Luận văn tiến hành mô tả đặc điểm người bệnh ung thư thực quản được mở thông dạ dày tại Bệnh viện K và phân tích một số yếu tố liên quan đến chăm sóc người bệnh.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
PHẠM VĂN THÀNH MHV: C01258
KẾT QUẢ CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH UNG THƯ THỰC QUẢN ĐƯỢC MỞ THÔNG DẠ DÀY VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN K
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội - 2019
Trang 2Tóm tắt Tổng quan: Ung thư thực quản là bệnh lý ác tính khá phổ biến, đứng
hàng thứ 9 trong số các bệnh ung thư trên thế giới và có tiên lượng xấu bậc nhất Hiện nay mặc dù đã có rất nhiều tiến bộ trong điều trị đa mô thức ung thư thực quản vẫn là một trong những bệnh ung thư đặt ra nhiều thách thức với loài người bởi tỉ lệ sống sau 5 năm vẫn chỉ là 20-25% Độ tuổi thường mắc bệnh trên 50 tuổi Nam có tần suất mắc bệnh
cao hơn nữ [1].Mục tiêu: Mô tả đặc điểm người bệnh ung thư thực
quản được mở thông dạ dày tại Bệnh viện K và phân tích một số yếu tố
liên quan đến chăm sóc người bệnh Đối tượng và phương pháp:
Nghiên cứu mô tả tiến cứu, 390 bệnh nhân bệnh nhân ung thư thực quản được mở thông dạ dày đang điều trị tại Bệnh viện K cơ sở Tân Triều từ
ngày 01/2019 - 09/2019 Kết quả: Nam giới chiếm tỷ lệ cao tuyệt đối
so với nữ (98,72%/1,28%); Vị trí ung thư chiếm nhiều nhất ở 1/3 trên chiếm 39,49%; tiếp đến 1/3 giữa chiếm 36,92%; thấp nhất là ung thư ở
vị trí 1/3 dưới 23,59%; Với thời gian đặt sonde trung bình 86,51 ± 62,19 (ngày); Với thời gian nằm trung bình 23,99 ± 12,41 (ngày); Giai đoạn bệnh chủ yếu gặp ở giai đoạn 4 của bệnh chiếm 50,0%; Phác đồ điều trị chiếm tỷ lệ lớn nhất là hóa xạ trị phối hợp chiếm 75,90%; Phương pháp phẫu thuật mở thông dạ dày chủ yếu của bệnh nhân là phương pháp Witzel chiếm 51,54%; Trong 254 BN có nhiễm trùng chân sonde chiếm 65,13% trong đó nhiễm trùng da và chân chỉ đỏ có 218 BN chiếm
55,90% Kết luận: Trình độ học vấn; nghề nghiệp của người chăm sóc
chính cho người bệnh là một trong những yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc điều trị của bệnh nhân ung thư thực quản được mở thông dạ dày
Trang 3Từ khóa: mở thông dạ dày, mối liên quan, điều dưỡng, bệnh viện K
SUMMARY:
Overview: Esophageal cancer is a fairly common malignancy, ranking
9th among the world's cancers and has the worst prognosis Currently, although there have been many advances in the treatment of esophageal cancer, it is still one of the cancers posing many challenges to humans because the 5-year survival rate is still only 20-25% Age usually infected over 50 years old Men have a higher incidence than women [1]
Objective: Describe the characteristics of people with esophageal
cancer who have gastric bypass at K hospital and analyze some factors
related to patient care
Subjects and methods: Cross-sectional descriptive study on 390
patients with esophageal cancer with gastric openings with chemical indications in Department of Internal Medicine 3 - K Hospital, Tan Trieu Campus, from January 1 / 2019 - July 31, 2019
