Nguyễn Thị Thùy Dương Viện Ngân hàng - Tài chính Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Ủy viên 3 TS.. Nguyễn Thị Minh Huệ Viện Ngân hàng - Tài chính Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Ủy viên 5 P
Trang 2NHà xuất bảN đại Học kiNH tế quốc dâN
"CáCh mạng Công nghiệp 4.0
VÀ những Đổi mới TROng LĨnh VựC TÀi ChÍnh - ngÂn hÀng"
Trang 3HỘi tHảO kHOA Học quốc GiA
BAN CHỈ ĐẠO
TT Họ và tên Đơn vị/Chức vụ Nhiệm vụ
1 PGS TS Trần Thị Vân Hoa Phó Hiệu trưởng
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Trưởng ban
2 PGS TS Đặng Ngọc Đức Viện trưởng Viện Ngân hàng - Tài chính
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Phó Trưởng ban
3 PGS TS Tô Trung Thành Trưởng phòng Quản lý khoa học
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Ủy viên
Trường mời:
1 Ông Nguyễn Nguyên Tô Hữu Trưởng Đại diện PGSM tại Việt Nam Ủy viên
BAN TỔ CHỨC
TT Họ và tên Đơn vị/Chức vụ Nhiệm vụ
1 TS Đặng Anh Tuấn Phó Viện trưởng Viện Ngân hàng - Tài chính
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Trưởng ban
2 PGS TS Trần Đăng Khâm Phó Viện trưởng Viện Ngân hàng - Tài chính
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Phó Trưởng ban
3 TS Trịnh Mai Vân Phó Trưởng phòng QLKH
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Ủy viên
4 PGS TS Bùi Đức Thọ Trưởng phòng TCCB
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Ủy viên
5 PGS TS Phạm Thị Bích Chi Trưởng phòng TCKT
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Ủy viên
6 TS Nguyễn Đình Trung Trưởng phòng QTTB
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Ủy viên
7 TS Vũ Trọng Nghĩa Trưởng phòng Truyền thông
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Ủy viên
8 ThS Bùi Đức Dũng Trưởng phòng Tổng hợp
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Ủy viên
9 ThS Nguyễn Hoàng Hà Trưởng phòng CTCT & QLSV
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Ủy viên
Trường mời:
10 Bà Phạm Thu Hằng Phó Trưởng đại diện PGSM tại Việt Nam Đồng trưởng ban
Trang 4BAN BIÊN TẬP KỶ YẾU
TT Họ và tên Đơn vị/Chức vụ Nhiệm vụ
1 PGS TS Lê Thanh Tâm Viện Ngân hàng - Tài chính
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Trưởng ban
2 TS Nguyễn Thị Thùy Dương Viện Ngân hàng - Tài chính
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Ủy viên
3 TS Lương Thái Bảo Viện Ngân hàng - Tài chính
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Ủy viên
4 PGS TS Nguyễn Thị Minh Huệ Viện Ngân hàng - Tài chính
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Ủy viên
5 PGS TS Cao Thị Ý Nhi Viện Ngân hàng - Tài chính
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Ủy viên
6 PGS TS Vũ Duy Hào Viện Ngân hàng - Tài chính
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Ủy viên
BAN THƯ KÝ HỘI THẢO
1 TS Đoàn Phương Thảo Viện Ngân hàng - Tài chính
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Ủy viên
2 TS Nguyễn Thị Diệu Chi Viện Ngân hàng - Tài chính
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Ủy viên
3 ThS Khúc Thế Anh Viện Ngân hàng - Tài chính
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Ủy viên
4 ThS Nguyễn Ngọc Trâm Viện Ngân hàng - Tài chính
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Ủy viên
5 Trịnh Ngọc Thắng Viện Ngân hàng - Tài chính
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Ủy viên
Trang 5PHẦN 1: CáCH mạNg CôNg NgHiệP 4.0 VÀ LĨNH VỰC TÀi CHÍNH - NgÂN HÀNg
1 Ảnh hưởng của Cách mạng công nghiệp 4.0 tới thị trường chứng khoán Việt Nam
PGS.TS Trần Đăng Khâm - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân 9
2 Tác động của Fintech tới nghiệp vụ và quản trị ngân hàng tại Việt Nam
PGS.TS Lê Thanh Tâm - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
TS Lê Nhật Hạnh - Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
ThS Nguyễn Việt Cường - Vietcombank Ba Đình ThS Lê Phong Châu - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
20
3 Công nghệ số và chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng - một khuôn khổ phân tích
TS Lương Thái Bảo - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân 36
4 Fintech - Xu hướng phát triển và những tác động tới hoạt động ngân hàng
PGS.,TS Đào Minh Phúc, ThS Nguyễn Hữu Mạnh - Tạp chí Ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 51
5 Fintech và thách thức trong quản lý ngành chứng khoán
TS Đào Lê Minh, TS Nguyễn Thanh Huyền - Ủy ban Chứng khoán Nhà nước 63
6 Phát triển ngân hàng số - kinh nghiệm quốc tế và giải pháp cho các ngân hàng thương mại
Việt Nam
TS Phạm Bích Liên, ThS Trần Thị Bình Nguyên - Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt
72
7 Machine Learning và ứng dụng trong xếp hạng tín dụng khách hàng cá nhân tại các ngân
hàng thương mại Việt Nam
PGS TS Nguyễn Hữu Tài - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân NCS ThS Đặng Hương Giang - Trường Đại học Kinh tế Kỹ Thuật Công nghiệp
Trang 610 Tác động cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đối với hoạt động kinh doanh của các ngân hàng
thương mại, thực tế tại Việt Nam và một số đề xuất kiến nghị
ThS Nguyễn Đình Dũng, ThS Lại Thị Thanh Loan - Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
123
11 Giải pháp phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử tại Việt Nam
TS Phạm Thị Bích Duyên, ThS Phạm Thị Kiều Khanh - Trường Đại học Quy Nhơn 138
12 Phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong giao dịch thẻ ngân hàng và ngân hàng điện tử
TS Nguyễn Thị Bích Vượng - Trường Đại học Trưng Vương và Trường Cao đẳng Công thương Hà Nội
ThS Nguyễn Thị Vân - Chi nhánh Ngân hàng Hợp tác xã Thanh Hóa
153
13 Một số vấn đề cần quan tâm đối với các ngân hàng trước cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0
PGS.TS Cao Thị Ý Nhi - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân 166
14 Tái cơ cấu ngành ngân hàng trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0
TS Nguyễn Thị Phong Lan - Viện Kinh tế, Học viện CTQG Hồ Chí Minh 173
15 Tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 đến hệ thống ngân hàng Việt Nam
ThS Lê Quốc Anh - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Lê Thị Trâm Anh - Đại học New South Wales
182
16 Mối quan hệ giữa Fintech và hoạt động của các NHTM tại Việt Nam
ThS Phạm Thành Đạt - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân 193
17 Xu hướng phát triển Fintech trên thế giới và ảnh hưởng của nó đến ngành Ngân hàng Việt Nam
ThS Trần Thị Lan Hương - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân 202
18 Fintech và những cơ hội, thách thức đối với ngành Tài chính - Ngân hàng
Hoàng Khánh Lam - Học viện Chính trị Khu vực I 210
19 Ứng dụng mạng xã hội trong mở rộng liên kết với khách hàng: Bài học kinh nghiệm và giải
pháp cho các ngân hàng Việt Nam trong thời kì Cách mạng 4.0
Th.S Phan Thu Trang - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
225
20 Ứng dụng dữ liệu lớn trong hoạt động của Ngân hàng Trung ương
ThS Lê Vân Chi - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
ThS Đỗ Tuấn Anh - NHTMCP Quân đội
242
21 Ảnh hưởng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đến hệ thống thông tin kế toán tại các
ngân hàng thương mại
ThS Nguyễn Thị Hoài Thu - Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên
PGS TS Trần Mạnh Dũng - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
253
Trang 722 Ảnh hưởng của blockchain đến hoạt động kiểm toán trong tương lai
ThS Phan Thị Thanh Loan, Phạm Thị Phương Nhung, Trương Sĩ Dân - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân 261
PHẦN 2: CáC NgHiÊN CỨU KHáC TRONg LĨNH VỰC TÀi CHÍNH - NgÂN HÀNg
23 Rào cản đối với người tiêu dùng trẻ về việc chấp nhận và sử dụng Mobile Banking - Nghiên cứu
tình huống tại thành phố Thanh Hóa
NCS ThS Trịnh Thị Thu Huyền, TS Đặng Anh Tuấn, ThS Bùi Đỗ Vân - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
275
24 Mức độ giải thích của lý thuyết đánh đổi và trật tự phân hạng đối với hành vi lựa chọn nguồn
tài trợ của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam
TS Nguyễn Xuân Thắng, TS Phạm Việt Hùng - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
289
25 Điều kiện vận hành thị trường trái phiếu xanh và hàm ý cho Việt Nam
TS Nguyễn Thị Nhung, PGS.TS Trần Thị Thanh Tú - Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
TS Đỗ Hồng Nhung - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
305
26 Hiệu ứng ngày trong tuần trên thị trường chứng khoán Việt Nam
PGS.TS Đàm Văn Huệ, ThS Phạm Đan Khánh - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân 321
27 Đánh giá ảnh hưởng của cấu trúc tài trợ tới hiệu quả kinh doanh các doanh nghiệp ngành
hàng công nghiệp
TS Nguyễn Thị Diệu Chi, ThS Vũ Thị Thu Hòa - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
333
28 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới thanh khoản ngân hàng Việt Nam
ThS Nguyễn Thị Quỳnh Loan - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
ThS Phạm Đức Anh - Học viện Ngân hàng ThS Trần Thị Thúy An - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
343
29 Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam
ThS Trần Thị Thu Hiền - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân 363
30 Đánh giá sự tác động các yếu tố tới nợ xấu tại hệ thống NHTM Việt Nam
TS Nguyễn Thị Hoài Phương - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân 373
31 Ứng dụng lý thuyết kỳ vọng trong nghiên cứu quyết định khởi sự kinh doanh của sinh viên
kinh tế Hà Nội
TS Hoàng Thị Lan Hương, Nguyễn Thị Thanh Huyền, Ngô Quốc Trung, Phạm Mỹ Linh, Nguyễn Thu Trang
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
394
Trang 832 Phát triển ngành bảo hiểm Việt Nam theo xu thế Cách mạng công nghiệp 4.0
ThS Nguyễn Xuân Tiệp, Trịnh Nguyễn Hà Nhung, Nguyễn Minh Quang,Trương Thị Ngọc Ánh, Trần Minh Phương
