1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài giảng KIỂM SOÁT TAI BIẾN VÀ RỦI RO MÔI TRƯỜNG

160 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 2,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo tác giả Nguyễn Cẩn và Nguyễn Đình Hòe 2007: Tai biến môi trường là những biểu hiện về điều kiện, hoàn cảnh, hiện tượng, vụ việc hoặc có khi là quá trình, được xuất hiện, diễn biến t

Trang 1

PGS.TS BẾ MINH CHÂU (Chủ biên)

ThS TRẦN THỊ HƯƠNG

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU Không chỉ có tác động của các quá trình tự nhiên, nhiều hoạt động phát triển kinh tế - xã hội hiện nay đã và đang tác động tiêu cực lên môi trường Điều này đã đặt ra những yêu cầu cấp thiết trong công tác bảo vệ môi trường, trong

đó, việc phòng ngừa, ứng phó và khắc phục sự cố môi trường cần được đặc biệt

quan tâm Chính vì vậy, môn học Kiểm soát tai biến và rủi ro môi trường được

đưa vào giảng dạy trong chương trình đào tạo ngành Khoa học môi trường, Trường Đại học Lâm nghiệp

Trong quá trình biên soạn cuốn Bài giảng, nhóm tác giả đã kế thừa những quy định pháp luật về bảo vệ môi trường Việt Nam; một số bài giảng, giáo trình, tài liệu tham khảo về tai biến và rủi ro, sự cố môi trường của các trường đại học; những kết quả nghiên cứu về bảo vệ môi trường của một số đề tài khoa học

Bài giảng này gồm 5 chương: Chương 1 trình bày những khái niệm chung

về tai biến và rủi ro môi trường, phân loại và cách ứng phó với tai biến môi trường; Các chương 2, 3, 4 và 5 đề cập đến khái niệm, nguyên nhân, cơ chế, hậu quả và giải pháp ứng phó đối với những loại tai biến môi trường cụ thể Trong

đó, chương 2 phân tích, đánh giá các tai biến liên quan đến quá trình địa động lực nội sinh; Chương 3 giới thiệu và đánh giá các tai biến liên quan đến quá trình địa động lực ngoại sinh; Chương 4 giới thiệu các loại tai biến môi trường

lý – sinh và tai biến môi trường nhân sinh; Chương 5 giới thiệu một số tai biến

môi trường liên quan đến hoạt động sản xuất thuộc lĩnh vực Nông, Lâm nghiệp

Tham gia biên soạn giáo trình gồm: NGƯT.PGS.TS Bế Minh Châu (chủ biên) và ThS Trần Thị Hương

Nhóm tác giả chân thành cảm ơn các đồng nghiệp đã cung cấp tài liệu và đóng góp những ý kiến quý báu trong quá trình biên soạn Kính mong nhận được những góp ý để lần xuất bản sau được hoàn chỉnh hơn

Nhóm tác giả

Trang 5

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TAI BIẾN VÀ RỦI RO MÔI TRƯỜNG 1.1 Khái niệm tai biến và rủi ro môi trường

1.1.1 Khái niệm tai biến môi trường

Trong các hoạt động sinh hoạt, sản xuất của con người và các quá trình tự nhiên, ta thường gặp những sự cố không mong muốn, trong đó có sự cố môi trường

Theo Điều 3, Luật bảo vệ môi trường Việt Nam số 55/2014/QH13 ngày

23 tháng 6 năm 2014: Sự cố môi trường là sự cố xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng

Các sự cố môi trường bắt nguồn từ những nguyên nhân, những quá trình tiềm ẩn mối nguy hại để đến một giai đoạn nào đó sẽ trở thành sự cố Nói một cách khác, con đường dẫn tới các sự cố môi trường xuất phát từ những mối nguy hại hay còn gọi là tai biến môi trường

Nhiều nhà khoa học cho rằng: Tai biến (Hazard) là tiềm năng của một vấn

đề hay trường hợp tạo ra những tác động bất lợi cho cộng đồng hay tổn thất về tài sản, tính mạng con người Đó là một tiềm năng bị mất đi mà không thể ước lượng được và có thể bao gồm một điều kiện, một trường hợp hay là một kịch bản với tiềm năng tạo ra một kết quả không như mong muốn

Như vậy, tai biến môi trường là một trạng thái mà có thể xảy ra trong suốt thời gian sống của một hệ thống sản phẩm, có thể gây ra các mối thiệt hại về con người, tài sản, gây hư hại về môi trường, thiệt hại về kinh tế, xã hội và các rủi ro

Theo tác giả Nguyễn Cẩn và Nguyễn Đình Hòe (2007): Tai biến môi trường là những biểu hiện về điều kiện, hoàn cảnh, hiện tượng, vụ việc hoặc có khi là quá trình, được xuất hiện, diễn biến trong thiên nhiên, trong xã hội, có tiềm năng gây hại, gây nguy hiểm, đe dọa đối với an toàn về sức khỏe, tính mạng con người, tài sản kinh tế, tài sản văn hóa - xã hội của một bộ phận cộng đồng loài người, hoặc có nguy cơ đe dọa, thậm chí phá vỡ tính ổn định, an toàn một bộ phận, cho đến toàn cục mang tính hệ thống môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa - xã hội và môi trường nhân sinh

Từ các khái niệm trên, có thể hiểu khái quát về tai biến môi trường như

sau: Tai biến môi trường là những hiện tượng, quá trình được nảy sinh từ quá

Trang 6

con người, có khả năng gây hại tới tài sản, sức khoẻ, tính mạng của con người cũng như tác động tiêu cực đến môi trường

Ví dụ: Trong hoạt động sản xuất công nghiệp, tai biến môi trường thường gặp là tai biến môi trường vật lý, hóa học và sinh học như sau:

Tai biến vật lý: Các sự cố cháy nổ, năng lượng điện, nhiệt độ cao, tiếng

ồn, rung lắc, bức xạ, thời tiết, nhiệt độ môi trường khắc nghiệt, thiếu ánh sáng, chói lòa, thông thoáng kém

Tai biến hóa học: Hydrogen, Nitrogen, dòng thải, nước nóng, các vật liệu

tự bốc cháy, các vật liệu ăn mòn và các vật liệu dễ nổ, bụi, khí độc dung môi, dung dịch hóa chất, kim loại nặng…

Tai biến sinh học: Các loại vi khuẩn, vi rút, nấm, sinh vật xâm hại…

Như vậy, tai biến môi trường là quá trình gây ra sự mất ổn định, gây hại trong hệ thống môi trường Tai biến môi trường vận hành gồm 3 giai đoạn:

+ Giai đoạn nguy cơ: Các yếu tố gây hại tồn tại trong hệ thống, nhưng chưa phát triển gây mất ổn định

+ Giai đoạn phát triển: Các yếu tố tai biến tập trung lại, gia tăng, tạo trạng thái mất ổn định nhưng chưa vượt qua ngưỡng an toàn của hệ thống môi trường

+ Giai đoạn sự cố môi trường: Quá trình vượt qua ngưỡng an toàn, gây thiệt hại cho con người về sức khoẻ, tính mạng, tài sản Những sự cố gây thiệt hại lớn được gọi là tai hoạ, lớn hơn nữa được gọi là thảm hoạ môi trường

Sự cố, hiểm hoạ hay thảm hoạ môi trường là các mức độ nguy hiểm khác nhau của tai biến môi trường khi nó vượt qua ngưỡng an toàn về môi trường Trong đó:

Sự cố môi trường thường gây thiệt hại không lớn, phạm vi mang tính cục

bộ, có liên quan đến các dạng tai biến ở quy mô nhỏ Ví dụ: trượt lở, bồi lắng, sập hầm lò,

Hiểm hoạ môi trường gây tác hại tương đối lớn về của cải vật chất, sức khoẻ và cả tính mạng của con người, có thể gây mất ổn định, mất cân bằng một

bộ phận của môi trường tự nhiên hoặc môi trường xã hội, có hiểm hoạ gắn với tai biến tự nhiên, song cũng có hiểm hoạ do con người gây nên như trong quá trình thiết kế không chú ý đến việc kháng chấn

Thảm hoạ môi trường gây tác hại vô cùng lớn về tài sản, của cải vật chất

và tính mạng của con người, thậm chí gây biến cải, phá vỡ tính ổn định, cân

Trang 7

bằng từng bộ phận, khu vực của môi trường tự nhiên, môi trường nhân sinh hoặc môi trường xã hội

Ví dụ: Trận động đất ở Đường Sơn - Trung Quốc (1976), vụ nổ nhà máy hạt nhân Tchernobưn - Ucraina (1986), cháy rừng ở Indonesia (1997, 2002, 2015 ), động đất và sóng thần ở Ấn độ dương (2004), tràn dầu ở vùng vịnh Mexico - Mỹ (2010), động đất và sóng thần ở Nhật Bản (2011), xả thải của công

ty Formosa tại Hà Tĩnh - Việt Nam (2016)

1.1.2 Khái niệm rủi ro môi trường

Rủi ro được định nghĩa là xác suất của một tác động bất lợi lên con người

và môi trường do tiếp xúc với mối nguy hại Rủi ro thường biểu diễn xác suất xảy ra tác động có hại khi hậu quả của sự thiệt hại tính toán được Các loại rủi ro bao gồm: - Rủi ro trong quá trình vận hành;

- Rủi ro trong thiết kế kỹ thuật;

- Rủi ro môi trường, hệ sinh thái;

- Rủi ro kinh tế (rủi ro kinh doanh);

vệ thực vật ), sinh học (vi trùng, vi khuẩn gây bệnh ), vật lý (nhiệt độ, các chất

lơ lửng trong nước ) hay các hành động mang tính cơ học (chặt phá cây, đánh bắt quá mức ) Các đối tượng rủi ro và tác nhân gây rủi ro nằm trong mối quan

hệ rất phức tạp và được thể hiện bằng một sơ đồ, gọi là đường truyền rủi ro

Thông thường rủi ro biểu diễn dưới dạng phương trình sau:

Trong đó: P là tần suất, S là mức độ thiệt hại

Như vậy, rủi ro là tập hợp các hiện tượng có quan hệ với nhau và bằng các xác suất xảy ra nhân với mức độ hậu quả Vì vậy cần kết hợp chặt chẽ việc đánh giá rủi ro với quản lý môi trường Mục đích quản lý rủi ro có những đặc điểm

Rủi ro = Xác suất của biến cố (P) x Mức độ thiệt hại (S) (1)

Trang 8

- Rủi ro là chuỗi phức tạp nguyên nhân, hậu quả, thông qua nguồn gốc của các biến cố môi trường, trong đó biến cố về xã hội và kỹ thuật cần phải mô hình hóa Để nghiên cứu rủi ro, ta thường phải sử dụng các phương pháp hệ thống

- Rủi ro phải được cân nhắc trong mối tương quan với các vấn đề khác Một số hay nhiều rủi ro xảy ra đồng thời trong cùng một quốc gia, khu vực Một khi so sánh rủi ro và chấp nhận rủi ro này có nghĩa là chấp nhận rủi ro tương ứng là bao nhiêu so với rủi ro khác

- Rủi ro phải được xét trong mối tương quan về phúc lợi xã hội, vì vậy khi chấp nhận rủi ro này thì phúc lợi xã hội sẽ giảm đi Các rủi ro khác nhau có lợi ích tương tự nhau thường có liên quan với nhau

