MỘT SỐ ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI Câu 1 (12,0 điểm): Bàn về quan điểm nghệ thuật của Nam Cao, có ý kiến cho rằng: “Có thể nói, chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam ra đời từ đầu thế kỉ XX, đến Nam Cao mới thật sự tự giác đầy đủ về những nguyên tắc sáng tác của nó” (SGK Ngữ văn 11 Nâng cao, tập 1, Nxb Giáo dục, 2007, trang 211). Từ truyện ngắn “Chí Phèo” (Nam Cao), anhchị hãy làm rõ nhận xét trên. Yêu cầu về kĩ năng: Đảm bảo một văn bản nghị luận văn học có bố cục rõ ràng, hợp lý; tổ chức sắp xếp ý một cách logic, chặt chẽ; hành văn trôi chảy, mạch lạc; chữ viết rõ ràng, cẩn thận; không có quá 3 lỗi về chính tả, dùng từ, diễn đạt…(0,5 điểm) Yêu cầu về kiến thức: Trình bày cách hiểu về nhận xét: “Có thể nói, chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam ra đời từ đầu thế kỉ XX, đến Nam Cao mới thật sự tự giác đầy đủ về những nguyên tắc sáng tác của nó”: Chủ nghĩa hiện thực trong văn học là khái niệm dùng để chỉ: – Những sáng tác văn học gần gũi, gắn bó với cuộc sống và mang tính chân thực sâu sắc (0,5 điểm) – Một phương pháp hay một khuynh hướng, một trào lưu văn học có những nguyên tắc sau: + Mô tả cuộc sống bằng hình tượng tương ứng với bản chất những hiện tượng của chính cuộc sống bằng điển hình hóa các sự kiện, nhân vật thực tế của đời sống. + Thừa nhận sự tác động qua lại giữa môi trường sống và con người, giữa tính cách và hoàn cảnh, các hình tượng nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa hướng tới việc tái hiện chân thực các mối quan hệ của con người và hoàn cảnh. + Coi trọng những chi tiết cụ thể và thái độ chính xác của chúng trong việc mô tả con người và cuộc sống, coi trọng việc khách quan hóa những điều được mô tả, làm chúng tự “nói” lên tiếng nói của mình. (1,0 điểm) Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam (theo đúng nghĩa của nó): – Thực sự hình thành từ đầu thế kỉ XX. Đó là những tác phẩm của Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Hồ Biểu Chánh… Tuy nhiên, những sáng tác này mới chỉ tập trung đi vào đả kích những thói hư tật xấu trong xã hội: cờ bạc, rượu chè, lừa bịp…, ít phản ánh về cuộc sống quằn quại của nhân dân trong chế độ thực dân. Về mặt nghệ thuật cũng còn non nớt, cái chủ quan của nhà văn còn bộ lộ nhiều trong sáng tác…(0,5 điểm) – Đến giai đoạn 1930 – 1945, chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam (còn được gọi là chủ nghĩa hiện thực phê phán) thực sự phát triển. Có nhiều tác giả, tác phẩm, thể loại phong phú, đạt thành tựu. Những nhà văn tiêu biểu như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng đã đạt tới mức tương đối hoàn chỉnh của nguyên tắc sáng tác này. Các nhà văn thừa nhận và tôn trọng thực tế khách quan. Họ quan sát những chi tiết có thực trong đời sống, từ những sự việc riêng lẻ, rời rạc nhà văn bao quát lấy cái chung để xây dựng thành những bức tranh đời sống chân thực, cô đọng. Ngoài ra, nhà văn không chỉ biết phản ánh mà còn biết cách giải thích hiện tượng bằng nguyên nhân xã hội, nhìn ra sự tác động giữa hoàn cảnh và tính cách, họ nhận thấy tính cách con người tồn tại và phát triển trong những quan hệ xã hội nhất định cho nên nhà văn hiện thực xây dựng nên những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình để phản ánh bản chất xã hội. (1,0 điểm) Nam Cao và chủ nghĩa hiện thực: – Nam Cao là một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc, có nhiều đóng góp cho văn học Việt Nam, trong đó phải kể đến việc đưa những nguyên tắc sáng tác của chủ nghĩa hiện thực trở thành ý thức tự giác qua những phát ngôn của nhà văn, trong khi các nhà văn hiện thực cùng thời không phát ngôn quan điểm. Chủ yếu trên các mặt: + Nam Cao quan niệm hiện thực phải là “tiếng kêu đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than” (Trăng sáng), nghĩa là phải phản ánh chân thực cuộc sống trên lập trường của chủ nghĩa nhân đạo. + Đối với Nam Cao, văn học hiện thực không chỉ mô tả cuộc sống hiện thực mà còn phải phân tích, giải thích cuộc sống theo quy luật: hoàn cảnh xã hội quyết định tâm lý, tính cách con người (Tư cách mõ, Sao lại thế này…) + Nam Cao nêu cao vấn đề “đôi mắt” và yêu cầu nhà văn phải nhìn người bằng đôi mắt của tình thương mới thấu hiểu được bản chất tốt đẹp của con người, dù bề ngoài có vẻ cục cằn, xấu xí, thô lỗ.(1,5 điểm) Làm rõ nhận định qua tác phẩm “Chí Phèo”: Giới thiệu đôi nét về tác phẩm “Chí Phèo”: là một kiệt tác hiện thực của Nam Cao cũng như của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Đây là một truyện ngắn có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, mới mẻ, đồng thời chứng tỏ được trình độ nghệ thuật già dặn, điêu luyện của nhà văn. (0,5 điểm) Phân tích tác phẩm để làm rõ nhận định trên, chủ yếu trên các phương diện: – Tác phẩm “Chí Phèo” là bức tranh chân thực và sâu sắc về cuộc sống. Nam Cao không chỉ dừng lại ở phản ánh bề ngoài, mà còn đi sâu vào bên trong để nhận ra bi kịch tinh thần đau đớn của người nông dân: bị tàn phá hủy hoại về nhân hình, nhân tính, bị tước đoạt đi quyền làm người (0,5 điểm ) – Xây dựng được những điển hình nghệ thuật: Chí Phèo, Bá Kiến. (1,0 điểm) – Chí Phèo là nạn nhân, là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội thực dân phong kiến tàn bạo, chà đạp lên số phận con người. Từ một người nông dân hiền lành, lương thiện, Chí Phèo đã bị biến thành kẻ lưu manh và bị đẩy vào con đường tha hóa, trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. (Phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo). (2,0 điểm) – Song, bằng đôi mắt của tình thương, Nam Cao đã nhận ra được bản chất tốt đẹp, lương thiện của người nông dân: + Dù mang vẻ bề ngoài của một kẻ lưu manh, một con quỷ dữ nhưng trong sâu thẳm tâm hồn vẫn là khát khao sống, khát khao hoàn lương. (Phân tích quá trình thức tỉnh của Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở, việc Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người, cái chết bế tắc, đớn đau của Chí để chứng tỏ điều đó). (2,0 điểm)
Trang 1MỘT SỐ ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI Câu 1 (12,0 điểm):
Bàn về quan điểm nghệ thuật của Nam Cao, có ý kiến cho rằng: “Có thể nói, chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam ra đời từ đầu thế kỉ XX, đến Nam Cao mới thật sự tự giác đầy đủ về những nguyên tắc sáng tác của nó” (SGK Ngữ văn 11 Nâng cao, tập 1, Nxb Giáo dục, 2007, trang 211).
