1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA CƯ DÂN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ

267 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 267
Dung lượng 2,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những công trình nghiên cứu lý luận về ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng đến đời sống tinh thần cư dân ngoại thành Hà Nội hiện nay 6 1.2.. Những công trình nghiên cứu về thực

Trang 1

TRẦN THỊ HÀ GIANG

ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA CƯ DÂN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

CHUYÊN NGÀNH CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG

VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

TRẦN THỊ HÀ GIANG

ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA CƯ DÂN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI HIỆN NAY

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả

Trần Thị Hà Giang

Trang 4

LUẬN ÁN 6 1.1 Những công trình nghiên cứu lý luận về ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Thành

hoàng làng đến đời sống tinh thần cư dân ngoại thành Hà Nội hiện nay 6 1.2 Những công trình nghiên cứu về thực trạng ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Thành

hoàng làng đến đời sống tinh thần cư dân ngoại thành Hà Nội hiện nay 14 1.3 Những công trình nghiên cứu về quan điểm và giải pháp nhằm phát huy

những ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng

thờ Thành hoàng làng đến đời sống tinh thần cư dân ngoại thành Hà Nội

1.4 Khái quát kết quả các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài và những

vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án 23

Chương 2: TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG VÀ ĐỜI SỐNG TINH

THẦN CƯ DÂN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI HIỆN NAY - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 28 2.1 Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng và tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng ở

2.2 Đời sống tinh thần và những nhân tố ảnh hưởng tới đời sống tinh thần của cư

Chương 3: ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG

ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN CƯ DÂN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI HIỆN NAY -

3.1 Phương thức ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng đến đời sống

tinh thần cư dân ngoại thành Hà Nội hiện nay 74 3.2 Nội dung ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng đến đời sống tinh

thần cư dân ngoại thành Hà Nội hiện nay 79 3.3 Nguyên nhân và một số vấn đề đặt ra từ thực trạng ảnh hưởng của tín ngưỡng

thờ Thành hoàng làng đến thần cư dân ngoại thành hiện nay 113

Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT

HUY ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC, HẠN CHẾ ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA TÍN

NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN CƯ

4.1 Quan điểm nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu

cực của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng đến đời sống tinh thần cư dân

4.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh

hưởng tiêu cực của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng đến đời sống tinh thần

Trang 5

CNH - HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam vốn được biết đến là một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng Hầu hết cư dân từ nông thôn đến thành thị, từ trí thức đến người nông dân nói chung đều tín và hướng đến một tín ngưỡng nhất định Hầu hết các tín ngưỡng đều có đặc điểm chung là thể hiện sự biết ơn, kính trọng đối với tổ tiên, dòng họ trong phạm vi huyết thống (tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên); biết

ơn các vị anh hùng dân tộc chống giặc ngoại xâm hoặc những người có công với dân làng như dạy dân biết chữ, biết sản xuất nông nghiệp… trong phạm

vi làng xã (tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng) và cao hơn là biết ơn người

“đã có công dựng nước” trong phạm vi quốc gia, dân tộc (tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương) Từ đó có thể thấy, tín ngưỡng thờ Thành hoàng (TNTTH) làng chính là sự phóng to của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, sự thu nhỏ của thờ cúng Hùng Vương và cũng chính nó trở thành dấu gạch nối giữa hai thờ cúng này khi đều thể hiện lòng biết ơn của các thế hệ sau với các thế

hệ trước Chính vì vậy, các tín ngưỡng nói chung, TNTTH làng nói riêng đã trở thành một giá trị truyền thống văn hoá tâm linh ăn sâu bám rễ trong tiềm thức, nó luôn thường trực trong đời sống tinh thần (ĐSTT) của nhân dân ta

từ ngàn đời nay mà chúng ta cần phải tiếp tục bảo tồn, gìn giữ, phát huy góp phần xây dựng ĐSTT lành mạnh, phong phú cho cư dân ở những vùng mà tín ngưỡng này còn thu hút được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia thực hành thờ cúng

Dù cho lịch sử thăng trầm, nhưng Hà Nội vẫn là nơi mang đậm dấu ấn TNTTH làng, tín ngưỡng này sau đó được lan truyền đến các vùng nông thôn

- nơi cư dân sống chủ yếu dựa vào nghề trồng lúa nước và nó đã trở thành một trong những nét đặc trưng về văn hóa của cư dân nông nghiệp ở nhiều làng quê ngoại thành Hà Nội (NTHN)

Trang 7

Hiện nay, TNTTH làng vẫn ảnh hưởng khá sâu sắc, phong phú đến ĐSTT của cư dân NTHN ở cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực Về mặt tích cực, TNTTH làng đã góp phần đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu về tinh thần của người dân trên địa bàn và là nhân tố quan trọng để gắn kết cộng đồng; góp phần duy trì, bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống, cũng như tiếp biến những giá trị văn hóa mới và cũng đã góp phần giáo dục lòng tự tôn, tự hào dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước, nhân văn cho người dân Tuy nhiên, việc thực hành TNTTH làng cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế khi có không

ít địa phương tiến hành trùng tu, xây dựng lại đình, nghè, miếu thờ Thành hoàng không chỉ gây tốn kém, mà còn làm mất đi nét kiến trúc cổ xưa Bên cạnh đó, nội dung văn hóa truyền thống của TNTTH làng cũng đang bị mai một, biến tướng Các hiện tượng mê tín dị đoan, và các vấn đề xã hội phức tạp khác,… đã gây ra nhiều khó khăn trong việc quản lý an ninh trật tự, an toàn

xã hội, gây tâm lý bất an trong cộng đồng cư dân trên địa bàn

Trước thực trạng trên, việc phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của TNTTH làng để giáo dục, giúp đỡ cư dân NTHN, nhất là thanh thiếu niên hiểu và sống đoàn kết, hướng thiện, có niềm tin, qua đó góp phần gìn giữ những nét đặc sắc trong văn hóa tâm linh nói riêng và đời sống tinh thần của cư dân NTHN là một việc làm cần thiết

Nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng đến đời sống tinh thần của cư dân ngoại thành Hà Nội hiện nay” cho luận án tiến sĩ triết học của mình, với hy vọng góp phần

nghiên cứu, làm sáng tỏ thực trạng ảnh hưởng của TNTTH làng đến ĐSTT của cư dân NTHN hiện nay, qua đó đề xuất quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của TNTTH làng đến ĐSTT của người dân nơi đây

Trang 8

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng ảnh hưởng của TNTTH làng đến ĐSTT của cư dân NTHN hiện nay, luận án đề xuất quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của TNTTH làng đến ĐSTT của cư dân nơi đây

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng của cư dân NTHN hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Nghiên cứu ảnh hưởng của TNTTH làng đến một số lĩnh vực của ĐSTT, cụ thể là: quan điểm, tư tưởng; đạo đức, lối sống; văn hóa nghệ thuật, tín ngưỡng tôn giáo của cư dân 1 thị xã và 17 huyện NTHN hiện nay

- Về thời gian: đề tài giới hạn thời gian nghiên cứu từ năm 2008 khi Hà

Nội có quyết định mở rộng địa giới hành chính cho đến năm 2019

- Về đối tượng khảo sát: cư dân đang sinh sống, học tập, làm việc trên địa bàn thị xã Sơn Tây và 17 huyện NTHN hiện nay (cụ thể là cán bộ làm công tác văn hoá, công chức Nhà nước; nông dân, những người làm nghề tự

Trang 9

do; học sinh, sinh viên; người già và hưu trí; các chủ từ, chủ đình, chủ đền, người trông coi hương khói tại các đình, đền ở NTHN hiện nay)

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về ĐSTT, về tôn giáo, tín ngưỡng Đồng thời luận án còn dựa vào các điển tích, sự tích các Thành hoàng, phong tục thờ tự các Thành hoàng qua khảo cứu lịch sử và thực tế Bên cạnh đó, luận án còn kế thừa có chọn lọc, học hỏi, tiếp thu những công trình khoa học đi trước như các sách, báo chí, tư liệu trong và ngoài nước có nội dung hữu ích cho luận án

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng các phương pháp cơ bản khác như phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn dịch, quy nạp, logic - lịch sử Bên cạnh đó luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu ngành và liên ngành như: sử học, văn hóa học, tôn giáo học, Hà Nội học,

điều tra xã hội học, thống kê,… nhằm thực hiện nhiệm vụ, mục đích đề ra

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

- Luận án góp phần làm rõ TNTTH làng ở NTHN, dưới góc độ ảnh hưởng của nó đến một số lĩnh vực của ĐSTT cư dân Hà Nội từ 2008 (từ khi

Hà Nội mở rộng địa giới hành chính) đến năm 2019

- Luận án đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của TNTTH làng đến ĐSTT của cư dân NTHN hiện nay

- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy các môn học như: triết học, Tôn giáo học, Văn hóa học,

Trang 10

Cơ sở văn hóa Việt Nam, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Lịch sử tư tưởng Triết học Việt Nam,… ở các cơ sở nghiên cứu, đào tạo thuộc khối ngành khoa học

xã hội và nhân văn

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận án, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án gồm 4 chương, 11 tiết

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN

CƯ DÂN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI HIỆN NAY

Phan Kế Bính, với công trình Việt Nam phong tục [14], qua 47 mục

thuộc 3 thiên trong cuốn sách, đã dày công tìm hiểu những lề thói, tập quán xa xưa của cha ông mang tính làng xã ở các vùng nông thôn Việt Nam Tác giả cho rằng đất lề quê thói hay những lễ nghi, phong tục luôn thường trực trong tâm hồn cư dân Việt, nó không chỉ có ảnh hưởng đến việc hướng con sống thiện, sống hoà thuận yêu thương gắn kết mà còn giúp cho dòng tộc, quê hương, làng xã mang bản sắc, cốt cách riêng Đồng thời ông cũng nhấn mạnh những hủ tục còn đâu đó vô hình kìm hãm sự phát triển của xã hội Thực chất những yếu tố mà tác giả chỉ ra trong đó phải kể đến những lễ nghi thờ cúng Thành hoàng còn in đậm trong ĐSTT của cư dân làng quê mà Bắc bộ là điển hình Công trình này được tác giả tìm hiểu, khai thác rất công phu, mang tinh thần khoa học sâu sắc, rất hữu ích cho tác giả luận án nghiên cứu sự ảnh hưởng của TNTTH làng đến ĐSTT của người dân NTHN hiện nay