Thông thường rủi ro có thể xảy ra trên toàn cầu, liên quan đến tất cả các nước kể cả các nước phát triển, đang phát triển, trong cả lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp Do vậy, sẽ có các thuận lợi đối với một số quốc gia dựa trên lý thuyết so sánh rủi ro trong quản lý môi trường Hầu hết các rủi ro không bao giờ

có thể đo lường một cách chính xác vì bản chất của xác suất là ước lượng và không xác định được chính xác Những phương pháp ước lượng rủi ro có những phần giống nhau cơ bản mà chúng ta có thể mô tả và phát triển được

Một rủi ro có thể nghiêm trọng trong thời kỳ này nhưng không quan trọng trong thời kỳ khác Vì vậy, một rủi ro có thể đánh giá về các mức độ khác nhau

và theo từng thời kỳ xã hội Rủi ro có thể xảy ra cho con người khi làm việc trong dây chuyền sản xuất hay một số rủi ro sinh ra trong quá trình tự nhiên không phải

do con người gây ra Mức độ rủi ro thông thường sẽ được quyết định thông qua phơi nhiễm và tiềm năng tác động hoặc kết quả tác động từ bất kỳ tuyến phơi nhiễm nào

Sự hiện diện rủi ro môi trường được thể hiện ở hình 1.1 [19]

Hình 1.1 Biểu đồ minh họa sự hiện diện của rủi ro

Trang 9

Trong môi trường cụ thể, khi có sự hiện diện của mối nguy hại (tai biến), việc tiến hành đánh giá sẽ được thực hiện, dựa trên ba yếu tố: mối nguy hại, con đường phơi nhiễm và tiềm năng đe dọa cộng đồng

Khi cả ba yếu tố cùng nằm trong một đối tượng, vấn đề rủi ro được xác định là tồn tại Ngược lại, khi trong đối tượng được đánh giá chỉ mang hai yếu

tố, tức là đối tượng này có chứa rủi ro tiềm tàng Khi có yếu tố thứ ba xen vào, rủi ro sẽ xuất hiện Sau cùng, nếu các yếu tố này đứng một mình riêng lẻ, khi đó

có thể rủi ro không xuất hiện hay không thấy rủi ro

Mức độ rủi ro có thể được chia thành ba mức cơ bản như hình 1.2:

Khu vực rủi ro thấp: Đây là những khu vực không có tác nhân ô nhiễm và đánh giá môi trường chỉ ra rằng các vật chất độc hại trong khu vực này không có trong bất kỳ từng giai đoạn nào của chu trình sống

Khu vực rủi ro trung bình: Là khu vực có tác nhân ô nhiễm nhưng rất giới hạn, bao gồm các khu vực được đánh giá là không có một sự phản ứng hay đáp trả lại Khu vực này đòi hỏi phải có các giải pháp bảo vệ môi trường và bảo vệ sức khỏe con người

Khu vực rủi ro cao: Là khu vực ô nhiễm cao và có xuất hiện các nguyên vật liệu, nguồn thải độc hại hay các tác nhân nguy hại Khu vực này đòi hỏi phải

có các biện pháp để ngăn ngừa, đáp trả lại và các giải pháp bảo vệ sức khỏe con người và môi trường

Hiện nay trên thế giới đang có những hoạt động quan trắc các rủi ro môi trường quan trọng như: Rủi ro về sinh thái; Rủi ro về sinh quyển; Rủi ro từ các vật chất gây ô nhiễm; Rủi ro về khí hậu; Sự thay đổi về khí, mức độ phóng xạ của mặt trời; Rủi ro về biển; Ô nhiễm vùng cửa sông, tràn dầu ; các thảm họa

tự nhiên

Sự cố rủi ro trung bình

Sự cố rủi ro thấp

Sự cố rủi ro cao 0,1

0,001

0,00001

0,0000001

Hình 1.2 Phân loại mức độ rủi ro của những vấn đề ô nhiễm môi trường

(Nguồn: Kofi Asante - Duah, USA, 1997)

Trang 10

1.2 Phân loại tai biến môi trường

- Dựa vào tác nhân gây tai biến có thể chia tai biến môi trường thành 3 loại:

+ Tai biến môi trường tự nhiên: Là loại tai biến rất phổ biến trong môi trường tự nhiên của trái đất, sự hình thành và phát triển của các loại tai biến này diễn ra song hành với sự hình thành và phát triển của các hợp phần cấu tạo nên môi trường tự nhiên của trái đất vì thế nó rất phổ biến Nó thường hình thành một hợp phần này trên nền tảng phá vỡ một hợp phần khác Tai biến môi trường

tự nhiên còn được gọi là thiên tai Tai biến môi trường tự nhiên thường gắn liền với các quá trình địa động lực nội sinh, địa động lực ngoại sinh Các loại tai biến môi trường do quá trình địa động lực nội sinh như: động đất, núi lửa, nứt đất ngầm Các loại tai biến môi trường do quá trình địa động lực ngoại sinh như: bão tố, lũ quét, lũ ống, trượt lở, hạn hán…

+ Tai biến môi trường văn hóa - xã hội: Các tác động của con người trong môi trường văn hóa - xã hội nếu phát triển không đồng hướng, đồng đều của từng mối quan hệ xã hội, từng mặt hoặc do tác động bất thường, nghịch lý, phi luật hoặc ngược luật của một bộ phận cộng đồng sẽ dẫn tới tình trạng không ổn định, mất an toàn, cân bằng cho xã hội Ví dụ, hiện tượng bạo lực trong học đường diễn ra ngày càng phổ biến tại các trường học; tệ nạn xã hội như nghiện hút, cờ bạc có xu hướng gia tăng tại một số địa phương hiện nay…

+ Tai biến môi trường nhân sinh: Là loại tai biến có nguyên nhân từ những hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người gây ra những hậu quả về môi trường, sức khỏe và tính mạng con người Ví dụ, một số dòng sông bị ô nhiễm nghiêm trọng do người dân xả thải nước thải sinh hoạt, nông nghiệp và công nghiệp…

- Dựa vào cơ chế vận hành của tai biến chia tai biến môi trường thành:

+ Tai biến cấp diễn: diễn ra đột ngột, bất ngờ, dữ dội, thường gây nỗi kinh hoàng cho con người như động đất, núi lửa, bão…

+ Tai biến trường diễn: Là những tai biến diễn ra chậm chạp, từ từ, không gây nỗi kinh hoàng sợ hãi cho con người Ví dụ như tai biến do sự tăng nhiệt độ của trái đất, do ô nhiễm môi trường

1.3 Nhạy cảm tai biến môi trường và các yếu tố làm tăng tính nhạy cảm môi trường

1.3.1 Khái niệm về nhạy cảm tai biến

Trong quá trình hình thành và phát triển, các thành phần môi trường luôn

Trang 11

đảm bảo tính cân bằng, đảm bảo cho sự tồn tại tự thân, cũng như phát triển tiến hoá của mình

Trái đất hình thành và phát triển khoảng gần 5 tỷ năm qua, chu du trong không gian vũ trụ, tồn tại an toàn giữa vô vàn thiên thể lớn nhỏ, cũng như hàng

hà sa số các thiên thạch luôn di chuyển biến động Xét về toàn cục của hành tinh Trái đất, trong lịch sử phát triển phức tạp, sống động với các vận động kiến tạo nâng nơi này, hạ nơi khác, tách rãn, nén ép, hút chìm, uốn nếp, phá huỷ, động đất, phun trào, sóng thần bão tố, song hình thể của Trái đất vẫn giữ được trạng thái cân bằng của một quả cầu – hình hài phản ánh tính hợp lý của hình thể ổn định, cân bằng bền vững trong vũ trụ (Nguyễn Cẩn, Nguyễn Đình Hòe - 2005)

Tuy nhiên xét dưới góc độ cục bộ của một khu vực, bộ phận cụ thể của Trái đất, sẽ luôn thấy một thực thể loại này (vật chất, hiện tượng) thay thế cho sự phá huỷ, huỷ hoại, biến mất của một thực thể khác Các hiện tượng này có thể gây ra sự cố, hiểm hoạ nếu có nguy cơ huỷ hoại môi trường sống, đặc biệt là gây thiệt hại cho con người Các biến đổi môi trường có thể gây nguy hại cho con

người và môi trường hay không được đánh giá thông qua tính nhạy cảm tai biến Nhạy cảm tai biến là trạng thái tiếp cận tới ngưỡng giới hạn để một tai biến sẽ chuyển thành sự cố môi trường

Có 3 loại nhạy cảm tai biến môi trường, đó là nhạy cảm tai biến chủ quan của con người; nhạy cảm tai biến khách quan và nhạy cảm tai biến nhân sinh

1.3.2 Nhạy cảm tai biến chủ quan của con người

Tai biến môi trường được cảm nhận, xác định thông qua cảm nhận của con người Qua các tai hoạ do sự cố môi trường, hiểm hoạ môi trường, thảm hoạ môi trường, con người tích luỹ được những kinh nghiệm, cảm nhận được các nguy cơ tiềm năng, chưa gây hại đến sức khoẻ, tính mạng, tài sản của con người

Nhạy cảm tai biến chủ quan của con người là khả năng cảm nhận được

sự tiếp cận ngưỡng giới hạn để một tai biến sẽ chuyển thành sự cố môi trường

Nhạy cảm mang tính chủ quan của con người mang tính chủ động, rất đa dạng, có thể ở mức độ định tính hoặc định lượng về thời gian và không gian phụ thuộc vào kinh nghiệm, kiến thức của con người cũng như quy luật hình thành, phát triển các yếu tố hợp phần môi trường tự nhiên hoặc môi trường văn hoá - xã hội Sự nhạy cảm đối với tai biến, đối với trạng thái gần ngưỡng tới hạn

Trang 12

thực tiễn rất lớn (nhằm phòng tránh chúng) Nhờ sự nhạy cảm tai biến chủ quan

của con người sẽ giúp con người dự báo trước sự cố môi trường, hiểm hoạ môi

trường tự nhiên, có biện pháp phòng tránh, phòng vệ, phòng chống, ngăn ngừa hiểm họa đang đe doạ con người, mặt khác con người tự điều chỉnh các hành vi tác động tiêu cực đối với môi trường, tránh việc đẩy tai biến tiềm năng thành hiểm hoạ hiện thực

1.3.3 Nhạy cảm tai biến khách quan của môi trường tự nhiên

Nhạy cảm tai biến khách quan của môi trường mang tính thụ động Nhạy cảm tai biến môi trường khách quan cũng rất đa dạng, tuỳ thuộc vào cảm nhận,

hiểu biết của con người, song còn phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh thiên nhiên tương ứng với yếu tố môi trường, như thành phần vật chất tạo nên chúng, kiến trúc địa chất, kiến trúc địa hình mặt đất, đặc điểm tác động của các yếu tố môi trường tự nhiên Nhạy cảm tai biến khách quan của môi trường được thể

hiện rõ và có ý nghĩa khoa học, cũng như thực tiễn chủ yếu ở phạm vi ranh giới ngưỡng tới hạn chuyển từ tai biến sang sự cố hoặc hiểm hoạ môi trường Thực tế thiên nhiên cho thấy, với cùng một quá trình tai biến môi trường tự nhiên, mỗi thực thể tự nhiên, có đặc thù riêng, trong việc chuyển thành sự cố hoặc hiểm hoạ môi trường

1.3.4 Nhạy cảm tai biến môi trường nhân sinh

Loại nhạy cảm này liên quan đến công trình, quá trình do con người tạo

dựng như xây dựng, giao thông, thuỷ lợi, đê đập, thuỷ điện, cảng Độ nhạy cảm tai biến, chuyển thành sự cố hay hiểm hoạ đối với các công trình nhân tạo thực chất bao gồm cả hai yếu tố nhạy cảm chủ quan và nhạy cảm khách quan