Từ truyện ngắn “Chí Phèo” (Nam Cao), anh/chị hãy làm rõ nhận xét trên.
* Yêu cầu về kĩ năng: Đảm bảo một văn bản nghị luận văn học có bố cục rõ ràng, hợp lý; tổ chức sắp
xếp ý một cách logic, chặt chẽ; hành văn trôi chảy, mạch lạc; chữ viết rõ ràng, cẩn thận; không có quá 3
lỗi về chính tả, dùng từ, diễn đạt…(0,5 điểm)
*Yêu cầu về kiến thức: Trình bày cách hiểu về nhận xét: “Có thể nói, chủ nghĩa hiện thực trong văn
học Việt Nam ra đời từ đầu thế kỉ XX, đến Nam Cao mới thật sự tự giác đầy đủ về những nguyên tắc sáng tác của nó”:
* Chủ nghĩa hiện thực trong văn học là khái niệm dùng để chỉ:
– Những sáng tác văn học gần gũi, gắn bó với cuộc sống và mang tính chân thực sâu sắc (0,5 điểm) –
Một phương pháp hay một khuynh hướng, một trào lưu văn học có những nguyên tắc sau: + Mô tả cuộc sống bằng hình tượng tương ứng với bản chất những hiện tượng của chính cuộc sống bằng điển hình hóa các sự kiện, nhân vật thực tế của đời sống + Thừa nhận sự tác động qua lại giữa môi trường sống và con người, giữa tính cách và hoàn cảnh, các hình tượng nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa hướng tới việc tái hiện chân thực các mối quan hệ của con
trọng những chi tiết cụ thể và thái độ chính xác của chúng trong việc mô tả con người và cuộc sống, coi trọng việc khách quan hóa những điều được mô tả, làm chúng tự “nói” lên tiếng nói của mình (1,0
điểm)
* Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam (theo đúng nghĩa của nó): – Thực sự hình thành từ đầu thế kỉ XX Đó là những tác phẩm của Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Hồ Biểu Chánh… Tuy nhiên, những sáng tác này mới chỉ tập trung đi vào đả kích những thói hư tật xấu trong xã hội: cờ bạc, rượu chè, lừa bịp…, ít phản ánh về cuộc sống quằn quại của nhân dân trong chế độ thực dân Về mặt nghệ thuật cũng còn non nớt, cái chủ quan của nhà văn còn bộ lộ nhiều trong sáng
đoạn 1930 – 1945, chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam (còn được gọi là chủ nghĩa hiện thực phê phán) thực sự phát triển Có nhiều tác giả, tác phẩm, thể loại phong phú, đạt thành tựu Những nhà văn tiêu biểu như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng đã đạt tới mức tương đối hoàn chỉnh của nguyên tắc sáng tác này Các nhà văn thừa nhận
và tôn trọng thực tế khách quan Họ quan sát những chi tiết có thực trong đời sống, từ những sự việc riêng lẻ, rời rạc nhà văn bao quát lấy cái chung để xây dựng thành những bức tranh đời sống chân thực,
cô đọng Ngoài ra, nhà văn không chỉ biết phản ánh mà còn biết cách giải thích hiện tượng bằng nguyên nhân xã hội, nhìn ra sự tác động giữa hoàn cảnh và tính cách, họ nhận thấy tính cách con người tồn tại
và phát triển trong những quan hệ xã hội nhất định cho nên nhà văn hiện thực xây dựng nên những tính
cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình để phản ánh bản chất xã hội (1,0 điểm)
* Nam Cao và chủ nghĩa hiện thực:
Trang 2– Nam Cao là một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc, có nhiều đóng góp cho văn học Việt Nam, trong đó phải kể đến việc đưa những nguyên tắc sáng tác của chủ nghĩa hiện thực trở thành ý thức tự giác qua những phát ngôn của nhà văn, trong khi các nhà văn hiện thực cùng thời không phát ngôn quan điểm Chủ yếu trên các mặt: + Nam Cao quan niệm hiện thực phải là “tiếng kêu đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than”
(Trăng sáng), nghĩa là phải phản ánh chân thực cuộc sống trên lập trường của chủ nghĩa nhân đạo + Đối với Nam Cao, văn học hiện thực không chỉ mô tả cuộc sống hiện thực mà còn phải phân tích, giải thích cuộc sống theo quy luật: hoàn cảnh xã hội quyết định tâm lý, tính cách con người (Tư cách mõ, Sao lại thế này…) + Nam Cao nêu cao vấn đề “đôi mắt” và yêu cầu nhà văn phải nhìn người bằng đôi mắt của tình thương
mới thấu hiểu được bản chất tốt đẹp của con người, dù bề ngoài có vẻ cục cằn, xấu xí, thô lỗ.(1,5 điểm)
* Giới thiệu đôi nét về tác phẩm “Chí Phèo”: là một kiệt tác hiện thực của Nam Cao cũng như của văn xuôi Việt Nam hiện đại Đây là một truyện ngắn có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, mới mẻ, đồng
thời chứng tỏ được trình độ nghệ thuật già dặn, điêu luyện của nhà văn (0,5 điểm)
* Phân tích tác phẩm để làm rõ nhận định trên, chủ yếu trên các phương diện: – Tác phẩm “Chí Phèo” là bức tranh chân thực và sâu sắc về cuộc sống Nam Cao không chỉ dừng lại ở phản ánh bề ngoài, mà còn đi sâu vào bên trong để nhận ra bi kịch tinh thần đau đớn của người nông