Leopold Cadiere, với Văn hóa, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo ở

người Việt do Đỗ Trinh Huệ dịch [16] Cuốn sách dày hơn 630 trang, với

nhiều nội dung phong phú Bàn đến nội dung tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng, Leopold Cadiere đã thể hiện sự am hiểu của ông về văn hoá, tín ngưỡng cũng như đức tính, lối sống cư dân Việt một cách tường tận, trân quý nhất Qua đây tác giả cũng lan toả những giá trị mang âm hưởng tinh thần, hồn cốt đặc sắc chỉ có ở Việt Nam Tác giả chỉ ra rằng TNTTH làng ở các miền quê có từ rất sớm và rất được coi trọng luôn được người dân gìn giữ, bảo tồn và phát huy

Trang 12

từ nhiều thế hệ Từ đó, tác giả mong muốn một hướng phát triển bền vững cho bản sắc văn hoá có từ bao đời của dân tộc Đây là cuốn sách có ý nghĩa về mặt khoa học to lớn để nghiên cứu sinh tiếp tục làm rõ, sâu sắc hơn cơ sở lý luận cho việc tìm hiểu, nghiên cứu một cách công phu nghiêm túc cơ sở lý luận cho sự ảnh hưởng của TNTTH đến ĐSTT cư dân vùng NTHN

Hoàng Hồng Cẩm, với Bà Chúa Kho Thành hoàng làng Giảng Võ

[15] Cuốn sách là sự giới thiệu khá chi tiết về Bà Chúa Kho ở Đình Giảng

Võ (Hà Nội) Để tri ân người con gái mang dòng máu anh hùng, người dân

đã tôn thờ Bà làm Thành hoàng làng, và lập đền thờ Đền thờ Bà được nhân dân quen gọi là Đình thờ Bà Chúa Kho Hiện nay, ngoài nơi thờ chính là Giảng Võ, nhiều địa phương khác cũng lập đền thờ Bà Thông qua nghiên cứu này thì vị trí, vai trò của TNTTH làng trong đời sống đương đại đã được làm sáng tỏ; đồng thời mang đến cho tác giả luận án những chứng cứ lịch sử quan trọng để lý giải nguồn gốc hình thành TNTTH làng của cư dân vùng NTHN hiện nay

Lại Văn Toàn, Trần Thị Băng Thanh và Nguyễn Như Diệm, trong

cuốn Thần tích thần sắc Hà Nam [137] đã ghi lại dấu ấn các Thành hoàng

làng gồm các vị thần có công bảo hộ dân làng, các anh hùng đánh giặc bảo

vệ Tổ quốc hoặc người có công dạy dân biết chữ, biết sản xuất nông nghiệp Cuốn sách bước đầu đã cung cấp những dẫn chứng khoa học tin cậy, đầy đủ mang đến một góc nhìn đa chiều về gốc tích, tục thờ các vị Thành hoàng Đó chính là chỉ dẫn quý báu cho tác giả luận án đi sâu nghiên cứu vai trò của các các vị Thành hoàng trong ĐSTT của cư dân vùng nông thôn nói chung

và đời sống gia đình nông thôn vùng NTHN nói riêng

Trần Huy Đĩnh và các cộng sự, trong Sự tích Thành hoàng làng ở Phú

Xuyên [24], đã giới thiệu truyện kể về các vị Thành hoàng làng được lưu

truyền trong dân gian ở huyện Phú Xuyên, bảng tra tên địa danh kèm theo

Trang 13

một số bản chữ Hán ghi chép về gốc tích các vị Thành hoàng làng ở huyện

Phú Xuyên, Hà Nội Cuốn sách là một nguồn tư liệu bổ ích giúp tác giả làm

rõ một số nội dung tín ngưỡng của người dân NTHN

Nguyễn Duy Hinh, trong cuốn sách Tín ngưỡng Thành hoàng Việt Nam

[39] đã chỉ rõ nguồn gốc, ý nghĩa, hình thức biểu hiện; sự tích và việc thờ cúng các vị Thành hoàng ở Việt Nam Xuyên suốt công trình, với cách diễn đạt súc tích, dễ hiểu, tác giả đã cho người đọc tiếp cận với những kiến thức cơ bản về TNTTH - một nhu cầu tinh thần phổ biến ở các vùng nông thôn ở nước

ta Tuy nhiên, căn cứ vào việc xác định đối tượng nghiên cứu, nên cuốn sách mới chỉ dừng lại phương diện lý thuyết, nhiều vấn đề thực tiễn như ảnh hưởng của TNTTH làng đến ĐSTT của người dân Việt Nam, những biện pháp khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của loại hình tín ngưỡng này trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, chưa được làm rõ Kết luận lại công trình có nhiều đóng góp để nghiên cứu sinh có thể học hỏi bổ sung cho luận án của mình được đầy

đủ hơn

Nguyễn Duy Hinh, với bài viết Thần làng và Thành hoàng [40], đã

phân tích làm rõ khái niệm về thần làng, Thành hoàng, phân biệt và so sánh

sự giống, khác nhau giữa thần làng, Thành hoàng, nêu ra một vài vấn đề cần nghiên cứu có đề cập đến việc thực hành thờ cúng các vị thần này Với những

tư liệu thu lượm được qua bài viết, tác giả của luận án có thể vận dụng để triển khai, làm rõ một số nội dung lý luận được trình bày trong luận án

Nguyễn Vinh Phúc, Nguyễn Duy Hinh, với cuốn Thần tích Hà Nội và

tín ngưỡng thị dân [104] Cuốn sách gồm 7 chương, ra đời trước bối cảnh còn

nhiều hạn chế trong việc nghiên cứu, tìm hiểu những giá trị tâm linh Hà Nội Cuốn sách với những nghiên cứu cụ thể, giúp người đọc đi sâu khám phá về vùng đất kinh kỳ xưa cũ, qua đó, sẽ thêm hiểu, thêm trân trọng những giá trị văn hóa của Hà Nội nói riêng và của cả dân tộc Việt Nam nói chung Tuy

Trang 14

nhiên, những kết quả đã đạt được trong công trình nêu trên mới chỉ là những khám phá bước đầu, cần được nghiên cứu bổ sung, phát triển

Nguyễn Duy Hinh, với cuốn sách Bách khoa thư Hà Nội: Kỉ niệm

1000 năm Thăng Long - Hà Nội 1010 - 2010 [41] Cuốn sách bao gồm

nhiều nội dung phong phú trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội in đậm dấu ấn một Hà Nội văn hiến ngàn năm Trong tập 16 (tổng 18 tập) đã giới thiệu về một số loại hình tín ngưỡng lâu đời của Thăng Long - Hà Nội, tiêu biểu như thờ cúng Vua Hùng, thờ Trời, các vị Thành hoàng có công khai phá, lập làng, thờ Tổ của các nghề, thờ tổ tiên Đây là những tư liệu quý báu mà tác giả luận án tiếp tục vận dụng trong quá trình đi sâu tìm hiểu lĩnh vực mà luận án đang nghiên cứu

Đỗ Quang Hưng, với cuốn sách Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng Thăng

Long - Hà Nội [47], đã cung cấp cho chúng ta góc nhìn đầy đủ nhất về đời

sống, nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo phong phú của cư dân thủ đô Cuốn sách đặc biệt dày công nghiên cứu những công trình đi trước của các tác giả nước ngoài, trên cơ sở đó tác giả cuốn sách đã đưa ra kết quả nghiên cứu mới có giá trị rất to lớn về “không gian tín ngưỡng, tôn giáo” của Thăng Long - Hà Nội

Có thể thấy cuốn sách này rất bổ ích cho tác giả luận án trong quá trình nghiên cứu, triển khai nội dung của luận án ở chương 2 và chương 3

Nguyễn Quang Khải, trong Một số nghi lễ, hội thi, trò diễn dân gian và

phong tục tập quán có liên quan đến tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng ở Bắc Ninh [54], đã trình bày sơ lược về TNTTH tại các làng ở Bắc Ninh Tác giả

cũng đã nêu lên một số nghi lễ phục vụ cho tín ngưỡng này; mô tả một số trò diễn, trò chơi có liên quan đến tín ngưỡng, Đây chính là tri thức hữu ích góp phần hoàn thiện hơn công trình nghiên cứu TNTTH ở vùng NTHN hiện nay

Vũ Ngọc Khánh, trong cuốn sách Tín ngưỡng dân gian [56] đã phân

tích khá chi tiết nguồn gốc, từng bước phát triển, sự thăng trầm của một số

Trang 15

loại hình tín ngưỡng dân gian Việt Nam như: Tín ngưỡng phồn thực; Tín ngưỡng Tam phủ, Tứ phủ; Tín ngưỡng thờ động, thực vật; Tín ngưỡng sùng bái con người Việc luận giải làm rõ nguồn gốc cũng như sự phát triển của các tín ngưỡng bản địa này chính là cơ sở lý luận quan trọng để tác giả luận

án tham khảo trong nghiên cứu TNTTH làng ở vùng NTHN

Lê Tâm Đắc, Tạ Quốc Khánh, trong bài viết “Tính hỗn dung của người

Việt thể hiện qua đối tượng thờ trong các ngôi chùa ở Hà Nội” [23] đã phân

tích tương đối kỹ về sự giao thoa các tín ngưỡng ở Việt Nam, được trình bày thông qua quan niệm, nghi lễ, tục thờ, hình thức thờ ở các chùa Hà Nội; từ đó chỉ ra những nguyên nhân ảnh hưởng chủ yếu đến sự giao thoa đó và bản sắc văn hóa tâm linh đa dạng, phong phú trong sự hỗn dung của người Việt Nam Mặc dù chỉ mới tiếp cận vấn đề dưới góc độ tôn giáo, nhưng tác giả cuốn sách