Các công trình nhân tạo, trước hết do con người, biết dựa vào kinh nghiệm, hiểu biết về môi trường tự nhiên về nguy cơ tai biến môi trường nên đã

có các phương pháp phòng ngừa như chọn nền móng vững, gia cố móng công trình, kháng chấn nhằm bảo đảm sự an toàn, tính ổn định của công trình thì độ nhạy cảm tai biến của công trình sẽ thấp Ngược lại, nếu hiểu biết, kinh nghiệm

về mặt này còn chưa đầy đủ thì độ nhạy cảm tai biến của công trình sẽ cao Đó

là khía cạnh tai biến chủ quan đối với các công trình nhân tạo hoặc nhân sinh Bên cạnh đó luôn tồn tại khía cạnh biểu hiện của nhạy cảm tai biến khách quan vốn có của môi trường giữ vai trò làm nền cho các công trình nhân tạo

Trang 13

Con người, qua tác động nhân sinh, hoặc tận dụng được mặt thuận lợi của môi trường tự nhiên, thực thể tự nhiên có độ nhạy cảm thấp về tai biến hoặc ngược lại, nếu thiếu kiến thức, hiểu biết có thể tác động đẩy tai biến môi trường tiềm năng thành hiểm hoạ môi trường

Trong thực tế do chạy theo các lợi ích trước mắt, một số cá nhân hoặc từng bộ phận cộng đồng loài người, mặc dù đã được khuyến cáo về nguy cơ tai biến song vẫn tiến hành các việc làm có tác động xấu đến môi trường, thúc đẩy tai biến môi trường ở dạng tiềm ẩn vượt qua ngưỡng an toàn chuyển thành hiểm hoạ môi trường

1.3.5 Các yếu tố làm tăng tính nhạy cảm của tai biến

Trong thiên nhiên có nhiều yếu tố làm tăng tính nhạy cảm của tai biến để chuyển tai biến ở dạng tiềm năng (mối nguy hại) thành sự cố hay hiểm hoạ môi trường Tuy nhiên, có nhiều loại tai biến ở dạng tiềm năng, giữ ở trạng thái dưới ngưỡng tới hạn chưa chuyển hoặc nhiều khi không chuyển thành sự cố, hiểm hoạ nếu con người không tác động làm tăng tính nhạy cảm của nguy cơ này

Các nhân tố chính có thể góp phần làm tăng tính nhạy cảm của tai biến môi trường bao gồm như sau:

1.3.5.1 Bùng nổ dân số

Sự gia tăng dân số, đặc biệt là bùng nổ dân số có tác động hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp làm tăng tính nhạy cảm của tai biến môi trường, gia tăng nguy cơ thúc đẩy các tai biến tiềm năng vượt ngưỡng tới hạn để chuyển sang sự cố môi trường và hiểm hoạ môi trường

Dân số tăng, tỷ lệ diện tích cư trú, sinh sống, khai thác theo đầu người giảm; mức tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên kể cả loại có và không có khả năng tái tạo đều tăng; tỷ lệ dự trữ nguồn tài nguyên giảm, nhịp độ khai thác, tác động biến đổi môi trường, đặc biệt là các tác động nghịch quy luật, tác động tiêu cực

sẽ gia tăng; chất thải các loại từ sinh hoạt đến công nghiệp và hầm mỏ… đều gia tăng gây ô nhiễm môi trường, tăng nhịp độ đô thị hoá… tất cả chúng đều dẫn đến hậu quả làm gia tăng tính nhạy cảm tai biến môi trường trên nhiều khu vực, lãnh thổ cũng như quy mô hành tinh

Trang 14

Bảng 1.1 Các mốc thời kỳ dân số trên thế giới

Nguồn: Khoa Địa lý, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

Bên cạnh các tác động tiêu cực nêu trên đối với môi trường tự nhiên, việc bùng nổ dân số còn tác động nhiều mặt khá sâu sắc đối với các vấn đề xã hội như thiếu lương thực, việc làm, bệnh tật…

1.3.5.2 Sự đô thị hoá

Sự gia tăng, bùng nổ dân số dẫn đến sự gia tăng nhịp độ đô thị hoá và gia tăng dân số tại các đô thị Điểm qua vài con số biến đổi, gia tăng dân số các đô thị trên thế giới trong thế kỷ XX cũng thấy rõ một điều là nhịp độ đô thị hoá trong thời gian gần đây tăng đến chóng mặt

Vào năm 1920, dân số đô thị chiếm 19% dân số thế giới, đạt 360 triệu dân Vào năm 1960 đã chiếm 33%, đạt gần 1 tỷ người sống tại các đô thị Năm 1980 dân số các đô thị đạt gần 2 tỷ, chiếm 46% dân số thế giới Theo Báo cáo về Triển vọng đô thị hóa thế giới 2014 của Liên hợp quốc công bố ngày 10/7/2014 cho biết: hơn một nửa dân số thế giới (54%) hiện đang tập trung tại khu vực đô thị và tới năm 2050 sẽ có thêm khoảng 2,5 tỷ người sống

ở đô thị Ở Việt Nam, theo thống kê tính đến ngày 28/02/2016, dân số Việt Nam có 94.104.871 người (chiếm khoảng 1,27% dân số thế giới), xếp hạng

14 thế giới Trong đó dân số ở các đô thị chiếm khoảng 33,6% dân số, song sẽ còn gia tăng trong thời gian tới Đô thị hoá gia tăng sẽ kéo theo sự gia tăng tính nhạy cảm tai biến môi trường về nhiều mặt

+ Gia tăng nguồn thải công nghiệp, hoá chất độc hại, bụi, tiếng ồn… gây

ô nhiễm môi trường

+ Gia tăng nguồn thải sinh hoạt gây ô nhiễm môi trường

Trang 15

+ Xây dựng quy mô lớn tập trung, nhiều nhà cao tầng dẫn đến gia tăng về tính nhạy cảm tai biến nền móng môi trường địa chất như lún hạ, biến dạng cục bộ

+ Gia tăng tính nhạy cảm đối với nguồn nước mặt, nước ngầm khu vực

đô thị

+ Gia tăng tính nhạy cảm tai biến môi trường sinh thái khu vực đô thị và phụ cận về nhiều khía cạnh

+ Hiệu ứng nhà kính cục bộ

+ Tạo ra sự căng thẳng về tinh thần (Stress)

+ Dịch bệnh đối với người và vật nuôi

+ Nguy cơ biến đổi nguồn gen do du nhập các nguồn gen lạ có hại cho môi trường

+ Gia tăng nhạy cảm tai biến môi trường nhân sinh, môi trường xã hội

1.3.5.3 Áp lực phát triển kinh tế

(1) Canh tác nông nghiệp, khai hoang, khai phá rừng

Các hoạt động canh tác nông - lâm - ngư nghiệp không phù hợp, dẫn đến các vấn đề:

+ Gia tăng xói mòn đất

+ Giảm nguồn dự trữ nước chuyển thành nước ngầm

+ Gây ngập úng, lũ lụt cho các vùng thấp liên quan

+ Sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật gây ô nhiễm môi trường

+ Khai thác rừng còn làm thay đổi khí hậu, gia tăng quá trình sa mạc hoá (2) Đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản

+ Đánh bắt thuỷ hải sản với khối lượng lớn hơn khả năng sinh sản của chúng gây suy thoái cạn kiệt nguồn gen

+ Đánh bắt bằng chất nổ, hoá chất gây mê gây ô nhiễm và huỷ hoại môi trường

+ Nuôi trồng thủy sản chạy theo lợi nhuận không tuân theo quy luật tự nhiên dẫn đến suy thoái, phá vỡ cân bằng sinh thái, cấu trúc môi trường đới ven biển (3) Hoạt động công nghiệp

Thiếu biện pháp xử lý chất thải, gây ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước mặt, nước ngầm, môi trường không khí, gây tác hại đến sức khoẻ, tính

Trang 16

mạng của con người Việc xử lý chất thải không khoa học, không lâu dài sẽ gây tác hại không nhỏ đến môi trường…

(4) Khai thác mỏ

Việc khai thác mỏ nếu không được nghiên cứu đầy đủ và đầu tư đúng mức

có thể gây sập hầm mỏ, phá huỷ cảnh quan ô nhiễm môi trường…

(5) Xây dựng dân dụng, công nghiệp, giao thông, các công trình cảng, thuỷ lợi, thuỷ điện…

Hiện nay, nhiều khu vực nông thôn xuất hiện khu công nghiệp, xu thế đô thị hoá, phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng đường xá diễn ra rất mạnh mẽ đã tạo

áp lực gia tăng tính nhạy cảm tai biến môi trường tự nhiên, môi trường xã hội

Ví dụ: Sự cố liên quan đến đường sắt Cát Linh - Hà Đông

Ngày 10/10/2011 dự án đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông dài hơn 13

km gồm 12 ga đón, tiễn khách được khởi công xây dựng Trong quá trình thi công đã xảy ra một số sự cố sau:

Sáng 6/11, tại khu vực thi công xây dựng nhà ga Thanh Xuân III đường Nguyễn Trãi (Thanh Xuân, Hà Nội) thuộc dự án đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông, 3 thanh thép lao xuống đường làm 1 người chết, 2 người bị thương Sau khi xảy ra vụ tai nạn, toàn bộ công trình đã phải dừng thi công để rà soát các biện pháp đảm bảo an toàn trong thi công

Sáng 28/12, dự án xây dựng tuyến đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông lại xảy ra sự cố sập giàn giáo khi thi công nhà ga bến xe Hà Đông Mặc dù không gây thiệt hại về người nhưng vụ việc một lần nữa là hồi chuông báo động

về công tác đảm bảo an toàn trong thi công, khi hàng tấn bê tông và giàn giáo khổng lồ đổ xuống đường, đè lên một chiếc taxi chở 4 người Thậm chí, lượng

bê tông tươi tràn xuống làm ngập nửa bên ngoài xe taxi Lái xe và hành khách

đã kêu cứu và được giải thoát kịp thời Theo ý kiến của cơ quan chức năng, có hai nguyên nhân như sau: Thứ nhất, do thi công cao, đà giáo cao nên ngoài việc sức chịu tải của đà giáo thì sự ổn định của đà giáo là rất quan trọng Trong trường hợp này, sự ổn định của đà giáo chưa được tốt Thứ hai, đổ bê tông trên cao thì tác động của quy trình đổ bê tông rất lớn nên nếu sai quy trình dẫn đến mất ổn định đà giáo và có thể sập cả đà giáo Quy trình đổ bê tông đối với dự án này có những vấn đề cần xem xét lại

Trang 17

Ngoài ra, còn có nhiều sự cố tương tự như sự cố sập nhà khi đang xây tại thành phố Hồ Chí Minh, sập cầu Cần Thơ, nhiều con đường bị sạt lở, trượt lở (6) Du lịch

Tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến môi trường:

Ảnh hưởng tới nhu cầu và chất lượng nước, vấn đề rác thải

Ô nhiễm không khí: Tuy được coi là ngành "công nghiệp không khói", nhưng du lịch có thể gây ô nhiễm khí thông qua phát xả khí thải động cơ xe máy

và tàu thuyền, đặc biệt là ở các trọng điểm và trục giao thông chính, gây hại cho cây cối, động vật hoang dại và các công trình xây dựng bằng đá vôi và bê tông

Năng lượng: Tiêu thụ năng lượng trong khu du lịch thường không hiệu quả và lãng phí

