Trong khoảng thời gian từ 01/2016 – 03/2017, Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Cộng đồng CECR đã tổ chức: 04 chương trình đào tạo với sự tham gia 257 thanh niên của 03 địa phương Giao T
Trang 1Hà Nội, tháng 4 năm 2018
Thúc đẩy sự Tham gia của Thanh niên
Thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng Bằng sông hồng
Biến ý tưởng thành hành động
Trang 2Mục lục
Danh mục từ viết tắt 7
Lời tựa 9
Giới thiệu chung 10
Phần 1: đánh giá hiện trạng và nhu cầu năng lực 13
1.1 Khảo sát đầu kỳ kiến thức - thái độ - thực hành của thanh niên
đối với biến đổi khí hậu 14
1.2 Đánh giá năng lực tổ chức và nhu cầu đoàn thanh niên cấp huyện 15
Phần 2: Xác định và tiếp cận các nhóm thanh niên mục tiêu 17
Phần 3: Chương trình đào tạo thanh niên tiên phong trong thích ứng BĐKH
vùng Đồng bằng sông Hồng cho ba địa phương: Giao Thủy, Cát Hải và Tiền Hải 19
3.1 Giai đoạn chuẩn bị 20
3.2 Giai đoạn thực hiện chương trình Đào tạo thanh niên tiên phong
thích ứng với BĐKH 20
Một số hình ảnh các Chương trình đào tạo 23
Phần 4 Thực hiện sáng kiến 27
4.1 Lựa chọn ý tưởng sáng kiến 28
4.2 Hỗ trợ thực hiện sáng kiến 28
4.3 Mô hình sáng kiến liên quan đến nước 28
Một vài hình ảnh về mô hình sáng kiến: 31
4.4 Sáng kiến xanh 37
Phần 5: Đánh giá chương trình đào tạo và thực hiện sáng kiến 41
5.1 Phương pháp đánh giá 42
5.2 Kết quả đánh giá 43
Phần 6: Câu chuyện về sự thay đồi 47
Câu chuyện thay đổi 1: “Những thay đổi tích cực” 48
Câu chuyện thay đổi 2: “Tôi 28 tuổi” 49
Trang 3Câu chuyện thay đổi 3: “Thanh niên có thể làm gì để tiên phong
thích ứng với biến đổi khí hậu?” 51
Câu chuyện thay đổi thứ tư: “Thay đổi thói quen để cuộc sống tốt hơn” 52
Câu chuyện thay đổi thứ năm: “Tôi và gia đình đã thay đổi thế nào
sau chương trình Đào tạo thanh niên tiên phong thích ứng với khí hậu” 54
Phần 7: Bài học kinh nghiệm và khuyến nghị 57
1.Bài học kinh nghiệm 58
2.Các khuyến nghị 58
Phụ lục 1: Các chương trình đào tạo 59
Chương trình 1: Chương trình đào tạo thanh niên tiên phong trong thích ứng BĐKH
vùng Đồng bằng sông Hồng - Ready - biến ý tưởng thành hành động 60
Chương trình 2: Chương trình đào tạo thanh niên tiên phong
trong thích ứng bđkh vùng đồng bằng sông hồng 65
Chương trình 3: Chương trình đào tạo thanh niên tiên phong
trong thích ứng bđkh vùng đồng bằng sông hồng 69
Chương trình 4: Chương trình đào tạo thanh niên tiên phong
trong thích ứng bđkh vùng đồng bằng sông hồng 72
Phụ lục 2: Danh sách các sáng kiến và thông tin học viên 75
2 Danh sách các sáng kiến và thông tin học viên lớp 01 76
3 Danh sách các sáng kiến và thông tin học viên lớp 02 81
4 Danh sách các sáng kiến và thông tin học viên lớp 03 88
5 Danh sách các sáng kiến và thông tin học viên lớp 04 93
Phụ lục 3: Thông tin các giảng viên, diễn giả đã giảng dạy/chia sẻ tại lớp học 101
Phụ lục 4: Mẫu thuyết minh sáng kiến 113
Phụ lục 5: Nội dung bài giảng 117
Bài giảng 1: Thế kỷ 21 và các thách thức, cơ hội về BĐKH đối với Việt Nam:
thích ứng cho phát triển bền vững 118
Bài giảng 2: Biến đổi khí hậu, Phát triển bền vững và Thanh niên tiên phong 119
Bài giảng 3: Đánh giá biến động của khí hậu và kịch bản BĐKH, nước biển dâng
cho huyện Giao Thủy - Nam Định, Tiền Hải - Thái Bình và Cát Hải - Hải Phòng 120
Bài giảng 4: Đoàn viên, thanh niên huyện Tiền Hải, Cát Hải, Giao Thủy
và biến đổi khí hậu 120
Bài giảng 5: Nông nghiệp thông minh 121
Bài giảng 6: Chuỗi giá trị trong nông nghiệp 121
Bài giảng 7: Phát triển du lịch bền vững tại cộng đồng 122
Bài giảng 8: Mô hình nuôi trồng thủy sản thích ứng với biến đổi khí hậu 122
Bài giảng 10: Mô hình thích ứng với BĐKH trong sản xuất nông nghiệp 123
Bài giảng 11: Xử lý môi trường khép kín
kinh nghiệm từ nhà máy sắn Hướng Hóa Quảng Trị 124
Bài giảng 12: Sự tham gia của cộng đồng:
bước ngoặt trong bảo vệ nguồn nước suối Bưng Cù (Bình Dương) 124
Bài giảng 13: Thanh niên và Biến đổi Khí hậu 125
Bài giảng 14: Hoạt động thanh niên thích ứng với biến đổi khí hậu 125
Bài giảng 15: Chương trình thủ lĩnh trẻ Hải Đăng Xanh 126
Bài giảng 16: Lối sống sinh thái và các sáng kiến sống xanh 126
Bài giảng 17: Sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu của cộng đồng ven biển
khu vực Đồng bằng châu thổ sông Hồng 127
Bài giảng 18: Phát triển năng lượng bền vững cho cộng đồng 127
Bài giảng 19: Mô hình năng lượng bền vững cộng đồng thích ứng biến đổi khí hậu 128
Bài giảng 20: Truyền thông về sinh kế và bảo vệ nguồn nước thích ứng biến đổi khí hậu
128 Bài giảng 21: Xây dựng và triển khai dự án 129
Bài giảng 22: Truyền thông trong các dự án phát triển 129
Bài giảng 23: Quản lý tài chính 130
Phụ lục 6: Thực địa các mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu 131
1 Vườn quốc gia Xuân Thủy 132
2 Mô hình nuôi cá lăng trong lồng trên hồ chứa 133
3 Mô hình sản xuất giống gia cầm cho các tỉnh miền núi Biên giới phía Bắc
(mô hình chăn nuôi vịt biển) giai đoạn 2014-2016 134
4 Nông nghiệp thông minh với khí hậu và vai trò của giun quế 135
5 Ecolfie Cafe - Trung tâm thông tin Du lịch sinh thái và Giáo dục cộng đồng
về Môi trường và biến đổi khí hậu 135
6 Vịnh Lan Hạ, Cát Hải, Hải Phòng 136
7 Làng sinh thái Việt Hải 136
8 Vườn quốc gia Cát Bà 137
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Biến ý tưởng thành hành động
Trang 4danh Mục Từ viếT TắT
AMDI Viện quản lý và phát triển Châu Á BĐKH Biến đổi khí hậu
CECR Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Cộng đồng CSA Nông nghiệp thông minh
MCD Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn sinh vật biển và Phát triển cộng đồng
SDGs Mục tiêu phát triển bền vững READY Dự án Thúc đẩy vai trò tiên phong của thanh niên trong thích ứng biến đổi khí hậu
vùng đồng bằng sông Hồng USAID Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ VNGOs Tổ chức phi chính phủ Việt Nam
Phụ lục 7: Kết quả đánh giá sáng kiến của hội đồng địa phương 139
7.1 Kết quả đánh giá của hội đồng địa phương huyện Giao Thủy - Nam Định 140
7.2 Kết quả đánh giá sáng kiến của hội đồng địa phương huyện Cát Bà - Hải Phòng 141
7.3 Kết quả đánh giá sáng kiến của hội đồng địa phương huyện Tiền Hải - Thái Bình 142 PHụ lục 8: Câu hỏi phỏng vấn đánh giá chương trình đào tạo và thực hiện sáng kiến 143
Bộ câu hỏi phỏng vấn 144
Đánh giá giám sát chương trình đào tạo và thực hiện sáng kiến dự án ready 144
Phụ lục ý tướng sáng kiến 149
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Biến ý tưởng thành hành động
Trang 5lỜi Tựa
Cuốn Tài liệu “Quá trình thúc đẩy thanh niên tiên phong thích ứng biến đổi khí hậu vùng đồng
bằng Sông Hồng – Biến ý tưởng thành hành động” được xây dựng nhằm tài liệu lại quá trình nâng cao kiến thức và kỹ năng của thanh niên trong thích ứng biến đổi khí hậu (BĐKH) thông qua hoạt động đào tạo và xây dựng thực hiện sáng kiến sáng kiến, thuộc dự án “Thúc đẩy vai trò tiên phong của thanh niên trong thích ứng biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng” - READY * Trong khoảng thời gian từ 01/2016 – 03/2017, Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Cộng đồng (CECR) đã tổ chức: 04 chương trình đào tạo với sự tham gia 257 thanh niên của 03 địa phương Giao Thủy - Nam Định, Tiền Hải - Thái Bình, Cát Hải - Hải Phòng và các bạn sinh viên đến từ các trường đại học của thành phố Nam Định, Thái Bình và Hà Nội; chương trình đào tạo
đã quy tụ 23 giảng viên giảng dạy trên lớp và 10 giảng viên hướng dẫn thăm quan tại 08 mô hình thích ứng với BĐKH thực tế; thúc đẩy các nhóm thanh niên xây dựng được 72 ý tưởng thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) nhằm giải quyết các vấn đề tại địa phương; trong đó có 11 sáng kiến được CECR hỗ trợ thực hiện, với 2427 người trực tiếp tham gia các sáng kiến; số lượng lãnh đạo,cán bộ địa phương tại các sở ban ngành đoàn thể tham gia hội đồng đánh giá sáng kiến
là 28 người; các sáng kiến do nhóm thanh niên thực hiện tại các địa phương được địa phương đánh giá cao và được tiếp tục triển khai nhận rộng ra toàn cộng đồng như ở thị trấn Quất Lâm, Giao Thủy
Tài liệu “Quá trình thúc đẩy thanh niên tham gia thích ứng biến đổi khí hậu vùng đồng bằng Sông Hồng – Biến ý tưởng thành hành động” được xây dựng với mục tiêu tổng hợp lại quá trình xây dựng và triển khai chương trình đào tạo và góp phần như một tài liệu tham khảo cho Đoàn thanh niên cấp cơ sở sử dụng trong công tác truyền thông về thích ứng với BĐKH tiếp theo
* Dự án Thúc đẩy vai trò tiên phong của thanh niên trong thích ứng biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng (viết tắt READY) do USAID tài trợ thực hiện trong giai đoạn từ năm 2015 – 2018 tại 03 địa phương Giao Thủy - Nam Định, Tiền Hải - Thái Bình, Cát Hải - Hải Phòng Dự án được chủ trì thực hiện bởi Trung tâm Nghiên Cứu bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng (MCD)
và tham gia thực hiện cùng với đối tác Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Cộng đồng (CECR)
và Viện quản lý và phát triển châu Á (AMDI) Hợp phần đào tạo trong dự án READY được thực hiện bởi Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Cộng đồng (CECR)
Tài liệu này được xây dựng với sự đóng góp của các chuyên gia: Phùng Thị Ngân Hà, Đinh Tiến Dũng, Đào Thị Thanh Thủy và cán bộ dự án của CECR
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Biến ý tưởng thành hành động
Trang 6GiỚi ThiỆU chUnG
Bối cảnh: Biến đổi khí hậu tại Việt Nam nói riêng và vùng đồng bằng sông Hồng nói chung
Bước sang thế kỷ 21, Việt Nam cũng đang đối mặt với hàng loạt các vấn đề - thách thức
môi trường do cả những yếu tố khách quan và chủ quan:
1 Được xem là quốc gia đứng thứ 5 về mức độ hứng chịu các rủi ro do biến đổi khí hậu trên
thế giới
2 Đang phải đối mặt với tình trạng thiếu năng lượng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và phụ
thuộc vào các nguồn nhiên liệu có khả năng gây ô nhiễm cao
3 Các vùng nước biển ven bờ của Việt Nam có dấu hiệu bị ô nhiễm và suy thoái, đặc biệt ở
miền Trung Việt Nam – là nơi có tiềm năng phát triển mạnh du lịch biển
4 Một số hệ thống lưu vực sông chính hiện đang đối mặt với tình trạng ô nhiễm ở mức báo
động
5 Chất thải gia tăng nhanh chóng do phát triển song chưa được quản lý tốt
6 Tình trạng di dân tự do vào các thành phố lớn gây áp lực mạnh đối với công tác quản lý môi
trường đô thị
7 Ô nhiễm không khí do giao thông gây thiệt hại kinh tế (ước tính 5% GDP mỗi năm)
8 Sức khỏe cộng đồng bị đe dọa do các hiểm họa tiềm ẩn từ môi trường, nguồn nước và thực
phẩm
9 Còn nhiều bất cập trong quản lý tài nguyên rừng, đa dạng sinh học và sử dụng đất
10 Chưa áp dụng được các sáng kiến công nghệ mới trong công tác quản lý môi trường
Tại đồng bằng sông Hồng, các nghiên cứu và thực hành đã chỉ ra rằng khu vực này đang
trở nên ngày càng dễ bị tổn thương hơn trước các tác động của BĐKH, bao gồm cả những hiện
tượng thay đổi kiểu bão, gia tăng biên độ thay đổi nhiệt độ, xâm nhập mặn dẫn tới thiếu nước và
các sinh kế dễ bị tổn thương Các vấn đề khác, như quản lý chất thải rắn còn yếu, ô nhiễm môi
trường nước, cũng làm trầm trọng thêm các tác động Trong khi đó công tác xác định, thực hiện
và nhân rộng các sáng kiến thích ứng BĐKH tại vùng đồng bằng sông Hồng, năng lực thích ứng
BĐKH cấp huyện tại vùng này còn yếu, thanh niên chưa có nhiều cơ hội tham gia đầy đủ các hoạt
động thích ứng BĐKH, thiếu các trình diễn thực hành tốt
Với Lý thuyết về sự thay đổi được đưa ra là “Nếu các thanh niên trẻ được trang bị kiến thức
và năng lực, xây dựng sự đam mê, nhiệt huyết trong hành động thích ứng mang tính thực hành
và sáng tạo trước tác động của BĐKH họ có thể trở thành những người tiên phong trong công tác
BĐKH tham gia chính thức trong các hoạt động thích ứng BĐKH hiệu quả và sáng tạo hơn” Dự
án “Thúc đẩy vai trò tiên phong của thanh niên trong ứng phó BĐKH vùng đồng bằng sông Hồng” được gọi tắt là READY đã được Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) đã cam kết tài trợ cho Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng (MCD) phối hợp cùng các đối tác phi chính phủ Việt Nam gồm Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Cộng đồng (CECR), Viện phát triển và quản lý Châu Á (AMDI) thông qua thỏa thuận tài trợ số AID-440-A-15-00005 có hiệu lực
từ ngày 4/5/2015 đến 3/5/2018
Mục đích tổng quan của dự án: là thúc đẩy các sáng kiến thích ứng BĐKH hiệu quả và sáng tạo vùng đồng bằng sông Hồng; Cụ thể là: Tới hết 3 năm dự án, ba huyện tại ba tỉnh thuộc hai khu dự trữ sinh quyển vùng đồng bằng sông Hồng được tăng cường năng lực xây dựng và thực hiện các kế hoạch hành động thích ứng BĐKH có vai trò tiên phong của thanh niên và khối phi chính phủ:
Các mục tiêu cụ thể của dự án gồm:
- Các thanh niên tại địa bàn dự án, những người có nhiệt huyết sẽ được tăng cường năng lực
để tham gia phát triển và thực hiện các sáng kiến thích ứng BĐKH;
- Năng lực cấp huyện trong dẫn dắt các sáng kiến thích ứng BĐKH được tăng cường;
- Đại diện các tổ chức phi chính phủ địa phương và các tổ chức phi chính phủ được tăng cường năng lực về lập kế hoạch, huy động sự tham gia và thúc đẩy các sáng kiến thích ứng BĐKH tại các khu vực dự án;
- Các sáng kiến được phát triển trong khuôn khổ dự án được kết nối và mở rộng trong khắp địa bàn 3 huyện dự án
Chương trình thúc đẩy thanh niên tham gia thích ứng BĐKH vùng đồng bằng sông Hồng thông qua đào tạo và hỗ trợ các sáng kiến bao gồm các bước sau:
1 Đánh giá hiện trạng năng lực của thanh niên địa phương và nhu cầu năng lực về thích ứng biến đổi khí hậu;
2 Xác định và tiếp cận các nhóm thanh niên mục tiêu;
3 Chương trình đào tạo thanh niên tiên phong thích ứng với BĐKH vùng đồng bằng sông Hồng cho ba huyện Giao Thủy, Cát Hải và Tiền Hải;
4 Đánh giá quá trình tham gia của thanh niên sau khi được tăng cường năng lực;
5 Bài học kinh nghiệm
Phần tiếp của tài liệu sẽ nêu chi tiết các bước nêu trên
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Biến ý tưởng thành hành động
Trang 7PHẦN 1: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG
VÀ NHU CẦU NĂNG LỰC
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Biến ý tưởng thành hành động
Trang 8“Khảo sát đầu kỳ kiến thức - thái độ - thực hành
của thanh niên đối với biến đổi khí hậu” và “Đánh
giá năng lực tổ chức và nhu cầu đoàn thanh niên
cấp huyện” là hai đánh giá đầu vào quan trọng
mang tính định hướng để thiết kế các hoạt động
của dự án
1.1 Khảo sát đầu kỳ kiến thức -
thái độ - thực hành của thanh niên
đối với biến đổi khí hậu
Khảo sát đầu kỳ kiến thức - thái độ - thực hành
của thanh niên đối với biến đổi khí hậu được
tiến hành trong tháng 2 - 3 năm 2016, thực hiện
tại 10 xã nằm ở vùng ven biển, vùng đệm và nằm
ở vùng lõi của ba huyện Tiền Hải - Thái Bình, Cát
Bà - Hải Phong, Giao Thủy - Nam Định Khảo sát
đã tiến hành phỏng vấn 306 thanh niên Việc lựa
chọn thanh niên được thực hiện trên cơ sở kết
hợp đề xuất của Đoàn Thanh niên cấp huyện và xã
dựa theo khả năng có thể tham gia của các đoàn
viên, thanh niên này với việc tiếp cận ngẫu nhiên
các thanh niên đang có mặt tại địa phương tại thời
điểm khảo sát
Mục đích của cuộc khảo sát này nhằm (1) Đánh
giá mức độ hiểu biết và kiến thức của thanh niên
về thiên tai và tác động của thiên tai; (2) Đánh giá
kiến thức - thái độ - thực hành của người dân về
BĐKH và tác động của BĐKH; (3) Đánh giá vai trò
của thanh niên trong các hoạt động cộng đồng tại
địa phương; (4) Khảo sát các phương tiện truyền
thông phổ biến và hiệu quả trong BĐKH
Kết luận và khuyến nghị
Từ phân tích số liệu phỏng vấn một số kết luận và
khuyến nghị sau: thanh niên 3 huyện đã tham gia
khảo sát sự thiếu hiểu biết về khái niệm thiên tai
còn chiếm tỷ lệ khá lớn, hơn 33% mặc dù đây không
phải là khái niệm hay hiện tượng mới Mặc dù vậy,
phần đông họ đều nêu được một số loại thiên tai
thường gặp cũng như những hậu quả của thiên tai
Hầu hết thanh niên đều đã nhận thấy những diễn
biến phức tạp của thiên tai, và số đông (80%) đã ý
thức được việc phá hủy môi trường thiên nhiên là
một trong những nguyên nhân chính gây ra những
diễn biến bất thường đó Cần hỗ trợ thông tin và
kiến thức cung cấp cho thanh niên cần phải đầy đủ,
toàn diện và có hệ thống, và làm rõ sự khác biệt
căn bản giữa thiên tai, bảo vệ môi trường và BĐKH
Đồng thời, vẫn cần tiếp tục nâng cao ý thức của thanh niên về các vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường
Nhìn chung thanh niên ở cả 3 huyện có kiến thức tương đối hạn chế về BĐKH và thích ứng với BĐKH Phần lớn đã sơ bộ nắm bắt được khái niệm BĐKH nhưng thiếu kiến thức sâu như nguyên nhân gây ra BĐKH, tác động của BĐKH, và cách thức ứng phó với BĐKH Đặc biệt còn có sự nhầm lẫn giữa thích ứng và giảm nhẹ BĐKH với bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai Đa phần thanh niên chưa phân biệt được thích ứng và giảm nhẹ
BĐKH Khuyến nghị Dự án cung cấp kiến thức đầy
đủ, chuẩn xác về BĐKH, bao gồm nguyên nhân, hậu quả và cách thức thích ứng với BĐKH, đặc biệt
là những thực hành thích ứng BĐKH có liên quan tới sinh kế và sản xuất nông nghiệp, cho thanh niên địa phương của 3 huyện Đây cần phải là một trong những nội dung chính trong các nội dung tập huấn, nâng cao năng lực cho thanh niên Đồng thời các tài liệu truyền thông về BĐKH cần phải có những thông điệp rõ ràng để thanh niên và cộng đồng không nhầm lẫn BĐKH với thiên tai, giữa ứng phó
với BĐKH với bảo vệ môi trường
Thanh niên tham gia khảo sát tại huyện Tiền Hải có
mức độ hiểu biết về hầu hết các mặt liên quan tới thiên tai và BĐKH thấp nhất trong 3 huyện Dự án
Do vậy, việc lựa chọn Tiền Hải làm địa bàn trọng điểm của Dự án là chính xác, dự kiến sẽ có thể đem lại những tác động thiết thực và có ý nghĩa cho địa phương Tuy nhiên đây cũng là thách thức cho Dự
án Đề xuất việc tăng cường năng lực, nâng cao nhận thức cho thanh niên của huyện Tiền Hải cần
áp dụng cách tiếp cận khác so với hai huyện còn lại để đạt hiệu quả cao hơn Đồng thời, nội dung tập huấn cho huyện Tiền Hải cũng cần được biên soạn và thiết kế riêng để đảm bảo đáp ứng chính xác những nội dung họ cần
Những thanh niên là đoàn viên hoặc thành viên của các tổ chức đoàn thể có kiến thức, thái độ, thực hành tốt hơn cũng như sự tham gia tích cực hơn vào các hoạt động cộng đồng so với nhóm thanh niên tự do trong cộng đồng
Một trong những khó khăn mà tổ chức Đoàn Thanh niên gặp phải trong triển khai các hoạt động của mình và việc huy động và kết nối với thanh niên
tự do trong cộng đồng, những người không tham gia các tổ chức đoàn hội Một trong những lý do
là số đông thanh niên đi thoát ly, do vậy không cư trú thường xuyên và ổn định tại địa phương Theo quan sát và đánh giá của các chuyên gia cũng như nhận xét của các cấp lãnh đạo địa phương và cán
bộ Đoàn cho thấy những đối tượng này thường là những thanh niên nhanh nhẹn, năng động, có năng lực và trình độ Khuyến nghị Dự án cần phải có
những chiến lược và giải pháp phù hợp, hiệu quả để tiếp cận và thu hút nhóm thanh niên này vào việc bảo vệ môi trường và tài nguyên của địa phương, bảo vệ quê hương trước các nguy cơ do BĐKH gây
ra Những đối tượng này cũng chính là một nguồn lực tiềm ẩn của địa phương cần được huy động Đề xuất xây dựng các diễn đàn trực tuyến, các trang thông tin điện tử về BĐKH và thích ứng BĐKH, cũng như về các hoạt động của Dự án để họ có thể nắm bắt được thông tin từ xa và tham gia các hoạt động Dự án theo cách thiết thực và khả thi nhất
Về mức độ quan tâm tới BĐKH và các vấn đề liên quan tới BĐKH, hơn một nửa tổng số thanh niên
ở ba huyện có mức độ quan tâm từ khá nhiều đến rất nhiều Số thanh niên thờ ơ, thiếu quan tâm tới BĐKH chiếm xấp xỉ 10% Số còn lại khoảng hơn 30% còn tỏ ra có quan tâm nhưng không nhiều
Mặc dù vậy, kết quả khảo sát cho thấy thanh niên có mức độ quan tâm rất cao tới các vấn đề liên quan tới BĐKH như dịch bệnh ở người, thiếu nước sạch, thời tiết nóng lên, xói mòn ven biển Điều nghịch lý