đã làm được nhiều hơn mục đích ban đầu đặt ra, thể hiện được tư duy triết học

về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo Đây chính là nguồn tri thức khoa học quý giá

để luận án nghiên cứu sâu hơn về TNTTH làng

Nguyễn Đức Lữ, với cuốn sách Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian

ở Việt Nam [75] bước đầu đã đem đến cho độc giả những hiểu biết về tín

ngưỡng bản địa, dân gian như: lễ hội, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ Thành hoàng, thờ Mẫu, tín ngưỡng phồn thực và mê tín dị đoan Từ đó Nguyễn Đức

Lữ đã nêu rõ thực trạng và biểu hiện đặc điểm của các tín ngưỡng bản địa, dân gian trên ở Việt Nam hiện nay Đây là một công trình đầy giá trị khoa học thiên về khai thác tín ngưỡng dân gian, nên ảnh hưởng của các loại hình tín ngưỡng này, đặc biệt TNTTH tới ĐSTT của người dân chưa được làm rõ Vấn đề này cần được triển khai tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thiện

Lam Khê, Khánh Minh, trong cuốn 36 thần tích, huyền tích Thăng

Long - Hà Nội [59], đã đề cập đến những sự tích, những vị thần, tích của các

vị thần được nhân dân suy tôn, được sắc phong và thờ phụng trên đất Thăng

Trang 16

Long: thần Kim Quy, Thánh Gióng, Mẫu Liễu Hạnh, thánh Tản Viên, và các

vị thần giữ vị trí trấn tứ phía Hà Nội như Linh Lang Đại Vương (được thờ ở đền Voi Phục), Cao Sơn Đại Vương (thờ ở đền Kim Liên), Thần Long Đỗ (thờ ở đền Bạch Mã), Huyền Thiên Trấn Vũ (thờ ở đền Quán Thánh)… ngoài

ra còn thờ các vị Thành hoàng làng ở các địa phương, các vị Tổ nghề Cuốn sách giúp cho tác giả luận án có thêm nhiều tư liệu thực tiễn để tiếp tục khảo sát, nghiên cứu về tục thờ cũng như sự ảnh hưởng của TNTTH làng đến ĐSTT cư dân NTHN

Nguyễn Hữu Minh, trong cuốn Đời sống văn hoá của cư dân Hà Nội

[86], đã phân tích, làm sâu sắc sự phong phú, đa dạng trong nhu cầu tâm linh tinh thần không thể thiếu của cư dân Hà Nội; phân tích phong tục, nghi lễ và các hoạt động thờ cúng, sinh hoạt hàng ngày có liên quan đến đời sống văn hóa của người dân trên địa bàn Cuốn sách đi sâu về lĩnh vực đời sống xã hội dưới góc nhìn từ phương diện nhà nghiên cứu văn hóa, song nó vẫn được coi

là một tài liệu quan trọng để tác giả luận án khai thác, làm rõ hơn đầy đủ hơn một số nội dung trong luận án của mình

Minh Thảo, Xuân Mỹ, trong cuốn sách Truyền thuyết các vị thần Hà

Nội [120], đã giới thiệu cho người đọc những hiểu biết nhất định về một số vị

thần được thờ trong các đình, đền ở Hà Nội thông qua việc nghiên cứu các câu chuyện lịch sử, sự thêu dệt của nhân dân để tái hiện lên hình ảnh về những vị thần có gốc gác và sự tích từ những con người cụ thể, những gây dựng, bảo vệ làng xóm, rộng hơn là quốc gia xã tắc và khi họ mất đi, để tri ân công trạng, nhân dân đã phong thần và thực hành thờ cúng Cuốn sách cũng chỉ ra danh tính, công trạng, thời gian và địa điểm được phong thần của các vị thần này Mặc dù không đề cập nhiều đến hướng nghiên cứu của đề tài luận

án, nhưng đây là tài liệu khoa học có giá trị giúp tác giả nắm rõ hơn về nguồn gốc hình thành của các vị thần, trong đó có Thành hoàng làng của người Việt

ở vùng NTHN

Trang 17

Nguyễn Minh Ngọc, trong Bách thần Hà Nội [94], đã nhìn nhận, tiếp

cận nguồn gốc các vị thần, Thành hoàng được thờ cúng ở các ngôi đình, đền

Hà Nội chẳng hạn có công xây dựng làng, có công truyền nghề cho dân, có công chống ngoại xâm,… Công trình của tác giả Nguyễn Minh Ngọc tuy thiên về phân tích truyền thuyết lịch sử, song nó có giá trị về mặt thực tiễn khoa học rất lớn cho tác giả luận án trong việc nghiên cứu vấn đề TNTTH làng ở vùng NTHN

Vũ Thanh Sơn, với cuốn sách Những vị thần được thờ ở Hà Nội [115]

Trong cuốn sách này, bằng những hiểu biết và khám phá của bản thân (thông qua kết quả của phương pháp nghiên cứu điền dã), tác giả đã giới thiệu cho người đọc những đặc trưng cơ bản nhất của các vị thần được nhân dân suy tôn, thực hành việc cúng bái, thờ tự ở Hà Nội Trong đó chúng ta sẽ thấy rõ những công trạng, đóng góp của các vị thần ở các cấp độ khác nhau từ làng xã đến quốc gia qua các thời kỳ lịch sử Tuy bị giới hạn bởi đối tượng nghiên cứu, song cuốn sách là một nguồn tư liệu tham khảo cần thiết cho tác giả luận

án khi tiếp tục tìm hiểu về đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người dân Hà Nội nói chung, cư dân ở vùng NTHN nói riêng

Nguyễn Gia Thiều, trong bài Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng thờ Thành

hoàng làng Việt Nam [123], đã khái quát đôi nét về nguồn gốc, ý nghĩa và tục

thờ Thành hoàng ở Việt Nam Ở nước ta từ xa xưa việc cúng bái, thờ tự các vị Thành hoàng đã xuất hiện rất sớm có nguồn gốc ngoại lai và bản địa, nó có mặt khắp nơi khắp vùng miền cả nước Mỗi thời kỳ, việc thực hành thờ cúng tín ngưỡng này lại có sự biến đổi theo những xu hướng khác nhau Bằng dẫn chứng khoa học đa dạng, tác giả cũng đã cho chúng ta thấy được rằng, sự tồn tại của TNTTH trong đời sống cộng đồng người Việt là mang tính khách quan

và có nguồn gốc từ chính nhu cầu được thoả mãn về mặt tâm linh của quần chúng Những nội dung triển khai trong công trình khoa học này, mặc dù không sát gần với đề tài luận án, nhưng nó đã cung cấp cho tác giả luận án cái

Trang 18

nhìn toàn diện hơn về TNTTH làng, từ đó tiếp tục đi sâu nghiên cứu luận án một cách có hiệu quả

Ngô Đức Thịnh, trong Tín ngưỡng & văn hoá tín ngưỡng ở Việt Nam

[125], đã khái quát những vấn đề cơ bản cả nguồn gốc lý luận và thực tại thờ cúng trong hệ thống tín ngưỡng Việt Nam nói chung và TNTTH làng nói riêng Tác giả cũng nhấn mạnh việc duy trì các hoạt động, lễ nghi, phong tục thờ cúng Thành hoàng có liên quan mật thiết và có ảnh hưởng sâu rộng đến ĐSTT và các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp của cư dân Những nội dung triển khai trong công trình khoa học này, mặc dù không sát gần với

đề tài luận án, nhưng nó đã cung cấp cho tác giả tri thức, góc tìm hiểu toàn diện hơn về văn hóa, về tín ngưỡng bản địa, từ đó có thể áp dụng một cách hiệu quả vào quá trình nghiên cứu của mình

Doãn Đoan Trinh, trong bài viết “Một dạng Thành hoàng ở Hà Nội”

[140], đã vẽ nên một bức tranh sinh động về các tín ngưỡng bản địa, tín ngưỡng dân gian ở Hà Nội, trong đó Doãn Đoan Trinh đề cập chủ yếu đến loại hình TNTTH Theo tác giả, TNTTH ở Hà Nội có nhiều điểm khác so với TNTTH nơi làng xã Có nhiều nguyên nhân mang đến sự khác nhau độc đáo

ấy, trong đó tác giả chú ý luận giải nhiều về các điều kiện kinh tế - xã hội và tâm lý người dân Bài viết là một nguồn tư liệu tham khảo bổ ích cho tác giả luận án trong quá trình triển khai các quan niệm về TNTTH làng ở chương 2 của đề tài

Nguyễn Tọa, trong Hội ba làng Kẻ [136], đã khái quát về làng Kẻ xưa

nay, Thành hoàng làng và các di tích ở đó có thờ vị Thành hoàng của người làng Kẻ thuộc huyện Từ Liêm - Hà Nội Tác giả giới thiệu về sự tích và diễn tích trong các lễ hội của ba làng Kẻ là: làng Đống Đa, làng Thượng Cát và làng Đại Cát Công trình khoa học nêu trên là một gợi ý cho tác giả luận án khi nghiên cứu về gốc tích, nội dung, thực hành và thực chất của việc thờ cúng các vị thần, trong đó có TNTTH làng ở NTHN

Trang 19

Như vậy, trên cơ sở tổng quan những công trình đi trước có nghiên cứu

lý luận về ảnh hưởng của TNTTH làng đến ĐSTT cư dân NTHN hiện nay, là

cơ sở khoa học cho tác giả luận án khái lược về nguồn gốc, quá trình hình thành, các hình thức thờ tự của TNTTH Hầu hết, các nhà khoa học đều cho rằng, TNTTH trở thành hệ thống và phát triển mở rộng từ khi có sự giao thoa văn hóa với người Trung Quốc Chính vì thế, các vị thần ở nước ta mang tên gọi Thành hoàng theo nghĩa Việt hóa Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, TNTTH của người Việt có điểm khác biệt cơ bản, đó chính là yếu tố làm nên bản sắc trong tư duy tín ngưỡng, tôn giáo của người Việt Nam Các công trình khoa học đó là tư liệu thực tiễn sinh động để tác giả luận án tiếp tục tìm hiểu, tham khảo khi nghiên cứu, khái quát về TNTTH của cư dân vùng NTHN, với

tư cách là một trong những tín ngưỡng phổ biến và đặc trưng của địa bàn

1.2 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN CƯ DÂN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI HIỆN NAY

