1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KHẢO SÁT HOẠT TÍNH CỦA MỘT SỐ LOÀI THỰC VẬT MỌC Ở BÌNH DƯƠNG ĐỂ DIỆT BỌ ĐẬU ĐEN (Mesomorphus villiger)

34 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 853,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT KHOA TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KHẢO SÁT HOẠT TÍNH CỦA MỘT SỐ LOÀI THỰC VẬT MỌC Ở BÌNH DƯƠNG

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT KHOA TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

KHẢO SÁT HOẠT TÍNH CỦA MỘT SỐ LOÀI THỰC VẬT MỌC Ở BÌNH DƯƠNG ĐỂ DIỆT BỌ ĐẬU ĐEN

Trang 2

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT KHOA TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

KHẢO SÁT HOẠT TÍNH CỦA MỘT SỐ LOÀI THỰC VẬT MỌC Ở BÌNH DƯƠNG ĐỂ DIỆT BỌ ĐẬU ĐEN

(Mesomorphus villiger)

Lớp: C13SH01 (Ký tên)

Th.S Mai Thị Ngọc Lan Thanh Nguyễn Thị Ngọc Quyên

Bình Dương, tháng 04 năm 2016

Trang 3

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài 1

2 Lý do lựa chọn đề tài 2

2.1 Đối tượng 2

2.2 Phạm vi nghiên cứu 3

2.3 Cách tiếp cận 3

2.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu đề tài 3

3 Mục tiêu đề tài 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về bọ đậu đen 4

1.1.1 Vị trí phân loại 4

1.1.2 Đặc điểm hình thái 4

1.1.3 Đặc điểm hoạt tính sinh học 5

1.1.1 Đặc điểm dinh dưỡng 6

1.1.2 Đặc điểm sinh sản 6

1.1.3 Tập tính 6

1.2 Nguồn thực vật ở Bình Dương 7

1.2.1 Phân loại nguồn thực vật 7

1.2.2 Đặc điểm hình thái và công dụng 9

CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu 12

2.2 Nội dung nghiên cứu 13

2.3 Phương pháp nghiên cứu 13

2.3.1 Phương pháp thu mẫu ngoài tự nhiên 13

Trang 4

2.3.2 Thu dịch chiết nước thực vật từ 21 loài thực vật 13 2.3.3 Khảo sát khả năng diệt bọ đậu đen và tốc độ chết 13 2.3.4 Khảo sát nồng độ diệt bọ đầu đen với tỉ lệ chết là 50% (LD50) 14 CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Khảo sát khả năng diệt bọ đậu đen 15

3.1.1 Khảo sát hoạt tính diệt bọ đậu đen của dịch chiết thực vật và tốc độ

chết sau khi phun xịt 15 3.1.2 Xác định nồng độ diệt bọ đậu đen với tỉ lệ chết 50% (LD50) 20 CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

4.1 Kết luận 23 4.2 Kiến nghị 23 CHƯƠNG 5: KẾ HOẠCH THỰC HIỆN

Bảng kế hoạch thực hiện 24 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu tham khảo 25 PHỤ LỤC

Bảng 2 Nồng độ 10g/ml diệt bọ đầu đen trong 2 giờ 27

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT, KÍ HIỆU

LD50 : LD là từ viết tắt của “Lethal Dose”

LD50 là liều lượng của hóa chất phơi nhiễm trong cùng một thời điểm, gây ra cái chết cho 50% của một nhóm động vật dùng thử nghiệm.

