kết ứng dụng công nghệ thông tin với cải cách hành chính, ngày 16/10/2012
Chương trình 04 – Ctr/TU của Thành uỷ, Đề án “Tin học hoá quản lý hành chính Nhà nước” của UBND Thành phố- nhằm tạo dựng môi trường trao đổi thông tin trong nội bộ các đơn vị chức năng của Thành phố, giữa các đơn vị chức năng với các cơ quan bên ngoài Thông qua môi trường này, hệ thống sẽ trợ giúp và quản lý các công việc thường ngày của các đơn vị, và để làm được điều đó thì CNTT là phương tiện hữu hiệu nhất để cải cách thủ tục hành chính, rà soát, tra cứu văn bản pháp quy phạm pháp luật, là phương tiện
để cung cấp, cập nhật, xử lý thông tin từ Trung ương, Thành phố, Quận, Phường và ngược lại, tiến tới nhằm xây dựng một CPĐT trong tương lai
Để thực hiện tốt chủ trương của Đảng và Nhà nước, quận Thanh Xuân
đã có những bước phát triển nhằm từng bước đưa CNTT vào trong công tác cải cách thủ tục hành chính, nhằm xây dựng một hệ thống thông tin hoàn chỉnh phục vụ cho công tác quản lý hành chính trên địa bàn Quận
Từ thực tiễn trên, nghiên cứu để có những hiểu biết toàn diện, sâu sắc đánh giá được tác động của việc thúc đẩy ứng dụng CNTT trong CCHC của nước ta là một vấn đề cấp thiết hiện nay cả trên phương diện lý luận lẫn phương diện thực tiễn Xuất phát yêu cầu đó tác giả đã chọn nghiên cứu đề
Trang 1010
tài: “Chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách thủ tục hành chính (Nghiên cứu trường hợp quận Thanh Xuân)”
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Mô hình CCHC có ứng dụng CNTT ở các nước trên thế giới đã đạt được nhiều thành quả nhất định, đem lại hiệu quả cao trong việc quản lý hành chính, góp phần nâng cao hiệu suất giải quyết thủ tục hành chính
Thúc đẩy ứng dụng CNTT trong cải cách thủ tục hành chính là một chủ đề được quan tâm trong những năm gần đây, vì vậy có rất nhiều tác giả đề cập đến vấn đề này như:
Quận Thanh Xuân:
- Đề tài xây dựng cổng thông tin điện tử: Đề tài được chia làm 3 giai đoạn thực hiện với mục tiêu xây dựng 1 Cổng chính Cổng thông tin điện tử từ UBND Quận đến 11 phường và triển khai dịch vụ công trực tuyến
Về ưu điểm: Cổng thông tin điện tử tại UBND Quận được đưa vào vận hành, sử dụng nhằm mục tiêu góp phần nâng cao khả năng ứng dụng CNTT tin vào trong QLHC của Quận, là công cụ chỉ đạo và điều hành của người lãnh đạo và là kênh thông tin cung cấp thông tin về chủ trương, chính sách, về hoạt động của lãnh đạo thành phố, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp giao tiếp với chính quyền,
Về hạn chế: Việc xây dựng nhiều cổng thành phần với mỗi cổng do một cơ quan quản lý sẽ khó tra cứu thông tin do người dân khó nhớ tên các cổng và không biết chọn cổng nào để tra cứu thông tin; việc cung cấp thông tin khó kiểm tra, giám sát; thông tin khó nhất quán và thông tin của cơ quan nào thì cơ quan đó quan tâm
- Đề án cổng điện tử một cửa: Được triển khai với mục tiêu tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân khi đến giao dịch; đảm bảo tính công khai, minh bạch trong quá trình giải quyết công việc; từng bước đơn giản hóa các TTHC, đồng thời qua đó đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, phẩm
Trang 1111
chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức các phòng chuyên môn, nhất là các cán bộ, công chức trực làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả; đồng thời tăng cường sự giám sát của lãnh đạo cơ quan hành chính, doanh nghiệp, công dân đối với việc thực hiện chương trình CCHC mà trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính và hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
Về ưu điểm: hồ sơ được tiếp nhận và giao trả tại một cửa, giảm thời gian chờ đợi, sắp xếp thứ tự tiếp nhận hồ sơ
Về hạn chế: chỉ liên thông trong nội bộ đơn vị (giữa các bộ phận với nhau); nếu hồ sơ liên quan đến nhiều cơ quan thì người dân vẫn phải mang hồ
sơ đến từng cơ quan để giải quyết; chưa lồng ghép tiêu chuẩn ISO TCVN 9001:2008 vào phần mềm để hỗ trợ kiểm tra, giám sát việc thực hiện
- Nguyễn Lệ Thu “Nghiên cứu và đề xuất cơ chế chính sách hỗ trợ phát
triển và ứng dụng chính phủ điện tử thế hệ mới tại Việt Nam”, Cục Ứng dụng
CNTT, đã chỉ ra mức độ phát triển Chính phủ điện tử dựa trên ba nền tảng chính đó là: Mức độ trực tuyến, hạ tầng viễn thông, nguồn nhân lực và đề xuất chính sách hỗ trợ đầu tư mạnh mẽ vào xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng cao, có chính sách đãi ngộ phù hợp, xây dựng hạ tầng viễn thông tiên tiến kết nối đầy đủ giữa các cơ quan nhà nước với người dân và doanh nghiệp, cung cấp các dịch vụ dùng chung cho phép tối ưu hóa hiệu quả đầu tư và nguồn lực Chính phủ Đề tài này tác giả nghiên cứu trong phạm vi diện rộng thực hiện chung cho cả nước để hướng mô hình CPĐT trong tương lai
- Phạm Hồng Quảng (2010) “Một số kết quả và định hướng trong ứng
dụng và phát triển CNTT phục vụ cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh Quảng Nam” Tạp chí: Tập san Sở Thông tin Truyền thông Quảng Nam 2010
Trong công trình này, tác giả đi sâu trình bày và phân tích các kết quả đạt được trong thời gian 10 năm ứng dụng CNTT trong CCHC tại tỉnh Quảng Nam, trong đó nổi lên tỷ lệ 30% hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng qua mạng; phổ cập tin học cho 100% cán bộ công chức trên địa bàn tỉnh
Trang 1212
- Huy Tài (2009), Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động
của Cơ quan nhà nước giai đoạn 2009- 2010, http://www.customs.gov.vn
(trang web của Tổng cục Hải Quan)
Tác giả của bài báo chủ yếu phân tích một cách tổng quan những khả năng và điều kiện thực hiện Quyết định số 48/2009/QĐ-TTg về việc ứng dụng CNTT trong hoạt động cơ quan nhà nước giai đoạn 2009-2010
Chương trình đã đưa ra Kế hoạch triển khai các nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2012 gồm 5 nội dung là: Xây dựng văn bản hướng dẫn triển khai Chương trình tổng thể CCHC giai đoạn 2011-2020, trong đó nêu rõ các nội dung ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN xây dựng quy định về quy trình trao đổi, lưu trữ, xử lý văn bản điện tử; Xây dựng Dự án “Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức”; Triển khai công tác thông tin, tuyên truyền về CCHC; Tổ chức các buổi làm việc nhằm đôn đốc, kiểm tra công tác gắn kết ứng dụng CNTT với CCHC tại các Bộ, ngành, địa phương
- Kae Xieng Tern (2010), Giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng công
nghệ thông tin trong công tác quản lý hành chính tại UBND Quận Thanh Xuân: Học viện hành chính Quốc gia: http://www1.napa.vn
Đề tài đề xuất 6 giải pháp: Nâng cao nhận thức và trình độ ứng dụng CNTT; Đẩy mạnh CCHC để ứng dụng CNTT một cách hiệu quả; Đổi mới