dân: bị tàn phá hủy hoại về nhân hình, nhân tính, bị tước đoạt đi quyền làm người (0,5 điểm ) – Xây dựng được những điển hình nghệ thuật: Chí Phèo, Bá Kiến (1,0 điểm) – Chí Phèo là nạn nhân, là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội thực dân phong kiến tàn bạo, chà đạp lên số phận con người Từ một người nông dân hiền lành, lương thiện, Chí Phèo đã bị biến thành kẻ lưu manh
và bị đẩy vào con đường tha hóa, trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại (Phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo) (2,0 điểm) – Song, bằng đôi mắt của tình thương, Nam Cao đã nhận ra được bản chất tốt đẹp, lương thiện của
+ Dù mang vẻ bề ngoài của một kẻ lưu manh, một con quỷ dữ nhưng trong sâu thẳm tâm hồn vẫn là khát khao sống, khát khao hoàn lương (Phân tích quá trình thức tỉnh của Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở, việc Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người, cái chết bế tắc, đớn đau của Chí để chứng tỏ điều đó) (2,0 điểm)
– Truyện ngắn “Chí Phèo” đã chứng tỏ nghệ thuật viết truyện điêu luyện của Nam Cao, biểu hiện cho
độ chín của một nhà văn hiện thực ý thức sâu sắc về nguyên tắc sáng tác của mình như Nam Cao (0,5 điểm) – Nhờ đó, tác phẩm có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc Bên cạnh việc phản ánh nỗi đớn đau đến cùng cực của người nông dân, tố cáo sự tàn ác của xã hội đối với số phận con người, Nam Cao còn phát hiện và khẳng định bản chất tốt đẹp của họ: dù thế nào, người nông dân vẫn mang bản chất lương thiện, vẫn khát khao hướng thiện để sống tốt đẹp và có ý nghĩa (0,5 điểm)
Câu 2 (12 điểm ) : Từ những chi tiết: “Dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào” ở nhân
vật Quản ngục trước lời khuyên của Huấn Cao trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân và Chí Phèo thấy mắt mình “hình như ươn ướt” trước sự chăm sóc của Thị Nở trong “Chí Phèo” của Nam Cao,
anh/chị suy nghĩ như thế nào về giá trị của chi tiết trong tác phẩm văn học
Trang 3I Giới thiệu chung
1 Giới thiệu hai tác giả, tác phẩm
2 Hai chi tiết đều nói về dòng nước mắt
– Dòng nước mắt của các nhân vật khi nhận được tình thương, sự quan tâm
– Dòng nước mắt cũng đánh dấu sự thay đổi, sự thức tỉnh trong tâm hồn
II Cảm nhận về hai chi tiết
1 Dòng nước mắt của nhân vật Quản ngục trước lời khuyên của Huấn Cao
a Quản ngục vốn là người biết quí trọng cái đẹp, cái tài Nhưng hiện tại, Quản ngục đang phải sống với một lũ quay quắt, giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ Vì sống trong hoàn cảnh như vậy nên Quản ngục ít nhiều có ảnh hưởng Huấn Cao xuất hiện đã tác động rất lớn đến Quản ngục, đặc biệt là lời khuyên chân thành của Huấn Cao
b Lời khuyên của Huấn Cao dành cho Quản ngục là vào cái đêm cho chữ: (học sinh nhắc được nội dung lời khuyên)
c Dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào
– Nước mắt của sự xúc động
+ Là giờ khắc thiêng liêng, vì ngày mai Huấn Cao đã ra pháp trường Thời khắc ấy dễ gây xúc động cho người nghe
+ Đây là lời khuyên rất mực chân thành, những lời cuối cùng mà Huấn Cao muốn gửi lại cuộc đời
+ Lời khuyên chỉ dành riêng cho những người thân, chỉ dành cho những người tri kỉ
– Nước mắt của sự tiếc nuối, nước mắt của sự tỉnh ngộ
+ Tiếc nuối, đau xót vì sự ra đi của Huấn Cao, sự ra đi của cái tài cái đẹp
+ Ân hận xót xa vì nhận ra mình đã chọn nhầm nghề Con người yêu cái đẹp lại chọn cái nơi xấu xa, cái nghề tầm thường
+ Nhận ra là cái đẹp, cái thiên lương khó giữ được lành vững ở những nơi xấu xa, tàn ác
+ Nhận ra trách nhiệm của mình trước lời ủy thác của Huấn Cao 2 Nước mắt của Chí khi nhận được bát cháo hành của Thị Nở. a Chí Phèo là người nông dân hiền lành lương thiện nhưng bị đẩy đến con đường tha hóa b Hình ảnh nước mắt của Chí Phèo
– Đây là một thời khắc đặc biệt Vì đây là lần đầu tiên Chí Phèo tỉnh rượu kể từ khi bước vào cõi say triền miên
– Nhận được bát cháo hành của Thị Nở, Chí Phèo ngạc nhiên Hết ngạc nhiên thì hắn thấy mắt mình như ươn ướt
+ Là giọt nước mắt của nỗi buồn, nỗi cô đơn Tỉnh dậy, nghe những âm thanh của cuộc đời, Chí nhớ lại những mơ ước xa xôi, Chí nghĩ về mình: tuổi già, đói rét, ốm đau và cô độc + Là giọt nước mắt của sự ngạc nhiên, vui sướng Bởi vì đây là lần đầu tiên hắn được một người đàn bà đem cho Lần đầu tiên Chí nhận được tình người ấm áp Chí sung sướng vì có người xem hắn như một con người + Và còn một cái gì nữa như là sự ăn năn Có phải vì ánh sáng của lương tri thức dậy đã khiến Chí hối hận về những tháng ngày qua c Ý nghĩa
– Giọt nước mắt ấy đã khẳng định bản chất lương thiện của người nông dân – Tiếng khóc của Chí là một bản án kết án xã hội bất lương đã cướp đi cả nhân hình lẫn nhân tính của
lòng nhân đạo của Nam Cao Ông không chỉ cảm thông với nỗi bất hạnh của người nông dân mà còn phát hiện bản chất lương thiện ẩn sâu ngay cả khi họ bị tha hóa