này có thể bắt nguồn từ việc thanh niên đã không liên hệ BĐKH tới các vấn đề này hoặc không cho rằng/ không biết rằng các vấn đề này có liên quan tới BĐKH Do vậy, họ rất quan tâm tới các vấn đề thiết thực, trước mắt mà thiếu quan tâm tới nguyên nhân sâu xa là BĐKH Căn cứ vào nhận định này,
đề xuất Dự án xây dựng, triển khai hoặc thúc đẩy Đoàn Thanh niên và chính quyền địa phương đẩy mạnh tuyên truyền về BĐKH, đẩy mạnh cung cấp thông tin về BĐKH, đồng thời có những chương trình, hoạt động thu hút sự tham gia rộng rãi của thanh niên, đặc biệt những thanh niên ngoài tổ chức Đoàn nhằm nâng cao ý thức, cũng như cải thiện thái độ của thanh niên trong BĐKH
Về mức độ tham gia của thanh niên vào các hoạt động cộng đồng, kết quả khảo sát cho thấy mặc dù nhiều thanh niên đã thể hiện vai trò tiên phong và tích cực trong các hoạt động cộng đồng, nhưng ít
tham gia vào quá trình ra quyết định còn rất thấp
mà chủ yếu chỉ tham gia thực hiện Như vậy, để thúc đẩy vai trò của thanh niên trong thích ứng BĐKH,
Dự án cần có biện pháp khích lệ và chính quyền địa phương cần có cơ chế thu hút thanh niên tham gia vào các khâu quan trọng trong quá trình tổ chức, triển khai hành động
Phương tiện truyền thông phổ biến và hiệu quả nhất hiện tại là truyền hình, truyền thanh, và báo điện tử Như vậy, công tác truyền thông của Dự án nên tận dụng những phương tiện sẵn có này để tiếp cận các đối tượng hưởng lợi, cụ thể là thanh niên
để tuyên truyền nâng cao nhận thức và kiến thức Tuy nhiên, Dự án cũng đồng thời nên khai thác những phương tiện truyền thông của tương lai như báo điện tử, mạng xã hội Facebook để có thể tiếp cận thanh niên mọi nơi mọi lúc, kể cả những thanh niên không thường xuyên có mặt tại địa phương
1.2 Đánh giá năng lực tổ chức
và nhu cầu đoàn thanh niên cấp huyện
Đánh giá năng lực tổ chức và nhu cầu đoàn
thanh niên cấp huyện được thực hiện từ tháng
12 năm 2015 đến tháng 1 năm 2016 Đánh giá được thực hiện tại 09 xã - thị trấn của 3 huyện địa bàn của Dự án Đánh giá được triển khai theo cách tiếp cận định tính, tập trung vào các đối tượng (1) cấp huyện (Phó Chủ tịch UBND huyện; Đại diện phòng TNMT, phòng NN&PTNT, phòng văn hóa; Ban thường vụ ĐTN; Bí thư đoàn cơ quan huyện) (2) cấp xã (Ban thường vụ đoàn xã)
Kết luận
Có nhiều hoạt động khác nhau liên quan đến thích ứng BĐKH và bảo vệ môi trường đã được chính quyền và địa phương quan tâm và triển khai Các nhóm hoạt động được triển khai tập trung các xây dựng gia cố đê điều, trồng rừng, thay đổi giống cây trồng thích ứng BĐKH, dọn vệ sinh môi trường, truyền thông nâng cao nhận thức người dân cộng đồng,…Tuy nhiên hoạt động liên quan đến sáng kiến thích ứng BĐKH không được đề cập đến Kiến thức của cán bộ Đoàn, đoàn viên thanh niên tại trên các địa bàn mới ở những mức độ nhất định
và không có tính hệ thống, bài bản Kiến thức họ
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Trang 9biết chủ yếu là do tự tìm hiểu qua các kênh thông
tin đại chúng và chỉ dừng ở những kiến thức sơ
đẳng nhất Bên cạnh đó, kiến thức trong việc xây
dựng, lập kế hoạch cho các hoạt động của cán bộ
Đoàn thanh niên chưa được biết đến
Kỹ năng của cán bộ Đoàn cũng còn hạn chế nhất
định trong việc tổ chức các hoạt động để thu hút
được sự tham gia của thanh niên cũng như kỹ năng
xây dựng, lập kế hoạch hoạt động tại địa phương
Tổ chức Đoàn tham gia vào các hoạt động phối kết
hợp với các ban ngành tại địa phương liên quan
đến thích ứng BĐKH được đánh giá nhiệt tình tuy
nhiên chỉ ở nhóm cán bộ Đoàn hoặc một số thanh
niên, trong khi đó việc huy động đoàn viên, thanh
niên tham gia các hoạt động còn hạn chế khó khăn
Vai trò của tổ chức Đoàn ở một chừng mực nào đó
đã được chính quyền địa phương và các ban ngành
đánh giá cao về tính xung kích và nhiệt tình Tuy
nhiên, việc triển khai các hoạt động chủ yếu là phối
kết hợp với các phòng ban chưa có những hoạt
động chủ trì thể hiện rõ được vai trò của tổ chức
Đoàn trong các hoạt động này
Nhu cầu của cán bộ Đoàn thanh niên tập trung chủ
yếu ở việc nâng cao kiến thức và kỹ năng cho cán bộ
Đoàn liên quan đến thích ứng BĐKH, được cung
cấp tài liệu liên quan BĐKH, được thăm quan các
mô hình các địa bàn khác để có thể học hỏi, ứng
dụng vào địa phương mình và nhận được sự hỗ trợ
để dẫn dắt những sáng kiến trong thanh niên
Khuyến nghị
Dự án cần tập trung thiết kế các hoạt động nhằm phát huy hơn nữa vai trò của tổ chức ĐTN trong ứng phó với BĐKH
Dự án tập trung trang bị nâng cao năng lực cho tổ chức ĐTN cả kiến thức, kỹ năng về BĐKH, thích ứng BĐKH một cách hệ thống, bài bản, chuyên sâu thông qua các lớp tập huấn
Trang bị kiến thức cho cán bộ Đoàn thanh niên về việc xây dựng, lập kế hoạch hoạt động dự án tại địa phương
Trang bị cho cán bộ Đoàn thanh niên những kỹ năng như kỹ năng truyền thông, kỹ năng nói trước đông người, kỹ năng tổ chức các hoạt động, kỹ năng lập kế hoạch hoạt động để cán bộ ĐTN có thể triển khai được nhiều hoạt động truyền thông, hoạt động liên quan đến BĐKH tại cộng đồng trong thời gian tới
Trang bị cho tổ chức ĐTN kiến thức, kỹ năng chuyên sâu về ứng phó BĐKH nhằm giúp nâng cao tiếng nói của tổ chức ĐTN tham gia đóng góp vào
kế hoạch tổng thể thích ứng BĐKH tại địa phương
Hỗ trợ cán bộ Đoàn, thanh niên trong việc dẫn dắt, ứng dụng triển khai các sáng kiến liên quan đến BĐKH vào cuộc sống nhằm giúp họ ứng phó được với sự thay đổi của khí hậu, thời tiết
Hỗ trợ tổ chức ĐTN xây dựng và tăng cường mạng lưới liên kết giữa các cộng đồng về hoạt động liên quan đến ứng phó với BĐKH
PHẦN 2: XÁC ĐỊNH VÀ TIẾP CẬN CÁC NHÓM THANH NIÊN MỤC TIÊU
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Biến ý tưởng thành hành động
Trang 10Từ kết quả của hai khảo sát đầu kỳ (bước 1) kết
hợp với kết quả từ các cuộc họp tham vấn với
địa phương Dự án xác định được các nhóm thanh
niên sẽ được lựa chọn nâng cao năng lực gồm có
nhóm thanh niên đến từ cơ quan nhà nước, đoàn
thanh niên xã, và thanh niên là sinh viên
Để tuyển chọn được nhóm thanh niên đến từ cơ
quan nhà nước và đoàn thanh niên xã: Dự án đã
xây dựng một số những tiêu chí nhất định bao gồm:
- Thanh niên đang học tập và sinh sống tại địa
phương có độ tuổi từ 18 – 35;
- Ưu tiên là cán bộ trong các cơ quan quản lý cấp
huyện, xã (đặc biệt là cán bộ thuộc phòng tài
chính kế hoạch, phòng nông nghiệp, phòng tài
nguyên môi trường, cán bộ địa phương)
- Đã có các ý tưởng về các hoạt động bảo vệ môi
trường, thích ứng BĐKH, nhiệt tình và cam kết
đồng hành cùng dự án ít nhất 3 tháng chương
trình tập huấn
- Trình độ văn hóa: Tối thiểu tốt nghiệp Phổ thông
trung học
- 50% thanh niên được đề cử là nữ
Căn cứ vào những tiêu chí trên, Huyện đoàn của
ba huyện Tiền Hải - Thái Bình, Giao Thủy - Nam
Định, Cát Bà - Hải Phòng đề cử danh sách các học viên và gửi cho Dự án
Để tuyển chọn nhóm sinh viên: Dự án tập trung vào hai nhóm sinh viên gồm sinh viên của các trường cao đẳng/đại học thuộc ba tỉnh Dự án và sinh viên của các trường học trên Hà Nội Một bộ tiêu chí lựa chọn các sinh viên cũng được xây dựng, sau đó gửi
về văn phòng đoàn trường của các trường, để các trường lựa chọn và ứng cử các sinh viên Các tiêu chí gồm có:
- Là sinh viên từ năm 3 trở lên hoặc mới tốt nghiệp;
- Nhiệt tình và yêu thích các hoạt động về môi trường, BĐKH và hoạt động xã hội
- Ưu tiên các thanh niên có sáng kiến về thích ứng BĐKH hoặc đã tham gia hoạt động dự án liên quan đến môi trường
- Khuyến khích các sinh viên nữ tham gia
- Tham gia đầy đủ số ngày trong khóa học
Thông qua phương pháp tiếp cận trên, Dự án đã tiếp cận và đào tạo cho 257 học viên trong đó nhóm thanh niên đến từ cơ quan nhà nước và đoàn thanh niên xã là 200 học viên, nhóm sinh viên là 57 học viên;
PHẦN 3: CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THANH NIÊN TIÊN PHONG TRONG THÍCH ỨNG BĐKH VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG CHO BA ĐỊA PHƯƠNG: GIAO THỦY,
CÁT HẢI VÀ TIỀN HẢI
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Biến ý tưởng thành hành động
Trang 113.1 Giai đoạn chuẩn bị
Chương trình đào tạo được xây dựng nhằm mục
tiêu sau:
- Trang bị cho các thanh niên các kiến thức và các
kỹ năng cần thiết để có đủ năng lực đưa ra và
thực hiện các sáng kiến về thích ứng với BĐKH
- Thúc đẩy các sáng kiến thích ứng với BĐKH hiệu
quả và sáng tạo tại vùng đồng bằng sông Hồng
- Xây dựng mạng lưới thanh niên tiên phong trong
hành động thích ứng BĐKH vùng đồng bằng
sông Hồng
Xây dựng giáo trình và chương trình đào tạo là quá
trình có sự tham gia của nhiều nhà khoa học, nhiều
nhà thực hiện chính sách, giảng viên, các chuyên
gia trong các ngành biến đổi khí hậu, phát triển
bền vững, phát triển sinh kế bền vững … Thông
qua 02 Hội thảo các chủ đề của Giáo trình đã được
xây dựng, các giảng viên/diễn giả đã được xác định
là những chuyên gia giỏi nhất trong lĩnh vực môi
trường, BĐKH, và có nhiều kinh nghiệm thực tế về
thích ứng BĐKH
Chương trình đào tạo được xây dựng nhằm giúp
các thanh niên tại 3 địa phương Cát Bà - Hải Phòng,
Giao Thủy - Nam Định, Tiền Hải - Thái Bình có
đầy đủ năng lực đưa ra các sáng kiến thích ứng với
BĐKH, giải quyết các vấn đề cụ thể đang xảy ra ở
tại địa phương
Với cách tiếp cận của Chương trình kết hợp giữa
trên lớp và thực hành, giữa cung cấp kiến thức,
thông tin và phát triển kỹ năng, khuyến khích trao
đổi làm việc theo nhóm
Phương pháp đào tạo
Phương pháp đào tạo đã áp dụng để giảng dạy cho các thanh niên là sự kết hợp giữa học lý thuyết trên lớp và thực địa thực tế Các buổi lên lớp được thiết kế sinh động bao gồm các bài trình bày của các chuyên gia/diễn giả, xen kẽ với các hoạt tương tác kỹ năng mềm, xây dựng mạng lưới và làm việc nhóm
Các giảng viên/diễn giả giảng dạy là các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực phát triển bền vững, nông nghiệp thông minh, biến đổi khí hậu, xây dựng và quản lý dự án, truyền thông xã hội Thêm vào đó, các học viên còn được nghe những chia sẻ các mô hình thực tế thích ứng với biến đổi khí hậu từ các tổ chức phi chính phủ, các trường đại học
Chương trình gồm các hợp phần chính là (1) cung cấp kiến thức và thúc đẩy kỹ năng; (2) thăm quan
mô hình thực tế; (3) xây dựng và hỗ trợ thực hiện sáng kiến
3.2 Giai đoạn thực hiện chương trình Đào tạo thanh niên tiên phong thích ứng với BĐKH
Trung tâm Nghiên cứu môi trường và cộng đồng
đã tổ chức được 04 khóa đào tạo cung cấp các kiến thức về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững cho 257 học viên; 72 ý tưởng/giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu được đề xuất; thăm quan 08
mô hình thực tế Tóm tắt kết quả thực hiện chương trình đào tạo được thể hiện trong bảng sau:
Chương trình đào tạo bao gồm 07 phần chính được trình bày dưới đây Tuy nhiên có sự điều chỉnh thay đổi trong từng chương trình đào tạo để phù hợp với các bạn thanh niên và điều kiện của địa phương cũng như kế hoạch phát triển kinh tế xã hội tại địa phương
A: Biến đổi khí hậu và phát triển bền vững
Mục đích của phần này là cung cấp cho học viên các thông tin nền tảng về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững (bao gồm lý thuyết và hiện trạng) trên thế giới và tại Việt Nam, nhằm giúp học viên có được một cái nhìn vĩ mô và tổng quan về vấn đề này trước khi đi vào các phần kiến thức chuyên sâu
Ở phần này mỗi giảng viên có 45 phút bao gồm cung cấp các kiến thức theo hình thức thuyết trình,
và tương tác với học viên thông qua mục hỏi-đáp
Các bài giảng phần này bao gồm các nội dung về:
- Thế kỷ 21 và các thách thức, cơ hội về BĐKH đối với Việt Nam: thích ứng cho phát triển bền vững
- Biến đổi khí hậu, phát triển bền vững và thanh niên tiên phong
- Đánh giá biến động của khí hậu và kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho huyện Giao Thủy - Nam Định, Tiền Hải - Thái Bình, và Cát Hải - Hải Phòng
- Đánh giá năng lực của thanh niên tại huyện Tiền Hải - Thái Bình, Giao Thủy - Nam Định và Cát Hải - Hải Phòng
B: Các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu
Mục đích của phần này là cung cấp cho học viên các kiến thức kỹ thuật, các thực hành về những giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu, bao gồm mảng kiến thức về nông nghiệp thông minh, du lịch sinh thái/cộng đồng, sinh kế nông nghiệp, sinh kế thủy sản, xử lý ô nhiễm nguồn nước Các kiến thức chuyên sâu này nhằm giúp các học viên làm chủ được mảng kỹ thuật trước khi đi vào thiết kế các sáng kiến dựa vào tình hình địa phương
Ở phần này giảng viên có từ 45-60 phút cung cấp các kiến thức theo hình thức thuyết trình, và tương tác với học viên thông qua mục hỏi-đáp
Các bài giảng bao gồm các nội dung về:
- Nông nghiệp thông minh với khí hậu
- Chuỗi giá trị trong nông nghiệp
- Phát triển du lịch bền vững tại cộng đồng
- Mô hình nuôi trồng thủy sản thích ứng với BĐKH
- Bảo vệ tài nguyên nước và các biện pháp xử lý nước
- Mô hình thích ứng với BĐKH trong sản xuất nông nghiệp
C: Chia sẻ các mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu
Ở mỗi lớp tập huấn, các học viên sẽ được nghe sự chia sẻ của 3 đến 4 tổ chức phi chính phủ Việt Nam (VNGOs) về những mô hình thành công trong bảo
vệ môi trường, thích ứng với BĐKH Các mô hình được lựa chọn là được thực hiện tại những vùng địa bàn có điều kiện tương đối giống với địa bàn của các học viên Mục đích của phần này cung cấp kiến thức cụ thể cũng như cách thực hiện, bài học kinh nghiệm thực hiện dự án trong các lĩnh vực thích ứng BĐKH khác nhau
Ở phần này các diễn giả có khoảng 30 phút chia
sẻ về mô hình và tương tác với học viên thông qua mục hỏi-đáp
Các bài giảng bao gồm các nội dung về:
- Xử lý môi trường khép kín kinh nghiệm từ nhà máy sắn Hướng Hóa – Quảng Trị
- Sự tham gia của cộng đồng: bước ngoặt trọng bảo
vệ nguồn nước suối Bưng Cù - Bình Dương
- Các mô hình thanh niên thích ứng với BĐKH
- Hoạt động thanh niên thích ứng với BĐKH tại Hải Phòng
- Chương trình thủ lĩnh trẻ Hải Đăng Xanh
- Lối sống sinh thái và các sáng kiến sống xanh
- Sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu của cộng đồng ven biển khu vực đồng bằng sông Hồng
- Phát triển năng lượng bền vững cho cộng đồng
- Mô hình năng lượng bền vững cộng đồng thích ứng với BĐKH
- Truyền thông về sinh kế và bảo vệ nguồn nước thích ứng với BĐKH
1 Khóa 1 11-4/01/2016 Khách sạn Dầu Khí -
2 Khóa 2 05-8/04/2016 Nhà khách Tuần Châu -
đảo Tuần Châu, Hạ Long, Quảng Ninh
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Biến ý tưởng thành hành động vùng đồng bằng sông Hồng cho 3 địa phương: Giao Thủy, Cát Hải và Tiền HảiPhần 3: Chương trình đào tạo thanh niên tiên phong trong thích ứng BđkH
Trang 12D Xây dựng và quản lý dự án
Mục đích của phần này là cung cấp cho học viên
kiến thức và kỹ năng quản lý dự án bao gồm xây
dựng và triển khai dự án; truyền thông trong các dự
án phát triển; quản lý tài chính minh bạch
Ở phần này mỗi diễn giả có 30 phút bao gồm cung
cấp các kiến thức theo hình thức thuyết trình, và
tương tác với học viên thông qua mục hỏi-đáp
Các bài giảng bao gồm các nội dung về:
- Xây dựng và triển khai dự án
- Truyền thông trong các dự án phát triển
- Quản lý tài chính
E Thúc đẩy kỹ năng cho thanh niên
Ngoài cung cấp các kiến thức chuyên môn về thích
ứng biến đổi khí hậu cho học viên thông qua các bài
trình bày/chia sẻ của các giảng viên/diễn giả, các
lớp đào tạo luôn thiết kế các hoạt động tương tác để
thúc đẩy các kỹ năng cho học viên
Các kỹ năng chuyên môn về xây dựng dự án được
thúc đẩy thông qua các thảo luận nhóm về quá khứ,
hiện tại, tương lai của địa phương; thảo luận nhóm
phân tích SWOT điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội,
thách thức; thảo luận nhóm xác định vấn đề bằng
công cụ cây vấn đề
Thông qua các hoạt động thảo luận nhóm, trình bày
kết quả, các trò chơi tương tác ở các phiên nghỉ giải
lao cũng giúp thúc đẩy các kỹ năng mềm như làm
việc nhóm, nói trước đám đông, thương thuyết/
đàm phán, ra quyết định, chia sẻ thông tin và xây
dựng mạng lưới cho các học viên
F Thực địa
Phần thực địa được thiết kế nhằm giúp học viên có
cái nhìn thực tế về các mô hình thích ứng BĐKH,
truyền cảm hứng và khơi nguồn sáng tạo cho học
viên trong quá trình thiết kế các sáng kiến Chuyến đi
cũng có mục đích phát triển kỹ năng xây dựng mạng
lưới cho các học viên Các mô hình được lựa chọn
là những mô hình tiêu biểu về sinh kế thích ứng với
biến đổi khí hậu tại những địa phương có điều kiện
tương đồng với địa bàn của các học viên Các điểm
thực địa ở 04 chương trình đào tạo như sau:
Chương trình đào tạo 01:
Thăm quan vườn quốc gia Xuân Thủy tại Giao Thủy,
Nam Định
Chương trình đào tạo 02:
Mô hình nuôi cá lăng trong lồng trên hồ chứa thủy điện tại Tiên Yên, Quảng Ninh
Mô hình sản xuất giống gia cầm cho các tỉnh miền núi Biên giới phía Bắc (mô hình chăn nuôi vịt biển) giai đoạn 2014-2016 tại Tiên Yên, Quảng Ninh
Chương trình đào tạo 03:
Mô hình nông nghiệp thông minh và vai trò của nuôi giun quế;
Mô hình Ecolfie Cafe - Trung tâm thông tin Du lịch sinh thái và Giáo dục cộng đồng về Môi trường và biến đổi khí hậu tại Giao Xuân, Giao Thủy, Nam Định
Chương trình đào tạo 04:
Mô hình du lịch thăm quan thắng cảnh Vịnh Lan
Hạ, Cát Hải, Hải Phòng
Mô hình du lịch cộng đồng - Làng sinh thái Việt Hải Vịnh Lan Hạ, Cát Hải, Hải Phòng
Mô hình bảo tồn kết hợp du lịch sinh thái tại Vườn Quốc gia Cát Bà, Hải Phỏng
G Xây dựng sáng kiến thích ứng biến đổi khí hậu
Trong ngày cuối cùng của khóa học, các học viên được chia thành các nhóm nhỏ phân theo từng địa phương như theo xã, theo thôn, dựa vào các kiến thức đã học, quá trình đi thực địa và tham khảo các biểu mẫu xây dựng sáng kiến, các nhóm đã xây dựng các sáng kiến thích ứng biến đổi khí hậu phù hợp với tình hình của địa phương
Sau 04 chương trình đào tạo có 72 ý tưởng sáng kiến được đề xuất, các ý tưởng này đều được trình bày trước lớp và nhận được đóng góp ý của chuyên gia và các bạn học viên Tuy nhiên do thời gian xây dựng các ý tưởng trong thời gian ngắn do đó nhiều ý tưởng vẫn còn thiếu nhiều thực tiễn
Ghi chú: Chương trình đào tạo của từng lớp học, nội dung các bài giảng, thông tin chuyên gia, danh sách học viên, các mẫu biểu thiết kế xây dựng dự án, danh sách sáng kiến, các mô hình thực địa, kết quả đánh giá sáng kiến của hội đồng địa phương xin xem trong phần Phụ lục của cuốn Tài liệu này
Một số hình ảnh các chương trình đào tạo
Chia sẻ kiến thức, giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu
từ các tổ chức phi chính phủ Việt Nam - Chương trình đào tạo tại Thái Bình
Chia sẻ kiến thức và thực hành về thích ứng với biến đổi khí hậu –
Chương trình đào tạo tại Hạ Long, Quảng Ninh
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Biến ý tưởng thành hành động vùng đồng bằng sông Hồng cho 3 địa phương: Giao Thủy, Cát Hải và Tiền HảiPhần 3: Chương trình đào tạo thanh niên tiên phong trong thích ứng BđkH
Trang 13Hoạt động thảo luận nhóm xây dựng ý tưởng sáng kiến –- Chương trình đào tạo tại Vĩnh Phúc
Hoạt động thảo luận nhóm
xây dựng ý tưởng sáng kiến- Chương trình đào tạo
tại Thái Bình
Hoạt động thảo luận nhóm xây dựng ý tưởng sáng kiến- Chương trình đào tạo tại Cát Bà
Học viên thuyết trình ý tưởng - Chương trình đào tạo tại Thái Bình
Học viên thuyết trình ý tưởng - Chương trình đào tạo tại Vĩnh Phúc
Trang bị các kỹ năng mềm cho học viên
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Biến ý tưởng thành hành động vùng đồng bằng sông Hồng cho 3 địa phương: Giao Thủy, Cát Hải và Tiền HảiPhần 3: Chương trình đào tạo thanh niên tiên phong trong thích ứng BđkH
Trang 14Thăm quan mô hình thực địa nông nghiệp thông mình với khí hậu và vai trò của giun quế tại Hải Hậu –Nam Định
Thực địa bảo tồn đa dạng sinh học kết hợp với phát triển du lịch tại vườn quốc
gia Cát Bà.