Nguyễn Vinh Phúc, Nguyễn Duy Hinh, với Thần tích Hà Nội và tín

ngưỡng thị dân [104], đã giới thiệu cho người đọc về các giá trị phi vật thể

mang dấu ấn tâm linh gồm các thần tích và nghi lễ, tục thờ Thành hoàng ở

Hà Nội Tác giả cũng cho thấy sự ảnh hưởng của TNTTH Hà Nội đến lối sống, tính cố kết vùng, tâm lý coi các vị Thành hoàng làng là nơi nương náu của tâm hồn, giúp cho tinh thần cư dân được bình an hơn Những minh chứng này giúp tác giả luận án tiếp tục mở rộng nghiên cứu sự ảnh hưởng của TNTTH làng đến ĐSTT cư dân ở các vùng hành chính mới sát nhập Hà Nội từ năm 2008 đến nay

Đỗ Quang Hưng, với Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng Thăng Long - Hà

Nội [47] Tác giả tập sách đã dày công nghiên cứu và đưa ra được một

phương án tốt nhất khi kết hợp phương pháp lịch sử tôn giáo trong việc dựng

Trang 20

lại lịch sử các tôn giáo chính như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, cũng như các loại hình tín ngưỡng ở Thăng Long - Hà Nội và đặt nó trong tổng thể không gian tâm linh tín ngưỡng Tuy nhiên, những hình ảnh của tín đồ mỗi tôn giáo, những cộng đồng tín ngưỡng ở Thăng Long - Hà Nội vẫn chưa được phục hiện đầy đủ trong cuốn sách Nhưng đối với tác giả luận án, đây được coi là nguồn tư liệu hữu ích cho tác giả khi phân tích, tìm hiểu và làm rõ sự ảnh hưởng của TNTTH làng đến ĐSTT cư dân NTHN hiện nay

Vũ Ngọc Khánh, với Tín ngưỡng dân gian [56] đã cho thấy: Tín

ngưỡng này nó đã phản ánh sự hiểu biết ban đầu của con người về thế giới con người sinh sống, về bản thân con người và các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội một cách lệch lạc, cảm tính, được lý giải bằng những câu chuyện thần thoại, những sự tích, điển cố,… mang tính chất là những dạng nhận thức ban đầu và đơn giản nhất của con người về thế giới Bên cạnh đó, ông cũng chỉ rõ rằng tín ngưỡng dân gian nói chung và TNTTH nói riêng có vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh - văn hóa - tinh thần của cư dân ở các vùng miền Nó đã ăn sâu, tồn tại lâu đời trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người dân và trở thành bản sắc độc đáo, văn hóa riêng của người Việt Luận điểm này cung cấp tác giả luận án có được cách nhìn sâu sắc trong lý giải nguồn gốc và sự ảnh hưởng của TNTTH làng đến ĐSTT của cư dân ở vùng NTHN

Nguyễn Đức Lữ, trong cuốn sách Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân

gian ở Việt Nam [75], có trình bày đến sự ảnh hưởng của tín ngưỡng bản địa,

dân gian, trong đó có TNTTH đến ĐSTT người Việt Song do giới hạn bởi đối tượng nghiên cứu, tác giả mới chủ yếu đề cập đến nội dung, hình thức và nghi lễ thờ cúng của các tín ngưỡng Đây chính là khoảng trống để tác giả luận án tiếp tục khai thác, làm sâu vấn đề luận án cần nghiên cứu

Trang 21

Nguyễn Hữu Hiếu, trong Tìm hiểu văn hoá tâm linh Nam Bộ [37], trên

cơ sở khái quát về văn hoá tinh thần, tâm linh, trong đó có TNTTH làng đã chỉ ra sự tồn tại lâu bền của chúng trong tâm linh của người Việt ở Nam Bộ Những kết quả nghiên cứu đó đã giúp tác giả luận án có cái nhìn phong phú,

đa dạng và sâu sắc, súc tích hơn về nội dung đang nghiên cứu

Đỗ Thị Minh Thuý, với bài viết “Biến động của tín ngưỡng dân gian

Thăng Long - Hà Nội và những ảnh hưởng của nó trong đời sống văn hóa

đô thị hiện nay” [134] Bài viết đã làm rõ sự biến động trong tín ngưỡng dân

gian của Thăng Long - Hà Nội từ giữa thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XX, trong đó nhấn mạnh đời sống tín ngưỡng của Hà Nội từ năm 1954 đến nay Tác giả còn chỉ ra thực trạng biến động của TNTTH làng qua khảo sát tại cụm đình thuộc khu vực làng xã phía tây, tây nam kinh thành Thăng Long, qua đó khẳng định: Vấn đề văn hóa các sinh hoạt tín ngưỡng với mục tiêu xây dựng một đời sống tâm linh tích cực còn phù hợp và có giá trị cho đến quá trình đô thị Hà Nội hiện nay Những ý kiến đề cập trong bài viết có thể coi là nguồn tư liệu tham khảo quý báu tác giả luận án tiếp tục đi sâu nghiên cứu những vấn đề đặt ra trong luận án

Trịnh Cao Tưởng, với cuốn sách Thành hoàng ở Việt Nam và Shinto

ở Nhật Bản: Một nghiên cứu so sánh [148] Trong công trình này, tác giả

đã hệ thống, phân tích sự hình thành, các nghi lễ, tục thờ cúng của Thành hoàng ở Việt Nam so sánh với tục thờ Shinto ở Nhật Bản Tác giả cũng cho thấy, dù có nguồn gốc hay hình thức khác nhau thì cả Thành hoàng ở Việt Nam hay thờ Shinto ở Nhật Bản đều có sự ảnh hưởng sâu rộng đến ĐSTT của cư dân mỗi quốc gia, đặc biệt là yếu tố tinh thần, văn hoá, tâm linh và cách sống Tuy nhiên, sự ảnh hưởng này được thể hiện cụ thể như thế nào? Ảnh hưởng của nó tới ĐSTT của người dân Nhật Bản và Việt Nam ra

Trang 22

sao?,… thì chưa được tác giả làm rõ Mặc dù vậy, những nghiên cứu so sánh đã đạt được của công trình đi trước này vẫn là căn cứ thực tiễn bổ ích

để tác giả luận án triển khai nội dung chương 3 của đề tài

Đinh Khắc Thuân, với bài viết “Thờ cúng Thành hoàng ở Việt Nam

qua tài liệu Hán Nôm” [129] Trong bài viết, tác giả đã khẳng định: Thờ

cúng Thành hoàng ở Việt Nam từ lâu có nguồn gốc cả ngoại lai (Trung Quốc) và bản địa người Việt, nhằm tưởng nhớ người có công với làng và mong muốn được thần che chở, phù trì Xuyên suốt bài viết, là sự giới thiệu khái quát những nghi lễ, phong tục thờ Thành Hoàng từ xa xưa của cư dân Việt được ghi chép qua tài liệu Hán Nôm Tác giả tiếp thu và so sánh đối chiếu sự ảnh hưởng qua các tài liệu đi trước và tiếp tục khái quát đánh giá sự ảnh hưởng của tín ngưỡng này đến ĐSTT của cư dân vùng NTHN hiện nay

Tóm lại, các công trình nghiên cứu về thực trạng ảnh hưởng của TNTTH làng đến ĐSTT của cư dân NTHN hiện nay còn nằm rải rác trong các nghiên cứu Hầu hết kết quả nghiên cứu của các tác giả đều chỉ ra nguồn gốc, nghi lễ, tục thờ cúng các vị Thành hoàng ở Việt Nam Những nghiên cứu đó mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu yếu tố triết học về tự nhiên trong loại hình tín ngưỡng dân gian nói chung Song, đó là cơ sở khoa học để tác giả luận án tiếp tục nghiên cứu theo hướng mới về TNTTH làng của người Việt vùng NTHN

1.3 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY NHỮNG ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN CƯ DÂN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI HIỆN NAY

Mai Quang Hiện, Mai Diệu Anh, trong bài viết “Về vấn đề bảo tồn

những giá trị văn hóa và bảo đảm an ninh trật tự trong các lễ hội tôn giáo ở Việt Nam hiện nay” [36], đã khẳng định: “Lễ hội là một loại hình sinh hoạt

Trang 23

văn hóa cộng đồng phổ biến và đậm đà bản sắc dân tộc, là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hóa phi vật thể, làm giàu và phát huy giá trị nền văn hóa dân tộc Qua sinh hoạt lễ hội, nhân dân được hưởng thụ và sáng tạo

văn hóa Bài viết cũng đã chỉ ra thực trạng bảo tồn những giá trị văn hóa và

bảo đảm an ninh trật tự trong các lễ hội tôn giáo ở Việt Nam hiện nay và nêu

ra một số biện pháp tổ chức có hiệu quả các hoạt động lễ hội này: Cần chú ý

bảo tồn có chọn lọc các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc trong lễ hội, loại

bỏ dần các yếu tố lạc hậu, xây dựng thêm các tiêu chí văn hóa mới phù hợp; khôi phục, giữ lại nét riêng của mỗi lễ hội, gắn với truyền thống của vùng, miền Chính quyền địa phương các cấp cần quản lý chặt chẽ việc quy hoạch sắp xếp các hàng quán, dịch vụ vui chơi giải trí hợp lý, tạo điều kiện để nhân dân địa phương có thêm thu nhập, nhưng vẫn bảo đảm tính văn hóa trong các hoạt động dịch vụ, không tạo kẽ hở nảy sinh các hiện tượng tiêu cực, làm mất đi bản sắc văn hóa, ý nghĩa tốt đẹp của lễ hội,…” [36] Những giải pháp này chính là căn cứ thực tiễn cho tác giả luận án suy nghĩ, đưa ra các giải pháp góp phần phát huy ảnh hưởng tích cực, bên cạnh đó hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của TNTTH làng đến ĐSTT vùng NTHN hiện nay

