Để có thể giúp cho học sinh say mê, hứng thú với môn học, thì không chỉ dựa vào những kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa, mà còn cần sử dụng đến các nguồn tài liệu khác như truyện lịc
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ẦU……….5
1 Lý do chọn đề tài………5
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……….7
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu………9
3.1 Mục đích nghiên cứu……… 9
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 9
4 ối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu………9
4.1 ối tượng nghiên cứu……….9
4.2 Phạm vi nghiên cứu………9
5 hương pháp nghiên cứu………10
6 óng góp của đề tài……… 10
7 Bố cục của đề tài……… 10
NỘI DUNG……… 12
ƯƠ 1: Ơ Ở Ý UẬ V Ự Ễ Ủ V Ệ XÂY DỰ Ồ Ơ Ư ỆU Ụ VỤ Ả D Y Ử Ở ƯỜ …………12
1.1 ơ sở lí luận……… 12
1.1.1 Quan niệm v hồ sơ tư liệu trong dạy học lịch sử……….12
1.1.2 Phân loại……….13
1.1.2.1 Tư liệu thành văn……….15
1.1.2.2 Nguồn tài liệu internet………17
1.1.2.3 Đồ dùng trực quan……… 17
1.2 Vai trò của hồ sơ tư liệu trong việc dạy học lịch sử ở trường THPT……….19
1.3 ơ sở thực tiễn……….21
1.3.1 Mục đích, đối tượng đi u tra………21
1.3.2 Phương pháp tiến hành……… 21
1.3.3 Nội dung đi u tra……….21
1.3.4 Kết quả đi u tra………22
Trang 3ƯƠ 2: Ệ Ố Ư ỆU ƯỢ Ử DỤ D Y
Ử V Ệ 1945 - 1954 Ở ƯỜ ( ƯƠ
Ì UẨ )……… 26 2.1 ội dung chương trình chính lịch sử Việt am giai đoạn 1945 - 1954…… 26 2.2 guyên tắc khi lựa chọn tư liệu phục vụ dạy học lịch sử Việt am giai đoạn
1945 - 1954 ở trường ………28 2.3 ệ thống tư liệu phục vụ dạy học lịch sử Việt am giai đoạn 1945 – 1954 ( hương trình chuẩn)……… 30
ƯƠ 3: ƯƠ Á Ử DỤ Ư ỆU D Y
Ử V Ệ 1945 - 1954 Ở ƯỜ ( ƯƠ Ì
UẨ )………45 3.1 ác yêu cầu sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học lịch sử……… 45
3.1.1 Sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học lịch sử phải phù hợp với mục tiêu đ o tạo, chương trình cấp học v nội dung SGK……… 45 3.1.2 Sử dụng hồ sơ tư liệu phải đảm bảo tính ảng………46 3.1.3 Sử dụng hồ sơ tư liệu phải đảm bảo tính khoa học……….47 3.1.4 Sử dụng hồ sơ tư liệu phải đảm bảo yêu cầu giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức v nhân cách người học………49 3.1.5 Sử dụng hồ sơ tư liệu phải đảm bảo tính m m dẻo, linh hoạt………50 3.1.6 Sử dụng hồ sơ tư liệu phải đảm bảo tính vừa sức……… 51
3.2 Biện pháp sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học lịch sử Việt am giai đoạn
1945 – 1954 ở trường ( hương trình chuẩn)……….52
3.2.1 Sử dụng tư liệu lịch sử để cụ thể hóa các sự kiện, hiện tượng lịch sử……….52 3.2.2 Sử dụng tư liệu lịch sử để rút ra kết luận khái quát……… 53 3.2.3 Sử dụng tư liệu lịch sử để tạo biểu tưởng v sự kiện, nhân vật lịch sử………55 3.2.4 Sử dụng tư liệu lịch sử để giải thích sự kiện lịch sử, khái niệm, thuật ngữ…57 3.2.5 Sử dụng tư liệu lịch sử để giải quyết câu hỏi nhận thức v b i tập nhận thức……… 59 3.2.6 Sử dụng tư liệu lịch sử để tổ chức thảo luận nhóm………62
Trang 43.2.7 Sử dụng tư liệu lịch sử để dạy học phải kết hợp với các phương pháp dạy học
khác………65
3.2.7.1 Sử dụng tư liệu lịch sử kết hợp với câu hỏi……… 65
3.2.7.2 Sử dụng tư liệu lịch sử kết hợp với công nghệ thông tin……… 71
3.2.7.3 Sử dụng tư liệu lịch sử kết hợp với phân tích……… 76
3.3 ết quả thực nghiệm sƣ phạm……….77
3.3.1 Mục đích, yêu cầu thực nghiệm sư phạm……… 77
3.3.2 Nội dung v phương pháp thực hiện……….77
3.3.3 Quá trình thực nghiệm……… 78
3.3.4 Kết quả thực nghiệm……… 78
KẾT LUẬN……… 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 83
Trang 5MỞ ẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử của mỗi dân tộc - quốc gia luôn ẩn chứa những nét riêng, đặc thù được quyết định bởi đặc điểm địa lý nhân văn và bản lĩnh của chủ thể dân tộc - quốc gia đó Lịch sử cũng chính là "kho chứa", là sự tích hợp các giá trị của mỗi dân tộc - quốc gia
Và cũng vì thế, lịch sử trở thành một trong những điểm tựa của mỗi dân tộc - quốc gia Học lịch sử là để biết về nguồn cội dân tộc - quốc gia, biết về những giá trị mà cha ông để lại, hun đúc lòng tự hào, tự tôn dân tộc, và cả những bài học từ đau thương, mất mát Mỗi một người khi trưởng thành, hành trang vào đời bao gồm tất cả những kiến thức lịch sử mình cần biết Không học lịch sử, mỗi cá nhân, công dân sẽ không thể biết một cách chắc chắn về sự tồn tại của bản thân; dân tộc - quốc gia mình đang ở vị trí nào trên thế giới; đâu là điểm mạnh, điểm yếu; đâu là cơ hội, thách thức; đâu là bạn, đâu là thù… Và mỗi người cần làm gì để bản thân có thể hoàn thiện hơn nữa, để dân tộc - quốc gia mình tiến kịp nhân loại trong tương lai
Trong các bộ môn ở trường THPT thì môn Lịch sử có một vị trí vô cùng quan trọng Bởi lịch sử giúp học sinh có được những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới, góp phần hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, niềm tự hào về truyền thống lịch sử của dân tộc, tình đoàn kết quốc tế Đồng thời học lịch sử còn bồi dưỡng năng lực tư duy, hành động
và thái độ ứng xử đúng đắn trong cuộc sống cho các em…
Tuy nhiên trong những năm gần đây, vị trí cũng như vai trò của môn Lịch sử lại đang bị thờ ơ, xem nhẹ Nguyên nhân dẫn tới điều này có rất nhiều Có thể do cách học thực dụng, do quan niệm chưa đúng đắn của phụ huynh và học sinh Có thể do xu thế chuộng các môn khoa học tự nhiên mà xem nhẹ khoa học xã hội, trong đó có môn Lịch sử… Bên cạnh đó có một nguyên nhân quan trọng là tư liệu lịch sử nhiều nhưng chưa được chắt lọc theo đặc thù riêng của môn học, sự khô khan, nặng nề về số liệu dẫn tới
Trang 6sự kém hấp dẫn của các tiết học lịch sử Vì vậy việc thu thập và xử lí tài liệu để giảng dạy là điều thiết yếu đối với giáo viên Khi giáo viên biết kết hợp các tư liệu lịch sử được chọn lọc sẽ làm cho bài học sinh động và lôi cuốn hơn Nếu người giáo viên không có phương pháp dạy học phù hợp, sáng tạo thì tiết học sử sẽ rất khô khan, nhàm chán, dẫn tới việc học sinh càng không thích học sử hơn
Để có thể giúp cho học sinh say mê, hứng thú với môn học, thì không chỉ dựa vào những kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa, mà còn cần sử dụng đến các nguồn tài liệu khác như truyện lịch sử, văn thơ, tranh ảnh, phim tài liệu, đồ dùng trực quan quy ước… Từ trước đến nay đã có nhiều quan niệm khác nhau trong việc sử dụng các nguồn tài liệu đó trong dạy học lịch sử Một số người cho rằng trong dạy học chỉ cần cung cấp cho học sinh những kiến thức trong sách giáo khoa là đủ Không cần thiết khi
sử dụng những tài liệu học tập khác vì nó không phù hợp với yêu cầu và nhận thức của học sinh Nhiều người khác lại chú ý sử dụng thêm các tài liệu đó trong việc cụ thể hoá, làm phong phú thêm kiến thức của học sinh Theo tôi quan điểm thứ hai là hoàn toàn đúng Vấn đề đặt ra là mức độ và phương pháp sử dụng các loại tài liệu đó sao cho thật hợp lí và nâng cao được hiệu quả giáo dục và giáo dưỡng của bài giảng lịch sử Sử dụng tư liệu để phục vụ dạy học không chỉ giúp người thầy có thể truyền tải đầy đủ kiến thức cho học sinh mà còn phát huy tính chủ động, sáng tạo trong việc xây dựng nội dung, thiết kế bài giảng và hình thức thể hiện Có như vậy mới trang bị cho học sinh không những kiến thức mà còn hun đúc những lí tưởng cách mạng hay những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Điều này đòi hỏi người giáo viên Lịch sử luôn phải trau dồi về kiến thức chuyên ngành, kiến thức các bộ môn có liên quan đến chương trình giảng dạy, tích cực đổi mới phương pháp soạn giảng, sưu tầm và sử dụng tốt tài liệu chuyên ngành để hình thành nên hồ sơ tư liệu riêng phục vụ cho quá trình giảng dạy của mình góp phần quan trọng vào việc giúp các em học sinh có thể hình dung ra quá khứ một cách tốt nhất, phát triển trí tưởng tượng, suy luận, giúp các em cải thiện chất lượng học tập bộ môn Lịch sử
Lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954 là một giai đoạn đầy những sự kiện, biến động là một cột mốc lừng lẫy trong lịch sử đấu tranh chống ngoại giặc ngoại
Trang 7xâm giành độc lập của nước nhà Đây là giai đoạn nhân dân cả nước đã cùng nhau đoàn kết vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để chiến đấu và chiến thắng thực dân Pháp xâm lược với đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ lừng lấy năm châu, chấn động địa cầu Thông qua học tập lịch sử giai đoạn này sẽ góp phần bồi dưỡng truyền thống yêu nước, ý chí bất khuất, kiên cường, sẵn sàng đương đầu với mọi khó khăn để bảo vệ nước nhà của nhân dân ta cho các em học sinh Vì vậy, việc giảng dạy lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 là rất cần thiết, quan trọng trong chương trình môn Lịch sử
ở trường THPT
Xuất phát từ những điều trên, tôi đã chọn đề tài: “Xây dựng hồ sơ tư liệu phục
vụ dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954 ở trường THPT (chương trình chuẩn)” làm khóa luận tốt nghiệp của mình
học nói riêng như: Trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử” của Phan Ngọc Liên
(chủ biên) đã trình bày hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử, cơ sở của việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước, chính điều này đã góp phần đánh giá cao phương pháp trực quan là một trong những biện pháp tích cực để đổi mới phương pháp dạy học
Cuốn “Thiết kế bài giảng ở trường Trung học phổ thông” do giáo sư Phan Ngọc
Liên (chủ biên) giúp giáo viên áp dụng tốt hơn việc đổi mới phương pháp dạy học lịch sử…
Cuốn “Kênh hình trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông” tập I: Lịch
sử Việt Nam của Nguyễn Thị Côi (chủ biên) đã cung cấp một tài liệu để nâng cao chất lượng bộ môn Trong đó trình bày về phương pháp sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa, các tranh ảnh, đồ dùng trực quan cho việc dạy, học lịch sử nhằm kiểm tra, đánh giá việc học tập của học sinh hay rèn luyện kĩ năng cho học sinh Đây cũng là một
Trang 8công trình phục vụ phần nào đó cho quá trình xây dựng hồ sơ tư liệu phục vụ cho dạy học lịch sử Việt nam ở trường THPT (1945 - 1954)
Đai - ri N.G với tác phẩm “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?” đã khẳng định
vai trò, tầm quan trọng của nguồn tài liệu tham khảo, đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử
Ở phạm vi hẹp hơn, có một số công trình luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp, hay tiểu luận nghiên cứu về vấn đề sử dụng tư liệu thành văn, đồ dùng trực quan, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) là bộ phận của hồ sơ tư liệu đã có các tác giả nghiên
cứu như: Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Tuyết, “Sử dụng tài liệu thành văn để dạy
học lịch sử thế giới (1870 - 1917), ở trường Trung học chuyên ban (Ban KHXH & NV)
Khóa luận tốt nghiệp của Thái Thị Thúy, “Sử dụng tài liệu thành văn trong dạy học
lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954, ở trường Trung học phổ thông (Ban nâng cao)” Luận văn thạc sĩ của Lê Thu Hà, “Khai thác, sử dụng Microsolf PowerPoint trong dạy học lịch sử (1954 - 1975) ở trường Trung học phổ thông” Khóa luận tốt
nghiệp của Lê Thị Huyền Trang, “Thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan quy ước đơn
giản trong dạy học lịch sử Việt Nam (1945 - 1954), ở trường Trung học phổ thông (SGK thí điểm), Ban KHXH & NV” Khóa luận tốt nghiệp của Hoàng Thị Lê Na,
“Thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan quy ước bằng phương tiện kĩ thuật hiện đại để dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954, ở lớp 12 trường Trung học phổ thông (SGK thí điểm – Ban KHXH & NV)”
Các công trình nghiên cứu trên đã đi sâu nghiên cứu về lí luận và thực tiễn sử dụng các nguồn tư liệu dạy học lịch sử ở trường THPT, đó chỉ là một bộ phận của tư liệu trong dạy học lịch sử Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu việc xây dựng hồ sơ tư liệu phục vụ dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn
1945 - 1954 ở trường THPT (chương trình chuẩn) Song, với các kết quả nghiên cứu từ các công trình trên sẽ là cơ sở quan trọng để tôi kế thừa và làm rõ hơn nội dung đề tài của mình
Trang 93 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu chủ yếu của đề tài là nhằm khẳng định tầm quan trọng cũng như vai trò, ý nghĩa của việc xây dựng nguồn tư liệu để phục vụ việc dạy học ở trường THPT mà cụ thể là phần lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954
Đề tài còn làm rõ những mặt thuận lợi và hạn chế trong quá trình xây dựng hồ sơ
tư liệu dạy học để tìm ra biện pháp khắc phục góp phần nâng cao chất lượng bài học, hiệu quả học tập ở trường THPT
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục đích trên, khóa luận hướng vào giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu để xác định được khái niệm hồ sơ tư liệu dạy học và phân loại
- Tìm hiểu nội dung lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954 ở lớp 12 (chương trình chuẩn) để sưu tầm tài liệu cho phù hợp
- Tiến hành sưu tầm, chọn lựa các tài liệu phù hợp với nội dung lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 ở lớp 12 (chương trình chuẩn) để xây dựng hồ sơ tư liệu phục vụ cho dạy học
- Đưa ra những nhận xét, đánh giá về kết quả sau khi vận dụng hồ sơ tư liệu đó vào việc dạy học tại trường THPT
- Qua đó, đề xuất một số biện pháp sư phạm để sử dụng hồ sơ tư liệu phục vụ dạy học lịch sử
4 ối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 ối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc xây dựng hồ sơ tư liệu để phục vụ dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 ở lớp 12 ở trường THPT (chương trình chuẩn)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Khóa luận tập trung đi sâu làm rõ việc xây dựng hồ sơ tư liệu phục
vụ dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954
Trang 10- Về không gian: Đề tài được tiến hành thực nghiệm sư phạm ở một số trường
THPT trên địa bàn TP Đà Nẵng
5 hương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận: Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh, chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước ta về giáo dục lịch sử
Về phương pháp nghiên cứu cụ thể:
+ Nghiên cứu lý thuyết thông qua việc đọc và nghiên cứu các tài liệu về phương pháp dạy học, giáo dục lịch sử, các công trình về đổi mới về phương pháp dạy học, các tài liệu tin học và các tài liệu tham khảo khác
+ Điều tra thực tế với nhiều hình thức khác nhau như: dự giờ, quan sát, gặp gỡ và trao đổi với giáo viên và học sinh về các vấn đề nghiên cứu… Từ đó, rút ra kết luận chính xác và khoa học về việc xây dựng hồ sơ tư liệu phục vụ dạy học lịch sử Việt Nam ở trường THPT hiện nay
+ Tiến hành điều tra thực nghiệm ở một số trường THPT, so sánh, đối chiếu để từ
đó rút ra kết luận, khái quát
+ Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng một số phép thống kê toán học để trình bày kết quả thực nghiệm và kiểm định kết quả của hai nhóm đối chứng và thực nghiệm trong quá trình điều tra
6 óng góp của đề tài
Việc hoàn thành khóa luận sẽ có những đóng góp cụ thể sau:
- Việc xây dựng hồ sơ tư liệu trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 -
1954 sẽ là nguồn tư liệu cho giáo viên tham khảo khi dạy học phần này
- Đề ra một số nguyên tắc chung và các biện pháp sư phạm cần thiết để sử dụng
hồ sơ tư liệu vào phục vụ dạy học