Trang 43 Đánh giá chung về 2 chi tiết
– Mỗi nhà văn có cách thể hiện khác nhau, các nhân vật được đặt trong những cảnh ngộ khác nhau Nhưng cả hai nhân vật Chí Phèo và Quản ngục đều có hoàn cảnh éo le Họ đều xúc động và có sự thức tỉnh trước sự quan tâm của người khác
– Cả hai nhà văn đều thể hiện sự trân trọng trước cái đẹp, trước tình thương của con người
III Suy nghĩ về giá trị của chi tiêt trong tác phẩm văn học
– Chi tiết là các tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng
– Với nhà văn: Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn
Chi tiết giúp nhà văn xây dựng nhân vật, thể hiện tư tưởng chủ đề tác phẩm “Qua một chi tiết người ta thấy được cả đại dương, một giọt sương thấy cả bầu trời” (Gorki) đồng thời chi tiết cũng khẳng định
được tài năng nghệ thuật của nhà văn, chỉ những tác giả tài ba có phong cách nghệ thuật độc đáo mới có thể dồn chứa cảm xúc, tư tưởng tác phẩm trong chi tiết
– Với bạn đọc: quá trình đọc tác phẩm là sự giải mã các chi tiết trong tác phẩm chi tiết làlát cắt trên thân cây để thấy cả đời thảo mộc (Nguyễn Minh Châu).Một chi tiết dù nhỏ cũng có thể mang chứa
thông điệp giúp người đọc thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm, nắm bắt thông điệp của tác giả Những chi tiết độc đáo, bất ngờ còn tạo hứng thú cho người đọc trong quá trình tiếp nhận tác phẩm
Câu 3 : Trong bài viết đôi điều về truyện ngắn, nhà văn Nguyễn Minh Châu cho rằng: " Cuối cùng
truyện ngắn cũng như tiểu thuyết, điều chính yếu là qua nhân vật mà người viết đàm luận với người đọc về vai trò và số phận con người sống giữa xã hội và cuộc đời".
( Bùi Việt Thắng - Truyện ngắn, những vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể loại)
Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Qua một số truyện ngắn trong chương trình Ngữ văn lớp
11 hãy bình luận và làm sáng tỏ
1 Giải thích (1.5 điểm):
- Truyện ngắn: là thể loại tự sự cỡ nhỏ nhưng cũng giống như tiểu thuyết ( thể loại tự sự cỡ lớn), truyện
ngắn có khả năng đề cập và khái quát những vấn đề lớn của xã hội và nhân sinh Rõ ràng thể loại truyện ngắn có dung lượng nhỏ nhưng sức chứa lớn
- Nhân vật: là hình tượng nghệ thuật được nhà văn xây dựng để phản ánh hiện thực và bộc lộ tư tưởng.
- Người viết đàm luận với người đọc về vai trò và số phận con người sống giữa xã hội và cuộc đời: qua
hình tượng nghệ thuật, nhà văn thể hiện cái nhìn, thái độ, gửi gắm tư tưởng, quan niệm, triết lí về con người và xã hội
=> Nguyễn Minh Châu khẳng định nhân vật có vai trò quan trọng bậc nhất trong việc thể hiện nội dung,
tư tưởng, quan điểm và tiếng nói đối thoại của nhà văn, đặc biệt là ở thể loại truyện ngắn
2 Bình luận (1.5 điểm )
- Xuất phát từ đặc trưng của thể loại truyện ngắn Truyện ngắn có dung lượng câu chữ giới hạn vì vậy đòi hỏi những yếu tố trong tác phẩm đầu phải có giá trị, có sức khái quát và khả năng biểu hiện cao
- Nhân vật là cốt tử của truyện ngắn Nhân vật bao giờ cũng tập trung thể hiện cái nhìn, tư tưởng, quan niệm của nhà văn về cuộc đời Với truyện ngắn, xây dựng nhân vật đặc sắc chính là điều thiết yếu đối với người nghệ sĩ Nhân vật là đối tượng để nhà văn phát biểu những suy nghĩ, quan điểm, tư tưởng của mình về các vấn đề trong xã hội, đặc biệt là những vấn đề liên quan trực tiếp đến con người Nhân vật cũng đồng thời thể hiện tiếng nói đối thoại của nhà văn, nhà văn muốn trao đổi với người đọc về quan điểm, tư tưởng của mình chính là qua nhân vật
- Xuất phát từ đặc trưng của văn học, đối tượng phản ánh của văn học là cuộc sống và con người
3 Chứng minh (7.0 điểm):
Trang 5- Học sinh có thể chọn lựa, phân tích một số nhân vật trong truyện ngắn đã học trong chương trình Ngữ văn
11 để làm sáng tỏ vấn đề: Liên và An ( Hai đứa trẻ - Thạch Lam), Chí Phèo ( Chí Phèo - Nam Cao), Hộ (
Đời thừa - Nam Cao),
- Học sinh có thể triển khai theo nhiều hướng nhưng không phân tích chung chung mà phải có định hướng bám sát các vấn đề được bàn luận
- Sự cảm thụ, phân tích, bình luận của học sinh phải tinh tế, sâu sắc, thuyết phục
4 Đánh giá, mở rộng vấn đề (2.0 điểm):
- Là một nhà văn tài năng, có sở trường về truyện ngắn, từ thực tế lao động sáng tạo của mình Nguyễn Minh Châu đã rút ra những kinh nghiệm sáng tác quý báu: xây dựng nhân vật để gửi gắm tư tưởng của nhà văn Ý kiến của Nguyễn Minh Châu đã khái quát được đặc trưng cơ bản của thể loại truyện ngắn