Micrcea Eliade, với công trình khoa học Bàn về nguồn gốc các tôn

giáo [28] Cuốn sách gồm 13 chương, với 515 trang Từ sự hỗn tạp của

những biểu tượng, thần thoại, nghi lễ và những tư tưởng tôn giáo khác nhau trên thế giới, Eliade đã tạo nên một bức tranh tầm vóc về mối quan hệ chặt chẽ giữa con người và thế giới thần thánh, trải dài hàng nghìn năm Đối với Eliade, thay vì nghiên cứu lịch đại, tuân thủ nguyên tắc niên biểu cứng nhắc, ông nghiên cứu đồng đại với sự so sánh (so sánh mô thức giữa các tôn giáo) trên một phạm vi rộng lớn Eliade nghiên cứu đa dạng từ các nền văn minh

cổ đại như Ai Cập, Lưỡng Hà, Trung Hoa, Hy - La, cho tới các vùng văn hóa như châu Phi, châu Úc (Australia và New Zealand), Indonesia, Bắc cực,

Trang 24

các tộc người như người Iroquois, người Esquimo, Polynésian, Melanesian, tộc Khond,… Những dẫn chứng mà Eliade đưa ra trong cuốn sách một cách

tự nhiên gợi cho người đọc những liên tưởng đến các tín ngưỡng bản địa trên bản đồ văn hóa của Việt Nam Ông đã đề cập đến nguồn gốc của “vua” hay

“thánh” ở khu vực Đông Nam Á, trong đó có giải thích về Lạc Long Quân,

“vua rồng” - vị vua huyền thoại đầu tiên của Việt Nam Đó chính là chỉ dẫn quý báu cho tác giả luận án đi sâu tìm hiểu các vấn đề tín ngưỡng ở Việt Nam, trong đó có TNTTH làng

Jame George Frazer, với cuốn sách Cành vàng (Bách khoa thư về văn

hoá nguyên thuỷ) [29] Cành Vàng với 1126 trang, J.Franzer đã trình bày sự

tiến hoá về mặt văn hoá của nhân loại dự trên mối quan hệ cả ma thuật, tôn giáo và khoa học Trong đó tác giả cũng đi sâu phân tích kỹ đời sống tôn giáo, tín ngưỡng có sự ảnh hưởng nhất định đến đời sống tâm lý của con

người Xét về phương diện tư liệu, Cành Vàng vẫn là một công trình khoa

học đây giá trị thực tiễn để tác giả luận án đi sâu tìm tòi luận cứ thực tiễn cho luận án của mình

Vũ Ngọc Khánh, trong Thờ cúng Thành hoàng làng ở đồng bằng Bắc

bộ [55], đã cho thấy, từ xưa đến nay, việc thờ cúng Thành hoàng ở vùng

nông thôn miền bắc Việt Nam rất phổ biến Mỗi loại thờ cúng lại có những hình thức, nghi thức thờ cúng không giống nhau Trải qua bao thời gian, việc thờ cúng Thành hoàng làng cũng bị mai một và thường ẩn dưới hình thức lễ

hội Đề tài đi sâu phân tích, khái quát hiện trạng thờ cúng Thành hoàng ở

vùng nông thôn miền bắc Việt Nam, qua đó đề xuất các giải pháp để phát huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của TNTTH làng ở đồng bằng Bắc bộ, góp phần gìn giữ, tôn tạo, phát huy các giá trị văn hoá mà cha ông để lại từ bao đời nay Công trình khoa học này tuy chưa nêu ra được các giải pháp mới cho vấn đề nghiên cứu, nhưng là tài liệu hữu ích tác giả

Trang 25

luận án định hướng, trình bày một cách khoa học và kỹ lưỡng đề tài của mình, góp phần làm cơ sở cho việc phát huy những ảnh hưởng tích cực của TNTTH làng ở vùng NTHN hiện nay

Hoàng Thị Lan, trong Tín ngưỡng dân gian trong đời sống tinh thần

của người dân vùng Đồng bằng sông Hồng hiện nay [64] đã dày công

nghiên cứu những ảnh hưởng của các loại hình tín ngưỡng đến đời sống văn hóa - tâm linh - tinh thần của cư dân đồng bằng sông Hồng trong đó có TNTTH làng Tác giả cũng chỉ rõ vai trò thủ lĩnh tinh thần của tín ngưỡng bản địa mang đậm yếu tố dân gian trong đó có TNTTH làng với cư dân nói chung, từ đó đưa ra những giải pháp kiến nghị cơ bản nhằm gìn giữ, bảo tồn, phát huy giá trị, sức sống lâu bền của văn hoá, tín ngưỡng bản địa dân gian Các giải pháp tuy còn sơ lược, nhưng đã gợi mở cho tác giả luận án hướng đánh giá về tín ngưỡng nói chung, TNTTH làng nói riêng (trên hai phương diện chứa đựng cả yếu tố tích cực và tiêu cực) đến ĐSTT của cư dân vùng NTHN hiện nay

Nguyễn Nga Mỹ, với bài viết “Giáo dục và đời sống văn hoá, tinh

thần ở vùng ven đô Hà Nội” [91] Bài viết đã cho thấy một bức tranh khá

hoàn chỉnh về một xã hội mang hơi thở của đô thị hiện đại xen kẽ với một xã hội in đậm dấu ấn nông thôn nguyên vẹn giá trị truyền thống đang trong quá trình đô thị hóa những năm qua ở các vùng NTHN Sự đan xen này xảy ra ở nhiều lĩnh vực khác nhau của ĐSTT và xã hội, đặc biệt là trong đời sống văn hóa, sinh hoạt tinh thần hàng ngày (trong có có tín ngưỡng, tôn giáo), quan

hệ gia đình, xã hội, giáo dục cộng đồng, Cư dân ở NTHN hiện không còn đơn thuần là những người dân sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước, những người công nhân làm nghề thủ công, hay các nghề truyền thống, những thương nhân buôn bán quy mô nhỏ lẻ như trước đây, mà là một tập hợp đa dạng bao gồm nhiều nhóm người, có nguồn gốc, công việc và thậm chí cả vị trí, địa vị cũng rất khác nhau trong xã hội thời đó Sự nhập cư ồ ạt

Trang 26

đến NTHN từ các tỉnh khác về đã khiến cho cộng đồng dân cư ven đô phức tạp hơn, không còn tính thuần nhất, đơn giản của xã hội nông thôn cổ truyền Với nỗ lực nghiên cứu, tác giả đã cố gắng làm rõ các vấn đề: mức sống tăng cao có khiến cho đầu tư vào giáo dục văn hóa tăng lên? Phải chăng có sự kết hợp hài hòa giữa đời sống sinh hoạt vật chất và ĐSTT phong phú,… Đây là những tư liệu quan trọng để tác giả luận án tiếp tục vận dụng, học hỏi, đi sâu nghiên cứu giải pháp góp phần phát huy được những ảnh hưởng tích cực và cũng hạn chế tối đa ảnh hưởng tiêu cực của TNTTH làng đến ĐSTT cư dân NTHN

Trần Đăng Sinh, với cuốn sách Đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” - cơ

sở triết học và giá trị trong lịch sử dân tộc [112] Mở đầu nội dung cuốn

sách, tác giả cho rằng: TNTTH làng của người Việt là biểu hiện của đạo lý

“Uống nước nhớ nguồn”, tấm lòng tri ân và sự tôn thờ của thế hệ con cháu sau này với đấng tổ tiên đi trước Đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” giữ một vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lối sống biết ơn tổ tiên, nguồn cội, điều chỉnh các nghi lễ, cũng như hoạt động thờ cúng trong TNTTH làng Đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” dạy con người phải sống hướng thiện, biết kính trên nhường dưới, yêu thương con trẻ, kính trọng, thờ

tự tổ tiên và luôn ghi nhớ công lao của những người đã có công với xóm làng, với đất nước, dân tộc Những nội dung trong cuốn sách mặc dù chỉ tìm hiểu ở những quan điểm mang tính lý thuyết, xoay quanh việc làm rõ giá trị đạo đức của đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, nhưng có thể coi là những gợi

ý về mặt phương pháp luận để tác giả luận án phân tích, đánh giá nhằm kiến nghị một số giải pháp góp phần phát huy phát huy ảnh hưởng tích cực của TNTTH làng đến ĐSTT của cư dân vùng NTHN

Nguyễn Hữu Thức, trong cuốn sách Tín ngưỡng, tôn giáo và lễ hội

dân gian Hà Tây [135], đã quan niệm rằng, lễ hội chính là dịp từ đó mỗi cư

dân trong làng xã có thể thấy rõ được nền văn hoá của địa phương mình Hạt

Trang 27

nhân trung tâm của lễ hội chính là phần lễ, phần trực tiếp liên quan và phản ánh các tín ngưỡng mang đậm yếu tố dân gian Với một xã hội mà sản xuất nông nghiệp có ưu thế trong đời sống kinh tế - xã hội như Việt Nam đã tạo dựng nên một hệ thống tín ngưỡng bản địa phản ánh đời sống văn hóa, đời sống tinh thần, đặc biệt là về tâm linh, vô cùng phong phú, nhiều chiều nhiều

vẻ, nhiều hình thức của người Việt cổ, đó là tín ngưỡng thờ nữ thần, thờ tổ tiên, thờ anh hùng văn hóa, anh hùng lịch sử,… được lưu truyền trong các lễ hội cổ truyền và còn tồn tại, tiếp tục phát triển cho đến ngày nay Nội dung

cơ bản của cuốn sách chủ yếu xoay quanh các hình thức tín ngưỡng mang đậm yếu tố dân gian của người Việt, ở đó có đề cập một phần đến TNTTH làng Không đi sâu vào các nghi lễ và ảnh hưởng theo hai chiều của tín

ngưỡng này, song Tín ngưỡng, tôn giáo và lễ hội dân gian Hà Tây của

Nguyễn Hữu Thức đã mở ra cái nhìn đầy đủ hơn cho tác giả luận án khi triển khai nội dung chương 3 của luận án