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài

Tại Ấn Độ, (2013) Sabu K Thomas có nghiên cứu sử dụng kiến vàng

(Oecophylla smaragdina) làm thiên địch đối với loại bọ đậu đen Luprops tristis bước

đầu đã thu được một số kết quả đáng kể là làm giảm số lượng bọ cánh cứng này[13] Tuy nhiên hiện vẫn đang còn tiếp tục nghiên cứu và triển khai sử dụng loại kiến này Tại Việt Nam, (2008-2009) Hồ Sơn Lâm và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu “Xác định hệ phân loại sinh thái học, các hoạt tính sinh học của bọ đậu đen và tổng hợp thuốc sinh học an toàn để tiêu diệt chúng” Kết quả đã xác định được nguồn gốc, một

số tập tính của bọ đậu đen và đã tạo ra được loại thuốc Permecide 50 EC và thuốc Fendona 10 SC Ưu điểm của sản phẩm là dùng nguyên liệu ít độc hại với người nhưng diệt bọ hiệu quả 75% - 80% sau 30 - 60 phút phun[12] và số lượng bọ đậu đen năm sau quay lại giảm đến 70%[10] Tuy nhiên hiệu quả sử dụng thuốc tiêu diệt bọ đậu đen lần đầu chưa cao, cần thời gian để thuốc ngấm và cho bọ đậu đen chết hẳn rồi lại tiếp tục xịt lần 2, cứ như vậy trong một khoảng thời gian ngắn bọ đậu đen mới không dám quay trở lại[15]

Phương pháp truyền thống mà người dân hiện sử dụng để diệt bọ đậu đen là phun trực tiếp thuốc trừ sâu, thuốc diệt muỗi hay hun khói bằng lốp xe hơi cũ Cách này có hiệu quả mang tính tạm thời nhưng gây độc cho con người và môi trường[15]

Qua tìm hiểu chúng tôi thấy, một số thuốc hóa học được cho là có độc tính thấp đang được bán cho người dân sử dụng để diệt bọ đậu đen như Permethrin 50 EC và Alpha cypermethrin 10 SC có hiệu quả khi được dùng để xử lí bọ đậu đen[21] Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu cụ thể nào đánh giá tác hại của các loại thuốc này tới sức khỏe con người và độ an toàn khi sử dụng Vì vậy việc sử dụng các biện pháp phòng trừ hóa học chỉ là biện pháp tình thế và tạm thời

Hiện nay, bọ đậu đen tại nước ta vẫn chưa có các biện pháp phòng trừ hiệu quả, an toàn Hầu hết các loại thuốc vẫn chưa có thể tận diệt loại bọ này mà chủ yếu chỉ là diệt tạm thời[5]

Trang 7

2 Lý do lựa chọn đề tài

Trong những năm gần đây cứ vào thời điểm cuối mùa nắng, đầu mùa mưa thường

xuất hiện bọ đậu đen (Mesomorphus villiger) - một loài côn trùng cánh cứng thuộc bộ

Coleoptera, họ Tenebrionidae Bọ đậu đen bay vào nhà dân và trường học tại các huyện

phía Bắc tỉnh Bình Dương (các xã trong huyện Bến Cát, Dầu Tiếng, Tân Uyên và Phú Giáo) với mật độ rất cao[14]

Bọ đậu đen phát triển nhanh, gây ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ và đời sống sinh hoạt của người dân Trước hết, trong loại bọ này có dịch nhầy, khi giết bằng chân trần, tay không hoặc tiếp xúc với chất dịch, da người có thể bị bỏng rộp Bọ đậu đen có mùi hôi, khó chịu Với số lượng vô cùng lớn, mùi hôi trở nên nồng nặc, những người dị ứng

có thể buồn nôn, chóng mặt Khi bọ đậu đen bám vào nước uống, thức ăn, chúng làm giảm chất lượng của thực phẩm, người ăn phải có thể gặp một số vấn đề tiêu hoá Lúc ngủ, bọ có thể bò vào trong cơ thể mà chúng ta không kịp nhận biết, bọ dễ chết trong tai, mũi, gây hậu quả xấu cho sức khoẻ[14]

Các biện pháp chủ yếu được đưa ra phòng trừ bọ đậu đen như dùng biện pháp cơ học (quét, thu gom) hay dùng các thuốc hóa học độc tính thấp để xử lí gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân và môi trường

Nguồn thực vật ở Bình Dương rất đa dạng phong phú, nhiều cây có giá trị kinh tế cao Nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều cây hoang dại sinh sản và phát triển mạnh, phát tán nhanh, khó tiêu diệt, gây hại như: Những loài thực vật ngoại lai xâm hại: cây Mai

dương (Mimosa pigra L.), cây Bìm bìm (Ipomoea cairica (L) Sweet) Việc tìm ra công

dụng của chúng để tận dụng làm nguyên liệu là vô cùng cần thiết “biến nguy cơ thành tiềm năng”

