1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng hệ thống bài tập đánh giá khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động tạo hình

170 237 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 3,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

75 Bảng 3.2: Đánh giá GV về mức độ quan trọng của các bước trong quá trình tổ chức hoạt động tạo hình nhằm phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ .... Trong đó hoạt động tạo hình được xem

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Phạm vi nghiên cứu 5

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 5

6 Giả thuyết khoa học 6

7 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

8 Phương pháp nghiên cứu 6

9 Những đóng góp của đề tài nghiên cứu 7

10 Cấu trúc của đề tài 7

NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG SÁNG TẠO THAM GIA HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH CỦA TRẺ 5 – 6 TUỔI 8

1.1 Một số lý luận về sáng tạo 8

1.1.1 Khái niệm về sáng tạo 8

1.1.2 Bản chất và cấu trúc tâm lí của sáng tạo 10

1.1.3 Cơ chế tâm lí của sáng tạo 14

1.1.4 Chủ thể sáng tạo và những phẩm chất của người sáng tạo 17

1.1.5 Một số năng lực sáng tạo chủ yếu 20

1.1.6 Các tiêu chí và cấp độ của sáng tạo 22

1.1.7 Điều kiện của sáng tạo 23

1.1.8 Phương pháp đo đạc đánh giá sáng tạo 27

1.2 Khả năng sáng tạo của trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động tạo hình 34

1.2.1 Khái quát chung về hoạt động tạo hình 34

1.2.2 Đặc điểm sáng tạo của trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động tạo hình 38

1.2.3 Vai trò của hoạt động tạo hình đối với sự phát triển khả năng sáng tạo của trẻ 5 – 6 tuổi 41

1.2.4 Mối quan hệ giữa tính sáng tạo với các yếu tố tâm lý khác 43

Trang 3

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 45

CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÁC BÀI TẬP ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SÁNG TẠO CỦA TRẺ MGL 5 – 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH 47

2.1 Khái niệm hệ thống bài tập đánh giá khả năng sáng tạo của trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động tạo hình 47

2.2 Cơ sở xây dựng hệ thống bài tập đánh giá khả năng sáng tạo của trẻ MG 5 – 6 tuổi khi tham gia hoạt động tạo hình 48

2.2.1 Dựa vào các khái niệm công cụ 48

2.2.2 Dựa vào đặc điểm phát triển khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở trường MN 49

2.2.3 Dựa vào đặc điểm tâm sinh lý, các biểu hiện sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong HĐTH: 49

2.2.4 Dựa vào chương trình giáo dục mầm non mới và mục tiêu của hoạt động tạo hình 50

2.2.5 Hướng đến việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy – học ở trường mầm non 51

2.2.6 Việc sử dụng hệ thống các bài tập đánh giá khả năng sáng tạo của trẻ MG 5 – 6 tuổi khi tham gia hoạt động tạo hình 51

2.3 Các yêu cầu của việc xây dựng hệ thống bài tập đánh giá khả năng sáng tạo của trẻ MG 5 – 6 tuổi khi tham gia hoạt động tạo hình 52

2.3.1 Hệ thống bài tập phải góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục 52

2.3.2 Hệ thống bài tập phải đảm bảo chính xác, khoa học 52

2.3.3 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính hệ thống, tính đa dạng 52

2.3.4 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính phân tích hóa, tính vừa sức 53

2.4 Xây dựng hệ thống bài tập đánh giá khả năng sáng tạo của trẻ MGL 5 – 6 tuổi trong hoạt động tạo hình 54

2.4.1 Bài tập đánh giá khả năng sáng tạo của trẻ dựa trên bộ test Klaus K.Urban 54 2.4.2 Bài tập đánh giá khả năng sáng tạo của trẻ dựa theo Test Torran (5 hình vẽ) 58 2.4.3 Đánh giá khả năng sáng tạo của trẻ 5 – 6 tuổi trong HĐTH thông qua bài tập sử dụng lời nói và hình ảnh trực quan 61

Trang 4

2.4.4 Bài tập đánh giá khả năng sáng tạo của trẻ thông qua việc tạo ra sản phẩm tạo

hình từ các nguyên vật liệu thiên nhiên 65

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 69

CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG SÁNG TẠO CỦA TRẺ 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA VIỆC SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRONG HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH Ở TRƯỜNG MẦM NON 72

3.1 Mục đích nghiên cứu của thực trạng 72

3.2 Vài nét về trường mầm non 72

3.2.1 Trường mầm non Tuổi Thơ 72

3.2.2 Trường Mầm non Dạ Lan Hương 72

3.3 Thời gian khảo sát thực trạng 74

3.4 Nội dung nghiên cứu 74

3.5 Phương pháp nghiên cứu 74

3.5.1 Quan sát sư phạm 74

3.5.2 Điều tra bằng Anket 74

3.5.3 Đàm thoại 74

3.5.4 Thu thập, nghiên cứu, phân tích kế hoạch tổ chức hoạt động tạo hình 74

3.5.5 Xử lý số liệu bằng toán thống kê 74

3.5.6 Phương pháp đánh giá kết quả 74

3.6 Kết quả điều tra 75

3.6.1 Tìm hiểu nhận thức của giáo viên về việc đánh giá khả năng sáng tạo tham gia hoạt động tạo hình của trẻ MG 5 – 6 tuổi 75

3.6.2 Thực trạng việc sử dụng các bài tập đánh giá khả năng sáng tạo của trẻ MG 5 – 6 tuổi khi tham gia hoạt động tạo hình ở trường mầm non 84

3.6.3 Tìm hiểu mức độ sáng tạo của trẻ 5 – 6tuổi khi tham gia hoạt động tạo hình ở trường mầm non 85

3.7 Đề xuất một số biện pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ 5 - 6 tuổi trong hoạt động tạo hình 102

3.7.1 Tổ chức hoạt động trải nghiệm tạo hình với nguyên vật liệu thiên nhiên giúp trẻ biết tự lực tìm kiếm và thể hiện nội dung tạo hình 102

Trang 5

3.7.2 Xây dựng môi trường kích thích hứng thú và nhu cầu sáng tạo của trẻ 5 – 6

tuổi trong HĐTH 107

3.7.3 Sử dụng lời nói và hình ảnh trực quan tác động kích thích trí tưởng tượng sáng tạo của trẻ 5 – 6 tuổi trong HĐTH 110

3.7.4 Tăng cường các hoạt động cho trẻ làm quen với các tác phẩm nghệ thuật tạo hình nhằm phát triển khả năng tri giác và cảm thụ thẩm mĩ cho trẻ 115

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 119

KẾT LUẬN 122

1 Kết luận 122

2 Kiến nghị sư phạm 123

TÀI LIỆU THAM KHẢO 125 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 3.1: Đánh giá của GV về các hoạt động mà trẻ MG 5 – 6 tuổi thể hiện khả

năng sáng tạo 75 Bảng 3.2: Đánh giá GV về mức độ quan trọng của các bước trong quá trình tổ

chức hoạt động tạo hình nhằm phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ 76 Bảng 3.3 Các biện pháp GV sử dụng để phát triển khả năng sáng tạo của trẻ mẫu

giáo 5 – 6 tuổi trong HĐTH 77 Bảng 3.4: Nhận thức của giáo viên về vai trò của việc đánh giá khả năng sáng tạo

trong hoạt động tạo hình của trẻ 78 Bảng 3.5 Đánh giá của giáo viên về mức độ khả năng sáng tạo trẻ MG 5 – 6 tuổi

trong HĐTH ở trường mầm non 78 Bảng 3.6 Các hoạt động được giáo viên tổ chức nhằm phát triển khả năng sáng tạo

của trẻ trong hoạt động tạo hình 79 Bảng 3.7 Các tiêu chí để giáo viên đánh giá khả năng sáng tạo của trẻ trong HĐTH 80 Bảng 3.8 Hoạt động mà giáo viên cho rằng trẻ thể hiện khả năng sáng tạo nhất

trong hoạt động tạo hình 81 Bảng 3.9 Đánh giá của giáo viên về những yếu tố tác động đến khả năng sáng tạo

của trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động tạo hình 82 Bảng 3.10: Đánh giá của GV về những yếu tố khi tổ chức hoạt động tạo hình sẽ

gây hạn chế đến khả năng sáng tạo của trẻ 5 – 6 tuổi 83 Bảng 3.11.Đánh giá giáo viên trong việc sử dụng các bài tập để đánh giá khả năng

sáng tạo của trẻ trong HĐTH 84 Bảng 3.12.GV gặp khó khăn khi sử dụng bài tập đánh giá khả năng sáng tạo của trẻ

trong quá trình tổ chức HĐTH cho trẻ 5 – 6 tuổi 85 Bảng 3.13: Thực trạng về khả năng sáng tạo của trẻ 95 Bảng 3.14: Thực trạng khả năng sáng tạo của trẻ 5 – 6 tuổi ở từng tiêu chí 96 Biểu đồ 3.1 Mức độ khả năng sáng tạo của trẻ dựa trên bộ Test Klaus K.Urban 87 Biểu đồ 3.2 Mức độ khả năng sáng tạo của trẻ dựa trên bộ Test Torrance 92 Biểu đồ 3.3 Mức độ khả năng sáng tạo của trẻ thông qua các bài tập sử dụng