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
409
33 Vốn xã hội, thông tin tín dụng và hiệu ứng địa phương ảnh hưởng tới thu nhập hộ gia đình
nông thôn
ThS Phan Thị Thanh Hương, Đỗ Thị Minh Hiệp, Nguyễn Trọng Phú, Đỗ Đức Lân, Nguyễn Hồng Sơn
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
426
34 Các quan điểm về tiếp cận tín dụng chính thức của hộ nông dân: Xem xét tại một số quốc gia
đang phát triển và thực tiễn tại Việt Nam
ThS Tạ Nhật Linh, ThS Phan Thu Trang, ThS Nguyễn Quỳnh Trang - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
445
Trang 9CáCh mạng Công nghiệp 4.0
VÀ LĨnh VựC
TÀi ChÍnh - ngÂn hÀng
Trang 10ẢNH HƯỞNG CỦA CáCH MẠNG CôNG NGHIệP 4.0
TỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOáN VIệT NAM
PGS.TS Trần Đăng Khâm
Viện Ngân hàng - Tài chính, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Tóm tắt
Cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu Tại Việt Nam, Chính phủ cùng các cơ quan, ban, ngành đang nỗ lực nghiên cứu, đề xuất các biện pháp nhằm phát huy các tác động tích cực, tận dụng thời cơ, đồng thời, hạn chế các tác động tiêu cực của cuộc Cách mạng 4.0 cho phát triển kinh tế Bài viết này phân tích các tác động của Cách mạng công nghiệp tới ngành chứng khoán, bao gồm tác động chung tới thị trường, tới doanh nghiệp niêm yết và tác động tới công ty chứng khoán - thành viên chính của thị trường, qua đó, đề xuất một số gợi ý về chính sách với các đối tượng liên quan
Từ khóa: Cách mạng công nghiệp 4.0; thị trường chứng khoán; doanh nghiệp niêm
yết; công ty chứng khoán
1 Khái quáT về CáCh mạng Công nghiệp 4.0
Cách mạng công nghiệp 4.0 (hay Cách mạng công nghiệp lần thứ tư) xuất phát từ khái niệm “Industrie 4.0” trong một báo cáo năm 2013 của chính phủ Đức, được đăng tải
trên Gartner Cách mạng công nghiệp 4.0 kết nối các hệ thống nhúng và cơ sở sản xuất
thông minh để tạo ra sự hội tụ kỹ thuật số giữa Công nghiệp - Kinh doanh cả về chức năng và quy trình bên trong Theo Klaus Schwab, người sáng lập và Chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới, Cách mạng công nghiệp đầu tiên sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất Cuộc cách mạng lần hai diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt Cuộc cách mạng lần ba sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được phát triển trên nền tảng cuộc cách mạng lần ba, kết hợp các yếu tố công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học
Theo TS Vũ Đình Ánh, Cách mạng công nghiệp 4.0, về bản chất, là xu hướng hiện đại trong tự động hóa và trao đổi dữ liệu trong công nghệ sản xuất Nó bao gồm: các hệ thống không gian mạng thực và ảo (Cyber-physical System); Internet vạn vật và điện toán đám mây; Điện toán nhận thức (Cognitive Computing) Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra “nhà máy thông minh” - Smart factory Qua Internet vạn vật, các hệ thống không gian mạng thực
Trang 11và ảo giao tiếp, cộng tác với nhau và với con người trong thời gian thực, đồng thời, với sự giúp đỡ của Internet dịch vụ, dịch vụ nội hàm và dịch vụ xuyên tổ chức được cung cấp cho các bên tham gia chuỗi giá trị sử dụng
Từ Cách mạng 4.0, các đột phá công nghệ đã và đang diễn ra trong nhiều lĩnh vực, như trí tuệ nhân tạo, robot, Internet vạn vật, xe hơi, công nghệ in, công nghệ nano và các lĩnh vực khác Theo Klaus Schwab, tốc độ đột phá của Cách mạng công nghiệp 4.0 là “không có tiền lệ lịch sử”, “đang phá vỡ hầu hết ngành công nghiệp ở mọi quốc gia”. Chiều rộng và độ sâu của những thay đổi này báo trước sự chuyển đổi của toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị Những yếu tố cốt lõi của kỹ thuật số trong Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ là: Trí tuệ nhân tạo và phương pháp phân tích dữ liệu (Artificial Interlligence and Machine Learning); Vạn vật kết nối (Internet of Things); Dữ liệu khổng lồ và điện toán đám mây (Big Data and Cloud computing); Phát triển mạnh mạng xã hội.Herman, Pentek và Otto cho rằng, một hệ thống/tổ chức được coi là 4.0 khi hội đủ
4 điều kiện: (1) Khả năng giao tiếp thể hiện ở hệ thống máy móc thiết bị, các cảm biến và con người phải được kết nối và liên lạc với nhau; (2) Minh bạch thông tin Hệ thống sẽ tạo ra bản sao của thế giới thực, được định hình bởi các dữ liệu thu thập từ các cảm biến của máy móc; (3) Hỗ trợ kỹ thuật Các máy móc và hệ thống phải hỗ trợ con người trong việc ra quyết định và giải quyết các vấn đề, thay thế con người thực hiện các công việc phức tạp hoặc không an toàn; (4) Ra quyết định theo mô hình phân tán Hệ thống không gian mạng thực và ảo có quyền cho phép tự mình ra quyết định và thực thi nhiệm vụ một cách tự động nhất có thể, ngoại trừ trường hợp bị nhiễu, hoặc mâu thuẫn về mục tiêu Các trường hợp ngoại lệ này sẽ được ủy thác cho cấp cao hơn xử lý
Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra tại các nước phát triển như Mỹ, châu Âu, một phần châu Á Bên cạnh những cơ hội mới, Cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đặt ra
cho nhân loại nhiều thách thức phải đối mặt Thứ nhất, Cách mạng công nghiệp 4.0 có
thể gây ra sự bất bình đẳng, đặc biệt là có thể phá vỡ thị trường lao động Khi tự động hóa thay thế lao động chân tay trong nền kinh tế, khi robot thay thế con người trong nhiều lĩnh vực, hàng triệu lao động trên thế giới có thể rơi vào cảnh thất nghiệp, nhất là những người làm trong lĩnh vực bảo hiểm, môi giới bất động sản, tư vấn tài chính, vận tải Theo báo cáo của Diễn đàn Kinh tế thế giới, giai đoạn đầu tiên sẽ là thách thức với những lao động văn phòng, trí thức, lao động kỹ thuật Giai đoạn tiếp theo sẽ tác động tới lao động giá rẻ Cuộc Cách mạng 4.0 sẽ tạo áp lực buộc các doanh nghiệp phải thay đổi.
Thứ hai, những bất ổn về kinh tế nảy sinh từ Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ dẫn
đến những bất ổn về đời sống Hệ lụy của nó sẽ là những bất ổn về chính trị Nếu Chính
Trang 12phủ các nước không hiểu rõ và chuẩn bị đầy đủ cho làn sóng công nghiệp 4.0, nguy cơ xảy ra bất ổn trên toàn cầu là hoàn toàn có thể Bên cạnh đó, những thay đổi về cách thức giao tiếp trên Internet cũng đặt con người vào nhiều nguy hiểm về tài chính và sức khoẻ Thông tin cá nhân nếu không được bảo vệ một cách an toàn sẽ dẫn đến những hệ lụy khôn lường. Cách mạng công nghiệp lần 4 mang đến cơ hội, và cũng đầy thách thức với nhân loại.
2 TáC động Của CáCh mạng 4.0 đối với Thị Trường Chứng Khoán việT nam
Thị trường chứng khoán được coi là phong vũ biểu của nền kinh tế Dưới Cách mạng công nghiệp 4.0, nền kinh tế của mỗi quốc gia sẽ có sự thay đổi mạnh mẽ về cấu trúc và về hiệu quả Theo giả thuyết thị trường có hiệu quả, sự thay đổi này sẽ được phản ánh rõ nét trong thay đổi của thị trường chứng khoán Mức độ phản ánh sẽ khác nhau tùy theo mức độ phát triển của mỗi thị trường Hơn nữa, ngành chứng khoán là một ngành khá đặc thù, sự thay đổi của công nghệ sẽ trực tiếp tác động toàn diện tới tổ chức và hoạt động của thị trường chứng khoán
Là một thị trường tiệm cận mới nổi (Frontier Market), thị trường chứng khoán Việt Nam cũng chịu tác động rất lớn từ Cách mạng công nghiệp 4.0: Chiến lược phát triển thị trường có thể phải thay đổi; hệ thống pháp lý liên quan tới phát triển thị trường cần phải điều chỉnh; cơ sở công nghệ và giao dịch, vấn đề kiểm soát phải thay đổi; Nội dung dưới đây phân tích một số tác động tới cả thị trường nói chung và với một số chủ thể tham gia thị trường nói riêng
2.1 Tác động chung tới thị trường
Cách mạng công nghiệp 4.0 có thể tác động tới thị trường chứng khoán trên các phương diện sau:
Thứ nhất, tác động tới vấn đề thông tin Thị trường chứng khoán hoạt động trên
nguyên tắc công khai Theo nguyên tắc này, tất cả các thông tin liên quan tới quyền lợi nhà đầu tư cần được công bố công khai và minh bạch Mục đích của nguyên tắc này nhằm đảm bảo mức hiệu quả của thị trường Theo giả thuyết thị trường hiệu quả, thị trường chứng khoán sẽ đảm bảo tích tụ, tập trung và phân phối một cách hiệu quả khi giá chứng khoán phản ánh ngay lập tức các thông tin trên thị trường Mức độ hiệu quả của thị trường phụ thuộc mức độ phản ánh thông tin khác nhau Tại mức hiệu quả dạng yếu, giá chứng khoán sẽ phản ánh các thông tin về giá chứng khoán trong quá khứ Với mức hiệu quả dạng trung bình, giá chứng khoán phản ánh các thông tin công khai
Trang 13(Public Informations), bao gồm thông tin về giá chứng khoán trong quá khứ, thông tin về tình hình tài chính và phi tài chính của doanh nghiệp được công bố công khai theo chế độ và các thông tin công khai khác Ở mức hiệu quả mạnh, giá chứng khoán phản ánh tất cả các thông tin, bao gồm các thông tin công khai và các thông tin cá nhân (Private Informations).
Như đã trình bày ở trên, những yếu tố cốt lõi của kỹ thuật số trong Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ là: Trí tuệ nhân tạo và phương pháp phân tích dữ liệu (Artificial interlligence and machine learning); Vạn vật kết nối (Internet of Things); Dữ liệu khổng lồ và điện toán đám mây (Big Data and cloud computing); Phát triển mạnh mạng xã hội Theo cách tiếp cận như vậy, hệ thống thông tin trên thị trường chứng khoán sẽ phát triển mạnh theo hướng công khai hóa và đa dạng hóa Các thông tin đa dạng và đa chiều được số hóa sẽ được cung cấp tới các nhà quản trị, các nhà quản lý và các nhà đầu tư theo nhiều kênh khác nhau, từ các kênh thông tin công khai bắt buộc theo quy định của cơ quan quản lý, các phương tiện vô tuyến truyền hình, Internet cho tới các mạng xã hội Sự
đa dạng về thông tin, bao gồm các thông tin tài chính và phi tài chính, thông tin vật chất và phi vật chất Liệu mức độ đa dạng hóa thông tin cao độ có thể làm tăng mức độ hiệu quả của thị trường chứng khoán?