Xuất phát từ sự cần thiết trên chúng tôi đã tiến hành đề tài: “Khảo sát hoạt tính

của một số loài thực vật mọc ở Bình Dương để diệt bọ đậu đen (Mesomorphus villiger)”

2.1 Đối tượng

Theo tài liệu “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi chúng tôi

chọn 21 loài thực vật mọc ở Bình Dương theo bảng 1

Trang 8

Côn trùng bọ đậu đen thu thập tại huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương

Ở nghiên cứu này, chúng tôi thu nhận dịch chiết từ cây mọc ngoài tự nhiên ở khu vực tỉnh Bình Dương Sau đó khảo sát hoạt tính diệt bọ đậu đen thông qua dịch chiết thực vật trong dung môi nước ở điều kiện phòng thí nghiệm

2.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu đề tài

Thời gian: từ tháng 09/2015 – 03/2016

Địa điểm: đề tài được thực hiện tại phòng thí nghiệm Nông nghiệp chất lượng cao, Khoa Tài nguyên Môi trường, Trường Đại học Thủ Dầu Một

3 Mục tiêu đề tài

Thu nhận dịch chiết cây mọc ở Bình Dương

Xác định khả năng diệt bọ đậu đen từ dịch chiết của cây, từ đó chọn lọc được cây

có khả năng diệt được bọ đậu đen cao nhất

Giúp các sinh viên tiếp cận được một số phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

Trang 9

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về bọ đậu đen

loài: loài Mesomorphus siamicus Kaszab, 1963: 92 mẫu; loài Gonocephalum ardoini

Kaszab, 1962: 5 mẫu; loài Pseudoblaps javana Wiedemann, 1819: 3 mẫu Ở huyện

Phú giáo (100 mẫu) ghi nhậncó 4 loài: loài Mesomorphus siamicus Kaszab, 1963: 91 mẫu; loài Gonocephalum ardoini Kaszab, 1962: 2 mẫu; loài Mesomorphus vitalisi

Chatanay, 1917: 6 mẫu; loài Pseudoblaps javana Wiedemann, 1819: 1 mẫu[15]

Ở huyện Bến Cát (100 mẫu) ghi nhậncó 3 loài: loài Mesomorphus siamicus

Kaszab, 1963: 90 mẫu; loài Gonocephalum ardoini Kaszab, 1962: 3 mẫu; loài Mesomorphus vitalisi Chatanay, 1917: 7 mẫu Ở huyện Tân Uyên (100 mẫu) ghi nhận

có 4 loài: loài Mesomorphus siamicus Kaszab, 1963: 94 mẫu; loài Gonocephalum

ardoini Kaszab, 1962: 1 mẫu; loài Mesomorphus vitalisi Chatanay, 1917: 3 mẫu; loài Pseudoblaps javana Wiedemann, 1819: 2 mẫu[15]

Kết quả giám định 400 mẫu bọ đậu đen thu thập tại 4 huyện Tân Uyên, Bến Cát,

Dầu tiếng và Phú Giáo đã cho thấy loài Mesomorphus siamicus Kaszab là loài có tỉ lệ

hiện diện của mẫu cao nhất 91,75% (367/400 mẫu) và chúng được ghi nhận là loài bọ đậu đen chính đang cư trú trong các hộ nhà dân hiện nay ở các địa phương[15]

1.1.2 Đặc điểm hình thái

Bọ đậu đen tên khoa học là Mesomorphus villiger là loài côn trùng cánh cứng

thuộc họ Tenebrionidae trong bộ Coleoptera[18]

Trang 10

Hình 1: Loài Mesomorphus vitalisi Chatanay[15]