NVLTN kếp hợp với lời nói và hình ảnh trực quan 95 Biểu đồ 3.4 Biểu đồ đánh giá khả năng sáng tạo của trẻ qua hệ thống các bài tập102

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục mầm non (GDMN) là khâu đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là bậc học đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách con người mới Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Việc chăm sóc - giáo dục trẻ em ngay từ những tháng năm đầu tiên của cuộc đời là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp chăm lo đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những con người tương lai của đất nước Vì thế, giáo dục trẻ ở lứa tuổi mầm non vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của mỗi con người đối với xã hội, đối với cộng đồng

Đa số chúng ta đều được sinh ra với ít nhiều tiềm năng sáng tạo Nếu được khuyến khích và giáo dục ngay từ nhỏ trong môi trường cởi mở, tiềm năng này mới

có thể trở thành năng lực thực sự trong cuộc sống và là tiền đề để giúp trẻ có những bước tiến cũng như suy nghĩ mang tính đột phá, khác biệt sau này Vì thế với trẻ mầm non, khả năng sáng tạo cần được hình thành và nuôi dưỡng từ nhỏ Ở trường mầm non luôn tổ chức các hoạt động một cách phong phú, đa dạng và hấp dẫn Trong đó hoạt động tạo hình được xem là hoạt động có sức hút lớn đối với trẻ, là hoạt động nhận thức đặc biệt mang tính sáng tạo, góp phần quan trọng vào sự phát triển toàn diện nhân cách trẻ.Đặc biệt là về sự phát triển nhận thức của trẻ, đây được coi là một trong những hoạt động tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển khả năng sáng tạo của trẻ ở trường mầm non

Mặt khác, độ tuổi mẫu giáo lớn trẻ đã thể hiện tính tự lực, tự do và chủ động Trẻ đã biết thiết lập mối quan hệ rộng rãi và phong phú với các bạn, ghi nhớ có chủ định của trẻ cũng bắt đầu phát triển trẻ có thể tái hiện lại các hoạt động một cách chi tiết và chính xác Ngoài ra khả năng quan sát của trẻ cũng linh hoạt hơn nên trẻ có thể nhớ và thực hiện lại các hành động tương đối chính xác Hơn thế nữa, trong sự phát triển tri giác của trẻ khi trẻ tiếp xúc với các sự vật hiện tượng xung quanh thì tính chủ định phát triển rất cao, trí nhớ có chủ định của trẻ cũng tốt hơn, dung lượng nhớ tăng, khả năng nhớ lâu hơn và bền hơn Những hình ảnh mà trẻ tiếp thu được cũng đủ cơ sở để tư duy trực quan hình ảnh phát triển hiệu quả Những yếu tố này là

cơ sở quan trọng trong hoạt động sáng tạo của trẻ

Tuy nhiên thực tế giáo dục mầm non ở một số trường mầm non cho thấy việc dạy học theo hướng phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ trong quá trình tổ chức hoạt

Trang 9

động còn có nhiều hạn chế đặc biệt là trong hoạt động tạo hình, hoạt động này được

tổ chức với nội dung chưa phong phú, bằng những phương pháp – hình thức còn mang tính áp đặt, giáo viên chưa tạo nhiều cơ hội cho trẻ được thể hiện, phát huy đúng mức Trẻ thực hiện quá trình tạo hình một cách thụ động thiếu nguồn cảm hứng, bên cạnh đó, giáo viên cũng chưa xác định được sự sáng tạo trẻ như thế nào để có những biện pháp giáo dục phù hợp Chính những điều này sẽ làm cản trở sự phát triển nhận thức thẩm mỹ và làm mai một đi khả năng sáng tạo của trẻ

Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi quyết định chọn đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập đánh giá khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động to hình”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Trên thế giới

Những công trình nghiên cứu về sáng tạo xuất hiện tương đối sớm trên thế giới và ngày được phát triển Có thể liệt kê ra một số công trình đã được bảo vệ thành công với đề tài về sáng tạo như sau:

J.P.Guilford (Mĩ) đã không đưa ra một định nghĩa đơn thuần về sáng tạo mà theo ông thì tư duy sáng tạo là sự tìm kiếm và thể hiện những phương pháp logic trong tình huống có vấn đề, tìm kiếm những phương pháp khác nhau và mới của việc giải quyết vấn đề, giải quyết nhiệm vụ Quan niệm này của ông đã xem sáng tạo như là một thuộc tính, là một phẩm chất của tư duy sáng tạo Đặc trưng của tư duy sáng tạo là sự tìm kiếm những phương pháp logic, những phương pháp mới, những phương pháp khác nhau của việc giải quyết vấn đề [7] Ông cũng đưa ra mô hình lí thuyết về cấu trúc trí tuệ 120 thành tố, trong đó trí tuệ con người được phân định thành hai phần cơ bản là: Thông minh (intelligence) hiểu theo nghĩa truyền thống và tính sáng tạo (creativity)

Theo tác giả E.P.Torrance (1962) “ Sáng tạo được hiểu là một quá trình tạo ra

ý tưởng hoặc giả thuyết, thử nghiệm ý tưởng này đến kết quả Kết quả này có ít nhiều mới mẻ, có chút ít cái gì đó trước đây con người chưa bao giờ nhìn thấy, chưa có ý thức về nó” Ông cũng đã soạn thảo một số Test về sáng tạo rất có giá

trị.Test sáng tạo và tưởng tượng sáng tạo được Torrance dùng cho nhiều độ tuổi khác nhau từ trẻ mầm non đến trưởng thành, đánh giá dựa trên 4 chỉ số: Nhanh nhạy, linh hoạt, tỷ mỹ, độc đáo Đối với trẻ mầm non khi tham gia hoạt động tạo hình các chỉ số này sẽ bộc lộ và hình thành một cách rõ nét hơn Nhận định của tác

Trang 10

giả này giúp chúng ta quan tâm hơn tới việc đánh giá khả năng sáng tạo của trẻ trong hoạt động tạo hình

L.X.Vưgotxki với một số tác phẩm như: “Trí tưởng tượng sáng tạo của lứa tuổi thiếu nhi”, “Tâm lý học nghệ thuật”, “Sự phát triển của chức năng tâm lý cấp cao” đã xây dựng nên lý thuyết khá hoàn chỉnh về tưởng tượng Theo Vưgotxki:

“Trí tưởng tượng là cơ sở của bất cứ hoạt động sáng tạo nào, biểu hiện hoàn toàn như nhau trong mọi phương diện của đời sống văn hóa, nó làm cho mọi sáng tạo nghệ thuật, khoa học và kỹ thuật có khả năng thực hiện” Khi nghiên cứu về tưởng

tượng sáng tạo ở trẻ ông đã chỉ ra vai trò của hứng thú đối với việc hình thành và phát huy khả năng sáng tạo của trẻ em trong HĐTH và ông đặc biệt nhấn mạnh đến nguyên tắt tự do trong hoạt động nghệ thuật Vưgotxki: Lý thuyết về vùng phát triển gần: Ông khẳng định về sự phát triển của trẻ em, phát triển khả năng sáng tạo không thể tách rời mối quan hệ với thế giới xung quanh, xã hội Trẻ có thể tự kiến tạo nên hiểu biết của mình một cách rất chủ động, tích cực, sáng tạo ở trên mức bình thường mang tính đại trà Mọi sự phát triển trong đó có phát triển trong đó phát triển khả năng sáng tạo của trẻ em phải được thực hiện thông qua chính hoạt động trong đó hoạt động vui chơi là hoạt động nền tảng để tạo nên điều đó Sự sáng tạo đó không thể tự mình tách ra mà cần có sự tương tác, phối hợp và cùng nhau chia sẻ Chính gợi ý của Vưgotxki đã gợi ý ra những hoạt động của các nhà sư phạm hiện nay có các phương pháp giáo dục: học cộng tác, học theo dự án nhóm là hình thức học có

thể đẩy người học tới vùng phát triển gần nhất Trong cuốn :“Trí tưởng tượng và sáng tạo ở lứa tuổi thiếu niên” ông cũng đưa ra quan niệm: “Chúng ta gọi hoạt