Cơ sở dữ liệu lớn cùng với sự thay đổi của phương thức phân tích và đầu tư chứng khoán theo hướng tự động hóa sẽ tạo cơ hội tốt hơn cho các nhà đầu tư trong phân tích và đầu tư chứng khoán, theo đó, giá chứng khoán có thể phản ánh tốt hơn các thông tin, tạo chỉ báo tốt hơn cho các nhà đầu tư Giá cả chứng khoán được hình thành trên cơ sở này sẽ tạo cơ sở tốt hơn trong phân phối các nguồn lực Các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn sẽ có cơ hội huy động được vốn với chi phí vốn thấp hơn, qua đó, lượng vốn khan hiếm sẽ được chuyển tới những người có khả năng sử dụng vốn tốt nhất Tuy nhiên, sự phát triển của hệ thống thông tin sẽ liên quan tới vấn đề bình đẳng và bất bình đẳng về thông tin Các nhà đầu tư sẽ có cơ hội tốt hơn trong tiếp cận và xử lý thông tin Tuy nhiên, cơ hội tiếp cận và xử lý thông tin đối với các nhà đầu tư nhỏ lẻ sẽ thấp hơn Thông tin đa dạng, đa chiều đòi hỏi chi phí lớn hơn, bao gồm cả chi phí thu thập và xử lý thông tin Trong khi đó, các nhà đầu tư nhỏ lẻ có quy mô đầu tư nhỏ, doanh số giao dịch thấp nên chi phí thông tin trên một đơn vị đầu tư hoặc trên một đơn vị giao dịch sẽ ngày càng cao, từ đó, hiệu quả đầu tư của họ sẽ giảm thấp hơn so với các nhà đầu
tư lớn, các nhà đầu tư tổ chức Bên cạnh đó, vấn đề nhiễu thông tin sẽ ảnh hưởng lớn tới quyền lợi của các nhà đầu tư thiểu số Do tiến bộ của công nghệ và phát trển mạng xã hội, thông tin nhiễu và người cố tình hay vô ý tạo thông tin nhiễu ngày càng tăng, trong khi khả năng kiểm soát, phát hiện và ngăn chặn các hiện tượng gây nhiễu về thông tin
Trang 14của các cơ quan quản lý thị trường khó có thể theo kịp với sự phát triển của hệ thống thông tin, từ đó, hạn chế khả năng bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư thiểu số Để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư nhỏ lẻ, cần thực hiện xu hướng tập trung hóa, chuyên môn hóa và chuyên nghiệp hóa hoạt động đầu tư bằng cách phát triển mạnh các nhà đầu
tư tổ chức, nhất là các loại hình quỹ đầu tư chứng khoán Bên cạnh đó, cần phát triển mạnh các tổ chức tư vấn đầu tư nhằm hỗ trợ cho các nhà đầu tư thiểu số trên thị trường
Thứ hai, tác động tới vấn đề quản lý thị trường Thị trường chứng khoán được quản
lý từ hai cấp: cấp quản lý nhà nước và cấp quản lý tự quản Do đối tượng quản lý ngày một tăng và phức tạp, yêu cầu quản lý thị trường cũng cần phải thay đổi theo Do công nghệ quản lý và quản trị thay đổi, khả năng quản lý và quản trị cũng được tăng cường Tuy nhiên, đối tượng quản lý của cơ quan quản lý cũng thay đổi theo hướng phức tạp hơn và tinh vi hơn Do sự tiến bộ của công nghệ và nhu cầu từ phía cả nhà đầu tư và các tổ chức cung ứng dịch vụ, xu hướng liên kết giữa các tổ chức cung cấp dịch vụ ngày một tăng Các trung gian tài chính phát triển theo hướng đa năng, các sản phẩm liên kết giữa ba lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm ngày một nhiều, đòi hỏi mô hình quản lý thị trường cũng phải thay đổi tương ứng; khả năng giao dịch xuyên biên giới tăng lên; khả năng liên kết giữa các thị trường khu vực và quốc tế tăng; sức ép từ hội nhập khu vực và quốc tế; khả năng liên kết giữa các nhà đầu tư tăng lên làm gia tăng và tinh vi hóa các giao dịch không công bằng, thao túng giá và giao dịch nội gián; vấn đề nhiễu thông tin cùng tâm lý của các nhà đầu tư làm gia tăng rủi ro thị trường, đặc biệt là nguy cơ hoảng loạn thị trường;
Các thay đổi trên sẽ tạo áp lực thay đổi trong quản lý thị trường: Xu hướng quản lý hợp nhất sẽ dần thay thế mô hình quản lý theo chức năng; vai trò của các tổ chức tự quản như sở giao dịch chứng khoán, hiệp hội kinh doanh chứng khoán ngày càng được tăng cường Các tổ chức tự quản sẽ có mức độ hoạt động độc lập cao hơn, được trao nhiều quyền hơn trong quản lý và giám sát thị trường cũng như thành viên; nội dung quản lý cũng thay đổi, từ giám sát tuân thủ chuyển sang giám sát rủi ro, bao gồm quản lý rủi ro cá thể và rủi ro tổng thể, chuyển từ chế độ cấp phép sang công bố thông tin đầy đủ, ; phương thức quản lý cũng dần thay đổi, từ kiểm tra tại chỗ chuyển mạnh sang giám sát
từ xa; tăng cường khả năng giám sát giao dịch qua công nghệ chuỗi khối (Blockchain); vấn đề tuyên truyền phổ biến kiến thức cho các nhà đầu tư cũng ngày được coi trọng Sự thay đổi của công nghệ cũng làm cho tính ổn định trong các quy định pháp lý giảm sút Hệ thống pháp luật cũng buộc phải thay đổi nhanh hơn nhằm thích ứng với sự thay đổi của thị trường
Thứ ba, thay đổi cấu trúc thị trường Cuộc cánh mạng công nghiệp 4.0 sẽ tác động
mạnh mẽ đến cấu trúc của thị trường chứng khoán Về cấu trúc hàng hóa, do đặc thù của
Trang 15lĩnh vực tài chính nói chung và chứng khoán nói riêng, các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, do vậy, các sản phẩm phái sinh sẽ tăng mạnh cả về lượng và loại hàng hóa Về cấu trúc giao dịch, công nghệ đã và đang biến đổi cấu trúc giao dịch, từ thị trường có sàn phát triển thành thị trường giao dịch không sàn Các thị trường sẽ tận dụng xu thế để phát triển: Các sở giao dịch chứng khoán vốn là thị trường tập trung lại đang phát triển theo hướng phi tập trung hóa, quốc tế hóa và khu vực hóa Trong khi đó, thị trường OTC lại phát triển theo hướng tập trung hóa Phương thức thanh toán, lưu ký được phát triển trên nền tảng số hóa, do vậy, thời gian cho giao dịch và chi phí giao dịch giảm, khả năng kết nối giao dịch tăng làm cho quy mô giao dịch ngày một tăng và tính thanh khoản thị trường ngày càng cải thiện Do sự thay đổi công nghệ quản lý, số lượng và cơ cấu quản lý thay đổi, theo hướng tinh gọn hơn, minh bạch hơn và hiệu quả hơn.
Thứ tư, vấn đề an ninh mạng và bảo mật thông tin An ninh mạng và bảo mật
thông tin không chỉ liên quan tới đối tượng quản lý là Ủy ban chứng khoán nhà nước, các Sở giao dịch chứng khoán và các tổ chức tự quản mà còn liên quan tới mỗi công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, các quỹ đầu tư chứng khoán, các doanh nghiệp niêm yết và mỗi nhà đầu tư Sự phát triển ngày càng tinh vi của công nghệ số và ứng dụng điện toán đám mây làm gia tăng khả năng xuất hiện các lỗ hổng bảo mật, uy hiếp an toàn tài chính của mỗi đối tượng tham gia thị trường Cách thức giao tiếp của con người nói chung và cách thức giao tiếp trên thị trường chứng khoán đã và đang thay đổi theo Cách mạng 4.0, làm gia tăng rủi ro cho các nhà đầu tư, cho các thành viên thị trường Vấn đề
ăn cắp thông tin, ăn cắp tài khoản gia tăng Hơn nữa, thị trường chứng khoán hoạt động trên nền tảng công nghệ cao Chi phí cho công nghệ ngày càng tăng do nhanh chóng lạc hậu, trong khi khả năng xâm nhập mạng ngày càng gia tăng do sự phát triển của các tổ chức tin tặc
2.2 Tác động tới doanh nghiệp niêm yết
Cách mạng công nghiệp 4.0 tác động mạnh tới các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp niêm yết Do tiến bộ công nghệ sản xuất, công nghệ quản lý, các doanh nghiệp có thể sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả hơn thông qua tối ưu hóa quy trình sản xuất, nâng cao năng suất lao động, cải thiện chất lượng sản phẩm, nâng cao chất lượng khâu tiêu thụ sản phẩm và chính sách hậu mãi Các kênh phân phối và phương thức tiêu thụ mới đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều Khả năng liên kết, bán chéo sản phẩm giữa các doanh nghiệp ngày càng tăng làm gia tăng hiệu quả sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Theo cách đó, dòng tiền mà các cổ đông có thể nhận được tăng lên Trong khi đó, công cụ và phương thức quản trị mới theo hướng tự động hóa và thông minh hóa xuất hiện ngày càng nhiều, năng lực quản trị điều hành, năng lực quản trị rủi ro của doanh nghiệp được
Trang 16cải thiện, rủi ro của doanh nghiệp có thể giảm sút Nói một cách khác, những doanh nghiệp tận dụng lợi thế của Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ có hiệu quả cao hơn, do vậy, giá cổ phiếu sẽ tăng lên Ngược lại, nhiều doanh nghiệp không tận dụng được lợi thế sẽ làm cho giá cổ phiếu sụt giảm
Cơ cấu chi phí của doanh nghiệp niêm yết sẽ thay đổi theo hướng gia tăng hàm lượng lao động chất xám trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, giảm lao động phổ thông,
sử dụng trí tuệ thông minh trong quản lý và sản xuất kinh doanh Sự cải thiện doanh thu, chi phí và rủi ro sẽ không giống nhau giữa các doanh nghiệp khác nhau Các doanh nghiệp trong các lĩnh vực công nghệ, điện tử, viễn thông, sẽ có cơ hội nhiều hơn trong tăng trường doanh thu và lợi nhuận, trong khi đó, các ngành, lĩnh vực đang sử dụng nhiều lao động thủ công sẽ có ít cơ hội hơn trong việc nâng cao lợi nhuận Nhóm doanh nghiệp nhập khẩu sẽ có lợi thế hơn do sản phẩm từ phía đối tác sẽ thay đổi nhanh chóng hơn, phù hợp hơn với nhu cầu của các nhà đầu tư cùng phương thức bán hàng và chính sách hậu mãi hấp dẫn, trong khi đó, các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ gặp bất lợi hơn khi khả năng thay đổi, hàm lượng công nghệ trong các sản phẩm sản xuất tại Việt Nam thấp hơn cùng chính sách bán hàng chậm đổi mới hơn
Theo xu thế khu vực hóa và quốc tế hóa thị trường chứng khoán, thị trường chứng khoán Việt Nam có thể chào đón các doanh nghiệp niêm yết đến từ khu vực và quốc tế, đồng thời, các doanh nghiệp Việt Nam có thể niêm yết trên thị trường chứng khoán các nước Vấn đề này tạo áp lực lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam ở khả năng thu hút vốn, áp lực về quản trị công ty, quản trị điều hành doanh nghiệp Việc tận dụng công nghệ không khôn khéo có thể làm tăng rủi ro cho doanh nghiệp, kể cả rủi ro phá sản doanh nghiệp
2.3 Tác động tới công ty chứng khoán
Cách mạng công nghiệp 4.0 tác động mạnh mẽ lên hoạt động của các công ty
chứng khoán Trước hết, cơ cấu sản phẩm của công ty chứng khoán sẽ thay đổi mạnh
mẽ Xuất phát từ đặc điểm sản phẩm của ngành tài chính nói chung và công ty chứng
khoán nói riêng, dịch vụ tài chính có đặc điểm liên tục thay đổi, dễ bắt chước và không có bản quyền Sản phẩm của ngành được tích hợp trên nền tảng công nghệ cao Sự thay đổi của công nghệ làm cho phương thức cạnh tranh trong ngành cũng có nhiều thay đổi Trong cạnh tranh, các công ty chứng khoán không thể hướng tới dị biệt hóa sản phẩm mà phải hướng tới nâng cao chất lượng dịch vụ, đa dạng hóa sản phẩm và phát triển kênh phân phối
Công nghệ làm cho khả năng tích hợp dịch vụ và khả năng liên kết dịch vụ tăng lên, hàng loạt dịch vụ mới đã và đang phát triển Thậm chí, một số trung gian tài chính
Trang 17đang hướng tới thiết lập “sản phẩm may đo” cho từng khách hàng Kênh phân phối điện
tử đang dần thay thế cho kênh phân phối truyền thống Thay vì phát triển hệ thống chi nhánh, văn phòng giao dịch, các công ty chứng khoán đang phát triển mạnh hoạt động giao dịch điện tử qua Internet và điện thoại thông minh Nhiều công ty chứng khoán cũng tận dụng tối đa mạng xã hội trong việc thu thập và chuyển tải thông tin tới khách hàng Bên cạnh đó, xu thế tự động hóa trong phân tích và đầu tư chứng khoán ngày càng
rõ nét
Thứ hai, thay đổi mô hình tổ chức và hoạt động Các trung gian tài chính đang thay
đổi mô hình tổ chức và hoạt động theo hướng theo mô hình đa năng, hoặc tăng cường liên kết giữa các trung gian tài chính để tăng cường cung cấp dịch vụ Mô hình tổ chức thay đổi làm tăng sự liên kết giữa ba bộ phận của công ty chứng khoán: back office; front office và middle office Chính sự thay đổi trong mô hình tổ chức đã làm gia tăng sự hỗ trợ của bộ phận back và middle office cho bộ phận bán hàng, đồng thời, bộ phận bán hàng (môi giới và tư vấn) cũng hỗ trợ đáng kể ngược lại cho bộ phận tự doanh, phân tích, kế toán Ở các công ty chứng khoán là thành viên của ngân hàng hoặc doanh nghiệp bảo hiểm, sự liên kết trong tạo sản phẩm mới và phân phối sản phẩm ngày càng tốt hơn Các công ty chứng khoán có thể tận dụng tối đa cơ sở dữ liệu khách hàng và khả năng cung cấp dịch vụ của ngân hàng/công ty bảo hiểm mẹ, đồng thời, hỗ trợ ngân hàng/công ty bảo hiểm mẹ trong chia sẻ dữ liệu thông tin khách hàng, bán chéo sản phẩm, v.v
Thứ ba, chất lượng dịch vụ ngày càng tăng Hoạt động của các công ty chứng khoán
dựa trên cơ sở dữ liệu, cơ sở khách hàng, công nghệ giao dịch, khả năng phân tích và đầu tư chứng khoán Trí tuệ nhân tạo và phương pháp phân tích dữ liệu (Artificial interlligence and machine learning) làm thay đổi phương pháp phân tích chứng khoán và phương thức giao dịch Nhiều mô hình phân tích thông minh sẽ giúp công ty chứng khoán tự động hóa công tác phân tích và đầu tư chứng khoán Vạn vật kết nối (Internet
of Things) sẽ làm thay đổi phương thức giao dịch, phương thức tư vấn và môi giới Dữ liệu khổng lồ và điện toán đám mây (Big Data and cloud computing) làm cho chất lượng hoạt động phân tích được cải thiện;
Thứ tư, phân hóa mạnh mẽ giữa các công ty chứng khoán Sự tiến bộ công nghệ
cũng làm cho chi phí đầu tư của các công ty chứng khoán gia tăng Đặc điểm của công nghệ là luôn nhanh chóng lạc hậu Chính vì thế, chi phí cho công nghệ luôn là khoản đầu
tư tốn kém và khó lường về hiệu quả Lựa chọn công nghệ kém không chỉ làm cho hiệu quả đầu tư giảm sút mà còn dẫn tới sự nhanh lạc hậu về công nghệ và phát sinh chi phí đầu tư thay thế, đồng thời, làm cho chất lượng dịch vụ của công ty giảm sút, kém lợi thế cạnh tranh so với các công ty chứng khoán khác Bên cạnh đó, mặc dù cơ hội phát triển
Trang 18sản phẩm và dịch vụ tăng lên, song đi kèm theo đó là sự phức tạp trong quản trị công ty chứng khoán, đặc biệt là quản trị rủi ro, bao hàm cả rủi ro đạo đức Nhiều công ty chứng khoán sẽ tận dụng được lợi thế của Cách mạng 4.0 khi đầu tư đúng và thay đổi mạnh về quản trị Ngược lại, một số công ty chứng khoán khác sẽ gặp khó khăn, thậm chí chấp nhận rời cuộc chơi vì những sai lầm của mình.