- Đồng thời đề tài này thành công sẽ cung cấp và bổ sung thêm vào nguồn tư liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu và học tập của học sinh, sinh viên và
những ai quan tâm đến vấn đề này
7 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của đề tài gồm
ba chương:
Trang 11Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng hồ sơ tư liệu phục vụ
giảng dạy Lịch sử ở trường THPT
Chương 2: Hệ thống tư liệu được sử dụng trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai
đoạn 1945 - 1954 ở trường THPT (chương trình chuẩn)
Chương 3: Phương pháp sử dụng tư liệu trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai
đoạn 1945 - 1954 ở trường THPT (chương trình chuẩn)
Trang 12NỘI DUNG
ƢƠ 1: Ơ Ở Ý UẬ V Ự Ễ Ủ V Ệ XÂY DỰ Ồ
Ơ Ƣ ỆU Ụ VỤ Ả D Y Ử Ở ƢỜ
1.1 ơ sở lí luận
1.1.1 Quan niệm v hồ sơ tư liệu dạy học Lịch sử
Khoa học lịch sử khác các ngành khoa học khác ở chỗ nền tảng của các sự kiện khoa học của nó được xây dựng, kiến lập qua các tư liệu lịch sử nói chung và đối với các công trình nghiên cứu như một cơ thể sống thì sự kiện lịch sử là các tế bào cấu tạo nên, mà những tế bào đó là các tư liệu lịch sử Do đó, không có tư liệu lịch sử thì
không có khoa học tư liệu lịch sử “Tư liệu lịch sử tồn tại cho khoa học lịch sử và
ngược lại, khoa học lịch sử không thể thiếu nó” [17; tr.269] Bất cứ một vấn đề nào đó
mà khoa học lịch sử đặt ra, có được giải quyết hay không phụ thuộc hoàn toàn vào một điều kiện tiên quyết là có tư liệu lịch sử của vấn đề ấy hay không
Khi đã có tư liệu thì việc giải quyết vấn đề lại phụ thuộc vào số lượng và chất lượng của các nguồn tư liệu, vào trình độ chuyên môn, vào quan điểm và phương pháp nghiên cứu, khai thác tư liệu của nhà sử học Như vậy, có thế coi tư liệu lịch sử là khâu trung gian nối liền giữa nhà sử học với các công trình nghiên cứu lịch sử Vì vậy, khi nhấn mạnh vai trò đặc biệt của tư liệu lịch sử đối với khoa học lịch sử nói chung và các công trình nghiên cứu lịch sử nói riêng, ta cần nhớ rằng quan điểm và phương pháp nghiên cứu rất quan trọng Trên cùng một tập hợp tư liệu, nhưng nếu quan điểm hoặc phương pháp nghiên cứu khác nhau thì kết quả cũng không giống nhau
Vậy tư liệu lịch sử là gì? Việc xác định khái niệm tư liệu lịch sử là một trong những vấn đề đầu tiên và quan trọng bậc nhất Nó giúp chung ta không bị nhầm lẫn giữa tư liệu lịch sử với sách báo lịch sử, có thể dẫn tới sự sao chép lại những chân lý đã được phát hiện hoặc những sai lầm cũ, đồng thời lại giúp ta không bỏ sót nhiều nguồn
Trang 13sử liệu quan trọng có thể được sử dụng để nghiên cứu lịch sử Nhưng việc xác định khái niệm này rất khó khăn, phức tạp Nó phụ thuộc vào quan điểm của từng người, từng thời kỳ khác nhau, Vì thế đã có rất nhiều cách hiểu, nhiều định nghĩa khác nhau
về tư liệu lịch sử
Đã có thời kì người ta coi “tư liệu lịch sử” chỉ là những tài liệu chữ viết, nhưng sau đó, một số khác lại quá mở rộng khái niệm, coi “tư liệu lịch sử là tất cả những gì còn lại của cuộc sống đã qua” Có người lại coi “tư liệu lịch sử” như một phạm trù
triết học, biểu hiện đặc tính phản ánh của hiện vật và vì thế có thể được sử dụng để thu nhận tri thức về một hiện vật khác v.v…
Tư liệu lịch sử chứa đựng các sự kiện tư liệu, vì thế nó cũng mang những đặc điểm riêng biệt giống như các sự kiện tư liệu Tư liệu lịch sử cũng là những sản phẩm của hoạt động của con người; nó xuất hiện như một hiện tượng xã hội, nhằm phục vụ cho một mục đích, một nhu cầu nào đó của xã hội đương thời và tồn tại như những di tích, dấu vết của hoàn cảnh lịch sử cụ thể đã qua Từ đó, ta có thể hiểu tư liệu lịch sử là những di tích của quá khứ, xuất hiện như sản phẩm của quan hệ xã hội nhất định, mang trong mình nó những dấu vết của quan hệ ấy, phản ánh trực tiếp và trừu tượng hóa một
mặt hoạt động nào đấy của con người
Qua đó, có thể hiểu rằng, hồ sơ tư liệu dạy học lịch sử là tập hợp toàn bộ các nguồn tư liệu lịch sử được phân theo bài, theo giai đoạn hay sự kiện nào đó nhằm phục
vụ cho công tác giảng dạy bộ môn Lịch sử tại các trường trung học Hồ sơ tư liệu này được giáo viên giảng dạy bộ môn trực tiếp lập ra nhằm phục vụ cho công việc dạy học của mình
1.1.2 Phân loại
Những nguồn tư liệu hết sức phong phú, đa dạng, song đã có một thời, một số nhà
sử học lại chỉ thừa nhận nguồn sử liệu thành văn Ngày nay bất cứ một nhà nghiên cứu lịch sử cũng hiểu rằng không thể chỉ căn cứ vào một nguồn sử liệu này ngày càng được
mở rộng “Tùy theo nội dung phản ánh và tính chất của dữ liệu, người ta thường chia
tư liệu lịch sử thành 7 nhóm sau: 1/tư liệu thành văn; 2/tư liệu vật chất; 3/tư liệu
Trang 14truyền miệng dân gian; 4/tư liệu ngôn ngữ; 5/tư liệu dân tộc học; 6/tư liệu phim ảnh, băng ghi hình và 7/ tư liệu băng ghi âm” [17; tr.271]
Theo nghĩa rộng, tư liệu thành văn được hiểu là những sử liệu cho ta những thông tin về các sự kiện đã xảy ra được ghi lại bằng chữ viết qua các kênh thông tin Nguồn
tư liệu này chiếm khối lượng lớn và đặc biệt quan trọng, đôi khi chiếm địa vị chủ yếu trong các nguồn sử liệu, với khối lượng lớn và hết sức đa dạng, nên đã có nhà nghiên cứu thử phân loại tư liệu thành văn thành những nhóm hoặc loại khác nhau: có loại mang tính chất văn học như sử biên niên, hồi ký…, có lại mang tính chất khế ước, chế định như các loại văn tự, luật pháp v.v… Song mọi sự phân loại chỉ có tính chất tương đối vì nguồn sử liệu này được viết ra không hoàn toàn theo những khuôn khổ nhất định cho mọi giai đoạn lịch sử Dù có được phân loại theo nhiều cách khác nhau thì nguồn
sử liệu thành văn, nhìn một cách tổng thể, cũng có ưu điểm nổi bật là chúng phản ánh tương đối toàn diện và chi tiết các sự kiện, nhất là về đời sống chính trị, xã hội Mặt khác, nguồn sử liệu này cũng chịu ảnh hưởng nhiều nhất của các quy luật hình thành xác minh, phê phán Vì vậy, nguồn sử liệu này lại ngày càng đặc biệt quan trọng
Nguồn sử liệu vật chất cũng hết sức phong phú, đa dạng Có thể nói, ở đâu có con người sinh sống thì ở đó có dấu tích vật chất để lại Hơn thế nữa, nguồn sử liệu vật chất lại có những mặt ưu việt, hơn hẳn các nguồn sử liệu khác ở chỗ: là những nguồn sử liệu chủ yếu trong thời kỳ chưa có chữ viết và phản ảnh một cách khá trung thực và khách quan một mặt nào đấy của cuộc sống, khi đã có tài liệu thành văn thì nguồn sử liệu vật chất có thể bổ sung hoặc kiểm tra các tài liệu thành văn Tuy nhiên, nguồn sử liệu vật chất có nhược điểm lớn: đó là những tư liệu “câm”, bản thân nó không nói lên được nếu nhà nghiên cứu không có những phương pháp đã biết để “khai thác” chúng Trong học tập và nghiên cứu cần sử dụng nhiều nguồn sử liệu khác nhau nhằm bổ sung cho tư liệu chính xác hơn, đầy đủ hơn Có những giai đoạn lịch sử chưa có chữ viết thì phải sử dụng nguồn sử liệu truyền miệng dân gian, tư liệu vật chất cho có giá trị kiểm tra các tài liệu chữ viết xem đã chính xác đầy đủ chưa, đúng hay không đúng ở mức độ nào… Chính vì vậy, việc sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác nhau trong nghiên cứu và học tập là rất quan trọng
Trang 15Như vậy, là để phân loại tổng hợp toàn bộ các nguồn tư liệu của lịch sử Việt Nam chúng ta cần phải áp dụng nhiều đặc trưng khác nhau Tuy nhiên bất cứ một sự phân loại chung nào cũng không thể bao gồm hết được tính đặc thù của các nhóm sử liệu riêng biệt Vì vậy việc phân loại theo phạm vi từng nguồn tư liệu vẫn có vai trò riêng của nó Đặc biệt là khi các nhóm tư liệu riêng biệt có khối lượng lớn thì sự phân loại cụ thể, chi tiết trong mỗi nhóm là hết sức cần thiết