1 - Hình dáng cơ thể

2 - Đặc điểm cấu tạo vật phụ của vỏ da

3 - Đặc điểm cấu tạo ngoài của cơ quan sinh dục

4 - Đốt bàn chân

1.1.3 Đặc điểm hoạt tính sinh học

Trong bọ đậu đen thành phần dễ bay hơi gồm 3 chất chính là 6-Tridecen (C13H26) chiếm 0,395%, Limonen (C10H16) chiếm 1,591 % và 1-undecen (C11H22) chiếm 98,15% trong tổng các chất dễ bay hơi Trong các chất này thì 6-tridecen và 1-undecen

là các chất thường có trong tuyến gây mùi của côn trùng như các loại bọ hôi và kiến Một số nghiên cứu về kiến cho thấy các chất này có tác dụng dẫn dụ đối với các côn trùng này[15]

Các chất hữu cơ từ cao chiết ra trong bọ đậu đen là khác nhau Nhiều nhất cao ete dầu chiếm 36,9% tổng số cao và ít nhất là cao etyl axetat chiếm 27,3% Chạy bản mỏng trên silicagel trong hệ dung môi: ete dầu/etyl axetat = 7/3 cho thấy cao ete dầu chứa các chất giống các chất đã tách ra từ bọ đậu đen bằng phương pháp lôi cuốn hơi nước Cao ethyl axetat chứa nhiều chất khác các chất đã tách ra bằng phương pháp lôi cuốn hơi nước Cao cồn nước chứa một số chất rất phân cực, trong hệ dung môi chạy bản mỏng chúng nằm tại điểm xuất phát[15]

1

4

4

Trang 11

Thành phần từng hoạt chất và xác định độc tính trên da

1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng

Bọ đậu đen non và trưởng thành ăn các loại thức ăn khô có nguồn gốc hữu cơ Lá cao su tươi vò nát và bánh mì khô được ghi nhận là thức ăn thích hợp cho bọ đậu đen trưởng thành ăn và đẻ trứng[15]

1.1.5 Đặc điểm sinh sản

Bọ đậu đen thường xuất hiện và di chuyển vào nhà vào thời gian đầu mùa mưa và nhất là những đêm trăng sáng chính là thời điểm thích hợp để bọ đậu đen sinh sản[16] Trong điều kiện thí nghiệm thời gian phát triển vòng đời của bọ đậu đen thay đổi rất lớn từ 82 đến hơn 259 ngày Bọ đậu đen trưởng thành sau khi đẻ trứng có thể sống được hơn 1 năm[15]

1.1.6 Tập tính

Trong năm, bọ đậu đen thường xuất hiện và di chuyển vào nhà vào thời gian đầu của mùa mưa Thời điểm bọ đậu đen bay nhiều vào nhà nhiều nhất là những ngày có trăng (đặc biệt là rằm tháng 3 và rằm tháng 4 âm lịch), vào lúc trời tối từ 7 giờ đến 11 giờ đêm và vào những lúc trời chuyển từ nắng sang mưa trong ngày[2] Thời gian chúng lưu trú kéo dài khoảng 5 tháng trong một năm[15]

Bọ đậu đen trưởng thành có thể cư trú được ở rất nhiều nơi ở trong tự nhiên như trong nhà, trên mái tranh, trong hốc cây, trong cây gỗ mục, cao su, rừng vườn cây ăn trái và ở những khu đất ẩm thấp Bọ đậu đen non và trưởng thành đều sợ ánh sáng trực

xạ, thích sống trong điều kiện tối[15]

Bọ đậu đen có tính giả chết, nhịn đói, thích sống quần tụ thành bầy đàn Chúng có tính hướng quang nên thường bay vào nhà với mật độ cao Khi bay vào nhà chúng

1 Ete dầu Kích ứng da K=1,2 Kích ứng da nhẹ

2 Etyl Axetat Kích ứng da K=3,33 Kích ứng da vừa phải

3 Cồn-Nước Kích ứng da K=0 Không gây kích ứng da

Trang 12

nhằm trần, tường nhà đến chân tủ gỗ, giường, chiếu và các vật dụng khác trong gia đình bám đen đặc[15]