- Từ đó đưa ra yêu cầu với người nghệ sĩ và người đọc Người nghệ sĩ phải thể hiện cái nhìn, thái độ, tư tưởng của mình về cuộc sống và con người thông qua nhân vật trong tác phẩm Người đọc cũng cần đọc tác phẩm một cách nghiêm túc, khám phá, suy ngẫm những vấn đề xã hội có ý nghĩa mà người nghệ sĩ gửi gắm qua nhân vật Tuy nhiên, mọi tư tưởng, nội dung của tác phẩm không chỉ được gửi gắm qua nhân vật mà còn qua các yếu tố khác trong truyện ngắn như tình huống, chi tiết, sự kiện, Vì vậy, đọc truyện ngắn cũng cần phải chú ý toàn diện các yếu tố hình thức để nắm bắt nội dung tác phẩm
Câu 4 (12,0 điểm)
Bàn về truyện ngắn, có ý kiến cho rằng: “Sứ mệnh của thể loại truyện ngắn đặt lên vai các chi tiết nghệ thuật Chi tiết nghệ thuật trong truyện ngắn là những người tí hon mang nhiệm vụ khổng lồ”
Anh chị hãy bình luận và làm sáng tỏ ý kiến trên qua một vài truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945
1.Giải thích.
- Chi tiết nghệ thuật: “các tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng” (Theo Từ điển thuật ngữ văn học)
- Truyện ngắn: Thể loại tự sự cỡ nhỏ, “thường hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người” (Từ điển thuật ngữ văn học) Truyện ngắn được coi như “lát cắt của đời sống”
- Sứ mệnh của thể loại truyện ngắn: Qua việc tái hiện những khoảnh khắc đời sống, những hiện tượng nhân sinh, những cảnh huống trong quan hệ giữa người với người, truyện ngắn khái quát lên các vấn đề
có ý nghĩa sâu sắc về con người và xã hội; qua một lát cắt đời sống mà người đọc thấy cả cái cây đời, qua cái khoảnh khắc mà nói được cái muôn thuở của cõi người
- Những người tí hon mang nhiệm vụ khổng lồ: Chi tiết nghệ thuật là đơn vị nhỏ nhất cấu thành tác phẩm nhưng nó mang trọng trách lớn lao: làm nổi bật tính cách, phẩm chất của nhân vật; chủ đề của tác phẩm; quan niệm thẩm mĩ, tư tưởng nghệ thuật, phong cách nghệ thuật của nhà văn; tạo nên chiều sâu
và sức hấp dẫn cho tác phẩm…
Ý kiến trên đã khẳng định vai trò then chốt, tầm quan trọng không thể thiếu của chi tiết nghệ thuật trong truyện ngắn
2 Bình luận:
Đây là ý kiến đúng đắn, “bắt mạch” được một phương diện cơ bản trong đặc trưng của truyện ngắn Sở
dĩ chi tiết nghệ thuật có vai trò đặc biệt quan trọng trong truyện ngắn là vì:
+ Truyện ngắn có dung lượng nhỏ; số lượng nhân vật, sự kiện không nhiều; cốt truyện diễn ra trong một thời gian, không gian hạn chế, thường chỉ xoay quanh một tình huống có tính chất chủ đạo Nhưng điều quan trọng là những gì phản ánh phải có sức khái quát, có chiều sâu, vượt ra ngoài khuôn khổ của câu chữ Truyện ngắn là “tác phẩm có bề sâu nhưng lại không được dài”
Trang 6+ Để giải quyết mâu thuẫn trên, cần phải có những chi tiết nghệ thuật đắt giá trong tác phẩm Đó là những điểm sáng hội tụ chiều sâu nội dung và vẻ đẹp nghệ thuật của tác phẩm, cô đúc những điều nhà văn muốn nói trong một dung lượng câu chữ khiêm tốn, tạo nên những trang văn hàm súc, nói ít gợi nhiều Chi tiết nghệ thuật trong truyện ngắn phải gánh vác nhiệm vụ nặng nề, có ý nghĩa then chốt trong việc thực hiện sứ mệnh của thể loại Dù chỉ là tiểu tiết của tác phẩm nhưng những gì nó làm được thì thật lớn lao
3 Chứng minh:
- Thí sinh chọn và phân tích một vài chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong các truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 để làm sáng tỏ vấn đề đang bàn luận
4 Mở rộng:
- Đề cao vai trò của chi tiết nghệ thuật trong truyện ngắn nhưng không có nghĩa là đẩy vai trò ấy lên địa
vị độc tôn Bên cạnh chi tiết nghệ thuật, những yếu tố khác cũng có ý nghĩa không nhỏ trong truyện ngắn: tình huống truyện, nhân vật, ngôn ngữ…
- Chi tiết nghệ thuật không chỉ quan trọng đối với thể loại truyện ngắn mà đối với tất cả các thể loại văn học, sức nặng nghệ thuật của tác phẩm sẽ tăng lên rất nhiều khi chủ thể sáng tạo sản sinh được những chi tiết “có tầm”
5 Bài học cho người sáng tác và người tiếp nhận.
- Những người đã gắn đời văn của mình với nghiệp viết truyện ngắn cần nhận thức được sâu sắc vai trò của các chi tiết nghệ thuật ở thể loại này, không ngừng khổ luyện để nâng cao nội lực, mài sắc tài năng,
từ đó cho ra đời những chi tiết đặc sắc, độc đáo, có khả năng “đóng đinh” vào lòng người đọc
- Người đọc khi đến với truyện ngắn cần phải sống hết mình với tác phẩm, cần sự cảm thụ tinh tế để có thể phát hiện, giải mã các chi tiết đặc sắc – những “huyệt đạo” làm bừng sáng nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
Câu 5 ( 12 điểm )
Nhà văn Nguyễn Đình Thi cho rằng: “Tác phẩm văn học lớn hấp dẫn người ta bởi cách nhìn nhận mới, tình cảm mới về những điều, những việc mà ai cũng biết cả rồi”
(Trích “Nhà văn nói về tác phẩm”, NXB Văn học, 1998)
Anh/ chị hiểu điều đó thế nào? Bằng hiểu biết của mình về tác phẩm “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao, anh/ chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên?