Chu Quang Trứ, với công trình khoa học Di sản văn hóa dân tộc trong

tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam [141] Theo tác giả, tín ngưỡng và tôn

giáo không thể thiếu và có quan trọng trong di sản văn hóa dân tộc Những

di sản đó cần được nhận diện, bảo tồn và tiếp tục được phát huy trong quá trình xây dựng nền văn hóa của dân tộc thời kỳ mới Vì lý do đó, tác giả đã

đi sâu phân tích, chỉ ra những yếu tố tích cực cần tiếp thu và những cái tiêu cực cần loại bỏ trong di sản văn hóa ở nước ta từ xa xưa cho đến hiện nay Các quan điểm lý luận và giải pháp mà cuốn sách nêu ra có ý nghĩa quan trọng đối với việc tiếp tục phát huy những ảnh hưởng mang giá trị tích cực của TNTTH làng, đồng thời góp phần làm rõ thêm định hướng nghiên cứu thực tiễn của luận án

Như vậy, có thể thấy rằng, đa số các công trình, sách báo khoa học trước đó, khi đề cấp đến quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm phát

Trang 28

huy những ảnh hưởng mang tính tích cực và hạn chế những ảnh hưởng mang tính tiêu cực của TNTTH làng đến ĐSTT cư dân NTHN hiện nay đều xoay quanh các quan niệm về tín ngưỡng, đời sống tôn giáo và lễ hội mang đậm

yếu tố dân gian gắn với nhu cầu văn hóa - tâm linh - tinh thần của người dân

và các mối quan hệ xã hội Nội dung của nó đề cập chủ yếu đến vấn đề về tín ngưỡng, tôn giáo, đời sống văn hóa, tinh thần, thờ cúng Thành hoàng

làng, Tuy nhiên, những công trình đó mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu

các loại hình tín ngưỡng dân gian nói chung, loại hình TNTTH làng mặc dù

có được đề cập đến, nhưng còn mờ nhạt, và đặc biệt những nghiên cứu mới

về ảnh hưởng của TNTTH tới ĐSTT cư dân NTHN chưa có Đây chính là

“khoảng trống” để tác giả luận án tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu, hoàn thiện

1.4 KHÁI QUÁT KẾT QUẢ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU TRONG LUẬN ÁN

1.4.1 Khái quát kết quả các công trình nghiên cứu liên quan đến

đề tài

Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng là một trong những tín ngưỡng tiêu biểu trong tín ngưỡng dân gian truyền thống ở Việt Nam Ngay khi mới ra đời cho đến nay, tín ngưỡng bản địa, dân gian, truyền thống, TNTTH làng

đã có ảnh hưởng lâu dài, sâu rộng, toàn diện và khá đậm nét đến mọi khía cạnh của đời sống xã hội ở chính nơi xuất hiện tín ngưỡng cũng như ở các vùng có Thành hoàng riêng Vì thế, các công trình khoa học về tín ngưỡng dân gian nói chung, về ảnh hưởng của TNTTH làng đến ĐSTT của xã hội nói riêng, đều ít nhiều đã đề cập đến ở mức độ nhất định

Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án rất phong phú, đa dạng và đã đạt được những kết quả quan trọng:

Thứ nhất, những công trình nghiên cứu lý luận về ảnh hưởng của

TNTTH làng đến ĐSTT của người dân NTHN hiện nay được nhiều tác giả

Trang 29

quan tâm, trình bày trong các công trình nghiên cứu chung về tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa và trong các công trình nghiên cứu riêng về Thành hoàng làng Việt Nam Cách tiếp cận và luận giải các vấn đề ở các khía cạnh với nhiều góc độ khác nhau, các công trình nghiên cứu đã khá thống nhất về cách xem xét, nhìn nhận TNTTH làng Việt Nam Thành hoàng làng Việt Nam được quan niệm là vị thần làng được dân làng suy tôn, có công với dân làng, được vua phong tước vương, đại diện cho vua đứng đầu chư thần trong dân làng Còn TNTTH làng thực chất là tín ngưỡng phúc thần đóng vai trò kiên kết cộng đồng, là nơi quy y tâm linh cho cư dân [38, tr.410] Mặc dù bàn nhiều đến TNTTH làng, nhưng những nhận định đưa ra của các tác giả

về vấn đề này còn đa chiều, chưa thống nhất vì truyền thuyết và sự tích về các Thành hoàng làng chủ yếu do truyền miệng để lại Tuy nhiên, từ các công trình nghiên cứu trước, tác giả có thể tham khảo, khái quát được thế nào là Thành hoàng làng, TNTTH làng và nêu lên bức tranh chung về TNTTH làng ở Việt Nam

Thứ hai, những công trình nghiên cứu về thực trạng ảnh hưởng của

TNTTH làng đến ĐSTT của cư dân vùng NTHN hiện nay đã đưa ra và phân tích khá rõ những vấn đề rất cơ bản, như khái niệm, cấu trúc của ĐSTT và chỉ ra vai trò, vị trí, cũng như ảnh hưởng của TNTTH làng đến ĐSTT của xã hội Việt Nam Từ đó, phân tích ảnh hưởng của TNTTH làng đến các lĩnh vực của ĐSTT xã hội Việt Nam suốt chiều dài lịch sử, từ đạo đức, lối sống, hay văn hóa, cách thờ tự,… Tuy chưa có công trình nào đánh giá một cách toàn diện và hệ thống về ảnh hưởng của TNTTH làng đến ĐSTT xã hội Việt Nam, nhưng các công trình khoa học trước đã cung cấp những dữ liệu quan trọng, là nguồn tài liệu nhiều giá trị tham khảo đầy bổ ích đặc biệt về mặt thực tiễn tạo điều kiện gợi mở hướng tiếp cận cho tác giả luận án thực hiện mục đích, nhiệm vụ của luận án

Trang 30

Thứ ba, những công trình khoa học nghiên cứu về quan điểm và giải

pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của TNTTH làng đến ĐSTT của cư dân NTHN hiện nay cho thấy, đến nay vấn đề này các công trình tìm hiểu đến không nhiều, chưa trở thành hệ thống; các công trình chủ yếu nghiên cứu TNTTH làng và sự ảnh hưởng của TNTTH làng đến ĐSTT của cư dân Thăng Long - Hà Nội nói chung, chưa nghiên cứu sự ảnh hưởng của TNTTH làng đến ĐSTT của cư dân NTHN (bao gồm cả vùng hành chính sát nhập từ năm 2008 cho đến năm 2019) một cách cụ thể Hơn nữa, việc nghiên cứu sự ảnh hưởng của TNTTH làng đến ĐSTT của cư dân NTHN vẫn còn nằm rải rác khắp nơi trong các công trình khoa học trước và chủ yếu dưới góc độ nghiên cứu về lĩnh vực tinh thần văn hóa của cư dân NTHN nói chung

1.4.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án

Đề tài luận án là hướng nghiên cứu về ảnh hưởng của TNTTH làng khu biệt trên một vùng cụ thể ở nước ta, đó là NTHN Các công trình khoa học đi trước nêu trên tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, chủ yếu khai thác dưới góc độ khảo cứu, lịch sử, địa lý, văn hóa, xã hội học Hà Nội là thủ

đô, là vùng đặc biệt quan trọng của cả nước, gắn với nền văn hóa Đại Việt trong lịch sử Các vấn đề nêu ra có liên quan đến nội dung luận án song các công trình trên chưa thành hệ thống, chưa giải quyết thật sự thấu đáo, nhất là đặt trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển như hiện nay

Việc quan niệm một cách rõ ràng, có cơ sở lý luận và thực tiễn với một phương pháp tiếp cận khoa học, tìm đáp số câu hỏi thế nào là Thành hoàng làng, là TNTTH làng, ảnh hưởng của nó đến ĐSTT như thế nào, làm thế nào để có thể phát huy ảnh hưởng mang tính tích cực, hạn chế những ảnh hưởng mang tính tiêu cực của TNTTH làng đến ĐSTT của cư dân NTHN, cho đến nay đó vẫn là “khoảng trống” mà tác giả luận án cần phải giải quyết

Trang 31

Hơn nữa, bản thân TNTTH làng ở Việt Nam nói chung, ở NTHN nói riêng cũng có sự phát triển, biển đổi trước sự ảnh hưởng mạnh mẽ của các yếu tố khách quan, bên ngoài và chủ quan, bên trong của xã hội Việt Nam hiện tại Vì thế, sự ảnh hưởng của nó đến ĐSTT của cư dân NTHN trong các giai đoạn khác nhau cũng có sự khác nhau

Tác giả luận án sẽ tiếp thu có chọn lọc, kế thừa những giá trị, những thành quả trong những công trình khoa học của các tác giả, nhà nghiên cứu, các học giả đi trước, tiếp tục triển khai nghiên cứu vấn đề, đặt trong bối cảnh của tình hình mới, làm rõ những vấn đề thuộc nội dung trọng tâm của đề tài luận án, cụ thể là:

Thứ nhất, từ cách tiếp cận triết học làm rõ vấn đề Thành hoàng làng,

quan niệm, nội dung và ảnh hưởng của TNTTH làng đến ĐSTT của cư dân NTHN hiện nay