Thực địa mô hình du lịch cộng đồng tại làng chài Việt Hải- Cát Hải
Chuyên gia đóng góp ý kiến cho ý tưởng sáng kiến của các nhóm
PHẦN 4 THỰC HIỆN SÁNG KIẾN
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Biến ý tưởng thành hành động
Trang 154.1 Lựa chọn ý tưởng sáng kiến
Giao Thủy, Cát Hải, Tiền Hải từng địa phương
thành lập Hội đồng đánh giá bao gồm: lãnh
đạo UBND huyện, lãnh đạo huyện đoàn, phòng
nông nghiệp, phòng TNMT huyện, Sở TNMT, Sở
NNPTNT, bản quản lý du lịch … đánh giá, chấm
điểm theo 05 tiêu chí tính dễ làm, khả năng nhân
rộng, khả năng truyền thông, khả năng thích ứng
BĐKH, hiệu quả kinh tế.
Các ý tưởng sáng kiến được đánh giá cao bởi hội
đồng địa phương do các ý tưởng sáng kiến đều dựa
trên thực tế và các điều kiện sẵn có tại địa phương
Các ý tưởng được đánh giá và được hội đồng góp
ý về chuyên môn để các nhóm hoàn thiện ý tưởng
sáng kiến cho sát thực với các chủ trương của địa
phương và điều kiện, năng lực thực hiện của thanh
niên trong bối cảnh biến đổi khí hậu
Đã có 04 ý tưởng sáng kiến về nước được thực hiện,
và 07 ý tưởng sáng kiến xanh truyền thông về thích
ứng biến đổi khí hậu được lựa chọn thực hiện thí
điểm tại ba địa phương và được Trung tâm Nghiên
cứu môi trường hỗ trợ thực hiện
4.2 Hỗ trợ thực hiện sáng kiến
Sau khi các sáng kiến đã được thống nhất lựa chọn
bởi hội đồng địa phương và chính quyền địa
phương lựa chọn địa bàn thực hiện triển khai sáng
kiến phù hợp với điều kiện và kế hoạch phát triển
của UBND huyện Các sáng kiện được lựa chọn sẽ
được hỗ trợ kỹ thuật và tài chính triển khai thực tế
Các sáng kiến được lựa chọn có hai loại là sáng kiến
sinh kế thích ứng với BĐKH (sáng kiến liên quan về
nước và sinh kế) và các sáng kiến xanh (sáng kiến
mang tính chất tuyên truyền nâng cao nhận thức
qua các phương pháp truyền thông) Dưới đây sẽ
khái quát lại quát trình hỗ trợ kỹ thuật và tài chính
cho mô hình sáng kiến về nước do CECR hỗ trợ
thực hiện
Bước 1: Nhóm dự án CECR, chuyên gia hỗ trợ
nhóm thanh niên chủ sáng kiến rà soát, chỉnh sửa
bản đề xuất sáng kiến (tập trung vào mặt kỹ thuật
thực hiện và tài chính)
Bước 2: Phối hợp cùng với nhóm thanh niên chủ
sáng kiến tổ chức cuộc họp với chính quyền địa
phương để báo cáo về sáng kiến được lựa chọn và
phương pháp triển khai sáng kiến, sự hỗ trợ của chính quyền địa phương trong việc huy động các nguồn lực thực hiện; lựa chọn địa điểm và đối tượng hưởng lợi dựa trên những đề xuất của nhóm thanh niên;
Bước 3: Thành lập tổ nhóm thực hiện sáng kiến
nhằm xây dựng kế hoạch hoạt động chung, họp đình kỳ các thành viên, chia sẻ kết quả kinh nghiệm với cộng đồng, và báo cáo hoạt động với chính quyền địa phương
Bước 4: Tập huấn kỹ thuật và hỗ trợ tài chính
Nhóm Dự án CECR dựa vào đề xuất của địa phương sẽ làm việc với các chuyên gia có kinh nghiệm để tổ chức chương trình tập huấn kỹ thuật cho các đối tượng hưởng lợi
Tài chính được hỗ trợ thông qua các bộ công cụ để
hỗ trợ cho các hộ gia đình tham gia thực hiện sáng kiến
Bước 5: Theo dõi, giám sát và đánh giá quá trình
thực hiện mô hình sáng kiến
Bước 6: Chia sẻ kết quả và kinh nghiệm thực hiện
sáng kiến của nhóm hộ gia đình tới cộng đồng
Bước 7: Đoàn thanh niên lên kế hoạch nhân rộng
Sáng kiến do chị Nguyễn Thị Thủy, trưởng nhóm
đề xuất
Xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình là một
xã ven biển với hoạt động kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản và hoạt động khai thác thủy sản Từ những năm 2010 trở lại đây do hoạt động cấy lúa có hiệu quả kinh
tế thấp nên chính quyền địa phương huyện Tiền Hải đã cho phép người dân ở một số vùng trong đó có Nam Phú chuyển đổi một số vùng đất trũng sang hoạt động nuôi trồng thủy hải sản nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cho người dân Trước khi triển
khai dự án READY, hầu hết các hộ nuôi thủy sản
ở Nam Phú áp dụng hình thức nuôi cá nước ngọt hoặc tôm sú là chủ yếu Đối với mô hình nuôi cá nước ngọt thường có hiệu quả thấp vì tại các vùng ven biển nhu cầu các loại cá nước ngọt (bao gồm
cá trắm, chép, trôi, mè, rô phi) ít trong khi đó sản lượng nuôi của địa phương thấp nên không đủ hấp dẫn các thương lái đến mua để vận chuyển đi các vùng khác Mô hình nuôi tôm sú tại Nam Phú nói riêng và các tỉnh khác của Việt Nam nói chung đã gặp nhiều khó khăn như thời gian nuôi dài, mật độ nuôi thấp và dịch bệnh nên hiệu quả kinh tế thấp và không hấp dẫn người nuôi
Việc lựa chọn đối tượng nuôi là tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) có nhiều ưu điểm là đối tượng có thể thích ứng với điều kiện môi trường có độ mặn từ 0-35ppt, phù hợp với điều kiện tự nhiên tại Nam Phú vì hầu hết các đầm nuôi ở đây là nước ngọt Tôm thẻ chân trắng có lợi thế khác là thời gian nuôi ngắn khoảng 3 tháng và điểm hòa vốn khoảng
50 ngày nên giảm thiểu rủi ro cho người nuôi Bên cạnh đó tôm thẻ chân trắng có thể thả với mật độ cao nên có thể nâng cao năng suất/đơn vị diện tích
ao nuôi Lợi thế quan trọng nhất đó là nhu cầu thị trường đối với đối tượng nuôi này còn rất lớn, đảm bảo đầu ra của sản phẩm
Mặc dù nghề nuôi tôm thẻ chân trắng có nhiều ưu điểm, tuy nhiên người nuôi thủy sản tại Nam Phú
chưa có nhiều kinh nghiệm và kiến thức thả nuôi đối tượng này, đặc biệt là việc quản lý chất lượng nguồn nước ao nuôi Cũng do chưa có nhiều kiến thức và thông tin về chất lượng nước, các hộ dân chưa có sự quan tâm đúng mức đến việc quản lý
nguồn nước nên việc nuôi trồng chưa đem lại hiệu quả như mong muốn Vì vậy việc lựa chọn sáng kiến Cải thiện chất lượng môi trường nước trong chăn nuôi thủy sản tại xã Nam Phú là sáng kiến được cả chính quyền địa phương và người dân ủng
hộ và mong đợi
Mục tiêu chính của sáng kiến là giúp người dân hiểu được tầm quan trọng của môi trường nước trong nuôi trồng thủy sản và các kỹ thuật bền vững giúp cho người dân kiểm soát được chất lượng môi trường nuôi trồng thủy sản, đảm bảo hiệu quả đầu tư Ngoài ra các kỹ thuật nuôi tôm từ các khâu chuẩn bị ao nuôi, đến chọn giống, ương tôm, thức
ăn, phòng bệnh…cũng được cung cấp đồng bộ
- Quá trình thực hiện sáng kiến bao gồm các bước chinh như sau: Khảo sát và lựa chọn hộ tham gia tổ/nhóm theo tiêu chí: có kinh nghiệm nuôi tôm
từ 2 vụ trở lên, có điều kiện kinh tế đáp ứng cho việc nuôi tôm theo các yêu cầu kỹ thuật; cam kết tham gia và thực hiện theo đúng kỹ thuật đã được chuyển giao ít nhất 01 vụ; sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm và hướng dẫn cho các gia đình cùng nuôi tôm khác chưa đủ điều kiện tham gia vào chương trình Từ 40 hộ khảo sát, 20 hộ gia đình có đủ điều kiện về kinh tế cũng như đảm bảo về công
cụ sản xuất như quạt, máy bơm, thuyền, chài, lưới,…đã được lựa chọn tham gia vào dự án và có xác nhận của UBND xã
- Tập huấn kỹ thuật về xử lý chất lượng môi trường nước ao nuôi, và kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng cho các hộ gia đình được lựa chọn Chương trình tập huấn được để thiết kế phù hợp dựa trên các thông tin từ khảo sát các hộ gia đình Chương trình tập trung vào nâng cao những kỹ thuật cần thiết nhất nhưkỹ thuật kiểm tra chất lượng nước
ao nuôi và xử lý nước ao nuôi Chương trình tập huấn áp dụng phương pháp học tích cực, dựa ngay trên thực tiễn: 20 hộ dân được chia thành
2 nhóm, các nhóm sẽ thảo luận về các phương pháp kỹ thuật đang áp dụng trong nuôi tôm thẻ chân trắng, giảng viên sẽ trực tiếp thảo luận, chia
sẻ thêm những kinh nghiệm để giúp nuôi tôm tốt hơn, hướng dẫn trực tiếp các sử dụng các công
cụ cũng như Ngoài việc học và thảo luận theo nhóm thì thảo luận đầu bờ được diễn ra ngay sau khi học lý thuyết
Các tổ/nhóm được hướng dẫn kỹ thuật kiểm tra môi trường nước ao nuôi, xử lý môi trường nước và
kỹ thuật nuôi tôm bốn đợ như sau:
- Đợt 1: Tập trung vào xử lý môi trường ao nuôi
- Đợt 2: Kiểm tra môi trường nước, chọn giống và cách cho ăn
- Đợt 3: Các bệnh thường gặp ở tôm, xử lý thông qua xử lý môi trường nước;
- Đợt 4: Hướng dẫn sử dụng các bộ công cụ thử nước đơn giản
Việc hướng dẫn thực tế (theo cách cầm tay chỉ việc)sau mỗi đợt tập huấn được thực hiện tại tất cả 20 ao đầm của các hộ gia đình, Dự án còn tổ chức cho các
hộ gia đình đi thăm quan học tập chia sẻ đồng đẳng
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Trang 16quá trình sử lý nước và cách nuôi tôm của một số
hộ gia đình đã có trên 15 năm kinh nghiệm làm tôm
tại Nam Định
- Hỗ trợ các công cụ đánh giá chất lượng nước và
cải thiện chất lượng nguồn nước Dựa vào các đặc
điểm đồng đất của người dân và các nguyên nhân
được cho là làm tôm bị chết, các bộ thử nước đã
được đưa ra để người dân cân nhắc, đánh giá chất
lượng nước ao nuôi trước khi đi tới những quyết
định xử lý Chương trinh đã hỗ trợ và hướng dẫn
cách sử dụng các bộ thử chất lượng nước ao nuôi
cho các hộ gia đình Bộ thử nước gồm có:
+ Bộ kiểm tra về độ kiềm tổng số (Aqua base)
+ Bộ kiểm tra về độ pH
+ Bộ kiểm tra về nồng độ độc (NH3-NH4)
+ Bộ kiểm tra về độ oxy hòa tan trong nước (DO)
+ Và chế phẩm EM gốc (chế phẩm vi sinh vật) cải thiện chất lượng nguồn nước
- Các buổi định kỳ và chia sẻ kết quả và kinh nghiệm thực hiện với các hộ gia đình đang nuôi tôm trên địa bàn
- Họp đánh giá trong các nhóm hộ gia đình khi sử
dụng bộ công cụ Chuyên gia của dự án tiếp tục
hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp về các vấn đề và cách giải quyết trong các tháng tiếp theo Hỗ trợ các hộ gia đình Kiểm tra, đánh giá và hỗ trợ về kỹ thuật cho người dân;
- Chia sẻ kinh nghiệm trong cộng đồng người dân:
Mô hình đã được chia sẻ với các hộ khác ở Nam Phú
Kết quả về mặt kinh tế
- Mô hình đã mang lại các kết quả cụ thể như sau:
Với sự nắm bắt được về mặt kỹ thuật, người dân
KẾT QUẢ NGOÀI MONG ĐỢI:
QUẢN LÝ NGUỒN NƯỚC DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
Nhờ sự hiểu biết sâu sắc về tầm quan trọng của việc quản lý nguồn nước, những người dân xóm dưới thôn
Hợp Phố nơi có bốn gia đình tham gia chương trình thực hiện sáng kiến đã thảo luận và quyết định cải tạo
dòng kênh cấp nước chung cho các ao đầm của họ Bốn gia đình đã nhóm họp và vận động thêm sáu gia
đình ở dọc dòng kênh cấp nước cùng đóng góp chung tiền hơn 10 triệu đồng tiền thuê máy cẩu, máy xúc
và công để dọn sạch đoạn kênh cấp nước- trước kia chỉ xả rác và nước thải, và thống nhất với nhau các gia
đình cùng phải bảo vệ dòng kênh cấp nước này, không gia đình nào được xả rác, không gia đình nào được
xả nước thải chăn nuôi hay chất bẩn xuống đoạn kênh Đoạn kênh đen xì, hôi tanh bây giờ đã trở thành
dòng nước đủ sạch để cung cấp nước cho ao đầm của cả 10 hộ gia đình
Dòng kênh cấp nước trước cải tạo và sau cải tạo
đã chú tâm tới việc chăm sóc tôm hơn, theo dõi từng giờ để tránh hiện tượng tôm bị sốc nước ngọt (sau những trận mưa bất chợt) do vậy năm
2017 tất cả các hộ gia đình tham gia thí điểm mô hình đều ghi nhận có hiệu quả lãi
- Có 8/20 hộ gia đình tiếp tục mở rộng đầu tư vào tôm, đào thêm ao thả mới để chuẩn bị cho vụ xuân năm 2018
- Các hộ gia đình cũng đã tiết kiệm được từ 20% tiền mua thức ăn, và mua tôm giống do đã tính toán được lượng tôm thả và lượng thức ăn cho tôm trong ao
- 50% các hộ gia đình áp dụng biện pháp ương giống khi nuôi để đảm bảo con tôm quen với môi trường mới, nâng cao số lượng tôm sống sau thả
Như gia đình anh Phạm Văn Tuân “năm nay sẽ
chỉ thả 5 vạn tôm giống thay vì 10 vạn như năm ngoái mà vẫn đảm bảo được năng suất”.
Kết quả về môi trường:
Với việc thực hiện mô hình này, chất lượng nước trong ao nuôi tôm đã được các hộ gia đình kiểm tra thường xuyên Nhiều hộ gia đình như gia đình anh Trần Văn Huy đã không còn nuôi vịt trên mặt ao và
xả thải từ chăn nuôi xuống ao nuôi tôm
100% các hộ gia đình xử lý ao đầm một cách triệt
để, phơi đáy áo, phát quang bờ bụi, xử lý rác thải cách xa bờ ao để đảm bảo cho nước nuôi tôm đạt chất lượng
Chất lượng nước đầu vào cho ao nuôi cũng được các hộ gia đình tập trung xử lý theo cụm dân cư, đảm bảo vệ sinh môi trường và duy trì nguồn nước
Một vài hình ảnh về mô hình sáng kiến:
Tập huấn kỹ thuật cho các hộ gia đình tham gia thực hiện thử nghiệm mô hình sáng kiến
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Trang 17Mô hình 2: Nâng cao hiệu quả của hệ thống cấp nước sinh hoạt và khả năng tiếp cận nguồn nước sạch tại Nam Phú, Tiền Hải với sự tham gia có trách nhiệm của cộng đồng.
và bảo dưỡng cũng giảm hiệu quả sử dụng của hệ thống cung cấp nước sạch Đặc biệt, với một số hộ gia đình và nhà văn hoá thôn việc tiếp cận hệ thống nước sạch này còn khó khăn do thiếu các thiết bị cấp nước như đường ống, đồng hồ đo nước Việc bảo vệ hệ thống cấp nước rất cần thiết có sự tham gia của từng gia đình, từng người trong cộng đồng
Nhóm thanh niên tại Nam phú, với sự đồng ý của lãnh đạo địa phương đã đề xuất sáng kiến “Nâng cao hiệu quả của hệ thống cấp nước sinh hoạt và khả năng tiếp cận nguồn nước sạch tại Nam Phú, Tiền Hải với sự tham gia có trách nhiệm của cộng đồng”, nhằm nâng cao nhận thức và hiểu biết của cộng đồng về sự cần thiết chung tay bảo vệ hệ thống cung cấp nước, sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguồn nước và hỗ trợ tiếp cận nguồn nước sạch cho các gia đình khó khăn nhất Đây cũng là sáng kiến xanh giúp cộng đồng tiếp cận nguồn nước sạch hiệu quả,
Hỗ trợ dụng cụ quan trắc chất lượng nước và xử lý môi trường nước trong nuôi trồng thủy sản
bền vững, nâng cao sức chống chịu của địa phương với BĐKH Sự thành công của sáng kiến sẽ giúp địa phương phát huy sự tham gia của cộng đồng trong sử dụng nguồn nước và các nguồn tài nguyên khác trong tương lai
Quá trình thực hiện sáng kiến/mô hình như sau:
- Họp thảo luận và thống nhất với chính quyền địa phương về phương pháp và kế hoạch thực hiện sáng kiến với sự làm chủ của thanh niên địa phươngLựa chọn 04 thôn (Hợp Phố, Thúy Lạc, Bình Thành, và Trung Thành) tham gia thực hiện sáng kiến, các hộ gia đình có cùng chung một hệ thống cung cấp nước và xác định các gia đình cần sự giúp đỡ
- Hỗ trợ hệ thống dẫn nước từ đường ống chính và đồng hồ đo nước cho hộ gia đình được xác định nghèo cần giúp đỡ, và sẽ cùng địa phương tiến hành thực hiện công tác rà soát, lắp đặt và giám sát
Kết quả về kinh tế:
Mô hình mang lại ý thức tham gia của người dân trong việc bảo vệ các công trình hạ tầng cơ sở về cung cấp nguồn nước, đàm bảo hiệu quả đầu tư của nhà nước Với mô hình này, nguồn nước sạch sẽ nâng cao, đảm bảo sức khỏe cho người dân và cộng đồng, đặc biệt vào thời điểm thời tiết nắng nóng khô hạn, người dân và không còn mất thời gian đi tìm các nguồn nước thay thế cho nguồn nước giếng khoan bị cạn kiệt Người dân có nhiều thời gian tập trung vào phát triển kinh tế gia đình
Hỗ trợ lắp đặt đường ống cấp nước và đồng hồ
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Trang 18Kết quả về mặt xã hội:
10 hộ gia đình khó khăn của của 4 thôn được tiếp
cận với nguồn nước sạch Đảm bảo cung cấp đủ
nước cho người dân sử dụng trong sinh hoạt
Các cụm dân cư hiểu được quá trình bảo quản hệ
thống đường cấp nước chung Tăng cường tình làng
nghĩa xóm khi các hộ dân bỏ phiếu cho các hộ gia
đình khó khăn có thể tiếp cận được nguồn nước
sạch Chính quyền đưa công tác bảo trì, bảo dưỡng,
bảo vệ các hệ thống cung cấp nước quy củ và hiệu
quả hơn
Kết quả về mặt môi trường:
Tiếp cận được nguồn nước sạch là một trong các
tiêu chí quan trọng về môi trường trong Chương
trình Nông thôn mới Mô hình đã đóng góp nâng
cao chất lượng tiếp cận nguồn nước, bảo vệ được
nguồn nước ngầm của địa phương
Mô hình 3: Thích ứng BĐKH “Nâng
cao khả năng chống chịu của cộng đồng
thông qua việc cải thiện chất lượng
nguồn nước uống và sinh hoạt an toàn
tại Quất Lâm, huyện Giao Thủy, Nam
Định.