Ô nhiễm tiếng ồn: Tiếng ồn từ các phương tiện giao thông và du khách có thể gây phiền hà cho cư dân địa phương và các du khách khác, kể cả động vật hoang dã

Ô nhiễm phong cảnh: Ô nhiễm phong cảnh có thể được gây ra do khách sạn nhà hàng có kiến trúc xấu xí thô kệch, vật liệu ốp lát không phù hợp, bố trí các dịch vụ thiếu khoa học…

Làm nhiễu loạn sinh thái: Việc phát triển hoạt động du lịch thiếu kiểm soát có thể tác động lên đất (xói mòn, trượt lở), làm biến động các nơi cư trú, đe doạ các loài động thực vật hoang dại (tiếng ồn, săn bắt, cung ứng thịt thú rừng, thú nhồi bông, côn trùng ) Xây dựng đường giao thông và khu cắm trại gây cản trở động vật hoang dại di chuyển tìm mồi, kết đôi hoặc sinh sản, phá hoại rạn san hô do khai thác mẫu vật, cá cảnh hoặc neo đậu tàu thuyền

1.3.5.4 Biến đổi khí hậu

Theo Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC), Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu do tác động từ các hoạt động của con người một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, dẫn đến thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu và ngoài ra là những biến đổi tự nhiên của khí hậu được quan sát trên một chu kỳ thời gian dài Trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu còn đồng

Trang 18

nghĩa với hiện tượng nóng lên toàn cầu

Năm 2015 đã đi vào lịch sử là năm nóng nhất từ trước tới nay do hiện tượng

ấm lên toàn cầu và do ảnh hưởng của hiện tượng thời tiết cực đoan El Nino Theo

đó, Đông Nam Á và Nam Á đã chứng kiến những đợt khô hạn và nắng nóng kỉ lục

Mỹ và châu Âu chứng kiến một mùa Giáng sinh ấm áp chưa từng thấy Tác động

rõ nét nhất của tình trạng biến đối khí hậu năm 2015 là những đợt nắng nóng kỉ lục tại các quốc gia Nam á là Ấn Độ và Pakistan Nhiệt độ cao nhất đo được lên tới 490C đã khiến gần 4.000 người thiệt mạng tại hai quốc gia này

Tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu đã và đang đe dọa cuộc sống của loài người trên trái đất, khiến con người phải đối mặt với những sự cố hiểm họa

về thiên nhiên như bão lũ, hạn hán…

1.4 Dự báo tai biến môi trường

Dự báo tai biến môi trường, trước hết nhằm cảnh báo, hướng dẫn mang tính định hướng đối với hoạt động của con người, sao cho không vượt quá ngưỡng giới hạn từ tai biến tiềm năng chuyển sang sự cố hoặc hiểm họa môi trường Sau đó khi có điều kiện cần tiến tới dự báo trước thời điểm có thể xảy ra, mức độ thiệt hại nếu có sự cố

Để dự báo tai biến môi trường cần thiết phải có các điều kiện mang tính

1.5.1.1.Một số tai biến, rủi ro môi trường trên thế giới

Thống kê các sự cố, rủi ro môi trường chủ yếu ở 63 quốc gia trên thế giới

Trang 19

và từ cơ quan Bảo vệ môi trường Mỹ, các nhà khoa học của viện Bảo tồn tự nhiên và nguồn tài nguyên quốc tế kết hợp với Chương trình phát triển của Liên hợp quốc đã tiến hành khảo sát ở 63 quốc gia về các trường hợp rủi ro môi trường thường gặp vfa được thống kê như bảng 1.2

Bảng 1.2 Các trường hợp về rủi ro môi trường thường gặp ở một số quốc gia

TT Tên các rủi ro môi trường Số quốc gia

(trong số 63 quốc gia)

Theo thống kê đánh giá từ các cơ quan bảo vệ môi trường của Mỹ về các rủi

ro môi trường, tỷ lệ % phản hồi của các quốc gia về những vấn đề của rủi ro môi

Trang 20

Bảng 1.3 Các vấn đề rủi ro môi trường và mức độ nghiêm trọng [6]

TT Các vấn đề rủi ro môi trường % trả lời ở mức độ rủi ro môi

Sự cố Dioxin (Tetrachlorinated dibenzo (p) dioxin – TCDD) trong chất thải dầu phun xịt tại khu vực lối vào của các khu vực bãi biển trong việc kiểm soát bụi tại Bãi biển Times, Missouri, Mỹ năm vào cuối năm 1960 và đầu năm 1970

Sự cố rò rỉ Methyl Isocyanate (MIC) từ các thùng chứa hóa chất vào tháng 12 năm 1984 của nhà máy Union Carbide, Bhopal, Ấn Độ Việc phơi nhiễm nồng độ cao MIC có thể gây mù, hại phổi, bệnh khí thủng và chết Sự cố

đã làm rò rỉ 40 tấn MIC từ thùng chứa, khí thoát ra khỏi ranh giới nhà máy và làm chết trên 15.000 người và làm bị thương trên 10.000 người

Trang 21

Tai biến Sương mù Luân Đôn, ngày 5 tháng 12 năm 1953 Đây là một trong những vụ tai biến môi trường nghiêm trọng huỷ diệt nhiều sinh vật và làm chết nhiều người trên phạm vi toàn cầu Từ sáng sớm cả thành phố bao trùm trong sương mù, nhiệt độ giảm, không khí ẩm ướt và nặng, sương dày đặc, không thể nhìn thấy mặt trời, mặt đất không có gió, khói không khuyếch tán đựơc Nồng độ của bụi khói và khí sunfurơ và bụi than không ngừng tăng lên (do các nhà máy vẫn hoạt động), ánh đèn ô tô không xuyên nổi sương mù, tắc nghẽn giao thông, cảnh sát giao thông phải đeo khẩu trang để phòng độc, người qua lại bị ho ngày càng nhiều Tình trạng đó diễn ra suốt 5 ngày Đến chập tối ngày thứ 5, sương mù mới bắt đầu nhạt dần Trận sượng mù 5 ngày đã cướp đi sinh mạng hơn 4000 người, ba tháng sau đó lại tiếp tục và làm chết thêm 8000 người

Hiện nay ở Mỹ, 80 triệu dân đang phải sống trong các khu vực mà không khí bị ô nhiễm vượt tiêu chuẩn của Tổ chức y tế thế giới (WHO)

Cũng theo WHO trên hành tinh chúng ta có khoảng 1,4 tỷ dân phải sống trong môi trường không khí ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép Hơn 100 triệu người ở châu Âu và Bắc Mỹ vẫn phải tiếp xúc với không khí không an toàn do một số chất bẩn khó kiểm soát Số người bị hen suyễn tăng lên khủng khiếp mà nguyên nhân là môi trường không khí bị ô nhiễm

Việc dùng quá mức phân hóa học, thuốc trừ sâu đã phá hủy các hệ sinh thái ven bờ biển, dẫn đến bùng nổ rong rêu độc hại làm chết các sinh vật biển

Sự mở rộng giao lưu và thương mại quốc tế đã tạo ra cơ hội mới cho việc lan truyền hoặc xuất hiện lại các bệnh truyền nhiễm Trong gần ba thập niên qua đã

có khoảng 30 loại bệnh tái xuất hiện, bao gồm cả bệnh máu trắng Lyme và bệnh sốt xuất huyết Ebola

Một số tai biến môi trường xảy ra trong năm 2015 trên thế giới:

Năm 2015 tiếp tục ghi nhận kỉ lục 9 trận siêu bão tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương với tốc độ gió trên 180 km/h

Tháng 4, trận động đất mạnh 7,8 độ richter đã làm rung chuyển Nepal và các nước láng giềng khiến 8.600 người thiệt mạng, phá hủy nhiều công trình kiến trúc cổ và gây thiệt hại 5 tỉ USD

Năm 2015, lần đầu tiên trong lịch sử, Trung Quốc phải ban hành báo động

đỏ về ô nhiễm không khí ở các đô thị

Tại khu vực Đông Nam Á, hiện tượng El Nino gây hạn hán và làm gia

Trang 22

1.5.1.2 Lịch sử nghiên cứu về Đánh giá tai biến, rủi ro môi trường

Những sự cố liên tiếp xảy ra tăng đến mức báo động, trở nên nóng bỏng trong xã hội, đòi hỏi phải có biện pháp ngăn ngừa các mối đe dọa

Năm 1980 ở Châu Âu đề xuất khung phương pháp luận ngành công nghiệp hạt nhân được áp dụng trong công nghiệp hóa chất và công nghiệp dầu

mỏ và có nhiều quy định với chất nguy hại được hình thành Ở Anh những quy định này được thực hiện thông qua quy định CIMAH, ở Châu Âu thông qua Seveco Cùng thời điểm này, Hội đồng khoa học về các vấn đề môi trường (Scope) và Hiệp hội quốc tế về khoa học đã xuất bản Báo cáo đánh giá rủi ro môi trường Tuy nhiên, từ những thập niên 70, phương pháp đánh giá định lượng rủi ro và hướng dẫn Seveso (1,2) đã được sử dụng trong công nghiệp hóa chất Scope và Hiệp hội quốc tế về khoa học đã xuất bản Báo cáo đánh giá rủi ro môi trường (ĐRM)

Vào năm 1982, Hội đồng kinh tế Châu Âu đã ấn hành tài liệu trực tiếp về tiềm năng những mối nguy hại công nghiệp theo các tai nạn rò rỉ những chất Dioxyt nguy hiểm ở Ý

Vào năm 1984, Ngân hàng thế giới đã ấn hành hướng dẫn và sổ tay giúp kiểm soát các tai nạn chính trong công nghiệp sau sự kiện Ấn Độ gặp thảm họa

về hóa chất (metyl)

Vào năm 1987, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã hoàn tất Báo cáo đánh giá rủi ro cho các nước này với các điều khoản cho công nghiệp hạt nhân, hóa chất, quy trình dầu khí, vận chuyển các vật liệu nguy hại

Vào năm 1995, rất nhiều Ngân hàng thương mại đã ký cam kết về thủ tục

để đánh giá cho dự án vay tiền mà người vay có thể bắt buộc phải thực hiện đánh giá tác động môi trường và đánh giá rủi ro môi trường

Cho đến nay việc đánh giá rủi ro môi trường được cơ quan quản lý môi trường thế giới và các quốc gia quan tâm nhằm hạn chế giảm thiểu mức độ nguy hại do tai biến gây ra

1.5.2 Tại Việt Nam

Trong những năm gần đây tai biến địa môi trường xảy ra với cường độ mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, gây ra những thiệt hại nghiêm trọng về người

và của Việt Nam là quốc gia đang trong giai đoạn phát triển các hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề… Do còn nhiều hạn chế trong công nghệ, kỹ thuật sản xuất, nhận thức của người sản xuất, trình độ tay nghề và tài

Trang 23

chính… nên đã tạo ra những mối nguy hại và sự cố môi trường nghiêm trọng

Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh có hơn 120.000 doanh nghiệp được cấp đăng ký kinh doanh Mỗi năm có khoảng 15.000 doanh nghiệp được thành lập mới Với tốc độ tăng trưởng và quy mô doanh nghiệp lớn, vấn đề an toàn lao động, vệ sinh lao động và phòng chống cháy nổ cũng đặt ra hết sức cấp bách cho các cơ quan quản lý Nhà nước, cũng như các doanh nghiệp trên địa bàn

Tai nạn lao động làm chết người xảy ra nhiều trong các doanh nghiệp kinh doanh, lĩnh vực hoạt động xây dựng, hoạt động sản xuất công nghiệp Các loại tai nạn lao động phổ biến là: điện giật, ngã từ trên cao xuống, do vật rơi đổ, do máy móc kẹp, cuốn …