Thứ năm, sự thay đổi về cơ cấu lao động Tự động hóa phân tích, tư vấn và môi giới
sẽ làm giảm số lượng lao động của ngành nói chung và của các công ty chứng khoán nói riêng, đồng thời, đội ngũ lao động có hàm lượng chất xám cao sẽ ngày càng tăng Tuy nhiên, chi phí đào tạo và tự đào tạo trong các công ty chứng khoán ngày càng gia tăng nhằm thích nghi với tiến bộ công nghệ
Thứ sáu, gia tăng sức ép từ các công ty chứng khoán nước ngoài cả trên thị trường nội địa và quốc tế Công nghệ là một yếu tố quan trọng làm nên khả năng
cạnh tranh của công ty chứng khoán Tốc độ thay đổi nhanh chóng về công nghệ làm gia tăng áp lực cạnh tranh của các công ty chứng khoán, đặc biệt là các công ty chứng khoán nước ngoài
3 mộT số Khuyến nghị
Cách mạng công nghiệp 4.0 là một xu thế khách quan và cũng là tất yếu Để tận dụng lợi thế và hạn chế các bất cập của Cách mạng 4.0, xin có một số gợi ý sau:
Thứ nhất, để môi trường pháp lý theo kịp với sự thay đổi của thị trường nói chung và công nghệ nói riêng, cần thay đổi tư duy trong xây dựng pháp luật Ở Việt Nam, hệ
thống pháp lý bao gồm luật và các văn bản dưới luật, việc soạn thảo, ban hành và thực thi các văn bản pháp luật đều cần một khoảng thời gian nhất định Chính vì thế, các văn bản pháp luật thường rất nhanh bị lạc hậu và sự thay thế cũng tốn kém rất nhiều thời gian Để hệ thống pháp luật nhanh chóng thay đổi theo kịp với sự thay đổi của nền kinh tế nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng, Việt Nam cần thừa nhận “án lệ” Bên cạnh đó, Luật Chứng khoán đã lạc hậu, cần sớm xây dựng và ban hành Luật Chứng khoán thế hệ thứ hai Luật mới cần bao quát sự thay đổi của thị trường theo sự thay đổi của công nghệ, đồng thời, quy định một số điều khoản để định hướng, thúc đẩy, kích thích và hỗ trợ việc áp dụng công nghệ vào lĩnh vực chứng khoán Luật mới cũng cần chi tiết hơn vấn đề cung cấp thông tin và sử dụng hệ thống thông tin trong phân tích và đầu tư chứng khoán, vấn đề an ninh mạng và bảo mật thông tin
Thứ hai, xác định lại mô hình quản lý thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng ở Việt Nam Hiện nay, mô hình quản lý, giám sát thị trường và hệ
Trang 19thống tài chính ở Việt Nam là mô hình thể chế Theo hướng phát triển của thị trường và hệ thống tài chính, cần chuyển dần sang mô hình quản lý và giám sát hợp nhất, phát huy vai trò thực sự của Ủy ban giám sát tài chính quốc gia Bên cạnh đó, cần xác định rõ hơn vị trí và địa vị pháp lý của Ủy ban chứng khoán nhà nước, mô hình sở giao dịch chứng khoán, vị trí và vai trò của các tổ chức tự quản trong thị trường chứng khoán.
Thứ ba, có chiến lược rõ ràng hơn trong phát triển thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt
Nam giai đoạn 2011 - 2020 đã được thực thi khoảng 7 năm và đã tạo diện mạo mới cho thị trường chứng khoán Tuy nhiên, chiến lược đã không tránh khỏi lạc hậu, thiếu hợp lý Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, cần xác định lại chiến lược phát triển thị trường cho những năm tiếp theo nhằm tận dụng tối đa lợi thế và hạn chế sự bất cập của cuộc cách mạng này Từ chiến lược mới, cần thiết kế các giải pháp đầu tư và hỗ trợ đầu tư nhằm phát triển khoa học và công nghệ tại các doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp niêm yết, công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ, cũng như từ phía các cơ quan quản lý thị trường
Thứ tư, tăng cường hỗ trợ từ phía Chính phủ, cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan quản lý thị trường đối với các doanh nghiệp niêm yết, công ty chứng khoán và các thành
viên khác để hoạch định và thực thi chiến lược phát triển nói chung và chiến lược phát triển công nghệ nói riêng nhằm tận dụng lợi thế và hạn chế bất cập từ Cách mạng công nghiệp 4.0 Các hỗ trợ bao gồm: hỗ trợ về tài chính thông qua đầu tư và miễn giảm thuế, phí; hỗ trợ về tư vấn, đào tạo; cho thuê trang thiết bị với giá rẻ và các hỗ trợ khác
Thứ năm, đối với các doanh nghiệp niêm yết, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ Cách mạng công nghiệp 4.0 là cơ hội, song cũng là thách thức không thể thay đổi
Để thích ứng và tận dụng cơ hội, các thành viên thị trường cần xem xét lại chiến lược phát triển, xây dựng chiến lược phát triển phù hợp nhất và hiệu quả nhất đối với tổ chức của mình, hướng tới “Smart factory” hay doanh nghiệp 4.0
4 KếT luận
Cách mạng 4.0, công nghệ thông tin, kinh tế số tạo ra nhiều cơ hội và thách thức Chỉ có tận dụng cơ hội mới vượt qua thách thức Chỉ có chủ động áp dụng nó, xây dựng môi trường kinh doanh đón đầu thì mới vượt qua thách thức Để vần đề không chỉ trên giấy, cơ quan quản lý thị trường, các thành viên và các nhà nghiên cứu phải bắt tay cùng
tư duy, cùng suy nghĩ, thúc đẩy cho quá trình cải cách
Trang 20Tài liệu Tham Khảo
1 Cách mạng công nghiệp 4.0 là gì?, truy cập tại cong-nghiep-40-la-gi-post750267.html;
https://news.zing.vn/cach-mang-2 TS Nguyễn Thị Hiền, “Ngân hàng trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”,
Kỷ yếu Hội thảo khoa học Tăng cường năng lực của ngành tài chính trong tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, Viện Chiến lược và chính sách tài chính, Bộ Tài chính, 5/2018;
3 TS Nguyễn Thị Hiền, “Ngân hàng trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”,
Kỷ yếu Hội thảo khoa học Tăng cường năng lực của ngành tài chính trong tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, Viện Chiến lược và chính sách tài chính, Bộ Tài chính, 5/2018;
4 TS Vũ Đình Ánh, “Tài chính và Cách mạng công nghiệp 4.0”, Kỷ yếu Hội thảo khoa
học Tăng cường năng lực của ngành tài chính trong tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, Viện Chiến lược và chính sách tài chính, Bộ Tài chính, 5/2018;
5 Wolfgang Shroeder (2016), “Germany’s Industry 4.0 Strategy”;
6 Klaus Schwab (2016), “The Fourth Industrial Revolution”.
Ngày gửi bài: 17/5/2018
Ngày gửi lại bài: 27/5/2018
Ngày duyệt đăng: 02/06/2018
Trang 21TáC ĐỘNG CỦA FINTECH TỚI NGHIệP VỤ VÀ QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG TẠI VIệT NAM
PGS.TS lê Thanh Tâm 1
Viện Ngân hàng - Tài chính, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
TS lê Nhật hạnh
Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
ThS Nguyễn Việt Cường
Vietcombank Ba Đình
ThS lê Phong Châu
Viện Ngân hàng - Tài chính, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Tóm tắt
Sự phát triển của lĩnh vực công nghệ tài chính (Fintech) là kết quả của ứng dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 đang tác động mạnh mẽ tới mọi công tác quản trị và nghiệp vụ ngân hàng Fintech gồm năm lĩnh vực: e-KYC; Blockchain; thanh toán; Open APIs; và peer-to-peer lending Fintech tác động mạnh mẽ tới hệ sinh thái tài chính - ngân hàng, trong đó, hệ thống ngân hàng truyền thống chịu tác động nhiều nhất, cả về nghiệp vụ và quản trị Fintech tạo ra cả tác động tích cực như: tăng mức độ phổ cập tài chính, tăng tự động hóa, giảm chi phí giao dịch, giúp nâng cấp và cải tiến dịch vụ ngân hàng, phù hợp với nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng của khách hàng, giảm rủi ro Tuy vậy, các tác động tiêu cực là: đối thủ cạnh tranh trực tiếp của ngân hàng ở một số lĩnh vực, sự liên kết và lòng trung thành của khách hàng đối với ngân hàng bị suy giảm; rủi ro do tội phạm công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng tăng cao
Tại Việt Nam, khung pháp lý về Fintech đã bắt đầu được xây dựng và đang có những bước hoàn thiện nhất định Tiềm năng thị trường khách hàng sử dụng Fintech rất tốt với cơ cấu dân số vàng, tỷ lệ người dùng Internet và smart phone cao, trong khi giao dịch đầu tư cho start-up Fintech tăng trưởng mạnh mẽ Tuy vậy, các công ty Fintech tại Việt Nam hiện vẫn tập trung vào lĩnh vực thanh toán, các lĩnh vực khác còn khá ít, hoạt động Fintech còn kém phát triển, các tác động tích cực đang ở mức tiềm năng và nhỏ lẻ, trong khi một số tác động tiêu cực đã xuất hiện Để tận dụng được tiềm năng phát triển của Fintech Việt Nam, cần có sự tham gia của nhiều bên có liên quan trong hệ sinh thái
Fintech, đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước, các NHTM và công ty Fintech
Từ khóa: Blockchain, e-KYC, Fintech, ngân hàng, open API, peer-to-peer lending,
thanh toán
Trang 22giới Thiệu
Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 (industrie 4.0) trong thời đại Internet kết nối vạn vật (Internet of things) và trí tuệ nhân tạo (artificial intelligence - AI) có tốc độ đột phá công nghệ chưa có tiền lệ trong lịch sử, phạm vi ảnh hưởng rộng lớn trên toàn cầu và đang phá vỡ cấu trúc của hầu hết các ngành công nghiệp ở mọi quốc gia Sự phát triển của lĩnh vực công nghệ tài chính (Fintech) là kết quả của ứng dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 đang tác động mạnh mẽ tới mọi công tác quản trị và nghiệp vụ ngân hàng và người dùng cuối cùng Một số giao dịch Fintech đang thay đổi ngành ngân hàng một cách căn bản Lần đầu tiên trong lịch sử, vào ngày 14/5/2018, HSBC đã dùng công nghệ chuỗi khối (blockchain) trong giao dịch tài trợ thương mại quốc tế với Ngân hàng ING của Hà Lan để hỗ trợ Công ty Nông nghiệp và Thực phẩm Cargill, giảm thời gian giao dịch xuống 24 giờ, so với mức thông thường 10 ngày theo phương pháp truyền thống (Browne, 2018) Tại Trung Quốc, 900 triệu/tổng số 1,4 tỷ người hiện đang dùng QR code để thanh toán hàng ngày, kể cả lái xe taxi, trong khi từ chối nhận tiền mặt hoặc thẻ tín dụng (Banjo, 2018)
Fintech đã có các tác động rất lớn, cả tích cực và tiêu cực đến nghiệp vụ và quản trị
ngân hàng Bài viết này có mục tiêu: Thứ nhất, tổng hợp các vấn đề cơ bản về Fintech và tác động của Fintech đến nghiệp vụ - quản trị ngân hàng Thứ hai, phân tích, đánh giá
thực trạng Fintech và tác động của sự phát triển Fintech tới ngành ngân hàng Việt Nam trên các khía cạnh: khung pháp lý và các hoạt động xây dựng hệ sinh thái cho Fintech tại
Việt Nam; thực trạng hoạt động Fintech tại Việt Nam và các tác động Thứ ba, đề xuất
ba nhóm khuyến nghị với các cơ quan quản lý, các ngân hàng thương mại, và các công
ty Fintech, góp phần tối ưu hóa các tác động tích cực và giảm thiểu tác động tiêu cự của Fintech tới nghiệp vụ và quản trị ngân hàng Việt Nam trong thời gian tới
1 CáC vấn đề Cơ bản về FinTeCh và TáC động Của FinTeCh đến nghiệp vụ và quản Trị ngân hàng
1.1 Fintech và các cấu phần của Fintech
Hiện nay, có khoảng hơn 200 khái niệm khác nhau về công nghệ tài chính - Fintech (viết tắt của cụm từ financial technology), nhưng khái niệm được tổng hợp lại và thống nhất nhiều nhất là: Fintech là việc áp dụng các công nghệ đổi mới, sáng tạo và hiện đại cho lĩnh vực tài chính, nhằm mang tới cho khách hàng các giải pháp/dịch vụ tài chính minh bạch, hiệu quả và thuận tiện với chi phí thấp hơn so với các dịch vụ tài chính truyền thống (Mackenzie, 2015, Partrick, 2017) Theo Diễn đàn kinh tế thế giới WEF,
Trang 23Fintech chỉ tập trung vào việc ứng dụng công nghệ phát triển từ các công ty nhỏ, mới tham gia thị trường, không kể đến việc các công ty công nghệ lớn như Apple phát triển Apple Pay, hoặc các tổ chức tài chính lớn tự phát triển các dịch vụ ứng dụng công nghệ cao (WEF, 2017).