1.2 Nguồn thực vật ở Bình Dương

1.2.1 Phân loại nguồn thực vật

Nguồn thực vật ở Bình Dương rất đa dạng, phong phú Theo nghiên cứu đã xác định được 776 loài thực vật, thuộc 143 họ trong 05 ngành Trong đó, ngành thực vật hạt kín với 02 lớp thực vật một lá mầm và thực vật hai lá mầm có số lượng loài cao nhất, chiếm 95% tổng số loài được xác định Ngành có số loài thấp nhất là ngành Cỏ tháp bút với 1 loài[3]

Theo tài liệu “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi chúng tôi thu được một số cây mọc ở Bình Dương như: cây Sả (Cymbopogon sp), cây Hương nhu

(Ocimum gratissimum L.), cây Ngũ gia bì (Scheffera octophylla)… Một số thực vật

ngoại lai như: cây Mai dương (Mimosa pigra L.), cây Bìm bìm (Ipomoea cairica (L)

Sweet)

Hình 1.1.A Cây Sả Hình 1.1.B Cây HươngNhu

(Cymbopogon sp) (Ocimum gratissimum L.)

Trang 13

Hình 1.1.C Cây Dừa Cạn Hình 1.1.D Cúc Xuyến Chi

(Catharanthus roseus (L.) G Don) (Bides pilosa)

Hình 1.1.E Cây Ngũ Gia Bì Hình 1.1.F Cây Khế

(Scheffera octophylla) (Averrhoa carambola L.)

Hình 1.1.G Cây Bìm Bìm Hình 1.1.H Cây Mai Dương

(Ipomoea cairica (L) Sweet) (Mimosa pigra L )

1.2.2 Đặc điểm hình thái và công dụng

Nguồn thực vật ở Bình Dương có nhiều cây có giá trị kinh tế cao như Gỗ đỏ

(Afzelia xylocarpa), Cẩm lai (Dalbergia bariaensis), Dáng hương (Pterocarpus

Trang 14

macrocarpus)… và nhiều cây có giá trị dược liệu như: cây Sả (Cymbopogon sp), cây Tần dày lá (Plectranthus amboinicus (Lour.) Spreng), c ây Ngũ gia bì (Scheffera octophylla)

Cây Húng quế (Ocimum basilicum L.) thuộc họ Lamiaceae có khả năng ngừa ung

thư và bảo vệ tế bào thần kinh Húng quế là một nguồn cung cấp sắt, canxi, kali, vitamin C và K và cũng là một nguồn chất xơ rất có lợi trong chế độ ăn uống Tinh dầu húng quế còn được sử dụng như là một liệu pháp dưỡng da, dưỡng ẩm tóc Sử dụng tinh dầu húng quế còn rất hiệu quả trong điều trị các vấn đề về da như mụn trứng cá, bệnh vẩy nến và còn có tác dụng kích thích tiêu hóa Húng quế giúp giảm lượng cholesterol LDL xấu và triglycerids (acid béo trong máu) và có khả năng sát trùng, diệt nấm mốc, kháng khuẩn hiệu quả nên có thể dùng để chữa bệnh sốt[2]

Cây Ngũ gia bì (Scheffera octophylla) là cây nhỏ, nhiều gai, cao khoảng 2-3m thuộc họ Araliaceae Lá cây mọc so le, kép chân vịt, có từ 3-5 lá chét Hoa mọc thành hình tán ở đầu cành Ngũ gia bì (Scheffera octophylla) được dùng để trị đau bụng, yếu

chân[7]

Cây Sả (Cymbopogon sp) là cây thảo sống lâu năm thuộc họ Poaceae, mọc thành

bụi, phân nhánh nhiều, cao khoảng 1,5m Thân, rễ trắng hoặc hơi tím Lá dài đến 1m, hẹp, mép hơi ráp; bẹ trắng, rộng Cụm hoa gồm nhiều hoa nhỏ không cuống Cây được trồng quanh nhà, ngoài vườn để xua đuổi ruồi, muỗi vừa làm sạch môi trường Ngoài

ra ta dùng Sả để chữa: nóng sốt đau đầu, đau dạ dày, dùng xoa ngoài chữa cúm và phòng bệnh truyền nhiễm[12]

