Luận án trên cơ sở lý luận, thực trạng quy định và thực tiễn thi hành pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của người bị buộc tội, luận án nghiên cứu toàn diện, kiểm chứng, đánh giá việc thực hiện địa vị pháp lý của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trong thời gian qua tại Thành phố Hồ Chí Minh, luận án hướng đến góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự, hệ thống các giải pháp, cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội nhằm thực hiện có hiệu quả địa vị pháp lý của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Học viện Khoa học Xã hội
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS TRẦN ĐÌNH NHÃ
Phản biện 1: GS.TS Hồ Trọng Ngũ
Phản biện 2: PGS.TS Cao Thị Oanh
Phản biện 3: PGS.TS Trịnh Tiến Việt
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến
sĩ họp tại: Học Viện Khoa học Xã hội vào lúc: giờ, ngày tháng năm 2020
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện học viện khoa học xã hội
- Thư viện quốc gia việt nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế, quyền mà mỗi con người đều có đơn giản vì họ là con người Nếu mất đi những quyền này, con người sẽ không còn là con người nữa Ở Việt Nam, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân luôn được tôn trọng và bảo đảm Cùng với việc ghi nhận quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, Đảng và Nhà nước ta đã thực thi nhiều chính sách bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và tham gia hầu hết các điều ước quốc tế về quyền con người Hiến pháp 2013 quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Khoản
2, Điều 14) Người bị buộc tội cũng là con người, tuy nhiên do họ bị nghi ngờ đã thực hiện hành vi phạm tội nên theo quy định pháp luật họ sẽ bị hạn chế một số quyền Do đó, để bảo đảm, bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội, pháp luật cần quy định cụ thể về người bị buộc tội, địa vị pháp lý của người bị buộc tội để họ có thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng
mà các cơ quan và người tiến hành tố tụng không xâm phạm và cản trở
Về nhận thức: Hiện nay nhiều nước trên thế giới và cả Việt Nam đều
có những quy định cụ thể về địa vị pháp lý của người bị buộc tội theo xu hướng tôn trọng và bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự, đảm bảo khi xem xét, giải quyết một vụ án hình sự thì người bị buộc tội chiếm vị trí trung tâm, họ là chủ thể chính và quan trọng nhất trong quan hệ pháp luật tố tụng hình sự, hay nói cách khác nếu không có người bị buộc tội thì không
có vụ án hình sự, và khi có sự kiện pháp lý hình sự xảy ra thì các hoạt động
tố tụng hình sự sẽ bắt đầu nhằm làm sáng tỏ sự thật của vụ án trên cơ sở thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, trong quá trình khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử để chứng minh cho sự buộc tội, phải bảo đảm
Trang 4hoạt động này đúng thủ tục, trình tự, thật sự khách quan, kịp thời, đúng người, đúng tội và không bỏ lọt tội phạm trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0
Về mặt lập pháp: Địa vị pháp lý của người bị buộc tội hiện nay được luật quy định cụ thể, rõ ràng, đặc biệt là trong Hiến pháp năm 2013 và trong pháp luật tố tụng hình sự Vấn đề quan trọng là việc thi hành các quy định của pháp luật vào thực tiễn như thế nào để bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự, thể hiện tính nhân văn, nhân đạo, vừa không làm oan người vô tội, vừa không bỏ lọt tội phạm, hạn chế vi phạm tố tụng trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự Mặc dù pháp luật tố tụng hình sự sự Việt Nam đã tạo ra các tiền đề, điều kiện về mặt pháp lý, thiết lập cơ chế thực hiện và đặt ra các biện pháp kiểm tra, giám sát hoạt động tố tụng hình sự của các cơ quan và người tiến hành tố tụng cụ thể là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, và các chức danh tư pháp kèm theo, cơ
sở vật chất phục vụ hoạt động tố tụng, tuy nhiên thực tế những năm gần đây, hoạt động tố tụng hình sự ở nước ta vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế thiếu sót, vi phạm về tố tụng, không đảm bảo quyền của người bị buộc tội, ở một
số địa phương còn xảy ra án oan sai, bởi các nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhất là lối mòn tư duy pháp lý, hiểu chưa đúng quy định pháp luật, áp dụng tùy tiện quy định pháp luật trong quá trình xác minh, điều tra, khởi tố, truy tố, xét xử khi người tiến hành tố tụng thường thiên về hướng buộc tội, định kiến tiêu cực của xã hội đối với người bị buộc tội