Có nhiều cách phân loại các lĩnh vực hoạt động chính của Fintech Theo Dorfleitner và các cộng sự (2017), Fintech bao gồm bốn mảng lớn: tài chính (gồm huy động vốn từ cộng đồng crowdfunding, tín dụng và bao thanh toán), quản lý tài sản (giao dịch xã hội,
sử dụng robot, quản lý tài chính cá nhân, dịch vụ ngân hàng và đầu tư), thanh toán (các hình thức thanh toán phi truyền thống, blockchain và tiền điện tử Cryptocurrencies); và các nội dung Fintech khác (bảo hiểm, công cụ tìm kiếm và so sánh, nền tảng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin) Theo Diễn đàn kinh tế thế giới WEF, những lĩnh vực hoạt động chính của Fintech gồm: (i) Thanh toán; (ii) Huy động vốn; (iii) Cho vay; (iv) Đầu
tư và quản lý tài sản; (v) Bảo hiểm; (vi) Blockchain và các ứng dụng; (vii) Các công nghệ hỗ trợ hoạt động tài chính - ngân hàng (Nhận biết khách hàng điện tử (e-KYC), thông tin/xếp hạng tín dụng ) (WEF, 2017) Theo DBS & EY (2016), Fintech gồm (i) dữ liệu tài chính và phân tích; (ii) phần mềm tài chính; (iii) các quá trình được số hóa; (iv) nền tảng cho thanh toán Theo ADB (2017), Fintech gồm năm lĩnh vực ưu tiên là: (i) định danh khách hàng điện tử e-KYC; (ii) Blockchain; (iii) thanh toán (Payment); (iv) công nghệ mã nguồn mở Open APIs; và (v) cho vay ngang hàng (peer-to-peer lending)
Nguồn: Tổng hợp từ ADB (2017), Dorfleitner và các cộng sự (2017), WEF (2017
hình 1: Các cấu phần cơ bản của Fintech
Trang 24Fintech chính là các cách thức mà các doanh nghiệp start-up tập trung vào công nghệ có thể phát triển các sản phẩm tài chính ngân hàng mới, hoặc cung cấp cách thức mới để tiếp cận khách hàng khi cung cấp các sản phẩm tài chính ngân hàng Fintech đã trở thành một phần trong ngành tài chính, tập trung vào các ứng dụng, quy trình, sản phẩm hoặc mô hình kinh doanh mới với một số hoặc nhiều dịch vụ tài chính bổ sung, dưới dạng quy trình trực tiếp giữa người cung cấp dịch vụ và khách hàng thông qua Internet
Fintech tác động mạnh mẽ tới hệ sinh thái tài chính – ngân hàng, bao gồm cung, cầu, hệ thống hỗ trợ và khung pháp lý Trong đó, hệ thống ngân hàng truyền thống chịu tác động nhiều nhất, cả về nghiệp vụ và quản trị
Nguồn: Tổng hợp từ ADB (2017), WEF (2017)
hình 2: Tác động của Fintech tới nghiệp vụ và quản trị ngân hàng
1.2 Tác động của Fintech tới nghiệp vụ và quản trị ngân hàng
Có nhiều nghiên cứu về tác động của Fintech tới hệ sinh thái tài chính ngân hàng Theo WEF (2017) và ADB (2017), Fintech có các tác động tới nghiệp vụ và quản trị ngân hàng như sau:
• Định danh khách hàng điện tử - E-KYC (Electronic Identity Authentication)
Đây là việc số hóa vấn đề KYC, một chính sách RegTech (công nghệ áp dụng trong quy định và pháp luật) được áp dụng trên toàn cầu trong lĩnh vực tài chính Các tổ chức
Trang 25tài chính cần biết và hiểu khách hàng cũng như các giao dịch tài chính của họ để quản lý rủi ro Các ngân hàng hoặc công ty tài chính nhà ở phải hiểu rõ khách hàng bằng cách sử dụng chương trình nhận diện khách hàng (Customer Identification Program - CIP) sử dụng nguồn văn bản, dữ liệu hoặc thông tin đáng tin cậy và độc lập để xác minh danh tính của khách hàng, địa chỉ tạm trú và thường trú, bản chất của cá thể kinh doanh, tình hình tài chính và các thông tin tương tự khác Thông thường, các giấy tờ yêu cầu cho quy trình tuân thủ KYC bao gồm giấy chứng minh, hộ chiếu và giấy phép lái xe Ngoài ra, việc theo dõi các giao dịch liên tục được gọi là “Customer Due Diligence” (CDD) theo dõi các giao dịch bất thường, các giao dịch tiền mặt và các giao dịch đáng ngờ (Menon, 2017)
Thông qua định danh khách hàng điện tử bằng các hình thức phi giấy tờ truyền thống như: sinh trắc học (mắt, khuôn mặt, vân tay) khách hàng, ảnh chụp bản mềm, e-KYC có thể giải quyết các vấn đề của khu vực tài chính truyền thống như sau (ADB, 2017; WEF, 2017):
(i) Giảm thời gian và chi phí nhân lực của việc nhận dạng khách hàng khi tới giao dịch, hoặc khi khách hàng chuyển sang một tổ chức tín dụng mới, khách hàng không phải khai lại nhiều lần một loại thông tin;
(ii) Giảm chi phí và thời gian điền các mẫu đơn, giấy tờ giao dịch thông qua điện tử hóa chứng từ của khách hàng;
(iii) Giảm chi phí công chứng, thuê luật sư đánh giá mức độ chính xác của các giấy tờ gốc và lưu trữ tại ngân hàng khi vay vốn, hoặc thực hiện các giao dịch; và
(iv) Giảm nguy cơ rửa tiền khi cơ sở hạ tầng về định danh khách hàng được các tổ chức tín dụng cùng chia sẻ
• Công nghệ chuỗi khối - blockchain
Blockchain là một công nghệ cho phép truyền tải dữ liệu một cách an toàn dựa vào hệ thống mã hoá vô cùng phức tạp, là cuốn sổ cái kế toán, trong đó tiền mặt được giám sát chặt chẽ Blockchain sở hữu tính năng vô cùng đặc biệt đó là việc truyền tải dữ liệu không đòi hỏi một trung gian để xác nhận thông tin Hệ thống Blockchain tồn tại rất nhiều nút độc lập có khả năng xác thực thông tin mà không đòi hỏi “dấu hiệu của niềm tin” Thông tin trong Blockchain không thể bị thay đổi và chỉ được bổ sung thêm khi có sự đồng thuận của tất cả các nút trong hệ thống Đây là một hệ thống bảo mật an toàn cao trước khả năng bị đánh cắp dữ liệu Ngay cả khi một phần của hệ thống Blockchain sụp đổ, những máy tính và các nút khác sẽ tiếp tục bảo vệ thông tin và giữ cho mạng lưới tiếp tục hoạt động (The Economist, 2015)
Trang 26Blockchain có thể giải quyết các vấn đề sau của khu vực tài chính truyền thống (ADB, 2017; WEF, 2017)
(i) Giảm thời gian và chi phí thực hiện các công đoạn của công tác nghiệp vụ và quản trị tài trợ thương mại, với rất nhiều yêu cầu xác thực và chứng từ phức tạp đang làm thủ công liên quan tới nhiều bên khác nhau trong các hợp đồng, đặc biệt là các hợp đồng tài trợ thương mại quốc tế
(ii) Tập trung hóa quản lý dữ liệu trong ngân hàng, từ đó giảm thiểu các rủi ro do nhầm lẫn của con người do thao tác, khống và hack dữ liệu
(iii) Giúp cập nhật dữ liệu liên tục, chia sẻ dữ liệu giữa các tổ chức tài chính tín dụng toàn cầu với chi phí thấp và đồng nhất nhằm định danh khách hàng và chống rửa tiền
(iv) Giảm chi phí giao dịch thông qua các trung gian và các quy trình giải quyết giấy tờ kéo dài, tăng mức độ tin tưởng giữa các bên giao dịch
• Thanh toán kỹ thuật số (Digital Payment)
Là giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt được xử lý thông qua các kênh kỹ thuật số Việc số hóa các dịch vụ tài chính liên quan đến sự thay đổi đột phá trong hoạt động thanh toán thông qua quy trình mua sắm trực tuyến và quy trình thanh toán tại các POS, là bước tiến hóa giúp thay đổi cách thức thanh toán truyền thống, từ tiền mặt sang thẻ tín dụng/thẻ ghi nợ sử dụng các ứng dụng trên điện thoại di động, ví kỹ thuật số (Janowitz, A & L Biagi, 2018)
Thanh toán có các tác động như sau tới nghiệp vụ và quản trị ngân hàng (ADB, 2017; WEF, 2017):
(i) Giúp ngân hàng thu thập thông tin đầy đủ hơn với các khách hàng khi mở tài khoản mới, đáp ứng các yêu cầu ngày càng nhiều về phòng chống rửa tiền và định danh khách hàng
(ii) Giảm chi phí thực hiện và lỗi thủ công đối với các giao dịch thanh toán các khoản vay trả góp, xử lý trực tiếp giữa khách hàng và tổ chức cho vay
(iii) Tăng mức độ tiếp cận các dịch vụ ngân hàng cơ bản, trong đó có các dịch vụ thanh toán đối với khách hàng ở vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn, nơi không có sự hiện diện của các phòng giao dịch, chi nhánh ngân hàng
(iv) Giảm chi phí mở các điểm giao dịch/chi nhánh của các tổ chức cung cấp dịch vụ ngân hàng ở khu vực nông thôn, nơi khối lượng giao dịch thấp
Trang 27(v) Giảm rủi ro, tăng mức độ tiếp cận và đáp ứng nhu cầu về dịch vụ chuyển tiền, ví dụ,
từ lao động nước ngoài gửi tiền cho gia đình họ sống ở nông thôn, hoặc từ cha mẹ
ở nông thôn hỗ trợ con em học tập trong thành phố
(vi) Tăng mức độ hiểu biết về nhận thức và kiến thức sử dụng dịch vụ tài chính thông qua các công cụ kỹ thuật số (Internet, điện thoại di động thông minh) của dân cư
• Chuẩn giao diện lập trình ứng dụng mở (Open APIs - Open application programming interfaces)