Bệnh nghề nghiệp: Các bệnh nghề nghiệp và sự cố môi trường xảy ra ở Việt Nam là bằng chứng đánh giá những mối nguy hại và các sự cố này trở thành các sự kiện nổi bật trong xã hội Đòi hỏi phải có các cơ quan ban ngành quan tâm và có biện pháp ngăn ngừa các mối đe dọa này

Theo số liệu thống kê, đến tháng 7 năm 2006, thành phố Hồ Chí Minh có 31.292 cơ sở với 2.776.981 lao động đang làm việc, với các đặc điểm:

 Tình hình sản xuất ngày các tăng về số lượng và quy mô

 Điều kiện vệ sinh lao động còn nhiều hạn chế

 Phương thức làm việc còn thủ công

 Công nghệ sản xuất còn xen lẫn mới và cũ

 Ý thức người lao động và người sử dụng lao động đối với bệnh nghề nghiệp còn kém

Trong những bệnh nghề nghiệp thì bệnh Điếc nghề nghiệp hiện là bệnh được khám và được phát hiện nhiều nhất hiện nay Các bệnh nhiễm độc do hóa chất rất nguy hiểm như nhóm đồng đẳng benzen vẫn còn sử dụng nhiều trong các xí nghiệp, nhất là hoạt động sản xuất giày, sơn…

Sự cố tràn dầu:

Từ năm 1992 đến nay đã xảy ra 40 vụ tràn dầu tại Việt Nam, đã gây ra tổn thất lớn về môi trường, sinh thái và kinh tế xã hội Trong đó có ba nguyên nhân chính dẫn đến sự cố tràn dầu là do va chạm, quá trình bốc dỡ và đắm tàu

Trong năm 2006, 2007 tại ven biển các tỉnh miền Trung và miền Nam đã xảy ra một số sự cố tràn dầu không rõ nguồn gốc, nhất là từ tháng 1 năm 2007 đến tháng 6 năm 2007, có rất nhiều vệt dầu trôi dạt dọc bờ biển của 20 tỉnh từ

Trang 24

Ngày 27/4/2010 khi đang từ cửa sông ra biển, đến vị trí neo A12 (thuộc vùng biển Sao Mai, phường 5, thành phố Vũng Tàu, cách đất liền hơn 1 km), tàu Biển Đông 50, của Công ty Hải sản Trường Sa chở dầu đã bất ngờ bị chìm tại vùng biển Vũng Tàu Khi gặp nạn, tàu Biển Đông 50 chở theo hơn 370 tấn dầu

DO và hơn chục thùng phi nhớt Ngay sau khi bị chìm, dầu đã loang ra mặt biển còn các phi nhớt nổi lềnh bềnh Chỉ sau khoảng vài giờ đồng hồ, dầu đã loang rộng trên biển thành vệt dài Xung quanh vị trí tàu chìm có mùi dầu bốc lên

Thực tế hiện nay, kỹ thuật trang thiết bị, nguồn nhân lực dành cho quan trắc, truy tìm nguồn gốc gây ra và khắc phục sự cố tràn dầu tại Việt Nam còn nhiều hạn chế

Việc khai thác than gây bồi lấp các hồ chứa nước:

Tháng 1 năm 1999 tại Quảng Ninh, việc khai thác than ở hai mỏ Tùng Bạch và Mạo Khê làm trôi đất đá gây bồi lấp lòng hồ, làm giảm từ 10-20% dung tích chứa nước của 7 hồ trong số 14 hồ trong vùng Mặt khác cũng làm axit hóa nước hồ, không đảm bảo nước tưới tiêu nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân

ba xã: Hoàng Đế, Hồng Thái Tây, Hồng Thái Đông và gây ăn mòn đối với các công trình đập, cống

Vào tối 26/7/2015, sau những trận mưa như trút nước kéo dài, đập chứa xỉ than của Công ty cổ phần than Cọc Sáu và Mông Dương đã bị vỡ, khiến một lượng bùn than khổng lồ trút xuống nhà dân Chỉ trong chốc lát, toàn bộ khu dân

cư ngập trong bùn, sâu từ 2 - 3 m, khiến người dân hốt hoảng hô nhau tháo chạy

Công ty VEDAN gây ô nhiễm môi trường trên sông Thị Vải:

Công ty sản xuất bột ngọt VEDAN được xây dựng trên bờ sông Thị Vải (Đồng Nai) do nước ngoài đầu tư xây dựng trước khi có Luật Bảo vệ môi trường Tuy Công ty đã có hệ thống xử lý nước thải nhưng không đạt Quy chuẩn môi trường, đã gây ra ô nhiễm môi trường nước sông Thị Vải, gây thiệt hại lớn đối với nhân dân các huyện: Nhơn Thạch, Long Thành, Tân Thành, Cần Giờ nên

đã có nhiều đơn kiện đòi bồi thường thiệt hại Ngày 18/11/1995, giám đốc sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường tỉnh Đồng Nai đã tổ chức cuộc họp với giám đốc công ty VEDAN và lãnh đạo của 4 huyện trên để tiến hành thương lượng Cuối cùng đã đi đến thống nhất là công ty VEDAN đền bù thiệt hại với tổng số tiền là 15 tỷ đồng Đến tháng 9 năm 2008, công ty này lại bị phát hiện xả một lượng lớn nước thải độc (trên 10.000m3/tháng) trực tiếp ra sông Thị Vải trong thời gian dài Theo báo cáo của Viện Tài nguyên và Môi trường

Trang 25

(7/12/2009), bán kính vùng ô nhiễm do Công ty Vedan gây ra có phạm vi 10 km dọc bờ sông Thị Vải Nước sông tại các vùng này bị ô nhiễm nặng nề, nước có màu đen hôi, cá chết hàng loạt , gần 2.700 ha nuôi trồng thủy sản của khu vực này bị thiệt hại Trong đó, tỉnh Đồng Nai có hơn 2.100 ha nuôi trồng thủy sản bị tàn phá bởi nước ô nhiễm, còn TP HCM và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũng bị ảnh hưởng gần 600 ha

Về biến đổi khí hậu toàn cầu: Theo Chỉ số rủi ro về khí hậu được tổ chức

Germanwatch công bố trong nghiên cứu về thiên tai trên thế giới trong giai đoạn 1990-2009, có 10 nước bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi thiên tai đều là các nước đang phát triển Trong đó, Việt Nam là nước đứng thứ năm về thiệt hại do thiên tai, với trung bình mỗi năm có 457 người bị thương vong và thiệt hại về GDP (PPP) bình quân hàng năm là 1,9 tỷ USD - tương đương với 1,3% GDP

Tính từ đầu đến tháng 8 năm 2015, nắng nóng gay gắt với nền nhiệt độ cao kéo dài kỷ lục (60 năm) đã xảy ra trên diện rộng từ Bắc Bộ đến các tỉnh Nam Trung Bộ, khiến hơn 190.000 ha bị hạn hán và hơn 44.000 con gia súc, gia cầm bị chết Trong khi đó, tại Quảng Ninh lại xuất hiện đợt mưa lớn nhất trong lịch sử, gây thiệt hại khoảng 2.700 tỷ đồng

Ngoài ra, hiện tượng sạt lở đất, bờ sông, bờ biển cũng xảy ra ở nhiều nơi; xâm nhập mặn xảy ra sớm hơn và lấn sâu vào đất liền; tình trạng cạn kiệt nguồn nước trên các dòng sông ngày càng phổ biến (mực nước sông Mekong xuống thấp nhất trong vòng 100 năm); đã ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt, sản xuất của nhân dân

Tại Cửa Đại, Quảng Nam, nước biển xâm thực vào đất liền khoảng 200m

đã đe dọa sẽ nhấn chìm khu vực này Theo khuyến cáo ở mức sơ bộ của IPCC (2007), khi nước biển dâng cao 1 m có tới 15 - 20 ngàn km2 đất tự nhiên của đồng bằng sông Cửu Long bị ngập lụt, hàng triệu người phải di chuyển chỗ ở, sản xuất nông nghiệp giảm sút nghiêm trọng Tác động của nước biển dâng đến sự tồn tại và phát triển của khu vực này nếu không được quan tâm nghiên cứu và có hành động ứng phó thì thiệt hại sẽ rất lớn đối với nền kinh tế Việt Nam và an ninh lương thực khu vực

Trước tình hình biến đổi khí hậu xảy ra trên thế giới và Việt Nam trong năm 2015, Hội nghị Thượng đỉnh về biến đổi khí hậu toàn cầu (COP 21) được coi là cơ hội lịch sử để cứu Trái Đất được tổ chức tại Paris, Pháp với sự tham gia của 195 quốc gia Lần đầu tiên toàn thế giới cùng cam kết ứng phó biến đổi khí

Trang 26

của hành trình cứu Trái Đất với rất nhiều khó khăn Mặc dù vậy, COP 21 vẫn được coi là cơ hội lịch sử để cứu Trái Đất

1.6 Ứng xử tai biến môi trường

Trong quá trình khai thác tài nguyên phục vụ phát triển kinh tế xã hội, con người hoặc vô thức hoặc thiếu hiểu biết khoa học đã tác động không nhỏ đến tài nguyên và môi trường, dẫn đến việc thúc đẩy tai biến tiềm ẩn thành sự cố hoặc thảm hoạ môi trường hiện thực, gây hại nhiều mặt cho con người

Ngày nay, con người đang phải đối mặt với các vấn đề về tai biến Nhiều quốc gia, nhiều dân tộc đang phải chịu những hậu quả của tai biến môi trường

đã và đang xảy ra, như hậu quả của vụ nổ Tchernôbưn, những mất mát do bão, sóng thần gây ra, hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu

Trước tình trạng tai biến môi trường là lỗi lo của nhiều quốc gia đặc biệt

là những cộng đồng sống gần những nơi thường xuyên có thiên tai - rủi ro mà lại

ít có khả năng phòng chống khắc phục hậu quả của tai biến, việc nghiên cứu, phổ biến và áp dụng công tác phòng chống tai biến là rất cần thiết, đòi hỏi có sự hợp tác của chính phủ các quốc gia trên thế giới, các nhà khoa học và cộng đồng địa phương Có hai cách để ứng xử với tai biến môi trường, đó là ứng xử theo hướng tiếp cận tai biến môi trường và ứng xử theo hướng tiếp cận cộng đồng

1.6.1 Ứng xử theo hướng tiếp cận tai biến môi trường

Dựa vào đặc tính khác nhau của từng loại tai biến để quyết định các sách lược ứng phó khác nhau Tai biến cấp diễn thường gây ra các sự cố hay thảm hoạ nhanh, mạnh và đột ngột khiến cho cộng đồng không kịp lựa chọn phương thức đối phó một khi sự cố xảy ra, nên công nghệ ứng phó chủ yếu hiện nay tập trung vào các sự cố hay thảm hoạ cấp diễn Đối với loại tai biến trường diễn, cách ứng xử tập trung vào hoạt động quy hoạch bền vững để hướng đến sự chung sống với hiểm hoạ

Có thể chia ứng xử theo hướng tiếp cận tai biến môi trường thành 3 nhóm: chia nhỏ thiệt hại, chuẩn bị ứng phó sự cố và chung sống với hiểm hoạ

1.6.1.1 Chia nhỏ thiệt hại

Trang 27

chuyển sang những nước nghèo, hoặc từ những vùng không bị thảm hoạ chuyển sang những vùng bị thảm hoạ trong một nước