Thứ hai, khảo sát, đánh giá đúng thực trạng ảnh hưởng của TNTTH làng

đến ĐSTT của cư dân NTHN hiện nay Trên cơ sở đánh giá, khảo sát thực trạng, tác giả luận án sẽ rút ra một số vấn đề đã và đang đặt ra cần giải quyết từ

sự ảnh hưởng của TNTTH làng đến ĐSTT của cư dân NTHN hiện nay

Thứ ba, tác giả luận án sẽ đề xuất những quan điểm cơ bản và một số

giải pháp chủ yếu nhằm phát huy ảnh hưởng mang tính tích cực, hạn chế ảnh hưởng mang tính tiêu cực của TNTTH làng đến ĐSTT của cư dân NTHN

hiện nay

Tiểu kết chương 1

Ảnh hưởng của TNTTH làng đến ĐSTT của cư dân NTHN hiện nay là vấn đề quan trọng mang tính lý luận và thực tiễn cao, phạm vi nghiên cứu rộng, do đó đã có nhiều tác giả, nhà khoa học cả trong và ngoài nước tiếp cận, nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Tác giả luận án đã cố gắng tổng quan những công trình khoa học tiêu biểu của các nhà khoa học trong và

Trang 32

ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án của mình, từ đó chỉ ra những vấn

đề mà các công trình đã thực hiện được và những vấn đề mà các công trình đó chưa đề cập đến hoặc đề cập chưa đầy đủ Nhìn chung, các nhà khoa học, bằng nhiều cách tiếp cận và hướng nghiên cứu khác nhau đã luận giải một cách sâu sắc, làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn về ảnh hưởng của TNTTH làng đến ĐSTT của cư dân NTHN hiện nay, từ đó có cơ sở khoa học

đề xuất giải pháp nhằm khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của TNTTH làng và phát huy tốt hơn nữa ảnh hưởng tích cực của tín ngưỡng này trong đến ĐSTT của cư dân NTHN hiện nay

Tuy nhiên, do giới hạn về mục đích, phạm vi nghiên cứu, đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách sâu sắc, đầy đủ và có

hệ thống dưới góc độ chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử

về ảnh hưởng của TNTTH làng đến ĐSTT của cư dân NTHN hiện nay

Vì thế, đề tài “Ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng đến đời sống tinh thần của cư dân ngoại thành Hà Nội hiện nay” có đối tượng,

phạm vi, nội dung nghiên cứu riêng, có nhiều vấn đề mới về lý luận và thực tiễn, không trùng lặp với bất cứ một công trình nào đã công bố

Trang 33

Chương 2 TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG VÀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN CƯ DÂN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI HIỆN NAY -

xã, quốc gia, dân tộc thể hiện sự sùng bái, ngưỡng vọng của nhân dân trước cái thiêng

2.1.1.1 Tín ngưỡng, tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng

Tín ngưỡng (belief) là một phương diện, một phần quan trọng trong đời

sống tâm linh, tinh thần của con người, đồng thời nó còn là một hiện tượng thể hiện sự độc đáo trong văn hoá, phản ánh lòng kiêu hãnh, niềm tin, khát vọng của con người từ xưa đến nay Theo Từ điển Tôn giáo, tín ngưỡng “là lòng tin và sự ngưỡng mộ, ngưỡng vọng vào một lực lượng siêu nhiên, thần

bí” [32, tr.634] Theo Bách khoa toàn thư thì, tín ngưỡng là một niềm tin có

hệ thống mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình yên cho bản thân và mọi người; tín ngưỡng còn là thể hiện giá trị của cuộc sống, ý nghĩa của cuộc sống bền vững, đôi khi được hiểu là tôn giáo

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đưa ra quan niệm:

Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua

những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng Song, đó là

Trang 34

niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người vào một lực lượng siêu

nhiên, thần bí, hay gọi là cái thiêng, cái đối lập với cái trần tục, hiện

hữu mà con người có thể, quan sát được Một lực lượng mang hình thức trừu tượng, có sức mạnh hư ảo, vô hình mà người ta thường gọi

là trời, Phật, thần thánh Lực lượng đó ảnh hưởng đến đời sống nội

tâm, tư tưởng, tâm lý, tình cảm của con người, được con người tin là

có thật, sùng bái và tôn thờ Lòng tin và tình cảm đó của con người cũng là cơ sở cho phát triển những hiện tượng mê tín dị đoan [109] Điều cốt lõi, căn bản của tín ngưỡng là niềm tin mãnh liệt vào cái không có thực hay còn gọi là siêu thực, vào đấng thiêng liêng Tuy rất khác nhau về nội dung, hình thức, nhưng khi đã trở thành đối tượng tôn thờ, các hiện tượng của tự nhiên, xã hội và các nhân vật có thật trong lịch sử đều được thần hóa, thánh hóa Bản chất của niềm tin siêu thực trong tín ngưỡng nói chung là khẳng định sự tồn tại, cứu giúp, chở che, độ trì của thần, thánh, lực lượng siêu nhiên đối với con người

Sự phong phú, mới mẻ, đa dạng của tín ngưỡng là cơ sở tạo nên nhiều cách phân loại tín ngưỡng khác nhau Dựa trên cơ sở thời gian, có tín ngưỡng nguyên thủy, tín ngưỡng hiện đại; phân chia theo đối tượng ngưỡng mộ, có tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng sùng bái con người, tín ngưỡng sùng bái phồn thực,…

Tín ngưỡng không có tổ chức chặt chẽ, không có hệ thống giáo lý điều hành, và giáo luật như tôn giáo, nếu có thì hệ thống đó cũng lẻ tẻ, rời rạc và thiếu tính chặt chẽ Là một tôn giáo, phải có đủ các yếu tố cấu thành như giáo chủ, giáo lý, giáo luật và tín đồ Còn trong các loại hình tín ngưỡng dân gian các yếu tố đó nếu có thì không điển hình Tín đồ tôn giáo, trong một thời điểm cụ thể, chỉ có thể có một tôn giáo, thì một người dân có thể đồng thời sinh hoạt ở nhiều tín ngưỡng khác nhau Các tôn giáo có hệ

Trang 35

thống kinh điển đầy đủ, đồ sộ thì các loại hình tín ngưỡng chỉ có một số bài văn tế (đối với TNTTH), bài khấn (đối với tín ngưỡng thờ tổ tiên và thờ Mẫu) Trong trường hợp đặc biệt, khi tín ngưỡng có bước phát triển cho đến một mức độ nhất định thì có thể trở thành tôn giáo

Tín ngưỡng mang tính dân tộc, dân gian Niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, huyền bí, vào sự bất tử của linh hồn là nguồn gốc để từ đó hình thành nên tín ngưỡng dân gian Tín ngưỡng dân gian tồn tại dưới nhiều hình thức như: Tín ngưỡng thờ thần, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng phồn thực Theo Võ Thanh Bằng, “Tín ngưỡng dân gian là một hình thức văn hóa tâm linh và cũng là một mặt của lối sống của con người và cộng đồng người dưới các mức độ khác nhau khá nhạy cảm, có truyền thống lâu đời không chỉ ở nông thôn mà còn thẩm thấu khắp thành thị” [9, tr.11]

Tín ngưỡng dân gian Việt Nam, hay còn gọi là tín ngưỡng truyền thống Việt Nam, là tín ngưỡng của các dân tộc bản địa sống trên lãnh thổ Việt Nam Đây là loại hình tín ngưỡng quan trọng, giải quyết được cơ bản nhu cầu về mặt tâm lý, tinh thần của đại đa số người dân Việt Nam Kể từ khi hình thành các tín ngưỡng dân gian cho đến nay, người Việt Nam đã biết tiếp thu các mặt tích cực, cải biến những mặt không phù hợp của tín ngưỡng, tôn giáo ngoại lai, góp phần tạo nên giá trị mang nét đặc sắc văn hóa truyền thống của dân tộc ta

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng Truyền thống sinh hoạt, thờ cúng, tín ngưỡng đã xuất hiện từ lâu đời trong các làng quê của người dân Việt Nam Gắn với đời sống kinh tế, xã hội và yếu tố tâm linh của từng dân tộc trong cộng đồng người Việt ở nhiều vùng khác nhau, sẽ có những tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau Theo các nhà nghiên cứu thống kê, ở Việt Nam, phần trăm dân số có đời sống tín ngưỡng lên đến 95% Mỗi năm có

Trang 36

khoảng trên dưới 8.500 lễ hội, hoạt động thờ cúng, sinh hoạt tâm linh hoặc tín ngưỡng cấp quốc gia và địa phương được tổ chức

Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng ở Việt Nam từ Kinh Thành dần lan truyền đến các vùng quê và trở thành một trong những dấu ấn văn hóa đặc trưng, mang dấu ấn của người dân nông nghiệp trồng lúa nước Cơ sở của mọi loại hình tôn giáo, tâm linh, tín ngưỡng nói chung đều là niềm tin và sự ngưỡng mộ, kính vọng của con người vào cái “siêu nhiên”, cái “cái thiêng” Các loại tín ngưỡng đều có sức sống mãnh liệt, dai dẳng và ảnh hưởng sâu đậm, lâu dài Thành hoàng mà nhân dân tôn thờ thường là những nhân vật trong lịch sử từng có công đánh đuổi quân xâm lược, đem lại cuộc sống hòa bình cho nhân dân, như: Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Trần Quốc Toản,… Hay những vị thần xuất hiện trong truyền thuyết, sự tích đã từng giúp người dân chống lại các thiên tai, dịch bệnh như Thần núi Tản Viên; hoặc những người có công khai sinh ra các làng xã, sáng tạo và truyền dạy cho nhân dân các nghề thủ công, như: Vị Tổ nghề gốm Bát Tràng, làng Phù Lãng là Hứa Vĩnh Kiều, vị Tổ nghề đúc đồng ở Đại Bái là Nguyễn Công Truyền, ở Quảng Bố là Nguyễn Công Nghệ Cũng có một vài trường hợp ngoại lệ, một

số nơi dân làng vẫn còn giữ vững tục thờ các vị Thành hoàng làng vốn làm những nghề không mấy vinh quang như nghề ăn xin, ăn trộm,… Điều đó cho thấy tính chất khá đa dạng, hấp dẫn, phong phú của các vị Thành hoàng và TNTTH làng ở nông thôn Việt Nam