động sáng tạo là bất cứ hoạt động nào của con người ta tạo ra được một cái gì mới,

kể rằng cái được tạo ra ấy là một vật của thế giới bên ngoài hay một cấu tạo nào đó của trí tuệ hoặc tình cảm chỉ sống và biểu lộ trong bản thân con người” [12; tr25 – 27] Các nhà tâm lí học Liên Xô cũ đã đặc biệt quan tâm nghiên cứu vấn đề sáng tạo A.N.Luk nghiên cứu những vấn đề chung về hoạt động sáng tạo, U.N Puskin nghiên cứu vấn đề lí luận và thực hành của tư duy sáng tạo Mối quan hệ giữa tư duy sáng tạo với vô thức B.M Kêdrôp, M.G Iarôsepxki, nghiên cứu những vấn đề tâm lí của hoạt động khoa học, tư duy khoa học, những đặc điểm chung và đặc thù hoạt động phát minh của các nhà khoa học D.M Bôgiôialenxky, G.S Kôstul,… N.A Mensinkaia phân tích tầm quan trọng của hoạt động sáng tạo với quá trình tiếp thu tri thức Các tác giả cho rằng tưởng tượng sáng tạo là thành phần cần thiết và khó phân

Trang 11

biệt với tư duy sáng tạo Về tư duy sáng tạo trong nhà trường có các công trình của N.G Alêcxâyep, I.Ia Derner và E.M Miarski,…Những yếu tố của quá trình sáng tạo, những thuộc tính của nhân cách được M.A Blok, T.X Xumbaep, P.M Iacôpsơn… quan tâm

Nhìn chung các nhà nghiên cứu đều khẳng và định rằng trong HĐTH của trẻ

MN đều có sự sáng tạo và đó là một hiện tượng xã hội Một số đông tác giả cho rằng: Khả năng sáng tạo trong HĐTH của trẻ không kém gì người lớn và thậm chí

có nhiều tác giả còn nói rằng sự sáng tạo này xuất hiện ở mỗi trẻ em

2.2 Ở Việt Nam

Nếu trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về sáng tạo của con người nói chung và trẻ mầm non nói riêng thì ở Việt Nam cũng có không ít những thành tựu nghiên cứu về sáng tạo

Trong Tuổi trẻ sáng tạo của tác giả Đức Ánh – Như Đàm – Minh Đức đã phác thảo một số vấn đề liên quan đến sáng tạo và đi vào những câu chuyện sáng tạo của tuổi trẻ

Nhà Tâm lý Đức Uy (1999) với “Tâm lý học sáng tạo”, đã phác họa rõ nét khái niệm liên quan đến sáng tạo, mối quan hệ giữa tuổi tác và sáng tạo và một số phẩm chất của con người sáng tạo trong giai đoạn hiện nay

Phạm Thành Nghị (2001),” Những vấn đề tâm học sáng tạo” nói đến những yếu tố cơ bản của sáng tạo trên góc độ tâm lý học

Tác giả Mai Thị Khánh Tú với đề tài: “Một số biện pháp phát triển trí tưởng tượng sáng tạo của trẻ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động vẽ” đã đưa ra một

hệ thống các biện pháp như cung cấp biểu tượng thế giới xung quanh, hình thành long say mê, ham thích được tham gia HĐTH

Tác giả Lê Thanh Thủy với đề tài: “Sự phát triển trí tưởng tượng sáng tạo của trẻ em trong HĐTH” đã đưa ra kết luận rằng cách thức tổ chức HĐTH sẽ có ảnh

hưởng rất lớn đến sự xuất hiện và trí tưởng tượng sáng tạo của trẻ em Nếu biết cách phối hợp một cách hợp lý giữa các bài tập tạo hình theo mẫu với các bài tập tạo hình tự do, khéo léo nâng dần yêu cầu sáng tạo từ hình thức tạo hình theo đề tài bắt buộc đến hình thức theo đề tài tự do, các nhà sư phạm có thể từng bước khơi dậy, phát triển tính tích cực của tư duy sáng tạo và tưởng tượng sáng tạo Ngoài ra, tác giả cũng đã nghiên cứu ảnh hưởng của tri giác đến khả năng tạo hình của trẻ mẫu giáo, đã đưa ra một số biện pháp tổ chức quá trình tri giác cho trẻ [12, tr33 – 34]

Trang 12

Nhiều nhà tâm lí học Việt Nam đã nghiên cứu về sáng tạo và phát triển sáng tạo (Nguyễn Huy Tú, người đã Việt hóa Test Schoepferisches Denken – Zeichnerisch của tác giả người Đức Klaus K.urban, tác giả cuốn sách về tính sáng tạo và chỉ số sáng tạo CQ, NXB Chính Trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2005 và nhiều bài bài viết khác trên các tạp chí nghiên cứu chuyên ngành; Nguyễn Đức Uy (1999)cũng xuất bản cuốn sách Tâm lí sáng tạo, do nhà NXB Giáo dục, Hà Nội xuất

bản Huỳnh Văn Sơn viết Giáo trình tâm lí học sáng tạo…Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn

cũng bàn nhiều về phát triển khả năng sáng tạo nói chung và sáng tạo trong toán học nói riêng… Một số tác giả như Nguyễn Huy Tú, Trần Tuấn Lộ, Đức Uy, Vũ Kim Thanh…

có bài giảng về tâm lí học sáng tạo Một số đề tài luận văn cao học cũng đã đề cập đến

vấn đề sáng tạo như tác giả Phạm Hồng Quý, Lê Thanh Tùng…

Qua đó thấy rằng sáng tạo của con người được nghiên cứu từ rất lâu, và ngày nay sáng tạo đã thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà Tâm lý học trong và ngoài nước Các nhà nghiên cứu đều thấy được vai trò của HĐTH đối với sự phát triển của trẻ, đều quan tâm đến việc tìm kiếm những con đường có hiệu quả nhất để nâng cao khả năng sáng tạo cho trẻ Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu chưa đi sâu vào việc đánh giá khả năng sáng tạo của trẻ đặc biệt là trong hoạt động tạo hình, một hoạt động đòi hỏi sự sáng tạo ở trẻ

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lí luận về khả năng sáng tạo của trẻ từ đó xây dựng hệ thống bài tập đánh giá khả năng sáng tạo của trẻ 5 – 6 tuổi khi tham gia hoạt động tạo hình Trên cơ sở đó, vận dụng hệ thống bài tập để đánh giá khả năng sáng tạo của trẻ

4 Phạm vi nghiên cứu

Xây dựng hệ thống bài tập đánh giá khả năng sáng tạo của trẻ MGL 5 – 6 tuổi trong HĐTH ở trường Mầm non Dạ Lan Hương và trường mầm non Tuổi Thơ tại quận Hải Châu, TP Đà Nẵng

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

5.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình tổ chức hoạt động tạo hình của trẻ MG 5 – 6 tuổi ở trường mầm non

5.2 Đối tượng nghiên cứu

Xây dựng hệ thống bài tập đánh giá khả năng sáng tạo của trẻ MG 5-6 tuổi trong HĐTH ở trường mầm non

Trang 13

6 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng hệ thống bài tập đánh giá khả năng sáng tạo của trẻ 5 – 6 tuổi trong HĐTH một cách hợp lí, khoa học thì việc đánh giá khả năng sáng tạo của trẻ

sẽ dễ dàng và chính xác hơn Từ đó, giúp giáo viên đánh giá được mức độ khả năng sáng tạo trẻ 5 – 6 tuổi cũng như đề xuất được các biện pháp tác động sư phạm phù hợp góp phần kích thích khả năng sáng tạo cho trẻ, nâng cao hiệu quả tổ chức HĐTH cho trẻ MN