mô hình tổ chức triển khai ứng dụng CNTT tại UBND Quận Thanh Xuân; Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có trình độ chuyên môn phẩm chất đạo đức, thường xuyên đào tạo và phát triển nguồn nhân lực CNTT ; Tăng cường hiệu quả của việc ứng dụng CNTT; Đầu tư xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng hệ thống CNTT và nâng cao việc ứng dụng CNTT trong UBND Quận
Về ưu điểm: Đề tài đã nhận dạng và đánh giá hiện trạng việc ứng dụng CNTT trong quản lý tại UBND Quận Thanh Xuân; đề xuất các giải pháp
Về hạn chế: Đề tài chưa tập trung giải quyết các tồn tại, yếu kém trong việc ứng dụng CNTT; việc xem CNTT là trọng tâm dẫn đến các giải pháp khó
Trang 1313
sát với thực tế và thiếu tính khả thi bởi vì CNTT chỉ là công cụ, tuỳ thuộc vào điện kiện thực tế mà chúng ta ứng dụng CNTT như thế nào để đạt được hiệu quả quản lý cao nhất
- Đề án ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin tỉnh Quảng Bình đến năm 2005 và định hướng đến năm 2010: Bao gồm các Dự án: Xây dựng
cơ sở hạ tầng CNTT; Xây dựng Trung tâm CNTT; Tin học hóa quản lý Nhà nước; Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho CNTT; Xây dựng hệ thống cơ
sở dữ liệu cấp tỉnh; ứng dụng CNTT phục vụ phát triển kinh tế- xã hội; ứng dụng CNTT nâng cao đời sống và dân trí
Về ưu điểm: Đây là đề án lớn bao gồm nhiều dự án mang tính toàn tỉnh Mục tiêu là triển khai các giải pháp: Nâng cao nhận thức về CNTT; Hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về CNTT trên địa bàn tỉnh; Xây dựng và ban hành các quy định về sử dụng CNTT trong các cơ quan Đảng và quản lý Nhà nước; Xây dựng và ban hành các quy định khuyến khích các thành phần kinh tế ứng dụng và phát triển CNTT; Xây dựng và ban hành các quy định cụ thể về xây dựng hệ thống thông tin bao gồm kết cấu hạ tầng, phần mềm ứng dụng, cung cấp dịch vụ nhằm nhất thể hóa các mạng máy tính trên địa bàn tỉnh; Xây dựng quy chế quản lý chặt chẽ và có hiệu quả các dự án
về CNTT; ưu tiên kinh phí cho ứng dụng và phát triển CNTT; Khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp đầu tư cho ứng dụng và phát triển CNTT; Phối hợp chặt chẽ giữa việc triển khai Đề án CNTT của tỉnh với Đề án tin học hoá quản
lý hành chính Nhà nước của Chính phủ; Lồng ghép các nội dung của Đề án CNTT với các nội dung trong chương trình cải cách hành chính của tỉnh
Về hạn chế: Do có quá nhiều mục tiêu, nhiều giải pháp nhưng chưa xác định đâu là giải pháp trọng tâm cần phải tiến hành ngay nên sẽ tiêu tốn nhiều chi phí và việc triển khai thực hiện cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn
- Đề án 112 Tin học hóa Quản lý hành chính Nhà nước: Đề án 112 được xây dựng với mục tiêu đến cuối 2005 đưa hệ thống thông tin điện tử của
Trang 1414
Chính phủ vào hoạt động, bám sát mục tiêu của chương trình cải cách hành chính nhà nước, thúc đẩy hiện đại hóa công nghệ hành chính, thực hiện tin học hóa qui trình cung cấp các dịch vụ công cho nhân dân và cho doanh nghiệp, đào tạo tin học cho cán bộ công chức nhà nước
Về hạn chế: Đề án tập trung triển khai thiết bị máy tính, đào tạo nguồn nhân lực sử dụng CNTT nhưng lại không quan tâm đến nguồn nhân lực chuyên trách về CNTT; chưa có định hướng rõ ràng về ứng dụng CNTT
- Đề án “Tin học hóa quản lý hành chính Nhà nước tỉnh Lào Cai giai đoạn 2001-2005”: Mục tiêu là xây dựng được hạ tầng kỹ thuật CNTT; ứng dụng CNTT trong quản lý, chỉ đạo, điều hành; đào tạo nguồn nhân lực CNNT
Về hạn chế: Đề án tập trung xây dựng hạ tầng kỹ thuật CNTT; đưa ứng dụng CNTT vào hoạt động quản lý Nhà nước; đào tạo nguồn nhân lực CNTT nhưng chưa xác định đâu là mục tiêu quan trọng nhất hiện nay Việc triển khai ứng dụng CNTT vẫn còn mang tính cục bộ, chưa có sự liên thông
Tóm lại: Các đề tài nêu trên đều có các điểm nghiên cứu chung sau: Xây dựng các giải pháp về: con người, chính sách, phương tiện, công cụ; Chú trọng đầu tư, triển khai: hệ thống kết cấu hạ tầng mạng CNTT, các thiết bị phần cứng, các phần mềm phục vụ, đào tạo nguồn nhân lực, các tổ chức chuyên trách về CNTT; Chỉ quan tâm cách tạo ra thông tin; chưa làm rõ thông tin được sử dụng như thế nào là hiệu quả, thông tin nào là cần thiết, ai cần thông tin, mối liên hệ giữa các đối tượng với thông tin và thông tin sẽ luân chuyển như thế nào giữa các đối tượng nghiên cứu; Chưa nghiên cứu về hệ thống thông tin liên thông giữa các cơ quan hành chính và giữa cơ quan hành chính với người dân
- Qua một số công trình nghiên cứu nêu trên chúng ta thấy được những cái nhìn khách quan về việc ứng dụng CNTT vào cải cách thủ tục hành chính
Trang 1515
Tuy nhiên, chưa công trình nghiên cứu nào đặt đến vấn đề “ Chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách thủ tục hành chính”
3 Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát thực trạng công tác triển khai chính sách ứng dụng CNTT trong cải cách thủ tục hành chính tại quận Thanh Xuân Từ đó, đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy ứng dụng CNTT trong cải cách thủ tục hành chính tại quận Thanh Xuân
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về CNTT, chính sách thúc đẩy ứng dụng CNTT và cải cách thủ tục hành chính
- Đánh giá thực trạng chính sách sử dụng CNTT cải cách thủ tục hành chính tại quận Thanh Xuân
- Hình thành một số giải pháp nhằm thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách thủ tục hành chính cho quận Thanh Xuân
- Phạm vi thời gian: từ năm 2010 – 2015
- Phạm vi không gian: Quận Thanh Xuân
Trang 167 Giả thuyết nghiên cứu
1) Giả thuyết chủ đạo: Chính sách thúc đẩy ứng dụng CNTT vào CCHC tại Quận Thanh Xuân được thực hiện bằng cách hướng đến xây dựng “Mô hình Chính quyền điện tử Quận Thanh Xuân” để làm cơ sở cho việc xây dựng
và phát triển ứng dụng CNTT để phục vụ cho công tác CCHC, nâng cao năng lực quản lý điều hành của quận và phục vụ tốt người dân và doanh nghiệp 2) Các luận điểm cụ thể
- Thực hiện Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020; Chương trình số 08-CTr/TU ngày 18/10/2011 của Thành ủy Hà Nội về “Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao trách nhiệm và chất lượng phục vụ của đội ngũ cán bộ công chức, viên chức giai đoạn 2011-2015” và Kế hoạch 38-KH/BCĐ ngày 18/12/2011 của Ban Chỉ đạo Chương trình số 08-CTr/TU của Thành ủy Hà Nội khoá XV, UBND Quận Thanh Xuân xây dựng đề án “Mô hình Chính quyền điện tử Quận Thanh Xuân giai đoạn 2013 - 2015”
- Quận Thanh Xuân đã xây dựng và từng bước đầu tư và xây dựng các ứng dụng CNTT trong công tác CCHC Nhà nước Tuy nhiên, hiện nay việc phát triển CNTT của quận Thanh Xuân còn chưa đồng bộ, nhân lực chuyên