API là một “giao diện” giữa phần mềm với phần mềm, là cách để các phần mềm (hệ điều hành, ứng dụng, các module trong hệ thống doanh nghiệp…) giao tiếp với nhau và tận dụng năng lực của nhau Open APIs hoặc public APIs, là mã nguồn mở công cộng, cung cấp cho nhà phát triển quyền truy cập có lập trình vào ứng dụng phần mềm sở hữu độc quyền hoặc dịch vụ web (Proffitt, 2013) Open APIs tác động tới hoạt động và nghiệp vụ ngân hàng như sau:
(i) API tiêu chuẩn cho phép các công ty chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng thông qua chức năng ghi nợ trực tiếp
(ii) Hợp lý hóa/giảm thiểu số lượng giao diện và các yêu cầu tác động đến các nền tảng core banking của ngân hàng
• Cho vay ngang hàng (Peer-to-Peer Lending)
Là việc kết nối trực tiếp người đi vay và cho vay với nhau qua một nền tảng trực tiếp Người vay và người cho vay tự đăng ký trên nền tảng đó Đối với người đi vay, các thông tin cần cung cấp gồm: điểm tín dụng, mục đích sử dụng vốn, quy mô vốn cần vay, mức thu nhập hàng năm, một số thông tin cá nhân khác Trước khi cho phép các bên tham gia vào bất kỳ hoạt động cho vay hoặc vay nào, đơn vị quản lý nền tảng sẽ phải thẩm định cả hai bên (Briggman, S., 2015; The Economist, 2017)
P2P là cách thức cạnh tranh trực tiếp với hoạt động cho vay truyền thống của ngân hàng, do các điểm mạnh nổi trội như sau:
(i) Thời gian xử lý khoản vay nhanh chóng, cách thức đi vay và cho vay dễ dàng (online), lãi suất cố định
(ii) Bổ sung thêm kênh tiếp cận tín dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong điều kiện các doanh nghiệp này thường khó đáp ứng được các yêu cầu về tài sản bảo đảm, cũng như các tài liệu, minh chứng
Trang 28(iii) Cho phép các doanh nghiệp sử dụng hóa đơn, giấy chuyển hàng, giấy nhập hàng để
đi vay trên thị trường trực tiếp
(iv) Các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể sử dụng các sản phẩm “phần mềm doanh nghiệp” trực tuyến để giúp quản lý đơn đặt hàng, hóa đơn, kế toán và quản lý tiền mặt.(v) Tăng cường ứng dụng và phát triển các mô hình và/hoặc các thuật toán chấm điểm tín dụng với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như cá nhân, tận dụng các nguồn thông tin định tính và định lượng mới để thu thập và phân tích khách hàng
Như vậy, Fintech có các lợi thế do công nghệ mang lại so với ngân hàng, từ đó việc tạo ra các sản phẩm khác biệt, hướng tới khách hàng dễ dàng hơn so với ngân hàng truyền thống Fintech tạo ra cả tác động tích cực như sau:
- Tăng mức độ phổ cập tài chính thông qua tăng quy mô và số lượng giao dịch, giảm chi phí giao dịch, tăng mức độ tiếp cận của khách hàng đến dịch vụ ngân hàng mọi lúc mọi nơi, tăng mức độ tự động hóa
- Giảm chi phí giao dịch, giúp nâng cấp và cải tiến dịch vụ ngân hàng, phù hợp với nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng của khách hàng
- Công nghệ điều chỉnh giúp nâng cao chất lượng, tính tuân thủ và quản lý rủi ro của các quy trình tuân thủ, quy trình báo cáo, bảo vệ khách hàng, chống rửa tiền và tội phạm tài chính
- Giảm rủi ro ở mức nhất định cho ngân hàng, tạo sự khác biệt về sản phẩm và trải nghiệm của khách hàng
Tuy vậy, Fintech cũng có những tác động tiêu cực tới ngân hàng như (i) là đối thủ cạnh tranh trực tiếp của ngân hàng ở một số lĩnh vực như thanh toán, blockchain, cho vay; (ii) khi ngân hàng ứng dụng quá nhiều công nghệ, các giao dịch trực tiếp (face - to
- face) giảm xuống, sự liên kết và lòng trung thành của khách hàng đối với ngân hàng bị suy giảm; (iii) rủi ro do tội phạm công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng tăng cao
Do vậy, xu hướng thay vì cạnh tranh, chuyển sang hợp tác giữa ngân hàng và Fintech đang dần trở nên phổ biến Để tồn tại và phát triển, các công tin Fintech cần được tiếp cận nguồn vốn, quy mô mạng lưới, các nguồn thông tin của khách hàng, cũng như sự hỗ trợ, tư vấn về pháp lý của các ngân hàng (Nghiêm Thanh Sơn, 2018)
Trang 292 ThựC Trạng FinTeCh và TáC động Của sự pháT Triển FinTeCh Tới ngành ngân hàng việT nam
2.1 Về khung pháp lý và các hoạt động xây dựng hệ sinh thái cho Fintech tại Việt Nam
Các quy định pháp lý cơ bản cho sự phát triển Fintech tại Việt Nam đã bắt đầu manh nha từ 2010, tập trung vào nội dung về thanh toán, thể hiện trong Luật Ngân hàng Nhà nước 2010, Nghị định 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 về thanh toán không dùng tiền mặt và Thông tư 39/2014/TT-NHNN ngày 11/12/2014 quy định về trung gian thanh toán Cụ thể, các dịch vụ trung gian thanh toán chính gồm:
- Dịch vụ cung ứng hạ tầng thanh toán điện tử, gồm: (i) Dịch vụ chuyển mạch tài
chính; (ii) Dịch vụ bù trừ điện tử; (iii) Dịch vụ cổng thanh toán điện tử
- Dịch vụ hỗ trợ dịch vụ thanh toán, gồm: (i) Dịch vụ hỗ trợ thu hộ, chi hộ; (ii) Dịch
vụ hỗ trợ chuyển tiền điện tử; (iii) Dịch vụ Ví điện tử
Đến năm 2016, Quyết định 844/QĐ-TTg ngày 18/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025”, trong đó có Fintech được ban hành Mục tiêu của đề án này là (i) Tạo lập môi trường thuận lợi để thúc đẩy, hỗ trợ quá trình hình thành và phát triển loại hình doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng nhanh dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới; (ii) Khẩn trương hoàn thiện hệ thống pháp lý hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; thiết lập được Cổng thông tin khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia; hỗ trợ được 800 dự án, 200 doanh nghiệp khởi nghiệp, trong đó 50 doanh nghiệp gọi được vốn thành công từ các nhà đầu tư mạo hiểm, thực hiện mua bán và sáp nhập, với tổng giá trị ước tính khoảng 1.000 tỷ đồng (Chính phủ, 2016)
Tháng 3/2017, Ban Chỉ đạo về lĩnh vực Fintech của NHNN được thành lập Cho đến nay, Ban chỉ đạo đã và đang thực hiện các hoạt động cơ bản như sau: (i) tập trung nghiên cứu năm lĩnh vực trong Fintech (gồm công nghệ chuỗi khối - Blockchain, cho vay ngang hàng - P2P Lending, định danh khách hàng điện tử - e-KYC, giao diện chương trình ứng dụng mở - Open API, thanh toán kĩ thuật số - Digital Payment) làm cơ sở xây dựng khuôn khổ pháp lý theo hướng thử nghiệm cho Fintech (regulatory sandbox); và (ii) thực hiện phối hợp với MBI (ADB) tổ chức sự kiện Thử thách sáng tạo cùng công nghệ tài chính Việt Nam lần thứ nhất (Fintech Challenge Vietnam) cho các công ty Fintech trên toàn cầu
Trang 302.2 Thực trạng Fintech tại Việt Nam và tác động của Fintech tới nghiệp vụ và
quản trị ngân hàng
Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tiềm năng cho phát triển Fintech tốt nhất trên thế giới Theo Vietnam Digital Landscape (2018), trong tổng số 96 triệu dân, có tới 67% người đang dùng Internet, 57% đang sử dụng mạng xã hội một cách thường xuyên, và 73% sử dụng điện thoại thông minh trong số 146,5 triệu thuê bao toàn quốc Mức độ sử dụng Internet và mạng xã hội tăng trưởng ấn tượng (28% với Internet và 20% với mạng xã hội so với năm 2017) Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn dân số vàng, với độ tuổi trung bình 31 và 69.3% đang ở tuổi 15-60 (Dân số, 2018)
Các startups Việt nam trong những năm qua đã có những bước tiến nhảy vọt trong đầu tư nói chung, đầu tư vào Fintech nói riêng Theo Topica (2017), tổng giao dịch đầu
tư cho các startups Việt Nam đã tăng trưởng hết sức mạnh mẽ, từ 137 triệu USD năm
2015, lên tới 205 triệu USD năm 2016, và đạt mức 291 triệu USD năm 2017, với số giao dịch tăng gần gấp đôi (92 giao dịch) Trong đó, ngành Fintech đứng thứ ba với 8 giao dịch và tổng số tiền đầu tư là 57 triệu USD Tính đến hết 2017, giá trị giao dịch thị trường Fintech Việt Nam đã đạt mức 4,4 tỷ USD Theo đánh giá của ADB năm 2017, trong 48 công ty Fintech được điều tra phỏng vấn, có tới 22 công ty trong lĩnh vực thanh toán (chiếm 46%), trong khi các loại hình khác đều chiếm tỷ trọng nhỏ (cho vay: 3, tài chính cá nhân: 4, quản lý dữ liệu: 2, blockchain: 4)
Nguồn: ADB (2017)
hình 3: Các loại hình Fintech tại Việt Nam đến 2017
Trang 31Tính tới 30/5/2018, con số công ty Fintech tại Việt Nam đã tăng lên 80 công ty Các công ty Fintech và ngân hàng đều có những ưu điểm và hạn chế riêng biệt, do vậy, xu hướng hợp tác bổ trợ cho nhau để cung cấp dịch vụ ngân hàng tài chính có chất lượng trở nên vô cùng quan trọng Theo nghiên cứu nhanh của NHNN (2018), 72% công ty Fintech đang lựa chọn việc hợp tác với các ngân hàng, trong khi 14% quyết định chọn cạnh tranh với ngân hàng, và 14% còn lại chọn phát triển sản phẩm hoàn toàn mới.