Dù là phân loại tổng quát hay chỉ trong phạm vi của một loại hình sử liệu thì chúng ta vẫ phải xuất phát từ những nguyên tắc phương pháp luận và những phương pháp chung Phải có quan điểm tính Đảng, quan điểm tổng hợp, toàn diện; phải nắm vững nguyên tắc lịch sử - lô gíc; phải nắm vững yêu cầu của phương pháp hệ thống khi phân lọai sử liệu Mỗi thời kỳ lịch sử đều có một loại sử liệu đặc trưng cho nó, chúng ta không nên tuyệt đối hóa một nguồn tư liệu nào và không thể đưa ra một khung phân loại cố định, cụ thể chung cho mọi nguồn tư liệu của lịch sử việt Nam Trong khi quan tâm đến xu hướng sử dụng sử liệu, chúng ta cũng cần đảm bảo cho các nguồn tư liệu sau khi phân loại có khản năng phản ánh được đầy đủ về sự phát triển chung của lịch
sử dân tộc cũng như của bản thân trong quá trình sưu tầm, nghiên cứu sử liệu mà các nhà sử học đã tích lũy được Như vậy việc phân loại các nguồn tư liệu không thể tách rời khỏi quy luật chung của sự phát triển khoa học lịch sử của dân tộc ta
Trong phạm vi của đề tài này, tôi tập trung vào sử dụng ba nguồn tư liệu chính:
Tư liệu thành văn, tư liệu từ nguồn internet và đồ dùng trực quan
1.1.2.1 Tư liệu thành văn
Theo nghĩa rộng, tư liệu thành văn được hiểu là những sử liệu cho ta những thông tin về các sự kiện đã xảy ra được ghi lại bằng chữ viết qua các kênh thông tin khác nhau Nguồn tư liệu này chiếm khối lượng lớn và đặc biệt quan trọng, đôi khi chiếm vị trí chủ yếu trong các nguồn sử liệu
Xuất phát từ lí luận và thực tiễn dạy học lịch sử ở trường phổ thông có thể sử dụng các loại tài liệu thành văn sau đây:
- Tư liệu của Mác, Ănghen, Lênin, Hồ Chí Minh
Trang 16Đây là loại tư liệu lí luận có ý nghĩa làm cơ sở phương pháp luận cho việc lựa chọn các đơn vị tri thức lịch sử cần hình thành cho học sinh Vì vậy, không nên sử dụng đoạn trích quá dài, mà chỉ ngắn gọn, súc tích, nhưng đảm bảo trọn ý, đồng thời giáo viên phải giải thích đoạn trích khi cần thiết để giúp học sinh hiểu sâu sắc Mặt khác, không máy móc, áp đặt mà phải xuất phát từ sự kiện lịch sử cụ thể, không nên sử dụng loại tư liệu này quá nhiều, vì nếu không khéo léo sẽ biến bài học lịch sử thành bài giảng lí luận khô khan
- Các văn kiện của Đảng và Nhà nước ta
Những văn kiện này vừa có tính lí luận vừa mang tính thực tiễn cao Bởi vì nó vận dụng các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta
Vì vậy lựa chọn và sử dụng loại văn kiện này sẽ góp phần nâng cao tính thuyết phục của bài học
- Các công trình nghiên cứu đã xuất bản như giáo trình, hồi ký, sách chuyên khảo
về các vấn đề kinh tế, chính trị - xã hội, pháp luật, quan hệ quốc tế…
Đây là loại tư liệu thành văn chủ yếu và nhiều nhất Nó chứa đựng một lượng thông tin phong phú và đa dạng về tất cả các mặt của đời sống xã hội Loại tư liệu này được trình bày hệ thống và đã được các tác giả lựa chọn công phu Nó không chỉ góp phần làm sáng tỏ thêm những kiến thức được trình bày trong sách giáo khoa mà còn có thể bổ sung những kiến thức cần thiết
Do tính phong phú và đa dạng của chúng nên cần chọn lọc thật kỹ, đặc biệt là đối với những tư liệu nước ngoài Ở đây, cần lưu ý không chỉ về tính chính xác của các thông tin được đưa ra trong tư liệu mà còn cả những quan điểm khoa học, quan điểm chính trị Những tư liệu được lựa chọn phải tương đối thống nhất trong giới nghiên cứu
và phù hợp với trình độ học sinh
- Các loại báo chí
Đây là loại tài liệu rất phong phú, đa dạng Bởi vì lịch sử là những sự kiện đã diễn
ra, lại có cả những sự kiện thời sự nên được các phương tiện thông tin, báo chí đề cập nhiều Loaị thông tin từ nguồn tài liệu này mang tính thời sự cao, vì vậy cập nhật
Trang 17nhanh đối với bài học Tuy nhiên, loại tài liệu này khá phức tạp nên cần phải lựa chọn theo nguyên tắc khoa học và cần chú ý tới tính Đảng, tính sư phạm sao cho phù hợp với bài học lịch sử, tránh lối nhồi nhét, biến bài giảng lịch sử thành bài thời sự lịch sử
1.1.2.2 Nguồn tài liệu từ internet
Do kĩ thuật thông tin hiên đại trên internet ngày càng được sử dụng phổ biến Trên internet có nhiều loại tư liệu cập nhập, có thể sử dụng để dạy học Tuy nhiên, đây
là nguồn tư liệu không đơn giản về nội dung và tính chất do nguồn của nó Vì vậy, khi lựa chọn cần chú ý đến nguồn, tính chính xác của nó Nên hạn chế sử dụng loại tư liệu này Mà chỉ nên khai thác chủ yếu những bài giới thiệu về các di tích, hiện vật lịch sử Mỗi lại tư liệu này tuy có ý nghĩa, tác dụng khác nhau nhưng đều có mục đích chung là nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường Trung học phổ thông (THPT), góp phần giúp học sinh tiếp thu tri thức lịch sử phong phú, sinh động, rèn luyện thói quen tự học và phát triển tư duy lịch sử
1.1.2.3 Đồ dùng trực quan
Khái niệm sử dụng đồ dùng trực quan: Là phương pháp sử dụng những phương tiện trực quan, phương tiện kỹ thuật dạy học, trong quá trình truyền tải tư liệu mới, trong khi ôn tập, củng cố, hệ thống hoá và kiểm tra tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
Vị trí của đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử; trực quan là một trong những nguyên tắc cơ bản của lý luận dạy học, nhằm tạo cho học sinh những biểu tượng và hình thành các khái niệm trên cơ sở quan sát trực tiếp hiện vật Đồ dùng trực quan có vai trò rất lớn trong việc giúp học sinh nhớ kỹ, hiểu sâu những hình ảnh, kiến thức lịch
sử Cùng với việc tạo biểu tượng, hình thành khái niệm lịch sử, đồ dùng trực quan còn phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ của học sinh
Ý nghĩa của việc sử dụng đồ dùng trực quan:
Về kiến thức: đồ dùng trực quan góp phần quan trọng vào việc giúp học sinh tái
tạo hình ảnh chân thực, sinh động của quá khứ, là cơ sở tạo biểu tượng lịch sử, khắc phục tình trạng “hiện đại hóa” lịch sử
Trang 18+ Đồ dùng trực quan là chỗ dựa để hiểu sâu sắc bản chất của sự kiện lịch sử, nắm vững các quy luật phát triển của xã hội
Về thái độ: Cùng với việc trình bày miệng, các phương tiện trực quan góp phần
giáo dục tư tưởng, tình cảm cho học sinh
Về kỹ năng: Đồ dùng trực quan góp phần phát triển khả năng quan sát, tư duy
ngôn ngữ, trí tưởng tượng và khả năng thực hành của học sinh
Phải căn cứ vào yêu cầu giáo dưỡng, giáo dục của bài học để lựa chọn đồ dùng trực quan cho phù hợp Định rõ phương pháp thích hợp đối với việc sử dụng mỗi loại
đồ dùng trực quan Đảm bảo cho học sinh được sử dụng, tránh tình trạng chỉ xem cho biết mà không hiểu Khi sử dụng đồ dùng trực quan cần đi sâu phân tích bản chất sự kiện để tiếp thu và hiểu sâu kiến thức Đảm bảo việc kết hợp lời nói với việc trình bày
đồ dùng trực quan, đồng thời rèn khả năng thực hành của học sinh khi xây dựng và sử dụng đồ dùng trực quan (đắp sa bàn, vẽ lược đồ, tường thuật trên bản đồ…)
Phân loại đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử
a Đồ dùng trực quan hiện vật: Đó là những di tích lịch sử và cách mạng như Cây
đa Tân Trào, Số nhà 48 Hàng Ngang, Thành nhà Hồ… những di vật khảo cổ và di vật thuộc các thời kỳ lịch sử như: cọc gỗ ở sông Bạch Đằng, mảnh gốm, lưỡi cày đồng, trống đồng, v.v…
b Đồ dùng trực quan tạo hình gồm 3 loại:
+ Mô hình sa bàn, các đồ phục chế (sa bàn chiến dịch Điện Biên Phủ, Kim tự tháp…)
+ Hình vẽ, phim, ảnh lịch sử có giá trị như một tư liệu lịch sử như: Ảnh Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập, phim chiến thắng 30/4/1975, v.v…
+ Tranh ảnh, phim truyện lấy chủ đề về lịch sử như: chân dung các nhân vật lịch
sử, phim Sao tháng tám, Hoa Ban đỏ, v.v…
c Đồ dùng trực quan quy ước:
Trang 19Bao gồm: các loại bản đồ, đồ thị, sơ đồ niên biểu… Loại trực quan này không những tạo cho học sinh những hình ảnh tượng trưng để cụ thể hóa các sự kiện lịch sử