1 Giải thích ý kiến của Nguyễn Đình Thi:
– “Cách nhìn nhận mới” (còn gọi là cái nhìn): chỉ thái độ, lập trường của người nghệ sĩ trước hiện thực cuộc sống Cái nhìn mới mẻ, độc đáo luôn được coi là dấu hiệu bản chất nhất của phong cách nghệ thuật
– “Tình cảm mới” là những cảm xúc mãnh liệt, được thể hiện theo một cách riêng của người nghệ sĩ trong quá trình sáng tác
– Ý kiến của Nguyễn Đình Thi nhấn mạnh: Chỉ khi có những khám phá và thể hiện mới mẻ về con người, cuộc đời của nhà văn mới tạo nên tác phẩm lớn, làm phong phú thêm cho nền văn học và tác phẩm mới tìm được chỗ đứng trong lòng độc giả
2 Phân tích, bình luận về tác phẩm “Chí Phèo”:
– Giới thiệu ngắn gọn tác giả, tác phẩm
– Phân tích được cái nhìn mới, tình cảm mới của Nam Cao đối với người nông dân VN trước cách mạng trong một đề tài không còn là mới mẻ:
Trang 7+ Nhà văn phát hiện ra nỗi đau nhức nhối hơn cả chuyện “bần cùng”, ấy là bi kịch của người nông dân
bị lưu manh hóa Để rồi chỉ đến khi “Chí Phèo ngật ngưỡng bước ra từ trang sách … người đọc thấy rằng đây mới là kẻ khốn cùng nhất của nông thôn ta ngày trước”
+ Với tình cảm nhân đạo sâu sắc, nhà văn còn trân trọng, tin tưởng vào ngọn lửa lương tri với một quá trình hồi sinh kì diệu để bùng cháy thành một khát khao mãnh liệt trong Chí Phèo: Khao khát trở về cuộc sống lương thiện mà bị xã hội lạnh lùng cự tuyệt
3 Đánh giá khái quát về ý kiến
– Đánh giá được giá trị tư tưởng, giá trị nghệ thuật, vị trí và những đóng góp của tác giả với nền văn học
Câu 5 (12 điểm).
Nhận xét về vai trò của chi tiết nghệ thuật trong truyện, có ý kiến cho rằng: “Chi
tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn” Suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên?
Hãy chọn hai chi tiết đặc sắc trong hai tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân
và “Chí Phèo” của Nam Cao để làm sáng tỏ nhận định trên.
1 Giải thích
“Chi tiết” là gì? – Ở đây không phải muốn nói đến những chi tiết thông thường cấu thành
cốt truyện mà muốn nói đến những chi tiết nghệ thuật là các tiểu tiết của tác phẩm mang
sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng (Từ điển thuật ngữ văn học).
Vì sao “chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”? (Vai trò của chi tiết đối với tác phẩm văn học
và thể hiện tài năng của nhà văn)
+ Chi tiết nghệ thuật tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong tác phẩm Chi
tiết có khả năng thể hiện, giải thích, làm minh xác cấu tứ nghệ thuật của nhà văn, trở thành
tiêu điểm, điểm hội tụ của tư tưởng tác giả trong tác phẩm
+ Chi tiết nghệ thuật gắn với quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người, với truyền
thống văn hóa nghệ thuật nhất định
> Do đó, “chi tiết nhỏ” có khả năng tạo nên “nhà văn lớn”
2 Phân tích và chứng minh
a.
Khái quát:
Tác giả, tác phẩm: tác giả Nam Cao và tác phẩm “Chí Phèo”, tác giả Nguyễn Tuân và tác
phẩm “Chữ người tử tù”
Chọn chi tiết đặc sắc trong mỗi tác phẩm: có thể chọn các chi tiết trong “Chí Phèo”: chi
tiết tiếng chửi của Chí Phèo ở đầu truyện, chi tiết Chí Phèo tỉnh rượu sau cuộc gặp gỡ với
Thị Nở ở bờ sông, chi tiết bát cháo hành của Thị Nở, chi tiết Chí Phèo ôm mặt khóc rưng
rức khi bị thị Nở từ chối… Với “Chữ người tử tù” có thể chọn chi tiết cảnh cho chữ cuối
tác phẩm…
Đánh giá được vị trí quan trọng của các chi tiết trong tác phẩm và trong việc thể hiện tài
năng của nhà văn
b.
Cảm nhận, phân tích cụ thể các chi tiết:
HS chọn và phân tích hai trong số những chi tiết đặc sắc thuộc hai tác phẩm “Chữ người
Trang 8tử tù” của Nguyễn Tuân và “Chí Phèo” của Nam Cao Bám sát vai trò và ý nghĩa của chi
tiết đối với tác phẩm văn học và nhà văn, đồng thời làm rõ ý nghĩa, vai trò của chi tiết với
tác phẩm cụ thể
Trong quá trình phân tích cần đối sánh để làm nổi bật ý nghĩa của từng chi tiết đã chọn
2 Bình luận, đánh giá
Hai chi tiết đều là những chi tiết nghệ thuật đặc sắc, góp phần không nhỏ tạo nên thành
công cho tác phẩm và nhà văn, thể hiện khả năng khái quát hiện thực và sáng tạo nghệ
thuật của hai nhà văn
Quá trình lao động nghệ thuật của nhà văn là quá trình lao động công phu, chắt lọc từng chi tiết nhỏ trong đời sống để tạo nên những chi tiết nghệ thuật sáng giá Bởi vậy, nhận định trên hoàn toàn đúng đắn
Câu 6 (12 điểm):
Mỗi nghệ sĩ có thể đến với văn chương và cuộc đời bằng con đường riêng của mình.