Cây Khế (Averrhoa carambola L.) thuộc họ Oxalidaceae có tác dụng giảm nguy

cơ gây ung thư, cholesterol và có tác dụng chống viêm Cây khế (Averrhoa carambola L.) chứa một tác nhân kháng khuẩn với một số bệnh như vi khuẩn Bacillus cereus, E.coli, nhiễm khuẩn Salmonella và tụ cầu khuẩn[1]

Cây Sứ trắng (Plumeria rubra) thuộc họ (Apocynaceae), cây có thể cao tới 20m,

tán rộng, hoa màu trắng, tâm vàng đậm[15] Toàn cây hoa sứ có chứa chất kháng sinh thực vật là fulvo plumierin, có tác dụng ức chế sự tăng sinh và phát triển của một số vi

Trang 15

khuẩn Mycobacterium tuberculosis Trong vỏ thân cây có glucozit là agoniadin và một

chất đắng là plumierit Lá cây sứ chữa bong gân, sai khớp, mụn nhọt Nhựa cây cũng dùng để tẩy xổ, còn hoa thì có công dụng tiêu đờm, trừ ho, hạ áp[16]

Cây Dừa cạn (Catharanthus roseus (L.) G Don) là cây thảo, cao 40-80 cm cành thẳng đứng thuộc họ Apocynaceae Lá cây mọc đối, thuôn dài, đầu hoa nhọn, phía

cuống hẹp, nhọn và không có nhựa mủ Hoa trắng mọc riêng lẻ ở kẽ lá, phiến có 5 thùy Hàm lượng alkaloid toàn phần trong lá dừa cạn chứa: 0,37-1,15%; thân: 0,46%;

rễ chính: 0,7-2,4%; hoa: 0,14-0,84% Dừa cạn (Catharanthus roseus (L.) G Don) có

tác dụng hạ huyết áp, gây ngủ và có độc tính nhẹ Cây còn có tác dụng xua đuổi côn trùng muỗi[9]

Cây Cúc mui (Tridax procumbens) là cây thảo sống lâu năm thuộc họ Asteraceae

Thân có lông trắng dày, mọc bò sát mặt đất Lá mọc đối, có lông ở cả hai mặt, mép có răng to, nhọn, không đều Cụm hoa hình đầu, mọc ở ngọn thân, hoa cái hình môi, màu

trắng; hoa lưỡng tính hình ống, màu vàng Cúc mui (Tridax procumbens) thường được

dùng làm thuốc sát trùng, chữa sưng tấy, trị ho và đau thấp khớp[20]

Cây Hành lá (Allium fistulosum) thuộc họ Alliacea có đặc điểm lá cay, hơi ấm, chủ

yếu được dùng khi cơ thể ớn lạnh, cảm lạnh, sốt, nhức đầu, nghẹt mũi Hành lá có chứa diallyl sulfide, calcium oxalate Ngoài ra, nó cũng chứa chất béo, carbohydrate, carotene, vitamin B, C và niacin, canxi, magiê, sắt và các thành phần khác Hành lá kích thích tuyến mồ hôi hoạt động năng suất hơn, nhờ đó thải loại chất độc hại Hành lá còn tốt cho đường hô hấp, chữa ho, đau họng Hành lá chứa allicin, có vai trò quan trọng chống lại vi khuẩn, vi rút, đặc biệt là vi khuẩn gây bệnh nấm da[10]

Cây Hương nhu tía (Ocimum gratissimum L.) là loại cây nhỏ thuộc họ Lamiaceae

Cây có thể cao 1,5-2m sống hàng năm hoặc nhiều năm Thân và cành thường có màu tía, có lông quặp Lá có cuống dài, thuôn hình mác hay hình trứng, dài 1-5cm, mép có răng cưa, 2 mặt đều có lông Hoa màu tím, mọc thành chùm Hương nhu tía thường mọc hoang ở nhiều nơi trong cả nước, nhưng cũng được trồng làm thuốc Hương nhu