Mô tả mô hình
Tại Quất Lâm, các hộ ở ven biển chưa tiếp cận được
nguồn nước sạch, vẫn còn phải sử dụng nước từ
giếng khoan Tuy nhiên hiện chất lượng nước giếng
khoan còn nhiễm nhiều kim loại như sắt, mangan
Màu nước giếng rất vàng và nước giếng có mùi
tanh Ô nhiễm các vi khuẩn gây bệnh cũng rất tiềm
năng Để có thể có nguồn nước sinh hoạt an toàn,
nước giếng sẽ cần phải thông qua hệ thống lọc hợp
lý nhằm loại trừ kim loại và nguồn gây bệnh, cảm
quan về màu và mùi không còn mùi tanh và màu
vàng, đảm bảo sử dụng sinh hoạt được Mặt khác
các giếng ngầm cũng có nguy cơ bị ô nhiễm từ các
nguồn rác thải và nước thải nếu không có phương
án bảo vệ đúng mức Tổ chức đoàn thanh niên ở
địa phương, sau khi tham gia chương trình đào tạo
thanh niên tiên phong đã đưa ra sáng kiến “Nâng
cao khả năng chống chịu của cộng đồng thông qua
việc cải thiện chất lượng nguồn nước uống và sinh
hoạt an toàn tại Quất Lâm, huyện Giao Thủy, Nam
Định” Sáng kiến này có mục đích giúp cộng đồng có
được sự hiểu biết về tầm quan trọng của vệ sinh và
an toàn nguồn nước, việc xử lý nguồn nước và bảo trì các hệ thống xử lý, bảo vệ hệ thống nước ngầm khỏi ô nhiễm rác thải, nước thải Sáng kiến hỗ trợ một phần các bể lọc hợp lý cho một số trường học
và các hộ gia đình tại 11 thôn khác nhau để tuyên truyền cho cộng đồng về chất lượng nguồn nướcQuá trình thực hiện bao gồm các bước sau:
- Họp, thảo luận cộng đồng gồm một số hộ gia đình và chính quyền trên địa bàn về tình trạng chất lượng nước giếng khoan tại địa phương (là nguồn cung cấp nước chính) Trên cơ sở thống nhất về các vấn đề là cần thiết phải nâng cao chất lượng nước giếng khoan, cộng đồng đã thống nhất về phương pháp và kế hoạch thực hiện sáng kiến với sự làm chủ các thanh niên địa phương
- Lựa chọn các hộ gia đình đang sử dụng nước giếng khoan tại các thôn khác nhau để có được kết quả có thể nhân diện rộng và giúp cho nhiều người biết về mô hình và tầm quan trọng của việc lọc nước trước khi lắp đặt và sử dụng hệ thống lọc Các trường học trên địa bàn được ưu tiên lựa chọn đảm bảo nước sạch sinh hoạt cho các em học sinh
- Chuyên gia họp với cộng đồng và giảng giải về những vấn đề về nước giếng khoan hiện nay, thực hiện trình diễn việc lọc nước để thấy rõ sự khác nhau giữa nước giếng khoan chưa được lọc
và đã được lọc Việc giảng giải này đã giúp cho các gia đình tham gia có được nền tảng kiến thức tốt trước khi thực hành việc lọc nước và các biện pháp bảo vệ giếng khoan
- Hỗ trợ hệ thống lọc nước cho trường học và một
số hộ, dự án cùng với địa phương tiến hành thực hiện công tác rà soát, lắp đặt và giám sát hệ thống lọc nước thô cho giếng khoan
- Sau hai tuần dùng các gia đình đã có những chia
sẻ thảo luận về thực tiễn kinh nghiệm sử dụng
Các gia đình tham gia đều thấy việc lắp đặt bể lọc giúp có được nguồn nước sạch, đều cho rằng việc lọc nước giếng khoan là cực kỳ cần thiết đối với gia đình
Kết quả về mặt kinh tế
Từ kết quả của các gia đình thử nghiệm, sau một tháng đã có thêm 15 gia đình đầu tư vào hệ thống lọc Hiện chưa có số liệu về hiệu quả tài chính cho
việc thực hiện mô hình, tuy nhiên các gia đình cho thấy với việc đầu tư chi phí khoảng 4-6 triệu cho hệ thống lọc, tránh được các bệnh tật về nước, về lâu dài đây là khoàn đầu tư rất hiệu quả để tiết kiệm chi phí sức khỏe, chi phí mua nước sach
Kết quả về mặt môi trường
Mô hình đưa ra cách tiếp cận nước sạch và bảo vệ nguồn nước ngầm, mang lại hiệu quả kép cho môi trường Việc bảo vệ các giếng ngầm khỏi ô nhiễm sẽ đóng góp vào công tác bảo vệ nguồn nước ngầm của địa phương Mô hình đã đưa ra cách tiếp cận mới, với cách tiếp cận trực tiếp cụ thể, giúp nâng cao nhận thức của người dân trong công tác bảo
vệ các giếng ngầm Mô hình cũng giúp các gia đình quản lý được nguồn nước mặt, nước thải tốt hơn
Kết quả về mặt xã hội:
Ngay sau khi mô hình thực hiện thành công ở nhóm nhỏ trên, Ủy ban nhân dân xã Quất lâm đã đánh giá cao mô hình này Xã đã khuyến khích người dân đầu tư vào hệ thống lọc, bảo vệ các giếng khoan
Hiện nhiều gia đình đã thực hiện lắp đặt hệ thống lọc và các biện pháp bảo vệ giếng
Mô hình 4: Giám sát, quan trắc và cải thiện chất lượng nước trong nuôi trồng thủy sản xử lý môi trường nước trong nuôi trồng thủy sản.
Địa điểm: tại Xã Phù Long, huyện Cát Hải
và cảng nước sâu Lạch Huyện Theo báo cáo của UBND xã Phù Long nghề thủy sản bao gồm khai thác và NTTS là một trong những ngành kinh tế quan trọng của địa phương, bình quân thu nhập đầu người của xã năm 2017 đạt 34 triệu đồng/người/năm Đây là xã nông thôn có bình quân thu nhập đầu người cao so với mặt bằng chung của nông dân Việt Nam hiện nay Mặc dù cơ cấu kinh tế của xã có nhiều thay đổi tuy nhiên nhiều người dân
đã cao tuổi, hoặc thanh niên không xin được việc làm trong các công ty, khu công nghiệp, dịch vụ vẫn tham gia vào nghề nuôi trồng thủy sản (NTTS) và khai thác thủy sản Mặc dù nghề NTTS và khai thác thủy sản là sinh kế chính của một số nông hộ trên
xã đảo Phù Long tuy nhiên theo thống kê của huyện thì nguồn lợi thủy sản tự nhiên ngày càng giảm do hoạt động của cảng nước sâu Lạch Huyện cũng như
do các hoạt động kinh tế khác
Hình thức nuôi thủy sản chính của xã Phù Long đó là hình thức nuôi quảng canh cải tiến (QCCT) với các đối tượng nuôi chủ yếu là tôm, cua, ngao, một số hộ có ương nuôi con giống ở giai đoạn đầu trước khi thả ra đầm nuôi lớn và thay nước theo thủy chiều và tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên, không bổ sung thức ăn công nghiệp hoặc các sản phẩm xử lý môi trường Hiểu biết của người dân
về theo dõi và quản lý môi trường trong NTTS còn hạn chế Các hộ chủ yếu nuôi dựa vào kinh nghiệm cũng như dựa vào điều kiện tự nhiên thuận lợi để sản xuất Do đó hiệu quả hoạt động NTTS chưa ổn định
Nghề nuôi tôm sú theo hình thức QCCT đã được triển khai tại xã Phù Long từ năm 1990, việc nuôi tôm chủ yếu dựa vào kinh nghiệm Người dân chưa được tham gia đào tạo về quản lý môi trường nước nên sự hiểu biết về lĩnh vực này rất thấp và các hộ cũng chưa có kỹ năng kiểm soát nguồn nước Mô hình này tập trung vào nâng cao hiểu biết cho người nông dân về chất lượng nước trong nuôi trồng thủy sản tự nhiên, cách kiểm tra các yếu tố môi trường nước bằng các dụng cụ chuyên môn
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Trang 19Quá trình triển khai mô hình bao gồm các bước
sau:
- Khảo sát tại địa phương về tình hình nuôi trồng
và các tập quán nuôi trồng của các hộ dân Họp
thảo luận và thống nhất với chính quyền địa
phương về phương pháp thực hiện với sự làm chủ
của thanh niên địa phương
- Tập huấn kỹ thuật về các phương pháp giám sát,
quan trắc, xử lý và cải thiện chất lượng nước phù
hợp với quy chuẩn môi trường Việt Nam;
- Tập huấn kỹ thuật về phương pháp giám sát,
quan trắc chất lượng nước thông qua các bộ thử
có sẵn, đơn giản, kinh tế và dễ sử dụng cho các
hộ gia đình;
- Tập huấn kỹ thuật xử lý, cải thiện môi trường
nước khi nồng độ các chất cao hơn ngưỡng cho
phép
Hỗ trợ các công cụ quan trắc nước cho các hộ gia
đình Các công cụ quan trắc nước phải đơn giản, dễ
sử dụng nhưng hiệu quả trong việc đánh giá nhanh
chất lượng nước nhằm giúp người dân đưa ra được
các quyết định xử lý nhanh bảo vệ được tài sản
của mình; Các thiết bị, công cụ đã hộ trợ bao gồm:
Khúc xạ kế đo độ mặn của nước, Bộ thử độ kiềm,
Bộ thử độ pH, Bộ thử khí độc NO2, Bộ thử khí độc
NH3, NH4
Kết quả về mặt kinh tế
Theo đánh giá của các hộ gia đình tham gia dự án,
việc áp dụng các kỹ thuật trong xử lý môi trường,
quan trắc và đánh giá chất lượng nước, cũng như kỹ
thuật nuôi trồng sẽ giúp cho người dân tăng được
sản lượng trong vụ sắp tới
Hiện nay các hộ gia đình vừa mới tham gia lớp tập
huấn và đang trong giai đoạn xử lý ao đầm chuẩn bị
cho vụ xuân 2018 (khoảng tháng 3 tháng 4 sẽ thả),
do vậy hiệu quả về mặt kinh tế cần phải đến tháng
6-7/2018 mới có thể đánh giá được vụ đầu tiên Tuy
nhiên phương pháp nuôi tại xã là phương pháp nuôi
gối vì vậy mà người dân thả nhiều lứa tôm trong
một năm từ 4-6 lần thả tôm và thu quanh năm
Về chất lượng của sản phẩm tôm sú tại xã Phù Long
được đánh giá là rất tốt thịt dai, thơm và ăn chắc do
phương pháp nuôi tại đây là nuôi quảng canh cải
tiến không nuôi thức ăn công nghiệp Người dân
mua tôm giống thả vào đầm, có hộ gia đình cho ăn
4-7 ngày đầu còn có hộ gia đình hoàn toàn không cho ăn từ ngày thả cho đến ngày thu hoạch Thu nhập bình quân từ 6-8 triệu/tháng
Kết quả về mặt xã hội và môi trường
Việc hỗ trợ các cộng cụ cho 11 hộ gia đình giúp cho các hộ kiểm soát môi trường nuôi hạn chế những rủi ro do thời tiết gây ra và có những phương pháp xử lý kịp thời Bộ công cụ quan trắc và giám sát chất lượng nước đã giúp cho người dân tự tin hơn trong quá trình xử lý môi trường ao nuôi trồng Nếu trước đây người dân tại Phù Long chủ yếu chăn nuôi theo kinh nghiệm và không áp dụng nhiều phương pháp
kỹ thuật và người dân cũng chưa sử dụng các công
cụ gì để kiểm tra chất lượng nước tại ao đầm; sau khi tham gia chương trình người dân được hiểu thêm về kinh nghiệm cũng như kỹ thuật trong nuôi tôm sú
Các hộ gia đình cam kết thử chất lượng nước ao nuôi trong vòng 1 tháng sau khi được hỗ trợ, để giúp người dân quen với việc sử dụng các công cụ thiết bị kiểm tra chất lượng nước
Ngoài việc hiểu về kỹ thuật các hộ gia đình tham gia tập huấn còn thường xuyên trao đổi với các hộ xung quanh về kỹ thuật được học và hỗ trợ nhau trong quá trình xử lý ao đầm, nuôi thả tôm, nuôi thả cua
Ngoài việc chú ý giữ gìn chất lượng môi trường ao nuôi, người dân còn được hướng dẫn về quản lý
chất thải rắn trên bờ, để tránh đưa nguồn ô nhiễm
từ trên bờ như từ rác thải, từ phế thải chăn nuôi vào
ao đầm
Sau chương trình tập huấn 100% hộ dân tham gia
đã tự kiểm tra chất lượng nước của đầm mình Sử
dụng thành thạo bộ thử, gia đình anh Nguyễn Văn Phượng cả vợ và chồng đều biết cách sử dụng bộ công cụ thử nước
Các hộ dân chia sẻ việc sử dụng bộ công cụ với các
hộ xung quanh và cùng nhau thực hiện các biện pháp ngăn chặn bảo vệ chất lượng nước cấp cho các ao đầm Số lượng bộ công cụ hỗ trợ là có hạn,
do vậy các hộ dân ở cùng khu với nhau đã có tinh thần chia sẻ như tại khu đầm nhà anh Nguyễn Văn Phượng có 3 hộ gia đình cùng làm nên gia đình anh
đã chia sẻ và dùng chung bộ công cụ với 2 hộ còn lại
Kết quả:
03 buổi ngoại khóa được thực hiện;
450 em học sinh tham gia vào các buổi ngoại khóa (mỗi buổi 150 học sinh)
15 bài tuyên truyền về biến đổi khí hậu được phát trên đài phát thanh thị trấn vào lúc 6:30 phút trong thời gian từ tháng 11-12/2017
17 tổ dân phố và khu du lịch được nghe tuyên truyền về thích ứng với biến đổi khí hậu
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Trang 20Mô hình 6: Nâng cao nhận thức cộng
đồng bằng trồng cây xanh và đặt thùng
rác tại các địa điểm công cộng và
trường học tại thị trấn Quất Lâm.