Hoạt động cứu trợ quốc tế đến được với nạn nhân thông qua chính phủ và

tổ chức phi chính phủ Hiện nay vai trò của các tổ chức phi chính phủ ngày càng tăng cường

Hoạt động cứu trợ nhằm vào 3 công đoạn: cứu trợ khẩn cấp, tái định cư, tái thiết Trong đó cứu trợ khẩn cấp được chú trọng hơn để giải quyết những khó

khăn trước mắt

Cứu trợ khẩn cấp:

Phần lớn hoạt động cứu trợ tập trung vào việc cứu trợ khẩn cấp ngay sau khi thảm hoạ xảy ra Sau khi tìm kiếm và cứu nạn, ưu tiên giúp đỡ hàng đầu là thuốc men Một số thiên tai ở các nước đang phát triển thì lụt có thể gây ra dịch bệnh vốn đã tiềm ẩn ở địa phương trước khi có thiên tai xảy ra như các dịch bệnh truyền nhiễm, hô hấp và tiêu chảy Các trường hợp như động đất hoặc sự

cố kỹ thuật có thể tạo ra các vấn đề về sức khoẻ như gãy xương, chấn thương, sốc tâm lý Trong đa phần trường hợp, tốt hơn hết là trưng dụng các nhóm chuyên gia y tế địa phương vì có thể điều động nhanh và họ hoà nhập nhanh về văn hoá của khu vực bị tai biến Nhằm giảm tối đa thương vong, cần tổ chức hỗ trợ kỹ thuật phù hợp và giúp đỡ nạn nhân càng nhanh càng tốt, tốt nhất là trong vòng vài giờ sau khi thảm hoạ xảy ra

Giai đoạn cứu trợ khẩn cấp được tiếp nối bằng các giai đoạn tái định cư và tái thiết dài hơn Hass (1977) tính rằng, đối với khu vực đô thị bị tai hoạ động đất, thời gian cần để thực hiện các giai đoạn khôi phục một cách hoàn hảo như sau:

+ Cứu trợ khẩn cấp cần đến 3 tuần (khoảng 1 tháng)

+ Tái định cư cần đến 25 tuần (6 tháng)

+ Tái thiết cần đến 0 tuần (10 năm)

Phân loại hoạt động cứu trợ khẩn cấp

Cứu trợ địa phương:

Là cứu trợ quy mô nhỏ, tự nguyện từ cộng đồng (một số địa phương) Lượng tài chính cho cứu trợ thường chỉ dành cho những nạn nhân mất mát nhiều nhất

và ít khi trang trải hết mọi nhu cầu Thường thì cứu trợ địa phương chỉ đỡ đần khoảng 25% thiệt hại cá nhân

Cứu trợ quốc gia:

Trang 28

trên quy mô quốc gia với sự tham gia của chính phủ Như vậy, những thiệt hại của cộng đồng được phân tán rộng trên toàn quốc, thông qua các quỹ phòng chống thiên tai hoặc các quy định pháp luật khác về sử dụng và huy động vốn cứu trợ

Cứu trợ quốc tế:

Hoạt động cứu trợ quốc tế thường thông qua hoạt động của hội Chữ thập

đỏ và các tổ chức phi chính phủ, qua hành động của các chính phủ và các cơ quan của Liên hiệp quốc

Những hạn chế của hoạt động cứu trợ khẩn cấp:

Nguồn cứu trợ khẩn cấp từ các nước công nghiệp đến các nước đang phát triển có thể không đáng tin cậy hoặc có thể không phản ánh đúng nhu cầu thực

tế của các vùng bị tai hoạ

Hoạt động cứu trợ thường có mối quan hệ với hoạt động trợ giúp phát triển Hoạt động trợ giúp phát triển hay bị ràng buộc với các hiệp định thương mại hơn là nhằm trợ giúp hiểm hoạ Các dòng cứu trợ Châu Âu thường chảy về các nước thuộc địa cũ của họ, trong khi đó Mỹ chủ yếu trợ giúp cho các nước

Mỹ La Tinh nằm trong vùng ảnh hưởng của Mỹ

Đặc tính trợ giúp nhiều khi cũng không hoàn toàn phù hợp với hoạt động cứu trợ Nhiều trường hợp đó là cơ hội cho các nước tài trợ rũ bỏ được gánh nặng của đống hàng hoá ế ẩm, tồn kho: các hàng hoá xa xỉ dư thừa, thuốc hết hạn sử dụng

12 nguyên tắc của hoạt động cứu trợ khẩn cấp

1 Thừa nhận và gắn kết sự tự cứu trợ của bản thân nạn nhân và các tổ chức địa phương

2 Tránh cứu trợ có tính áp đặt không xuất phát từ nhu cầu của cộng đồng

tị nạn

3 Đề phòng khai thác thương mại

4 Tránh sự phụ thuộc vào cứu trợ

5 Phi tập trung hoá các quyết định ở những nơi có thể

6 Tránh chính trị hoá các hiểm hoạ, thảm hoạ môi trường

7 Những khó khăn có sẵn trước thảm hoạ

8 Phải cân bằng giữa cải tạo và bảo tồn

9 Tránh tái thiết sự bất bình đẳng và tàn phá các yếu tố kiểm soát tai biến sẵn có

Trang 29

10 Tính trách nhiệm là vấn đề mấu chốt

11 Tị nạn môi trường là một phương án tồi nhất

12 Trợ giúp phải gắn chặt với phát triển

b Bảo hiểm

Bảo hiểm là cốt lõi của chiến lược chia nhỏ thiệt hại ở các nước công nghiệp Bảo hiểm khác với cứu trợ ở chỗ bản thân người bị nạn cũng tham gia đóng góp vào quỹ cứu trợ ngay cả khi họ chưa biết rõ mình có phải là nạn nhân hay không

Chi phí cứu trợ nằm trong tiền đóng bảo hiểm của cộng đồng Công ty bảo hiểm có thu nhập rất cao nếu sự cố hay hiểm hoạ không xảy ra, do đó họ rất tích cực tham gia vào chương trình phòng ngừa và giảm thiểu thiệt hại do tai biến

Những tác động tích cực của bảo hiểm tai biến:

+ Bảo đảm chắc chắn cho nạn nhân có đựơc một khoản đền bù thiệt hại sau sự cố Khoản đền bù này chắc chắn hơn rất nhiều so với cứu trợ và được điều hành mềm mại hơn bởi thị trường

+ Bảo hiểm góp phần phân bổ công bằng hơn đối với lợi nhuận hay thiệt thòi + Bảo hiểm tham gia tích cực vào hoạt động giảm thiểu tác hại của tai biến

Những hạn chế của bảo hiểm tai biến:

+ Các công ty bảo hiểm tư nhân thường tránh những loại hình bảo hiểm nghiêm trọng như động đất, lũ quét, gió xoáy… dễ gây cho họ phá sản, trừ khi

có sự hỗ trợ của nhà nước

+ Do sự cố và thảm hoạ ít xảy ra tại một vùng cụ thể, nên giữa hai thảm hoạ có thể là khoảng thời gian an toàn rất dài, vì vậy ngay cả khi có hoạt động bảo hiểm tai biến thì số người tham gia đóng bảo hiểm tự nguyện trong thời gian này không nhiều

1.6.1.2 Chuẩn bị ứng phó với sự cố, hiểm hoạ, thảm hoạ môi trường

Chuẩn bị ứng phó là hoạt động chuẩn bị thiết lập các biện pháp được trù liệu tập dượt trước nhằm giảm thiểu thiệt hại khi sự cố xảy ra Chuẩn bị ứng phó bao gồm việc lập kế hoạch chi tiết các ứng phó để chuẩn bị sẵn sàng đối phó nếu

sự cố xảy ra Những chuẩn bị này có thể được tiến hành ở các cấp khác nhau, từ

cá nhân, cộng đồng đến cấp quốc tế Hoạt động chuẩn bị bao gồm các chương trình giáo dục và truyền thông, phát triển các kế hoạch di tản và cứu hộ, các nguồn lực về y tế, lương thực, thực phẩm, lán trại…

Trang 30

Chuẩn bị ở cấp quốc gia bao gồm các hoạt động: chuẩn bị, xây dựng kế hoạch cứu trợ khẩn cấp, xây dựng cơ sở pháp lý, các biện pháp tài chính, tổ chức các hoạt động đào tạo và giáo dục

Chuẩn bị ứng phó ở cấp quốc tế: Trách nhiệm ứng xử lớn nhất ở cấp quốc

tế được thực hiện bởi DHA/UNDRO với văn phòng đại diện tại Genevơ, hợp tác với nhiều tổ chức chính phủ và phi chính phủ Tổ chức Oxfram liên tục trợ giúp cho các nước bị thảm hoạ môi trường của trên 30 nước khác nhau

1.6.1.3 Chung sống với hiểm hoạ

a Dự báo và cảnh báo tai biến

Sống chung với thảm hoạ tạo khả năng cho cộng đồng ứng xử tốt nhất với tai biến Phần lớn cảnh báo đều dựa trên cơ sở của dự báo khoa học Tuy nhiên một số loại tai biến như động đất, hạn hán còn chưa được hiểu biết đầy đủ để dự báo, do đó hoạt động cảnh báo phải dựa vào cơ sở dự đoán

Dự đoán: là việc đoán nhận dựa chủ yếu trên lý thuyết thống kê và sử

dụng các bằng chứng lịch sử của các sự kiện đã xảy ra trong quá khứ để đánh giá xác suất hoặc sự tái xuất hiện của các hiện tượng tương tự trong tương lai

Dự đoán thường có giá trị dài hạn

Dự báo: là việc đánh giá một sự cố cụ thể vì nó thể hiện qua một loạt quá

trình môi trường đã được hiểu tương đối cặn kẽ Có thể dự báo khá chính xác về thời gian, vị trí và cường độ của sự cố Dự báo dựa trên các quan trắc khoa học nhưng do có tính ngắn hạn nên thường hạn chế kết quả của cảnh báo

Cảnh báo: là một thông điệp thông báo cho công chúng về một loại sự cố

sẽ xảy ra đối với họ và khuyến cáo công chúng phải chuẩn bị hành động như thế nào

Hệ thống dự báo - cảnh báo tổng hợp là cực kỳ cần thiết để chống lại tai biến, đặc biệt là tai biến cấp diễn

Hệ thống cảnh báo gồm ba công đoạn sau đây:

+ Đánh giá: Các chuyên gia giám sát các biến động môi trường có thể dẫn đến sự cố; đánh giá đặc tính và quy mô sự cố; quyết định hình thức cảnh báo cho cộng đồng

+ Loan báo: Công đoạn loan báo bắt đầu khi thông điệp cảnh báo được lan truyền (công bố) từ các chuyên gia đến dân chúng trong vùng tai biến

+ Đáp ứng: Phản ánh kết quả của hai bước đánh giá và loan báo nhằm tổ chức các hoạt động giảm thiểu thiệt hại của cộng đồng

Trang 31

b Quy hoạch sử dụng đất đai

Mục đích của quy hoạch sử dụng đất là hướng dẫn phát triển cho cộng đồng tại khu định cư, tránh xa các đới nhạy cảm tai biến để tránh những thiệt hại trong tương lai Nhiệm vụ của quy hoạch là xác định và đánh giá mức độ nguy hiểm của các đới tai biến tiềm năng