mà còn là cơ sở để hình thành khái niệm cho học sinh
1.2 Vai trò của hồ sơ tư liệu trong việc dạy học lịch sử ở trường THPT
Nhiệm vụ hàng đầu của bộ môn Lịch sử là cung cấp dần dần cho học sinh từ tuổi nhi đồng đến tuổi thanh niên một vốn hiểu biết cơ bản, phổ thông vững chắc về sự phát triển của lịch sử loài người và lịch sử dân tộc, làm cơ sở để rút ra những kết luận khoa học về các quy luật phát triển của xã hội, những bài học kinh nghiệm lịch sử bổ ích giúp cho học sinh nhận thức được một cách rõ ràng về xã hội loài người từ lúc xuất hiện cho tới ngày nay Việc giáo dục này phải trải qua một thời gian, phải kết hợp chặt chẽ giữa nắm vững kiến thức lịch sử và hoạt động thực tiễn
Xây dựng hồ sơ tư liệu phục vụ dạy học không chỉ giúp người thầy có thể truyền tải đầy đủ kiến thức cho học sinh mà còn phát huy tính chủ động, sáng tạo trong việc xây dựng nội dung, thiết kế bài giảng và hình thức thể hiện Có như vậy mới trang bị cho học sinh không những kiến thức mà còn là những lí tưởng cách mạng hay những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Từ đó tạo ra cho học sinh năng lực tư duy độc lập đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay của đất nước trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế
cao “Giảng dạy lịch sử không phải là chỉ truyền thụ cho học sinh những điều nằm
trong hồ sơ lưu trữ của nhân loại, nằm cứng đờ trong các ngăn kéo đầy bụi bặm của lịch sử như một đóa hoa khô không hương nằm ép giữa các trang của một tập bách thảo úa vàng” [29; tr.123], mà cần phải dựng lại quá khứ thành một bức tranh sinh
động để phục vụ người sống không chỉ hiện tại mà còn cả tương lai Có vậy học sinh mới có thể đi từ sự kiện, hiện tượng lịch sử để rút ra bản chất của vấn đề và những bài học kinh nghiệm thiết thực cho bản thân
Đối với giáo viên (GV), việc xây dựng hồ sơ tư liệu để phục vụ dạy học gồm nhiều thao tác, qua đó sẽ nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại, mặt khác sẽ nhanh chóng nắm bắt mức độ tiếp thu bài của học sinh (HS), từ đó có sự điều chỉnh trong phương pháp dạy học Trong bài giảng
sẽ có sử dụng thêm nhiều đoạn miêu tả, tường thuật hay những hình ảnh, âm thanh được truyền tải đến HS một cách nhanh chóng, chính xác, khoa học và sinh động
Trang 20Với những GV có biên soạn hồ sơ tư liệu để phục vụ dạy học sẽ góp phần bồi dưỡng, làm sâu sắc, phong phú, toàn diện tri thức lịch sử cho HS Thông qua bài giảng của GV, những văn bản, hình ảnh lịch sử sinh động, sẽ cuốn hút HS vào bài, giúp các
em lĩnh hội kiến thức nhiều hơn, dễ dàng và chủ động hơn
Thiết kế bài giảng dựa trên hồ sơ tư liệu mình đã xây dựng với những kiến thức, hình ảnh và tư liệu lịch sử sinh động sẽ có tác dụng rất lớn đối với việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ của HS Nếu như HS chỉ được đọc từ sách giáo khoa (SGK) thì sẽ không gây xúc động cho các em bằng việc trực tiếp nghe GV tường thuật, miêu tả lại một cách tường tận hay trực tiếp xem những hình ảnh thật trên màn
ảnh lớn và có sự thuyết minh của GV Bởi vì “Lời nói của giáo viên dù có sinh động
giàu hình tượng và chi tiết đến đâu cũng không thể đem lại cho các em hình ảnh thật
cụ thể, chính xác về hiện thực lịch sử” [26; tr.40] Từ đó sẽ bộc lộ mọi tâm tư, tình
cảm, thái độ yêu ghét ở các em Đó là nét đặc trưng giáo dục của bộ môn
Với hồ sơ tư liệu lịch sử đa dạng, phong phú các nguồn tư liệu sẽ giúp GV chủ động cung cấp cho HS những thông tin lịch sử dưới nhiều hình thức làm cho bài học thêm sinh động, hấp dẫn và gây hứng thú học tập bộ môn cho HS Cũng thông qua việc quan sát kênh hình (nghe - nhìn), HS sẽ phát triển trí nhớ, trí tưởng tượng, trên cơ sở
đó có khả năng phân tích so sánh các sự kiện, hiện tượng lịch sử và rút ra nhận xét… Quan trọng hơn là với việc sử dụng hồ sơ tư liệu phục vụ dạy học, GV ngày càng giúp
HS thêm say mê, hứng thú trong học tập, khắc phục quan niệm rằng Lịch sử là môn học thuộc bài, khô khan và khó nhớ
Như vậy, việc sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn
1945 - 1954 ở trường THPT (Chương trình chuẩn) là một phần tất yếu trong việc nâng cao trình độ nhận thức lịch sử cho học sinh, góp phần khôi phục lại hình ảnh quá khứ một cách chân thật Từ đó, phân tích, khái quát, giải thích các hiện tượng lịch sử, nêu quy luật rút ra bài học lịch sử góp phần bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, hoàn thiện nhân cách và phát triển tư duy Trên cơ sở đó phát huy được khả năng vận dụng kiến thức lịch sử vào cuộc sống của các em sau này, góp phần nâng cao chất lượng bộ môn và mục tiêu đào tạo của giáo dục Việt Nam
Trang 211.3 ơ sở thực tiễn
Sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học lịch sử có ý nghĩa lớn, nhưng thực tế, việc thực hiện như thế nào? Kết quả ra sao? còn phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể của nhà trường, trình độ, lòng say mê nghề nghiệp của giáo viên, thái độ và phương pháp học tập của học sinh
Để nắm được tình hình, có được nhận xét, đánh giá khách quan về nhận thức của giáo viên và học sinh trong việc sử dụng hồ sơ tư liệu vào việc giảng dạy lịch sử Việt Nam ở trường Trung học phổ thông, tôi đã tiến hành điều tra giáo viên dạy lịch sử và học sinh lớp 12 của hai trường Trung học phổ thông Thái Phiên và Thanh Khê thuộc địa bàn thành phố (TP.) Đà Nẵng
1.3.1 Mục đích, đối tượng đi u tra
- Mục đích: Điều tra thực tế để nắm rõ tình hình sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy
học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 ở trường Trung học phổ thông (Chương trình chuẩn), để từ đó lựa chọn tài liệu, đề xuất phương pháp sử dụng hợp lý
- Đối tượng điều tra: Giáo viên lịch sử và học sinh lớp 12, trường THPT Thái
Phiên và Thanh Khê
1.3.2 Phương pháp tiến h nh
Trực tiếp gặp gỡ và trao đổi với giáo viên và học sinh, sau đó phát phiếu điều tra thăm dò ý kiến (Phụ lục 3-4)
1.3.3 Nội dung đi u tra
- Đối với giáo viên: Tôi đưa ra một số câu hỏi trắc nghiệm khách quan để khảo
sát tìm hiểu xem trong quá trình giảng dạy giáo viên đã chú ý đến việc sử dụng hồ sơ
tư liệu hay chưa Nguyên nhân phải sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học? Tác dụng của việc sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học? Hiệu quả của việc sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học lịch sử nói chung và lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 nói riêng
- Đối với học sinh: Tôi đưa ra một số câu hỏi để học sinh phản ánh tình hình học
tập môn lịch sử, tình hình sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954
Trang 221.3.4 Kết quả đi u tra
- Đối với giáo viên:
Qua thực tế điều tra cũng như trao đổi với 10 giáo viên về việc sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học lịch sử là một điều mà lâu nay các giáo viên mong muốn hướng tới Hầu hết giáo viên nhận thức được mức độ cần thiết phải sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học lịch sử nói chung và lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 nói riêng Đa số giáo viên cũng nhận thức được rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của việc sử dụng hồ sơ tư liệu
Về tình hình sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945
- 1954 hiện nay ở trường Trung học phổ thông, có 2 giáo viên (20%) trả lời thường xuyên sử dụng hồ sơ tư liệu trong giờ giảng dạy lịch sử của mình Có 6 giáo viên (60%) thì thỉnh thoảng mới sử dụng hồ sơ tư liệu trong giờ dạy Và có 2 giáo viên (20%) thì không hề sử dụng hồ sơ tư liệu trong giờ dạy