Bảng 1: mối quan hệ cộng sinh giữa ngân hàng và Fintech
(-) Chậm thay đổi, phát triển và thiếu tính linh hoạt trong
ứng dụng công nghệ, dẫn tới chi phí giao dịch thường
cao và chưa kịp đáp ứng được nhu cầu từ khách hàng
(+) Có ưu thế về mặt đổi mới sáng tạo và khả năng ứng dụng công nghệ một cách linh hoạt và hiệu quả, giúp tiết giảm chi phí giao dịch và nâng cao trải nghiệm của khách hàng
(+) Có thế mạnh về mạng lưới khách hàng, nguồn nhân
lực giàu kinh nghiệm, hạ tầng công nghệ thông tin và
thanh toán được đầu tư lớn, cơ chế quản lý rủi ro tốt
(-) Ít kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, thiếu nền tảng khách hàng, hệ thống kiểm soát tuân thủ nội bộ, quản lý rủi ro còn yếu
Nguồn: Phạm Tiến Dũng (2018)
Do hoạt động của Fintech tại Việt Nam đang còn trong giai đoạn ban đầu, nên các tác động cụ thể chưa thực sự rõ nét, mà mới chỉ tập trung ở hoạt động thanh toán Hầu hết các công ty Fintech ở Việt Nam chủ yếu trong lĩnh vực thanh toán, do khung pháp lý về hoạt động này đã khá rõ ràng Có 27 công ty đã đăng ký với NHNN để thực hiện dịch vụ trung gian thanh toán Thanh toán di động trở thành xu hướng với các công nghệ như mã QR/tiếp xúc trường gần NFC/số hóa thông tin thẻ (tokenization)/Ví điện
tử Số lượng dịch vụ ví điện tử hiện đã tăng lên 24 Có 12 ngân hàng đã triển khai dịch vụ thanh toán QR Code với hơn 5.000 điểm chấp nhận thanh toán Số tổ chức triển khai dịch vụ thanh toán qua Internet tăng lên 78, trong khi có 41 tổ chức triển khai dịch vụ thanh toán điện thoại di động (Phạm Tiến Dũng, 2018)
Bảng 2: Thanh toán không dùng tiền mặt qua các kênh hiện đại tại Việt Nam
Số lượng giao dịch 2017 (triệu giao dịch)
So với 2016
Giá trị giao dịch 2017 (nghìn tỷ đồng)
So với 2016
Thông qua kênh điện thoại di động 131 +34% 390 +127%
Nguồn: Vụ Thanh toán, Ngân hàng Nhà nước (2018)
Trang 32Như vậy, trong năm 2017, quy mô và giá trị giao dịch của các hình thức thanh toán qua Internet và điện thoại di động đã tăng lên hết sức đáng kể, với sự đóng góp rất lớn của các công ty Fintech và sự nỗ lực của các NHTM trong việc ứng dụng Fintech Ngoài hoạt động thanh toán đã có những bước khởi sắc và tác động nhất định, các lĩnh vực khác của Fintech tại Việt Nam còn khá kém phát triển Cụ thể, việc áp dụng e-KYC trong nghiệp vụ và quản trị ngân hàng Việt Nam chỉ mới ở mức thử nghiệm, như kết hợp nhận diện khách hàng trực tiếp với nhận diện qua điện thoại hoặc camera Các hoạt động P2P lending, blockchain và Open APIs chưa có khung pháp lý thử nghiệm Các dịch vụ ứng dụng như thẩm định và chấm điểm khách hàng hay cung cấp dữ liệu lớn của khách hàng cho ngân hàng còn mang tính chất lẻ tẻ, do ngân hàng tự quyết định khi làm việc với Fintech Một số ví dụ điển hình trong hợp tác của Fintech với ngân hàng thời gian qua tại Việt Nam là:
- Các chương trình thử nghiệm (đã hoàn tất) về hợp tác giữa ngân hàng và công
ty Fintech trong phát triển các ví điện tử (Vietcombank – MOMO, MB – Viettel, PGBank – Petrolimex), sản phẩm Ví Việt của LienVietPostBank
- Vietinbank hợp tác với công ty Opportunity Network (ON) để cung cấp nền tảng số
cho kết nối doanh nghiệp khách hàng của Vietinbank với trên 15000 doanh nghiệp
ở 113 quốc gia là thành viên của ON
- VIB kết hợp với công ty Weezi ra mắt sản phẩm MyVIB Keyboard, một ứng dụng
chuyển tiền qua mạng xã hội
- Techcombank cùng với Fastacahs giới thiệu tính năng F@st Mobile, phương thức
chuyển tiền nhanh chóng quan Facebook và Google+
(Nguồn: ADB (2016), Nghiêm Thanh Sơn (2018), Nguyễn Thùy Dương (2018))
Tuy vậy, hoạt động Fintech tại Việt Nam còn kém phát triển, các tác động tích cực đang ở mức tiềm năng và nhỏ lẻ, trong khi một số tác động tiêu cực đã xuất hiện Một số ngân hàng còn ngại ngùng chưa mở rộng cửa hợp tác với Fintech Các quy trình thủ tục, đặc biệt là quy trình đấu thầu, hạn chế sự tham gia của Fintech do các yêu cầu về báo cáo tài chính Một vài công ty Fintech strong lĩnh vực blockchain và P2P lending đang tạo ra một số vụ việc xấu Cụ thể, công ty Modern Tech lừa đảo hơn 15.000 tỷ thông qua bán tiền ảo iFan và Pincoin cho 32.000 nhà đầu tư đầu năm 2018 (Thái Phương & Thy Thơ, 2018) Các lo ngại về việc bảo mật thông tin khách hàng và bảo vệ khách hàng tăng lên khi các vụ tội phạm công nghệ ngày càng nhiều (Lê Thanh Tâm & Phạm Thị Thu Thảo, 2018)
Trang 333 mộT số Khuyến nghị
Để tận dụng được tiềm năng phát triển của Fintech Việt Nam, tăng các tác động tích cực, giảm các tác động tiêu cực đến ngân hàng, cần có sự tham gia của nhiều bên có liên quan trong hệ sinh thái Fintech
- Ngân hàng Nhà nước cần: (i) nghiên cứu, học tập kinh nghiệm của một số quốc gia
trong khu vực và trên thế giới để xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý đối với một số vấn đề như mô hình ngân hàng đại lý (agent banking), e-KYC, tiền điện tử (e-money), bảo vệ khách hàng và quản lý dữ liệu khách hàng, quản trị rủi ro, phòng chống rửa tiền trong điều kiện áp dụng Cách mạng công nghiệp 4.0; (ii) xây dựng khuôn khổ pháp lý thử nghiệm (Regulatory Sandbox Framework) cho Fintech Một số quốc gia như Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc đã phát triển các hình thức Fintech này Việt Nam hoàn toàn có thể học tập các mô hình đó
- Bên cạnh đó, NHNN cần phối hợp với các bộ ngành có liên quan để thống nhất việc
ứng dụng Fintech trong các hoạt động quản trị ngân hàng như: Bộ Công An và Bộ
Tư pháp về vấn đề chấp nhận e-KYC và chia sẻ dữ liệu thông tin quốc gia về nhận dạng khách hàng, giảm thiểu tội phạm công nghệ cao; Bộ Kế hoạch và Đầu tư về vấn đề đấu thầu chọn công ty start-up Fintech khi thực hiện các dự án với các ngân hàng có vốn chủ sở hữu chính do Nhà nước nắm giữ; Bộ Tài chính về vấn đề chứng
từ điện tử và thuế khóa liên quan tới Fintech; Bộ Giáo dục về giáo dục tài chính trên phạm vi toàn quốc; Bộ Khoa học và Công nghệ về đảm bảo an ninh mạng và ứng dụng các công nghệ mới trong lĩnh vực tài chính ngân hàng
với Fintech, tận dụng lợi thế của Fintech để phát triển hoạt động và quản trị ngân hàng toàn diện hơn Ngân hàng có thể lựa chọn mua giải pháp của Fintech, liên doanh liên kết hoặc mở công ty con riêng về Fintech Cá thể hóa các thỏa thuận tiềm năng, tối ưu hóa sự đổi mới, sáng tạo của các công ty Fintech nhằm bổ sung cho các điểm chưa hoàn thiện của mình Lựa chọn các công ty Fintech phù hợp để không ảnh hưởng tới vị thế và niềm tin của khách hàng, luôn đảm bảo an toàn của ngân hàng và cả hệ thống; (ii) trước mắt, sử dụng Fintech để tập trung vào thị trường khách hàng bán lẻ, và thử nghiệm dần với các lĩnh vực khó hơn như tài trợ thương mại quốc tế; (iii) hiểu rõ thế mạnh và điểm yếu cũng như sự khác biệt của các công ty Fintech và của ngân hàng, đặc biệt là sự khác biệt về văn hóa (Fintech là mô hình nhanh gọn, chấp nhận rủi ro, trong khi ngân hàng là
mô hình thể chế chắc chắn, thận trọng, đặt mục tiêu an toàn lên hàng đầu), từ đó có các
Trang 34giải pháp dung hòa sự khác biệt để tối ưu hóa các điểm mạnh của Fintech; (iv) học tập bài học kinh nghiệm tốt và cả các bài học thất bại của các ngân hàng trên thế giới trong công tác phối hợp làm việc với Fintech, đặc biệt ở các nước ASEAN
lưới để tăng mức độ tiếp cận tốt hơn với khách hàng tiềm năng trong cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng điện tử; (ii) đảm bảo chất lượng dịch vụ cao, an toàn với chi phí hợp lý để thỏa mãn nhu cầu và xây dựng niềm tin với khách hàng; (iii) am hiểu định hướng, chiến lược, khẩu vị rủi ro, vị thế, thị phần của ngân hàng đối tác để phát triển sản phẩm phù hợp với sứ mệnh và giá trị cốt lõi của ngân hàng; (iv) sử dụng nhiều phương pháp PR hơn, đặc biệt là thông qua các chiến dịch quảng bá truyền miệng (word
of mouth) hoặc các câu chuyện (Story telling) để cho phép khách hàng biết về các sản phẩm tài chính ngân hàng; (iv) đào tạo các đại lý kỹ lưỡng hơn và lựa chọn các đại lý cẩn thận để tránh các rủi ro đạo đức và lựa chọn đối nghịch có thể xảy ra; và (v) cạnh tranh, nhưng đồng thời, hợp tác với ngành ngân hàng để tận dụng cơ sở khách hàng tiềm năng và thị trường của họ theo cơ chế hai bên cùng có lợi
Tài liệu Tham Khảo
1 ADB (2016), Moving towards greater financial inclusion: An assessment of the Vietnam case, Internal Report of ADB TA 8587-VIE on Supporting Microfinance
https://www.bloomberg.com/news/articles/2018-02-13/it-s-becoming-4 Briggman, S (2015), Oc 28, 2015, Crowdfunding vs Peer to Peer Lending, https://www.crowdcrux.com/crowdfunding-vs-peer-to-peer-lending/
5 Browne, R (2018), HSBC says it’s made the world’s first trade finance transaction using blockchain, https://www.cnbc.com/2018/05/14/hsbc-makes-worlds-first-trade-
finance-transaction-using-blockchain.html, Published 6:16 AM ET Mon, 14 May 2018
6 Chính phủ (2012), Nghị định 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 về thanh toán không dùng tiền mặt.
Trang 357 Chính Phủ (2016), Quyết định 844/QĐ-TTg ngày 18/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025”.
8 Dân số (2018), https://danso.org/viet-nam/#thap
9 DBS & EY (2016), “The Rise of Fintech in China: Redefining Financial Services”, A Collaborative Report by DBS & EY
10 Dorfleitner, G., L. Hornuf, M. Schmitt & M Weber (2017), Fintech in Germany,
16 Ngân hàng Nhà nước (2018), Điều tra khảo sát của NhNN về vấn đề hợp tác và
cạnh tranh của Fintech với Ngân hàng thương mại, Vụ Thanh Toán, 2018.
17 Nghiêm Thanh Sơn (2018), “Ngân hàng – Fintech: Sự bổ trợ hoàn hảo”, Đặc san Toàn cảnh Ngân hàng Việt Nam của Báo Đầu tư, số tháng 5/2018, trang 230-231
18 Nguyễn Thùy Dương (2018), “Ngân hàng và Fintech: Những mảnh ghép trong hệ sinh thái ngân hàng số”, Đặc san Toàn cảnh Ngân hàng Việt Nam của Báo Đầu tư, số tháng 5/2018, trang 216-217
19 Patrick, S (2017), “Taming the Beast: A Scientific Definition of Fintech”, Journal of Innovation Management, 4 (4): 32–54. ISSN 2183-0606
20 Phạm Tiến Dũng (2018), “Phát triển Fintech hướng tới thúc đẩy phổ cập tài chính
tại Việt Nam”, Bài trình bày tại Diễn đàn Fintech Việt Nam, 30/5/2018.
Trang 3621 Proffitt, B (2013), “What APIs Are And Why They’re Important”, Readwrite,
September 19, 2013, https://readwrite.com/2013/09/19/api-defined/
22 Quốc Hội (2010), Luật Ngân hàng Nhà nước 2010.
23 Thái Phương & Thy Thơ (2018), “Vỡ đường dây đa cấp 15.000 tỉ: Ham lời tiền
ảo, mất trắng tiền thật”, Báo Người Lao Động ngày 10/4/2018, https://nld.com.
that-20180409215911705.htm
vn/thoi-su/vo-duong-day-da-cap-15000-ti-ham-loi-tien-ao-mat-trang-tien-24 The Economist (2015), “Blockchains: The great chain of being sure about things”, The Economist 31 October 2015. https://www.economist.com/briefing/2015/10/31/the-
great-chain-of-being-sure-about-things
25 The Economist (2017), “What is peer-to-peer lending”, The Economist, October 02,
2017, lending/articleshow/60890857.cms
https://economictimes.indiatimes.com/wealth/borrow/what-is-peer-to-peer-26 Topica (2017), “Vietnam Startup Investment Insight: 2017 in Snapshot”, Topica Founder Institute, https://www.slideshare.net/topicafounderinstitute/vietnam-
startup-deals-insight-2017-87618940
27 Vietnam Digital Landscape (2018), “Vietnam Digital in 2018 in Vietnam”, https://www.slideshare.net/kiditer/vietnam-digital-landscape-2018
28 WEF (2017), “Beyond Fintech: How the Successes and Failures of New Entrants
Are Reshaping the Financial System”, Part of the Future of Financial Services Series – Prepared in collaboration with Deloitte, August 2017.