Có hai mức độ quy hoạch là: Quy hoạch vĩ mô và quy hoạch chi tiết

c Ứng xử với tai biến trường diễn

Các tai biến trường diễn là loại gây ra các sự cố, thảm hoạ từ từ, chậm chạp và liên tục, khó cảm nhận bằng giác quan của con người nên ít đựơc chú ý,

ví dụ hạn hán, xói mòn

Do thời gian diễn ra tai biến này từ từ, chậm chạp, lâu dài nên cộng đồng thường bỏ qua loại tai biến này cho đến khi tai biến trở thành không thể cứu vãn được nữa An ninh môi trường bị huỷ hoại và tị nạn môi trường hàng loạt bắt đầu xảy ra Ứng xử tai biến trường diễn không đòi hỏi sự cứu trợ khẩn cấp và bảo hiểm, không yêu cầu cao về dự báo hay cảnh báo nhưng nó đòi hỏi hàng loạt hoạt động quy hoạch nhằm phát triển bền vững, tạo khả năng sống chung với tai biến trường diễn Tuy nhiên ứng xử với tai biến trường diễn, vấn đề tránh

xa hiểm hoạ không phải là nguyên tắc bắt buộc

Yêu cầu chính của quy hoạch ứng xử tai biến trường diễn là:

+ Mật độ, quy mô và loại hình phát triển phải chống chịu được tác động của tai biến trường diễn

+ Hướng dẫn cho lối sống và sản xuất phù hợp với vùng có tai biến trường diễn

Những hạn chế của hoạt động quy hoạch nhằm ứng xử tai biến trường diễn là:

+ Thiếu kiến thức về vị trí, tần suất và tiềm năng tai biến

+ Trong vùng tai biến hoạt động phát triển đã có sẵn từ trước

+ Tai biến trường diễn dễ bị bỏ qua vì không gây sự kiện đột ngột gây sự chú ý của các nhà tài trợ, nhà lập chính sách và ngay cả bản thân người sống trong vùng tai biến

1.6.2 Ứng xử theo hướng tiếp cận cộng đồng

1.6.2.1 Khái niệm về tính nhạy cảm rủi ro do tai biến

Theo Blaikie và đồng nghiệp (1994), tính nhạy cảm rủi ro là sự thiếu khả năng của một cá nhân hay một nhóm người về mặt đề kháng và tự phục hồi

Trang 32

Cộng đồng gồm những nhóm người có độ nhạy cảm rủi ro khác nhau, xuất phát từ những khác biệt về tầng lớp, dân tộc, tuổi tác và kinh nghiệm Nghịch nghĩa với tính nhạy cảm rủi ro là tiềm năng (khả năng bảo vệ của cộng đồng, gia đình trước tai biến cũng như khả năng khôi phục cuộc sống sau khi tai biến xảy ra) Những cộng đồng có độ nhạy cảm rủi ro cao là những cộng đồng

có tiềm năng thấp và ngược lại

Độ nhạy cảm rủi ro có quan hệ chặt chẽ với vị thế chính trị, kinh tế, xã hội của cộng đồng Mặc dù là tính nhạy cảm rủi ro và nghèo khổ là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau nhưng trong tai biến môi trường, những cộng đồng nghèo thường chịu mất mát nhiều hơn các cộng đồng giàu

Phân tích tính nhạy cảm rủi ro của cộng đồng đưa đến một cái nhìn mới

mẻ về ứng xử tai biến môi trường: Tai biến có thể xảy ra nhưng nếu cộng đồng trở nên có nhiều tiềm năng hay tính nhạy cảm rủi ro thấp thì khả năng chống chịu tai biến sẽ tốt hơn (đó chính là nội dung chính của ứng xử tai biến theo hướng tiếp cận cộng đồng)

1.6.2.2 Giải toả áp lực

Không thể tạo ra một môi trường an toàn hơn nếu chỉ dựa vào bản thân quá trình tai biến Việc giảm độ nhạy cảm rủi ro của cộng đồng cũng chính là một giải pháp hiệu quả để tạo ra một môi trường có độ an ninh cao Nếu coi áp lực

xã hội kinh tế chính trị là nguyên nhân dẫn đến nhạy cảm rủi ro của một cộng đồng thì việc giải toả áp lực bao gồm các giải pháp biến đổi áp lực, đảo ngược

áp lực thành khả năng, là con đường dẫn đến giảm thiểu tai biến

1.6.2.3 Các định hướng làm giảm độ nhạy cảm rủi ro do tai biến

+ Không nhầm lẫn và đồng nghĩa giữa xoá đói giảm nghèo với giảm độ nhạy cảm rủi ro do tai biến

+ Ưu tiên bảo vệ những cộng đồng có nhạy cảm rủi ro cao

+ Ưu tiên bảo vệ tính mạng và sức khoẻ của cộng đồng nhạy cảm rủi ro + Ưu tiên các giải pháp chủ động hơn bị động

+ Tập trung bảo vệ các lĩnh vực ưu tiên

+ Các giải pháp ứng xử cần phải được duy trì bền vững theo thời gian

1.6.3 Công tác ứng xử tai biến, sự cố môi trường tại Việt Nam

1.6.3.1 Phòng ngừa sự cố môi trường

Điều 109 - Luật bảo vệ môi trường Việt Nam 2014 quy định rõ về trách nhiệm phòng ngừa sự cố môi trường, cụ thể như sau:

Trang 33

Đối với chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh: Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh,

dịch vụ, phương tiện vận tải có nguy cơ gây ra sự cố môi trường phải thực hiện

các biện pháp phòng ngừa sau:

- Lập kế hoạch phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường;

- Lắp đặt thiết bị, dụng cụ, phương tiện ứng phó sự cố môi trường;

- Đào tạo, huấn luyện, xây dựng lực lượng tại chỗ ứng phó sự cố môi trường;

- Thực hiện chế độ kiểm tra thường xuyên, áp dụng biện pháp an toàn theo quy định của pháp luật;

- Có biện pháp loại trừ nguyên nhân gây ra sự cố môi trường khi phát hiện

có dấu hiệu sự cố môi trường

Đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh:

- Điều tra, thống kê, đánh giá nguy cơ các loại sự cố môi trường có thể xảy ra trong phạm vi cả nước, từng khu vực, địa phương;

- Xây dựng năng lực phòng ngừa, cảnh báo nguy cơ và ứng phó sự cố môi trường;

- Xây dựng kế hoạch phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường hằng năm

và định kỳ 05 năm

1.6.3.2 Ứng phó sự cố môi trường

a Trách nhiệm ứng phó sự cố môi trường được quy định như sau:

Tổ chức, cá nhân gây ra sự cố môi trường phải thực hiện các biện pháp khẩn cấp để bảo đảm an toàn cho người và tài sản; tổ chức cứu người, tài sản và kịp thời thông báo cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường nơi xảy ra sự cố;

Sự cố môi trường xảy ra ở cơ sở, địa phương nào thì người đứng đầu cơ

sở, địa phương đó có trách nhiệm huy động khẩn cấp nhân lực, vật lực và phương tiện để kịp thời ứng phó sự cố;

Sự cố môi trường xảy ra trong phạm vi nhiều cơ sở, địa phương thì người đứng đầu cơ sở, địa phương nơi có sự cố có trách nhiệm phối hợp ứng phó;

Trường hợp vượt quá khả năng ứng phó sự cố của cơ sở, địa phương thì người đứng đầu phải khẩn cấp báo cáo cơ quan cấp trên trực tiếp để kịp thời huy động các cơ sở, địa phương khác tham gia ứng phó sự cố môi trường; cơ sở, địa phương được yêu cầu huy động phải thực hiện biện pháp ứng phó sự cố môi trường trong phạm vi khả năng của mình

Trang 34

b Xây dựng lực lượng ứng phó sự cố môi trường

Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có trách nhiệm xây dựng năng lực phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường

Nhà nước xây dựng lực lượng ứng phó sự cố môi trường và hệ thống trang thiết bị cảnh báo sự cố môi trường

1.6.3.3 Xác định thiệt hại do sự cố môi trường

Nội dung điều tra, xác định thiệt hại do sự cố môi trường gồm:

- Phạm vi, giới hạn khu vực bị ô nhiễm do sự cố môi trường;

- Mức độ ô nhiễm;

- Nguyên nhân, trách nhiệm của các bên liên quan;

- Biện pháp khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường;

- Thiệt hại đối với môi trường làm căn cứ để yêu cầu bên gây ô nhiễm, sự

cố phải bồi thường

Trách nhiệm điều tra, xác định phạm vi ô nhiễm, thiệt hại do sự cố môi trường gây ra được quy định như sau:

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức điều tra, xác định phạm vi ô nhiễm, thiệt hại do sự cố môi trường gây ra trên địa bàn;

- Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo Ủy ban nhân dân các tỉnh tổ chức, điều tra, xác định phạm vi ô nhiễm, thiệt hại do sự cố môi trường gây ra trên địa bàn liên tỉnh

Kết quả điều tra về nguyên nhân, mức độ, phạm vi ô nhiễm và thiệt hại

về môi trường phải được công khai

1.6.3.4 Trách nhiệm khắc phục sự cố môi trường

Tổ chức, cá nhân gây sự cố môi trường có trách nhiệm sau:

- Thực hiện yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong quá trình điều tra, xác định phạm vi, giới hạn, mức độ, nguyên nhân, biện pháp khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường;

- Tiến hành ngay biện pháp ngăn chặn, hạn chế nguồn gây ô nhiễm môi trường và hạn chế sự lan rộng, ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống của nhân dân trong vùng;

- Thực hiện biện pháp khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường;

- Bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật này và quy định của pháp luật có liên quan;

Trang 35

- Báo cáo cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường việc ứng phó và khắc phục sự cố môi trường

Trường hợp có nhiều tổ chức, cá nhân cùng gây ra sự cố môi trường mà không tự thỏa thuận về trách nhiệm thì cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường có trách nhiệm phối hợp với tổ chức, cá nhân có liên quan để làm

rõ trách nhiệm của từng đối tượng trong việc khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường

Trường hợp sự cố môi trường do thiên tai gây ra hoặc chưa xác định được nguyên nhân thì bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm huy động các nguồn lực để tổ chức xử lý, khắc phục ô nhiễm môi trường

Trường hợp sự cố môi trường xảy ra trên địa bàn liên tỉnh thì việc khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường thực hiện theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ

Trang 36

Chương 2 TAI BIẾN MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN CÁC QUÁ TRÌNH

ĐỊA ĐỘNG LỰC NỘI SINH 2.1 Giới thiệu chung về động lực môi trường địa chất

Thạch quyển nói chung và môi trường địa chất nói riêng là sản phẩm tổng hợp của một quá trình phức tạp và lâu dài Các đá tạo thành móng cứng của môi trường địa chất được tạo thành trong những thời kỳ khác nhau từ 4,5 tỷ năm trước cho đến cuối kỷ Neogen (1,65 triệu năm trước) Động lực hình thành và biến cải móng cứng gồm hai kiểu:

- Động lực nội sinh, lấy năng lượng từ trong lòng đất Biểu hiện của động lực nội sinh là động đất, núi lửa, các hoạt động nâng trồi, sụt hạ, đứt gẫy Quá trình uốn nếp vò nhàu, đứt gãy các lớp trầm tích được coi là hậu quả tương tác giữa các vận động nội sinh này

- Động lực ngoại sinh, lấy năng lượng từ năng lượng mặt trời và sức hút của trái đất Đây là một hệ thống các quá trình rất phức tạp bao gồm từ hoạt động phong hóa, trọng lực rửa trôi, bóc mòn, dòng chảy, gió, Karst, hồ, đầm lầy, biển…

