1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ

186 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 186
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nên bất cứ một quốc gia nào cũng quan tâm, chú trọng đến việc nghiên cứu, xây dựng ban hành các văn bản pháp luật quy định về trình tự, thủ tục tuyển dụng công chức nhằm xây dựng một đội

Trang 1

ĐÀO MẠNH HOÀN

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

HÀ NỘI - 2021

Trang 2

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

ĐÀO MẠNH HOÀN

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả

Đào Mạnh Hoàn

Trang 4

Trang

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 9

1.2 Các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước, những vấn đề cần tiếp tục

nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt Nam 23

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TUYỂN DỤNG

2.1 Khái niệm, nội dung, đặc điểm, vai trò của pháp luật tuyển dụng

2.2 Khái niệm hoàn thiện pháp luật và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn

thiện pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam 52

2.3 Các yếu tố bảo đảm hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức ở

2.4 Kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức của một số

nước trên thế giới và những giá trị tham khảo cho Việt Nam 65

Chương 3: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT

3.1 Quá trình hình thành, phát triển của pháp luật về tuyển dụng công chức

3.2 Thực trạng pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam và

Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ

4.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam 130

4.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam 137

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

HĐND : Hội đồng nhân dân QPPL : Quy phạm pháp luật UBND : Uỷ ban nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1: Mức thu phí tuyển dụng công chức 87 Bảng 3.2: Kết quả tuyển dụng công chức năm 2018-2020 99

Bảng 3.3: So sánh số lượng, chất lượng công chức năm 2008 và 2017 100

Bảng 4.1: Đề xuất mức thu phí tuyển dụng công chức trong thời gian tới 140

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 3.1: Kết quả tuyển dụng công chức của một số cơ quan, địa phương 99

Biểu đồ 3.2: So sánh các cuộc thanh tra từ năm 2003 - 2020 của Bộ Nội vụ 120

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời rất quan tâm đến việc xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức Người đã chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém” [90] Người đã cho chúng ta nhiều chỉ dẫn có ý nghĩa phương pháp luận khoa học để xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh Vì vậy, sau khi cách mạng thành công, nhằm xây dựng một nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Hồ Chủ Tịch đã quan tâm, chỉ đạo xây dựng và ban hành quy chế công chức, nhằm tuyển chọn, thu hút những nhân sỹ yêu nước ở trong nước, các trí thức, kiều bào từ nước ngoài vào làm việc trong bộ máy cơ quan nhà nước Công chức là người trực tiếp thực hiện công vụ, là người xây dựng các chế độ, chính sách, thực hiện các công việc quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và cũng là người làm cầu nối giữa nhà nước với người dân, trực tiếp tiếp xúc, giải quyết các công việc cho nhân dân Do đó, công chức có vị trí, vai trò rất quan trọng trong một quốc gia, góp phần ổn định tình hình chính trị và phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội của đất nước Nên bất cứ một quốc gia nào cũng quan tâm, chú trọng đến việc nghiên cứu, xây dựng ban hành các văn bản pháp luật quy định về trình tự, thủ tục tuyển dụng công chức nhằm xây dựng một đội ngũ công chức có trình độ chuyên môn, năng lực, kỹ năng làm việc để phục vụ cho

sự phát triển của đất nước

Sau hơn ba mươi năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta đã chủ động xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật quy định về công tác tuyển dụng, quản lý và sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, phát triển nền kinh tế - xã hội của đất nước và phục vụ nhân dân Công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật tuyển dụng công chức nói riêng đã

Trang 8

có những tiến bộ quan trọng Quy trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật được đổi mới Nhiều văn bản quy phạm pháp luật về công chức được ban hành đã tạo khuôn khổ pháp lý ngày càng hoàn chỉnh hơn để Nhà nước quản lý công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ công chức Nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa từng bước được đề cao và phát huy trong thực tiễn hoạt động xây dựng, ban hành pháp luật và thực thi pháp luật

về tuyển dụng công chức Trong những năm qua, Nhà nước đã tuyển dụng được đội ngũ công chức có trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức để phục

vụ trong nền công vụ, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, quản

lý điều hành của Nhà nước, đẩy mạnh phát triển kinh tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước, đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới của đất nước và hội nhập quốc tế ngày càng tập trung vào chiều sâu, tạo lên sức mạnh tổng hợp và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, tạo tiền đề để đất nước phát triển nhanh, mạnh và bền vững

Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về tuyển dụng công chức Việt Nam vẫn chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống Từ thực tế công tác tuyển dụng công chức tại một số Bộ, ngành và địa phương cho thấy các quy định trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về tuyển dụng công chức ở nước ta vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật chưa dự liệu hết các tình huống phát sinh trong thực tế, thiếu tính bao quát, đồng bộ và toàn diện Còn nhiều quy định thiếu chặt chẽ, tạo kẽ hở phát sinh tiêu cực trong quá trình tổ chức thực hiện

Có những quy định hết sức chung chung, mỗi địa phương, đơn vị hiểu một cách khác nhau, tạo nên sự thiếu đồng bộ, thống nhất trong vận dụng dẫn đến nhiều hệ lụy Cơ chế xây dựng, sửa đổi pháp luật tuyển dụng công chức còn nhiều bất cập và chưa được coi trọng đổi mới, hoàn thiện Mỗi lần sửa đổi, bổ sung được rất ít nội dung, không theo kịp những yêu cầu và sự phát triển của thực tiễn khách quan Trong giai đoạn đất nước đang trong quá trình phát triển

Trang 9

kinh tế - xã hội, đòi hỏi phải xây dựng một đội ngũ công chức có trình độ, năng lực và đạo đức, tận tụy phục vụ nhân dân, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, thu hút các nhà đầu tư, quản lý mọi mặt của đời sống xã hội Với các quy định pháp luật về tuyển dụng công chức hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu này Bên cạnh đó, với xu hướng nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, Việt Nam đang tích cực, chủ động hội nhập, nâng cao vị thế quốc gia Tuy nhiên, những yếu tố tích cực, tinh hoa trong hoạt động xây dựng, ban hành pháp luật về tuyển dụng công chức của các quốc gia phát triển chưa được quan tâm nghiên cứu, học tập đúng mức

Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém nêu trên là do chưa hoạch định được một chương trình xây dựng pháp luật về tuyển dụng công chức một cách toàn diện, tổng thể, có tầm nhìn chiến lược; việc đào tạo, nâng cao trình độ của các chủ thể có thẩm quyền xây dựng và ban hành pháp luật về tuyển dụng công chức và công tác kiểm tra, xử lý văn bản; rà soát, hệ thống hóa văn bản pháp luật về tuyển dụng công chức chưa theo kịp đòi hỏi của thực tiễn Việc hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam hiện nay không những xuất phát từ thực trạng công tác tuyển dụng công chức và yêu cầu xây dựng đội ngũ công chức trong thời kỳ đổi mới mà còn là yêu cầu xây dựng và hoàn thiện

hệ thống pháp luật về công chức, công vụ, trong đó có nội dung về tuyển dụng công chức

Để khắc phục những hạn chế nêu trên, đáp ứng các yêu cầu, mục tiêu, nhiệm vụ của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tạo cơ sở pháp lý

để thực hiện một cách có hiệu quả công tác tuyển dụng công chức trên phạm vi

cả nước, việc nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam” là rất cấp thiết, có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn

Nội dung nghiên cứu của luận án cung cấp những cơ sở lý luận và giá trị thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam trong thời gian tới

Trang 10

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích

Mục đích của luận án là trên cơ sở phân tích, làm sáng tỏ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam, đề xuất và luận chứng các quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam trong thời gian tới

2.2 Nhiệm vụ

- Trên cơ sở nghiên cứu về pháp luật tuyển dụng công chức ở một số nước trên thế giới, rút ra các bài học kinh nghiệm đối với hoàn thiện pháp luật

về tuyển dụng công chức ở Việt Nam

- Phân tích cơ sở lý luận về hoàn thiện pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt Nam như: khái niệm, nội dung, đặc điểm, vai trò của pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt Nam; các tiêu chí hoàn thiện pháp luật và các yếu tố ảnh hướng đến pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt Nam

- Đánh giá khách quan về thực trạng pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt Nam, chỉ ra được những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt Nam hiện nay

- Đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt Nam trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoàn thiện pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về thời gian: Luận án nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn

hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay (từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập đến nay)

- Phạm vi về không gian: Luận án nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật

tuyển dụng công chức ở Việt Nam

Trang 11

- Phạm vi về nội dung: Luận án chủ yếu tập trung nghiên cứu về

pháp luật tuyển dụng công chức (tuyển dụng mới), không tập trung vào quá trình bổ nhiệm vào ngạch công chức hay thi tuyển các chức danh lãnh đạo quản lý Luận án nghiên cứu về thực trạng pháp luật về tuyển dụng công chức hiện nay nhằm tìm ra những đặc điểm, hạn chế để đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam trong thời gian tới