7 Nhiệm vụ nghiên cứu

7.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về hệ thống bài tập đánh giá của trẻ MG 5 – 6 tuổi khi tham gia hoạt động tạo hình

7.2 Tìm hiểu khả năng sáng tạo tham gia hoạt động tạo hình của trẻ MG 5 – 6tuổi ở một số trường mầm non tại Đà Nẵng

7.3 Xây dựng bài tập đánh giá cho trẻ MG 5 – 6 tuổi khi tham gia hoạt động tạo hình

7.4 Đề xuất một số biện pháp phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động tạo hình

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Tham khảo, thu nhập, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa những tài liệu từ sách báo, tạp chí, mạng internet… về khả năng sáng tạo và đặc điểm tạo hình của trẻ 5 – 6 tuổi; cơ sở xây dựng các bài tập đánh giá khả năng sáng tạo của trẻ trong các hoạt động học ở trường mầm non để làm sáng tỏ một số vấn đề

lý luận

8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

8.2.1.Phương pháp quan sát sư phạm

Dự giờ quan sát quá trình tổ chức HĐTH cho trẻ MGL của giáo viên để xác định khả năng sáng tạo của trẻ khi tham gia hoạt động tạo hình

8.2.2 Phương pháp đàm thoại

Trao đổi với giáo viên tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn trong việc dạy trẻ học tạo hình Đặt câu hỏi cho trẻ trả lời về khả năng sáng tạo của trẻ khi học hoạt động tao hình

8.2.3 Phương pháp điều tra bằng Anket

Sử dụng phiếu thăm dò, điều tra ý kiến của các giáo viên dạy lớp mẫu giáo lớn

Trang 14

ở các trường mầm non trong TP Đà Nẵng về các bài tập đánh giá khả năng sáng tạo trong quá trình tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ để nắm được tình hình và cách hướng dẫn trẻ MG 5 – 6 tuổi học tạo hình

8.2.4 Phương pháp quan sát thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm áp dụng bài tập đánh giá cho trẻ mẫu giáo lớn trong hoạt động tạo hình nhằm kiểm nghiệm, đánh giá khả năng sáng tạo của trẻ cũng như việc sử dụng biện pháp nhằm đánh giá hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất

8.2.5 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng các công thức thống kê toán học để xử lý số liệu đã thu thập được trong thực tế khi tiến hành nghiên cứu

9 Những đóng góp của đề tài nghiên cứu

10 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phụ lục đề tài gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 2: Xây dựng hệ thống bài tập đánh giá khả năng sáng tạo của trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động tạo hình

Chương 3: Đánh giá thực trạng về khả năng sáng tạo của trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động tạo hình

Trang 15

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG SÁNG TẠO THAM GIA

HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH CỦA TRẺ 5 – 6 TUỔI

1.1 Một số lý luận về sáng tạo

1.1.1 Khái niệm về sáng tạo

Theo từ điển Tiếng Việt thì sáng tạo được hiểu là “tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có” Như vậy, nói đến sáng tạo là

nói đến việc làm ra cái chưa ai làm hoặc là việc tìm tòi làm cho tốt hơn mà không bị gò

bó [8; tr1089]

Theo Ngôn ngữ học, sáng tạo là làm ra cái gì đó chưa hề có

Theo từ điển Triết học, sáng tạo là quá trình hoạt động của con người tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần mới về chất Các loại hình sáng tạo được xác định bởi đặc trưng nghề nghiệp như khoa học kĩ thuật, tổ chức quân sự Có thể nói sáng tạo có mặt trong mọi lĩnh vực của thế giới vật chất và tinh thần

Quan niệm của S.Freud- cha đẻ của Phân tâm học về sáng tạo cũng là một

quan niệm cần lưu tâm.Theo ông thì “Sáng tạo cũng giống như giấc mơ hiện hình,

là sự tiếp tục và sự thay thế trò chơi trẻ em cũ” Với Freud trò chơi và tưởng tượng

là hai hình thức biểu hiện của vô thức, nền tảng của sáng tạo là nguyện vọng không được thỏa mãn Quan điểm trên hoàn toàn sai lầm bởi các nhà duy tâm lí giải bản chất của sáng tạo phụ thuộc vào thế giới tâm linh, vào bản năng của con người mà không thấy được tính tích cực của con người trong quá trình sống để tạo ra sản phẩm sáng tạo.[9; tr25]

Theo E.P.Torrance cho rằng “Sáng tạo là quá trình xác định các giả thuyết nghiên cứu chúng và tìm ra kết quả” Đây là quan niệm khá rộng về sáng tạo vì mọi

quá trình giải quyết nhiệm vụ đều là hoạt động [9;tr25]

Đối với L.X.Vưgôtxki hoạt động sáng tạo được coi là hoạt động cao nhất của con người, và cơ sở vật chất của sáng tạo chính là bộ não “Bộ não không những là một cơ quan giữ lại và tái hiện kinh nghiệm cũ của chúng ta, nó còn phối hợp một cách sáng tạo và xây dựng nên những tình thế mới và những hành vi mới bằng những yếu tố của kinh nghiệm cũ đó.” Hoạt động sáng tạo được ông nhìn nhận như sau: “Sự sáng tạo thật ra không chỉ có ở nơi nó tạo ra những tác phẩm vĩ đại, mà ở

Trang 16

khắp nơi nào con người tưởng tượng, phối hợp, biến đổi và tạo ra cái gì mới, cho dù cái mới ấy nhỏ bé đến đâu đi chăng nữa so với những sáng tạo của các thiên tài…”,

“tuyệt đại đa số những phát minh là do những người vô danh làm ra, như thế một quan điểm khoa học về vấn đề này buộc ta phải xem xét lại sáng tạo là một quy luật hơn là một ngoại lệ” Tất nhiên những biểu hiện cao nhất của sáng tạo cho đến nay vẫn là một số ít của thiên tài chọn lọc trong nhân loại, trong đời sống hằng ngày xung quanh chúng ta, sáng tạo là một điều cần thiết của sự tồn tại , và tất cả những

gì vượt qua ngoài khuôn khổ cũ, dù chỉ một mét mới thì nguồn gốc phát minh của

nó đều do quá trình sáng tạo của con người Theo bà, “Sáng tạo là hoạt động tạo ra cái mới không biết nhưng kết quả tạo ra đó có ý nghĩa hiện thực cụ thể”, là sự vật cụ thể ở thế giới bên ngoài hay có ý nghĩa về tư duy, tình cảm, là cấu tạo nào đó của trí tuệ hay tình cảm Định nghĩa này đã cho thấy tiềm năng rộng lớn của con người chúng ta [2; tr10]

M.Willson – nhà tâm lí học người Mỹ thì định nghĩa: “Sáng tạo là quá trình

mà kết quả là tạo ra những kết hợp mới cần thiết từ các ý tưởng, dạng năng lượng, các đơn vị thông tin, các khách thể hay tập hợp của các yếu tố khác nhau”[9; tr25] Theo tác giả Nguyễn Huy Tú, trong Đề cương bài giảng Tâm lý học sáng tạo thì: “Sáng tạo thể hiện khi con người đứng trước hoàn cảnh có vấn đề Quá trình này là tổ hợp các phẩm chất và năng lực mà nhờ đó con người trên cơ sở kinh nghiệm của mình và bằng tư duy độc lập đã tạo ra được những ý tưởng mới, độc đáo, hợp lí trên bình diện cá nhân hay xã hội Ở đó người sáng tạo gạt bỏ các giải pháp truyền thống để đưa ra những giải pháp mới, độc đáo và thích hợp cho vấn đề đặt ra” [2; tr11]

E.P.Torrance cho rằng sáng tạo là quá trình bởi vì sáng tạo bao giờ cũng có

mở đầu tức là xác định giả thuyết, ý tưởng sáng tạo xuất hiện, diễn biến, nghiên cứu

và kết thúc là tạo ra kết quả Trong quá trình sáng tạo, con người phải cân nhắc, đánh giá những điều kiện khách quan, chủ quan, khám phá, tìm tòi tạo ra những giả thuyết, sau đó thử đi thử lại, kiểm tra các giả thuyết rồi cuối cùng trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra kết quả Có thể nói, quá trình giải quyết bất kì nhiệm vụ nào của con người đều là hoạt động sáng tạo nhưng là ở các mức độ khác nhau Các mức độ tương ứng với 4 chỉ số cơ bản sau: Fluence (F): Nhanh nhạy ( nhanh chóng tạo ra sản phẩm); Flexibilyty (Fx): Linh hoạt (tạo ra nhiều loại sản phẩm hoạc nhiều cách giải khác nhau); Elaboration (E): Chi tiết (sản phẩm tạo ra với nhiều chi tiết tỷ mỷ,