Ngày gửi bài: 20/5/2018
Ngày gửi lại bài: 04/6/2018
Ngày duyệt đăng: 05/06/2018
Trang 37CôNG NGHệ SỐ VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG - MỘT KHUôN KHỔ PHÂN TÍCH
TS lương Thái Bảo 1
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Tóm tắt
Khuôn khổ phân tích liên lĩnh vực được sử dụng chủ yếu dựa trên tiếp cận của kinh tế học vi mô liên quan đến hàng hóa thông tin Bên cạnh đó, các nghiên cứu về đổi mới sáng tạo trong kinh tế học, tài chính và đặc biệt là kinh tế công nghiệp mà tại đó, tiến bộ công nghệ được tạo ra do một phần động lực tăng trưởng nội bộ của công ty và một phần cạnh tranh trong ngành mà công ty hoạt động Các nền tảng phân tích dựa trên kinh tế học và tài chính giúp hiểu rõ hơn việc tại sao chuyển đổi số lại xảy ra trong ngành ngân hàng Ví dụ về mô hình ngân hàng nền tảng trong bối cảnh công nghệ tài chính đang là một xu hướng nóng giúp minh họa các phân tích trước
Từ khóa: Công nghệ số, chuyển đổi số, ngân hàng
1 giới Thiệu
Trong kỷ nguyên số, mô hình ngân hàng truyền thống không thể đứng yên Các ngân hàng sẽ phải thực hiện chiến lược chuyển đổi số để đáp ứng sự thay đổi nhanh của thị trường, khẩu vị của khách hàng và thông qua đó cạnh tranh với các ngân hàng khác Theo OECD (2017), để thúc đẩy chuyển đổi số, các quốc gia cần có các chính sách dựa trên bằng chứng liên quan tới tác động của chuyển đổi số đến tăng trưởng và năng suất
Do đó, việc phải có những phương pháp đo lường và phân tích tốt hơn là rất cần thiết Bài nghiên cứu này hướng tới việc tạo ra một khuôn khổ phân tích để hiểu rõ hơn logic của phát triển công nghệ số và tác động của nó lên hệ thống tài chính quốc gia có đặc điểm dựa trên ngân hàng như của Việt Nam, từ đó đưa ra các hướng nghiên cứu trong tương lai cho giới học thuật và các cơ quan làm chính sách
Bài nghiên cứu được tổ chức thành ba nhóm nội dung chính Phần một tập trung vào làm rõ tương tác giữa sự phát triển của ICT, internet với hàng hóa thông tin Nhờ có sự tương tác này, công nghệ số được đẩy mạnh vào mọi mặt của đời sống kinh tế một quốc gia, giúp hình thành nền kinh mới Phần hai thảo luận các khía cạnh của tiến bộ công nghệ, từ đổi mới sáng tạo tại cấp công ty, đến sự hình thành của thị trường dựa trên
1Email của tác giả: luongthaibao@neu.edu.vn
Trang 38công nghệ số mà tại đó các lực lượng cung và cầu tương tác với nhau Khi khuôn khổ công nghệ số hóa trở thành chuẩn mực mới, việc công ty hay ngành thực hiện chuyển đổi số là tất yếu Phần ba đi sâu vào ngành ngân hàng, nơi sự phát triển của công nghệ tạo ra một khuôn mẫu công nghệ mới gọi là Fintech Ví dụ về sự phát triển của mô hình ngân hàng nền tảng cho thấy một xu hướng mới đang bắt đầu tại các ngân hàng, trong khi mục tiêu hoạt động không thay đổi, thì công cụ mà họ sử dụng đã và đang phụ thuộc nhiều vào công nghệ số Phần kết luận đưa ra một số gợi ý cho các nghiên cứu trong tương lai.
2 iCT, inTerneT và hàng hóa Thông Tin
Trong hơn hai thập niên vừa qua, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và viễn thông (ICT) và internet giúp làm gia tăng nhanh số lượng các phần mềm (thông tin) và giảm mạnh chi phí phần cứng (cơ sở hạ tầng) Đây là hai cấu thành truyền thống để hình thành nên một hệ thống, thường được biết đến dưới cái tên hệ thống thông tin Hệ thống thông tin được liên kết với nhau tạo ra các mạng lưới và các mạng lưới được liên kết với nhau tạo ra mạng lưới toàn cầu như chúng ta đang thấy
Các sản phẩm của một hệ thống thông tin trong thế giới có internet thường được thể hiện dưới dạng trang web Theo Shapiro và Varian (1999) sách, phim, nhạc, tạp chí, bảng giá chứng khoán, cơ sở dữ liệu, trang web được coi là hàng hóa thông tin Các hàng hóa thông tin được sử dụng như hàng hóa cuối cùng hay tham gia vào việc hình thành việc tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ khác.2 Hàng hóa thông tin được tiêu dùng theo cách truyền thống đã tiến hóa nhờ sự phát triển của ICT và internet nhưng được cụ thể hóa bằng việc ứng dụng công nghệ số hay còn được gọi là số hóa Việc số hóa các hàng hóa thông tin mang lại lợi ích cho các bên và thúc đẩy sự phát triển của thị trường Trong các lợi ích có thể được kể ra, giảm chi phí giao dịch là một trong những yếu tố quan trọng thường được đề cập đến nhiều nhất Ví dụ, một công ty ở Mỹ có thể bán quyền xem từng bộ phim cho một người xem ở Việt Nam; hay một một cô gái ở Hà Nội có thể ngồi tại nhà để so sánh các mẫu váy thu đông đang được cung cấp bởi các nhãn hiệu khác nhau trên khắp lãnh thổ Việt Nam để ra quyết định mua Hàng hóa thông tin không chỉ thuộc về khu vực tư nhân mà nó còn được khu vực công sử dụng rộng rãi để đáp ứng nhu cầu của người dân cũng như yêu cầu quản lý của nhà nước Các mẫu biểu quản lý hành chính cung cấp trên các trang web của các cơ quan công hay việc kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp là những minh chứng dễ nhận biết nhất
2 Ví dụ đơn giản là việc sử dụng thông tin bảng giá chứng khoán như một cấu thành trong dịch vụ môi giới chứng khoán mà các công ty chứng khoán cung cấp cho các nhà đầu tư.
Trang 39Ứng dụng công nghệ số ở cấp vĩ mô và vi mô của nền kinh tế đã tạo ra nền kinh tế được gọi là nền kinh tế mạng lưới, mà trong nhiều tài liệu nghiên cứu cũng được gọi là nền kinh tế số hoặc nền kinh tế mới, hay ở những tài liệu cũ hơn là nền kinh tế thông tin Tại đó ICT và internet được coi là công nghệ có mục đích chung (General Purpose Technologies - GPT).3 Ở giai đoạn đầu của sự phát triển nền kinh tế mạng lưới này, các quốc gia đã chứng kiến việc hình thành các thị trường thông tin và công nghệ mà tại đó việc sử dụng, ứng dụng công nghệ trở thành chuẩn mực cho các cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ Trong nền kinh tế mạng lưới, ICT và internet được thể hiện dưới dạng tiến bộ công nghệ, và do đó tạo ra tích tụ về công nghệ giúp thúc đẩy tăng trưởng Carlsson (2004) chỉ ra rằng trong nền kinh tế mạng lưới, tác động của ICT và internet thông qua việc nền kinh tế thực hiện số hóa trong một tiến trình gọi là chuyển đổi số cần được nghiên cứu ở bốn khía cạnh gồm: i) thúc đẩy năng suất ở các ngành truyền thống, ii) tái cấu trúc ở cấp ngành, iii) tạo ra các thị trường hiệu quả hơn, và iv) tạo ra sự kết hợp mới,
từ đó cho ra các sản phẩm và ngành mới.4
Bốn khía cạnh trên có thể được cung cấp bằng chứng từ các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của ICT và internet lên nền kinh tế Đầu tiên có thể kể đến Niebel (2018), theo đó việc đầu tư cho ICT tại ba nhóm nước đang phát triển, mới nổi và phát triển giúp tạo ra phát triển kinh tế Tác động của việc sử dụng internet lên nền kinh tế bóng được nghiên cứu bởi Elgin (2013) Theo đó, mức độ sử dụng internet có thúc đẩy tăng trưởng năng suất mạnh hơn tại các quốc gia đang phát triển trong khi làm gia tăng hoạt động tránh thuế tại các quốc gia phát triển Gnangnon và Iyer (2018) nghiên cứu bộ số liệu của 175 nước cho giai đoạn 2000 - 2013 liên quan đến tiếp cận internet, khoảng cách địa lý và mức độ hội nhập vào thị trường dịch vụ toàn cầu và tìm thấy bằng chứng tiếp cận internet tại các quốc gia có khoảng cách địa lý xa với thị trường có thể hội nhập với thị trường tốt hơn Ở cấp vi mô, nghiên cứu của Huang và Sun (2016) chỉ
ra rằng internet đi trước toàn cầu hóa, tức là internet có tác động một chiều lên thương mại hàng hóa, dịch vụ và dịch chuyển vốn là các ngành quan trọng của kinh tế toàn cầu Ở khía cạnh khác, nghiên cứu của Zhang và Li (2018) chỉ ra rằng tiếp cận với internet
3 GPT được đưa vào khuôn khổ phân tích của lý thuyết về tăng trưởng, theo đó nó không chỉ giúp cải thiện ở trạng thái tĩnh hiệu quả và năng suất mà nó còn đóng góp vào tăng trưởng ở trạng thái động khi tạo ra các hoạt động và sản phẩm mới khi liên kết các cấp độ ứng dụng tại cấp vi mô (doanh nghiệp và cá nhân) để tạo ra tăng trưởng ở cấp vĩ mô Carlsson (2004) lập luận rằng triển vọng tiết kiệm chi phí của GPT mặc dù lớn, nhưng nó chỉ là một phần nhỏ và không nhất thiết là phần quan trọng nhất đối với tăng trưởng Phần quan trọng nhất của một GPT đó là thúc đẩy đổi mới sáng tạo ở cấp ngành cũng như toàn bộ nền kinh tế.
4 Chuyển đổi số được hiểu đơn giản là việc áp dụng các công nghệ số để tạo ra tác động căn bản lên mọi mặt của doanh nghiệp và xã hội Định nghĩa được đưa ra tại https://www.infoworld.com/article/3080644/it-man- agement/what-digital-transformation-really-means.html
Trang 40giúp các doanh nghiệp khởi nghiệp của Trung Quốc có được kết quả hoạt động tốt hơn Tại Hàn Quốc, Hwang và Shin (2017) sử dụng giá so sánh của các hàng hóa có liên quan đến ICT so với các hàng hóa khác để đo lường tác động của thay đổi ICT lên tăng trưởng của nền kinh tế.
Các nghiên cứu trên đây, với các cấp độ cũng như phạm vi và khía cạnh khác nhau của nền kinh tế, cho thấy xu thế chung của việc gia tăng dịch chuyển dữ liệu trong nền kinh tế mạng lưới Dữ liệu do đó đã trở thành một “hàng hóa” và sự dịch chuyển dữ liệu chính là việc hàng hóa thông tin đã tồn tại và dịch chuyển ở phạm vi toàn cầu, quốc gia, ngành và doanh nghiệp Điều này ngụ ý rằng hàng hóa thông tin sẽ có giá trị nào đó đối với các bên sử dụng khác nhau Khi đó hàng hóa thông tin sẽ được tạo ra, cung cấp, trao đổi trên một thị trường với tính chất công (chẳng hạn như cổng thông tin điện tử của một thành phố) hay tư (báo cáo phân tích từ cơ sở dữ liệu của doanh nghiệp) vốn có của thông tin
Các đặc điểm của hàng hóa thông tin được thảo luận chi tiết trong Shapiro và Varian (1999) Thứ nhất, cấu trúc chi phí để sản xuất hàng hóa thông tin khác với hàng hóa thông thường Sản xuất một hàng hóa thông tin thường đòi hỏi chi phí cố định cao và chi phí biên thấp Do đó, việc định giá hàng hóa thông tin sẽ phụ thuộc vào giá trị của nó đối với người sử dụng chứ không phụ thuộc vào chi phí sản xuất Thứ hai, vì hàng hóa thông tin có thể được sản xuất lại với chi phí thấp, nên việc sao chép nó cũng rất rẻ Để đảm bảo sự phát triển của hàng hóa thông tin doanh nghiệp hay chính phủ sẽ cần phải thực thi chính sách về quyền sở hữu trí tuệ Thứ ba, hàng hóa thông tin được gọi là hàng hóa trải nghiệm vì người sử dụng phải trải nghiệm để đánh giá giá trị của nó Việc tạo
ra các hàng hóa thông tin có giá trị với người sử dụng là yếu tố then chốt trong việc phát triển kinh tế của một quốc gia cũng như thúc đẩy kinh doanh của doanh nghiệp Thứ tư, hàng hóa thông tin có thể tạo ra hiệu ứng quá tải thông tin Vấn đề mà người sử dụng thông tin ngày nay phải đối mặt không chỉ đơn giản ở việc tiếp cận mà còn ở việc cùng lúc phải xử lý quá nhiều thông tin để đánh giá được giá trị của thông tin Do đó, bên tạo
ra thông tin và cung cấp chúng cần phải tạo ra giá trị cho thông tin bằng việc xác định vị trí, sàng lọc và truyền thông đến người sử dụng thông tin
Shapiro và Varian (1999) chỉ ra rằng hàng hóa thông tin có được các đặc điểm trên
do luôn gắn với công nghệ, là cơ sở hạ tầng, cho phép việc lưu trữ, tìm kiếm, phục hồi, sao chép, lọc, biến đổi, xem, truyền và nhận thông tin Hay nói khác, cơ sở hạ tầng công nghệ cho phép thông tin dễ được tiếp cận hơn và do đó có giá trị hơn.5
5 Theo Shapiro và Varian (1999) nền kinh tế thông tin liên quan đến cả thông tin và công nghệ đi kèm.