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lê nin; tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chế độ công vụ, công chức và tuyển dụng công chức, xây dựng đội ngũ công chức trong giai đoạn hội nhập quốc tế và phát triển đất nước

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình viết Luận án, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu, như sau:

- Phương pháp thống kê

Luận án sử dụng phương pháp thống kê tại chương 3 (quá trình hình thành và thực trạng pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam) Trong quá trình thống kê, sử dụng số liệu về đội ngũ công chức, số liệu về kết quả tuyển dụng của một số cơ quan, tổ chức, địa phương trên cơ sở các tài liệu thứ cấp và tài liệu sơ cấp để có số liệu tổng hợp, từ đó minh chứng cho các lập luận trong phần thực trạng và kiến nghị, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam

- Phương pháp hệ thống

Phương pháp hệ thống được tác giả sử dụng tại chương 2 nhằm hệ thống, đánh giá khái quát tình hình nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài về quy định của pháp luật tuyển dụng công chức

Trang 12

- Phương pháp so sánh

Tác giả sử dụng phương pháp so sánh ở chương 1 (cơ sở lý luận về hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam) để so sánh, đối chiếu nhằm tìm ra sự khác biệt trong quy định pháp luật về tuyển dụng công chức giữa các quốc gia trên thế giới Từ đó, rút ra bài học, kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức vận dụng cho Việt Nam

Phương pháp so sánh còn được tác giả sử dụng ở chương 3 (quá trình hình thành và thực trạng pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam) Phương pháp so sánh được sử dụng để đối chiếu các quy định pháp luật về tuyển dụng công chức được kế thừa và phát triển giữa các giai đoạn từ năm

1945 đến nay Thông qua đó xác định được quá trình phát triển, những giá trị được kế thừa trong pháp luật về tuyển dụng công chức

- Phương pháp tổng hợp

Luận án sử dụng phương pháp tổng hợp tại chương 3 (quá trình hình thành và thực trạng pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam) Việc sử dụng phương pháp tổng hợp để tóm tắt nội dung sau mỗi phần luận giải, phân tích nhằm đưa ra những ý kiến đánh giá khái quát, tổng kết thực tiễn Ngoài ra, phương pháp tổng hợp được sử dụng trong phần tóm lược nội dung của từng mục, các kết luận của từng chương trong luận án

- Phương pháp phân tích

Luận án sử dụng phương pháp phân tích ở chương tổng quan và chương 2 (cơ sở lý luận về hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam) để nghiên cứu, phân tích, lý giải về tính cấp thiết cũng như ý nghĩa, tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu đặt ra trong bối cảnh hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam Từ đó, tác giả đi vào phân tích, làm rõ mục đích và nhiệm vụ nhằm định hướng nội dung nghiên cứu theo từng chương Phương pháp phân tích cũng được tối đa hóa công dụng của phương pháp này, để lý giải, làm sáng tỏ các giải pháp được luận án đề

Trang 13

xuất, kiến nghị áp dụng nhằm nâng cao tính khả thi, thuyết phục và có giá trị thực tiễn của luận án

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp

Phương pháp này được tác giả sử dụng ở chương 3 (quá trình hình thành

và thực trạng pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam) Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp để nghiên cứu quy định pháp luật của nhà nước ta qua các thời kỳ lịch sử về pháp luật tuyển dụng công chức

Từ đó, rút ra quy luật vận động và phát triển của pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam

5 Những đóng góp về khoa học của Luận án

Luận án là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống

và toàn diện về hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam nên

có một số đóng góp khoa học mới sau:

- Xây dựng khái niệm pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam,

hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam; chỉ ra được các nội

dung, đặc điểm, vai trò của pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam; xác định các tiêu chí và các yếu tố ảnh hưởng hoàn thiện pháp luật về tuyển

dụng công chức ở Việt Nam

- Luận án phân tích được các kết quả, hạn chế của thực trạng pháp luật

về tuyển dụng công chức ở Việt Nam và chỉ ra được nguyên nhân của thực trạng này

- Đề xuất được hệ thống quan điểm và giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam trong thời gian tới

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án

- Về mặt lý luận:

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm phong phú thêm kho tàng

lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, nhất là lý luận về hoàn thiện pháp luật

tuyển dụng công chức ở Việt Nam

Trang 14

- Về mặt thực tiễn:

Các kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa quan trọng, góp phần vào việc nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện các tiêu chí, điều kiện, phương pháp, cách thức, quy trình tuyển dụng công chức ở Việt Nam trong bối cảnh đẩy mạnh hoàn thiện pháp luật và cải cách công vụ, công chức

Luận án là tài liệu có giá trị tham khảo cho công tác nghiên cứu khoa học, học tập và giảng dạy môn Nhà nước và Pháp luật trong hệ thống các trường chính trị các tỉnh, thành phố và Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, trong các trường đại học chuyên ngành luật, khoa luật của các trường đại học, cao đẳng, trung cấp trong cả nước

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được kết cấu với 4 chương, 10 tiết

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN

ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

1.1.1.1 Các công trình nghiên cứu về công chức, công vụ và pháp luật

bộ, công chức, viên chức ở nước ta Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp về hoàn thiện chế độ công vụ, công chức, đặc biệt là nhóm các giải pháp kiến nghị

về hoàn thiện công tác tuyển dụng công chức ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính [130]

- Đề tài khoa học cấp bộ: “Nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện chế độ, chính

sách đối với cán bộ, công chức cơ sở”, Nguyễn Thế Vịnh (chủ nhiệm), Bộ

Nội vụ, 2005 Đề tài đã khái quát một số vấn đề lý luận về cán bộ, công chức

và chế độ tuyển dụng, chính sách đãi ngộ, sử dụng, quản lý đối với cán bộ, công chức ở cấp cơ sở Nêu ra thực trạng về chế độ tuyển dụng, chính sách sử dụng, quản lý và đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ở cấp cơ sở trong thời gian qua Đề xuất phương hướng, các giải pháp tiếp tục hoàn thiện chế độ tuyển dụng, chính sách sử dụng, đánh giá, quản lý, đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ở cấp cơ sở [139]

Trang 16

* Luận án

- Luận án tiến sĩ: “Hoàn thiện chế định pháp luật về công vụ, công chức

ở Việt Nam hiện nay” Lương Thanh Cường (tác giả), 2008 Đối tượng nghiên cứu của luận án là chế độ công vụ, công chức ở nước ta trước khi ban hành Luật Cán bộ, công chức và chủ yếu nghiên cứu về pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 và Nghị định số 117/2003/NĐ-CP của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức Tác giả đã đưa ra mối quan hệ của chế định pháp luật về công chức, công vụ với các chế định pháp luật khác và vai trò của chế định pháp luật công vụ đối với công cuộc cải cách hành chính nhà nước Bên cạnh đó, tác giả cũng đã đề ra các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của chế định pháp luật về công vụ, công chức và đưa ra kinh nghiệm hoàn thiện chế

độ pháp luật về công chức, công vụ của một số quốc gia phát triển trên thế giới

Từ đó, tác giả đã đề xuất ra các giải pháp nhằm hoàn thiện chế định pháp luật

về công chức, công vụ ở nước ta hiện nay [53]

* Sách

- Sách: “Công vụ, công chức nhà nước”, Phạm Hồng Thái (chủ biên),

Nhà xuất bản Tư pháp, 2004 Tác giả đã phân tích lý luận về công chức, công

vụ cũng như hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam quản lý về công vụ, công chức từ năm 1945 đến 2004 Bên cạnh đó, tác giả tập trung phân tích, đánh giá các văn bản pháp luật, các quy định của Việt Nam quy định về nền công vụ nước ta và công tác tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm, chế độ tiền lương, chế độ phụ cấp, công tác điều động, luân chuyển cán bộ, biệt phái công chức, đào tạo và bồi dưỡng, nâng ngạch, chuyển ngạch, khen thưởng và kỷ luật công chức [108]

- Sách: “Hoàn thiện pháp luật công chức, công vụ đáp ứng yêu cầu cải

cách hành chính nhà nước”, Tạ Ngọc Hải (chủ biên), Nhà xuất bản Tư pháp,

2013 Khái quát tình hình nghiên cứu và các mục tiêu, yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật công chức, công vụ; thực trạng pháp luật công chức, công vụ hiện hành; nguyên tắc, tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật công chức, công vụ; những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến pháp luật công

Trang 17

chức, công vụ; quá trình xây dựng, công cuộc phát triển của pháp luật về công chức, công vụ Việt Nam từ năm 1945 đến nay; phương hướng hoàn thiện pháp luật công chức, công vụ và một số giải pháp cơ bản hoàn thiện về pháp luật công chức, công vụ đáp ứng yêu cầu công tác cải cách hành chính Trong đó, tác giả đã chỉ ra những vấn đề còn tồn tại, vướng mắc trong quá trình tuyển dụng công chức và đề ra những phương hướng hoàn thiện các khâu trong quá trình tuyển dụng công chức ở Việt Nam [65]