Vận động nội sinh biến những lớp đất đá và trầm tích vụn bở thành các đá rắn cứng, ép nén, nung chảy chúng để tạo thành các đá biến chất và các loại đá macma thuộc nhóm đá a xít, kiềm hay trung tính Động lực nội sinh còn làm trào lên, xuyên lên các dung thể nóng chảy chứa nhiều sắt, magie và silic có nguồn gốc từ phần trên cùng của lớp Manti (lớp B) để hình thành các loại đá sẫm màu trong thạch quyển Tất cả các loại đá trên, một lần nữa lại bị các vận động nội sinh vò nhàu, nén ép, chia tách, sắp xếp lại trong thạch quyển, dồn lại thành các dãy núi cao hoặc dìm sâu hơn trong vỏ trái đất Các vận động nội sinh trên vận hành trong một quá trình địa chất được gọi là quá trình kiến tạo

Các vận động ngoại sinh, ngược lại, cố gắng san phẳng địa hình Chúng bào mòn các vách núi cao, vận chuyển trầm tích đến lấp đầy các thủy vực và địa hình thấp Chúng phân rã các đá rắn cứng thành các sản phẩm bở vụn, phong hóa các khoáng vật có cấu trúc và thành phần phức tạp thành đơn giản hơn (chủ yếu chứa oxy và nước) Vận động ngoại sinh chuẩn bị các trầm tích vụn bở làm

Trang 37

nguyên liệu cho quá trình nội sinh biến cải thành các loại đá khác nhau Nó là nguyên nhân trực tiếp để hình thành tầng đất đá bở rời và san phẳng địa hình

Lịch sử vỏ trái đất hàng tỷ năm qua là quá trình phối hợp nhịp nhàng liên tục giữa động lực nội sinh và ngoại sinh Đó đơn thuần là động lực địa chất Chỉ đến khi con người xuất hiện trên trái đất, tác động vào môi trường địa chất mới

có thêm một quá trình động lực khác được gọi là động lực nhân sinh Mặc dù vậy, động lực nhân sinh chỉ thực sự tác động sâu sắc trong vài thế kỷ gần đây cùng với sự bùng nổ dân số và các cuộc cách mạng công nghệ trên thế giới

Chú ý: Khái niệm về địa động lực hiện đại (bao gồm các quá trình động lực địa chất đang diễn ra); Kiến tạo hiện đại (chỉ nói về động lực nội sinh hiện đại, không bao hàm động lực ngoại sinh) Theo các nhà địa chất môi trường, thời gian để nghiên cứu vấn đề này được lấy trong khoảng 10.000 năm trở lại đây (từ

kỷ đệ tứ muộn – Holoxen)

2.2 Một số vấn đề về địa động lực nội sinh

2.2.1 Cấu trúc mảng của thạch quyển và vận động của mảng

Thạch quyển trái đất không phải là một khối cứng bất động, cũng không phải là một khối đồng nhất Nó có sự phân dị thành một số mảng Các mảng tiếp xúc với nhau qua các ranh giới mảng, với ba kiểu đặc trưng cho các phương thức chuyển động tương đối giữa chúng như sau (hình 2.1):

(1) Ranh giới chuyển dạng (kiểu trượt ngang): Các mảng trượt ngang nhau qua đứt gãy biến dạng, không có mảng nào bị tiêu đi cũng không có phần mảng mới nào được sinh ra Xuất hiện khi các mảng trượt tương đối theo mặt phẳng nằm ngang dọc theo các đứt gãy chuyển dạng Chuyển động tương đối giữa hai mảng hoặc là phay ngang trái (sang bên trái về phía người quan sát)

Hình 2.1 Mô hình cấu trúc mảng của Thạch quyển

Trang 38

hoặc là phay ngang phải (sang bên phải về phía người quan sát) Đứt gãy San Andreas ở California là một ví dụ của ranh giới loại này

(2) Ranh giới phân kỳ (kiểu sinh mảng): Theo ranh giới này, vật chất dưới lòng sâu của trái đất trào lên, sinh ra những phần mới của thạch quyển Xuất hiện ở nơi mà hai mảng di chuyển ra xa nhau Các sống núi giữa đại dương (như sống núi Trung Đại Tây Dương) và các đới đang có hoạt động tách giãn (như thung lũng tách giãn lớn ở châu Phi) là những ví dụ về kiểu ranh giới này

(3) Ranh giới hội tụ (kiểu tiêu mảng): Mảng đại dương bị hút chìm và tiêu thụ dưới một mảng lục địa hay một mảng đại dương khác Xuất hiện khi hai mảng trượt về phía nhau tạo thành đới hút chìm nếu một mảng chui xuống dưới mảng kia hoặc va chạm lục địa nếu hai mảng đều là vỏ lục địa Các rãnh đại dương sâu thường liên quan đến đới hút chìm Các phiến đang hút chìm mang theo các khoáng vật chứa nước Chúng sẽ giải phóng nước khi bị nung nóng Lượng nước này sau đó làm cho manti chảy lỏng để tạo ra các hoạt động núi lửa Các ví dụ về dãy núi Andes ở Nam Mỹ và cung núi lửa Nhật Bản

Do các mảng đang dịch chuyển, xô ép nhau đã nảy sinh ra các lực kiến tạo rất lớn Lực này có loại ép nén, có loại kéo dãn, truyền vào trong các khối thạch quyển cứng làm chúng vỡ vụn thành những khối nhỏ hơn Các bề mặt vỡ được gọi là đứt gãy kiến tạo (đứt gãy) Nhờ đó mà các khối đá cứng hoặc trồi lên hoặc tụt xuống hoặc di chuyển ngang tương đối với nhau

Việc xác định các ranh giới mảng giúp người ta phân chia vỏ thạch quyển của Trái đất thành 8 mảng kiến tạo chính (hình 2.2):

- Mảng châu Phi gồm toàn bộ châu Phi – mảng lục địa;

- Mảng Nam cực gồm toàn bộ châu Nam cực - mảng lục địa;

- Mảng Australia gồm toàn bộ Australia - mảng lục địa;

- Mảng Ấn Độ gồm toàn bộ tiểu lục địa Ấn Độ và một phần của Ấn độ dương - mảng lục địa;

- Mảng Á-Âu gồm toàn bộ châu Á và châu Âu - mảng lục địa;

- Mảng Bắc mỹ gồm toàn bộ Bắc mỹ và Đông Bắc Siberi - mảng lục địa;

- Mảng Nam mỹ gồm toàn bộ Nam mỹ - mảng lục địa;

- Mảng Thái bình dương gồm toàn bộ Thái bình dương – mảng đại dương Bên cạnh đó còn có các mảng nhỏ như mảng Ả Rập, mảng Caribe, và mảng Juan de Fuca, mảng Cocos, mảng Nazca, mảng Philippin và mảng Scotia

Trang 39

Hình 2.2 Các mảng kiến tạo của thạch quyển

2.2.2 Những hình thái cơ bản của địa hình hiện đại

Những hình thái địa hình cơ bản của trái đất gồm: Đồng bằng (chênh lệch

độ cao tương đối <10 m); vùng đồi (chênh lệch độ cao tương đối 10 – 100 m) với đặc trưng là có các đồi đỉnh tròn hay ôvan, sườn thoải <300; vùng núi (chênh lệch về độ cao >100 m) Núi thường có đỉnh nhọn hoặc đường phân thủy sắc nét, sườn dốc thường >300

2.2.3 Các dấu hiệu của vận động nâng chồi và sụt hạ hiện đại

Khu vực có vận động nâng trồi được đặc trưng bởi địa hình dương có quá trình động lực sườn thống trị Sườn càng dốc thì càng trẻ Khu vực nâng trồi phải có địa hình phân cắt và độ cao tuyệt đối cao hơn mực nước biển Quá trình

đổ lở, trượt lở phát triển mạnh, hoạt động bóc mòn và rửa trôi mãnh liệt, đá gốc cứng nhiều chỗ lộ ngay trên mặt địa hình Trên lục địa, những khối nâng trồi dạng vòm lớn thường liên quan tới hoạt động núi lửa

Khu vực sụt hạ được đặc trưng bằng địa hình âm với quá trình tích tụ thống trị Có thể vùng sụt hạ có dạng thung lũng tích tụ hoặc đồng bằng bồi tích hoặc dạng bồn trũng lầy thụt, hồ hoặc thủy vực ven biển thậm chí biển Hoạt động nâng trồi, sụt hạ không nhất thiết phải xảy ra trên khu vực rộng lớn Hố sụt cục bộ đặc trưng bằng địa hình âm có mạng lưới thủy văn hướng tâm, tầng phủ

bở vụn dày hơn vùng xung quanh Khối nâng cục bộ có đặc điểm ngược lại

2.2.4 Hoạt động đứt gãy

Đứt gãy là những đường nứt vỡ của vỏ trái đất, qua đó các khối rắn thạch

Trang 40

quyển có thể dịch trượt tương đối với nhau Các đứt gãy không riêng lẻ mà tạo

ra các đới phá hủy kéo dài với những đứt gãy nhánh

Sự dịch chuyển của đứt gãy có thể làm xuất hiện động đất hoặc nứt đất Như vậy, vận động đứt gãy trên lục địa có khả năng tạo ra các khối nâng trồi, các bồn sụt hạ cục bộ, tạo ra các đới nứt nẻ, vận chuyển nước ngầm và chất thải lỏng, gây ra động đất, nứt đất ngầm, trượt lở ở các sườn dốc, tạo kênh dẫn macma để xuất hiện các núi lửa trẻ

2.3 Các loại tai biến môi trường liên quan đến các quá trình địa động lực nội sinh

2.3.1 Động đất

2.3.1.1 Khái niệm về tai biến động đất

Động đất là sự rung động của trái đất, nó được gây nên bởi chùm tia sóng địa chấn lan tỏa từ một vùng nguồn nào đó do quá trình giải tỏa nhanh năng lượng đàn hồi tạo nên Nói cách khác, động đất là sự giải phóng nhanh của năng lượng đàn hồi được tích lũy tại một điểm nào đó bên trong trái đất gây nên sóng địa chấn và tác động lên bề mặt làm phá hủy các công trình, sự biến dạng bề mặt cũng như gây chết chóc cho con người (Nguyễn Cẩn, Nguyễn Đình Hòe - 2005)

Như vậy, điều kiện cần để cho một trận động đất xuất hiện là khả năng tích lũy và giải phóng năng lượng đàn hồi Thông thường đó là những nơi xung yếu của trái đất như ranh giới kiến tạo, ranh giới phân chia giữa các mảng cấu trúc thạch quyển và vỏ trái đất Động đất ở các mức độ đều được coi là loại tai biến cấp diễn

Hàng năm trên trái đất xảy ra hàng trăm ngàn trận động đất Trong số đó trung bình chỉ khoảng 10 - 20 trận gây thiệt hại và chỉ 1 - 2 trận gây thảm họa hoặc thiệt hại lớn Trong thể kỷ XX, khoảng 1 triệu người thiệt mạng do động đất Tai biến động đất có khả năng gây thiệt hại lớn, đột ngột trong một vài phút, hầu như rất ít có khả năng dự báo

2.3.1.2 Chấn tiêu, chấn tâm, sóng địa chấn và lan truyền động đất trong môi trường trái đất

- Chấn tiêu (Focus, Hypocenter) còn gọi là tâm trong, phân bố sâu trong

vỏ trái đất hoặc tại Manti ngoài của trái đất (là vị trí trong thạch quyển, nơi xảy

ra sự phá hủy và bức xạ các sóng địa chấn)

- Chấn tâm (Epicenter) hay tâm ngoài của động đất: là hình chiếu theo phương thẳng đứng của chấn tiêu lên bề mặt trái đất Khoảng cách từ chấn tiêu

Ngày đăng: 10/05/2021, 01:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w