Tín ngưỡng thờ Thành hoàng là một cấp độ thứ hai của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên (trên phạm vi rộng hơn là làng xã); là niềm tin của một cộng đồng người vào sự che chở, phù hộ của một vị thần linh được dân làng coi là thần trông coi vận mệnh của cộng đồng, thường được nhà nước phong kiến sắc phong Niềm tin đó được thể hiện thông qua các lễ thức nhất định và hội làng hàng năm TNTTH làng đã xuất hiện từ lâu và ngày càng được phổ biến rộng rãi đến các làng, xã trong cả nước

Trang 37

“Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động tôn thờ tổ tiên; tưởng niệm những người có công với nước, với cộng đồng; thờ cúng thần thánh, biểu tượng có tính chất truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội” [108, tr.8] Đối tượng tôn thờ có thể là những hiện tượng tự nhiên được thần thánh hoá như:

mây, mưa, bão gió, núi, sông, biển, đất, trời…; những hiện tượng xã hội

như: chiến tranh, tình yêu…; những người thân kính như: tổ tiên, ông bà…; những người có công với nhân dân, được nhân dân suy tôn như: Hùng Vương, Thánh Gióng, Hai Bà Trưng…

Trong Việt Nam phong tục, tác giả Phan Kế Bính cho rằng mỗi làng

thường thờ một vị Thành hoàng làng, cũng có làng thờ hai, ba thậm chí năm, bảy vị Thành hoàng; tuy nhiên, trong đó có một vị làm chủ thần Mỗi vị Thành hoàng đều có một thần tích và thần phả riêng gắn liền với những đặc điểm, điều kiện xã hội, kinh tế, tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử của làng đó

Từ quan niệm về tín ngưỡng nêu trên, tác giả luận án cho rằng:

Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng ở Việt Nam là hình thức tín ngưỡng dân gian, thờ cúng thần bản mệnh của cộng đồng làng, là nhiên thần hoặc nhân thần, mang đậm dấu ấn tâm linh, tồn tại lâu dài, thể hiện quan niệm

“Uống nước nhớ nguồn” của người dân Việt Nam

Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng ở Việt Nam là một hình thức tín ngưỡng dân gian, tồn tại lâu dài, từ đời này quan đời khác Trong quan

niệm của người dân Việt, Thành hoàng làng là vị thần có khả năng siêu việt,

có thể làm cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, giúp cho cuộc sống của người dân bình yên, tốt đẹp Thành hoàng làng là biểu tượng tâm linh được người dân tôn sùng, là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho họ Tương truyền các vị Thành hoàng rất thiêng nên người dân truyền tai nhau đã xây dựng bia, hã mã trước cửa các đình, đền; sau đó có căn dặn con cháu phải

Trang 38

nghiêm túc thực hiện những quy ước của làng, nếu ai có hành vi chống lại ngay lập tức gặp sự trừng phạt thích đáng của các vị Thành hoàng làng Điều này thể hiện mức độ thiêng liêng, cao quý đầy trọng vọng của người dân dành cho Thành hoàng làng

Mỗi làng phụng sự một hay nhiều vị Thành hoàng Thông thường, mỗi

làng phụng sự một vị Thành hoàng làng nhất định; nhưng cũng có làng thờ nhiều hơn - hai ba hoặc năm bảy vị Thành hoàng, gọi chung là phúc thần Các làng xã ở vùng đồng bằng Bắc bộ, hầu hết đều thờ hai loại Thành hoàng Vị Thành hoàng thứ nhất là biểu tượng cho sức mạnh tự nhiên (nhiên thần), còn

vị Thành hoàng thứ hai là một nhân vật trong lịch sử hoặc người có công với làng xã (nhân thần) Nhiều làng, vị Thành hoàng được thờ thường là một hiện tượng nào đó của tự nhiên, như thần núi, thần sông, thần mây, thần sấm, thần sét, thần mưa Đối với các vị Thành hoàng là một hiện tượng nào đó của tự nhiên, nơi nào thờ loại thần gì tùy thuộc vào đặc điểm cư trú, điều kiện tự nhiên của làng đó Có những vùng, những làng quê làm nghề sản xuất nông nghiệp thường hay thờ các vị Thành hoàng cầu cho mưa thuận gió hoà, còn

cư dân ven sông, các làng chài thờ thuỷ thần, hoặc cư dân ở các vùng miền núi non thường thờ sơn thần, tất cả đều mong muốn được che chở, làm ăn được thuận buồm xuôi gió, gia đình mạnh khoẻ, bình an Tuy nhiên, Thành

hoàng làng không phải ở bất cứ nơi nào của các miền quê đều có Trong Nếp

cũ - Tín ngưỡng Việt Nam, Toan Ánh cho biết:

Nhiều làng hoặc vì lý do này, lý do khác không có Thành hoàng Có những làng trước đây cũng đã có thần, nhưng theo sự tin tưởng, thần này đã được dời đi cai quản nơi khác, hoặc được đem lên dự vào hàng Thiên thần Lại có nhiều thần bị phế truất, có thể do một đạo sắc của Nhà vua, có thể do một vị Ác thần khác đánh bại đi, rồi sau dân làng cầu khấn các vị Thượng đẳng thần khác tới trị vị Ác thần, vị Ác thần phải bỏ đi, mà vị thần cũ chưa triệu trở lại được Cũng có những làng mới lập, nên chưa có thần [4, tr.133-134]

Trang 39

Có làng không thờ Thành hoàng, vì những người có công được nhân dân tôn sùng nhưng không được nhà vua phong hiệu Ở một số làng xã Việt

Nam và vùng NTHN, nhân dân vẫn nói với nhau những câu thành ngữ:

“Chuông làng nào làng ấy đánh, Thánh làng nào làng ấy thờ” Nhiều làng cùng thờ một vị Thành hoàng, như thần Tản Viên được rất nhiều làng NTHN thờ, mặc dù vậy những thần tích của vị Thành hoàng này ở mỗi địa phương lại mỗi khác Ở Quốc Oai, Tản Viên được thờ vì công ơn của ngài trong việc dạy dân làm ruộng, mở hội, ca hát; ở Ba Vì ngài lại được thờ bởi công đức dạy dân làm ra lửa, săn bắn, làm liềm cắt cỏ, gặt lúa, người đã dạy dân đan sọt

từ mây, tre để làm dụng cụ gánh cỏ, gánh lúa …

Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng có tổ chức, lễ nghi, mang đậm yếu

tố tâm linh Nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Hinh cho rằng đại đa số sự tích về

Thành hoàng làng đều là những truyền thuyết, sau này những truyền thuyết ấy được các địa phương chú trọng và trở thành văn bản chính thức được Nhà nước công nhận, từ đó xuất hiện các Thần tích, Thần phả, Sắc phong Để việc

thờ Thành hoàng làng được kế tiếp từ đời này sang đời khác, việc làm không

thể thiếu được là phải soạn thần tích (còn gọi là Thần phả hay Ngọc phả)

Thời kỳ đầu, Thành hoàng làng được thờ ở đền (hay miếu), sau này, được thờ

cả ở đền và hậu cung đình làng Vì là nơi Thành hoàng làng ngự, nên đền hay miếu, hậu cung đình làng, không ai cũng có thể tự do đến được; mặt khác, việc thờ tự Thành hoàng là việc tối hệ trọng của làng, phải được thực hiện thường xuyên

Tín ngưỡng thờ Thành hoàng là một hệ thống tín ngưỡng đa nguyên, vừa mang đậm dấu ấn của bản địa, với truyền thống, lối sinh hoạt của cư dân nông nghiệp; vừa tồn tại song hành cùng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ cúng các vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa,… hay các vị “tiên hiền”, “hậu hiền” có công khai hoang, mở đất, TNTTH của người Việt, về thực chất là thờ phúc

Trang 40

thần, nó góp phần không nhỏ và quan trọng vào việc gìn giữ sự đoàn kết, gắn kết cộng đồng, cư dân, làng xóm; giáo dục lòng yêu quê hương, làng xã, đất nước, lòng tự tôn, tự hào dân tộc,… Đó là những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc mà chúng ta cần gìn giữ và phát huy

Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng đóng vai trò quan trọng, không thể thiếu trong ĐSTT của cư dân làng, xã Việt Nam và được thể hiện cụ thể như sau:

Một là, TNTTH làng có vai trò quan trọng trong hệ thống tín ngưỡng ở làng quê Việt Nam

Thành hoàng là đấng tối cao của làng xã Vị trí, vai trò của Thành hoàng không chỉ ở phương diện tinh thần mà còn được thể hiện cụ thể ở phương diện đời sống sinh hoạt vật chất của dân làng Thành hoàng là vị thần tối linh, có thể bao quát, như một nhân chứng lịch sử chứng kiến toàn bộ đời sống, sinh hoạt hàng ngày của dân làng, đồng thời cũng bảo vệ và phù hộ cho

cư dân có sức khỏe, làm ăn may mắn, thuận lợi và phát đạt Thờ phụng Thành hoàng, xét cho cùng, đó là sự thờ phụng luật lệ làng xã, lề thói gia phong của làng Người ta quan niệm rằng, vị Thành hoàng làng mình là người có quyền lực siêu nhiên, có đủ khả năng ngăn chặn mọi sự xâm hại đến làng, bảo vệ hữu hiệu cho cả làng và đồng thời cũng thực thi quyền lực trong việc thưởng

phạt dân làng để duy trì đạo lý riêng của làng mình, tức lệ làng

Hai là, TNTTH làng có vai trò liên kết, gắn bó cộng đồng dân cư làng

Việc cư dân trong làng cùng thờ cúng một vị Thành hoàng, gửi gắm niềm kiêu hãnh, sự tin tưởng, kính yêu của mình vào vị Thành hoàng làng

đó đã tạo thành một sợi dây vô hình kết nối những con người trong làng Trên cơ sở gắn kết tâm linh, con người trở nên sống chan hòa với nhau, cởi

mở với nhau hơn, cùng mục tiêu phấn đấu nhằm góp phần củng cố tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau xây dựng làng xã, quê hương giàu đẹp Xét

Ngày đăng: 10/05/2021, 00:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w