- Sách: “Quản trị nhân lực thấu hiểu từng người trong tổ chức”, Nguyễn

Quốc Khánh (chủ biên), Nhà xuất bản Tài chính, 2010 Nội dung quyển sách

đã đề cập tới nghệ thuật tuyển dụng nhân sự Tuyển dụng nhân sự phải thật sự

có nghệ thuật riêng như: Các biện pháp được sử dụng để tuyển chọn nhân sự, cách thức để tuyển chọn được nhà lãnh đạo, quản lý tài năng và văn hóa trong tuyển dụng cán bộ, tổ chức nhân sự [83]

- Sách: “Những vấn đề cơ bản về hành chính nhà nước và chế độ công

vụ, công chức”, Viện Khoa học tổ chức nhà nước (chủ biên), Nhà xuất bản

Văn hóa Thông tin, 2014 Cuốn sách đã phân tích tuyển dụng công chức là quá trình lựa chọn, sáng lọc những người có đủ trình độ, tiêu chuẩn, điều kiện vào đội ngũ công chức Đây là một quá trình diễn ra một cách thường xuyên, liên tục và cần thiết để xây dựng và phát triển đội ngũ công chức Theo quy định của các văn bản pháp luật về tuyển dụng hiện nay, công tác tuyển dụng công chức phải dựa vào vào vị trí việc làm, nhiệm vụ chuyên môn và chỉ tiêu biên chế được cơ quan có thẩm quyền giao cho, những người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn, không phân biệt về dân tộc, tôn giáo, thành phần xuất thân, nếu có đủ tiêu chuẩn đều được đăng ký tham dự xét tuyển hoặc thi tuyển vào đội ngũ công chức [138]

1.1.1.2 Các công trình nghiên cứu về tuyển dụng công chức và pháp luật tuyển dụng công chức

* Đề tài khoa học

- Đề tài khoa học cấp bộ: “Các giải pháp bảo đảm công khai, minh bạch,

khách quan trong tuyển dụng công chức, viên chức ở nước ta”, Trần Thị Thơi

Trang 18

(chủ nhiệm), Bộ Nội vụ, 2018 Tác giả đã phân tích các vi phạm trong công tác tuyển dụng công chức, viên chức tại các bộ, ngành và địa phương do không đảm bảo các yêu cầu khách quan, minh bạch, công khai trong tuyển dụng công chức, viên chức Từ đó, tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm tính công khai, sự minh bạch, tính khách quan, công bằng trong việc tuyển dụng công chức, viên chức ở nước ta như: hoàn thiện xác định vị trí việc làm, hoàn thiện pháp luật công chức, công vụ, công tác tuyển dụng công chức, đổi mới nội dung và hình thức thi tuyển, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát tuyển dụng công chức, viên chức [113]

- Đề tài khoa học cấp cơ sở:“Nghiên cứu các giải pháp nâng cao chất lượng tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước”, Chu

Tuấn Tú (chủ nhiệm), Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ, 2014 Trên

cơ sở phân tích, làm sáng tỏ về cơ sở lý luận trong công tác tuyển dụng công chức và đánh giá thực trạng chất lượng tuyển dụng công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao về chất lượng tuyển dụng công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước ở nước ta trong giai đoạn hiện nay [128]

- Đề tài khoa học cấp cơ sở: “Tuyển dụng công chức: Lý luận và thực

tiễn”, Nguyễn Thị Hồng Hải (chủ nhiệm), Học viện Hành chính quốc gia,

2017 Tác giả khái quát vấn đề lý luận về tuyển dụng công chức ở Việt Nam và trên thế giới, từ đó đã nêu bật thực trạng công tác tuyển dụng công chức ở Việt Nam và đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện công tác tuyển dụng nhằm nâng cao trình độ, chất lượng của đội ngũ công chức Việt Nam [63]

* Bài đăng tạp chí

- Bài viết: “Tiếp tục đổi mới công tác tuyển dụng và đánh giá đội ngũ

công chức ở nước ta hiện nay”, Thạch Thọ Mộc (Tác giả), Thông tin Cải cách hành chính nhà nước, Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ, 2015 Tác giả phân tích về thực trạng công tác tuyển dụng công chức ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất các giải pháp đổi mới công tác tuyển dụng công chức Công tác tuyển dụng tại một số cơ quan, địa phương vẫn còn tình trạng tuyển dụng

Trang 19

nhằm giải quyết công việc cho con em, người thân quen của lãnh đạo Do đó,

dễ xảy ra tình trạng bố trí con người rồi tìm vị trí công việc để sắp xếp, chứ chưa chú trọng đến yêu cầu của vị trí công việc để lựa chọn con người Bên cạnh đó, tác giả cũng đề xuất việc ban hành văn bản quy định về công tác hợp đồng công chức đối với các cơ quan chưa thực hiện được tuyển dụng công chức, lại đang cần người làm việc Công tác tuyển dụng công chức phải có sự liên thông nhất định giữa những người là công chức với viên chức và người lao động ở ngoài doanh nghiệp, khu vực tư Nên, việc xây dựng vị trí việc làm cùng với bản mô tả công việc của mỗi vị trí việc làm hết sức cụ thể, chi tiết, đúng chức năng, nhiệm vụ, từ đó, mới có cơ sở để thực hiện công tác tuyển dụng công chức đáp ứng được yêu cầu của vị trí công việc được cấp có thẩm

quyền phê duyệt [91]

- Bài viết: “Trao đổi về công tác tuyển dụng công chức, viên chức hiện nay”, Tạ Đình Thi, Khuất Hữu Vân (Tác giả), Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, 2016 Các tác giả đã phân tích công tác tuyển dụng công chức, viên chức được xác định là khâu quan trọng có tính quyết định đến chất lượng nguồn nhân lực của cơ quan, đơn vị Trong thời gian gần đây, Bộ Nội

vụ đã nghiên cứu, đề ra nhiều giải pháp, biện pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyển dụng, trong đó có thi tuyển công chức theo phương thức trắc nghiệm trên máy tính [111]

- Bài viết: “Quy định về tuyển dụng công chức và một số giải pháp hoàn thiện”, Phạm Tuấn Doanh (tác giả), Tạp chí Tổ chức nhà nước, 2016 Bài viết

đã trình bày các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về công việc tuyển dụng công chức ở Việt Nam Từ đó, tác giả chỉ ra những khó khăn, hạn chế trong công tác tuyển dụng công chức: Công tác tuyển dụng công chức như bây giờ chưa có quy định chặt chẽ về mặt thời gian, thời gian chưa cố định nên mỗi địa phương, cơ quan, tổ chức lại có cách làm và quy định về thời gian thi tuyển khác nhau Do đó, thí sinh khó khăn trong việc tiếp cận thông tin để tham gia

dự tuyển công chức Quy định công chức sau khi tập sự phải được bổ nhiệm vào ngạch công chức Tuy nhiên, để được bổ nhiệm vào ngạch công chức phải

Trang 20

có chứng chỉ quản lý nhà nước ngạch chuyên viên Tuy nhiên, do điều kiện cơ quan chưa cử đi học hoặc chưa có lớp học Vì vậy, quy định này không khả thi trên thực tế Tác giả đã đề xuất các giải pháp như: Sửa đổi các quy định về pháp luật tuyển dụng công chức, lựa chọn nhưng công chức làm công tác tuyển dụng công chức có trình độ chuyên môn, năng lực kỹ năng làm việc, kinh nghiệm thực tế và đạo đức công vụ Tăng cường công tác thành tra, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện việc tuyển dụng công chức tại các bộ, cơ quan ngang bộ, ngành và địa phương [56]

- Bài viết: “Một số vấn đề về đổi mới tuyển dụng công chức ở Việt Nam”, Nguyễn Thị Hồng Hải (tác giả), Tạp chí Tổ chức nhà nước, 2017 Tác giả đã nêu ra thực trạng công tác tuyển dụng công chức Việt Nam hiện nay với những hạn chế, vướng mắc: theo quy định của Luật Cán bộ, công chức, công tác tuyển dụng đội ngũ công chức chủ yếu thực hiện theo hình thức, cách thức là thi tuyển với quy trình hết sức chặt chẽ Tuy nhiên, đối với những vị trí việc làm, công việc đơn giản thì cũng phải áp dụng quy trình tuyển dụng hết sức tốn kém

về chi phí và thời gian, công sức Nội dung đề thi, môn thi, cách thức thi tuyển quy định hết sức chung chung, không phù hợp với các chuyên ngành có phạm

vi hẹp Do đó, rất khó đánh giá được trình độ, năng lực thực tế của thí sinh Để giải quyết được các vấn đề trên, tác giả đã đề xuất ra các giải pháp: hoàn thiện danh mục vị trí việc làm, xây dựng bản mô tả công việc và khung năng lực gắn liền với từng vị trí để làm căn cứ cho việc tuyển dụng công chức Tiến hành ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả các khâu của quy trình tuyển dụng Đổi mới nội dung, hình thức, quy trình ra đề thi và chấm thi công chức [64]