Về thực tiễn: Tại Thành phố Hồ Chí Minh, là địa phương có số lượng luật sư đông nhất (chiếm 40% luật sư cả nước), tổ chức hành nghề luật sư nhiều (chiếm 1/3 so với cả nước), mặc dù có nhiều giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động hành nghề của Luật sư nhưng mục tiêu của ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 có trên 50% vụ án hình sự
do Tòa xét xử có Luật sư tham gia đến nay vẫn chưa đạt [130, tr.12-14] Một số luật sư còn chưa chủ động, tích cực trong việc tự học tập, cập nhật kiến thức pháp luật để nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng hành nghề
Trang 5cũng như việc trau dồi phẩm chất chính trị, đạo đức và ứng xử nghề nghiệp Ngoài ra, một số luật sư chưa có tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc, chưa tận tụy và nhiệt tình với khách hàng, chỉ quan tâm đến thù lao
mà coi nhẹ chất lượng hành nghề [130, tr.15], điều này làm ảnh hưởng rất lớn đến địa vị pháp lý của người bị buộc tội tại Thành phố Hồ Chí Minh
Về công lý và yêu cầu bảo vệ quyền con người: Bảo đảm địa vị tố tụng của người bị buộc tội thì rất cần một cơ chế trực tiếp bảo vệ các quyền và nghĩa vụ tố tụng hình sự của người bị buộc tội Ngoài nội dung pháp luật đã
có quy định quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội tương quan với quyền
và nghĩa vụ của các cơ quan và người tiến hành tố tụng, nhưng để đạt được mục tiêu với hiệu quả cao nhất thì cần quy định cụ thể hơn các phương thức, giới hạn để các bên buộc tội và gỡ tội thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình mà không xâm phạm đến quyền của nhau Đồng thời có giải pháp kiện toàn bộ máy tổ chức, cơ sở vật chất và phương tiện làm việc, giam giữ của các cơ quan tiến hành tố tụng, của tổ chức hành nghề luật sư theo hướng hiện đại và chuyên nghiệp, đáp ứng ngày càng tốt và kịp thời nhu cầu cung cấp dịch vụ pháp lý của các đối tượng (đặc biệt là người bị buộc tội); đảm bảo số lượng và chất lượng đội ngũ luật sư tham gia tố tụng Việc xác định địa vị pháp lý của người bị buộc tội là vô cùng quan trọng không chỉ để giải quyết vụ án hình sự mà còn là để bảo vệ các quyền
và lợi ích hợp pháp của họ Khi đề cập đến địa vị pháp lý của một chủ thể là không chỉ đề cập đến quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể mà còn rộng hơn là bao gồm cả phương thức thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ thể Song, thực tiễn thì vấn đề bảo đảm và bảo vệ địa vị pháp lý của người
bị buộc tội có lúc, có nơi chưa thật sự được quan tâm đúng mức từ nghiên cứu lý luận lẫn áp dụng pháp luật trong thực tiễn Mặc dù có rất nhiều công trình đã làm sáng tỏ quyền và nghĩa của người bị buộc tội trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, quyền con người, quyền công dân của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự, nhưng chưa quan tâm nguyến tắc quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại để nghiên cứu sâu về quan hệ pháp luật tố tụng hình sự giữa các chủ thể tố
Trang 6tụng hình sự, thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự cho thấy luật có quy định đầy đủ các quyền của chủ thể tham gia tố tụng nhưng chưa quy định tương ứng, cụ thể nghĩa vụ của chủ thể tiến hành tố tụng đáp ứng các quyền đó Theo tác giả, vấn đề cần nghiên cứu về địa vị pháp lý của người
bị buộc tội không chỉ xuất phát từ khía cạnh các quyền và nghĩa vụ của họ,
mà cần nghiên cứu thêm ở một góc độ khác: mối tương quan với quyền và nghĩa vụ của cơ quan và người THTT, chính là phương thức để người bị buộc tội thực hiện các quyền và nghĩa vụ của họ, nghiên cứu từ chính những hoạt động của các cơ quan và người tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi thực hiện chính sách, pháp luật hình sự Ngoài
ra, việc áp dụng chính sách, pháp luật tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người, quyền tố tụng của người bị buộc tội trên phạm vi cả nước nói chung và ở địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng cũng còn là khoảng trống lớn, xét về khía cạnh lý luận và nhất là thực tiễn, vấn đề cấp thiết hiện nay là cần nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân, đề xuất yêu cầu và các giải pháp nhằm hoàn thiện, tổ chức thực hiện có hiệu quả hơn hệ thống pháp luật tố tụng hình sự, bảo đảm quyền con người, quyền tố tụng khi mà người
bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Từ những lý do nêu trên, việc nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về “Địa vị pháp lý của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” là rất cần thiết
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận, thực trạng quy định và thực tiễn thi hành pháp luật
tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của người bị buộc tội, luận án nghiên cứu toàn diện, kiểm chứng, đánh giá việc thực hiện địa vị pháp lý của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trong thời gian qua tại Thành phố Hồ Chí Minh, luận án hướng đến góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự, hệ thống các giải pháp, cơ chế bảo đảm và
Trang 7bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội nhằm thực hiện có hiệu quả địa vị pháp lý của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Thứ nhất, phân tích, luận giải các vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, phân biệt địa vị pháp
lý của từng loại người bị buộc tội với các chủ thể tố tụng hình sự và tham gia tố tụng khác Việc nghiên cứu phương thức, biện pháp thực hiện các quyền và nghĩa
vụ của người bị buộc tội thể hiện thông qua nghiên cứu hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng để làm
rõ khái niệm, bản chất, chủ thể, quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam; các chính sách hình sự, chức năng tố tụng,
mô hình tố tụng đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam; luận giải các yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách hình sự, chức năng tố tụng, mô hình tố tụng nhằm đảm bảo quyền của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, trong đó lưu ý nghiên cứu vai trò của luật sư, người bào chữa
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng chính sách hình sự, pháp luật hình sự và tố tụng hình sự đối với việc đảm bảo, bảo vệ quyền của người
bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thi hành tại thành phố Hồ Chí Minh để tìm ra các nguyên nhân, hạn chế, bất cập làm cơ
sở cho việc đề ra các yêu cầu và các giải pháp đảm bảo tăng cường địa vị pháp của người bị buộc tội
Thứ ba, xây dựng và hoàn thiện hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả, bảo vệ và bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án: Địa vị pháp lý của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, luận án tiếp cập đối tượng nghiên cứu
là các quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội; phương thức, biện pháp thực
Trang 8hiện các quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội ở ba phương diện lý luận, pháp luật thực định và thực tiễn thực hiện, áp dụng pháp luật tố tụng hình sự đối với người bị buộc tội tại thành phố Hồ Chí Minh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án phân tích, luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền
và nghĩa vụ của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, phân biệt địa vị pháp lý của người bị buộc tội với các chủ thể tiến hành tố tụng hình sự và tham gia tố tụng hình sự Thông qua nghiên cứu hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
và người tham gia tố tụng phân tích phương thức, biện pháp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội để làm rõ nội hàm khái niệm, bản chất, chủ thể, quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt nam
Luận án nghiên cứu, thống kê, khảo sát thực trạng quy định và thực tiễn thi hành pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của người bị buộc tội từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh chỉ ra một số thiếu khuyết trên cơ
sở đó đề xuất định hướng xây dựng và hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự,
hệ thống các giải pháp góp phần thực hiện có hiệu quả địa vị pháp lý của người bị buộc tội ở Việt Nam nói chung và ở địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
- Thời gian nghiên cứu: đối với văn bản pháp luật, luận án chủ yếu được thực hiện trên cơ sở phân tích, đánh giá quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 1988, 2003 và 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật kèm theo
- Về các văn bản hành chính: các Báo cáo thống kê của các cơ quan bảo vệ pháp luật, cơ quan thi hành pháp luật tại thành phố Hồ Chí Minh
- Về số liệu khảo sát: tổng hợp và phân tích, đánh giá và so sánh số liệu giai đoạn từ 2009-2019
- Về mặt không gian: địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận
Trang 9Luận án được tiến hành nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật, duy vật lịch lử của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, về quyền con người và quyền công dân trong mối quan hệ với quyền lực nhà nước, cải cách tư pháp, nhà nước pháp quyền
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu trực tiếp qua khảo sát thực tế, tiếp xúc và trao đổi trực tiếp với các nhà nghiên cứu, những người phụ trách và nghiên cứu lĩnh vực chính trị và luật pháp