Trang 17

công phu); Originalyty (O): Độc đáo (sản phẩm hoặc cách giải quyết khác với người khác) Như vậy, quan điểm của F P Torance hướng nhiều đến phương thức hoạt động sáng tạo và cách đánh giá sáng tạo

GS Chu Quang Thiêm, Trường Đại học Bắc Kinh trong cuốn sách “Tâm lý Văn nghệ” ông cũng nói về khái niệm sáng tạo gắn với cái mới “Sáng tạo là căn cứ vào những ý tưởng đã có sẵn làm tài liệu rồi cắt xén, gạt bỏ, chọn lọc tổng hợp để tạo thành một hình tượng mới” [9; tr25]

Theo tác giả K.K.Urban từ góc độ nhân cách“Tính sáng tạo của con người là thuộc tính nhân cách bộc lộ trong sản phẩm hoạt động mới mẻ, độc đáo, tối lợi, gây ngạc nhiên cho bản thân và cũng mới mẻ, gây ngạc nhiên cho người khác”[ 3;tr2] X.L.Rubinxtêin cho rằng “sự sáng tạo là hoạt động của con người tao ra những chất liệu mới có ý nghĩa xã hội và những chất liêu mới ấy có thể là giá trị vật chất hoạc giá trị tinh thần”.[9, tr25]

Tóm lại, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những quan điểm khác nhau về sáng tạo nhưng có điểm chung là sáng tạo là một quá trình tạo ra hay hướng đến cái mới Trên

cơ sở phân tích một số quan niệm trên chúng ta có thể đồng ý với kết luận: “Sáng tạo

là quá trình hoạt động của con người, trong quá trình đó con người đã tư duy độc lập, con người đã phối hợp, tưởng tượng biến đổi và xây dựng nên những cái mới trên bình diện cá nhân hay xã hội từ những kinh nghiệm có sẵn của mình”

1.1.2 Bản chất và cấu trúc tâm lí của sáng tạo

a Bản chất của sáng tạo

Đi tìm bản chất của sáng tạo không thể tách rời việc tìm hiểu khái niệm sáng tạo Tuy vậy, nếu như khái niệm sáng tạo chỉ đề cập đến những cách nhìn sáng tạo ở kết quả hay phương thức thì việc tìm hiểu bản chất sáng tạo sẽ đề cập sâu hơn ở

những yếu tố khác liên quan đến sáng tạo

Các nhà Phân tâm học đã chọn đối tượng nghiên cứu là đời sống vô thức và biểu hiện của nó Ở thời kỳ đầu, họ phân tích hai sự kiện cơ bản trong đời sống vô thức của con người: Mộng mị (giấc mơ) và bệnh tâm thần Hai hiện tượng này đựợc

lí giải như là sự thoả hiệp những xung đột giữa ý thức và vô thức

S.Freud còn cho rằng sự sáng tạo của con người nghệ sĩ thường diễn ra khi người nghệ sĩ đứng giữa người có “mộng” và người mắc bệnh tâm thần, quá trình tâm lý của những người này về thực chất là như nhau nhưng chỉ khác nhau về mức

độ Sáng tạo của con người, của người nghệ sĩ giống như trò chơi của trẻ con vì

Trang 18

mang lại nhiều khoái cảm cùng với sự tưởng tượng dù là ở mức độ khác nhau Nó

còn đựơc xem là một giấc mơ hiện hình, là sự thay thế trò chơi trẻ con cũ

Cùng quan điểm với Freud, khi ông cho rằng sáng tạo như một trò chơi thì Thiessy Gaudin, người phụ trách Trung tâm dự báo và khảo cứu (CPE) thuộc Bộ

Nghiên cứu và Công nghệ của Pháp trong cuốn sách: “Chuyện kể về thế kỷ XXI” viết: “ Trò chơi là một sự thăm dò những cái có thể và một sự học tập Ai không chơi thì người đó đã thu hẹp hướng tri giác và sáng tạo của họ Họ tự giam hãm vào một sự vi lợi hao mòn xơ cứng và có thể chết được”

Hay J.Huizinga, trong quyển tiểu luận và chức năng xã hội của trò chơi

“Người chơi” (Paris – 1988) đã nói rất rõ trong các xã hội con người, sự phát triển

các trò chơi là một dấu hiệu thực sự của văn minh Theo quan niệm này, sáng tạo được đồng hoá với trò chơi mà trong trò chơi đó ở cấp độ khác nhau về sự sáng tạo, tính chất của trò chơi, luật chơi cũng có sự thay đổi, phát triển

Theo tiến trình đi tìm bản chất của sáng tạo, một số nhà nghiên cứu về sáng tạo ở Tiệp Khắc (cũ) cho rằng sáng tạo là quá trình mà kết quả là tạo ra những kết hợp mới cần thiết từ các ý tưởng, dạng năng lượng, các đơn vị, thông tin, các khách thể hay tập hợp của cả hai, ba yếu tố nêu ra

Một vài quan niệm khác nhau khi đi tìm bản chất của sáng tạo khi cho rằng quá trình sáng tạo là sự đầu tư các nguồn Ở đây bản chất của sáng tạo được lý giải

là sự đầu tư các nguồn để thu được hiệu quả trong tương lai

Một quan niệm khác về bản chất của sáng tạo là bắt đầu từ ý tưởng hay nói khác đi ý tưởng là ngọn nguồn của quá trình sáng tạo Khởi đầu của sáng tạo dù ở bất kỳ cấp độ nào đều phải là ý tưởng Từ đây, họ cho rằng ý tưởng và sản phẩm có kết quả đó là alpha và omega của sáng tạo, là khởi đầu và kết thúc của nó Bắt đầu

từ ý tưởng hay quá trình sáng tạo có hiệu quả đều có thể dẫn đến việc thu được một sản phẩm cần thiết mong muốn

Sáng tạo còn được nhìn nhận về bản chất của nó như là “đặt vấn đề” Cụ thể hơn đó là sự nêu lên vấn đề mới, xuất phát từ những gì đã quan sát, phân tích, tổng hợp,…phải đạt đến mức nêu lên được giả thiết, nêu lên vấn đề mới dựa trên sự nhìn nhận vấn đề cũ dưới góc độ mới của sự tư duy, đặc biệt là tưởng tượng

Cũng từ đây, một số cách nhìn về bản chất sáng tạo lại hướng theo việc nghiên cứu các chức năng của sáng tạo Xét về bản chất sáng tạo nghĩa là nghĩ ra – mà nghĩ

ra có nghĩa là hình dung và sáng chế Bàn về bản chất của sáng tạo, Einstein cũng

Trang 19

đưa ra những luận điểm khá độc đáo Theo ông, việc thiết lập vấn đề thường yếu hơn việc giải quyết vấn đề vì giải quyết vấn đề chỉ là công việc của kỹ năng toán học hay kinh nghiệm Nêu lên được vấn đề mới, những khả năng mới, nhìn nhận những vấn đề dưới một góc độ mới đòi hỏi phải có trí tưởng tượng và nó đánh dấu mức tiến bộ thực sự của khoa học Rõ ràng hướng nghiên cứu của Einstein đã đánh vào gốc của vấn đề sáng tạo