Mô tả sáng kiến/mô hình
Nâng cao nhận thức cộng đồng về biến đổi khí hậu
và các biện pháp bảo vệ môi trường thông qua tuyên
truyền và hoạt động thực tế
Thanh niên viết các bài tuyên truyền về thích ứng
biến đổi hậu phát trên đài phát thanh thị trấn từ
tháng 11-12 năm 2017;
Tổ chức ra quân làm sạch môi trường tại các tổ dân
phố dọc đường N8 và các trường học; tổ chức trồng
cây xanh và đặt thùng rác tại các địa điểm công
cộng
Ký biên bản bàn giao cây xanh và thùng rác cho các
đơn vị và hộ dân bảo quản và chăm sóc, bảo vệ
Kết quả:
30 thùng rác được đặt tại các trường học và các địa
điểm công cộng Thùng rác được sử dụng với sự
cam kết bảo quản của nhà trường và người dân
Nhân rộng mô hình: mô hình này là cơ sở để các đoàn thanh niên đến học tập và nghiên cứu tại Vườn, một số đơn vị đến tham quan Vườn có thể tiến hành trồng thêm cây vào các mô hình này
Từng bước mở rộng mô hình, chung tay bảo vệ môi trường, góp phần cải thiện tiểu khí hậu khu vực
Kết quả
36 cây Loài cây trồng: Kim giao, Re, Trám, Sấu…
(trồng hỗn loài, đây là những loài cây bản địa, đa mục đích thuận lợi cho trồng rừng và tận thu sản phẩm sau này được trồng trên diện tích 900m2 sau này sẽ mở rộng thành 1 ha
Mô hình 9: Tăng cường tái sử dụng nhựa giảm thiểu chất thải có hại cho môi trường
Trường nhóm: Đoàn Mạnh Tiến, đoàn thị trấn Cát Hải
Mô tả
Nhằm đẩy mạnh và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu bằng những sáng kiến cụ thể của thanh niên, tiếp tục khẳng định vai trò của tổ chức Đoàn tiên phong trong các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu qua đó động viên, khuyến khích đoàn viên, thanh niên thực hiện các ý tưởng, sáng kiến xanh bảo vệ môi trường áp dụng vào thực tế cuộc sống một cách hiệu quả, sáng tạo
Thông qua việc hỗ trợ , thúc đẩy thực hiện ý tưởng, sáng kiến của thanh niên thông qua tính hiệu quả của các mô hình góp phần giảm thiểu phát thải ô nhiễm, bảo vệ môi trường, thích ứng với BĐKH từ
đó triển khai nhân rộng mô hình tới các cá nhân, tổ chức và các địa phương trên địa bàn huyện
Khuyến khích thanh niên mạnh dạn đưa ra các ý tưởng, sáng kiến để tham gia tích cực hoạt động tuyên truyền, ứng phó với biến đổi khí hậu
Tổ chức thu gom, tận dụng các hộp nhựa, xốp và rác thải để trồng cây, hoa và rau xanh
Thực hiện tại trường mầm non và khu vực đất trồng của Trung tâm văn hóa thị trấn Cát Hải
Huy động đoàn viên thanh niên, học sinh thu gom hộp xốp, chai nhựa và rác thải hữu cơ để chuẩn bị cho việc trồng cây Phân công các đoàn viên trong trường mầm non chăm sóc
Kết quả
Ban hành Kế hoạch số 36 ngày 30/10/2017 triển khai thực hiện sáng kiến xanh thích ứng biến đổi khí hậu năm 2017 trên địa bàn thị trấn Cát Hải.Vườn cây xanh và vườn cây từ hơn 50 hộp xốp được tận dụng và hơn trăm chai nhựa, đồ nhựa được tái chế để trồng cây
Mô hình 10: Vườn hoa, khuôn viên cây xanh Nhà thiếu nhi Cát Hải
Trường nhóm: Tô Trung Dũng, nhà thiếu nhi huyện Cát Hải
Mô tả:
Xây dựng khuôn viên xanh cho các em thiếu nhi, tăng sự lòng yêu thiên nhiên và gắn bó với tự nhiên Xây dựng khuôn viên khoa từ các sản phẩm tái chế như thùng, chai, lọ nhựa
50 cây xanh được trồng dọc tuyến phố N8, cây xanh được bàn giao cho các hộ dân sống tại khu vực bảo
Kết quả
Trang bị kiến thức môi trường cho 50 học sinh từ đó mong muốn học sinh hành động và ứng xử với môi trường một cách đúng đắn góp phần lan tỏa có
hiệu ứng tích cực trong bảo vệ môi trường chung
Thăm quan thực tế tại vịnh Lan Hạ nhằm giúp các
em học sinh hiểu tầm quan trọng của môi trường đối với địa phương đặc biệt là ngành du lịch
Mô hình 8: Vườn cây thanh niên thích ứng với biến đổi khí hậu
Trưởng Nhóm: Phạm Văn Phong, Đoàn vườn quốc gia Cát Bà
Mô tả
Đại diện của đoàn viên 36 khối đoàn thể tại đảo Cát
Bà, mỗi đơn vị tiến hành trồng 01 cây tại mô hình
“Vườn cây thanh niên thích ứng biến đổi khí hậu”
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Trang 21Kết quả:
Diện tích trồng 20m2 với 20 khóm cây và cây leo
Mô hình 11: Đổi rác lấy cây xanh
Trưởng nhóm: Tống Thị Thương, huyện đoàn thị
trấn Cát Bà
Mục đích:
Nâng cao nhận thức của các em học sinh về thu
gom, phân loại và xử lý rác trong hộ gia đình Tăng
lòng yêu thiên nhiên và giữ gìn vệ sinh môi trường
tại địa bàn dân cư cho học sinh
Có 200 em học sinh tham gia thực hiện sáng kiến
Số lượng cây đổi được trong chương trình là 150 cây
ĐoàN THANH NiêN GiAo THủy ĐảM NHậN MụC Tiêu 17
TroNG CHươNG TrìNH NôNG THôN Mới
Tiêu chí 17 về Môi trường trong Chương
trình Nông thôn mới 2016-2020 gồm
8 mục tiêu nhỏ tập trung vào các vấn đề
quản lý rác thải, chất thải, nước thải, xây
dựng cảnh quan môi trường, các cơ sở nuôi
trồng thủy sản, chăn nuôi tuân thủ các quy
định về môi trường gắn liền với các biện
pháp thích ứng biến đổi khí hậu Quản lý
rác thải nước thải tốt sẽ giảm thiểu rủi ro ô
nhiễm nước nhất là khi bão lụt xảy ra Giải
quyết nước sạch cho sinh hoạt, ăn uống
giúp giảm thiểu khan hiếm nước khi hạn
hán hoặc khi xảy ra các hiện tượng nóng
bức cực đoan Thực hiện các mục tiêu này
đòi hỏi sự tham gia sâu rộng của các bên
trên địa bàn, các tầng lớp nhân dân, và
các kiến thức thực tiễn cũng như nền tảng
khoa học kỹ thuật ứng dụng trong xử lý các
nguồn thải Đoàn Thanh niên huyện Giao
thủy đã tham gia nhiệt tình các Chương
trình đào tạo thanh niên thích ứng biến đổi
khí hậu tại Thái bình, Hải phòng và Quảng
ninh 2016-2017 Hai mô hình về bể lọc
nước cho người dân do thanh niên Giao
thủy đề xuất, được chương trình hỗ trợ
thử nghiệm đã thành công và được Ủy ban
nhân dân đánh giá tốt và hiện được nhân
rộng Thông qua các hoạt động tích cực của
Đoàn, năm 2018, Đoàn Thanh niên Giao
thủy đã được Ủy ban Nhân dân chính thức giao nhiệm vụ thực hiện Tiêu chí 17
về Môi trường trong Chương trình Nông thôn mới của Huyện
Chị Phùng Thị Quỳnh, Bí thư Huyện đoàn Giao Thủy có nói: “Chương trình đào tạo đã giúp các đoàn viên có được một sự hiểu biết toàn diện về Biến đổi khí hậu một cách toàn diện, từ các chủ trương chính sách của nhà nước về BĐKH, bức tranh chung toàn cầu đến các vấn đề thực tiễn của Việt Nam và địa phương
Thông qua chương trình Đoàn Thanh niên Giao thủy đã có nhiều ý tưởng về các biện pháp thích ứng BBĐKH nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn ở địa phương,
đã được Ủy ban nhân dân đánh giá cao
và được đưa vào để nhân rộng Chương trình đã được tổ chức rất đúng thời điểm, giúp chúng tôi tự tin đảm trách nhiệm vụ thực hiện tiêu chí 17 về Môi trường của chương trình Nông thôn mới Đây là một vinh dự cho Đoàn Thanh niên và cũng là
cơ hội cho Đoàn được đóng góp trực tiếp vào công tác bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu toàn diện của địa phương
PHẦN 5: ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
VÀ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Biến ý tưởng thành hành động
Trang 22Nhằm có được các bài học kinh nghiệm để chia sẻ
trong việc thúc đẩy thanh niên tiên phong thích
ứng với BĐKH, chương trình đánh giá đã được
thực hiện xuyên suốt quá trình thực hiện chương
trình Đào tạo và hỗ trợ thực hiện sáng kiến Đánh
giá chương trình đào tạo theo các tiêu chí: tính
phù hợp, nhất quán của thiết kế các hoạt động can
thiệp của dự án; Đánh giá mức độ hoàn thành mục
tiêu của Chương trình đào tạo; Đánh giá các hoạt
động tăng cường năng lực và thúc đẩy sáng kiến cho
thanh niên tại các huyện của dự án;
5.1 Phương pháp đánh giá
Các phương pháp đánh giá được sử dụng kết hợp
giữa nghiên cứu tài liệu, thông tin thứ cấp và
thực địa phỏng vấn tại địa phương
Các bước thực hiện đánh giá:
◆ Bước 1: Nghiên cứu sơ bộ tham chiếu công việc
và các yêu cầu của CECR về đánh giá
◆ Bước 2: Gặp và thảo luận với cán bộ Chương
trình để thảo luận nội dung công việc và tiếp cận
các tài liệu đã có;Thống nhất về cấu trúc báo cáo,
nội dung, phương pháp thực hiện báo cáo đánh
giá và kế hoạch làm việc;
◆ Bước 3: Thu thập thông tin;
◆ Bước 4: Nghiên cứu và phân tích thông tin;
◆ Bước 5: Diễn giải thông tin và viết báo cáo
Các phương pháp sử dụng trong đánh giá:
Nghiên cứu tài liệu: Phương pháp này được thực
hiện giúp chuyên gia tìm hiểu những thông tin cơ
bản về thiết kế dự án, các mục tiêu và kết quả cần
đạt được và cách thức dự án đã thực hiện các hoạt
động nhằm đạt được mục tiêu đề ra Những thông
tin này làm căn cứ để phân tích, so sánh mức độ
thành công của dự án
Các tài liệu đã được chuyên gia nghiên cứu và sử
dụng cho báo cáo bao gồm :
- Các báo cáo 04 chương trình đào tạo từ năm
2016-2017
- Kế hoạch hoạt động năm 1 của dự án READY
- Kế hoạch thực hiện các khóa tập huấn của CECR
- Văn kiện dự án READY
- Kết quả đánh giá trước và sau tập huấn của các lớp tập huấn
- Báo cáo base line, báo cáo đầu kỳ của dự án về thanh niên tại vùng dự án
- Báo cáo khảo sát thanh niên của AMDI
- Kết quả phỏng vấn các đối tượng trong quá trình đánh giá
- Và các tài liệu liên quan khác của dự án Phương pháp phỏng vấn cấu trúc và bán cấu trúc:
phương pháp này được thực hiện với sự tham gia của những người đã tham gia chương trình hoặc liên quan tới chương trình, giúp xác định nguyên nhân thay đổi và thu được nhiều dữ liệu để giải thích kết quả đạt được của Chương trình Phương pháp này khá linh hoạt và thực hiện thông qua các cuộc nói chuyện, phỏng vấn giúp thu thập những thông tin định tính và ý kiến của những người được phỏng vấn một cách khách quan làm cơ sở để phân tich kết quả của chương trình
Nhóm đánh giá đã thực hiên đi thực địa để phỏng vấn 3 đối tượng tại các huyện thuộc địa bàn dự án, bao gồm: (1) học viên đã tham gia chương trình đào tạo; (2) học viên tham gia chương trình đào tạo và thực hiện sáng kiến và (3) nhóm cán bộ/lãnh đạo trực tiếp phụ trách các thanh niên đã tham gia Chương trình đào tạo.Tổng số người phỏng vấn là
73 người, trong đó 49 nam, chiếm 67,1%, nữ 24, chiếm 32 (xem danh sách đối tượng phỏng vấn được đính kèm trong phụ lục …) Các bảng hỏi được thiết kế, thử nghiệm và điều chỉnh trước khi thực hiện phỏng vấn (xem bảng hỏi đính kèm trong phụ lục…)
Phương pháp Chọn mẫu ngẫu nhiên và chọn mẫu không ngẫu nhiên giúp lựa chọn các đối tượng tham gia quá trình đánh giá cho khách quan Phương pháp này cũng được sử dụng để lựa chọn khách quan địa điểm thực hiện quan sát trực tiếp Điều này rất quan trọng để đảm bảo dữ liệu thu thập được đầy đủ để có thể phân tích khách quan và có nghĩa
Ngoài ra, chuyên gia cũng tiến hành phỏng vấn với những cán bộ quản lý và thực hiện Chương trình đào tạo để thu thập những thông tin về quá trình thực hiện Chương trình, về việc thiết kế và thực hiện các khóa tập huấn và những thông cần thiết cho việc phân tích và viết báo cáo
Xử lý, phân tích thông tin:
Các số liệu và thông tin về thực hiện chương trình
do các cán bộ của Chương trình cung cấp cũng như thu thập được trong quá trình đi thực địa được xử
lý, phân tích và sử dụng cho báo cáo dựa trên các tiêu chí và cấu trúc của báo cáo đã được thống nhất với Chương trình
5.2 Kết quả đánh giá
A Sự thay đổi kiến thức và kỹ năng:
Kết quả từ cuộc đánh giá cho thấy các thanh niên tham gia vào Dự án đã có những thay đổi tích cực trong kiến thức và kỹ năng về thích ứng với BĐKH, thể hiện qua một số kết quả như sau:
Trong cả 04 khóa tập huấn, đều có đánh giá sự thay đổi về kiến thức và kỹ năng trước và sau khi các học viên được tập huấn Kết quả cho thấy các học viên đều có sự tiến bộ về kiến thức và kỹ năng liên quan tới BĐKH, cụ thể:
Kiến thức về BĐKH của học viên tăng lên rõ rệt Ví dụ: đối với khóa tập huấn 2, trước khóa tập huấn tỉ
lệ học viên có kiến thức sơ bộ về BĐKH là 72,73%, thì sau khi tập huấn tỉ lệ này đã giảm xuống chỉ còn 6,38%, trong khi đó tỉ lệ học viên có kiến thức cơ bản tăng trước tập huấn là 24,24% sau tập huấn đã tăng lên 85,11% và tỉ lệ học viên có kiến thức ở mức
độ thành thạo trước tập huấn chỉ có 1,52%, sau tập huấn đã tăng lên 8,51%
Kiến thức về các giải pháp thích ứng với BĐKH cũng tăng lên: kết quả đánh giá trước và sau khóa tập huấn 2 cho thấy, tỉ lệ học viên biết cơ bản về các mô hình Nông nghiệp, thủy sản và năng lượng thích ứng với BĐKH trước tập huấn lần lượt là 12,12%; 9,09% và 9,09%, thì sau tập huấn tỉ lệ này
đã tăng lên lần lượt là : 67,39%, 65,96% và 55,32%
Trong đó, mô hình nông nghiệp và năng lượng có
tỉ lệ thành thạo sau khóa tập huấn lần lượt là 2.17%
và 2.13%, trong khi trước tập huấn tỉ lệ này đều là 0.00%
Kết quả đánh giá kiến thức của học viên trước - sau chương trình cho thấy tỉ lệ học viên hiểu biết cơ bản
về các mô hình xử lý nguồn nước do ảnh hưởng của BĐKH và hoạt động của con người đã tăng từ 6.6%
lên 70.21% và tỉ lệ ở mức thành thạo từ 0.00 % trước tập huấn đã tăng lên 2.13%
B Các kỹ năng cơ bản về vận động cộng đồng tham gia ứng phó với BĐKH
Kỹ năng chia sẻ thông tin, Kỹ năng làm việc nhóm
và lãnh đạo nhóm đều tăng lần lượt từ 16.16% lên 61.70%, 67% lên 74.47 % và 18.46& lên 61.70 % Đặc biệt là tỉ lệ học viên có kỹ năng thành thạo về truyền thông trước tập huấn là 0.00%, đã tăng lên 10.64% sau tập huấn và kỹ năng vận động cộng đồng tham gia ứng phó với BĐKH tăng từ 0.00% lên 12.77% Qua tập huấn, tỉ lệ học viên nắm được Kỹ năng cơ bản về xây dựng kế hoạch và lập dự án và kỹ năng về xây dựng dự toán ngân sách tăng lần lượt từ 10.61% lên 78.72% cho xây dựng kế hoạch dự án và từ 7.5% lên 68.09% trong xây dựng dự toán ngân sách
C Áp dụng kiến thức và kỹ năng sau chương trình đào tạo
Đánh giá của học viên:
Kết quả phỏng vấn các học viên sau khi Chương trình kết thúc cũng cho thấy nhận thức của học viên về BĐKH và BVMT đã tăng lên đáng kể Anh
Lê Duy Nghiêm, huyện Giao Thủy - Nam Định cho
biết “Lúc đầu chưa biết gì về BĐKH, sau khi học biết
có thể tự tin hướng dẫn mọi người và tuyên truyền
về BVMT, BĐKH Kỹ năng nói trước đám đông đã
tự tin hơn”.
Anh Trần Minh Dụng, Cán bộ văn phòng UBND
xã Giao Hải, Giao Thủy nói: "sau khi tập huấn cảm
thấy tự tin trong việc họp xóm tuyên truyền cho bà con, hướng dẫn bà con gieo trồng cây cối cho đảm bảo mùa vụ Vận động động được 30-40 hộ dân thực hiện ký cam kết trong việc giảm thiểu thích ứng với BĐKH thông qua các phương pháp: gieo trồng đúng mùa vụ (giảm lượng thuốc trừ sâu); Không sử dụng phân đạm quá nhiều; Phun thuốc BVTV đúng bệnh; Hạn chế đốt rơm rạ”,
Anh Lê Văn Khoa, Bí thư đoàn xã Giao Yến, huyện
Giao Thủy - Nam Định cũng nói: “Học được Kỹ năng
truyền thông, quan trọng là phải đồng loạt, các hoạt động phải có điểm nhấn, khéo léo, linh hoạt - Kỹ năng vận động cộng đồng tham gia ứng phó với BĐKH: Căn cứ vào việc thực tế, lồng ghép vào các chương trình sẵn có”
Các thanh niên tham gia tập huấn thu nhận được kiến thức về BVMT và BĐKH, cũng như các kỹ
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Trang 23năng tuyên truyền, thuyết trình nên cảm thấy tự tin
hơn Sau khi tập huấn trở về, nhiều người đã vận
dụng kiến thức học được vào các lĩnh vực hoạt động
của mình để tuyên truyền cho cộng đồng về BVMT
đồng thời chủ động phối hợp với chính quyền, các
tổ chức trong huyện và huyện đoàn để tổ chức/lồng
ghép các hoạt động tuyên truyền cho cộng đồng
về BVMT và BĐKH Ví dụ chị Nguyễn Thị Thúy ở
Giao Thủy (Nam Định) đã tổ chức tập huấn diễn
tập và phòng ngừa thiên tai, tuyên truyền lại cho
người dân về BĐKH và phòng ngừa thiên tai; hay
anh Phùng Văn Trung Cán bộ Trạm khuyến nông
Giao Thủy Tuyên truyền mọi người xung quanh
không đốt rơm rạ mà ủ vi sinh, đi xe công cộng thay
vì xe máy để giảm dấu chân sinh thái Một số thanh
niên còn tổ chức thành lập các câu lạc bộ tại địa
phương như anh Trần Quang Khải ở Cát Hải, Hải
Phòng đã tổ chức thành lập câu lạc bộ không sử
dụng túi nilon và tuyên truyền về ý thức về xử lý
rác thải, sử dụng nguồn nước sinh hoạt, xử lý rác
thải v.v…
Các hoạt động này làm lan tỏa ý thức BVMT và kiến
thức về BVMT trong cộng đồng và tạo động lực cho
thanh niên phát huy các sáng kiến về BVMT, các
mô hình thích ứng với BĐKH, qua đó hình thành
và mở rộng các mạng lưới thanh niên tiên phong
thích ứng với BĐKH
Anh Tô Quốc Khánh, chuyên viên hội nông dân
huyện Giao Thủy cho biết: “kiến thức học được rất
bổ ích, học được phong cách làm việc chuyên nghiệp,
giúp vận dụng vào công việc hàng ngày khi xuống
tiếp xúc với dân, tuyên truyền cho dân lồng ghép
trong các văn bản truyền thông”
Anh Trần Xuân Lập, Ban thường vụ Đoàn thanh
niên xã Giao Nhân, huyện Giao Thủy thì đã áp dụng
kiến thức vào cơ quan và ngay gia đình mình, anh
cho biết: “Gia đình đã dùng bóng đèn compact để tiết
kiệm điện; anh dặn các con sau khi không dùng thì
phải tắt điện đi; Gia đình đã xây bể chứa nước mưa 8
khối để tiết kiệm nước Còn tại Tại cơ quan thì : Phân
loại giấy, sử dụng lại giấy mới dùng 1 mặt để dùng”.
Anh Nguyễn Văn Hữu, Bí thư đoàn xã Giao Nhân
cho biết: “qua tập huấn đã hiểu được BĐKH, tác
động của nó và đã áp dụng kiến thức rất nhiều vào công việc hàng ngày như: Trong các cuộc họp luôn đưa ra để trao đổi, đề xuất với các đồng nghiệp xây dựng các chương trình bảo vệ môi trường của xã”.
Đánh giá của lãnh đạo địa phương:
Nhiều lãnh đạo, cán bộ các cơ quan địa phương tham gia Chương trình tập huấn và các cán bộ, đoàn viên thanh niên cũng sử dụng các kỹ năng do Chương trình cung cấp vào công việc do họ đảm nhiệm, giúp nâng cao được hiệu quả công việc, đem lại lợi ích cho cộng đồng
Chị Nguyễn Thị Mai Tuyết - Phó chủ tịch UBND thị
trấn Quất Lâm cho biết: “Các bạn thanh niên trong
ban chấp hành đoàn thanh niên sau khi học xong
có báo cáo với lãnh đạo địa phương (thông qua trao đổi trực tiếp và thông qua các buổi hội nghị), tuyên truyền cho người dân về bảo vệ môi trường và cho các cháu học sinh về bảo vệ môi trường và thiết lập mạng lưới khoảng 25 bạn thanh niên tiên phong ứng phó BĐKH”.
Chị Nguyễn Thị Lĩnh Phó bí thư huyện Giao Thủy -
Nam Định chia sẻ: “chị đã vận dụng kiến thức trong
việc truyên truyền trong đoàn viên thanh niên về kiến thức biến đổi khí hậu, tổ chức các cuộc thi cho các em học sinh, tuyên truyền trong gia đình, đã áp dụng ủ phân hữu cơ tại nhà, để 2 thùng rác, xây bể đựng rác hữu cơ, bón cây trong vườn”.