Nhưng… tư duy nghệ thuật dù có đổi mới đến đâu đi nữa thì cũng không thể vượt ra ngoài
các quy luật của chân thiện mĩ, quy luật nhân bản Nhà văn chân chính có sứ mệnh khơi
nguồn cho dòng sông văn học đổ ra đại dương nhân bản mênh mông.
(Lã Nguyên, Nguyễn Minh Châu và những trăn trở trong đổi mới tư duy nghệ thuật/
Nguyễn Minh Châu – về tác gia và tác phẩm; NXB GD; Hà Nội; 2007; trang 395)
Anh (chị) hiểu nhận định trên như thế nào? Làm sáng tỏ qua truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam
và “Chí Phèo” của Nam Cao
a Mỗi nghệ sĩ… riêng mình (1.5 điểm) : Câu nói đề cập đến cách tiếp cận, cắt nghĩa, lí giải đời sống
bằng văn chương của mỗi người nghệ sĩ: mỗi người có con đường của riêng mình Vì sao? + Vì đời sống là đối tượng khám phá của NT, của văn chương Cuộc đời là nơi xuất phát của văn học
+ Đứng trước HT cuộc sống phong phú, mỗi nhà nghệ sĩ có những cảm xúc, suy ngẫm, lí giải khác nhau, lựa chọn những mảng đề tài khác nhau, cách xử lí đề tài khác nhau để đặt ra những vấn đề khác nhau Và đó là con đường riêng họ tạo ra cho mình Đó cũng là yêu cầu xuất phát từ đặc trưng của VHNT: lĩnh vực của sự sáng tạo Đó cũng là lương tâm, là trách nhiệm của mỗi người nghệ sĩ Nam Cao tâm niệm: “Văn chương không cần những người thợ khéo tay…” Nếu không tạo ra con đường riêng của mình thì sao? Tác phẩm của họ sẽ trở thành sự sao chép, sẽ chết, sẽ dẫm lên vết chân của người đi trước Nghĩa là nó sẽ chẳng mang đến chút gì mới lạ cho văn chương + Tác dụng: Tạo ra con đường riêng của mình người nghệ sĩ sẽ tạo ra sự đa dạng trong sáng tạo nghệ thuật, khẳng định sức sống của mỗi tác phẩm, vị trí, phong cách của nhà văn, cái lí để nhà văn đứng được với cuộc đời
Có thể lấy ví dụ: Cùng một đề tài, cách xử lí khác nhau ở các nhà văn
a Tư duy NT… quy luật chân thiện mĩ, quy luật nhân bản (1.5 điểm)
Đây là vấn đề đổi mới tư duy nghệ thuật – một vấn đề đặt ra như một nhu cầu bức
thiết, sống còn của nghệ thuật Nhà văn luôn phải tự làm mới mình góp phần đổi mới nghệ
Trang 9thuật Đổi mới cái gì? Đổi mới đề tài, chủ đề, cảm hứng, văn phong… Quan trọng là đổi mới tư duy, cách nhìn nhận của nhà văn trước cuộc đời
Nhưng mọi sự đổi mới đều không vượt ra ngoài quy luật chân, thiện, mĩ Cái chân, cái thiện, cái mĩ, cái nhân bản vẫn là cái đích hướng đến của mọi khám phá, sáng tạo nghệ thuật Quy luật chân thiện mĩ, nhân bản giống như sợi dây neo giữ, là giới hạn mà bán kính sáng tạo nhà văn quay chiều nào cũng không thể vượt qua Nói cách khác, nó cũng là một tâm điểm của mọi khám phá sáng tạo nghệ thuật
Văn học sở dĩ là nhu cầu, là món ăn tinh thần không thể thiếu của con người, vì nó là lĩnh vực đáp ứng nhu cầu sống của con người Văn học có nhiều chức năng (nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ, dự báo, giải trí…); có nhiều quan niệm cổ kim đông tây, nhưng điểm giao thoa gặp gỡ vẫn cứ là cái chân thiện mĩ, những vấn đề mang tính nhân bản nhân văn của đời sống con người Cái chân, là muốn nói đến chức năng nhận thức của văn học; văn học phải chân thực Cái thiện là nói đến chức năng giáo dục, cảm hóa của văn học Cái mĩ, là nói đến chức năng thẩm mĩ, chức năng cơ bản nhất, chất keo kết dính các chức năng khác Khi đạt tới chân thiện mĩ là văn học đạt tới chiều sâu nhân bản, hướng về con người, vì con người
b Sứ mệnh nhà văn chân chính… đại dương nhân bản mênh mông (1.5 điểm)
Đây là vấn đề trăn trở của nhiều cây viết Chữ dùng có thể khác nhau, nhưng thực chất vẫn là một Thạch Lam, Nam Cao, Nguyễn Tuân và nhiều nhà văn khác có những phát biểu
về vấn đề này Đó là vấn đề cái tâm của người cầm bút Ở đây người nói đặt vấn đề: “khơi nguồn dòng sông văn học đổ ra đại dương nhân bản mênh mông” – ý tưởng độc đáo Mọi dòng sông đều đổ về biển rộng, cũng như mọi khám phá sáng tạo đều có đích hướng về, những vấn đề thuộc về con người, nhân sinh, nhân bản Bởi lẽ, con người là một trung tâm khám phá của văn học nghệ thuật Văn học có thể viết về mọi vấn đề của đời sống, mọi hình thức sáng tạo, nhưng đều hướng tới là để đặt ra và cắt nghĩa những vấn đề của nhân sinh Văn học chân chính phải là thứ văn chương vị đời, nhà văn chân chính phải là nhà văn vì con người, tác phẩm mới đạt tới tầm nhân bản
2 Chứng minh qua một vài tác phẩm (6.0 điểm)
Cách đến với cuộc sống của Thạch Lam qua truyện “Hai đứa trẻ”: Chuyện một phố huyện buồn, những đứa trẻ nghèo với tâm hồn nhân ái, giàu mơ ước Qua đó nhà văn đặt ra nhiều vấn đề sâu sắc mang tính nhân văn, nhân bản: vấn đề khát vọng sống của con người; vấn đề quyền được sống của trẻ em; vấn đề số phận con người và khát vọng đổi thay cuộc sống…
Tác phẩm lấp lánh tư tưởng nhân văn theo cách viết của Thạch Lam (3.0 điểm).