- Phương pháp nghiên cứu gián tiếp thông qua tổng hợp và phân tích tư liệu, nhất là các tư liệu sơ cấp, so sánh các vấn đề nghiên cứu giữa các đối tượng được chọn lựa
- Tiếp cận nghiên cứu dựa trên phương thức thực hiện quyền Theo đó, nghiên cứu về người bị buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam theo cách tiếp cận dựa trên quyền tố tụng là biện pháp pháp lý để thực hiện quyền con người, hay nói cụ thể hơn, không chỉ nghiên cứu về khái niệm người bị buộc tội là ai, họ có những quyền gì, mà cần phải quan tâm đến cơ chế để các chủ thể mang quyền tố tụng này bảo đảm thực tiễn được hưởng đầy đủ các quyền va tuân thủ nghiêm các nghĩa vụ do luật định Cách tiếp cận dựa trên phương thức thực hiện các quyền tố tụng, cũng chính là cách tiếp cận biện chứng trong mối quan hệ phổ biến giữa các bên thì quyền và nghĩa vụ của bên này thì tương ứng sẽ là quyền và nghĩa vụ của bên kia, không thể
có việc quy định quyền nhưng không chỉ rõ chủ thể đáp ứng quyền Trong thực tiễn hoạt động tố tụng sẽ chỉ rõ cơ quan nào, cá nhân nào có trách nhiệm, nghĩa vụ bảo đảm các quyền này của người bị buộc tội, lý giải được nguyên nhân tại sao pháp luật có quy định nhiều quyền cho người bị buộc tội nhưng không thực hiện được, từ đó giúp chúng ta tìm ra các vướng mắc, bất cập, thiếu sót trong thực tiễn thi hành đưa ra giải pháp khắc phục Tác giả sử dụng cách tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học đối với các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
Trang 10- Chương 1 và 2: sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh nhằm xây dựng khái niệm người bị buộc tội và quyền và nghĩa của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam, các cở sở xác định địa vị pháp lý của người bị buộc tội, cụ thể:
+ Tổng kết kinh nghiệm, tiếp thu tri thức khoa học của các công trình nghiên cứu nhằm hỗ trợ nhận định đánh giá trong luận án góp phần làm cho luận án gắn kết với thực tiễn và có giá trị khoa học cao hơn
+ Tiến hành khảo sát tình hình thực tiễn, so sánh để đánh giá đúng thực trạng bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội cũng như các nội dung khác liên quan đến việc đảm bảo quyền của người bị buộc tội, nghĩa vụ và tránh nhiệm, quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; lựa chọn địa bàn thành phố Hồ Chí Minh để khảo sát, từ đó có thể tổng hợp, so sánh, phân tích số liệu, kết luận các nội dung liên quan
- Chương 3: tác giả sử dụng phương pháp phân tích, thống kê hình sự, tọa đàm trao đổi với các chuyên gia, tham khảo tri thức, kinh nghiệm của các chuyên gia lý luận và thực tiễn để làm rõ địa vị pháp lý của người bị buộc tội tồn tại trong mối liên hệ phổ biến với các chủ thể tố tụng, những nội dung có liên quan đến việc bảo đảm và thực thi quyền của người bị buộc tội, vai trò trách nhiệm của cả hệ thống tố tụng hình sự trong suốt quá trình tố tụng hình sự, trong đó nhấn mạnh hoạt động của các cơ quan và người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng bao gồm như Điều tra viên,
Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, người bào chữa và cả những người tham gia tố tụng khác có ảnh hưởng trực tiếp đến địa vị pháp lý của người bị buộc tội, cụ thể:
+ Thu thập số liệu báo cáo năm của các cơ quan tại thành phố Hồ Chí Minh như: Viện kiểm sát, Tòa án, Ban pháp chế Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ban chỉ đạo cải cách tư pháp,… nhằm phân tích thực trạng bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội; hoạt động thi hành quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan và người tiến hành tố tụng + Chọn và phân tích một số vụ án điển hình nhằm tìm hiểu, đánh giá về
Trang 11nhận thức của các cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đối với quyền của người bị buộc tội, các quan điểm đánh giá về cơ chế và điều kiện bảo đảm quyền của người bị buộc tội thực tiễn thi hành tại thành phố Hồ Chí Minh nhằm cố thêm các căn cứ cho các luận giải trong luận án
- Chương 4: chủ yếu sử dụng phương pháp tổng hợp, dự báo khoa học
về các xu hướng và yêu cầu bảo đảm địa vị pháp lý của người bị buộc tội,
từ đó kiến nghị các giải pháp củng cố và tăng cường địa vị pháp lý của người bị buộc tội
5 Những đóng góp mới về khoa học của luận án
Đề tài không chỉ nghiên cứu, luận giải quyền và nghĩa vụ từ góc độ quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật mà còn đặt địa vị pháp lý của người bị buộc tội vào trong hệ thống chính sách pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, kết hợp so sánh, đối chiếu, đánh giá, kiến nghị giải pháp phù hợp, định hướng cơ chế đảm bảo thực hiện quyền, nghĩa vụ của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Bên cạnh đó, tác giả còn nghiên cứu từ khái niệm người bị buộc tội, địa vị pháp lý của người