Ông Nguyễn Văn Chuyển - Phó Chủ tịch xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, cho biết về mô hình/sáng kiến
“Cải thiện chất lượng môi trường nước cho ao nuôi
tôm thẻ”: ‘Nuôi tôm thẻ chân trắng sẽ là ngành nuôi
trồng chủ đạo của các hộ gia đình trong xã những năm tới đây Các hộ gia đình đã nắm đượ kỹ thuật, biết cách thuần tôm cho phù hợp với ao của gia đình, cho ăn một cách khoa học Đoàn thanh niên đã mạnh dạn đưa ra sáng kiến này, những người đưa
ra sáng kiến lại chính là những bạn làm trực tiếp về tôm nên rất sát thực với nhu cầu Sáng kiến này sẽ
là điểm kích thích để cho các sáng kiến được đưa ra nhiều hơn”
Chia sẻ về mô hình/sáng kiến “Nâng cao nhận thức
về nguồn nước cấp cho người dân” ông nói: “Đây
là sáng kiến thực tế dựa vào tình hình địa phương
Xã Nam Phú là xã sát biển 4 tháng không mưa, nên nước sinh hoạt thường bị nhiễm mặn đôi khi không
có nước Nước giếng khoan bây giờ bị ô nhiễm nên không đảm bảo, nhiều người mắc nhiều bệnh hiểm nghèo Khi có nước máy về chủ trương của xã là động viên nhân dân dùng nước sạch để đảm bảo sức khỏe, hiện nay 90% người dân đã dùng nước máy cho sinh hoạt”
Ông Nguyễn Cảnh Thạc - Chủ tịch UBND thị trấn Quất Lâm tâm sự về sáng kiến/mô hình “Nâng cao khả năng chống chịu của cộng đồng thông qua việc cải thiện chất lượng nguồn nước uống và sinh hoạt
an toàn”: "Sáng kiến làm giảm đáng kể nguy cơ mắc
các bệnh liên quan đến đường ruột, trực tràng, bàng quang và đặc biệt ngay cả phòng tránh cả ung thư Mang lại sức khỏe cho người dân và cộng đồng Sáng kiến giúp xây dựng cho địa phương một đội ngũ mà chúng tôi gọi là tập huấn viên tiềm năng để tiếp tục truyền tải các thông tin cho cộng đồng”
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Trang 24PHẦN 6: CÂU CHUYỆN VỀ SỰ THAY ĐỒI
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Biến ý tưởng thành hành động
Trang 25Câu Chuyện thay đổi 1: “những thay đổi tíCh CựC”
Tác giả: Trần Văn Tới Đoàn thanh niên xã Giao Xuân - Giao Thủ y - Nam Định
đã được đoàn xã quan tâm triển khai gắn với các công trình thanh niên, mô hình cụ thể, thiết thực
Đoàn xã đã cùng với chính quyền địa phương tổ chức hỗ trợ, giúp đỡ nhân dân xây dựng các công trình nước sạch và xây lò đốt rác thải Đồng thời, hướng dẫn cho đoàn viên, thanh niên và nhân dân cách sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh theo đúng tiêu chuẩn quy định, bởi xã nhà đang trong giai đoạn công nhận là Nông thôn mới Các công trình được tập trung triển khai trên các nội dung: truyền thông
về bảo vệ môi trường, tổ chức ra quân vệ sinh, thu gom rác thải; nạo vét kênh mương, phát quang bụi rậm; trồng cây và xây dựng tuyến đường thanh niên
tự quản với tiêu chí sáng - xanh - sạch - đẹp thu hút rất nhiều đoàn viên thiếu nhi tham gia Trong năm
2017, tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của Trung tâm bảo tồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng MCD,
dự án “Rừng và đồng bằng” Đoàn thanh niên xã đã trồng hơn 1000 cây xanh các loại như: sấu, phi lao, keo tai tượng, long lão… trên các tuyến đường trục chính của xã, các công trình công cộng và tại bãi rác thải Đến nay toàn bộ số cây xanh đều đã phát triển xanh tốt mang lại cảnh quan cho địa phương đồng thời góp phần không nhỏ trong việc điều hòa khí hậu
Hoạt động bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu được triển khai rộng rãi và thường xuyên trong các nhóm đối tượng Chúng tôi thường xuyên củng cố, xây dựng mô hình đội thanh niên xung kích, tình nguyện bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, dịch bệnh Tôi thường xuyên nhận xét đánh giá các hoạt động của từng chi đoàn các xóm
và chi đoàn các nhà trường trong các buổi sinh hoạt Đoàn xã hàng tháng, hàng quý, tổng kết hàng năm
Nhìn chung các chi đoàn đều hăng hái tham gia và đạt kết quả tốt
Để ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, Đoàn thanh niên chúng tôi chủ động phối hợp với các ban ngành huy động lực lượng và tổ chức các hoạt động tuyên truyền nâng cao ý thức
Biến đổi khí hậu đã và đang được xem là một
trong những thách thức lớn nhất của nhân loại
trong thế kỉ 21, chưa bao giờ vấn đề này được đề cập
đến nhiều và nhận được sự quan tâm sâu sắc của
cộng đồng quốc tế, quốc gia, địa phương và các tầng
lớp nhân dân Điều này thể hiện qua các nỗ lực của
các quốc gia tại các kỳ họp COP thường niên, cũng
như những nỗ lực từ phía các tổ chức Chính phủ,
Phi chính phủ trên thế giới
Là một Bí thư Đoàn xã ở một xã ven biển sau khi
tham gia chương trình đào tạo Thanh niên thích ứng
với Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng, tôi
nhận thấy đây là một chương trình rất hữu ích và đã
mang đến cho tôi nhiều thay đổi đáng kể
Trong những năm gần đây, công tác bảo vệ môi
trường và ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa
hương luôn có sự tham gia tích cực của đông đảo
đoàn viên, thanh thiếu niên trên địa bàn xã
Đoàn thanh niên đã phát huy vai trò nòng cốt trông
công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về ứng
phó với Biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai và
bảo vệ môi trường
Đoàn thanh niên chúng tôi cũng đã kết hợp với các
ban ngành, đoàn thể khác trong xã tổ chức các chiến
dịch truyền thông theo chuỗi vào dịp Tết trồng
cây, Ngày nước thế giới, Ngày môi trường thế giới
Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn nhằm nâng
cao ý thức về bảo vệ môi trường, trồng cây, trồng
rừng ngập mặn thu hút đoàn viên, thanh thiếu nhi
tham gia Các hoạt động được tổ chức thiết thực
theo hướng giảm phần lễ tăng cường các hoạt động
cụ thể về trồng và chăm sóc cây xanh, xóa điểm đen
về môi trường tại địa phương, cơ quan, đơn vị đã
tạo hiệu ứng tích cực trong công tác bảo vệ môi
trường ứng phó với Biến đổi khí hậu được cấp ủy,
chính quyền đánh giá cao
Các hoạt động khăc phục ô nhiễm, cải thiện chất
lượng môi trường và điều kiện sống của người dân
ứng phó với biến đổi khí hậu cho cán bộ, đoàn viên, thanh thiếu nhi như: tổ chức các đội tình nguyện đến tận nhà bà con nhân dân để tuyên truyền và hướng dẫn bà con phân loại rác thải tại nguồn, tham gia các hoạt động phòng chống, khắc phục thiên tai ngày càng thiết thực, tiết kiệm điện, tiết kiệm nước, trồng và bảo vệ cây xanh, hạn chế tối đa rác thải và khí nhà kính ra môi trường…
Có thể nói, các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai và bảo vệ môi trường của đoàn viên, thanh thiếu nhi trên địa bàn xã luôn nhận được sự ủng hộ, đánh giá cao của cấp
ủy, chính quyền địa phương Hoạt động bảo vệ môi trường đã từng bước đi vào nề nếp, hoạt động cói trọng tâm, trọng điểm góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của đoàn viên, thanh thiếu nhi đối với vấn đề không xả rác bừa bãi, phân loại xử lý
rác thải các hoạt động tổ chức ngày càng hiệu quả, thiết thực, thu hút đông đảo đoàn viên, thanh thiếu nhi tham gia
Trong công việc và nơi làm việc cũng như tại gia đình, tôi luôn là một tuyên truyền viên giúp mọi người hiểu về nguyên nhân, hậu quả của biến đổi khí hậu, đồng thời hướng dẫn mọi người những hành động dù nhỏ nhất góp phần nhỏ bé trong việc giảm nhẹ rủi ro thiên tai do biến đổi khí hậu gây ra
Cụ thể tại gia đình tôi đã hình thành những thói quen sau:
- Sử dụng những thiết bị tiết kiệm năng lượng
- Tiết kiệm điện, tiết kiệm nước: nhắc nhở mọi người tắt và rút hẳn phích cắm các thiết bị điện khi không sử dụng
- Hạn chế rác thải và phân loại rác
- Xung quanh nhà trồng nhiều cây xanh, cây bóng mát, rau xanh và cây ăn quả với tiêu chí tự cung
tự cấp
- Gia đình có chăn nuôi gia súc nhưng có lắp đặt hệ thống Bioga phân hủy phân gia súc gia cầm làm khí đốt vừa giảm ô nhiễm môi trường vừa tiết kiệm năng lượng
Có thể nói chương trình đào tạo thanh niên thích ứng với biến đổi khí hậu đã tác động rất lớn đến bản thân, gia đình và cả công việc của tôi Đồng thời chương trình đã mang đến cho tôi nhiều kiến thức cũng như kĩ năng giúp tôi có những hành động cụ thể, đồng thời tuyên truyền cho mọi người xung quanh cùng thực hiện để mọi người cùng thích ứng với biến đổi khí hậu, cùng chung tay hành động để giảm nhẹ những rủi ro thiên tai do biến đổi khí hậu gây ra
Hãy hành động vì chính cuộc sống của mình và người thân cũng như cả những thế hệ tương lai!
Sau khi tốt nghiệp cao đẳng sư phạm tiểu học, tôi
lập gia đình Lúc đầu tôi theo dạy tại 1 vài trường tiểu học, tiền lương hợp đồng của tôi những năm 2012-2013 là 820 nghìn đồng Cuộc sống sẽ chẳng có gì thay đổi cho tới khi tôi sinh bé đầu lòng Tôi nghỉ dạy ở nhà nuôi con cho đến tháng thứ 4 tôi xin nhà trường cho dạy lại thì họ lại tuyển giáo viên mới và họ hẹn tôi đợi
Sau gần 1 năm thất nghiệp tôi và ông xã đã quyết định đầu tư vào làm 1ha ao đầm Mới đầu kinh tế
vô cùng khó khăn cả gia đình 3 người phụ thuộc vào tiền lương 3 triêu lái máy của ông xã Vay ngân hàng 20 triệu vợ chồng tôi xây một căn lều nhỏ và
1 vài ô chuồng để nuôi lợn Số còn lại tôi mua cá giống và lợn con Năm đầu tiên giá cả ổn định lợn thịt tăng cao lên tôi cứ nuôi lứa nọ gối lứa kia lượng phân thải xuống ao cho cá cũng vì thế mà dồi dào,
cá lớn rất nhanh
Ba năm trôi qua kinh tế gia đình bắt đầu có biến chuyển tôi mạnh dạn đầu tư thêm nhiều chuồng
Câu Chuyện thay đổi 2: “tôi 28 tuổi”
Tác giả: Nguyễn Thị Thủy Đoàn thanh niên xã Nam Phú - Tiền Hải - Thái Bình
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Trang 26Câu Chuyện thay đổi 3: “thanh niên Có thể làm gì
để tiên phong thíCh ứng với biến đổi khí hậu?”
Tác giả: Phạm Đức Trọng Địa chỉ: Nam Phú, Tiền Hải, Thái Bính
Tôi sinh ra và lớn lên ở một làng quê ven biển
thuộc vùng đồng bằng sông hồng Nghề nghiệp chính của mọi người trong gia đình tôi là trồng lúa
và nuôi trồng thủy sản Từ bé tôi đã được theo bố mẹ xuống vùng, đầm để xem mọi người thu hoạch tôm cua cá Trong kí ức tuổi thơ lúc đó mẹ thiên nhiên rất hiền hòa nên mỗi vụ thu hoạch đều thắng lớn Tôm cá tự nhiên thu hoạch được có khi được vài chục cân trong một đêm Chưa kể cua rèm và tôm sú nuôi thả cũng cho năng suất cao
Nhưng khoảng 10 năm trở về đây mọi thứ đã thay đổi rất nhiều Nguồn lợi tự nhiên ngày một ít đi
Công việc nuôi thả cũng không còn được thuận lợi như trước đó, đôi khi là thua lỗ Vì môi trường ngày càng ô nhiễm, khí hậu thay đổi thất thường, mùa
hè thì nóng hơn, mùa đông thì lạnh hơn nên tôm cua dễ bị nhiễm bệnh Nhất là mực nước biển ngày một lớn Có những thời điểm chuẩn bị thu hoạch tôm thì gặp bão, nước dâng ngập bờ vùng tôm đi hết hoặc đôi khi gặp rét đậm tôm chết hết vậy là mất trắng Việc nuôi thủy sản trước đây là nguồn thu nhập chính của gia đình tôi thì giờ đây chỉ biết trông vào may mắn Năm nào trời mưa thuận gió
hòa kiểu “ông trời phù hộ” thì có nguồn thu, còn năm nào “trời không cho” thì đành chịu mất
Còn về cấy lúa, thì cũng do thời tiết biến đổi nhiều, các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão,lũ lụt, nắng dài ngày, rét đậm rét hại, xâm nhập mặn… gia tăng và thất thường nên cũng vô cùng khó khăn
Lúa mới cấy gặp dịp rét đậm rét hại thì chết nên phải gieo mạ để cấy lại Có khi lúc cấy thì thuận lợi nhưng đến lúc gần được thu hoạch thì lại gặp bão lúa đổ, nước ngập hoặc gặp mưa dài ngày không thu hoạch được nên lúa chưa kịp thu hoạch đã mọc mầm ngoài ruộng Gia đình tôi cũng như các gia đình khác cũng chỉ biết ra đồng lội nước kéo những bông lúa bị đổ, hoặc thu hoạch những bông lúa mọc mầm về đợi trời nắng phơi ra để làm thức ăn cho gia súc, gia cầm
Cuối năm 2015, may mắn tôi được tham gia chương trình thanh niên tiên phong thích ứng với biến đổi khí hậu thuộc các tỉnh ven biển đồng bằng sông hồng do tổ chức MCD, CECR phối hợp thực hiện tại Thái Bình Tôi được nghe những chia sẻ từ các giáo sư, các lãnh đạo của các ngành có liên quan và được giao lưu, học hỏi từ các đồng chí đoàn viên thanh niên của các tỉnh khác về việc thích ứng với biến đổi khí hậu Từ đó tôi nhận thức ra được rất nhiều thứ mà trước đây tôi còn mơ hồ chưa hình dung ra Trước đó tôi mới chỉ biết đến cụm từ biến đổi khí hậu qua báo, đài, tivi, biết rằng biến đổi khí hậu có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế xã hội của con người, mà chưa từng nghe thấy cụm
từ thích ứng với biến đổi khí hậu Sau những ngày tập huấn sôi nổi và bổ ích tôi có ấn tượng rất mạnh với những điều nghe được, học được bởi những kiến thức đó đã và đang hiện hữu trong cuộc sống của tôi và gia đình Tôi bắt đầu tìm tòi thêm trên mạng và được dự các buổi tập huấn tiếp theo Tôi biết mình cần thay đổi, cần biến những điều nghe được, học được thành hành động để áp dụng vào phát triển kinh tế gia đình
Từ năm 2016, gia đình tôi thay đổi thời vụ thả tôm
để khắc phục khó khăn do thời tiết gây ra Trước kia thời điểm thả tôm thường vào tháng 3 đến tháng 4 nên thời điểm thu hoạch thường vào tháng 7 đến tháng 8 hay gặp bão hoặc mưa nhiều Nên thay vì thả tôm giống vào trung tuần tháng 3 nhà tôi đã thả trước từ một đến hai tháng và thu hoạch được sớm hơn nên tránh được mùa mưa bão như trước kia
và bước đầu cho kết quả tốt Bên cạnh đó, kết hợp trồng cây quanh bờ vùng để giữ bờ và có bóng mát trong những ngày nắng nóng Thí điểm nuôi thêm một số giống cá có giá trị kinh tế cao phù hợp với môi trường tại địa phương như cá hói, cá song
Về việc trồng lúa, gia đình tôi cũng như các hộ nông dân khác được sự tư vấn, tuyên truyền của các cán
bộ, kĩ sư nông nghiệp nên đã và đang mạnh dạn chuyển đổi từ các giống lúa dài ngày, chịu mặn kém
trại số lượng lợn gà vịt tăng lên tới hơn trăm con
lợn, 4.500 vịt gà Vậy là tất cả bao nhiêu phân,
nước thải gia súc gia cầm tuôn hết xuống ao Tôi
nhớ rất rõ những buổi sáng mùa hè thời tiết nóng
bức cá thiếu ôxy thường bơi lờ đờ trên mặt nước
Năm nào cũng vậy cứ đến tháng 5,6 là cá chết hàng
loạt, nhiều gia đình bỏ ao không
Đang lúc bế tắc không biết sẽ phải làm gì để giải
quyết vấn đề việc làm trước mắt sẽ nuôi con gì và
đầu tư vào cái gì thì tôi nhận được giấy mời của
đồng chí bí thư đoàn xã tham dự diễn đàn thanh
niên thích ứng với biến đổi khí hậu khu vực đồng
bằng sông Hồng Từ 1 người vô cùng nhút nhát khi
ấp úng giới thiệu tên của mình, khi nuôi cá mà chưa
hiểu nhiều về chế độ dinh dưỡng và quản lý môi
trường, tôi đã được các anh chị trong Trung tâm
Nghiên cứu Môi trường và Cộng đồng (CECR) giới
thiệu các mô hình sinh kế, trong đó có rất nhiều
mô hình tại địa phương tôi có thể áp dụng được
như mô hình ruộng lúa bờ hoa, mô hình nuôi cua
ngao… Tôi được gặp gỡ và lắng nghe ý kiến của các
chuyên gia vậy là tôi mạnh dạn đề xuất sáng kiến
"Xử lý nước trong môi trường nuôi tôm thẻ chân
trắng" Nhờ sự giúp đỡ của các bạn trong CECR
sáng kiến của tôi được lựa chọn là sáng kiến liên
quan về bảo vệ môi trường nước thực hiện xã của
tôi Tôi đã được các chuyên gia mở lớp dạy học bồi
dưỡng kiến thức và kỹ năng nuôi tôm, các buổi thực
hành ngay trên chính nguồn nước ao của gia đình
và phân biệt bệnh trực tiếp trên con tôm đã đươc
các chuyên gia hướng dẫn rất nhiệt tình Từ việc
không có một chút kiến thức nào về giống về thuốc
về xử lý môi trường, rồi khi tôm bệnh tôi đã rất
nhiều lần loay hoay không biết hỏi ai, không biết xử
lý như thế nào thì giờ đây sau khi tham gia vào Dự
án này tôi đã đủ tự tin vào kiến thức mà bản thân
học được từ các chuyên gia của chương trình
Với sự giúp đỡ của chương trình vụ tôm vào tháng 5-2017 của gia đình tôi đặt sản lượng rất cao tuy mới chỉ là 1 mô hình mới lại nuôi trên nền đất ao từng chứa rất nhiều phân vô cơ và ô nhiễm nặng nhưng với sự hộ trợ từ các chế phẩm sinh học và sự giúp
đỡ tận tình của các chuyên gia mà gia đình tôi cũng thu về hơn 50 triệu đồng Nhiều gia đình cũng đến tham quan và xem mô hình nhà tôi Tôi thầm cảm
ơn các anh chị, các bạn trong CECR những người trẻ đã không ngại nắng, gió để đưa chương trình đào tạo thanh niên trong thích ứng với biến đổi khí hậu về cho những thanh niên nông thôn như tôi
Tôi đã từng rất mơ hồ về thích ứng với biến đổi khí hậu và từng nhiều lần bỏ cuộc sau mỗi lần cá chết, lợn gà chết do nguồn nước ô nhiễm nặng thì giờ
đây tôi đã mạnh dạn đầu tư thêm 3ha ao nữa để tiếp tục nuôi giống tôm thẻ chân trắng Tất cả phân
và nước thải sau khi được các chuyên gia của dự án hướng dẫn tôi đã chứa vào các bể có lắp đậy để môi trường luôn trong sạch, nguồn nước được đảm bảo
an toàn cho con tôm phát triển Với tốc độ lớn như hiện nay thì chỉ khoảng hơn 1 tháng nữa gia đình tôi sẽ thu hoạch vụ tôm thứ 3, một vụ nuôi đã được các chuyên gia thủy sản khuyến cáo không được phép nuôi khi nhiệt độ môi trường xuống dưới 23
độ Nhưng nhờ vào kiến thức tôi được học được tham quan thực địa tại các tỉnh khác của dự án mà tôm nhà tôi hiện tại phát triển rất tốt và với giá bán trái vụ như hiện nay chắc chắn sẽ thu được năng xuất cao Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị các bạn CECR và các tổ chức phi chính phủ đã giúp đỡ và truyền cảm hứng cho chúng tôi
để chúng tôi có thể lan toả tới mọi người về những biến đổi của khí hậu, sự khắc nghiệt của thời tiết và giúp chúng tôi có thêm niềm tin và sẵn sàng ứng phó với biến đổi của khí hậu
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Trang 27sang các giống lúa ngắn ngày, chịu mặn cao và khả
năng kháng sâu bệnh tốt Gia đình tôi là một trong
những hộ tiên phong thí điểm những giống lúa mới
vì tôi biết cần phải thích ứng với biến đổi khí hậu thì
việc phát triển kinh tế gia đình mới ổn định được
Ngoài ra tôi tích cực chia sẻ những nhận thức của
mình với các hộ gia đình xung quanh Tiếp tục,
hăng hái tham gia học tập và tập huấn các lớp cho
thanh niên thích ứng với biến đổi khí hậu, là một
trong những thành viên tích cực đóng góp ý kiến, ý
tưởng cho mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng nước
nợ của đoàn thanh niên xã Nam Phú Và đã nhận được sự tài trợ của chương trình tại địa phương cho 20 mươi hộ gia đình đã và đang đạt kết của tốt
Tuy tôi ko được nhận hỗ trợ nhưng với những kiến thức và nhận thức mà tôi có được từ chương trình tôi thấy rất bổ ích và thiết thực Tôi đã, đang và sẽ
tiếp tục thực hiện áp dụng vào cuộc sống gia đình cũng như trong công việc của tôi Tôi đang mạnh dạn nuôi thí điềm mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng nước mặn tại đầm nhà mình Rất mong nhận được
sự quan tâm của chương trình
Bản thân tôi là một đoàn viên, giáo viên tiểu học
ở một xã ven biển cảm thấy mình rất may mắn
được tham gia chương trình đào tạo Thanh niên
thích ứng với Biến đổi khí hậu Tôi nhận thấy đây
là một chương trình rất hữu ích và tôi đã học được
nhiều điều, biết được mình nên làm gì để thích ứng
với Biến đổi khí hậu Có thể nói chương trình đã
mang đến cho tôi nhiều thay đổi đáng kể
Sau đây là những việc tôi đã làm để góp phần nhỏ
bé của mình trong việc giảm nhẹ rủi ro thiên tai do
Biến đổi khí hậu gây ra:
Sử dụng ánh sáng tự nhiên vào ban ngày và sử
dụng các bóng đèn tiết kiệm điện, chọn mua
những thiết bị tiết kiệm năng lượng, mua sản
phẩm của địa phương.
Gia đình tôi hầu như toàn sử dụng bóng đèn huỳnh
quang Compact dạng xoắn hiệu quả tiết kiệm hơn
75% so với bóng điện thắp sáng thông thường Tôi
cùng người thân luôn nhắc nhở nhau rút hẳn phích
điện và tắt đèn, ti vi, bình nóng lạnh khi không
dùng đến
Ở nhà là thế còn đến trường và trên lớp học tôi
cũng luôn nhắc nhở học sinh cần tiết kiệm năng
lượng điện: Hầu lớp học của tôi sử dụng ánh sáng
tự nhiên (chỉ khi vào mùa đông hôm nào tối trời
và thời tiết lạnh thì bật điện) Giờ ra chơi hay hoạt đồng ngoài lớp thì các em đều có ý thức tắt điện, tắt quạt trước khi ra khỏi lớp
Việc vận chuyển sản phẩm nhập khẩu sẽ tiêu tốn nhiều nhiên liệu gây phát thải nhiều khí nhà kính nên tôi thường chọn mua những sản phẩm sản xuất trong nước để sử dụng
Tất cả những hành động trên khi làm nhiều lần dần sẽ trở thành thói quen rất tốt cho chúng ta và cho các em học sinh bây giờ và sau này
Thay đổi khẩu phần ăn hằng ngày: Ăn nhiều rau xanh, giảm lượng thịt từ gia cầm, gia súc
Để góp phần giảm phát thải khí nhà kính từ chăn nuôi gia súc, gia cầm, gia đình tôi trồng thêm nhiều rau xanh và ao nuôi cá Trong các tiết Khoa học của học sinh tôi cũng không quên nhắc nhở để chính các em cũng trở thành những tuyên truyền viên tới các gia đình góp phần nhỏ bé trong công cuộc giảm nhẹ rủi ro thiên tai do Biến đổi khí hậu gây ra
Giảm lượng rác thải nhà bếp, sinh hoạt.
Là một phụ nữ cũng chính là đầu bếp chính trong gia đình, việc ăn uống của gia đình là một vấn đề rất
Câu Chuyện thay đổi thứ tư:
“thay đổi thói quen để CuộC sống tốt hơn”
Họ và tên: Trần Thị Là Địa chỉ: Trường Tiểu học Giao Xuân Xã Giao Xuân - Giao Thủy - Nam Định.
quan trọng Nếu không biết sắp xếp thì căn bếp nhà bạn cũng có thể trở thành một ác mộng về rác thải
Làm sao để bữa ăn cho gia đình đầy đủ chất dinh dưỡng và ngon miệng là điều mà tôi mong muốn nhất, nhưng cũng phải quan tâm đến việc chống lãng phí, an toàn thực phẩm và giảm tối đa rác thải
từ nhà bếp thì chúng ta cũng đã góp phần bảo vệ môi trường rồi đó
Ngoài ra, tôi còn tái chế sử dụng một số đồ đã qua sử dụng như các vỏ chai nhựa dầu rửa bát, nước giặt quần áo tôi cắt ra trang trí thêm để làm thành những chậu nhỏ trồng hoa hay trồng các loại rau thơm Nhìn chúng cũng rất ngộ nghĩnh và đẹp, cảm thấy yêu cuộc sống hơn khi ngắm nhìn các chậu hoa đó nở rộ Các bạn cứ thử làm như tôi để cảm nhận cảm xúc đó nhé!
Giảm lượng giấy sử dụng.