Results: Males accounted for the absolute percentage of females
(98.72% / 1.28%); Cancer site accounts for the most in 1/3 of the above, accounting for 39.49%; up to the middle third accounted for 36.92%; the lowest is cancer at the 1/3 position below 23.59%; With average time of setting sonde 86.51 ± 62.19 (days); with a median time of 23,99
± 12,41 (days); The stage of disease is mainly seen in stage 4 of the disease, accounting for 50.0%; Treatment regimen accounted for the largest proportion was combined radiation chemotherapy accounting for 75.90%; The main method of patients' open gastric bypass surgery was Jenaway-Depage accounting for 51.54%; Of 254 patients with sonde
Trang 4foot infection accounted for 65.13% of which skin and leg infections in red only 218 patients accounted for 55.90% Conclusion: Education; Careers' occupation is one of the factors related to the results of care
and treatment of patients with gastric esophageal cancer
Key words: gastric bypass, relation, nursing, K hospital
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư thực quản làm chít hẹp lòng thực quản gây lên người bệnh nuốt nghẹn, nuốt vướng, thậm chí thức ăn và nước uống không xuống được
dạ dày, bệnh nhân đói, thèm ăn nhưng không ăn được dần dần bị suy kiệt [2] Do đó mở thông dạ dày là phẫu thuật tạo sự thông thương giữa ống tiêu hóa với bên ngoài ổ bụng, là chỉ định rất thường gặp trong thực tiễn lâm sàng (nhất là với bệnh nhân ung thư thực quản) và được áp dụng cho các bệnh nhân có khả năng hấp thu bình thường qua đường tiêu hóa nhưng lại không thể ăn uống qua đường miệng - thực quản do nhiều nguyên nhân khác nhau, nên người bệnh không thể đưa thức ăn được từ miệng xuống dạ dày do vậy cần phải mở thông dạ dày để bơm thức ăn, tránh mất chất dinh dưỡng, suy kiệt ảnh hưởng đến chất lượng sống, hiệu quả điều trị, chất lượng chăm sóc[3] Lòng thực quản bị khối
u chèn ép gây hẹp, tắc do vậy đa số bệnh nhân ung thư thực quản được
mở thông dạ dày nhằm mục đích nuôi dưỡng Thủ thuật mở thông dạ dày không phải là phương pháp điều trị trực tiếp bệnh ung thư, nhưng lại có ý nghĩa và giá trị quan trọng về mặt nuôi dưỡng, bù năng lượng sống cho người bệnh [13] Phẫu thuật mở thông dạ dày giúp cải thiện dinh dưỡng cho người bệnh, đảm bảo duy trì thể trạng cần thiết cho các phương pháp điều trị chính như điều trị tia xạ và hoá chất [4] Tại Việt Nam chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề này Do đó từ thực tiễn
Trang 5trên chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm mô tả tình trạng nhiễm khuẩn chân sonde, tắc tụt sonde, các biến chứng không mong muốn, các yếu tố liên quan trong chăm sóc mở thông dạ dày trên bệnh nhân ung thư thực quản đang điều trị tại Bệnh viện K; chúng tôi nghiên cứu đề tài này với
2 mục tiêu:
1 Mô tả đặc điểm người bệnh ung thư thực quản được mở thông dạ dày tại bệnh viện K
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến chăm sóc người bệnh ung thư thực quản được mở thông dạ dày