Trang 16

tía vị cay, mùi thơm, tính ấm, vào 2 kinh phế và vị có tác dụng làm ra mồ hôi, giải cảm, giảm sốt, lợi tiểu, dùng chữa cảm lạnh, tiêu chảy do lạnh, trị chứng hôi miệng[8]

Nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều cây hoang dại sinh sản và phát triển mạnh, phát tán nhanh, khó tiêu diệt gây hại như: cây Mai dương (Mimosa pigra L.), cây Bìm bìm (Ipomoea cairica (L) Sweet)… Việc tìm ra công dụng của chúng để tận dụng làm nguyên liệu phục vụ cho con người là vô cùng cần thiết

Cây Bìm bìm (Ipomoea cairica (L) Sweet) là loại cây leo, thân quấn thuộc họ

Convolvulaceae thường mọc hoang ở nhiều nơi và mọc quấn vào hàng rào hoặc bụi cây

khác Thân cây mảnh, nhẵn và lá cây có 5 thùy xẻ sâu tới tận cuống lá, gân lá hình chân vịt, phiến lá mỏng, hình mác, đầu nhọn, hai mặt nhẵn Hoa to, hình phễu, có màu lam

tím và quả nang hình cầu Cây Bìm bìm (Ipomoea cairica (L) Sweet) có vị ngọt, tính

hàn, có tác dụng thanh nhiệt lợi tiểu Ở Ấn Độ cây thường được dùng để trị một số bệnh như: bệnh ban, hạt được dùng làm thuốc sổ Ở Trung Quốc người ta dùng cây để trị ho do bệnh về phổi, giảm niệu, phù thũng hay dùng ngoài trị đinh nhọt, viêm mủ

da[6]

Cây Mai dương (Mimosa pigra L.) là loài cây bụi thuộc họ Fabaceae Cây cao

đến 6 m, phân thành nhiều nhánh, thân và cành có nhiều gai nhọn Hạt được bao bọc bởi một lớp áo có nhiều lông, giúp chúng nổi trên mặt nước Cây Mai dương là loài ngoại lai xâm lấn gây hại nguy hiểm, đe dọa đa dạng sinh học, hủy hoại môi trường sống của nhiều loài thực vật khác do chứa chất mimosin (loại acid amin có thể gây độc với nhiều loài thực vật), loài cây này còn làm cho đất nghèo chất dinh dưỡng Thân cây mai dương khi chết sẽ phân hủy tạo ra chất độc gây ô nhiễm nguồn nước[4]

Cây xuyến chi (Bides pilosa) loài hoang dại, mọc ở những nơi có không gian thoáng thuộc họ Asteraceae Cây cao khoảng 0,3 m đến 0,4 m (có thể cao tới 1,5m -

2m ở nơi đất tốt, ẩm, có giá tựa cho cây) Hạt cây có thể nảy mầm và cây con có thể phát triển trong những điều kiện khắc nghiệt hơn những loài cây khác nên xuyến chi

có xu hướng lấn át các loài cây bản địa[22]

Trang 17

Chương 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu

Bảng 1 Mẫu cây thu được

1 Bìm bìm Convolvulacae Ipomoea cairica (L) Sweet

6 Dừa cạn Apocynaceae Catharanthus roseus (L.) G Don

9 Lá cây đu đủ Papayaceae Carica papaya

10 Lá cây dâm bụt Malvaceae Hibiscusrosa, Sinensis L

11 Cây sống đời Crassulaceae Kalanchoe pinnata (Lam.) Pers

12 Cây lưỡi hổ Asparagaceae Sansevieria triastciata Hort

14 Tần dày lá Lamiaceae Plectranthus amboinicus (Lour.)

Spreng

17 Ngũ gia bì Araliaceae Scheffera octophylla

18 Cây cỏ lào Asteraceae Eupatorium odoratum L

19 Cây mai dương Fabaceae Mimosa pigra L

20 Cây khoai mì Euphorbiaceae Manihot esculenta

Côn trùng bọ đậu đen Mesomorphus siamicus Kaszab thu thập ở huyện Phú Giáo,

Ngày đăng: 10/05/2021, 01:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w