Tôi là một giáo viên hằng ngày phải soạn giáo án và tôi có thói quen sử dụng cả hai mặt giấy Trên lớp tôi luôn nhắc học sinh cách trình bày bài làm khoa học, sạch sẽ, rõ ràng và phải biết tiết kiệm giấy Vở viết hết năm trước có thể tận dụng làm vở nháp
Hạn chế sử dụng túi ni lông khi mua sắm.
Tôi sống ở làng quê nên học được một số phong cách của các bà các mẹ thời xưa đó là xách theo một chiếc giành khi đi chợ (Các mẹ, các bà khi nhà làm
cỗ thì mang luôn một chiếc bao để đựng đồ) Việc làm này đơn giản nhưng lại là một hành động tốt nhằm giảm phần nào lượng túi ni lông - được sản xuất bởi những nguyên liệu độc hại và là loại rác thải cực kì khó phân hủy
Thực hiện xanh hóa nghề nghiệp.
Ngôi trường tôi đang giảng dạy và làm việc là ngôi trường đã được công nhận là trường xanh - sạch - đẹp cách đây nhiều năm rồi (Trường Tiểu học Giao Xuân) Quang cảnh nhà trường rất khang trang, sạch đẹp, rất nhiều cây xanh và không có rác thải
Chúng tôi rèn cho học sinh thói quen, nề nếp trồng
và chăm sóc bảo vệ cây xanh cũng như giữ gìn vệ sinh trường lớp rất tốt Vì vậy đến với ngôi trường Tiểu học Giao Xuân của chúng tôi, mọi người đều rất ấn tượng Chúng tôi tự hào về điều đó
Năm học 2017-2018 này, nhà trường còn đẩy mạnh phong trào thi đua “Đồ dùng dạy học tự làm’’ Lớp tôi cũng tham gia và đạt kết quả cao Tôi kết hợp với phụ huynh và học sinh tận dụng những đồ phế thải
để tái sử dụng làm thành các đồ dùng dạy học rất dễ làm và dễ sử dụng Ví dụ, một số nhà phụ huynh có những tấm nhựa ốp tường còn thừa ra cho học sinh mang đến để làm những thẻ trống để các em sử dụng Rồi rất nhiều các phế liệu khác như: vỏ sữa chua, vỏ chai cô-ca, băng đĩa, lon bia, bìa cát tông,
vỏ hộp bánh, lõi giấy vệ sinh, nắp chai… Rất nhiều đồ được chúng tôi tái chế lại thành đồ dùng học tập thu hút các em trong lĩnh hội kiến thức
Tuyên truyền cùng Đoàn thanh niên của xã, của chi đoàn nhà trường và các em học sinh tham gia tham quan và trồng rừng ngập mặn - bảo vệ rừng
và biển.
Chúng ta cũng biết cây xanh hấp thụ khí CO2 rất tốt Chi đoàn trường tôi luôn tham gia cùng Đoàn thanh niên xã trong các buổi lao động vệ sinh thôn xóm, nơi công trình công cộng, thu gom rác ngoài
đê biển… Trong hai năm 2016 và 2017 chi đoàn nhà trường đã trồng được hàng trăm cây xanh để tạo cảnh quan cho nhà trường đồng thời cũng góp phần tạo nên bầu không khí trong lành hơn
Tóm lại, biến đổi khí hậu không chỉ diễn ra tại một nơi, một địa điểm hay một quốc gia nào trong một khoảng thời gian nhất định mà nó xảy ra trên toàn cầu và bất kì lúc nào nó sẽ gây nhiều thiệt hại khó lường cho đời sống Chính con người chúng ta tạo
ra và con người cũng là nhân tố giảm nhẹ lại những rủi ro thiên tai do biến đổi khí hậu gây ra Vì vậy mọi người hãy tiếp cận, hiểu biết và cùng chung tay thay đổi thói quen để cuộc sống của chúng ta sẽ được an toàn hơn
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Trang 28Là một đoàn viên thanh niên được sinh ra và lớn
lên ở một xã ven biển, tôi đã được chứng kiến
rất nhiều những ảnh hưởng tích cực cũng như tiêu
cực mà nguyên nhân do Biến đổi khí hậu mang lại
Tôi thấy mình rất may mắn khi được tham gia
chương trình Đào tạo thanh niên tiên phong thích
ứng với biến đổi khí hậu Chương trình đã giúp bản
thân tôi cũng như đoàn viên thanh niên địa phương
có thêm những hiểu biết và kỹ năng để thích ứng
với biến đổi khí hậu
Tôi thấy rằng Biến đổi khí hậu đã và đang diễn ra
trên quy mô toàn cầu Biểu hiện của chúng có thể
khác nhau giữa các khu vực nhưng lại có một số đặc
điểm chung như: nhiệt độ tăng lên, lượng mưa biến
dổi mạnh mẽ và có xu hướng càng ngày càng tăng
lên về mùa mưa, hiện tượng mưa lớn gia tăng, hạn
hán xuất hiện thường xuyên hơn, hoạt động của
bão và áp thấp nhiệt đới phức tạp hơn và càng ngày
càng biến động mạnh mẽ
Vậy nguyên nhân chính của sự biến đổi khí hậu
là gì, do đâu mà như vậy? Theo tôi được biết thì
nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu là do sự
gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà
kính, các hoạt động của con người , đặc biệt là việc
đốt nguyên liệu hóa thạch (than, dầu, ga) để lấy
năng lượng
Để góp phần làm giảm biến đổi khí hậu thì tôi nghĩ
chúng ta nên tìm hiểu đến các yếu tố ảnh hưởng tới
khí hậu và làm cho trái đất ấm lên Dưới đây là một
số yếu tố gần gũi chúng ta:
Mặt trời
Ai cũng biết rằng mặt trời có vai trò quan trọng đối
với sự sống của con người, động vật và thực vật.nếu
không có mặt trời thì mọi vật sẽ không sống được
Tuy nhiên, do lượng ánh nắng chiếu vào trái đất không ổn định Thay đổi quỹ đạo cũng như thay đôi cường độ chiếu sáng đã làm cho trái đất của chúng
đã thải ra một lượng lớn khí Các-bon, khí đi-ô-xít
và ô-xít nitơ Theo ống xả của xe, các khí này được thải vào bầu không khí
Các khu công nghiệp
Như chúng ta đã biết, hiện nay xã hội ngày càng phát triển, các khu công nghiệp mọc lên rất nhanh
Nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống cho con người
Nhưng chính quá trình sản xuất ra các sản phẩm phục vụ con người đã thải ra môt trường một lượng khí Cac-bon
Câu Chuyện thay đổi thứ năm: “tôi và gia đình
đã thay đổi thế nào sau Chương trình đào tạo thanh niên tiên phong thíCh ứng với khí hậu”
Họ và tên : Trần Văn Tới Địa chỉ: xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
Nhà máy phát điện
Các nhà máy phát điện thường đốt nhiên liệu hóa thạch và thải nhiều khí nhà kính vào bầu khí quyển khiến Trái đất nóng lên
Và còn rất nhiều nguyên nhân làm cho khí hậu bị biến đổi
Những giải pháp của bản thân sau khi được tham gia chương trình:
Trước những nguyên nhân nêu trên, là một đoàn viên thanh niên trẻ đã thôi thúc tôi phải làm gì để giúp cho môi trường sống của chúng ta hạn chế nhất những rủi ro do Biến đổi khí hậu gây ra
Hàng đêm nằm suy nghĩ về những điều tôi đã học, những kiến thức tiếp thu được tại các buổi tập huấn
Tôi nhận thấy nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu phần lớn là do con người Vậy thì hãy tác động vaò
chính nhận thức và sự hiểu biết của con người Và nếu trước đây chúng ta chưa làm thì bây giờ chúng
ta sẽ làm Bởi tôi thấy những việc làm ấy rất dễ, rất cần, rất đơn giản Cụ thể như sau:
Tự trồng rau và trái cây
Tại gia đình tôi có dành một khu vườn nhỏ để trồng rau sạch phục vụ cho cuộc sống gia đình Tôi đã tuyên truyền cho mọi người xung quanh, cho các đoàn viên thanh niên việc tự trồng rau sạch, trái cây sạch để sử dụng Bởi vì các sản phẩm rau, trái cây đi mua sẽ không đảm bảo vệ sinh Vì lợi ích cá nhân trước mắt mà họ đã không ngần ngại phun thuốc trừ sâu, thuốc kích thích… Để các sản phẩm của họ nhanh được bán, không sâu bệnh… Nhưng việc đó
còn làm ảnh hưởng đến bầu không khí
Trồng cây xanh
Xung quanh nhà tôi ở đã được tôi cùng gia đình trồng rất nhiều cây xanh Trong nhà tôi cũng để một
số cây xanh vừa thẩm mĩ vừa tốt cho sức khỏe Tôi
đã cung với chi đoàn xóm và đoàn xã trồng và chăm sóc hàng trăm cây xanh tại các tuyến đường cũng như tại các khu vực công cộng vì chúng tôi nhận thức được lợi ích của cây xanh với môi trường, với sức khỏe con người Còn với Biến đổi khí hậu thì những cây xanh sẽ giúp tách khí nhà kính CO2 khỏi khí quyển vì trong quá trình quang hợp, cây xanh sẽ
hấp thụ khí CO2 và sản sinh khí Oxy
Tiết kiệm điện
Gia đình tôi đã thay toàn bộ bóng đèn sợi đốt cũ bằng bóng đèn huỳnh quang compact Các bóng đèn mới này chỉ tiêu thụ bằng 25% năng lượng điện
mà cho ánh sáng tương đương Hoặc là dùng bóng đèn LED Tuy giá thành đắt hơn nhưng tiết kiệm điện mà lại rất bền
Tôi đã chủ động thực hiện và nhắc nhở người thân
và bạn bè hãy tắt đèn, tivi, máy tính khi không sử dụng hoặc không cần thiết
Rút các phích cắm điện, các thiết bị có diều khiển
từ xa vì chúng vẫn tiêu thụ điện khi ở chế độ chờ.Dùng bình năng lượng mặt trời để có nước nóng sử dụng trong gia đình thay vì bật bình nóng lạnh
Sử dụng phân bón hữu cơ.
Nhà tôi có trồng một mảnh ruộng, mỗi vụ trước khi cấy tôi có cắt cỏ để vùi xuống đất cho tốt đất mà không cần sử dụng thuốc diệt cỏ Gia đình tôi đã hạn chế tối đa việc sử dụng phân bón hóa học mà tận dụng triệt để sử dụng phân chuồng đã ủ mục để bón cho lúa và cây trồng trong vườn nhà
Đi bộ hoặc xe đạp
Trong trường hợp không quá cần thiết, thay vì đi xe máy tôi đã sử dụng xe đạp thậm chí là đi bộ vừa tốt cho sức khỏe mà còn hạn chế thải khí Các bô nic vào không khí
Hạn chế rác thải.
Chúng ta nên chọn mua các sản phẩm có ít giấy bọc
để tránh xả rác ra môi trường Nên tái chế lại các sản phẩm còn dùng được Hạn chế sử dụng túi bóng nhất có thể
Hạn chế gia tăng dân số
Bản thân tôi và đã thực hiện tốt chính sách dân số
và kế hoạch hóa gia đình đồng thời tuyên truyền và vận động bạn bè, người thân cùng tham gia thực hiện Vì vừa là để nuôi dạy con cái cho tốt đồng thời việc gia tăng dân số sẽ kéo theo nhiều nhu cầu của cuộc sống từ đó sẽ tạo sức ép cho môi trường càng ngày càng nóng lên
Có thể khẳng định rằng, sau khi được tham gia chương trình Đào tạo thanh niên tiên phong thích ứng với khí hậu, bản thân tôi đã và đang từng bước
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Trang 29thưc hiện những gì mà mình học được vào cuộc
sống của chính mình Để có thể mang một phần
công sức nhỏ bé của mình làm cho Trái đất này
thêm Xanh - Sạch - Đẹp - An toàn Tôi không chỉ
áp dụng vào cuộc sống của gia đình tôi mà tôi còn
tuyên truyền, vận động người thân và mọi người
xung quanh cùng tham gia
PHẦN 7: BÀI HỌC KINH NGHIỆM
VÀ KHUYẾN NGHỊ
Tôi mong rằng một ngày không xa cả nhân loại này
ai ai cũng hưởng ứng nhiệt tình phong trào này để hàng năm bớt đi những cơn bão tàn khốc, những trận lũ lịch sử như trận lũ năm 2017 vừa qua không còn nữa
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Biến ý tưởng thành hành động
Trang 301.Bài học kinh nghiệm:
Việc quản lý thời gian các bài trình bày trong
khóa học đôi khi chưa được tốt, còn bị quá
thời gian, làm ảnh hưởng tới thời gian tổng thể của
cả khóa học
Việc lựa chọn thời gian và địa điểm cho các khóa tập
huấn đôi khi chưa lường trước được những yếu tố
khách quan như tình trạng giao thông, đi lại không
thuận tiện, thời gian không phù hợp với học viên
v.v nên còn để xảy ra tình trạng đối tượng học viên
được lựa chọn không tham dự được mà phải thay
bằng những đối tượng khác Ví dụ địa điểm của
khóa tập huấn ở Đảo Cát Bà việc di chuyển không
thuận tiện, do khi chưa thông cầu Lạch Huyện cần
phải qua hai phà, phà bị hỏng nên bị chậm 5 tiếng
Việc giám sát chương trình rất được quan tâm và
được thực hiện trước và sau khóa học, điều đó giúp
cho Chương trình cập nhật được những thông tin
cần thiết cho công tác tổ chức và quản lý và có được
những điều chỉnh linh hoạt cần thiết, tuy nhiên do
không có mẫu báo cáo giám sát thống nhất từ đầu
dự án nên báo cáo của các khóa học không cung cấp
được những thông tin thống nhất, làm cho việc tập
hợp thông tin và báo cáo tổng thể của Chương trình
mất nhiều thời gian và khó khăn;
Tương tự như vậy, các Bảng hỏi đánh giá lớp học
và kết thúc Chương trình quá dài, không tập trung
nên tuy thông tin thu nhận nhiều song lại dàn trải,
nhiều thông tin không thực sự hữu ích, trong khi có
một số thông tin hữu ích cho công tác giám sát và
đánh giá lại chưa đầy đủ Việc tập hợp và lựa chọn
thông tin cần thiết cho quản lý và đánh giá Chương
trình do đó không được thuận lợi
2.Các khuyến nghị
Với Chính quyền địa phương :
Tiếp tục phối hợp vơi Đoàn thanh niên tổ chức các
hoạt động tuyên truyền về BVMT và TƯBĐKH tại
địa phương và hỗ trợ thực hiện các sáng kiến, mô
hình sinh kế đã được thử nghiệm;
Đưa các nội dung về BVMT và TƯBĐKH vào mục
tiêu phát triển KTXH của xã, huyện để thực hiện;
Xây dựng các kế hoạch dài hạn về BVMT BĐKH
như huyện Giao Thủy đã thực hiện;
Tổ chức các cuộc thi đua sáng kiến/ mô hình thích
ứng với BĐKH;
Với Đoàn thanh niên:
Chủ động, tích cực trong các hoạt động tuyên truyền về BVMT, thích ứng với BĐKH trong các lĩnh vực hoạt động tại địa phương mình, đặc biệt là trong việc thúc đẩy xây dựng các kết hoạch dài hạn
về BVMT và thích ứng BĐKH;
Tiếp tục áp dụng những kiến thức về BVMT và TƯBĐKH tại địa phương và các nơi khác khi thích hợp;
Chủ động liên hệ với chuyên gia, với dự án, Chương trình để được hỗ trợ khi cần thiết;
Mở rộng mạng lưới thanh niên tiên phong về BVMT-TƯBĐKH thông qua các hoạt động giao lưu học hỏi với các đoàn thanh niên các địa phương khác và các tổ chức khác tại các diễn đàn, các cuộc hội thảo, các cuộc họp tại các cấp
đã được các học viên trong chương trình đề xuất;
Việc quản lý thời gian cho các bài trình bày trong từng khóa tập huấn cần được lưu ý tránh để bị chậm, ảnh hưởng tới toàn bộ thời gian khóa học;
Việc chuẩn bị cho các khóa tập huấn cần cân nhắc chú ý khâu lựa chọn địa điểm và thời gian cho phù hợp tránh để tình trạng xảy ra như khóa tập huấn
4, đảm bảo đối tượng học viên đã lựa chọn có thể tham dự tập huấn và không bị mất quá nhiều thời gian cho việc di chuyển
Nên có mẫu báo cáo giám sát và báo cáo khóa học thống nhất để việc tập hợp thông tin, dữ liệu được thuận tiện và tiết kiệm thời gian hơn
Các bảng hỏi nên được thiết kế ngắn gọn, đầy đủ thông tin cần thiết phục vụ cho công tác quản lý và đánh giá Chương trình
PHỤ LỤC 1: CÁC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Biến ý tưởng thành hành động
Trang 31Bước sang thế kỷ 21, Việt Nam cũng đang đối
mặt với hàng loạt các vấn đề - thách thức môi
trường do cả những yếu tố khách quan và chủ quan:
1 Được xem là quốc gia đứng thứ 5 về mức độ
hứng chịu các rủi ro do biến đổi khí hậu trên
thế giới
2 Đang phải đối mặt với tình trạng thiếu năng
lượng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và phụ
thuộc vào các nguồn nhiên liệu có khả năng
gây ô nhiễm cao
3 Các vùng nước biển ven bờ của Việt Nam có
dấu hiệu bị ô nhiễm và suy thoái, đặc biệt ở
miền Trung Việt Nam - là nơi có tiềm năng
phát triển mạnh du lịch biển
4 Một số hệ thống lưu vực sông chính hiện đang
đối mặt với tình trạng ô nhiễm ở mức báo động
5 Chất thải gia tăng nhanh chóng do phát triển
song chưa được quản lý tốt
6 Tình trạng di dân tự do vào các thành phố lớn
gây áp lực mạnh đối với công tác quản lý môi
trường đô thị
7 Ô nhiễm không khí do giao thông gây thiệt hại
kinh tế (ước tính %5 GDP mỗi năm)
8 Sức khỏe cộng đồng bị đe dọa do các hiểm họa
tiềm ẩn từ môi trường, nguồn nước và thực
phẩm
9 Còn nhiều bất cập trong quản lý tài nguyên
rừng, đa dạng sinh học và sử dụng đất
10 Chưa áp dụng được các sáng kiến công nghệ mới trong công tác quản lý môi trường
Tại đồng bằng sông Hồng, các nghiên cứu và thực hành đã chỉ ra rằng khu vực này đang trở nên ngày càng dễ bị tổn thương hơn trước các tác động của BĐKH, bao gồm cả những hiện tượng thay đổi kiểu bão, gia tăng biên độ thay đổi nhiệt độ, xâm nhập mặn dẫn tới thiếu nước và các lựa chọn sinh kế dễ
bị tổn thương Các vấn đề khác, như quản lý chất thải rắn còn yếu, ô nhiễm môi trường nước, làm trầm trọng thêm các tác động Trong khi đó công tác xác định, thực hiện và nhân rộng các sáng kiến thích ứng BĐKH tại vùng đồng bằng sông Hồng, năng lực thích ứng BĐKH cấp huyện tại vùng này còn yếu, thanh niên chưa có nhiều cơ hội tham gia đầy đủ các hoạt động thích ứng BĐKH, thiếu các trình diễn thực hành tốt
Với quan điểm lý thuyết về sự thay đổi: “Nếu các thanh niên trẻ được trang bị kiến thức và năng lực, xây dựng sự đam mê, nhiệt huyết trong hành động thích ứng mang tính thực hành và sáng tạo trước tác động của BĐKH họ có thể trở thành những người tiên phong trong công tác BĐKH tham gia chính thức trong các hoạt động thích ứng BĐKH hiệu quả
và sáng tạo hơn” từ đó, chương trình được thiết kế nhằm giúp các thanh niên có đầy đủ năng lực đưa
ra các sáng kiến thích ứng với BĐKH, giải quyết các vấn đề cụ thể đang xảy ra ở tại địa phương
Cách tiếp cận của Chương trình kết hợp giữa trên lớp và thực hành, giữa cung cấp kiến thức, thông tin và phát triển kỹ năng, khuyến khích trao đổi làm việc theo nhóm Các giảng viên của chương
trình là các chuyên gia trong lĩnh vực môi trường, BĐKH, và có nhiều kinh nghiệm thực tế về thích ứng BĐKH
Tài trợ: “Chương trình đào tạo thanh niên tiên phong trong thích ứng BĐKH vùng đồng bằng sông Hông” thuộc dự án “Thúc đẩy vai trò tiên phong của thanh niên trong ứng phó BĐKH vùng đồng bằng sông Hồng – READY” do Cơ quan Phát triển Hoa Kỳ - USAID tài trợ và được thực hiện theo các quyết định:
- Nam Định: 532/UBND- NNTNMT ngày 3 tháng
- Thúc đẩy các sáng kiến thích ứng BĐKH hiệu quả và sáng tạo vùng đồng bằng Sông Hồng
- Xây dựng mạng lưới thanh niên tiên phong trong hành động thích ứng BĐKH vùng Đồng bằng Sông Hồng
Tham gia vào chương trình, các học viên sẽ tham gia vào mạng lưới Thanh niên tiên phong trong Bảo vệ môi trường và Biến đổi khí hậu, được trang
bị và cập nhật các kiến thức cơ bản về phát triển bền vững, biến đổi khí hậu, các mô hình thích ứng BĐKH vùng ven biển, về doanh nhân trẻ với BĐKH, kiến thức cơ bản về quản lý dự án, các kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng thực hiện các sáng kiến nhỏ
III Phương pháp đào tạo
Học viên sẽ được tham gia vào các bài tập nhóm, gồm thảo luận và trình bày, viết đề xuất dự án
Quá trình học hỏi sẽ được đánh giá và tài liệu hóa Phương pháp đào tạo kết hợp giữa lên lớp và thực tế bao gồm nghe và thảo luận với các chuyên gia trong lĩnh vực BĐKH, quản lý dự án, phát triển bền vững;
đi thực địa; các bài chơi về làm việc nhóm và các trường hợp điển hình Các dự án nhỏ về thích ứng BĐKH được thực hiện sau chương trình và sẽ được báo cáo vào mùa thu
IV Kết quả
- Trong khóa đào tạo 21-24/3/2016, đào tạo 70 thanh niên tiên phong về Biến đổi Khí hậu Đồng bằng Sông Hồng
- Thúc đẩy đề xuất các sáng kiến cụ thể có tính khả thi thích ứng với BĐKH khu vực ven biển
V Nhóm giảng viên
Nhóm giảng viên gồm các nhà nghiên cứu, thực hành nhiệt huyết về Bảo vệ Môi trường và Biến đổi khí hậu tại Việt Nam và có nhiều kinh nghiệm về các lĩnh vực phát triển trong nước và ngoài nước
1 Nguyễn Thu Huệ - Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng
2 Nguyễn Ngọc Lý - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Cộng đồng
3 Ngô Công Chính - Phó viện trưởng Viện Quản lý và Phát triển Châu Á (AMDI)
4 Nguyễn Thanh Ca - Vụ trưởng Vụ hợp tác Quốc Tế và KHCN, Tổng cục Biển và Hải đảo
5 Đinh Thị Hải Vân – Giảng viên Học viện Nông Nghiệp Việt Nam
11 Đặng Thùy Trang – Cán bộ truyền thông CECR
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Trang 32VI Nội dung chương trình
Ngày 1 – Ngày 11/01/2016
13:30 – 13:45 Khai mạc và phát biểu:
13:45 – 14:15 Giới thiệu/Giao lưu giữa các học viên tham dự
14:15 – 14:35 Biến đổi khí hậu, Phát triển Bền vững và Thanh niên Tiên
14:35 – 14:55 Thế kỷ 21 và các thách thức về BĐKH đối với Việt Nam:
- Chia sẻ các sáng kiến thích ứng với BĐKH của các bạn thanh niên
Lê Thúy Vinh – chuyên gia MCD
Nguyễn Như Quỳnh – thủ lĩnh HĐX
16:15 – 16:45 Thảo luận nhóm:
- Chia nhóm thảo luận
- Xác định các vấn đề BĐKH tại địa phương: Thái Bình, Hải Phòng
Nhóm Facilitator + Học viên
16:45 – 17:15 Các nhóm trình bày
18:30 – 20:30 Ăn tối – Giao lưu
Ngày 2 – Ngày 12/01/2016
8:00 - 8:30 Doanh nghiệp trẻ và môi trường, BĐKH: Nhà máy Tinh
8:30 – 9:00 Trình bày các mô hình sinh kế nông nghiệp thích ứng với
Nông Nghiệp Việt Nam
Giám đốc CSDS Chị Võ Quyên - Chủ nhiệm dự án Youthnetwork Live&Learn Anh Lê Ngọc Sơn - đại diện GreenID
10:00 – 10:15 Hỏi - Đáp 10:15 – 10:30 Tea break 10:30 – 10:50 Xây dựng và triển khai dự án
- Viết đề xuất
- Triển khai và thực hiện
- Báo cáo
Đinh Tiến Dũng Điều phối viên LMNS
11:10 – 11:30 Chia nhóm và hướng dẫn thảo luận nhóm 11:30 – 13:00 Ăn trưa
13:15 – 15:15 Thảo luận nhóm
Phần 1: Xác định vấn đề thực tế, phát triển ý tưởng sinh kế
- Phân tích SWOT tại địa phương
- Xác định các vấn đề thực tại ở mỗi địa phương, xác định mức độ và cách khắc phục.