L.X.Vưgốtxki không những đưa ra khái niệm sáng tạo mà ông còn phân tích khá sâu về bản chất của sáng tạo dưới góc nhìn hoạt động L.X.Vưgốtxki khẳng định hoạt động sáng tạo được coi là hoạt động sáng tạo cao nhất của con người Chính hoạt động sáng tạo của con người đã làm cho họ thành một sinh vật hướng về tương lai, xây dựng tương lai và cải biến hiện tại của mình L.X.Vưgốtxki cũng

khẳng định “Sự sáng tạo thật ra không chỉ có ở nơi nó tạo ra những sản phẩm lịch

sữ vĩ đại, mà ở khắp nơi khi nào con người tưởng tượng, phối hợp, biến đổi tạo ra một cái gì mới, cho dù cái mới ấy nhỏ bé đến đâu đi nữa so với sự sáng tạo của các thiên tài” L.X.Vưgốtxki quan niệm về sáng tạo rất rộng và quan niệm này có thể

nói thể hiện rõ tính nhân văn của con người

Như vậy, dù cho có những quan niệm khác nhau về bản chất của sáng tạo nhưng chắc chắn rằng những điểm chung nhất, cơ bản nhất đều được nhiều quan tâm đồng thuận cho rằng: Sáng tạo là việc tạo ra cái mới ở những mức độ khác nhau; Cái mới con người tạo ra nhằm mục đích để phục vụ cho cuộc sống con người, nhu cầu của xã hội; Quá trình tạo ra cái mới của sáng tạo có sự tham gia khá đầy đủ của các quá trình tâm lý cá nhân [9; tr.30- 35]

b Cấu trúc tâm lí của sáng tạo

Muốn đề cập đến cấu trúc tâm lý của sáng tạo, nên bắt đầu từ việc hiểu tính sáng tạo như thế nào dưới góc nhìn khoa học Lý thuyết mới về sáng tạo nêu ra khá nhiều thành phần tham gia, trong cấu trúc tâm lý sáng tạo Có thể đề cập đến quan niệm của Klau Urban – Giáp sư người Đức – trong những tài liệu khác nhau đã nêu

rõ những thành tố trong sáng tạo

- Tư duy phân kỳ và hành động phân kỳ: Soạn thảo tỉ mỉ, chi tiết (Elaboration); Tính độc đáo (Originatily); Mối liên kết xa (Remote Association); Cấu trúc lại và mở rộng áp dụng ( Recotruction and refleinition); Tính mềm dẻo (Flexibility); Tính lưu loát (Fluency); Tính nhạy cảm vấn đề (Problem sensivity)

- Những tri thức chung và NLST: Tri thức sâu, tri thức chuyên; Tư duy phê

Trang 20

phán và tư duy định hướng; Tư duy logic và tư duy khái quát; Khả năng phân tích – tưởng tượng của tư duy; Tư duy rộng vấn đề

- Các tri thức chuyên biệt và kỹ năng chuyên biệt

- Khả năng tập trung cao độ và chịu áp lực- căng thẳng: Tập trung vào đối tượng, hoàn cảnh; Lựa chọn nhạy bén; sẵn sàng ứng phó với sự căng thẳng; Khả năng làm chủ

- Động cơ và khả năng động cơ hóa: Nhu cầu nhận thức; Khao khát, hứng thú khám phá; Nhu cầu luôn cập nhật, đổi mới

- Tính cởi mở, ngay thẳng, khoan dung đối với những điều bí ẩn, những gì chưa rõ ràng: Chấp nhận cái mới; Thích thử nghiệm, khám phá; Khôi hài trong khám phá,…

Xuất phát từ bản chất của sáng tạo cũng như những đặc điểm tâm lý của sáng tạo, các thành phần cơ bản trong cấu trúc tâm lý của sáng tạo được xác định như sau: Tính linh hoạt, tính mềm dẻo, tính độc đáo, tính cấu trúc- kế hoạch, tính nhạy cảm vấn đề và tính mở rộng áp dụng

- Thành phần linh hoạt của sáng tạo: Là khả năng biến đổi thông tin đã thu nhận, thay đổi dễ dàng và nhanh chóng trật tự của hệ thống tri thức, chuyển từ góc

độ quan niệm này sang quan niệm khác

- Thành phần mềm dẻo (Fluency): Là năng lực tổ hợp nhanh chóng, tạo ra ý tưởng mới nhanh chóng để kết hợp các yếu tố riêng lẻ của tình huống, hoàn cảnh,

sự vật hiện tượng Đôi khi năng lực này là sự nhớ được nhanh, tái hiện nhanh các

từ, các câu, thành ngữ hoặc các liên tưởng về các ý tưởng đã biết được lưu giữ trong

bộ nhớ Từ đó, nhanh chóng hình thành giả thiết mới và nhanh chóng sản sinh ra ý tưởng mới

- Thành phần độc đáo: Là tính độc lập trong giải quyết vấn đề đặt ra Nó cho phép con người nhìn sự vật hiện tượng, vấn đề một cách khác lạ, mới Có thể nhận thấy những biểu hiện cụ thể ở thành phần này như khả năng sử dụng các từ hiếm, ít gặp, sử dụng các hiện tượng mới lạ, bất ngờ

- Thành phần tính cấu trúc - kế hoạch ( Elaboration): bao gồm các năng lực xây dựng cấu trúc mới từ các thông tin đã biết, năng lực xây dựng các kế hoạch thực hiện giải pháp từ những ý tưởng mới, cho phép cá nhân nghĩ ra được các bước hành động liên tiếp, tổ chức và phối hợp của cơ ngón tay, cơ mặt,…

Thông thường, tính cấu trúc - kế họạch có thể ước lượng bằng các test sử

Trang 21

dụng ngôn ngữ

- Thành phần nhạy cảm vấn đề ( Sensibility ): Là sự nhanh chóng phát hiện sai lầm, mâu thuẫn, thiếu hụt hay thiếu logic, thiếu ngắn ngọn, chưa tối ưu, cũng như khả năng nắm bắt dễ dàng nhanh chóng các vấn đề, nhận ra ý nghĩa mới của sự vật

từ những thông tin còn thiếu hụt của mình để từ đó nảy sinh ý muốn cấu trúc lại sự vật, hiện tượng cho hợp lí, hài hoà hơn, thích hợp hơn để tạo ra cái mới

Tiêu chí nhạy cảm vấn đề thể hiện ở sự cởi mở, thái độ thông thoáng trong tiếp xúc với ngoại giới và con người

- Tính mở rộng áp dụng hay định nghĩa lại sự vật hiện tượng (Redefinion): Là

sự áp dụng một cách hoàn toàn mới, hoàn toàn khác một đồ vật, hiện tượng hoặc một bộ phận của nó (rất có ý nghĩa trong sáng tạo kỹ thuật) [9; tr.36 -41]

1.1.3 Cơ chế tâm lí của sáng tạo

- Về cơ chế logic của sáng tạo

Nhiều nhà nghiên cứu về sáng tạo mà đặc biệt là Tâm lý học sáng tạo đã tìm hiểu cơ chế tâm lý của sáng tạo hay diễn tiến của việc tạo ra sản phẩm sáng tạo theo cấu trúc nhất định Các hành động cụ thể trong hoạt động sáng tạo được tồn tại như một thứ logic Có thể đề cập đầu tiên đến Wallas (1926), tác giả cho rằng quá trình

sáng tạo gồm bốn giai đoạn kế tiếp nhau: Giai đoạn chuẩn bị (Preparation), giai đoạn ấp

ủ (Incubation), giai đoạn chiếu sáng (Illumination) và giai đoạn phát minh (Veritfication) Mô hình bốn giai đoạn của Wallas về quá trình sáng tạo cho thấy giai

đoạn diễn ra theo một kết cấu logic để giúp cho việc tìm hiểu cơ chế tâm lý của hoạt

động sáng tạo theo một sơ đồ khung để nhìn nhận sự sáng tạo một cách có hệ thống

Một quan niệm cũng khá đặc biệt theo hướng này là tập trung nghiên cứu gần

2000 nhà khoa học khác nhau và yếu tố ngẫu nhiên trong quá trình sáng tạo Yếu tố ngẫu nhiên được đánh giá là rất quan trọng nhưng nền tảng của nó vẫn dựa trên sự thamgia đặc biệt của tư duy trong cơ chế logic của sự sáng tạo.Theo hướng này, quan niệm hoạt động sáng tạo theo ba bước được nhiều cá nhân nghiên cứu như sau:

Bước 1: Cảm nhận được vấn đề

+ Cảm thấy đang tồn tại vướng mắc nào đó về lí luận hoặc thực tiễn

+ Biểu đạt được vướng mắc cả mình

+ Mong muốn giải quyết vấn đề

Bước 2: Đưa ra giải quyết, giải pháp dự kiến

+ Gắn vấn đề với trí thức, kinh nghiệm

Trang 22

+ Đưa ra những giải pháp

+ Chọn một giải pháp

Bước 3: Kiểm tra giả thiết

+ Thực thi giả thuyết

+ Đánh giá giải pháp trên cơ sở kết quả nào đó

Có thể đề cập đến Anghermayer, tác giả này đã chia quá trình sáng tạo thành các 3 giai đoạn: Giai đoạn 1: Hoạt động của cảm nhận, ước muốn làm xuất hiện ý tưởng; Giai đoạn 2: Nhận thức, lập luận, xây dựng mô hình và kế hoạch; Giai đoạn 3: Thiết kế và thực hiện những phát minh