Cách đến với cuộc sống của Nam Cao qua truyện “Chí Phèo”: Chuyện về số phận bi thảm của người nông dân, về khát vọng lương thiện của con người – quỷ dữ Dù đến muộn trên văn đàn, nhưng Nam Cao vẫn tạo được dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn đọc chính nhờ hướng khám phá và phát hiện đời sống của riêng mình Chí Phèo sở dĩ trở nên bất hủ chính nhờ tài năng và tâm huyết cũng như phong cách của Nam Cao
Cả hai tác phẩm đều chạm tới vấn đề mang tính nhân văn, nhân bản: khám phá vẻ đẹp con người, chất người, tức là đạt tới chân thiện mĩ… Tuy nhiên mỗi tác giả trong mỗi tác phẩm lại có những khám phá nghệ thuật riêng, hướng đi riêng; làm nên giá trị riêng cho mỗi tác
phẩm và khẳng định vị trí của mỗi nhà văn trong nền văn học (3.0 điểm).
3 Kết luận (1.5 điểm): khẳng định vai trò của hướng đi riêng trong khám phá sáng
tạo; đặc biệt là cái đích muôn đời của văn chương
Câu 6 (12 điểm)
Trang 10Nghệ thuật miêu tả tâm lí con người là thước đo tài năng người nghệ sĩ.
Hãy phân tích trong sự đối sánh nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật Liên trong Hai đứa trẻ (Thạch Lam) để thấy được những nét riêng của mỗi nhà văn về vấn đề nói trên (theo Ngữ Văn 11, Nâng cao, tập 1)
1 Dẫn dắt, nêu vấn đề nghị luận (0,5 điểm )
2 Giải thích (2,0 điểm)
Tâm lí, tính cách con người bao giờ cũng là đối tượng phản ánh của văn học.
Lịch sử văn học dân tộc xét cho cùng là lịch sử tâm hồn của nhân dân
Nghệ thuật miêu tả tâm lí là nhà văn sử dụng các phương tiện, biện pháp nghệ thuật để tái
hiện thế giới tâm lí phong phú, phức tạp của con người trong tác phẩm của mình
Thước đo là tiêu chuẩn đánh giá sự vật, hiện tượng nào đó.
Tài năng người nghệ sĩ là khả năng sáng tạo nghệ thuật, cơ sở để hình thành phong cách
nhà văn
> Nhận định trên thừa nhân chân lí trong sáng tạo nghệ thuật: tài năng của người nghệ
sĩ không phụ thuộc vào điều anh ta nói mà hãy xem anh ta miêu tả tâm lí nhân vật ra sao? Người nghệ sĩ lớn bao giờ cũng là một bậc thầy trong việc mêu tả tâm lí
3 Phân tích
a Tác giả:
Thạch Lam là nhà văn thuộc khuynh hướng văn học lãng mạn
Nam Cao là nhà văn thuộc khuynh hướng văn học hiện thực phê phán
*Cảm hứng sáng tác:
Thạch Lam: Cảm thương vô hạn trước những mảnh đời vô danh, vô nghĩa trong xã hội cũ Nam Cao: Thông cảm sâu sắc trước tấn bi kịch tinh thần đau đớn, dai dẳng của người tri thức nghèo trong xã hội cũ
*Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của hai nhà văn
- Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật Liên của nhà văn Thạch Lam
+Tác giả miêu tả cảm xúc, cảm giác mong manh, tinh tế: lúc chiều tàn khi đêm xuống, Liên
lắng nghe lòng mình phát hiện những cảm giác mơ hồ không hiểu
+Sự nhịp nhàng giữa ngoại cảnh và tâm hồn nhân vật : buổi chiều, cửa hàng hơi tối đôi
mắt Liên ngập đầy dần bóng tối; đêm xuống, tâm hồn Liên yên tĩnh hẳn đêm phố huyện yên tĩnh đến mức có thể nghe thấy tiếng hoa bàng rơi khe khẽ; đến đêm khuya, khi tàu đến từ
xa, Liên đánh thức An dậy; khi tàu đến rồi vụt qua, Liên dắt tay em đứng lên ngắm nhìn; tàu
đi vào trong đêm tối và không còn nghe thấy tiếng xe lửa nữa thì Liên đi nghỉ rồi chìm vào giấc ngủ tĩnh mịch và đầy bóng tối,…
+ Thủ pháp đối lập, thủ pháp được các nhà văn lãng mạn ưa dùng: Đối lập giữa quá khứ
rực rỡ và hiện tại buồn chán của Liên; đối lập giữa cái thoáng qua là đoàn tàu thì rực rỡ, tráng lệ và cái hiện tại là bóng tối thì bền vững
+Lựa chọn hệ thống hình ảnh thi vị nhẹ nhàng, giàu sức gợi, câu văn có nhịp điệu êm mượt,
góp phần làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn trong sáng, nhạy cảm của nhân vật
Câu 7: (12 điểm)
Bằng kiến thức của anh (chị) về một số tác phẩm có trong chương trình Ngữ văn 11 hãy làm sáng tỏ ý kiến sau của Sêkhốp
“Nếu tác giả không có lối đi riêng thì người đó không bao giờ là nhà nhăn cả Nếu