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân ung thư thực quản đã được mở thông dạ dày đang điều trị tại Bệnh viện K cơ sở Tân Triều từ ngày 01/2019 - 09/2019
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu tiến cứu
2.2.2 Cỡ mẫu
Cỡ mẫu nghiên cứu được áp dụng cho 1 tỷ lệ
Trong quá trình nghiên cứu thu thập 390 bệnh nhân
2.4 Kỹ thuật chọn mẫu
Chọn theo phương pháp thuận tiện
Các chỉ tiêu nghiên cứu
- Thông tin chung về trẻ: Tuổi, giới
- Thông tin chung về mẹ: Tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, nơi ở
- Tiền sử của các bệnh nhân: BMI; bệnh lý nội khoa, bệnh lý ngoại khoa
Trang 6- Phương pháp điều trị: phẫu thuật, hóa chất, xạ trị, hóa xạ trị đồng thời
- Phương pháp phẫu thuật mở thông dạ dày
- Mối liên quan giữa thông tin chung với kết quả điều trị, quá trình chăm sóc, biến chứng
Xử lý số liệu bằng phần mềm Epidata 14.0
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm thông tin chung của người bệnh
Bảng 3.1: Phân loại theo nhóm tuổi
Nhận xét:
Từ bảng 3.1 cho ta thấy: độ tuổi chiếm tỷ lệ lớn nhất là 50 – 59 tuổi có 172 BN chiếm 44,10%; thấp nhất là những bệnh nhân dưới 40 tuổi chiếm 1,79%
Biểu đồ 3.1: Phân loại theo giới
Nhận xét: Nam giới chiếm tỷ lệ đương đối với 98,72%; chỉ có 5 BN là
Trang 7nữ giới chiếm 1,28%
3.2 Đặc điểm người bệnh ung thư thực quản được mở thông dạ dày tại Bệnh viện K
Bảng 3.2 Đặc điểm chung của bệnh nhân ung thư thực quản
nhân
Tỷ lệ %
Nhận xét:
- Vị trí ung thư chiếm nhiều nhất ở 1/3 trên chiếm 39,49%; tiếp đến 1/3 giữa chiếm 36,92%; thấp nhất là ung thư ở vị trí 1/3 dưới 23,59%;
- 100% BN được mở thông dạ dày
Bảng 3.3 Thời gian đặt sonde và nằm viện
Đặt sonde
Mean ± SD 86,51 ± 62,19 (ngày) Min: 5 Max:
240
Nằm viện
Mean ± SD 23,99 ± 12,41 (ngày) Min: 2
Max:60 Nhận xét:
- Thời gian đặt sonde trên 3 tháng chiếm tỷ lệ lớn 54,0%; với thời
Trang 8gian đặt sonde trung bình 86,51 ± 62,19 (ngày); thấp nhất: 5 ngày, nhiều nhất: 240 ngày;
- Thời gian nằm viện đa số đều ≥ 15 ngày chiếm 78,72%; với thời gian nằm trung bình 23,99 ± 12,41 (ngày) thấp nhất: 2 ngày, nhiều nhất:
60 ngày
Bảng 3.4 Phương pháp phẫu thuật mở thông dạ dày của bệnh nhân
Phương pháp phẫu thuật Số bệnh nhân Tỷ lệ %
Nhận xét:
- Phương pháp phẫu thuật mở thông dạ dày chủ yếu của bệnh nhân là phương pháp Witzel chiếm 51,54%; tiếp đến là Stamm chiếm 26,67%
Bảng 3.5.Mức độ viêm chân sonde trong quá trình nằm viện
Tình trạng chân sonde Số bệnh
Nhiễm khuẩn thấy tạng, phúc
mạc
Nhận xét:
- Trong số 254 BN có nhiễm khuẩn chân sonde chiếm 65,13% Trong đó nhiễm khuẩn da và chân chỉ đỏ có 218 BN chiếm 55,90%, tiếp đó nhiễm khuẩn mô dưới da có 34 BN chiếm 8,72%,
Trang 9chỉ có 2 BN chiếm 0,51% nhiễm khuẩn gân và cơ
Bảng 3.6: Tỷ lệ tắc, tuột ống sonde và tái khám
Tình trạng tắc tụt của ống sonde Số bệnh
Nhận xét:
- Trong quá trình điều trị có 32,31% bệnh nhân có bị tắt, tụt ống sonde;
- Quá trình tái khám sau điều trị chỉ còn 12,56% BN trả lời có tình trạng tắt, tụt sonde
3.3 Một số yếu tố liên quan đến chăm sóc người bệnh ung thư thực quản được mở thông dạ dày
Bảng 3.7 Mối liên quan giữa tuổi và tình trạng tắt, tụt sonde
Tuổi
Có tắc, tụt sonde Không tắc, tụt
sonde
95% CI
Số lượng Tỷ lệ
%
Số lượng Tỷ lệ %
0,56
1,12 0,73 – 1,73
*: test: Chi2
Nhận xét: Không có sự khác biệt giữa nhóm tuổi và tình trạng tắc, tụt sonde với p <0,05
Trang 10Bảng 3.8 Mối liên quan giữa việc được điều dưỡng hướng dẫn và tỷ
lệ bệnh nhân bị nhiễm khuẩn
Hướng
dẫn
Có nhiếm khuẩn
Không nhiễm khuẩn
95% CI
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng Tỷ lệ %
Được hướng
dẫn
145 38,16 235 61,84
0,007 0,15
0,01 – 0,79
Không được
HD
Tổng 153 39,23 237 60,77
*: test: Chi2
Nhận xét: BN có người nhà được điều dưỡng hướng dẫn chăm sóc tại nhà có tỷ lệ nhiễm khuẩn là 38,16% thấp hơn những BN có người nhà không được điều dưỡng hướng dẫn chăm sóc tại nhà có tỷ lệ nhiễm khuẩn là 80,0%; sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Những người chăm sóc được điều dưỡng hướng dẫn có tỷ lệ BN nhiễm khuẩn thấp gấp 0,15 lần so với những người chăm sóc không được điều dưỡng hướng dẫn, với khoảng tin cậy 95% CI từ 0,01 – 0,79
Bảng 3.9 Mối liên quan giữa nghề nghiệp của người chăm sóc và
rửa tay trước chăm sóc
Nghề
nghiệp
Có rửa tay Không rửa tay
95% CI
Số lượng Tỷ lệ %
Số lượng Tỷ lệ %
Viên chức, hưu
trí
0,00
21,09 3,47 – 8,59
Nông dân,
công nhân,
nghề khác
231 66,57 116 33,43
*: test: Chi2
Trang 11Nhận xét: BN có người nhà có nghề nghiệp là viên chức, hưu trí
có tỷ lệ rửa tay trước chăm sóc là 97,67% cao hơn những người chăm sóc có nghề nghiệp khác, tỷ lệ rửa tay trước chăm sóc là 66,57%; sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Những người chăm sóc được có nghề nghiệp là viên chức, hưu trí có tỷ lệ rửa tay trước chăm sóc cao gấp 21,09 lần so với những người chăm sóc có nghề nghiệp khác, với khoảng tin cậy 95% CI từ 3,47 – 8,59
4 BÀN LUẬN
4.1 Đặc điểm chung
Biểu đồ 3.1 cho thấy tỷ lệ nam/nữ rất chệnh lệch, tỷ lệ nam giới chiếm tỷ lệ đương đối với 98,72%; chỉ có 5 bệnh nhân là nữ giới chiếm 1,28% tương đương với nghiên cứu của Đặng Lệ Mỹ tỷ lệ giới nam 96,9%, nữ 3,1% Điều này phản ánh mô hình bệnh tật của bệnh nhân ung thư thực quản được MTDD, phần lớn bệnh nhân ung thư MTDD là ung thư thực quản, ngoài ra có ung thư hạ họng, ung thư gốc lưỡi là những bệnh ung thư mà nam giới chiếm ưu thế, các bệnh này thường có yếu tố thuận lợi và nguy cơ cao liên quan đến bia rượu và thuốc lá, thuốc lào [12] Trên lâm sàng, khi hỏi bệnh khai thác tiền sử bệnh ung thư thực quản đa số bệnh nhân đều có nghiện rượu trong một thời gian dài Uống rượu và thuốc lá lâu dài dẫn đến bỏng mạn tính đường tiêu hóa trên (khoang miệng, hạ họng, thực quản, tâm vị dạ dày) lâu ngày dẫn đến phát sinh bệnh ung thư Tại Việt Nam thấy rằng tỷ lệ nam giới nghiện rượu bia và thuốc lá cao gấp nhiều lần so với phụ nữ chính vì vậy mà tỷ lệ nam giới mắc bệnh ung thư thực quản cũng cao gấp nhiều lần so với nữ giới
Độ tuổi mắc bệnh chiếm tỷ lệ lớn nhất là 50 – 59 tuổi có 172 BN chiếm
Trang 1244,10%; thấp nhất là những bệnh nhân dưới 40 tuổi chiếm 1,79%; tỷ lệ này tương đương với nghiên cứu của Đặng Lệ Mỹ, nghiên cứu của tác giả cho thấy lứa tuổi 50-59 chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm 38,5%, tiếp đến lứa tuổi ≥ 60 chiếm 33,8%, lứa tuổi 40-49 chiếm 23,1%, lứa tuổi ≤ 40 chiếm tỷ lệ rất thấp 4,6% Phản ánh mô hình bệnh ung thư theo lứa tuổi, bệnh ung thư thực quản, hay gặp ở lứa tuổi trung niên và tuổi già, hiếm khi gặp ở lứa tuổi trẻ tuổi Theo Nguyễn Đại Bình ung thư thực quản hay gặp lứa tuổi >50, hiếm gặp lứa tuổi <40 [2]
4.2 Đặc điểm người bệnh ung thư thực quản được mở thông dạ dày
Vị trí ung thư chiếm nhiều nhất ở 1/3 trên chiếm 39,49%; tiếp đến 1/3 giữa chiếm 36,92%; thấp nhất là ung thư ở vị trí 1/3 dưới 23,59%
Trong nghiên cứu thấy rằng giai đoạn bệnh chủ yếu gặp ở giai đoạn IV của bệnh chiếm 50,0% ; giai đoạn III chiếm 35,38% và giai đoạn II chiếm 14,62% so với nghiên cứu của Đặng Văn Thởi năm 2017,
đề tài của tác giả cho thấy giai đoạn IV chỉ có 32%, giai đoạn III chiếm 34% và giai đoạn II chiếm 32% [46] Với phác đồ điều trị chiếm tỷ lệ lớn nhất là hóa xạ trị phối hợp chiếm 75,90%
Phương pháp phẫu thuật mở thông dạ dày chủ yếu của bệnh nhân
là phương pháp Witzel chiếm 51,54%; tiếp đến là Stamm chiếm 26,67% Hai phương pháp này tuy cổ điển nhưng có những ưu điểm riêng như giá thành rẻ, có thể thay sonde dễ dàng
Thời gian đặt sonde trên 3 tháng chiếm tỷ lệ lớn 54,0%; với thời gian đặt sonde trung bình 86,51 ± 62,19 (ngày); thấp nhất: 5 ngày, nhiều nhất: 240 ngày, phù hợp với tình hình bệnh tật của người bệnh, do phải lưu sonde cả đời
Trang 13Thời gian nằm viện đa số đều ≥ 15 ngày chiếm 78,72%; với thời gian nằm trung bình 23,99 ± 12,41 (ngày) thấp nhất: 5 ngày, nhiều nhất:
60 ngày, điều trị ung thư thực quản thường phức tạp và dài ngày
Trong tổng số 254 BN có nhiễm khuẩn chân sonde chiếm 65,13% Trong đó nhiễm khuẩn da và chân chỉ đỏ có 218 BN chiếm 55,90%, tiếp đó nhiễm khuẩn mô dưới da có 34 BN chiếm 8,72%, chỉ
có 2 BN chiếm 0,51% nhiễm khuẩn gân và cơ Nói chung MTDD là
phương pháp an toàn ít biến chứng Nghiên cứu của Grant DG và cộng
sự năm 2009 trên 172 BN ung thư vùng đầu cổ được mở thông dạ dày cho thấy tỷ lệ biến chứng chung của thủ thuật là 3,3% [5] Nghiên cứu của Larson DE năm 1987 trên 314 bệnh nhân được mở thông dạ dày cho thấy 93% (291BN) được tiến hành thủ thuật trong viện, 7% (23BN) được tiến hành thủ thuật ngoại viện, tỷ lệ biến chứng lớn là 3% và tỷ lệ biến chứng nhỏ là 13%, tác giả kết luận rằng mở thông dạ dày là thủ thuật an toàn ngay cả khi bệnh nhân có bệnh khác kèm theo [6] Trong quá trình điều trị có 32,31% bệnh nhân có bị tắt, tụt ống sonde; Quá trình tái khám sau điều trị chỉ còn 12,56% BN trả lời có tình trạng tắt, tụt sonde tại nhà
4.3 Một số yếu tố liên quan đến chăm sóc người bệnh ung thư thực quản được mở thông dạ dày
Bệnh nhân có người nhà được điều dưỡng hướng dẫn chăm sóc tại nhà có tỷ lệ nhiễm khuẩn là 38,16% thấp hơn những BN có người nhà không được điều dưỡng hướng dẫn chăm sóc tại nhà có tỷ lệ nhiễm khuẩn là 80,0%; sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Những người chăm sóc chính được điều dưỡng hướng dẫn có
tỷ lệ BN nhiễm khuẩn thấp gấp 0,15 lần so với những người chăm