- Bài viết: “Hoàn thiện quy định pháp luật về tuyển dụng công chức bảo

đảm tính thống nhất, khách quan, minh bạch”, Hoàng Mai (tác giả), Tạp chí Quản lý nhà nước, 2019 Bài viết đã chỉ ra những hạn chế trong công tác tuyển dụng ở Việt Nam hiện nay: nguyên tắc tuyển dụng là kết hợp giữa chỉ tiêu biên chế được giao với vị trí việc làm Tuy nhiên nội dung này khó thực thi trên thực

tế vì xác định vị trí việc làm là một công việc mới và rất khó ở nước ta Cách thức ra đề thi hiện không có quy định rõ ràng về nội dung các câu hỏi, các câu

Trang 21

hỏi chủ yếu kiểm tra về học thuộc lòng, không kiểm tra được tư duy logic, sáng tạo, cảm xúc, đạo đức… của thí sinh Do đó, theo tinh thần của nghị quyết trung ương Đảng về kiểm định chất lượng đầu vào công chức Bộ Nội vụ cần nghiên cứu, sửa đổi Luật Cán bộ, công chức, xây dựng và ban hành văn bản quy định về kiểm định chất lượng đầu vào đối với công chức, xây dựng tổ chức kiểm định độc lập trực thuộc Bộ Nội vụ, tạo nên sự khách quan, minh bạch đối với công tác kiểm định chất lượng công chức của các bộ, ngành và địa phương Ngoài ra, tác giả cũng đưa ra kiến nghị việc kiểm định chất lượng đầu vào đối với công chức không làm phát sinh môn thi và thủ tục hành chính nhằm giảm thiểu thời gian, chi phí cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân [87]

1.1.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài

1.1.2.1 Các công trình người Việt Nam nghiên cứu về pháp luật tuyển dụng của nước ngoài

* Đề tài khoa học

- Đề tài khoa học cấp bộ:“Mô hình tuyển dụng công chức trên thế giới”,

Đào Thị Thanh Thủy (chủ nhiệm), Bộ Nội vụ, 2017 Chủ nhiệm đã làm rõ cơ

sở lý luận về mô hình tuyển dụng công chức trên thế giới bằng việc nghiên cứu, làm sáng tỏ quan niệm và phạm vi công chức trên thế giới, đặc điểm lao động công chức, khái niệm tuyển dụng công chức, mục đích, nguyên tắc, chủ thể có thẩm quyền trong việc tuyển dụng công chức Các yếu tố cấu thành mô hình tuyển dụng công chức gồm: Quan niệm về việc làm và người lao động trong khu vực công nói chung và khu vực hành chính nhà nước nói riêng; cách tiếp cận khác nhau trong quản lý công vụ, công chức; chế độ pháp lý đối với công chức

và hoạt động công vụ; tổ chức, đơn vị được trao nhiệm vụ, thẩm quyền tuyển dụng công chức Tác giả đưa ra ba mô hình tuyển dụng hiện đang được các quốc gia trên thế giới áp dụng: Mô hình tuyển dụng công chức theo hệ thống công vụ chức nghiệp; mô hình tuyển dụng công chức theo hệ thống vị trí việc làm và mô hình tuyển dụng công chức hỗn hợp Tác giả đã tìm hiểu, nghiên cứu về mô hình tuyển dụng công chức hiện đang sử dụng ở Việt Nam gồm: Thể chế tuyển dụng,

cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tuyển dụng công chức, các công cụ sử dụng

Trang 22

trong tuyển dụng công chức, quy trình tuyển dụng công chức và đánh giá về mô hình tuyển dụng công chức ở Việt Nam Từ đó, tác giả đã đánh giá về mô hình tuyển dụng công chức ở Việt Nam, đồng thời đề xuất đổi mới mô hình tuyển dụng công chức ở Việt Nam theo vị trí việc làm [125]

- Đề tài khoa học cấp cơ sở: “Nghiên cứu kinh nghiệm tuyển dụng và đánh giá công chức một số nước trên thế giới”, Nguyễn Thu Huyền (chủ

nhiệm), Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ, 2006 Chủ nhiệm đã nghiên cứu về kinh nghiệm tuyển dụng của các nước trên thế giới Các quốc gia trên thế giới đã áp dụng đa dạng các hình thức tuyển dụng công chức Phương pháp tuyển dụng chủ yếu là hình thức thi tuyển cạnh tranh, công bằng

và tự do ở các nước phát triển như: Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản… Việc ra đề thi được các quốc gia rất chú trọng Một số quốc gia xây dựng ngân hàng câu hỏi,

đề thi, nội dung các câu hỏi bao gồm kiểm tra về năng lực, kiến thức chuyên môn, đạo đức công vụ, chỉ số cảm xúc, tư duy logic Với nhiều vòng thi, điểm chung của các quốc gia khi quyết định lựa chọn thí sinh ở vòng thi phỏng vấn Việc phỏng vấn thí sinh được thực hiện công khai, với nội dung câu hỏi đa dạng, phong phú, không nặng về kiểm tra kiến thức, lý thuyết như ở Việt Nam Quy trình tuyển dụng của các quốc gia trên thế giới hết sức minh bạch, công khai hóa và tiến hành ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin vào quá trình tuyển dụng công chức: Thông báo kế hoạch tuyển dụng công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, trang thông tin điện tử của cơ quan tuyển dụng Thời gian tuyển dụng hết sức linh hoạt, tạo điều kiện thuận lợi cho các thí sinh cũng như cơ quan tuyển dụng nhằm lựa chọn được nhưng thí sinh ưu tú nhất và phù hợp nhất Từ đó, tác giả đã rút ra bài học kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam như xây dựng khung pháp lý, minh bạch hóa các thủ tục, quy trình tuyển dụng, xác định hình thức, phương pháp, cách thức, nội dung thi tuyển tuyển dụng, công tác tổ chức thi tuyển dụng công chức [82]

* Hội thảo khoa học

- Hội thảo: “Conference - Workshop on examination and testing in the

Asean civil service - Hội thảo về kiểm tra và thử nghiệm tuyển dụng công chức

Trang 23

trong các cơ quan hành chính ASEAN”, Ủy ban Công vụ Philipin (chủ trì),

Philippin, 2014 Thành phần tham dự là Ủy ban Công vụ, Bộ Nội vụ của 10 nước Asean, Hàn Quốc và Nhật Bản Tại Hội thảo, đại diện các quốc gia đã chia sẻ kinh nghiệm tuyển dụng và đổi mới phương pháp tuyển dụng công chức trong mỗi quốc gia Trong đó, một xu hướng tuyển dụng mà các quốc gia đang hướng tới đó là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào tuyển dụng công chức, việc thí điểm tuyển dụng công thức bằng hình thức thi trắc nghiệm các môn thi trên máy tính, đảm bảo tính công khai, minh bạch và tiết kiệm chi phí cho cơ quan tuyển dụng và thí sinh Các nước Nhật Bản, Hàn Quốc và Philippin đã ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin và thay đổi phương thức tuyển dụng công chức Việc đổi mới cách thức tuyển dụng công chức bắt đầu từ việc hoàn thiện văn bản quy định về công tác tuyển dụng công chức, thay đổi cách thức tổ chức tuyển dụng, phương thức tuyển dụng sử dụng hình thức trắc nghiệm trên máy tính, cách thức ra đề thi Đối với đề thi có sự thay đổi từ hình thức coi trọng kiểm tra, sát hạch lý thuyết sang kiểm tra về chỉ số cảm xúc, về logic, đạo đức công vụ Việc công khai quy trình, thủ tục, cách thức tuyển dụng trên mạng điện tử, sử dụng hệ thống ngân hàng câu hỏi thi tuyển đã giúp cho các quốc gia tuyển dụng được những công chức có chất lượng, hạn chế được tiêu cực trong quá trình tuyển dụng [132]

- Hội thảo: “Chia sẻ kinh nghiệm tổ chức thi tuyển công chức tại Nhật Bản”, Bộ Nội vụ (chủ trì), phối hợp với cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế

Nhật Bản (JICA) tổ chức, 2016 Việc thi tuyển công chức của Việt Nam những năm qua đã được chú trọng nghiên cứu như xây dựng ngân hàng đề thi, ứng dụng tin học để đảm bảo thực hiện một cách triệt để hơn nữa nguyên tắc khách quan, minh bạch, công bằng và yêu cầu cao về chất lượng trong thi tuyển công chức Tuy nhiên, trong quá trình triển khai những quy định mới của pháp luật

về tuyển dụng công chức và quá trình kiểm tra tại các bộ, ngành và địa phương thì việc thi tuyển công chức của Việt Nam cần phải tiếp tục được nghiên cứu để hoàn thiện và đổi mới nhằm thực hiện tốt hơn nữa Hiện nay, việc xây dựng ngân hàng đề thi mới chỉ dừng ở mức độ đề án của Bộ Nội vụ, chưa được chính

Trang 24

thức triển khai áp dụng Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tuyển dụng vẫn chưa được áp dụng bắt buộc Trong văn bản pháp luật vẫn quy định song song hai hình thức: Thi tuyển công chức trên máy tính và trên giấy