Trang 1717
trách quản lý CNTT còn hạn chế, chưa gắn được ứng dụng CNTT hỗ trợ cho CCHC, các ứng dụng CNTT còn phân tán, nhỏ lẻ không liên thông giữa các đơn vị Điều đó làm cho việc ứng dụng CNTT ở Quận chưa có nền tảng đảm bảo sự phát triển bền vững
- Hình thành một số giải pháp cho chính sách thúc đẩy ứng dụng CNTT vào CCHC tại Quận Thanh Xuân:
+ Hoàn thiện tổ chức quản lý, chỉ đạo điều hành CNTT của Quận
+ Xây dựng bộ phận chuyên trách về CNTT
+ Hoàn thiện hạ tầng CNTT cho chính quyền điện tử cấp Quận và 11 Phường
+ Nâng cấp cổng giao tiếp điện tử cấp Quận
+ Đẩy mạnh các ứng dụng nội bộ trên cơ sở một hạ tầng CNTT thống nhất
+ Xây dựng các dịch vụ công trực tuyến mức 3
+ Đào tạo nâng cao nhận thức và kỹ năng sử dụng CNTT
+ Tăng cường hiệu quả của việc ứng dụng CNTT
8 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: được sử dụng trong quá trình thu thập, tìm kiếm các cơ sở lý luận; tổng hợp và phân tích các nguồn tư liệu, số liệu sẵn có liên quan đến việc ứng dụng CNTT trong CCHC tại Quận Thanh Xuân
Phương pháp nghiên cứu chính sách: được sử dụng để xem xét đánh giá
và định hướng việc ứng dụng CNTT hiện nay của Quận
Phương pháp quan sát thực tế: dựa trên thực tế triển khai ứng dụng CNTT của Quận như cổng thông tin điện tử, hộp thư điện tử, một cửa điện tử
để từ đó phân tích hiện trạng, làm luận cứ để đề xuất các giải pháp
9 Kết cấu của Luận văn`
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn có kết cấu như sau:
Trang 1818
Chương 1 Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2 Đánh giá thực trạng của chính sách sử dụng CNTT vào cải cách thủ tục hành chính tại quận Thanh Xuân
Chương 3 Hình thành một số giải pháp thúc đẩy ứng dụng CNTT vào cải cách thủ tục hành chính chính tại quận Thanh Xuân
Trang 1919
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Công nghệ thông tin và cải cách hành chính
1.1.1 Công nghệ thông tin CNTT ( Tiếng Anh: Information Technology ) hay là IT là ngành sử
dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý,
truyền và thu thập thông tin
- Theo UNESCO 1, CNTT bao gồm việc sử dụng các ứng dụng máy tính, công nghệ viễn thông và tin học trong việc truy cập và cung cấp thông tin riêng và chung Nó cho phép mọi người giao tiếp và trao đổi thông tin giới hạn trong không gian số (cyberspace), làm việc tại văn phòng áo và thiết lập một xã hội tri thức
- Theo Hiệp hội CNTT của Mỹ (ITAA) 2 , CNTT là việc nghiên cứu, thiết
kế, phát triển, triển khai thực hiện, hỗ trợ hoặc quản lý các hệ thống thông tin điện tử, chủ yếu là các phần mềm máy tính và phần cứng máy tính, CNTT bao hàm việc sử dụng các máy tính điện tử và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền và nhận thông tin an toàn
- Theo GS Phan Đình Diệu, CNTT là ngành công nghệ về xử lý thông
tin bằng các phương tiện điện tử, trong đó nội dung xử lý thông tin bao gồm các khâu cơ bản như thu thập, lưu trữ, chế biến và truyền nhận thông tin.[12,tr.17]
- Theo Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị, CNTT là thuật ngữ dùng để
chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan tới thông tin và các quá trình
xử lý thông tin Theo quan niệm này thì CNTT là hệ thống các phương pháp
1 IDC site, IDC Finds More of the World’s Population Conecting to the Internet in New Ways and
Embracing Web 2.0 Activities, http://www.idc.com/getdoc.jsp?Container Id=pr US21303808
2 Information Technology Association of America (ITAA), Information Technology Definition,
http://www.itaa.org/es/docs/Information%20Technology%20Definitions.pdf
Trang 2020
khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu, nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa…của con người.[9]
- Theo Luật CNTT (2007), CNTT là tập hợp các phương pháp khoa
học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập,
xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số.[11, tr.2]
Nhìn chung các quan điểm đều cho rằng CNTT là ngành nghiên cứu, sản xuất phần mềm và phần cứng máy tính, đồng thời cũng là nghành KH&CN về thông tin và xử lý thông tin, sử dụng công cụ, phương tiện chủ yếu là máy tính điện tử Riêng khái niệm về CNTT của Luật CNTT cần sử dụng “thông tin” thay cho “thông tin số” Bởi lẽ, thông tin số là chỉ một dạng biểu diễn thông tin được xử lý và lưu trữ bằng các phương pháp số, hay còn gọi là dữ liệu (data) Trong một quy trình xử lý thông tin của CNTT bao gồm: đầu vào là thông tin, xử lý thông tin (số) và đầu ra là thông tin hoặc tri thức
Có thể nói rằng khái niệm CNTT của Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị đưa ra là hoàn chỉnh và phù hợp với mục đích nghiên cứu của Luận văn Vì vậy, thuật ngữ CNTT trong Luận văn sẽ được hiểu theo quan điểm này
CNTT ra đời đã có những chuyển dịch đáng kể về công nghệ Những chuyển dịch này làm cho việc xử lý thông tin tự động hiệu quả hơn, việc sử dụng các thiết bị tin học dễ dàng hơn, năng lực xử lý thông tin mạnh hơn và tin học, CNTT được ứng dụng rộng rãi hơn vào các lĩnh vực của đời sống xã hội Những chuyển dịch đó chủ yếu là: từ kĩ thuật tương tự sang kĩ thuật số;
từ công nghệ bán dẫn truyền thống sang công nghệ vi xử lý; từ kiểu tính toán máy chủ sang mô hình có cấu trúc khách hàng – dịch vụ; từ các kiểu truyên thông dải rộng sang các siêu xa lộ thông tin; từ lập trình thủ công sang lập trình hướng đối tượng; từ giao diện đồ họa sang giao diện đa phương tiện
- Công nghệ thông tin trong cải cách hành chính nhà nước
Trang 21và ứng dụng CNTT
Ứng dụng CNTT là sử dụng kết quả của CNTT để hỗ trợ các khâu công việc cần thiết và cuối cùng, ở mức cao nhất là hỗ trợ cho các tổ chức hoạt động và các cá nhân tự trao đổi, khai thác thông tin trong môi trường CNTT; cải tiến, đổi mới qui cách làm việc, đạt hiệu quả công việc cao hơn, đáp ứng được những thay đổi đang diễn ra
Mục tiêu ứng dụng CNTT trong CCHC là trang bị, xây dựng tối thiểu ban đầu về kết cấu hạ tầng kỹ thuật thông tin; cung cấp các kiến thức tin học cần thiết cho đội ngũ cán bộ sử dụng, ứng dụng CNTT vào công tác quản lý, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức, góp phần tích cực vào việc cải cách hành chính các cấp
Mục tiêu đến năm 2015 – 2020 ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước, nâng cao năng lực chỉ đạo điều hành, cung cấp dịch vụ hành chính công, phát triển hạ tầng kĩ thuật, phát triển nguồn nhân lực CNTT và phấn đấu đến năm 2020 , 100% thông tin quản lý điều hành của cơ quan nhà nước lưu chuyển qua mạng Phấn đấu đến năm 2020 nước ta trở thành CPĐT hoàn thiện, ở đó cung cấp các dịch vụ hành chính công cơ bản trực tuyến như đăng
kí, cấp phép, thanh toán qua mạng, cơ bản tích hợp các hệ thống, cơ sở dữ liệu
Vai trò của công nghệ thông tin trong cải cách hành chính
CCHC được Đảng và Nhà nước quyết tâm thực hiện nhằm mang lại lợi ích cao nhất cho người dân và cùng với xu thế phát triển, việc ứng dụng
Trang 22Người dân được phục vụ chu đáo hơn tại cơ quan nhà nước; người dân chủ động theo dõi, giám sát kết quả giải quyết hồ sơ mà mình yêu cầu; hồ sơ TTHC được trao đổi qua môi trường mạng nhanh chóng, giải quyết thuận tiện nhanh hơn Đó là điều mà CNTT giúp cho CCHC được nhanh gọn, hiệu quả
Các loại cơ quan hành chính Nhà nước theo cơ sở pháp lý của việc thành lập:
Thứ nhất, là các cơ quan hành chính mà việc thành lập được Hiến pháp
quy định bao gồm: Chính phủ vớ tư cách là cơ quan hành chính cao nhất; các
Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện quản lý một ngành, lĩnh vực nào đó trong phạm vi cả nước, UBND các địa phương là các
cơ quan hành chính của Nhà nước ở địa phương
Thứ hai, là các cơ quan hành chính Nhà nước được thành lập trên cơ
sở các đạo luật, các văn bản dưới luật bao gồm các Tổng cục, các cục, vụ, sở, phòng ban, các đơn vị hành chính sự nghiệp
Trang 2323
Trên cơ sở hành chính và cơ quan hành chính, có nhiều định nghĩa khác nhau về CCHC, nhưng chung lại, CCHC không tuần túy là sự cải biến
mà là cuộc cách mạng có chủ thuyết chính trị và có kế hoạch, do Đảng cầm
quyền khởi xướng và lãnh đạo nhằm “Xây dựng một nền hành chính dân chủ,
trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước” 3 Cái đỉnh của
CCHC là xây dựng một nền hành chính gần dân, vì dân, đáp ứng những đòi hỏi chính đáng của người dân lao động Nền hành chính gần dân là nền hành chính không có mục đích tự thân, mà chỉ có mục đích phục vụ dân, gìn giữ trật tự, kỷ cương của xã hội, của chế độ Thông qua đó, nền hành chính tác động tích cực đối với đời sống kinh tế và đời sống xã hội
Trên cơ sở các vấn đề trên, chúng ta cần phải CCHC xuất phát từ;
Nền hành chính trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Các chính sách và pháp luật đúng là những điều kiện tiên quyết, song nhất thiết phải có một nền hành chính mạnh để đưa chúng vào cuộc sống và phát huy hiệu quả trong thực tế Hơn nữa, trong quá trình tổ chức thực hiện, nền hành chính cũng góp phần tích cực vào việc sửa đổi, bổ sung và phát triển chính sách cũng như pháp luật của nước nhà
Các cơ quan hành chính Nhà nước với tư cách là những chủ thể trực tiếp tổ chức, quản lý và xử lý công việc hàng ngày của Nhà nước liên quan đến quyền và lợi ích của dân, là cầu nối trực tiếp thông qua hoạt động của bộ máy hành chính
3 Đẩy mạnh Cải cách hành chính ở tất cả các cấp, các ngành Bài phát biểu của Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc Đăng báo Lao động 6h30AM, ngày 18/12/2012 htpp// www.laodong.com.vn
Trang 2424
Trong bộ máy Nhà nước ta, các cơ quan hành chính Nhà nước là lực lượng đông đảo nhất với hệ thống tổ chức đồng bộ theo ngành và cấp từ Trung ương đến chính quyền cơ sở
CCHC nhằm khắc phục những yếu kém trong chỉ đạo, điều hành của bộ máy hành chính đối với những nội dung và vấn đề nêu trên làm cho nền hành chính thích ứng với mục tiêu mà công cuộc đổi mới đề ra
Quản lý nhà nước là sự tác động, tổ chức, điều chỉnh mang tính quyền lực nhà nước, thông qua các hoạt động của bộ máy nhà nước, bằng các phương tiện, công cụ, cách thức tác động của Nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội theo đường lối, quan điểm của Đảng cầm quyền
Quản lý nhà nước được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành của
bộ máy nhà nước, nghĩa là nó bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương tiện lập pháp, hành pháp và tư pháp Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước được đặt trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là quá trình tổ chức, điều hành của
hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật, nhằm đạt được mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ quản lý nhà nước Các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng, tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình Chẳng hạn, ra quyết định thành lập, chia tách, sáp nhập các đơn vị, tổ chức thuộc bộ máy của mình, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, ban hành qui chế làm việc nội bộ Những hoạt động trên cũng là hoạt động quản lý hành chính nhà nước trong nội bộ các cơ quan nhà nước
Trang 25CCHC là một khái niệm đã được nhiều học giả, các nhà nghiên cứu hành chính trên thế giới đưa ra, dựa trên các điều kiện về chế độ chính trị, kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, cũng như phụ thuộc vào quan điểm và mục tiêu nghiên cứu, do đó hầu hết các định nghĩa này là khác nhau Tuy nhiên, qua xem xét, phân tích dưới nhiều góc độ định nghĩa của khái niệm, có thể thấy các khái niệm về CCHC được nêu ra có một số điểm CCHC là một sự thay đổi có kế hoạch, theo một mục tiêu nhất định, được xác định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền; CCHC không làm thay đổi bản chất của hệ thống hành chính, mà chỉ làm cho hệ thống này trở nên hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân được tốt hơn so với trước, chất lượng các thể chế quản lý nhà nước đồng bộ, khả thi, đi vào cuộc sống hơn, cơ chế hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của bộ máy, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan nhà nước sau khi tiến hành CCHC đạt hiệu quả, hiệu lực hơn, đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế –
CCHC tuỳ theo điều kiện của từng thời kỳ, giai đoạn của lịch sử, yêu cầu phát triển KT – XH của mỗi quốc gia, có thể được đặt ra những trọng tâm, trọng điểm khác nhau, hướng tới hoàn thiện một hoặc một số nội dung
Trang 26thủ tục nhất định Thủ tục theo nghĩa tiếng Việt là cách thức tiến hành công
việc theo một trình tự hay một luật lệ đã quen, theo từ điển từ ngữ và hán việt,
nhà xuất bản TPHCM TTHC theo cuốn đại từ tiếng việt của nhà xuất bản văn
hóa thông tin năm 1998 là cách thức tiến hành một công việc với nội dung,
trình tự nhất định, theo quy định của cơ quan nhà nước Có thể nhận thấy rõ
hai yếu tố cấu thành khái niệm thủ tục: thứ nhất, thủ tục trước hết là cách thức hoạt động cách thức hành động hay cách thức thực hiện hành vi, thứ hai thủ tục là hoạt động được tiến hành theo một trình tự nhất định Giữa cách thức thực hiện và trình tự thực hiện có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất trong khái niệm thủ tục Trong khoa học pháp lý của nhà nước ta khi khái niệm thủ tục hành chính hầu hết các nhà nghiên cứu đã thể hiện được hai yếu tố trên Một
số nhà nghiên cứu cho rằng “ nếu xem xét bất kỳ một hoạt động quản lý nào đều có thể nhận thấy tính kế tiếp, liên tục các hành động, mà bên cạnh đó phương pháp, cách thức thực hiện các phương pháp cũng vô cùng quan trọng” Các nhà nghiên cứu khác thì định nghĩa về TTHC đã xác định: “ TTHC là các quy định của nhà nước về trật tự, thời gian thực hiện những hành vi hợp pháp của các bên tham gia quan hệ quản lý hành chính nhà nước, nhằm thực hiện quyền và nghĩa vụ mỗi bên”
Trang 27Loại ý kiến thứ hai quan niệm: Thủ tục hành chính là thủ tục được luật hành chính xác lập bất kỳ việc cá biệt, cụ thể nào
Loại ý kiến thứ ba hiểu về thủ tục hành chính một cách rộng nhất, xem thủ tục hành chính do luật hành chính quy định trong thực hiện mọi hình thức hoạt động của mọi cơ quan quản lý nhà nước, tức là ngoài các hoạt động giải quyết các việc cá biệt, cụ thể còn bao gồm các trình tự hoạt động sáng tạo
pháp luật
Từ tất cả những vấn đề trình bày ở trên có thể đưa ra định nghĩa về thủ
tục hành chính như sau: Thủ tục hành chính là trình tự thực hiện thẩm quyền
của các cơ quan hành chính nhà nước hoặc cá nhân tổ chức được ủy quyền hành pháp trong việc thực hiện công việc của nhà nước và các kiến nghị yêu cầu thích đáng của công dân, tổ chức nhằm thi hành nghĩa vụ hành chính bảo đảm công vụ nhà nước phục vụ nhân dân
Thủ tục hành chính do pháp luật quy định, toàn bộ các quy phạm về thủ tục hành chính tạo thành chế định quan trọng của luật hành chính Chỉ các hoạt động quản lý hành chính nhà nước được quy phạm thủ tục hành chính điều chỉnh mới là thủ hành chính, còn tất cả các hoạt động tổ chức tác nghiệp
cụ thể nào đó trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước không được các quy phạm thủ tục hành chính điều chỉnh thì không phải là thủ tục hành chính
- Đặc điểm của thủ tục hành chính
TTHC là một trong các hình thức tủ tục pháp lý là thủ tục lập pháp, thủ tục hành pháp và thủ tục tư pháp, cũng như mọi hiện tượng có tính chất thủ tục khác cụ thể là các hình thức thủ tục TTHS, TTDS, TTHC thủ tục hành
Trang 2828
chính có đặc điểm chung cơ bản sau: Là hình thức của các quy phạm thực chất lại là phương tiện đảm bảo thực hiện quy phạm Song bản thân thủ tục hành chính là loại thủ tục riêng, có đặc điểm riêng, chứng tỏ nó là một hiện tượng pháp lý có tính độc lập tương đối
TTHC là thủ tục được áp dụng trong quản lý hành chính nhà nước ( lĩnh vực chấp hành điều hành) Nói cách khác TTHC được thi hành ngoài trình tự Tòa án, có thể nói đây là một đặc điểm rất quan trọng của TTHC, nó cho phép phân biệt TTHC với các hình thức thủ tục khác thường được gọi là thủ tục tố tụng được tiến hành tại Tòa án
Các quy phạm TTHC không chỉ là cách thức trình tự thực hiện quy phạm vật chất của luật hành chính mà còn là hình thức đảm bảo quy phạm vật chất của hầu hết các ngành luật Trong hệ thống pháp luật nước nhà, hình thức thủ tục hình sự bảo đảm thực hiện chỉ quy phạm nghành luật hình sự Nhưng riêng đối thủ tục hành chính một đặc điểm đáng chú ý là nó đảm bảo thực hiện quy phạm của rất nhiều nghành luật như luật hành chính, luật đất đai, luật hôn nhân gia đình
Khác với các hình thức thủ tục tư pháp luôn là các thủ tục được ban hành để giải quyết các vụ án liên quan đến tranh chấp pháp luật như tranh chấp dân sự, kinh tế Hoặc để áp dụng các chế tài pháp luật như chế tài hình
sự, chế tài hành chính, chế tài dân sự, còn thủ tục hành chính không phải lúc nào cũng nhằm vào mục đích nói trên
TTHC được tiến hành bởi nhiều cơ quan có thẩm quyền khác nhau Trong lĩnh vực tư pháp, việc tiến hành tố tụng được thực hiện theo các thủ tục được quy định chỉ do một số cơ quan nhất định như Tòa án, Viện kiểm soát,
cơ quan điều tra thực hiện Trong việc thực hiện TTHC lại khác do rất nhiều
cơ quan nhà nước khác nhau tiến hành: Các cơ quan hành pháp, tư pháp, lập pháp; trong quan hệ nội bộ giữa các cơ quan và đối tượng ngoài cơ quan với
tư cách là quản lý nhà nước
Trang 2929
TTHC được quy định bởi nhiều cơ quan khác nhau Đối với các hình thức thủ tục tư pháp: hình sự, dân sự, lao động Các văn bản quy định về những hình thức này do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành, còn đối với văn bản quy định về TTHC lại khác Có một số TTHC được quy định bởi cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất nhưng bên cạnh đó phần lớn là do nhiều cơ quan nhà nước khác nhau ban hành
Các văn bản về TTHC tản mạn, không tập trung Các văn bản chứa đựng các TTHC được quy định trong rất nhiều văn bản pháp luật khác nhau Chẳng hạn ở lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính có rất nhiều văn bản cụ thể hóa pháp lệnh được ban hành về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước khác nhau hoặc có những TTHC được quy định trong các văn bản không phải là luật hành chính
- Một cửa, một cửa liên thông
Theo Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg ngày 25 tháng 3 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ4 Cơ chế một cửa là cách thức giải quyết công việc của
cá nhân, tổ chức thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của một cơ quan hành chính nhà nước trong việc công khai, hướng dẫn thủ tục hành chính, tiếp nhận hồ
sơ, giải quyết và trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của cơ quan hành chính nhà nước
Cơ chế một cửa liên thông là cách thức giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp hoặc giữa các cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong việc công khai, hướng dẫn thủ tục hành chính, tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của một cơ quan hành
4 Công báo/số 463+464 ngày 4/4/2015 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế Thực hiện cơ chế một cửa,
cơ chế một cửa liện thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (Ban hành kèm theo Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg ngày 25/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ http://vbpl.vn/TW/Pages/vbpq-van-ban-
goc.aspx?ItemID=57190
Trang 3030
Các nguyên tắc thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông Niêm yết công khai, đầy đủ, kịp thời các thủ tục hành chính tại Quyết định công bố thủ tục hành chính của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) theo quy định
Bảo đảm giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện cho cá nhân, tổ chức; việc yêu cầu bổ sung hồ sơ chỉ được thực hiện không quá một lần trong suốt quá trình giải quyết hồ sơ tại một cơ quan chuyên môn
Bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan hành chính nhà nước trong giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức
Việc thu phí, lệ phí của cá nhân, tổ chức được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật
Cơ quan áp dụng cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông
Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện)
Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) Các cơ quan của Trung ương được tổ chức theo ngành dọc đặt tại địa phương (gọi chung là các cơ quan được tổ chức theo ngành dọc)
Phạm vi áp dụng cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông
Cơ chế một cửa được thực hiện trong giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của một trong các cơ quan hành chính
Cơ chế một cửa liên thông được thực hiện trong giải quyết thủ tục hành chính thuộc các lĩnh vực: Đầu tư; đất đai; đăng ký kinh doanh; cấp giấy phép xây dựng; tư pháp và các lĩnh vực khác thuộc thẩm quyền của nhiều cơ quan hành
Quy trình thực hiện cơ chế một cửa
Trang 3131
Tiếp nhận hồ sơ 1) Cá nhân, tổ chức nộp hồ sơ trực tiếp tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hoặc nộp qua dịch vụ bưu chính, nộp trực tuyến ở những nơi có quy định nhận hồ sơ qua dịch vụ bưu chính, nhận hồ sơ trực tuyến; (2) Công chức tiếp nhận hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả kiểm tra tính hợp lệ, đầy đủ của hồ sơ: Trường hợp hồ sơ không thuộc phạm
vi giải quyết thì hướng dẫn để cá nhân, tổ chức đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết; Trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ thì hướng dẫn cụ thể theo mẫu số
01 tại Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định này; (3) Công chức tiếp nhận hồ
sơ nhập vào Sổ theo dõi hồ sơ theo Quyết định này và phần mềm điện tử (nếu có); lập Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả theo Quyết định này; (4) Trường hợp công chức tiếp nhận hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả được phân công giải quyết hồ sơ thì nhập vào Sổ theo dõi hồ sơ và phần mềm điện tử (nếu có): Đối với hồ sơ quy định giải quyết và trả kết quả ngay, không phải lập Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả: Công chức thẩm định, trình cấp có thẩm quyền quyết định và trả kết quả giải quyết hồ sơ cho cá nhân, tổ chức; Đối với hồ sơ quy định có thời hạn giải quyết: Công chức lập Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả; thẩm định, trình cấp có thẩm quyền quyết định
và trả kết quả giải quyết hồ sơ cho cá nhân, tổ chức
Chuyển hồ sơ (1) Sau khi tiếp nhận hồ sơ theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều này, công chức lập Phiếu kiểm soát quá trình giải quyết hồ sơ theo mẫu kèm theo Quyết định này; (2) Chuyển hồ sơ và Phiếu kiểm soát quá trình giải quyết hồ sơ cho cơ quan, tổ chức liên quan giải quyết Phiếu kiểm soát quá trình giải quyết hồ sơ được chuyển theo hồ sơ và lưu tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
Giải quyết hồ sơ :Sau khi tiếp nhận hồ sơ, cơ quan, tổ chức phân công cán bộ, công chức giải quyết như sau: (1) Trường hợp không quy định phải thẩm tra, xác minh hồ sơ: Công chức thẩm định, trình cấp có thẩm quyền quyết định và chuyển kết quả giải quyết hồ sơ cho Bộ phận tiếp nhận và trả
Trang 3232
kết quả; (2) Trường hợp có quy định phải thẩm tra, xác minh hồ sơ: Công chức báo cáo người có thẩm quyền phương án thẩm tra, xác minh và tổ chức thực hiện Quá trình thẩm tra, xác minh phải được lập thành hồ sơ và lưu tại
cơ quan giải quyết; Đối với hồ sơ qua thẩm tra, xác minh đủ điều kiện giải quyết: Công chức thẩm định, trình cấp có thẩm quyền quyết định và chuyển kết quả giải quyết hồ sơ cho Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả; Đối với hồ sơ qua thẩm tra, xác minh chưa đủ điều kiện giải quyết: Công chức báo cáo cấp
có thẩm quyền trả lại hồ sơ kèm theo thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do, nội dung cần bổ sung Thời gian mà cơ quan, tổ chức đã giải quyết lần đầu được tính trong thời gian giải quyết hồ sơ; (3) Các hồ sơ quy định tại Điểm a,
b Khoản này sau khi thẩm định không đủ điều kiện giải quyết, công chức báo cáo cấp có thẩm quyền trả lại hồ sơ và thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do không giải quyết hồ sơ Thông báo được nhập vào mục trả kết quả trong Sổ theo dõi hồ sơ Thời hạn thông báo phải trong thời hạn giải quyết hồ sơ theo quy định; (4) Các hồ sơ quá hạn giải quyết: Cơ quan, tổ chức giải quyết hồ sơ phải thông báo bằng văn bản cho Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả và văn bản xin lỗi cá nhân, tổ chức, trong đó ghi rõ lý do quá hạn, thời hạn trả kết quả
Trả kết quả giải quyết hồ sơ Công chức tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả nhập vào Sổ theo dõi hồ sơ và phần mềm điện tử (nếu có) và thực hiện như sau: (1) Các hồ sơ đã giải quyết xong: Trả kết quả giải quyết hồ sơ cho cá nhân, tổ chức và thu phí, lệ phí (nếu có); trường hợp cá nhân, tổ chức đã đăng
ký nhận kết quả qua dịch vụ bưu chính thì việc trả kết quả, thu phí, lệ phí (nếu có) và cước phí được thực hiện qua dịch vụ bưu chính; nếu thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 thì việc trả kết quả và thu phí, lệ phí (nếu có) theo quy định; (2) Đối với hồ sơ chưa đủ điều kiện giải quyết: Liên hệ với cá nhân,
tổ chức để yêu cầu bổ sung hồ sơ theo thông báo của cơ quan, tổ chức giải quyết hồ sơ và văn bản xin lỗi của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả (nếu là lỗi của công chức khi tiếp nhận hồ sơ); (3) Đối với hồ sơ không giải quyết: Liên
Trang 3333
hệ với cá nhân, tổ chức để trả lại hồ sơ kèm theo thông báo không giải quyết
hồ sơ; (4) Đối với hồ sơ quá hạn giải quyết: Thông báo thời hạn trả kết quả lần sau và chuyển văn bản xin lỗi của cơ quan, tổ chức làm quá hạn giải quyết cho cá nhân, tổ chức; (5) Đối với hồ sơ giải quyết xong trước thời hạn trả kết quả: Liên hệ để cá nhân, tổ chức nhận kết quả; (6) Trường hợp cá nhân, tổ chức chưa đến nhận hồ sơ theo giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả thì kết quả giải quyết hồ sơ được lưu giữ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
Quy trình thực hiện cơ chế một cửa liên thông giải quyết thủ tục hành chính 1 Các loại hình liên thông (1) Liên thông giữa các cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp: Giữa các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; giữa các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện và cơ quan được tổ chức theo ngành dọc đặt tại huyện; giữa các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; giữa các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan được tổ chức theo ngành dọc đặt tại tỉnh; (2) Liên thông giữa các cơ quan hành chính nhà nước các cấp: Giữa Ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc các cơ quan được tổ chức theo ngành dọc đặt tại huyện; giữa Ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc các cơ quan được tổ chức theo ngành dọc đặt tại tỉnh; giữa Ủy ban nhân dân cấp huyện và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc cơ quan được tổ chức theo ngành dọc đặt tại tỉnh; giữa cơ quan hành chính nhà nước thuộc tỉnh và các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
Quy trình liên thông (1) Cá nhân, tổ chức nộp hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của cơ quan chủ trì giải quyết thủ tục hành chính (sau đây gọi chung là cơ quan chủ trì) hoặc nộp qua dịch vụ bưu chính, nộp trực tuyến
ở những nơi có quy định nhận hồ sơ qua dịch vụ bưu chính, nhận hồ sơ trực tuyến; (2) Công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả kiểm tra
Trang 3434
tính hợp lệ, đầy đủ của hồ sơ và tiếp nhận hồ sơ; (3) Sau khi tiếp nhận hồ sơ,
cơ quan chủ trì tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan phối hợp bằng văn bản, cơ quan được hỏi ý kiến phải trả lời trong thời gian quy định; Trường hợp việc giải quyết thủ tục hành chính cần được thực hiện sau khi có kết quả giải quyết của cơ quan phối hợp thì cơ quan chủ trì gửi văn bản, hồ sơ cho cơ quan phối hợp để giải quyết trong thời gian quy định; (4) Trên cơ sở giải quyết hồ sơ của các cơ quan phối hợp, cơ quan chủ trì thẩm định và trình cấp có thẩm quyền quyết định và chuyển kết quả giải quyết hồ sơ đến Bộ phận tiếp nhận
và trả kết quả nơi cá nhân, tổ chức nộp hồ sơ; (5) Trường hợp hồ sơ chưa đủ điều kiện giải quyết: Cơ quan có trách nhiệm trả lại hồ sơ kèm theo thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do, nội dung cần bổ sung Thời gian mà các cơ quan chuyên môn, tổ chức đã giải quyết lần đầu được tính trong thời gian giải quyết hồ sơ Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả liên hệ với cá nhân, tổ chức để chuyển văn bản xin lỗi của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả (nếu là lỗi của công chức khi tiếp nhận hồ sơ) và yêu cầu bổ sung hồ sơ theo thông báo của
cơ quan có trách nhiệm; (6) Trường hợp hồ sơ không đủ điều kiện giải quyết:
Cơ quan có trách nhiệm trình cấp có thẩm quyền thông báo bằng văn bản nêu
rõ lý do không giải quyết hồ sơ Thông báo được nhập vào mục trả kết quả trong Sổ theo dõi hồ sơ Thời hạn thông báo phải trong thời hạn giải quyết theo quy định; (7) Trường hợp hồ sơ quá hạn giải quyết: Cơ quan có trách nhiệm phải có văn bản gửi Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả và văn bản xin lỗi
cá nhân, tổ chức của cơ quan ghi rõ lý do quá hạn và thời hạn trả kết quả Công chức Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả nhập Sổ theo dõi hồ sơ và phần mềm điện tử (nếu có), thông báo thời hạn trả kết quả và chuyển văn bản xin lỗi của cơ quan làm quá hạn giải quyết hồ sơ cho cá nhân, tổ chức; (8) Trả kết quả giải quyết hồ sơ.5
5 Công báo/số 463+464 ngày 4/4/2015 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế Thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liện thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (Ban hành kèm theo Quyết định số
Trang 35Thuật ngữ “Chính sách” được sử dụng phổ biến ở tầm vĩ mô như chính sách kinh tế, chính sách xã hội của nhà nước đến tầm vi mô như chính sách của các tổ chức, các doanh nghiệp Trong phạm vi này, chính sách thường
được sử dụng với nghĩa là chính sách công
Có thể hiểu chính sách là những sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt được mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực
tế mà đề ra William N.Dunn[1992] quan niệm: “Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức Nhà nước hay các quan chức Nhà nước đề ra” Kraft và Furlong cho rằng chính sách công chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa và nhiều biến số khác Khi có một vấn đề xuất hiện, chính quyền sẽ lựa chọn nội dung, mục tiêu và cách thức giải quyết vấn đề đó Xây dựng chính sách là tìm
09/2015/QĐ-TTg ngày 25/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ http://vbpl.vn/TW/Pages/vbpq-van-ban-
goc.aspx?ItemID=57190
Trang 3636
cách giải quyết vấn đề Sự thành công của chính sách phụ thuộc vào việc nhận diện đúng vấn đề, nắm rõ các điều kiện, thu thập và phân tích thông tin khách quan, khoa học
TS Nguyễn Hồng Mai đã chỉ các bất cập trong việc đưa chính sách vào luật, hoặc việc thực t hi một số chính sách không hiệu quả: (1) Chính sách chưa rõ ràng: Một số chính sách dự kiến đưa vào luật chưa được nghiên cứu, định hướng rõ dẫn đến một số luật phải dừng lại hoặc không được thực hiện khi luật đã có hiệu lực (2) Chính sách không ổn định, hoặc thiếu tính ổn định lâu dài, hoặc không phù hợp với thực tế, không giải quyết được vấn đề đặt ra (3) Chính sách mang tính cục bộ về lợi ích Bộ, Ngành, thiếu tính liên thông giữa các chính sách
TS Nguyễn Hồng Mai cũng đưa ra một số giải pháp khắc phục:
Hoàn thiện quy định về dự báo đánh giá tác động về KT-XH của chính sách sẽ được ban hành dưới dạng Luật; thực hiện các quy định pháp luật về
dự báo đánh giá tác động của chính sách, chỉ đưa vào chương trình những dự
án luật đã được chuẩn bị tốt các nội dung, chính sách liên quan
Nội dung chính sách dự kiến đưa vào Luật phải được xác định rõ ràng: Chính sách theo quan điểm nào, học tập chính sách của nước ngoài như thế nào cho phù hợp với thực tiễn Vì vậy, phải nghiên cứu chính sách trên cả lý thuyết và thực tế, dự báo đánh giá tác động KT, XH, so sánh và lựa chọn chính sách tối ưu để phù hợp với thực tiễn và nhu cầu phát triển
Chính sách phải được xây dựng ổn định (không có nghĩa là không thay đổi mà có thể thay đổi để đáp ứng với tình hình phát triển của đất nước) Cần phải xây dựng sách phù hợp với chiến lược và định hướng chiến lược phát triển các ngành kinh tế trong tổng thể phát triển của nền kinh tế quốc dân Chính sách cần phải ổn định và nhất quán thì luật mới ổn định.[47]
1.2.2 Mối quan hệ giữa ứng dụng công nghệ thông tin và cải cách hành chính
Trang 3737
CNTT là ngành nghiên cứu, sản xuất phần mềm và phần cứng máy tính, đồng thời cũng là nghành khoa học và công nghệ về thông tin và xử lý thông tin, sử dụng công cụ, phương tiện chủ yếu là máy tính điện tử
Trên phương diện của Chính phủ, CNTT cùng với sự phát triển của hệ thống internet sẽ giúp cho Chính phủ xóa bỏ rào cản về mặt vật lý giữa các hệ thống thông tin dựa trên giấy tờ truyền thống, giải phóng các luồng di chuyển thông tin trong hệ thống, rút ngắn các qui trình thủ tục, cung cấp các dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp, lắng nghe người dân và cộng đồng cũng như trong việc tổ chức và cung cấp thông tin
Đối với CCHC, nhờ vào khả năng số hóa, xử lý và tái tạo thông tin một cách tự động, CNTT giúp cho việc tự động hóa hoặc vi tính hóa các qui trình, thủ tục giấy tờ hiện hành Từ đó, sẽ đơn giản hóa các TTHC, tạo ra phong cách lãnh đạo mới, các cách thức mới trong việc xây dựng và quyết định chiến lược, cải tiến các hình thức cung cấp dịch vụ công Kết quả làm tăng tính hiệu quả của quá trình phê duyệt và cung cấp dịch vụ công một cách hiệu quả và kịp thời cho người dân, doanh nghiệp và cả trong hệ thống CQNN
Mặt khác, tính minh bạch của thông tin trong môi trường số sẽ giúp cho việc nâng cao tính minh bạch và tin cậy của thông tin trong quản lý điều hành, cũng như mở ra các cơ hội mới cho người dân được chủ động tham gia góp ý vào các vấn đề về điều hành và hoạch định chính sách Thông qua internet và một số phương tiện truyền thông khác, việc phổ biến rộng rãi thông tin sẽ hỗ trợ việc trao quyền cho người dân cũng như quá trình đưa ra quyết định của CQNN
Như vậy, đối với Chính phủ nói chung và CQNN nói riêng, CNTT chính là công cụ, phương tiện để nâng cao vai trò, hiệu quả và chất lượng quản lý của mình bằng cách cải tiến việc tiếp cận và cung cấp dịch vụ công nhằm đem lại lợi ích tốt nhất cho người dân; CNTT còn tăng cường năng lực
Trang 38Có thể nói, CNTT có vai trò hết sức quan trọng trong việc CCHC và hiện đại hóa nền hành chính, hướng đến Chính phủ hiện đại mà ngày nay gọi
là CPĐt Tuy nhiên, cần chú ý CNTT chỉ là công cụ, phương tiện cho Chính phủ thực hiện tốt vai trò, chức năng của mình Cần tránh tư tưởng tuyệt đối hóa CNTT dẫn đến những định hướng sai lầm, làm sai lệch đi mục tiêu, chức năng của Chính phủ
Mục tiêu của ứng dụng CNTT trong HCNN là tạo ra một phương thức vận hành thông suốt, hiệu quả của bộ máy công quyền, thông qua việc sử dụng các hệ thống thông tin điện tử Do vậy, các ứng dụng CNTT phải được thiết lập trên cơ sở "đơn đặt hàng" của bộ máy HCNN và nhờ tính năng đặc biệt của công nghệ mà những mục tiêu thiết lập một bộ máy HC hoạt động hiệu quả, năng động và chất lượng sẽ được thực hiện Chính CCHC là chủ thể đưa ra mục tiêu, yêu cầu cho việc thiết lập các hệ thống CNTT Mức độ cải cách sẽ quyết định quy mô, phạm vi của CNTT, chứ không phải ngược lại Một cách nhìn khác, chính ứng dụng CNTT sẽ là một trong các giải pháp nhằm đạt mục tiêu của CCHC Vì CCHC là nhằm đến tính hiệu quả, chất lượng trong cách thức hoạt động, điều hành của bộ máy HCNN; là làm cho bộ máy chuyển từ chức năng "chèo thuyền" sang "lái thuyền", chuyển từ HC
"xin-cho" sang HC "phục vụ”; và làm cho nền HC có khả năng kiểm soát lãng phí, thất thoát và tham nhũng Điều đó đòi hỏi các hoạt động phải được quy
Trang 3939
trình hóa, phải rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, về các hoạt động và các mối quan hệ Qua đó sẽ tạo được yếu tố "công khai, minh bạch" trong nền HC Quá trình thiết lập các hệ thống CNTT trong cơ quan HCNN phải xuất phát từ quá trình thiết lập trật tự các quy trình, các cơ chế và các mối quan hệ giữa các chức năng, các cơ quan và các cấp
Hệ thống CNTT ứng dụng được quyết định bởi phần "ứng dụng", tức là phần thiết lập các hệ thống thông tin, hệ thống các cơ sở dữ liệu, các quy trình vận hành và luân chuyển thông tin do bộ máy HC thực hiện Phần công nghệ gồm phần cứng, phần mềm, mạng, đào tạo sử dụng, chỉ là phương tiện để chuyển các quy trình vận hành bằng phương thức HC truyền thống thành quy trình điện tử Nếu không xuất phát từ cách tiếp cận này, rất có thể những sai lầm cũ sẽ tiếp tục lặp lại
Mua sắm công nghệ là công đoạn dễ nhất, đơn giản nhất Song yếu tố quyết định đến kết quả của chương trình tin học hóa quản lý HCNN phải là việc xây dựng hệ thống thông tin điện tử xuất phát từ việc thiết lập lại và thay đổi các quy trình, thay đổi cách thực hiện các TTHC, thay đổi cách thức giao tiếp, làm việc giữa các cơ quan với nhau và giữa các cơ quan với công dân, doanh nghiệp Điều này đòi hỏi nhiều thời gian, công sức và trên hết là nhận thức, cách tiếp cận và ý chí cải cách của bộ máy HCNN và hệ thống chính trị
“Tin học hoá hoạt động của các cơ quan nhà nước là bộ phận hữu cơ quan trọng của cải cách nền hành chính quốc gia, là nhiệm vụ thường xuyên của các cơ quan nhằm tăng cường năng lực quản lý, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả”, đó chính là kết luận của Ban Chấp hành Trung ương tại Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNTT ra đời đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần tích cực vào sự tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm thay đổi cơ bản cách quản lý, học tập và làm việc của con
Trang 4040
người Trong CCHC, CNTT góp phần tự động hóa, đơn giản hóa các quy trình, thủ tục hành chính, tạo ra phong cách lãnh đạo, phong cách làm việc mới, cải tiến hình thức cung cấp dịch vụ công theo hướng trực tuyến
Xây dựng chính CPĐT, chúng ta không thể không nhắc đến vai trò của CNTT Việc tin học hóa hoạt động của các cơ quan HCNN vừa là phương tiện, vừa là áp lực đối với việc cải cách nền hành chính quốc gia
Thông qua hoạt động ứng dụng CNTT, bộ máy HCNN dễ dàng liên kết với nhau hơn trong thực hiện nhiệm vụ, Chính phủ cũng thông qua đó để điều hành bộ máy nhà nước một cách nhanh chóng, hiệu quả và chính xác; kiểm soát tốt hơn mọi hoạt động của cơ quan công quyền trước những biến động phức tạp của thực tiễn nền kinh tế thị trường trong giai đoạn hội nhập và phát triển
Tuy nhiên, chính sự minh bạch trong kiểm soát và giám sát mà hoạt động ứng dụng CNTT mang lại đã ít nhiều tạo áp lực cho các cơ quan HCNN bởi qua đó mọi trì trệ, ách tắc của bộ máy công quyền sẽ dễ dàng lộ diện khi
có vấn đề xảy ra Như vậy, CCHC và xây dựng CPĐT suy cho cùng đều chung một mục đích, đó là nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc; nâng cao tính minh bạch và độ tin cậy của thông tin quản lý điều hành
Nhận thức là vậy, thế nhưng việc tin học hóa của nhiều cơ quan HCNN đến nay chưa được đẩy mạnh bởi nhiều lý do Nhiều cơ quan HCNN vẫn đang loay hoay tìm hướng giải quyết song chưa rõ nên bắt đầu từ đâu? Phải chăng nên bắt đầu từ hoạt động ứng dụng CNTT hay từ việc CCHC?
Nếu chúng ta bắt đầu từ hoạt động ứng dụng CNTT trước sau đó mới thực hiện CCHC thì kế hoạch tin học hóa của đơn vị sẽ bất thành bởi chưa có CCHC nên thiếu quy trình để chuẩn hóa; ngược lại nếu chúng ta trông đợi vào
sự hoàn thiện của CCHC trước, sau đó mới triển khai hoạt động ứng dụng CNTT thì sẽ không có một CPĐT trong tương lai bởi không biết đến khi nào thì nền hành chính của chúng ta mới cải cách xong