Về nguyên nhân khiến giáo viên chưa quan tâm đến việc phải xây dựng hồ sơ tư liệu phục vụ dạy học lịch sử thì có 7 giáo viên (70%) tự nhận xét là do giáo viên chưa nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của việc xây dựng hồ sơ tư liệu dạy học Có 2 giáo viên (20%) cho rằng phương tiện, thiết bị dạy học của nhà trường còn thiếu thốn, lạc hậu nên không đáp ứng việc xây dựng hồ sơ tư liệu của giáo viên Và một giáo viên (10%) thì chưa quen với phương pháp dạy học tích cực nên chưa quan tâm đến việc xây dựng hồ sơ tư liệu
Tuy nhiên 100% giáo viên đều đồng ý rằng lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 -
1954 cần phải xây dựng hồ sơ tư liệu để phục vụ dạy học ở trường THPT là cần thiết
Về phương pháp sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học lịch sử dân tộc, có 2 giáo viên (20%) sử dụng tư liệu bằng phương pháp thuyết trình kết hợp nêu vấn đề để tái tạo kiến thức lịch sử, giải thích một sự kiện lịch sử Có 5 giáo viên (50%) sử dụng hồ sơ tư liệu bằng cách sử dụng câu hỏi, bài tập nhận thức để rút ra nguyên nhân, ý nghĩa lịch
sử, bài học kinh nghiệm và 2 giáo viên (20%) sử dụng đồ dùng trực quan, một giáo
Trang 23viên (10%) sử dụng phương tiện dạy học hiện đại để nâng cao năng lực tư duy, sự hứng thú trong học tập lịch sử cho học sinh
Việc sử dụng hồ sơ tư liệu nhằm góp phần nâng cao chất lượng bài học, hiệu quả học tập ở trường THPT được 7 giáo viên (70%) đồng ý Ngoài ra, một giáo viên (10%) cho rằng kiến thức lịch sử phong phú, đa dạng nên cần phải thống kê, biên tập lại theo từng nội dung, từng giai đoạn để phù hợp với bài học, và cần có hồ sơ tư liệu để phục
vụ việc dạy học từng bài Và có 2 giáo viên (20%) cho rằng xây dựng hồ sơ tư liệu để giáo viên có những phương pháp dạy học phù hợp với đặc trưng bộ môn
Như vậy, các giáo viên ở trường Trung học phổ thông đều nhận thấy được tác dụng, ý nghĩa của việc sử dụng hồ sơ tư liệu trong giờ dạy học lịch sử nói chung và lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 nói riêng Tuy nhiên, do đặc điểm, điều kiện cụ thể của từng trường, từng lớp, từng giáo viên mà việc sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học lịch sử chưa được tiến hành một cách rộng rãi, với những phương pháp phù hợp để đưa lại hiệu quả cao
- Đối với học sinh:
Qua điều tra 240 học sinh lớp 12, cho thấy:
Khi hỏi học sinh có hứng thú học môn lịch sử không, có 26 học sinh (8,9%) trả lời
là không, có 110 học sinh (45,8%) trả lời là bình thường, số học sinh này cho rằng kiến thức Lịch sử trừu tượng, khô khan, quá nhiều sự kiện, giáo viên giảng bài không hấp dẫn, sinh động; trang thiết bị dạy học môn lịch sử không đầy đủ; việc ghi nhớ các sự kiện lịch sử còn khó khăn nên học không có hiệu quả, trong số này cho rằng học lịch sử chỉ để được tốt nghiệp, thi đại học Có 110 học sinh (45,8%) trả lời là có hứng thú học lịch sử và 32 học sinh (13,3%) trả lời là rất hứng thú, đặc biệt là lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 Số học sinh này cho rằng học lịch sử rất quan trọng, nó giúp cho em hiểu hơn về lịch sử dân tộc và thế giới, đặc biệt là các em rất thích học lịch sử dân tộc Học lịch sử dân tộc giúp các em biết được những trang sử hào hùng của dân tộc, biết đến công lao của cha ông, qua đó thấy được truyền thống yêu nước và ý thức dân tộc Học lịch sử sẽ giúp các em yêu dân tộc Việt Nam hơn như Bác Hồ đã từng nói:
Trang 24“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Khi hỏi học sinh là trong dạy học thì giáo viên có sử dụng hồ sơ tư liệu không, hơn 90% học sinh trả lời có, nhưng thỉnh thoảng và tùy thuộc vào nội dung bài học lịch
sử Các em cũng cho rằng, việc giáo viên sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học làm cho các em cảm thấy có hứng thú học tập hơn, nhớ sâu hơn các sự kiện, nâng cao hiệu quả bài học hơn
Khi hỏi, việc sử dụng hồ sơ tư liệu có làm tăng sự hứng thú của các em đối với môn lịch sử không thì 100% đều trả lời có Và mức độ nắm bài của các em khi được học bằng các bài giảng có kết hợp sử dụng tư liệu là 100%, trong đó 71,4% là nắm rất chắc và 26,6% thì nắm tương đôi
Như vậy, qua công tác điều tra và xử lí số liệu, chúng tôi đã rút ra một số kết luận khái quát sau:
- Một là, việc sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng ở trường Trung học phổ thông đã có nhiều giáo viên nhận thức đúng tầm quan trọng của nó, song thực hiện yêu cầu này trong thực tiễn dạy học hiệu quả vẫn chưa cao, từ đó chưa phát huy được tính tích cực học tập của học sinh Khi điều tra, chúng tôi thấy có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, trong đó nguyên nhân cơ bản thuộc về cả người dạy lẫn người học Về phía người dạy chưa thực sự đổi mới về phương pháp dạy học, nhất là chưa sử dụng hồ sơ tư liệu có hiệu quả Về phía người học chưa thật sự hứng thú học tập lịch sử, đặc biệt chưa biết cách chủ động tiếp nhận kiến thức lịch sử
- Hai là, để khắc phục được tình trạng đó cần phải tiến hành đổi mới phương pháp dạy học lịch sử Trong quá trình đổi mới đó việc sử dụng hồ sơ tư liệu có một ý nghĩa quan trọng vì nó góp phần thay đổi về chất của quá trình dạy học lịch sử
- Ba là, việc sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học lịch sử phải được tiến hành đồng
bộ, toàn diện và hữu hiệu Trong đó thầy phải chủ động sử dụng hồ sơ tư liệu Trò phải tích cực hoạt động quan sát, phân tích , tổng hợp, và trả lời các câu hỏi do thầy đưa ra theo sự hướng dẫn gợi mở của thầy Muốn vậy trò phải rèn luyện các thao tác tư duy độc lập, sáng tạo
Trang 25- Bốn là, để thực hiện có hiệu quả việc sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 ở trường Trung học phổ phông (Chương trình Chuẩn), nhà trường phải cung cấp tài liệu tham khảo, tổ chức tập huấn về chuyên đề này, tăng thêm sự hiểu biết về hồ sơ tư liệu cũng như phương pháp sử dụng chúng Đồng thời, cho học sinh làm quen dần việc học lịch sử qua việc sử dụng hồ sơ tư liệu nhằm tăng
sự hứng thú tích cực, chủ động, sáng tạo của các em trong học tập lịch sử
Trang 26hương 2: Ệ Ố Ư ỆU ƯỢ Ử DỤ D Y CH
Ử V Ệ 1945 - 1954 Ở ƯỜ ( ƯƠ Ì
UẨ )
2.1 ội dung chương trình chính lịch sử Việt am giai đoạn 1945 - 1954
Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 là giai đoạn quan trọng trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc Đây là thời kì lịch sử mà nhân dân ta phải đương đầu với những thách thức cực kì nghiêm trọng Sau Cách mạng tháng Tám, nào là thù trong, giặc ngoài hùa với nhau để phá hoại chính quyền cách mạng còn non trẻ, giặc đói, giặc dốt khiến nước ta ngày càng khó khăn Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta lần lượt vượt qua những khó khăn, thử thách
Về kinh tế - tài chính, trong kháng chiến, nhân dân ta vừa ra sức phá hoại kinh tế
địch, đánh bại âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của chúng, vừa đẩy mạnh xây dựng kinh tế của ta, làm cho nền kinh tế của ta có khả năng tự cấp, tự túc
Chính phủ đã đề ra nhiều chính sách về kinh tế - tài chính nhằm phát triển sản xuất, huy động sự đóng góp của nhân dân cho kháng chiến, phục vụ đời sống Đồng thời, Chính phủ còn lo bồi dưỡng sức dân như: phát triển kinh tế nông nghiệp, giảm tô, giảm tức đi đến cải cách ruộng đất, phát triển công nghiệp vừa phục vụ dân sinh, vừa phục vụ quốc phòng
Về văn hóa - giáo dục, y tế: Tiếp tục mở rộng phong trào “Bình dân học vụ”, xóa
mù chữ, mở rộng phong trào “Bổ túc văn hóa”, nâng cao trình độ văn hóa của cán bộ
và nhân dân Mở trường phổ thông các cấp ở vùng tự do, các căn cứ kháng chiến cho con em lao động Tiến hành cải cách giáo dục (1950) để đào tạo các thế hệ đi theo đường lối giáo dục của Đảng Đẩy mạnh công tác phòng bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân
Trang 27Về chính trị, Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện chủ trương mềm dẻo về sách lược nhưng giữ vững nguyên tắc chiến lược để chống thù trong giặc ngoài đưa đất nước ta vượt qua tình thế khó khăn như “ngàn cân treo sợi tóc”
Mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (19/12/1946), quân dân ta chủ động tiến công Pháp ở thủ đô Hà Nội và các đô thị khác ở phía Bắc (từ Đà Nẵng trở ra) nhằm tiêu hao sinh lực địch, giam chân địch, phá tan âm mưu “đánh úp” của chúng, chuyển đất nước sang thời chiến, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài, toàn dân, toàn diện
Chiến dịch Việt Bắc thu - đông năm 1947 là chiến dịch phản công lớn đầu tiên của ta giành thắng lợi Trong những năm 1948 - 1949, ta phân tán phần lớn bộ đội chủ lực chính quy thành những “đại đội độc lập” đi sâu vào vùng địch tạm chiếm, giúp địa phương xây dựng cơ sở kháng chiến, tổ chức lực lượng vũ trang với ba thứ quân, phát động chiến tranh du kích, biến hậu phương của địch thành tiền phương của ta
Từ đầu năm 1950, Chính phủ ta lần lượt được Chính phủ các nước công nhận và đặt quan hệ ngoại giao, đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ nhân dân ta kháng chiến, tiếp sau Trung Quốc (18/1/1950), Liên Xô (31/1/1950) là các nước dân chủ nhân dân khác Chiến dịch Biên giới thu - đông năm 1950 là chiến dịch tiến công lớn đầu tiên của quân dân ta giành được thắng lợi
Sau chiến dịch Biên giới thu - đông năm 1950, quân ta mở liên tiếp những đợt tiến công vào quân địch ở chiến trường rừng núi, cả các chiến trường trung du và đồng bằng nhằm phá tan âm mưu đẩy mạnh chiến tranh của thực dân Pháp, sự can thiệp của
Mĩ, giữ vững thế chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ
Tháng 2 - 1951, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ hai đã hoàn thiện đường lối kháng chiến và đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi
Tháng 3 - 1951, Mặt trận Liên Việt ra đời trên cơ sở sát nhập hai tổ chức Mặt trận Việt Minh và Hội quốc dân Việt Nam đã làm cho khối đoàn kết dân tộc được tăng cường
Trang 28Nhân dân ba nước trên bán đảo Đông Dương thắt chặt tình đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương họp ngày 13/3/1951, thành lập liên minh Việt - Miên - Lào Chúng ta còn tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới, đặc biệt là nhân dân Pháp
Thắng lợi lớn nhất là chiến cuộc Đông - Xuân năm 1953 - 1954, mà đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (từ 13/3/1954 đến 7/5/1954) đã giành được thắng lợi hoàn toàn Chiến thắng quyết định này đã chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp có đế quốc Mĩ giúp sức
Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ cùng với sự ủng hộ của nhân dân thế giới
đã buộc thực dân Pháp phải kí Hiệp định Giơnevơ về việc lập lại hòa bình ở Đông Dương
Từ những nội dung chính về lịch sử Việt Nam trong giai đoạn 1945 - 1954 nêu trên giúp tôi có thể tiến hành xây dựng hồ sơ tư liệu để phục vụ công tác dạy học Lịch
sử ở trường phổ thông
2.2 guyên tắc khi lựa chọn tư liệu phục vụ dạy học ịch sử Việt am giai đoạn
1945 – 1954 ở trường
Như vậy, một cơ sở tư liệu đầy đủ không phụ thuộc vào số lượng nhiều hay ít các
tư liệu mà phải là một tập hợp tư liệu, có thể cho ta:
1) Toàn bộ sự kiện
2) Các sự kiện đó phải được sắp xếp trong mối quan hệ phụ thuộc khách quan của chúng, mà trước hết là các mối liên hệ di truyền, nhân quả và cơ cấu của chúng Sau khi đã có được một cơ sở tư liệu đầy đủ, người giáo viên phải tiến hành phân loại tư liệu để chuẩn bị cho các bước chọn lọc và sử dụng Vì trong dạy học không thể
sử dụng một loại tư liệu mà sử dụng nhiều đồng thời nhiều loại tư liệu với nội dung, tính chất khác nhau, với ý nghĩa và vị trí của mỗi loại khác nhau Vì thế, việc phân loại
tư liệu trong dạy học không thể tiến hành chỉ theo một dấu hiệu cơ bản nào đó, mà còn phải dựa vào một tập hợp nhiều dấu hiệu quan trọng khác nữa Đối với từng vấn đề nhất định, giáo viên có thể chọn ra những dấu hiệu quan trọng và phù hợp hơn cả để
Trang 29làm tiêu chuẩn phân loại Ví dụ có thể phân theo xuất xứ, theo thể loại, theo tính chất, theo dạng hay theo nội dung của tư liệu Sơ đồ phân loại nói chung được hình thành có tính chất kinh nghiệm ở người giáo viên Khi xác định vấn đề, người giáo viên đã phác thảo được những nhóm tài liệu nào cần được sưu tầm, những tài liệu nào ở nhóm nào v.v… và sự phác thảo ấy luôn phù hợp với quan điểm và logic của việc dạy hoc Nhờ
có sơ đồ phân loại đó, việc tìm kiếm, chọn lọc và khai thác tư liệu được dễ dàng hơn Trong quá trình sưu tầm và phân loại tư liệu, giáo viên đã có thể biết một cách sơ
bộ những tư liệu nào cần được chọn lọc Nói cách khác, việc chọn lọc tư liệu được thực hiện ngay từ bước sưu tầm và phân loại tư liệu Việc chọn lọc này cần đáp ứng hai nhu cầu cơ bản:
1) Tạo ra được một khối tư liệu có thể phản ánh các sự kiện đại diện cho toàn bộ nguồn tư liệu
2) Phải chọn lọc được các tư liệu cho các sự kiện điển hình
Vậy thế nào là khối tư liệu đại diện và khối tư liệu điển hình? Điển hình là phạm trù để chỉ những cái gì tồn tại có tính chất quy luật được phổ biến rộng rãi hoặc những cái gì mới nảy sinh nhưng tương lai sẽ phát triển mạnh và trở thành quy luật Khối tư liệu đại diện là khối tư liệu phải phản ánh được những xu thế, quá trình chung của các hiện tượng trong toàn bộ nguồn tư liệu không tổng hợp
Lịch sử quá khứ bao trùm nhiều mặt hoạt động xã hội, vì dạy học lịch sử cần phải
sử dụng nhiều loại tư liệu khác nhau, nhưng phải chọn loại tư liệu tương đối đầy đủ, chính xác Tức là nội dung các tư liệu phải phù hợp với hiện thực khách quan Tư liệu lịch sử giữ một vai trò quan trọng trong quá trình nhận thức của học sinh, vì vậy, muốn
có tư liệu tốt cho việc dạy học thì phải tiến hành sưu tầm, chọn lựa một cách khoa học, nghiêm chỉnh
Trang 302.3 ệ thống tư liệu phục vụ dạy học ịch sử Việt am giai đoạn 1945 - 1954 ( hương trình chuẩn)
oạn trích
V được sử dụng
D Q cần sử dụng
+ Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam, quân Anh tạo điều kiện cho thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta
- Chính quyền cách mạng vừa mới thành lập, còn non yếu, chưa được củng cố
- Khó khăn về kinh tế, tài chính, văn hóa
Đất nước đứng trước tình thế
“ngàn cân treo sợi tóc”
* Thuận lợi: Là cơ bản
- Trong nước
- Trên thế giới
“Tưởng vào Việt Nam… quân đội phản động nước ngoài.”
(Xem phiếu tư liệu số 1)
“Nền kinh tế của đất nước… hàng hóa khan hiếm…”
(Xem phiếu tư liệu số 2)
“Khi nạn đói mới bắt đầu… sống
nhục…”
(Xem phiếu tư liệu số 3)
Sơ đồ tóm tắt tình hình nước
II Bước đầu - Chính phủ lâm thời tuyên bố “Hỡi quốc dân Hình ảnh (Phụ
Trang 31lệnh tổng tuyển cử trong cả nước
- Ngày 6/1/1946, hơn 90% cử tri
đã đi bầu 333 đại biểu vào Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
- Ngày 2/3/1946, Quốc hội thông qua danh sách Chính phủ liên hiệp kháng chiến
- Ngày 9/11/1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) được Quốc hội thông qua
- Lực lượng vũ trang được xây dựng và phát triển
Việt Nam… thùng
liêng”
(Xem phiếu tƣ liệu số 4)
“Ngày 6/1/1946…
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”
(Xem phiếu tƣ liệu số 5)
để lấy gạo cứu đói, không dùng lương thực để nấu rượu
- Biện pháp lâu dài: toàn dân thi đua hăng hái tham gia sản xuất
bãi bỏ thuế thân và các thứ thuế
vô lí khác, giảm tô 25%, chia lại ruộng đất công một cách công
“Hỡi đồng bào…
đồng bào”
(Xem phiếu tƣ liệu số 6)
“Câu tục ngữ…
Tiến lên!”