bị buộc tội theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và với góc nhìn từ hoạt động thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng để phát hiện những thiếu khuyết, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng chính sách pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, từ đó nhận diện rõ vai trò, chức năng buộc tội, bào chữa và chức năng xét xử, trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải đảm bảo thực hiện đúng pháp luật để người bị buộc tội thực hiện được các quyền mà không bị cản trở, xâm phạm
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng tham khảo trong công tác nghiên cứu lý luận của cơ quan bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người Với nội dung trình bày và phân tích về cơ sở lý luận cũng như cơ chế bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, luận án có thể là nguồn tư liệu có giá trị để các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, các nhà làm luật có thể dùng làm tài
Trang 12liệu tham khảo, nghiên cứu hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Các kết luận, đề xuất của luận án là kết quả nghiên cứu có cơ sở lý luận và thực tiễn, vì thế các tổ chức và cá nhân liên quan lĩnh vực pháp luật, đặc biệt là các luật sư, luật gia, bào chữa viên có thể khai thác vận dụng bảo vệ người
bị buộc tội, đồng thời có tác động tích cực đến các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khi thực hiện chính sách pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 4 chương như sau:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2 Những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của người bị buộc tội Chương 3 Thực trạng quy định địa vị pháp lý của người bị buộc tội và thực tiễn thi hành tại thành phố Hồ Chí Minh
Chương 4 Yêu cầu và giải pháp bảo đảm địa vị pháp lý của người bị buộc tội
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.Tình hình nghiên cứu trong nước
1.1.1 Nhóm các công trình liên quan đến cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1.1 Liên quan đến chính sách hình sự
1.1.1.2 Liên quan đến chức năng tố tụng
1.1.1.3 Liên quan đến mô hình tố tụng
1.1.1.4 Liên quan đến quyền con người, quyền công dân, quyền bào chữa
1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu tổng quan của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 liên quan đến nội dung luận án
1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
nội dung có thể tiếp thu có chọn lọc để tiếp tục hoàn thiện hệ thống tư pháp hình sự và PLTTHS Việt Nam theo hướng bảo đảm QCN, quyền của NBBT trong TTHS
Trang 131.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án và những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu và giải quyết
1.3.1 Những vấn đề đã thống nhất luận án sẽ kế thừa và phát triển 1.3.2 Những vấn đề còn tranh luận
QCN của người bị buộc tội, bị kết án là đương nhiên, nên pháp luật chủ yếu quy định nghĩa vụ, các hạn chế và phải quy định như thế nào cho hợp pháp; NBBT bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam thì cần có biện pháp gì
để bảo đảm; quy định khái niệm NBBT cần cụ thể rõ ràng để xác định địa vị
tố tụng cũng là biện pháp để thực hiện QCN; việc tăng cường áp dụng các biện pháp ngoài giam giữ, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên buộc tội và gỡ tội,… đã đảm bảo địa vị pháp lý của NBBT hay chưa
1.3.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
Từ thực tiễn TTHS tại Thành phố Hồ Chí Minh nhằm đề ra giải pháp tăng cường địa vị pháp lý của NBBT, trong đó nhấn mạnh vai trò của NBC, quy định chặt chẽ về địa vị pháp lý của NBC là một trong những biện pháp bảo vệ QCN, QCD của NBBT, vai trò và trách nhiệm giám sát của các cơ quan dân cử trên cơ sở tuân theo pháp luật, tránh tạo áp lực, chạy theo thành tích thi đua của các CQĐT, VKS, Tòa án, hoặc làm suy yếu tính độc lập của Tòa án, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, tôn trọng thẩm quyền của các cơ quan tư pháp, góp phần tìm ra sự thật khách quan của vụ án, không làm oan và bỏ lọt tội phạm Định hướng cơ chế đảm bảo địa vị pháp lý của NBBT nhằm xác định một giới hạn thỏa đáng để các bên buộc tội và gỡ tội bình đẳng về cơ cấu tổ chức, trình độ năng lực, tuân thủ và chấp hành pháp luật của tất cả các chủ thể pháp luật TTHS
1.4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết được các nhiệm vụ của luận án, quá trình nghiên cứu cần trả lời các câu hỏi sau:
Những vấn đề lý luận và quy định pháp luật nhằm đảm bảo địa vị pháp
lý của NBBT theo PLTTHS Việt Nam như thế nào?