Do đó, văn bản pháp luật quy định về tuyển dụng công chức vẫn chưa tương ứng với việc xây dựng Chính phủ điện tử và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

mà nhà nước Việt Nam đang xây dựng [23]

* Bài đăng tạp chí

- Bài viết: “Tuyển chọn công chức theo năng lực tại một số quốc gia trên thế giới”, Phạm Đức Toàn (tác giả), Tạp chí Tổ chức Quản lý nhà nước, 2017 Theo tác giả, Tuyển dụng theo năng lực là việc tập trung vào việc lựa chọn công chức theo năng lực nhằm đáp ứng yêu cầu của từng vị trí việc làm Thay

vì quan tâm vào thành tích, bằng cấp của thí sinh, nhà tuyển dụng cần chú trọng vào các phương pháp để kiểm tra năng lực làm việc trên thực tế của thí sinh Nguyên tắc và tiêu chuẩn trong tuyển chọn công chức theo năng lực phải dựa trên nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt giới tính, xuất thân, khuynh hướng chính trị, tôn giáo, văn hóa Việc xây dựng chuẩn năng lực để tuyển chọn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động công vụ, chất lượng của người được tuyển dụng Tuyển chọn công chức theo năng lực căn cứ vào các nội dung: Kiểm tra, đánh giá năng lực ứng dụng văn bản pháp luật vào giải quyết công việc; khả năng tư duy logic; kiểm tra về nhân cách, đạo đức của thí sinh, thái

độ làm việc; kiểm tra năng lực lập kế hoạch và trình bày của thí sinh thông qua phần thảo luận chính sách để đối chứng, kiểm tra Hình thức tuyển chọn các quốc gia áp dụng là hình thức cạnh tranh công khai, không phân biệt quốc tịch, thành phần tôn giáo, dân tộc nhằm lựa chọn những người ưu tú nhất, phù hợp nhất để làm công chức Tác giả cũng liên hệ ở Việt Nam hiện nay việc tuyển dụng áp dụng theo Luật Cán bộ, công chức và các văn bản hướng dẫn Việc áp dụng tuyển dụng theo vị trí việc làm gặp nhiều khó khăn Do các cơ quan, địa phương còn lúng túng trong việc xây dựng hệ thống bản mô tả công việc, khung năng lực cho các vị trí việc làm Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam cần

Trang 25

thực hiện công việc tuyển dụng công chức phải dựa trên nguyên tắc kết hợp giữa tiêu chuẩn chức danh, yêu cầu công việc với vị trí việc làm [127]

- Bài viết: “Tuyển dụng công chức theo vị trí việc làm - Lý luận và thực tiễn trên thế giới”, Đào Thị Thanh Thủy (Tác giả), Tạp chí Tổ chức nhà nước,

2017 Theo tác giả nghiên cứu, mỗi quốc gia đều có một mô hình tuyển dụng công chức riêng biệt, gắn với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của mình Tuy nhiên, các quốc gia khi xây dựng mô hình tuyển dụng đều căn cứ vào ba yếu tố: Một là cách tiếp cận việc làm của công chức - cơ sở để xây dựng quy định về tuyển dụng; hai là chế độ pháp luật quy định về tuyển dụng công chức và cơ quan, đơn vị có thẩm quyền thực hiện việc tuyển dụng công chức; ba là phương pháp, cách thức và bộ công cụ dùng để tuyển dụng công chức Tác giả đã nêu ra đặc điểm của mô hình tuyển dụng công chức theo

vị trí việc làm Hệ thống vị trí việc làm được thiết kế theo những yêu cầu công việc, tiêu chuẩn nhất định phù hợp với tính chất của từng công việc Tiêu chí tuyển dụng phải dựa trên năng lực làm việc phù hợp với yêu cầu cụ thể của từng vị trí việc làm thông qua bảng mô tả công việc của cơ quan tuyển dụng Việc trả lương phải căn cứ vào yêu cầu, tính chất, mức độ phức tạp của công việc và sử dụng công cụ hợp đồng lao động Bên cạnh đó, tác giả đã nghiên cứu kinh nghiệm tuyển dụng theo vị trí việc làm ở một số nước trên thế giới: Hoa Kỳ, Pháp, Singapore, Nhật Bản và Trung Quốc Tuyển dụng công chức theo vị trí việc làm ở Việt Nam hiện nay là một quá trình chuyển đổi từ mô hình công vụ chức nghiệp sang mô hình vị trí việc làm đòi hỏi phải có một lộ trình cụ thể để áp dụng phù hợp [125]

- Bài viết: “Cạnh tranh trong tuyển dụng công chức ở một số nước khu vực châu Á và kinh nghiệm cho Việt Nam”, Lê Thị Thảo Linh (tác giả), Tạp chí Quản lý nhà nước, 2019 Tác giả đã đưa ra kinh nghiệm tuyển dụng một số nước châu Á: Nhật Bản thành lập cơ quan nhân sự quốc gia - cơ quan nhà nước độc lập thực hiện công việc thi tuyển công chức cho các ủy ban, bộ và cơ quan nhà nước theo nguyên tắc cạnh tranh, thống nhất Kỳ thi công chức trải qua ba vòng: Xét hồ sơ, thi viết và thi phỏng vấn Trung Quốc thực hiện việc tuyển

Trang 26

dụng công chức thông qua kỳ thi tuyển dụng Kỳ thi tuyển dụng được chia làm hai vòng: Thi viết và vấn đáp Hình thức thi rất đa dạng gồm các bài thi: Trắc nghiệm, kiểm tra kiến thức cơ bản, chuyên môn, trắc nghiệm kỹ năng phân tích tổng hợp và kỹ năng thực tiễn Thí sinh phải trải qua phần thi viết, ứng viên tham gia phần thi vấn đáp, kiểm tra khả năng phản ứng, tâm lý và kỹ năng thảo luận theo nhóm Đối với Sing-ga-po, việc tuyển dụng công chức được giao cho

Ủy ban Dịch vụ công Sing-ga-po (PSC) và phân quyền mạnh mẽ hơn cho các

bộ, ngành thực hiện công tác tuyển dụng và bổ nhiệm nhân sự Đối với tuyển dụng công chức mới và công chức bậc thấp, Chính phủ sẽ giao cho Hội đồng nhân sự phụ trách và phân quyền cho các bộ, ngành chủ động thực hiện tuyển dụng công chức theo kế hoạch được Chính phủ phê duyệt Bài viết đúc rút một

số bài học, giá trị tham khảo, kinh nghiệm cho Việt Nam: Tăng cường tính công khai, minh bạch, nâng cao trình độ tuyển dụng cho thí sinh, nâng cao chất lượng tuyển dụng công chức; kết hợp giữa thi trắc nghiệm, thi viết và phỏng vấn trực tiếp như cách làm của Trung Quốc; yêu cầu về bảo đảm sự công bằng

và minh bạch cho các thí sinh tham gia tuyển dụng công chức Tăng cường việc phân cấp, phân quyền mạnh hơn nữa cho các bộ, ngành và địa phương trong công tác tuyển dụng công chức [85]

* Luận văn

- Luận văn thạc sĩ: “A comparative study of Vietnamese and Japanese

central government recruitment systems - Lessons learned for the Vietnamese national public servants recruitment system - Một nghiên cứu so sánh các hệ thống tuyển dụng chính quyền trung ương của Việt Nam và Nhật Bản - Bài học kinh nghiệm cho các công chức hệ thống tuyển quốc gia Việt Nam”, Mai Anh Duy (tác giả), Trường Đại học Meji Nhật Bản, 2014 Tác giả đã nghiên cứu về

hệ thống tuyển dụng công chức của Việt Nam trước và sau khi có Luật Cán bộ, công chức năm 2008 Đối với việc tuyển dụng công chức ở Việt Nam trước khi

có Luật Cán bộ, công chức năm 2008 ban hành và có hiệu lực, các cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức tuyển dụng chủ yếu theo nhu cầu của công việc, có giai đoạn thì tuyển dụng nhiều, có giai đoạn thì không tuyển, có giai

Trang 27

đoạn thực hiện chính sách tinh giản biên chế Hình thức tuyển dụng chủ yếu là xét tuyển, xét chuyển ngành Hình thức thi tuyển áp dụng chưa phổ biến và chưa thành nền nếp, công tác tuyển dụng không theo kế hoạch, chủ yếu dựa vào số lượng, chỉ tiêu biên chế được giao Chất lượng và trình độ của thí sinh chưa đồng đều, chưa cao Do đất nước ta trong giai đoạn chiến tranh và vừa mới kết thúc chiến tranh Từ sau khi Luật Cán bộ, công chức và các văn bản hướng dẫn Luật được ban hành đã tạo hành lang pháp lý cho việc tuyển dụng công chức đi vào nề nếp, thực hiện thống nhất trên phạm vi cả nước, đã góp phần tuyển dụng được những công chức có trình độ chuyên môn và năng lực là việc Tác giả đã nghiên cứu về hệ thống tuyển dụng công chức của Nhật Bản từ năm 1986 đến nay Từ đó tác giả cũng rút ra những bài học kinh nghiệm để đổi mới công tác tuyển dụng công chức ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay [59]

1.1.2.2 Các công trình người nước ngoài nghiên cứu về pháp luật tuyển dụng công chức ở nước ngoài

* Sách

- Sách: “The essential issues of management - Những vấn đề cốt yếu của quản lý” của tác giả Harold Koontz, Cyril O”Donnell và Heinz Weihrich do dịch giả Vũ Thiếu dịch, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật xuất bản năm

1992, nội dung đề cập hoạt động quản lý nguồn nhân lực trong khu vực công, trong đó có nói về vai trò quan trọng của công tác tuyển dụng nhân sự, cách thức, quy trình tuyển dụng lao động, quy trình thành lập một tổ chức đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội, cơ sở khoa học để tính định mức biên chế, biện pháp quản lý nguồn nhân lực để nâng cao hiệu suất làm việc trong các tổ chức [67]

- Sách: “Improving public administration in a competitive world - Cải thiện hành chính công trong thế giới cạnh tranh”, của tác giả Ngô Đức Mạnh và các dịch giả khác dịch, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, năm 2003 Tác phẩm

đề cập tới vấn đề quan trọng trong một tổ chức đó là đội ngũ công chức Đội ngũ công chức có thực sự mạnh, làm việc có hiệu quả mới góp phần xây dựng lên những chính sách quản lý xã hội tốt trong bối cảnh thế giới cạnh tranh về mọi mặt Để đội ngũ công chức hoạt động có hiệu quả, tổ chức cần cải thiện

Trang 28

chính sách thu hút nguồn nhân lực từ phía khu vực tư và có những chính sách đãi ngộ về tiền lương, thu nhập, môi trường làm việc, thăng tiến thì mới phát huy hết khả năng của đội ngũ công chức, giúp tổ chức phát triển [70]

- Sách “Administrative management theory and practice - Quản lý hành

chính lý thuyết và thực hành”, Michel Amiel (chủ biên), nói về khái niệm, vai trò,

các phương pháp quản trị hành chính trong khu vực công cũng như hướng dẫn cách thực hành các phương pháp quản lý hành chính trong các tổ chức Tác giả cũng chỉ ra phương pháp nhằm nâng cao kỹ năng, năng lực quản lý cho đội ngũ công chức bằng cách tăng cường công tác đào tạo về chuyên môn, bồi dưỡng nội

bộ, tự đào tạo, tăng cường, đa dạng các hình thức khen thưởng và kỷ luật để đảm bảo tính nghiêm minh của quản lý hành chính trong các tổ chức [89]

* Bài viết

- Bài viết: “The Federal Legislative Process, or How a Bill Becomes a Law- Quy trình lập pháp liên bang, hoặc cách một dự luật trở thành luật” đăng tải trên trang website: https://www.naeyc.org/our-work/public-policy-advocacy/federal-legislative-process-or-how-bill-becomes-law nói về Quy trình lập pháp liên bang hoặc làm luật ở Hoa Kỳ Bất kỳ thành viên của Quốc hội có thể giới thiệu pháp luật Dự luật sau đó được chuyển đến một ủy ban hoặc nhiều ủy ban có thẩm quyền đối với vấn đề chính của pháp luật Chủ tịch ủy ban liên quan xác định liệu sẽ có phiên điều trần về dự luật hay không Ủy ban

sẽ viết một báo cáo của dự luật, mô tả ý định của pháp luật, các phiên điều trần trong ủy ban, tác động đối với các luật và chương trình hiện hành Sau đó dự luật được tranh luận ở Hạ viện và Thượng viện, sau đó tiến hành bỏ phiếu thông qua dự luật Sau khi báo cáo hội nghị đã được cả Hạ viện và Thượng viện phê chuẩn, dự luật cuối cùng được gửi đến Tổng thống Nếu Tổng thống phê chuẩn luật pháp và nó trở thành luật [150]

- Bài viết: “Making laws in Japan - a legislative review in Japan - Làm luật ở Nhật Bản - đánh giá lập pháp ở Nhật Bản”, Tsuji Yuichiro (tác giả), Đại học Tsukuba tại https://www.researchgate.net/publication/324670902_Law_ Making_Power_in_Japan_-_Legislative_Assessment_in_Japan, 2016 Tác giả

Trang 29

nói về quyền lực làm luật duy nhất được trao cho nghị viện Hạ viện được thành lập để kiểm duyệt quyền lực của Thượng viện và làm việc để hạn chế, loại bỏ các dự luật không cần thiết Tòa án Tối cao Nhật Bản đã tổ chức xử lý khoảng 10 đạo luật vi hiến kể từ năm 1947 Trước một chính sách mới, Nội các

và nghị viện phối hợp để xây dựng và thông qua dự luật Các chính sách được xây dựng trên cơ sở nguyện vọng của nhân dân, được Chính phủ tiếp thu, tiến hành nghiên cứu thảo luận tại các hội thảo khoa học và thông qua nhiều con đường lấy ý kiến góp ý của người dân để tìm được sự đồng thuận của Chính phủ và người dân trong một chính sách mới, đảm bảo tính khả thi cao trước khi trình ra nghị viện [151]

- Bài viết:“The role of scientists, experts and other stakeholders in the

law making process in Singapore - Vai trò của các nhà khoa học, chuyên gia và

các bên liên quan trong quá trình làm luật ở Singapore”, Robert Beckman (tác

giả), Đại học Quốc gia Singapore Bài viết nói về các nhà khoa học, chuyên gia

và những người khác ngoài Chính phủ sẽ đóng một vai trò rất quan trọng về việc chuẩn bị đề xuất luật tại Singapore Trong một số trường hợp vì lợi ích công cộng, một hình thức ủy ban sẽ được thành lập để tư vấn cho Chính phủ trong một lĩnh vực cụ thể Trong các trường hợp được Chính phủ mời tư vấn, các chuyên gia khu vực tư được lấy ý kiến là không chính thức Những người được lấy ý kiến tư vấn về đề xuất dự án luật hay chính sách nào đó, họ sẽ không nhận thù lao từ Chính phủ Họ tình nguyện làm việc và tự hào khi được Chính phủ yêu cầu hỗ trợ về lĩnh vực mà họ có chuyên môn và kinh nghiệm nhất [149]

1.2 CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC, NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM

1.2.1 Những vấn đề đã được nghiên cứu

Qua tổng hợp, thống kê cho thấy, các công trình nghiên cứu có liên quan đến pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam có nhiều loại, với nhiều

Trang 30

cấp độ, tính chất khác nhau, từ đề tài cấp nhà nước, đề tài cấp bộ, luận văn, luận án, sách, bài viết đăng trên các tạp chí, trang website Những vấn đề đã được nghiên cứu như sau:

Các công trình này chủ yếu nghiên cứu những nội dung về sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, nâng ngạch, chuyển ngạch công chức, chế độ tiền lương, quy trình bổ nhiệm, luân chuyển, đánh giá, điều động, biệt phái, khen thưởng, kỷ luật và chế độ hưu trí đối với công chức; lịch sử hình thành và quá trình phát triển đội ngũ công chức ở Việt Nam; pháp luật về công chức ở Việt Nam nói chung, các quy định pháp luật về tuyển dụng công chức trên thế giới Nội dung quy định về pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt Nam hiện nay chỉ được đề cập, nêu ra một cách khái quát và khá sơ sài, chủ yếu giới thiệu về quy trình, cách thức, phương pháp tuyển dụng công chức Phần lớn các kết quả nghiên cứu trên đều thực hiện trước khi Luật Cán bộ, công chức năm 2008 được ban hành và được sửa đổi năm 2019 Do vậy, một số quan điểm, chủ trương mới chưa được đề cập như: thực hiện chế độ thi tuyển công chức theo nguyên tắc cạnh tranh, ứng dụng tin học, công nghệ thông tin trong thi tuyển công chức, sử dụng ngân hàng đề thi tuyển dụng công chức, thực hiện kiểm định chất lượng đầu vào Vì vậy, việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt Nam trong thời gian tới chưa được đề tài, công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu nào đề cập đến, đặc biệt là từ khi Hiến pháp 2013 có hiệu lực

Trong các công trình nghiên cứu về pháp luật tuyển dụng công chức nói chung, các tác giả đã tập trung, khai thác, làm rõ những một số khía cạnh liên quan đến pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam, cung cấp những thông tin có giá trị tham khảo cho luận án, để thực hiện khảo cứu và đánh giá được thực trạng pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Một số kết quả nghiên cứu sẽ gợi mở, cung cấp thông tin để luận án tham khảo trong quá trình nghiên cứu Tuy nhiên, nhìn một cách tổng quan, các công trình này chưa đề cập nhiều và làm rõ những vấn đề lý luận và

Trang 31

thực tiễn về hoàn thiện pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

1.2.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án

Kết quả nghiên cứu của các công trình trên đã gợi mở, cung cấp thông tin hữu ích, phương pháp nghiên cứu, tiếp cận vấn đề trong nhiều nội dung của luận án.Để đạt được mục tiêu của luận án là nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam dưới góc độ của chuyên ngành lý luận và lịch sử về nhà nước và pháp luật, luận án kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học nêu trên và tiếp tục nghiên cứu những nội dung:

* Về lý luận, luận án tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ:

- Khái niệm công chức, tuyển dụng công chức để đi đến nghiên cứu khái niệm pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt Nam, chưa được bất cứ công trình nghiên cứu nào đưa ra quan điểm nhất quán

- Cơ sở lý luận của hoàn thiện pháp luật tuyển dụng công chức, bao gồm: nội dung, đặc điểm, vai trò của pháp luật tuyển dụng công chức; khái niệm hoàn thiện pháp luật tuyển dụng công chức; các tiêu chí và các yếu tố bảo đảm hoàn thiện pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt Nam; kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật tuyển dụng công chức của một số nước trên thế giới có giá trị tham khảo đối với Việt Nam

* Về thực tiễn, luận án cần tập trung làm rõ:

- Nghiên cứu, đánh giá khái quát quá trình hình thành và phát triển pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay

- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt Nam theo các tiêu chí hoàn thiện pháp luật tuyển dụng công chức và từ đó xác định nguyên nhân của thực trạng đó

- Từ việc phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện pháp luật tuyển dụng công chức, luận án đề xuất các quan điểm và giải pháp khả thi bảo đảm hoàn thiện pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt Nam trong thời gian tới

Trang 32

1.2.3 Giả thiết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu từ phần tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án, luận án đặt ra giả thuyết nghiên cứu như sau:

Việt Nam đã có những quy phạm pháp luật về tuyển dụng công chức, tuy nhiên hệ thống các qui định pháp luật hiện hành về vấn đề này vẫn còn nhiều bất cập, là nguyên nhân dẫn đến hiệu quả hoạt động tuyển dụng công chức ở nước ta còn nhiều hạn chế Để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức ở nước ta, cần nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của vấn

đề này,từ đó tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật có liên quan, đặc biệt là các quy định pháp luật về điều kiện tuyển dụng công chức, qui trình, thủ tục tuyển dụng công chức, góp phần tuyển dụng được đội ngũ công chức có năng lực, đạo đức đáp ứng các yêu cầu mới của nền công

vụ Việt Nam

Luận án cần trả lời một số câu hỏi nghiên cứu như sau:

(1) Cơ sở lý luận của hoạt động tuyển dụng công chức ở Việt Nam là gì? (2) Pháp luật về tuyển dụng công chức hiện hành của Việt Nam phù hợp đến mức độ nào với yêu cầu thực tiễn tuyển dụng công chức?

(3) Cần sửa đổi, bổ sung những nội dung nào để pháp luật tuyển dụng công chức trở thành cơ sở pháp lý hữu hiệu của hoạt động tuyển dụng công chức ở Việt Nam?

Tiểu kết chương 1

Từ những kết quả nghiên cứu của chương 1 cho thấy đến nay đã có khá

nhiều công trình khoa học nghiên cứu được các nhà khoa học, các tác giả trong nước và ngoài nước công bố liên quan đến hoàn thiện pháp luật công chức, công vụ ở nước ta Trong đó, các công trình khoa học tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến chế độ chính sách tiền lương đối với công chức, nâng cao chất lượng thực thi công vụ, hoàn thiện các tiêu chuẩn về ngạch, bậc công chức, hoàn thiện pháp luật công chức, công vụ, đổi mới phương pháp đánh giá

Trang 33

công chức Có rất ít công trình khoa học nghiên cứu về pháp luật tuyển dụng công chức Ngày nay, tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội của đất nước ta đã phát triển, trình độ dân trí được nâng cao, một số chủ trương, quan điểm mới về công vụ, công chức chưa được các công trình khoa học trước đây nghiên cứu, cập nhật như: việc xác định danh mục vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức tại cơ quan, tổ chức; các cơ quan ở Trung ương và địa phương đã chủ động nghiên cứu, thực hiện ứng dụng tin học vào thi tuyển dụng công chức, thi nâng ngạch công chức

Mặc dù chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam dưới góc độ chuyên ngành lý luận và lịch sử về Nhà nước và pháp luật một cách chuyên sâu, nhưng kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trong thời gian qua có ý nghĩa và giá trị tham khảo rất quan trọng cho Luận án Qua đó, Luận án xác định những khoảng trống, những nội dung còn thiếu, bỏ ngỏ để có hướng tiếp tục đi sâu phân tích, nghiên cứu Trên cơ sở luận giải về cơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện pháp luật tuyển dụng công chức, tác giả xác định các quan điểm mang tính khoa học và toàn diện, từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể, đồng bộ và phù hợp với điều kiện, tình hình của nước ta nhằm hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam

Tác giả đã đặt ra những giả thuyết nghiên cứu và các câu hỏi nghiên cứu cần được giải đáp một cách thỏa đáng khi tổ chức triển khai thực hiện mục đích

và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án

Trang 34

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM 2.1 KHÁI NIỆM, NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM

2.1.1 Khái niệm tuyển dụng công chức và pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt Nam

2.1.1.1 Khái niệm công chức

Ở Việt Nam, thuật ngữ công chức được sử dụng khi thực dân pháp chính thức cai trị nước ta Thực dân Pháp đã xây dựng tổ chức chính quyền trên lãnh thổ Việt Nam, để bộ máy này hoạt động, chính quyền thực dân Pháp đã sử dụng công chức người Pháp và công chức là người bản địa Do đó, những người ở chính quyền phong kiến được chính quyền Pháp tiếp tục sử dụng vẫn được gọi là quan lại

Ngày 20/5/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký và ban hành Sắc lệnh số 76/SL có nội dung quy định về “Quy chế công chức” Theo quy định của Sắc lệnh này, công chức là những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định Trong quy chế này chỉ đề cập tới công chức là những người làm việc trong các

cơ quan của chính phủ, còn những người làm việc trong các cơ quan thuộc chính quyền địa phương thì chưa được quy định [49]

Trong các bản Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, không có cụm

từ công chức Ngày 25/5/1991 Hội đồng Bộ trưởng đã ký Nghị định số HĐBT về công chức nhà nước Theo đó, công chức nhà nước được quy định:

169-“Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương; ở trong

Trang 35

nước hay ngoài nước; đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách Nhà nước cấp”

Tại Hiến pháp năm 1992 quy định những người làm việc trong các cơ quan nhà nước bằng cụm từ: “cán bộ, viên chức Nhà nước” Khái niệm công chức được hiểu là viên chức nhà nước

Ngày 26/02/1998, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số 02-/CTN về cán bộ, công chức:“ Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này

là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, làm việc trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, thẩm phán và kiểm sát viên, quân nhân chuyên nghiệp…” Căn cứ Pháp lệnh này, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức.Công chức được quy định: “Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, làm việc trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp” Công chức được quy định rộng rãi gồm tất cả những người làm việc trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập Không quy định tách bạch giữa các đối tượng là cán bộ, công chức và chưa quy định rõ vị trí của cán

bộ được bầu cử và các chức danh chuyên môn ở cấp xã

Căn cứ vào tình hình, yêu cầu thực tế của hoạt động quản lý nhà nước ở địa phương về công tác tổ chức cán bộ, ngày 29/4/2003, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức Pháp lệnh quy định cán bộ, công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế, được bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ, người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; cấp tỉnh; cấp huyện và cấp xã Pháp lệnh sửa đổi năm 2003 đã bổ sung đối tượng cán bộ, công chức cấp xã Quy định này đã khiến cho số lượng cán

Trang 36

bộ, công chức ở nước ta tăng lên rất nhiều nhưng đã khắc phục được khoảng trống trong công tác quản lý đội ngũ cán bộ, công chức

Trước yêu cầu của công tác quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, xu hướng hội nhập quốc tế, Bộ Nội vụ đã tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định số 115/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 quy định về chế độ công chức dự bị; Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 quy định việc tuyển dụng, sử dụng

và quản lý cán bộ, công chức Theo đó, công chức: “là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, được giao làm nhiệm

vụ, công vụ trong các cơ quan, tổ chức nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội” Lần đầu tiên, nhà nước ta đã ban hành văn bản, trong đó phân biệt giữa cán bộ, viên chức và công chức Những ai làm việc trong cơ quan nhà nước từ cấp xã trở lên là công chức, những người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập là viên chức Như vậy, đã có sự thu hẹp phạm vi công chức

Tuy nhiên, nhiều nội dung của Pháp lệnh cán bộ, công chức 1998 và năm 2003 đã thể hiện sự bất cập, hạn chế Do đó, ngày 13/11/2008, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Luật Cán bộ, công chức

2008 Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, có một luật quy định về cán bộ, công chức Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức 2008:

Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [100]

Trang 37

Qua quá trình tổ chức thực hiện, Bộ Nội vụ đã tổng hợp ý kiến góp ý từ các Bộ, ngành, địa phương trình Chính phủ và Quốc hội ban hành Luật số 52/2019/QH14 ngày 25/11/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức, trong đó quy định về công chức như sau:

Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [103]

2.1.1.2 Khái niệm tuyển dụng công chức

Ở mỗi quốc gia có quy định riêng về tiêu chuẩn, điều kiện, nguyên tắc, phương pháp, nội dung, quy trình, cách thức tuyển dụng công chức tuỳ thuộc vào điều kiện, đặc điểm của nền hành chính, đặc điểm của thị trường lao động, thể chế chính trị Đa số các quốc gia trên thế giới sử dụng ba hình thức tuyển dụng sau: tuyển dụng trực tiếp qua hồ sơ của ứng viên; tuyển dụng thông qua thi tuyển và tuyển dụng thông qua giới thiệu, phân bổ Tuy nhiên, trên thế giới

có một số quốc gia tuyển dụng công chức qua một số tổ chức tuyển dụng nhân lực độc lập, mục đích tìm kiếm những người tài giỏi, phù hợp với yêu cầu của từng vị trí việc làm của cơ quan, tổ chức

Tuyển dụng công chức là khâu đầu tiên trong quy trình quản lý đội ngũ công chức trong hệ thống công vụ Sau khi được tuyển dụng, công chức sẽ được

tổ chức bố trí phân công công việc, tiến hành tập sự, học việc, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng làm việc Việc đào tạo, bồi dưỡng giúp cho công chức có kỹ năng làm việc, hình thành kinh nghiệm, làm việc được tốt hơn, có cơ hội phát triển, thăng tiến trong công vụ hoặc được

Trang 38

điều động, biệt phái, luân chuyển đến các công việc, vị trí phù hợp cũng như được bố trí thi nâng ngạch, chuyển ngạch khi công chức có đủ điều kiện và có thể bổ nhiệm giữ các vị trí lãnh đạo trong tổ chức; được đánh giá, khen thưởng,

kỷ luật, nghỉ hưu theo quy định của pháp luật về công vụ, công chức

Theo quy định của Sắc lệnh số 76-SL, tuyển dụng công chức là việc tuyển chọn người có thành tích, kinh nghiệm và trình độ văn hóa vào làm việc trong các cơ quan nhà nước thông qua kỳ thi, xét theo học bạ hay văn bằng và theo

đề nghị của Hội đồng tuyển trạch Quy định trong sắc lệnh có sự linh động, không cứng nhắc mà mở rộng qua các hình thức tuyển dụng tùy theo điều kiện Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 quy định về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước có quy định: “Tuyển dụng là việc tuyển người vào làm việc trong biên chế của cơ quan nhà nước thông qua thi hoặc xét tuyển” Ở góc độ này, tuyển dụng công chức

là việc tìm kiếm, lựa chọn nhân lực trong những người đáp ứng đầy đủ điều kiện, tiêu chuẩn đề ra của cơ quan, tổ chức vào giữ một vị trí và làm một công việc nhất định Việc tuyển dụng hiểu theo một nghĩa đơn giản là việc lấy thêm người vào làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước theo một trình tự, thủ tục nhất định

Luật Cán bộ, công chức ngày 13/11/2008 và Nghị định số

24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 được ban hành, quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức Theo đó, tuyển dụng công chức phải dựa vào yêu cầu công vụ, công việc, nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu số lượng biên chế được cấp có thẩm quyền giao cho đơn vị sử dụng công chức Cơ quan, tổ chức sử dụng công chức phải xác định, xây dựng bảng mô tả về vị trí việc làm, sau đó báo cáo cơ quan

có thẩm quyền quản lý công chức, đề nghị phê duyệt, sau khi được phê duyệt,

tổ chức đơn vị sử dụng công chức lấy làm căn cứ để tuyển dụng công chức Vì vậy, cơ quan tổ chức sử dụng công chức phải tiến hành xây dựng kế hoạch tuyển dụng công chức và báo cáo với cơ quan quản lý công chức để thực hiện việc phê duyệt, tiến hành công tác tuyển dụng công chức theo quy định của pháp luật Trong các văn bản cũng quy định rõ điều kiện đăng ký tuyển dụng,

Trang 39

ưu tiên trong tuyển dụng công chức, thẩm quyền tuyển dụng công chức, hội đồng tuyển dụng công chức Tuyển dụng công chức được thực hiện thông qua hai hình thức: thi tuyển và xét tuyển Tuy nhiên, việc tuyển dụng công chức có thể tiến hành bằng hình thức tiếp nhận đối với các trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng công chức

Sau khi Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội thông qua, ký ban hành,

có hiệu lực và các nghị định hướng dẫn Luật được ban hành, công tác tuyển dụng công chức đã được quy định một cách chi tiết, rõ ràng, minh bạch và khoa học Lần đầu tiên ở nước Việt Nam, công tác tuyển dụng công chức đã được thể chế hóa cụ thể, trở thành căn cứ pháp lý để cho các cơ quan, đơn vị thực hiện công tác tuyển dụng công chức

Tuyển dụng công chức ở Việt Nam là công việc do cơ quan, đơn vị, tổ chức có thẩm quyền tiến hành theo những trình tự, thủ tục đã được quy định trong pháp luật về tuyển dụng công chức nhằm mục đích lựa chọn những cá nhân có nguyện vọng trở thành công chức, đáp ứng được yêu cầu của chức danh công chức và vị trí việc làm để thực hiện các công việc của cơ quan, đơn

vị, tổ chức đó

Tuyển dụng công chức là khâu đầu tiên của quy trình quản lý công chức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Công chức được tuyển dụng là người xuất sắc nhất trong những ứng viên tham dự tuyển dụng công chức Để góp phần tạo nên đội ngũ công chức có trình độ, năng lực, kỹ năng để giải quyết công việc cho tổ chức và người dân, việc tuyển dụng công chức là một công việc hết sức quan trọng mang tính quyết định đối với chất lượng đội ngũ công chức Vì vậy, tuyển dụng công chức đòi hỏi phải có một kế hoạch, thực hiện đúng theo các văn bản quy định của pháp luật Trong quy trình tuyển dụng công chức những người làm công tác tuyển dụng phải thực sự công tâm, khách quan, minh bạch và khoa học thì mới lựa chọn được những người có trình độ chuyên môn, năng lực kỹ năng làm việc và đạo đức công chức, để bổ sung vào đội ngũ công chức

Trang 40

2.1.1.3 Khái niệm pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt Nam

Qua nghiên cứu các văn bản pháp luật quy định về tuyển dụng công chức,

có thể nhận biết được mô hình tuyển dụng công chức của một quốc gia: tuyển dụng công chức theo mô hình vị trí việc làm, tuyển dụng công chức theo mô hình chức nghiệp hay tuyển dụng công chức theo mô hình hỗn hợp (gồm chức nghiệp kết hợp với vị trí việc làm) Chẳng hạn, với các quy định về chủ thể có chức năng, quyền hạn trong việc tuyển dụng công chức, phương pháp tuyển dụng sử dụng trong các kỳ tuyển dụng công chức, các môn thi, phạm vi kiến thức, số lượng câu hỏi, quy trình tuyển dụng công chức…, cho thấy hoạt động tuyển dụng công chức của Nhật Bản theo mô hình chức nghiệp Các quy định

về nguyên tắc tuyển dụng, căn cứ tuyển dụng, thành phần hồ sơ, tiêu chuẩn thí sinh, phương pháp tuyển dụng, hình thức tuyển dụng, ưu tiên trong tuyển dụng công chức…, của Việt Nam theo mô hình hỗn hợp Vì vậy, với cách tiếp cận cụ thể, pháp luật tuyển dụng công chức là các quy phạm pháp luật quy định về công tác tuyển dụng công chức tương ứng với một chế độ nhà nước của một quốc gia nhất định

Hình thức của pháp luật tuyển dụng công chức của các quốc gia trên thế giới chủ yếu được ban hành dưới dạng văn bản quy phạm pháp luật, văn bản thành văn Nhiều quốc gia sử dụng hình thức văn bản luật (Luật Cán bộ, công chức Việt Nam, Luật Cải cách công chức Hoa Kỳ, Luật Công vụ quốc gia Nhật Bản, Cộng hòa Pháp sử dụng hình thức nghị định…) Tuy nhiên, một số quốc gia khác lại sử dụng hình thức pháp luật tuyển dụng công chức dưới dạng quy chế: Anh Quốc sử dụng hình thức quy chế tuyển dụng… Hình thức của pháp luật tuyển dụng công chức ở Việt Nam là văn bản quy phạm pháp luật có kết cấu là các chương, mục, điều khoản, điểm Bên cạnh đó, tên gọi của văn bản quy phạm pháp luật quy định công tác tuyển dụng công chức giữa các quốc gia cũng có sự khác nhau: Luật Công vụ quốc gia Nhật Bản năm 1947; Luật Cán bộ, công chức Việt Nam năm 2008; Luật Cải cách công chức Hoa Kỳ năm 1978; Luật số 5 của Philippin; Luật Công vụ Vương quốc Thái Lan năm 1992…

Ngày đăng: 10/05/2021, 00:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w