Phần 2: Xây dựng đề xuất dự án
- Phát triển các ý tưởng sinh kế phù hợp với các vấn đề thực tế.
Nhóm Facilitator + Học viên
15:15 – 15:30 Teabreak 15:30 – 16:45 Các nhóm trình bày
Ngày 3 – Ngày 13/01/2016
11:30 – 13:00 Ăn trưa 13:00 – 13:30 Phá băng 13:30 – 14:30 Chia sẻ của các kỹ sư
bộ truyền thông CECR 15:00 – 15:30 Hỏi - Đáp
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Trang 33Thời gian Nội dung Phụ trách
18:00 – 20:00 Chương trình lửa trại và giao lưu văn nghệ
Ngày 4 – Ngày 14/01/2016
8:00 – 8:20 Tổng hợp các kiến thức đã đào tạo để xây dựng một dự
viên
Giám đốc CECR 11:00 – 12:00 Ăn trưa + Check out
Ngày 4/4/2016
Trần Kim Hoàn
Ngày 1 - Ngày 5/4/2016
8:00 – 8:30 Giới thiệu chương trình
Khai mạc và phát biểu: Giám đốc CECR Đinh Tiến DũngNguyễn Ngọc Lý 8:30 – 9:15 Giới thiệu/Giao lưu giữa các học viên tham dự
Chụp ảnh lưu niệm với đại biểu Tóm tắt kết quả đánh giá đầu vào
Đinh Tiến Dũng Trần Kim Hoàn Nguyễn Việt Trung 9:15-9:45 Tọa đàm các bên về “thanh niên và UP BĐKH”
◆ Đại diện USAID
◆ Đại diện lãnh đạo địa phương
◆ Đại diện thanh niên HĐ Cát Hải, TN ưu tú Tiền Hải
Trần Chính Khuông Thu Huệ, Ngọc Lý Trần Minh Tiến Tống Thị Thương 9:45 – 10:00 Nghỉ giải lao
10:00 – 10:30 Biến đổi khí hậu, Phát triển Bền vững và Thanh niên Tiên
10:30 – 11:00 Thế kỷ 21 và các thách thức về BĐKH đối với Việt Nam:
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Trang 34Thời gian Nội dung Phụ trách
13:50 – 15:05 Các sáng kiến thích ứng với BĐKH của các VNGO:
1 Các dự án sinh kế của MCD thích ứng với Biến đổi khí hậu: Sự tham gia của cộng đồng và các yếu tố tạo nên thành công.
Nguyễn Thu Huệ – chuyên gia MCD
2 Chia sẻ các sáng kiến thích ứng với BĐKH của các
niên - MCD
3 Các sáng kiến truyền thông về sinh kế, bảo vệ nguồn
Truyền thông Môi trường
4 Các mô hình năng lượng bền vững thích ứng với
Lan
Hỏi đáp 15:05 – 15:15 Nghỉ giải lao
15:25 – 16:00 Thảo luận nhóm: Phân tích tình hình BĐKH tại địa phương
- Tình hình kinh tế xã hội địa phương
- Vấn đề BĐKH tại địa phương: quá khứ, hiện tại
Điều phối MCD, CECR
18:00-20:00 Ăn tối - giao lưu
Ngày 2 – Ngày 6/4/2016
8:00-8:30 Doanh nghiệp trẻ và môi trường - Nhà máy Tinh bột sắn
8:30 - 9:10 Các mô hình thích ứng với BĐKH về nước:
Mô hình thích ứng với BĐKH về xử lý nguồn nước TS Lương Hữu Thành - Viện MTNN
Mô hình thích ứng với BĐKH liên quan đến nguồn nước Đinh Tiến Dũng - Điều phối viên LMNS
Hỏi đáp 10:00 – 10:15 Nghỉ giải lao
10:15-11:30 Các mô hình sinh kế nông nghiệp và thủy sản thích ứng
BĐKH
Trình bày các mô hình sinh kế nông nghiệp và mô hình
về nước thích ứng với BĐKH TS Đinh Thị Hải Vân - Giảng viên Học viên
Nông Nghiệp Việt Nam Trình bày về mô hình sinh kế thủy sản thích ứng với
hoạch Thủy Sản 11:30-11:45 Chiếu film/video clip về sáng kiến truyền thông
11:45 – 12:00 Hỏi đáp 12:00 – 13:00 Ăn trưa
13:30 – 14:45 Xây dựng và triển khai dự án
- Viết đề xuất
- Triển khai và thực hiện
- Báo cáo
Đinh Tiến Dũng Điều phối viên LMNS
Đoàn Vũ Thảo Ly - CECR
Xây dựng SÁNG KIẾN XANH 14:00 – 14:10 Chia nhóm và hướng dẫn thảo luận nhóm
- Hướng dẫn mẫu thuyết minh sáng kiến và phân loại sáng kiến
Lò Thanh Hòa
14:10 – 15:45 Thảo luận nhóm
Xác định vấn đề (dựa vào SWOT) Xây dựng Sáng kiến Xanh (Sinh kế xanh, Nguồn nước xanh…)
CECR, MCD điều phối
Nghỉ giải lao 15:40 – 16:45 Các nhóm trình bày
Ngày 3 – Ngày 7/4/2016
Quảng Ninh
Quảng Ninh
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Trang 35Thời gian Nội dung Phụ trách
Ngày 4 – Ngày 8/4/2016
8:30 – 10:15 Làm việc nhóm: Hoàn thiện Sáng kiến, Ý tưởng Xanh
- Vấn đề cần giải quyết
- Ý tưởng để giải quyết vấn đề
- Ai là người hưởng lợi, ai sẽ tham gia
- Các hoạt động cụ thể thực hiện ý tưởng
- Làm sao để nhân rộng
- Chi phí dự kiến
Điều phối MCD, CECR Nguyễn Văn Phú - TT KN Quảng Ninh
10:15 – 10:30 Giải lao
Từ 06:00-11:00: Các đoàn xuất phát từ địa phương lên Vĩnh Phúc, 11:00 – 12:00: Nhận phòng;
12: 00: Ăn trưa (Nhóm hỗ trợ: Ngọc Ánh, Thảo Ly)
Ngày 1 - Ngày 01/11/2016
14:00 – 14:15 14:15-14:50 14:50-15:00
Khai mạc chương trình và phát biểu chương trình
Chụp ảnh lưu niệm 15:00 – 15:15 Nghỉ giải lao 15:15 – 15:45 Biến đổi khí hậu, Phát triển Bền vững và Thanh niên Tiên
phong Lồng ghép vấn đề giới trong thích ứng với BĐKH Nguyễn Ngọc Lý,Giám đốc CECR 15:45 – 16:15 Thế kỷ 21 và các thách thức về BĐKH đối với Việt Nam:
Thích ứng cho phát triển bền vững TS Vũ Thanh Ca,Vụ trưởng Vụ hợp tác
Quốc Tế và KHCN 16:15-16:45 Trình bày về mô hình sinh kế thủy sản thích ứng với BĐKH TS Nguyễn Thanh Hải
Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy Sản 16:45- 17:00 Tổng kết ngày 1
Ngày 2 - Ngày 02/11/2016
07:30-8:00 Trò chơi – Phá băng 08:00-09:00 Mô hình nông nghiệp thông minh thích ứng với BĐKH
- Nông Nghiệp thông minh thích ứng BĐKH (CSA)
- Các mô hình CSA
- Chuỗi giá trị trong PTNN ven biển
TS Đào Đức Liêm
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Trang 36Thời gian Nội dung Phụ trách
Viện MTNN
09:45 –12:00 1 Chia sẻ các câu chuyện về mô hình thích ứng BĐKH -
2 Các sáng kiến thanh niên tham gia thích ứng với BĐKH
3.Các mô hình năng lượng bền vững thích ứng với BĐKH,
4 Các sáng kiến sống xanh :Hướng dẫn xử lý rác và làm
12:00-13:30 Ăn trưa và nghỉ ngơi
13:30-14:00 Trò chơi – Phá băng
14:00-14:30 Doanh nghiệp trẻ và môi trường-Nhà máy Tinh bột sắn
14:30-14:50 Báo cáo đánh giá xu hướng BĐKH tại Cát Hải và Giao
14:50 – 15:30 Thảo luận nhóm:
- Tình hình kinh tế xã hội địa phương
- Vấn đề BĐKH tại địa phương: quá khứ, hiện tại
- Phát biểu của lãnh đạo địa phương Giao Thủy.
- Trao đổi giữa học viên và lãnh đạo dự án, lãnh đạo học viên.
Lãnh đạo dự án READY Lãnh đạo địa phương
8:30-09:00 Mô hình thích ứng với BĐKH, bảo vệ nguồn nước dựa vào
cộng đồng: mô hình của tỉnh Bình Dương. ThS Đinh Tiến Dũng - Điều phối viên LMNS
9:30-10:00 Xây dựng và triển khai dự án
11:00– 10:50 Xây dựng SÁNG KIẾN XANH
- Chia nhóm và hướng dẫn thảo luận nhóm
- Hướng dẫn mẫu thuyết minh sáng kiến và phân loại sáng kiến
Lò Thanh Hòa
12:00-13:30 Ăn trưa và nghỉ ngơi 13:30 – 14:00 Trò chơi – Phá Băng
Ngày 4 - Ngày 03/11/2016
10:00 – 11:30 Di chuyển về Giao Thủy
12:00 – 13:30 Ăn trưa và nghỉ ngơi
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Trang 37Chương trình 4
Chương trình đào tạo thanh niên tiên phong trong thíCh ứng bđkh vÙng đỒng bẰng sông hỒng
Ngày 21-23 tháng 02 năm 2017 Địa điểm: Đảo Cát Bà, Hải Phòng
Từ 13:00-16:00 ngày 20/2 Các đoàn xuất phát từ địa phương đến Cát Bà,
16:00 – 17:00: Nhận phòng;
19: 00: Ăn tối (Nhóm hỗ trợ: Ngọc Ánh, Thảo Ly)
Ngày 1 - Ngày 21/02/2017
7:30 – 8:00 Khai mạc chương trình và phát biểu chương trình
Nguyễn Ngọc Lý – Phó giám đốc dự án READY-Giám đốc CECR
Hồ Thị Yến Thu- Phó Giám đốc MCD
Lò Thanh Hòa
8:00-8:15 Giới thiệu/Giao lưu giữa các học viên tham dự
8:15 – 8:45 Biến đổi khí hậu, Phát triển Bền vững và Thanh niên Tiên
8:45 – 9:15 Thế kỷ 21 và các thách thức về BĐKH đối với Việt Nam:
Thích ứng cho phát triển bền vững TS Vũ Thanh Ca,Vụ trưởng Vụ hợp tác
Quốc Tế và KHCN 9:15 – 9:30 Nghỉ giải lao
9:30-10:00 Báo cáo đánh giá xu hướng BĐKH tại Cát Hải và Giao
Thủy
Sự tham gia của thanh niên trong xây dựng Kế hoạch thích ứng với BĐKH tại địa phương.
Đại diện AMDI
- Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội.
11:45-13:00 Ăn trưa - nghỉ ngơi
13:15-13:30 Trò chơi – Phá băng
13:30-14:30 Doanh nghiệp trẻ và môi trường - Nhà máy Tinh bột sắn
14:30-15:00 Mô hình thích ứng với BĐKH, bảo vệ nguồn nước dựa vào
15:20-15:30 Nghỉ giải lao 15:30 - 17:15 1 Chia sẻ các câu chuyện về mô hình thích ứng BĐKH -
Trần Kim Hoàn - C&E
Ngày 2 - Ngày 22/02/2017
07:15-07:30 Trò chơi – Phá băng
Viện MTNN
Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản 09:00-09:15 Nghỉ giải lao
09:15 - 10:15 Thảo luận nhóm:
- Tình hình kinh tế xã hội địa phương
- Vấn đề BĐKH tại địa phương: quá khứ, hiện tại
MCD, CECR
11:30-13:15 Ăn trưa và nghỉ ngơi 13:15 – 13:30 Trò chơi – Phá băng 13:30-14:00 Xây dựng và triển khai dự án
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Trang 38Thời gian Nội dung Phụ trách
14:30– 14:45 Xây dựng SÁNG KIẾN XANH
- Chia nhóm và hướng dẫn thảo luận nhóm
- Hướng dẫn mẫu thuyết minh sáng kiến và phân loại sáng kiến
Lò Thanh Hòa
14:45-15:00 Nghỉ giải lao
VÀ THÔNG TIN HỌC VIÊN
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Biến ý tưởng thành hành động
Trang 392 Danh sÁCh CÁC sÁng kiến và thông tin hỌC viên lớp 01
2.1 Bảng danh sách sáng kiến
1 Ủ phân vi sinh từ phế phẩm nông nghiệp, từ rơm rạ
2 Nuôi lượn kết hợp cá rô phi bền vững
4 Nhóm thanh niên với rác thải khu dân cư 02 trục đường chính tại thị trấn Tiền Hải
5 Cải thiện một số hạng mục của nhà máy nước sạch xã Tây Tiến
6 Hợp tác các hộ gia đình sinh thái Cồn Vành
7 Phân loại và xử lý rác tại xã
8 Nuôi lươn kết hợp với cá rô phi bền vững
2.2 Thông tin học viên nhóm thanh niên huyện Tiền Hải, Thái Bình
Ngô Thị Vân Anh
Địa chỉ: thị trấn Tiền Hải, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Sáng kiến: Nhóm thanh niên với rác thải khu dân cư 02 trục đường chính tại thị trấn Tiền Hải
Nguyễn Văn Quỳnh
Địa chỉ: thị trấn Tiền Hải, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Sáng kiến: Nhóm thanh niên với rác thải khu dân cư 02 trục đường chính tại thị trấn Tiền Hải
Nguyễn Thị Hạnh
Địa chỉ: xã Tây Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Điện thoại: 0969 344 095 Sáng kiến: 100 bể thu gom vỏ thuốc bảo vệ thực vật
Nguyễn Thị Thủy
Địa chỉ: xã Tây Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Điện thoại: 0979 233 028 Sáng kiến: 100 bể thu gom vỏ thuốc bảo vệ thực vật
Bùi Duy Điển
Địa chỉ: xã Tây Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Điện thoại: 0987 510 133 Sáng kiến: 100 bể thu gom vỏ thuốc bảo vệ thực vật
Trần Thị Nhài
Địa chỉ: xã Đông Trung, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình Điện thoại: 0164 711 5318 Sáng kiến: Ủ phân vi sinh từ phế phẩm nông nghiệp, từ rơm, rạ
Trần Văn Đạt
Địa chỉ: xã Đông Trung, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình Điện thoại: 0977 733 488 Sáng kiến: Ủ phân vi sinh từ phế phẩm nông nghiệp, từ rơm, rạ
Phan Mạnh Quyền
Địa chỉ: xã Tây Tiến, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Điện thoại: 0977 386 050 Sáng kiến: Cải thiện một số hạng mục của nhà máy nước sách xã Tây Tiến
Trần Tiến Quỳnh
Địa chỉ: xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Điện thoại: 0947 937 688 Sáng kiến: Hợp tác các hộ gia đình sinh thái Cồn Vành
Phạm Đức Trọng
Địa chỉ: xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Điện thoại: 0978 070 579 Sáng kiến: Hợp tác các hộ gia đình sinh thái Cồn Vành
2.3 Thông tin nhóm học viên nhóm thanh niên huyện Giao Thủy, Nam Định
Lê Huy Dân
Địa chỉ: xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
Điện thoại: 0988 411 928 Sáng kiến: Phân loại và xử lý rác tại xã
Lê Duy Nghiêm
Địa chỉ: xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
Điện thoại: 0168 788 7123 Sáng kiến: Phân loại và xử lý rác tại xã
Trịnh Xuân Thủ
Địa chỉ: xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
Điện thoại: 0978 418 869 Sáng kiến: Phân loại và xử lý rác tại xã
Mai Xuân Công
Địa chỉ: xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
Điện thoại: 0917 044 789 Sáng kiến: Phân loại và xử lý rác tại xã
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -
Trang 40Lê Mạch Hoạch
Địa chỉ: xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
Điện thoại: 0975 366 457 Sáng kiến: Phân loại và xử lý rác tại xã
Trần Văn Tới
Địa chỉ: xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định Điện thoại: 0974 063 886 Sáng kiến: Nuôi lươn kết hợp với
cá rô phi bền vững
Nguyễn Mạnh Cầm
Địa chỉ: xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định Sáng kiến: Nuôi lươn kết hợp với
cá rô phi bền vững
Trần Văn Hòa
Địa chỉ: xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định Sáng kiến: Nuôi lươn kết hợp với
cá rô phi bền vững
Đinh Văn Việt
Địa chỉ: xã Giao An, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
Sáng kiến: Nuôi ngao kết hợp cua rèm
Trần Văn Khang
Địa chỉ: xã Giao An, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
Điện thoại: 0968 328 227 Sáng kiến: Nuôi ngao kết hợp cua rèm
Thông tin nhóm học viên nhóm sinh viên
Nguyễn Đức Hiển
Địa chỉ: ĐH Thái Bình, tỉnh Thái Bình
Điện thoại: 0986 981 793
Nguyễn Đào Duy Mơ
Địa chỉ: ĐH Thái Bình, tỉnh Thái Bình
Điện thoại: 0167 2094 451 Sáng kiến: Ủ phân vi sinh từ phế phẩm nông nghiệp, từ rơm, rạ
Bùi Thị Thu
Địa chỉ: ĐH Thái Bình, tỉnh Thái Bình
Điện thoại: 0944 341 890 Sáng kiến: Nuôi lươn kết hợp cá
Vũ Xuân Tuấn
Địa chỉ: ĐH Thái Bình, tỉnh Thái Bình
Điện thoại: 0961 076 290 Sáng kiến: Nhóm thanh niên với rác thải khu dân cư 02 trục đường chính tại thị trấn Tiền Hải
Hà Văn Đồng
Địa chỉ: ĐH Thái Bình, tỉnh Thái Bình
Điện thoại: 0912 462 628
Đinh Văn Toản
Địa chỉ: xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
Điện thoại: 0971 422 113 Sáng kiến: Nuôi lươn kết hợp với
cá rô phi bền vững
Phạm Thị Ngoan
Địa chỉ: ĐH Sư phạm Kỹ thuật Nam Định, tỉnh Nam Định Điện thoại: 0167 286 9581 Sáng kiến: Nuôi ngao kết hợp cua rèm
Phạm Thị Hà
Địa chỉ: ĐH Sư phạm Kỹ thuật Nam Định, tỉnh Nam Định Điện thoại: 0168 980 2678 Sáng kiến: Phân loại và xử lý rác tại xã
Nguyễn Văn Tuấn
Địa chỉ: ĐH Sư phạm Kỹ thuật Nam Định, tỉnh Nam Định Điện thoại: 0166 264 9350 Sáng kiến: Phân loại và xử lý rác tại xã
Nguyễn Thị Thảo
Địa chỉ: ĐH Nông Nghiệp, Hà Nội Điện thoại: 0903 473 472 Sáng kiến: 100 bể thu gom vỏ thuốc bảo vệ thực vật
Đinh Thị Thu
Địa chỉ: ĐH Nông Nghiệp, Hà Nội Điện thoại: 0168 200 6198 Sáng kiến: Nuôi lươn kết hợp với
cá rô phi bền vững
Thúc đẩy sự tham gia của thanh niên thích ứng Biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng -