Luận văn tiến hành đánh giá thực trạng kiến thức của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng về phòng và cấp cứu sốc phản vệ; đề xuất giải pháp can thiệp nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng và cấp cứu sốc phản vệ.
Trang 1đánh giá kiến thức phòng và cấp cứu sốc phản vệ của điều dưỡng
bệnh viện bắc thăng long năm 2013
TÓM TẮT
Nghiên cứu (NC) mô tả cắt ngang về phòng và cấp cứu sốc phản vệ (SPV), được thực hiện tại Bệnh viện Bắc Thăng Long, Sở Y tế Hà Nội năm
2013, với cỡ mẫu 137 điều dưỡng (ĐD) trong toàn bộ các khoa lâm sàng tham gia vào NC Đối tượng NC đa số thuộc giới nữ và ở lứa tuổi trẻ, 38%
ĐD có trình độ cao đẳng, đại học Kết quả cho thấy >90% ĐD có kiến thức
đúng về nguyên nhân SPV, các biện pháp dự phòng và cách xử trí >90-100%
ĐD có kiến thức đúng để nhận biết về các triệu chứng biểu hiện của SPV, cách sử dụng, liều dùng Adrenalin ở người lớn
Tuy nhiên còn 56.2% ĐD chọn thời điểm xuất hiện triệu chứng đầu tiên của SPV, 38% ĐD hiểu sai về liều dùng Adrenalin ở trẻ em (các ĐD này chủ yếu công tác tại khoa Đông y và khoa Liên chuyên khoa), đặc biệt còn 47,4% ĐD cho là vẫn thử test kháng sinh với người bệnh (NB) đã bị dị ứng với kháng sinh đó, NC đã chỉ ra sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa thâm niên công tác với kiến thức của ĐD về SPV nhưng có sự liên quan giữa trình độ ĐD với kiến thức về SPV, ĐD cao đẳng, đại học có kiến thức đúng cao hơn so với ĐD trung cấp về: Thời điểm xuất hiện sốc, cách xử trí tại chỗ
và khoảng cách tiêm Adrenalin Từ kết quả NC bệnh viện có cơ sở thực hiện công tác đào tạo liên tục và thường xuyên kiểm tra, giám sát về kiến thức phòng và cấp cứu SPV, tăng sự an toàn cho và góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc NB tại Bệnh viện Bắc Thăng Long
ABSTRACT
Cross sectional study about anaphylaxis shock was taken in Bac Thang Long hospital in 2013 Study objects: 137 nurses, most of them are women
at young age 38% of study objects had college and university’s degree The result show that, more than 90% of nurses had right knowledge about causes, prevention and treatment of anaphylaxis shock More than 90%
of nurses had right knowledge about anaphylaxis shock’s symptomps, adrenalin’s dose and usage for adult However, only 56,2% nurses know when first anaphylaxis shock’s symptomp appeared 38% nurses had wrong understanding about adrenalin’s dose for children ( these nurses are working
at traditional medical faculty and faculty of associated specialist), and 47,4% nurses still did antibiotic test for patient whom had allergy with the same antibiotic There is no statistical difference between seniority and nurse’s knowledge about anaphylaxis shock However, there is connection between nurse’s degree and knowledge about anaphylaxis shock Nurses, who had
nguyễn thanh vân *
* Khoa Nội tổng hợp, Bệnh viện
Bắc Thăng Long
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Sốc phản vệ là hội chứng lâm sàng biểu hiện
bằng tình trạng tụt huyết áp và giảm tưới máu tổ
chức, bản chất là phản ứng dị ứng rất nặng, sốc
phản vệ có thể do thuốc, máu và chế phẩm máu,
hóa chất, thức ăn, nọc côn trùng… Thuốc đưa vào
cơ thể bằng bất cứ đường nào đều có thể gây sốc
phản vệ Sốc phản vệ có thể xảy ra ngay sau dùng
thuốc lần đầu hoặc sau dùng thuốc vài lần, một
người đã làm test nội bì âm tính vẫn có thể bị sốc
phản vệ với kháng sinh đó Cấp cứu sốc phản vệ đòi
hỏi phải khẩn trương như cấp cứu ngừng tuần hoàn,
phải tiến hành ngay tại chỗ, các tai biến và tỷ lệ tử
vong do sốc phản vệ có thể giảm khi điều dưỡng
nắm được kiến thức để thực hiện đúng cách phòng
chống và chăm sóc người bệnh sốc phản vệ
Bộ Y tế ban hành Thông tư 08/1999/TT-BYT
hướng dẫn phòng và cấp cứu sốc phản vệ quy định
các bác sĩ, điều dưỡng phải nắm vững phác đồ cấp
cứu sốc phản vệ để xử lý kịp thời khi phát hiện người
bệnh có biểu hiện của sốc phản vệ nhằm hạn chế
thấp nhất các tai biến cho người bệnh Tại Bệnh viện
Bắc Thăng Long, yêu cầu bắt buộc đối với các bác
sĩ, điều dưỡng là phải nắm vững Thông tư 08/1999/
TT-BYT nhằm đảm bảo việc chủ động tốt nhất để xử
trí đạt hiệu quả tốt nhất khi phát hiện người bệnh có
biểu hiện sốc phản vệ Để đánh giá kiến thức phòng
và cấp cứu sốc phản vệ của điều dưỡng Bệnh viện
Bắc Thăng Long, chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu
mô tả cắt ngang nhằm các mục tiêu sau:
1 Đánh giá thực trạng kiến thức của điều
dưỡng tại các khoa lâm sàng về phòng và cấp cứu
sốc phản vệ.
2 Đề xuất giải pháp can thiệp nhằm nâng cao
kiến thức, kỹ năng phòng và cấp cứu sốc phản vệ.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ điều dưỡng
(ĐD) đang công tác tại các khoa lâm sàng (tổng số: 137 điều dưỡng/12 khoa)
2 Tiêu chuẩn loại trừ: Các điều dưỡng nghỉ phép,
nghỉ ốm, nghỉ thai sản vắng mặt trong thời gian nghiên cứu và các điều dưỡng không đồng ý tham gia nghiên cứu
3 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/2013 đến
tháng 10/2013
4 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang bằng
phỏng vấn theo bộ câu hỏi thiết kế sẵn
5 Nội dung NC: Phân tích đối tượng nghiên cứu
về tuổi, giới, trình độ, học vấn, thâm niên công tác
và kiến thức về sốc phản vệ theo nội dung phiếu phỏng vấn
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Bảng 1 Phân bổ điều dưỡng theo tuổi và giới
Tuổi
Trung bình 31.9 ± 8.1 tuổi (22-55)
Nhận xét: Bảng 1 cho thấy đa số các ĐD thuộc
giới nữ (chiếm 89.8%), tỷ lệ này phù hợp với đặc điểm chung về giới của ngành ĐD, lứa tuổi ≤35
unversity’s degree, have better knowledge than nurses who had lyceum’s degree in following areas: Appearance of anaphylaxis shock, local treatment, interval between adrenalin’s injection
With study’s result, hospital will have the basis for continuous education, permanent control and monitoring the knowledge about prevention and emergency treatment of anaphylaxis shock It will rise the safety, and quality
of patient’s health care in Bac Thang Long hospital
Trang 3chiếm tới 76.6% phản ánh lực lượng ĐD của Bệnh
viện (BV) Bắc Thăng Long đa số là ở độ tuổi trẻ
62%
38%
Trung cấp
Cao đẳng -Đại học
Biểu đồ 1 Phân bố điều dưỡng theo trình độ
Biểu đồ 1 cho thấy tỷ lệ ĐD có trình độ
cao đẳng, đại học chiếm 38%, phản ánh BV
coi trọng nhiều đến chất lượng nguồn nhân lực
ĐD, do đó BV có được số lượng ĐD cao đẳng,
đại học chiếm tỷ lệ tương đối cao (toàn quốc khoảng 20%)
QăP
QăP
QăP
Biểu đồ 2 Đặc điểm về thâm niên công tác
Biểu đồ 2 phản ánh về thời gian công tác của ĐD<20 năm (chiếm 88%), tỷ lệ này phù hợp với thực tế bởi sự đồng thuận với kết quả về độ tuổi của đối tượng nghiên cứu (ĐD trẻ chiếm đa số - Bảng 1)
2 Kiến thức của điều dưỡng về phòng và cấp cứu sốc phản vệ
Bảng 2 Kiến thức về cách xử trí tại chỗ đối với sốc phản vệ
Ngừng ngay đường tiếp xúc với dị nguyên, cho người bệnh (NB)
nằm tại chỗ, có thể tiêm Adrenalin ngay dưới da, thở oxy rồi báo
Tiêm Adrelalin 1ml/mg tiêm ngay dưới da với liều 1/2 – 1ống ở
Ở trẻ em tiêm ngay Adrelalin dưới da không quá 0.3ml (ống
1ml/mg + 9ml nước cất = 10ml, sau đó tiêm 0.1 ml/kg) 85 62,0 52 38,0 Tiếp tục tiêm Adrelanin liều như trên 10-15 phút/lần cho đến khi
Trong thời gian huyết áp chưa trở về bình thường, phải theo dõi
Điều dưỡng được phép tiêm Adrenaline dưới da cho NB theo phác
Nhận xét: Bảng 2 cho ta thấy 100% ĐD trả lời đúng về liều Adrenalin tiêm dưới da ở người lớn,
và 95,6% biết là ĐD được tiêm Adrenaline dưới da cho NB theo phác đồ khi bác sĩ vắng mặt Có 85.4% ĐD trả lời đúng về cách xử trí ngay tại chỗ, tuy nhiên còn 38% ĐD trả lời sai về liều Adrenalin
ở trẻ em, tỷ lệ ĐD trả lời sai này chủ yếu là các ĐD công tác tại khoa Đông y, khoa liên chuyên khoa
Trang 4Bảng 3 Kiến thức về các biện pháp dự phòng sốc phản vệ
Khai thác kỹ tiền sử dị ứng trước khi dùng thuốc 125 91,2 12 8,8
Nồng độ dung dịch kháng sinh (Penicilline, Streptomycin) thử test
Thời gian đọc kết quả test lẩy da là sau 20 phút 8 5,8 129 94.2 Không được thử test kháng sinh khi NB có tiền sử dị ứng với kháng
Nhận xét: Bảng 3 cho thấy phần lớn (91,2% - 98,5%) ĐD có kiến thức cơ bản, quan trọng về phòng sốc phản vệ như: Khai thác kỹ NB tiền sử dị ứng, theo dõi NB trong và sau khi thử test và danh mục có trong hộp chống sốc, tuy nhiên còn 11,7% ĐD hiểu sai về việc phải có hộp chống sốc khi tiêm, đặc biệt còn tới 47.4% ĐD cho là vẫn thử test kháng sinh cho NB có tiền sử dị ứng với kháng sinh đó, điều này cho thấy sự thiếu hụt đáng kể về kiến thức cơ bản, quan trọng nhất mà ĐD phải hiểu để tránh sự nguy hiểm cho NB
.
Biểu đồ 3 Kiến thức về nguyên nhân sốc phản vệ
Theo biểu đồ 3 đa số (chiếm> 80-100%) ĐD hiểu đúng về các nguyên nhân gây sốc phản vệ Tuy nhiên còn 10,2% ĐD cho rằng máu và các sinh phẩm của máu không phải là nguyên nhân gây sốc phản vệ
Biểu đồ 4 Kiến thức về triệu chứng của sốc phản vệ
Trang 5Theo biểu đồ 4, hầu hết (94,9-100%) ĐD biết về các biểu hiện về cảm giác và biểu hiện tuần hoàn, các biểu hiện của NB như: Mẩn ngứa, nổi mề đay, ban đỏ và biết về các biểu hiệu bất thường về hô hấp, điều này cho thấy đạt tỷ lệ cao ĐD biết hướng dẫn để NB chủ động hợp tác và biết phát hiện các biểu hiện sớm của sốc phản vệ, tuy nhiên chỉ có 56.2% trả lời đúng về triệu chứng đầu tiên có thể xuất hiện ngay sau khi dùng thuốc hoặc sau dùng thuốc một thời gian
Bảng 4 Liên quan giữa trình độ chuyên môn với kiến thức về thời gian và triệu chứng sốc phản vệ
Trình độ Thời gian xuất hiện Biểu hiện trên da Biểu hiện hô hấp Biểu hiện tiêu hóa
Trung Cấp
(n=85) 48.2%41 51.8%44 98.8%84 1.2%1 95.3%81 4.7%4 89.4%76 10.6%9 Cao đẳng, đại
học (n=52) 69.2%36 30.8%16 96.1%50 5.9%2 94.2%49 5.8%3 88.5%46 11.5%6
Nhận xét: Bảng 4 cho thấy các ĐD cao đẳng, đại học hiểu đúng về thời gian xuất hiện triệu chứng sốc phản vệ chiếm tỷ lệ cao hơn ĐD trung cấp, điều này phản ánh ĐD có trình độ cao hơn thì có kiến thức sâu hơn về cơ chế của sốc phản vệ, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0.05)
Bảng 5 Liên quan giữa trình độ điều dưỡng và xử trí tại chỗ sốc phản vệ
Trình độ Xử trí tại chỗ
Liều Adrenalin
ở trẻ em Khoảng cách tiêm Adrenalin
Trung cấp (n=85) 68
80% 20%17 56.5%48 43.5%37 77.6%66 22.4%19 Cao đẳng, đại học
(n=52) 94.2%49 5.8%3 71.2%37 28.8%15 96.2%50 3.8%2
Nhận xét: Bảng 5 cho thấy các ĐD cao đẳng, đại học hiểu đúng về cách xử trí tại chỗ và khoảng cách tiêm Adrenalin khi NB có biểu hiện sốc phản vệ chiếm tỷ lệ cao hơn so với ĐD trung cấp, điều này phản ánh lên ĐD có trình độ cao hơn thì biết cách xử trí đúng hơn khi NB có biểu hiện sốc phản vệ, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0.05)
Bảng 6 Liên quan giữa thâm niên công tác với xử trí tại chỗ sốc phản vệ
Thâm niên Xử trí tại chỗ
Liều Adrenalin
ở trẻ em Khoảng cách tiêm Adrenalin
< 10 năm
(n=90) 85.6%77 14.4%13 61.1%55 38.9%35 84.4%76 15.6%14
≥ 10 năm
(n=47) 85.1%40 14.9%7 63.8%30 36.2%17 85.1%40 14.9%7
Nhận xét: Bảng 6 cho thấy tỷ lệ ĐD hiểu đúng về cách xử trí tại chỗ, liều Adrenalin ở trẻ em và khoảng cách tiêm Adrenalin khi NB có biểu hiện sốc phản vệ là tương đương, không có sự khác biệt về
ý nghĩa thống kê (p>0.05)
Trang 6KẾT LUẬN
Toàn bộ ĐD các khoa lâm sàng tại BV Bắc
Thăng Long tham gia vào nghiên cứu, đa số thuộc
giới nữ, còn trẻ có thời gian công tác <10 năm, tỷ
lệ ĐD có trình độ cao đẳng, đại học tương đối cao
so với tỷ lệ chung trên toàn quốc Kết quả nghiên
cứu đưa ra:
- Phần lớn (>90%) ĐD có kiến thức đúng về
nguyên nhân gây sốc phản vệ, các biện pháp dự
phòng và cách xử trí
- Hầu hết (>90-100%) ĐD có kiến thức để
nhận biết về các triệu chứng biểu hiện của sốc phản
vệ, cách sử dụng, liều dùng Adrenalin ở người lớn
Tuy nhiên, tỷ lệ ĐD chọn thời điểm xuất hiện triệu
chứng đầu tiên của sốc phản vệ còn thấp (56.2%) và
còn tỷ lệ 38% ĐD hiểu sai về liều dùng Adrenalin ở
trẻ em (tập trung cao ở khoa Đông y và khoa Nhi),
đặc biệt là 47,4% ĐD cho là vẫn thử test kháng sinh
với NB đã bị dị ứng với loại kháng sinh đó
- Nghiên cứu đã chỉ ra là không có sự liên quan
giữa thâm niên công tác với kiến thức về sốc phản
vệ nhưng có sự liên quan giữa trình độ ĐD với kiến thức về sốc phản vệ, điều này phản ánh lên rằng tỷ
lệ ĐD có trình độ cao đồng thuận với tỷ lệ kiến thức đúng về sốc phản vệ như: Thời điểm xuất hiện sốc, cách xử trí tại chỗ và khoảng cách tiêm Adrenalin
KHUYẾN NGHỊ
- Bệnh viện cần phải thực hiện tập huấn về kiến thức, kỹ năng phòng sốc phản vệ trong kế hoạch đào tạo liên tục cho toàn bộ ĐD làm việc tại khoa lâm sàng, sử dụng kết quả từ nghiên cứu này để tập huấn và giám sát điều dưỡng khi chăm sóc NB
- Tổ kiểm tra bệnh viện kết hợp cùng phụ trách khoa, ĐDT khoa thường xuyên kiểm tra, giám sát
về kiến thức, kỹ năng phòng sốc phản vệ, ưu tiên nội dung này để kiểm tra và lấy kết quả để bình xét thi đua hàng tháng với cá nhân ĐD
- Tăng tỷ lệ ĐD cao đẳng, đại học: Khuyến khích cá nhân ĐD học lên trình độ cao hơn giúp người ĐD tự tin khi chăm sóc NB, tăng cường sự
an toàn cho NB
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Y tế (2004), Hướng dẫn quy trình chăm sóc người bệnh, Tập 1, Chăm sóc người bệnh sốc phản vệ,
Hà Nội, Tr 72-73
2 Bộ Y tế (2004), Kỹ thuật test lẩy da, Hướng dẫn quy trình chăm sóc người bệnh, Tập 2, Hà Nội, Tr
57-60
3 Bộ Y Tế (1999), Thông tư 08/1999-TT-BYT, Hướng dẫn phòng và cấp cứu sốc phản vệ, Hà Nội
4 Bệnh viện Bạch Mai (2011), Sốc phản vệ, Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh nội khoa, Tr.102-104,
Hà Nội
5 Bệnh viện Bắc Thăng Long (2013), Báo cáo đánh giá công tác 6 tháng đầu năm và kế hoạch quý III năm 2013, Hà Nội
6 Trường Đại học Y Hà Nội (2001), Quá mẫn, Miễn dịch đại cương, Tr.135-184