(Xem phiếu tƣ liệu số 7)
Hình ảnh (Phụ lục 8)
Trang 32bằng
3 iải quyết
nạn dốt
- Ngày 8/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh thành lập Nha bình dân học vụ
Kết quả: Chỉ sau 1 năm trên toàn quốc đã tổ chức gần 76.000 lớp học và có trên 2,5 triệu người thoát nạn mù chữ Hệ thống trường học được mở rộng Nội dung và phương pháp giáo dục đổi mới theo tinh thần dân tộc, dân chủ
“Quốc dân Việt Nam… giúp sức”
(Xem phiếu tƣ liệu số 8)
Hình ảnh (Phụ lục 8)
4 iải quyết
khó khăn về
tài chính
- Chính phủ phát động quyên góp, thực hiện “Tuần lễ vàng”, xây dựng “Quỹ độc lập”
- Ngày 23/11/1946, tại kì họp thứ 2 của Quốc hội quyết định lưu hành tiền Việt Nam trong cả nước
“Ngày 4/9/1946…
370 kg vàng”
(Xem phiếu tƣ liệu số 9)
Hình ảnh (Phụ lục 8)
- Quân dân Sài Gòn - Chợ Lớn cùng quân dân Nam Bộ đứng lên kháng chiến
- Trung ương Đảng, Chính phủ
23/9/1945… còn của đất nước”
(Xem phiếu tƣ liệu số 10)
người miền Bắc…
trong đời sống
Hình ảnh (Phụ lục 8)
Trang 33- Các đoàn quân “Nam tiến” sát cánh cùng nhân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ kháng chiến.
dân tộc”
(Xem phiếu tƣ liệu số 11)
+ Ta nhân nhượng cho chúng một
số quyền lợi về kinh tế, chính trị
+ Vạch trần âm mưu và hành động chia rẽ, phá hoại của các thế lực phản động.
10/1945… ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh để đón tiếp”
(Xem phiếu tƣ liệu số 12)
+ Hiệp ước Hoa - Pháp (tháng 2/1946) được kí kết
“Lễ kí kết… công hãy còn xa”
(Xem phiếu tƣ liệu số 14)
Hình ảnh (Phụ lục 8)
Trang 34phó một lúc với nhiều kẻ thù, Ban Thường vụ Trung ương Đảng chọn giải Pháp “Hoà để tiến”
+ Ngày 6/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kí với G Xanhtơni, đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định sơ bộ + Ngày 14/9/1946, Hồ Chí Minh
kí với chính phủ Pháp bản Tạm ước, nhân nhượng thêm cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế và văn hoá
“Ngày 6/3/1946…
có tinh thần tự do mới”
(Xem phiếu tƣ liệu số 15)
“Cuộc tiếp xúc…
hoạt động võ lực”
(Xem phiếu tƣ liệu số 16)
+ Ở Bắc Bộ, tháng 11/1946, quân Pháp tiến công ở Hải Phòng, Lạng Sơn
+ Tháng 12 - 1946, Pháp gây hấn
ở Hà Nội
+ Ngày 18/12/1946, quân Pháp gửi tối hậu thư đòi giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu, để cho Pháp làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự
“Ngày 15 tháng Chạp… của quân Pháp ở Hà Nội”
(Xem phiếu tƣ liệu số 17)
“Hỡi quốc dân đồng bào… Hồ Chủ tịch muôn năm”
(Xem phiếu tƣ liệu số 18)
Bảng so sánh nội dung Hiệp định Sơ bộ với Tạm ước
(Xem Phụ lục
2 - P.3)
Hình ảnh (Phụ lục 8)
Trang 35nước ta ở Hà Nội, nếu không chúng sẽ
giành toàn quyền hành động vào sáng ngày 20/12/1946
9/1947)
“Một tối mùa đông, lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến… Người lên đường đi kháng chiến”
(Xem phiếu tư liệu số 19)
Hình ảnh (Phụ lục 8)
II uộc chiến
+ Nhân dân khiêng bàn ghế, tủ…
làm chướng ngại vật trên đường phố
+ Trung đoàn thủ đô được thành lập, đánh địch quyết liệt ở Bắc Bộ Phủ, Chợ Đồng Xuân
+ Ngày 17/2/1947, quân ta rút ra khỏi vòng vây của địch, ra căn cứ
an toàn
- Quân dân các đô thị ở Bắc vĩ
19/12/1946, hiệu lệnh chiến đấu ở
Hà Nội… xác lính Pháp chết gục ở đầy đường phố”
(Xem phiếu tư liệu số 20)
Pháp… có thể biết được”
(Xem phiếu tư liệu số 21)
Niên biểu cuộc chiến đấu ở Thủ đô Hà Nội
(Xem Phụ lục
2 - P.4)
Hình ảnh (Phụ lục 8)
Trang 36tuyến 16 kiên cường chiến đấu, gây nhiều khó khăn cho địch
Tạo điều kiện cho cả nước đi vào cuộc kháng chiến lâu dài
- Về phía ta: Trung ương Đảng ra chỉ thị: “phải phá tan cuộc tiến công mùa đông của giặc Pháp”
+ Làm thất bại hoàn toàn chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của giặc Pháp, buộc chúng phải chuyển sang đánh lâu dài
“Sáng sớm… ở phía Tây”
(Xem phiếu tƣ liệu số 22)
trên mặt nước”
(Xem phiếu tƣ liệu số 23)
“Con đường… khí cướp được”
(Xem phiếu tƣ liệu số 24)
“Từ ngày đầu…
không có thoái”
(Xem phiếu tƣ liệu số 25)
Lược đồ chiến dịch Việt Bắc Thu - đông năm 1947
(Xem Phụ lục
2 - P.5)
Hình ảnh (Phụ lục 8)
2 ẩy mạnh - Hướng dẫn HS đọc thêm
Trang 37ta
- Khó khăn: Chính phủ Pháp đề
ra kế hoạch Rơve và Mỹ “dính líu” trực tiếp vào cuộc chiến tranh ở Đông Dương Pháp chuẩn
bị tiến công Việt Bắc lần thứ 2
Hình ảnh (Phụ lục 8)
- Diễn biến:
- Kết quả: Loại khỏi vòng chiến đấu hơn 8.000 quân địch Giải phóng vùng biên giới Việt - Trung, chọc thủng hành lang Đông - Tây Kế hoạch Rơve bị
cùng Ban chỉ huy mặt trận… tin
thắng lợi”
(Xem phiếu tƣ liệu số 26)
“Tên quan Lơ - pa
- giơ nhìn ra những đợt tiến công của ta… thì thuyết phục sao được”
(Xem phiếu tƣ
Lược đồ chiến dịch Biên giới thu - đông năm
Trang 38- Tháng 9 - 1951 Mĩ kí với Bảo Đại Hiệp ước hợp tác kinh tế Việt
- Mĩ
- Mĩ nhằm trực tiếp rang buộc
Chính phủ đông Dương vào Mỹ
“Hỏi: Xin thưa
biết… chống sự mạnh hơn”
(Xem phiếu tƣ liệu số 28)
Hình ảnh (Phụ lục 8)
2 ế hoạch
ờlát đơ
Tátxinhi
- Dựa vào Mĩ cuối 1950 Pháp đề
ra kế hoạch Đờlát đơ Tátxinhi với mong muốn kết thúc chiến tranh:
- Nội dung kế hoạch gồm có 4
điểm
Hình ảnh (Phụ lục 8)
II ại hội đại
biểu toàn quốc
- Thời gian: từ ngày 11 đến ngày 19/2/1951 tại xã Vinh Quang
động… tiến tới
Bảng tóm tắt nội dung Đại
Trang 39+ Thông qua báo cáo “Bàn về cách mạng Việt Nam”, do Tổng
bí thư Trường Chinh trình bày
+ Đổi tên Đảng thành Đảng Lao động Việt Nam và đưa Đảng ra hoạt động công khai
+ Thông qua Tuyên ngôn, Chính cương, Điều lệ mới
+ Bầu ra Ban chấp hành Trung ương Đảng và Bộ chính trị
- Ý nghĩa: Là “Đại hội kháng
chiến thắng lợi”
CNXH”
(Xem phiếu tƣ liệu số 29)
- Liên minh nhân dân Việt - Miên
Trang 40b)Về Kinh tế:
Phát triển nông nghiệp, thương nghiệp, thủ công nghiệp,… Giảm
tô, cải cách ruộng đất
c) Văn hoá, giáo dục, y tế: Được
+ Pháp và Mĩ đã thoã thuận đưa
ra kế hoạch quân sự mới, Kế hoạch Nava (5/1953)
- Nội dung kế hoạch: gồm 2
bước
“Giới thiệu về Nava…”
(Xem phiếu tƣ liệu số 30)
Hình ảnh (Phụ lục 8)
II uộc tiến