Tác giả M.A Blok cũng tìm hiểu cơ chế tâm lý hoạt động của sáng tạo và chia thành 3 giai đoạn: Giai đoạn 1: Xuất hiện những ý tưởng gần với sự sáng tạo hoặc giả thiết sáng tạo; Giai đoạn 2: Chứng minh các giả thiết đã nghĩ; Giai đoạn 3: Thực hiện các ý đồ, ý tưởng

Tác giả Jack Foster (chuyên gia giảng dạy về quảng cáo) thì quan tâm đến các bước logic của sáng tạo Ông cho rằng có các bước cụ thể sau: Định nghĩa vấn đề; Thu thập thông tin; Tìm ý tưởng; Quên phắt nó đi; Biến ý tưởng thành hành động Khi xem xét việc sáng tạo như là một thời kỳ chuẩn bị cao độ về mặt trí tuệ và

có sự tham gia của tư duy, các giai đoạn thực hiện hoạt động sáng tạo được nêu ra như sau: Có nhu cầu sáng tạo; Xác định hay phát hiện vấn đề; Nảy sinh ý tưởng và hình thành nhiệm vụ; Tìm cách giải quyết nhiệm vụ; Phát hiện những nguyên tắc, phát minh, sáng chế; Thực hiện ý đồ, ý tưởng sáng tạo

Nhà tâm lý học người Thụy Sỹ Jones đã tìm ra các giai đoạn của sự sáng tạo như sau: Giai đoạn rối trí; Giai đoạn thu thập thông tin; Giai đoạn sắp xếp thông tin; Giai đoạn lóe sáng và tạo ra ý nghĩ mới; Giai đoạn thực hiện, kiểm tra Nhà nghiên cứu H.Lavasa thì cho rằng quy trình sáng tạo gồm: Giai đoạn định hướng; Giai đoạn chuẩn

bị tiếp tục và tìm thông tin; Giai đoạn phát minh; Giai đoạn kiểm tra- đánh giá

Triết gia người Đức Helmhotxcho cho rằng ông thường sử dụng chiến lược ba bước để lấy ý tưởng mới: Thứ nhất là cần “Chuẩn bị”; Thứ 2 là “Ấp ủ”; Thứ 3 là

“Phát kiến” Mặc khác, nhìn về các giai đoạn sáng tạo theo tiến trình logic, Charles S.Wakefied cho rằng có năm giai đoạn trí não để thực hiện hoạt động sáng tạo: Nhận thức vấn đề; Định nghĩa vấn đề; Bão hòa về vấn đề và những dữ liệu liên quan đến vấn đề đó; Ấp ủ vấn đề ở bề mặt yên tĩnh; Sự bùng nỗ- nội chứng và thực hiện bước nhảy đột ngột vượt lên logic, vượt lên những giải pháp bình thường;

Trang 23

Nhà nghiên cứu N.Luk đã nghiên cứu hoạt động của sáng tạo và đưa ra các giai đoạn sau: Tích lũy tri thức, tích lũy kinh nghiệm cần thiết; Tập trung – nổ lực- tìm kiếm, bổ sung thông tin; Nung nấu- “thai nghén” vấn đề, “thai nghén” nhiệm vụ; Thời kỳ linh cảm hay bừng sáng Quan niệm này gắn với quá trình sáng tạo của người học khi tiếp nhận tri thức và hoạt động cùng chúng Có thể phân tích cơ chế này thông qua ba bước sau: Nhận ra vấn đề; Đưa ra các giả thiết, giải pháp; Kiểm tra giả thiết

Như vậy, dù cho các tác giả có những quan niệm khác nhau nhưng có thể thấy trong cơ chế của sáng tạo nảy sinh các bước cơ bản sau:

- Nhận thức vấn đề và chuẩn bị: Ở giai đoạn này, các cá nhân sáng tạo thường chuẩn bị bằng cách nhận thức vấn đề và tìm những phương tiện để giải quyết vấn đề

Để thực hiện điều này thì sự tham gia của hoạt động nhận thức là vô cùng quan trọng

- Giai đoạn phát sinh: Ở giai đoạn này chủ thể sáng tạo thường nung nấu, thai nghén vấn đề và có thể nói rằng sự tưởng tượng vượt khung hay những yếu tố thuộc

về cảm nhận rất có giá trị

- Giai đoạn phát minh: Giai đoạn này có sự tham gia đặc biệt của cảm nhận hây còn gọi là linh cảm trực giác Kết quả của những phát minh chủ yếu bằng trực giác và vấn đề có thể bất ngờ được giải quyết hay được xuất hiện Đây là đỉnh của hoạt động sáng tạo

- Giai đoạn kiểm tra: Thông qua những bằng chứng, vấn đề mới sẽ được kiểm tra kết quả Đây là giai đoạn rất cần thiết để một lần nữa xác lập tính khả thi của ý tưởng hay giải pháp

Dù cho có chia cắt các thành phần hay các giai đoạn khác nhau trong hoạt động sáng tạo nhưng mỗi giai đoạn đều đóng vai trò rất quan trọng để hướng đến sự đồng bộ và các giai đoạn này cùng tồn tại, cùng đan xen một cách chặt chẽ và thống nhất Các giai đoạn này không thể vượt khỏi “tiến trình”của việc giải quyết vấn đề

dù rằng trong từng giai đoạn sẽ có những đặc trưng rất riêng khác với quá trình tư duy của con người

- Cơ chế linh cảm trực giác của sáng tạo

Hiện tượng đầu óc như “lóe sáng” nhìn thấy, hiểu ra vấn đề và thấy được giải pháp như vậy được Tâm lý học gọi là trực cảm Vấn đề trực cảm là vấn đề tương quan giữa quá trình ý thức và vô thức trong tư duy Theo quan điểm này thì nhiều nhà nghiên cứu cho rằng linh cảm trực giác là đỉnh điểm của hoạt động sáng tạo, là

Trang 24

tính đặc thù cần quan tâm bậc nhất khi nghiên cứu về sáng tạo

Hiểu một cách đơn giản linh cảm trực giác là một thứ giác quan thứ sáu hay là kiểu tri giác phi giác quan và có thể gọi ngắn gọn là trực giác Trực giác cho phép con người suy luận một cách đúng đắn trong một tình huống rất nguy cấp mà nhiều khi bản thân con người không biết tại sao mình lại hành động như vậy Khi không giải thích được cơ chế của sự “phát sáng”nhận thức, người ta thường nói: “Linh

cảm nội tâm thúc đẩy tôi làm điều đó”

Cơ chế sáng tạo theo hướng logic sẽ không đạt được kết quả nhưng trong sự khó khăn ấy ý tưởng đột nhiên lại lóe sáng một cách bất ngờ Hiện tượng lóe sáng của sáng tạo sẽ giúp con người không chỉ nhìn thấy, nhận ra, hiểu ra vấn đề và tìm được giải pháp mà còn có thể giải quyết vấn đề một cách tối ưu dựa trên những giải pháp đó Trực giác xuất hiện như là cơ chế đặc biệt của sự sáng tạo

Cơ sở của linh cảm trực giác là ý thức của con người và chính nhờ vào ý thức, con người sẽ nung nấu “bài toán của vấn đề” trong một thời gian có thể dài vô tận

và linh cảm trực giác trong sáng tạo như là bước nhảy rút gọn của tư duy, là hiệu quả của sự giao nhau các sự kiện Sáng tạo là sự thống nhất của yếu tố trực giác và yếu tố logic Sự hợp thành giữa yếu tố logic và trực cảm tạo nên mắt xích trung tâm trong cơ chế của hoạt động sáng tạo

Từ đây có quan niệm cho rằng sáng tạo chính là loại ý tưởng được phát ra từ vùng ý thức như là kết quả của quá trình suy nghĩ xảy ra trong tiềm thức, vô thức được gọi là các ý tưởng do linh tính mách bảo Hơn thế nữa xét về bản chất, sự xuất hiện của bất kỳ giải pháp sáng tạo nào cũng vượt qua ngoài giới hạn của logic Chỉ khi gặp những điều kiện nhất định thì lời giải của sáng tạo mới được logic hóa Ở đây, cơ chế logic sáng tạo cũng thể hiện rõ sự cơ động của mình Mặt khác, tự thân linh cảm trực giác chưa là sáng tạo mà trực cảm phải là ý thức, ngôn ngữ hóa và hợp thức hóa bằng phương tiện tư duy logic của con người để hướng đến một kết

quả sáng tạo đích thực và tương đối hoàn thiện

1.1.4 Chủ thể sáng tạo và những phẩm chất của người sáng tạo

a Chủ thể sáng tạo

Khó có thể có một mẫu hình chung về nhân cách sáng tạo nhưng chắc chắn rằng trong bất kì một lĩnh vực nào cũng đều có con người sáng tạo hay nhân cách sáng tạo Nhân cách sáng tạo được nhìn nhận thông qua hoạt động của cá nhân đó khi thực hiện những nhiệm vụ, những trách nhiệm và thậm chí là những thao tác cụ

Trang 25

thể trong công việc Theo quan điểm về sự thống nhất giữa hoạt động với nhân cách thì chính hoạt động của cá nhân sẽ là yếu tố quan trọng có thể nói nó quyết định cho

sự hình thành và bộc lộ của nhân cách sáng tạo Trong khi thực hiện hay tiến hành hoạt động chủ thể của hoạt động sẽ dần dần hình thành hoặc “rõ nét” những yếu tố

và năng lực và phẩm chất trong nhân cách của mình Ngược lại, một nhân cách sáng tạo sẽ thể hiện rất rõ “hình ảnh” của mình thông qua những hoạt động cụ thể mà nhân cách ấy là chủ thể

Nhân cách sáng tạo được thể hiện rõ nét nhất thông qua ý thức của cá nhân Khi con người ở một trạng thái ý thức cao độ để giải quyết những nhiệm vụ, con người sẽ luôn luôn vượt qua những thách thức, chinh phục những điều kiện thực tế

để có thể trở nên hữu ích khi có “điểm đến” một cách cụ thể Khi có ý thức chủ thể sáng tạo sẽ bộc lộ nhân cách sáng tạo rõ ràng và sâu sắc nhất để chinh phục những thách thức, những nhiệm vụ trong cuộc sống

Như vậy, nhân cách sáng tạo chính là bộc lộ của một tổ hợp những đặc điểm thuộc về phẩm chất và năng lực của một cá nhân thể hiện trong hoạt động mà người

đó tham gia và được nhiều người thừa nhận, đánh giá

b Một số phẩm chất đặc trưng của nhân cách sáng tạo

Không thể có một mô hình về phẩm chất đặc trưng của nhân cách sáng tạo Nhân cách sáng tạo ở con người chắc chắn phải được “khu biệt hóa” ở những phẩm chất đặc trưng Những phẩm chất này có thể có một cách phổ quát ở nhiều cá nhân, nhưng không có nghĩa là tồn tại một cách “cố định” ở bất kì một cá nhân nào được mệnh danh là sáng tạo hay có sáng tạo Mặt khác, những phẩm chất đặc trưng này

có thể thay đổi chút ít dựa trên sự thay đổi của thời gian và những tác động từ môi trường sống, điều kiện sống, điều kiện làm việc…

Ở một góc độ khái quát, những phẩm chất đặc trưng của nhân cách sáng tạo sẽ bao gồm những yếu tố thuộc về “chất” của một cá nhân, đó là những vấn đề thuộc

về nội lực của một con người Nói chung nhất, phẩm chất nổi trội của nhân cách sáng tạo là luôn có ý tưởng, đây cũng chính là yếu tố tâm điểm tạo nên những sản phẩm độc đáo, hữu ích của con người Tuy vậy, có thể nói một trong những phẩm chất đặc trưng tạo nên nhân cách sáng tạo chính là những yếu tố thuộc về sự cảm nhận, trí tuệ và cả ý chí của con người Có thể nhận thấy rõ điều này, thông qua một

số phẩm chất như: chú ý cao độ, nhạy cảm với vấn đề, suy luận – phán đoán, hiệu quả, phản biện hợp lí… Bên cạnh đó, những phẩm chất liên quan đến tính khí như:

Trang 26

Kiên nhẫn, không bằng lòng với cái hiện có, không chấp nhận sự khuôn sáo,…sẽ là những phẩm chất cũng khá đặc trưng cho nhân cách sáng tạo

Ở một góc nhìn khác, những phẩm chất nhân cách đặc trưng của con người sáng tạo được nghiên cứu theo những liệt kê cụ thể Cụ thể như những phẩm chất và năng lực như nhanh trí, trung thực, thẳng thắn, muốn chinh phục sự thật,… là những phẩm chất cơ bản của nhân cách sáng tạo Bên cạnh đó, những yếu tố khác như nhạy cảm, kiên trì, phân tích, tổng hợp, biết hoài nghi, dũng cảm, can đảm, nhiệt tình, tự tin…cũng là những biểu hiện khá quan trọng (Theo Roden, 1966)

Theo Erich Landau thì “Sáng tạo là khả năng quan trọng nhất để mỗi người chuẩn bị cho cuộc sống của mình” Từ đây, tác giả khẳng định sáng tạo hay con người sáng tạo phả có những khả năng thực sự đặc biệt về nhận thức Ngoài ra, cũng có rất nhiều nghiên cứu đề cập đến các đặc điểm tâm lí của nhân cách sáng tạo Viện Nhân cách của Trường Đại học Tổng hợp California đã đưa ra những đặc điểm tâm lí của nhân cách sáng tạo như sau:

- Người sáng tạo trội hơn về tính phức hợp trong tư duy

- Người sáng tạo tinh tế hơn và phức hợp hơn trong tâm vận động

- Người sáng tạo có tính độc lập hơn trong đánh giá

- Người sáng tạo tự ý thức cao hơn, tự tin cao hơn

- Người sáng tạo luôn chống lại sự áp đặt và sự hạn chế

Ngoài ra, một số tác giả cũng đặt ra các đặc điểm tâm lí của nhân cách sáng tạo Họ cho rằng người sáng tạo có tính cởi mở trong tri giác và trong tiếp thu kinh nghiệm mới (Muhle); có thái độ vui vẻ tham gia cuộc chơi và có hành vi tò mò (Rogers); yêu cái mới, tính tự phát và sẵn sàng tương tác với môi trường (Carsa); luật thúc đẩy đến cập nhật hóa nhanh chóng, kịp thời (Maslow); lòng khoan dung cao (Stein); khoan dung đối với sự thất bại, xung đột và những hậu quả của chúng (Fromm); không có thói quen cố hữu (Mednick); không theo chủ nghĩa thích ứng

mù quáng, giáo điều (Getzels và Jackson)

Có thể dựa vào những yếu tố cơ bản trong tâm lí người để nhìn nhận về các phẩm chất của nhân cách sáng tạo Nổi rõ lên là các phẩm chất thuộc về nhận thức

và xúc cảm có thể phân tích như sau:

Các phẩm chất liên quan đến nhận thức bao gồm:

- Trí nhớ cá nhân: Trí nhớ giúp con người khẳng định khả năng sáng tạo của mình khi những dữ liệu thu được sẽ đóng vai trò cơ bản trong việc làm cơ sở để đưa

Trang 27

ra những ý tưởng mới; ở một góc độ nào đó, những quá trình cơ bản của trí nhớ, được xem như một công cụ để nhân cách tạo tạo ra những sản phẩm luôn độc đáo

- Tư duy cá nhân: Tư duy độc lập cho phép nhân cách sáng tạo tìm ra những giải pháp mới – luôn luôn mới và rất độc đáo Những giải pháp này không phụ thuộc vào những kinh nghiệm hay hệ thống những khái niệm đã có trong trí nhớ Tư duy độc lập dẫn dắt chủ thể sáng tạo hướng đến cái mới lạ, có sắc thái mới mẻ và luôn gây sức hút với chủ thể sáng tạo cũng như người khác Phẩm chất tư duy phân

kì cũng là yếu tố quan trọng tạo nên những yếu tố rất riêng biệt cũng là phẩm chất đặc trưng trong nhân cách sáng tạo.Tư duy phân kì không đi theo một đường đến đích

mà đó là quá trình đưa ra nhiều ý tưởng khác nhau để hướng đến một giải pháp sáng tạo độc đáo, tối ưu Đây chính là phẩm chất của sự nhạy cảm, sự đam mê, khao khát sáng tạo Sự khao khát, đam mê là những phẩm chất không thể thiếu khi chủ thể sáng tạo có nó thì mới dốc tâm, dốc sức sáng tạo ra những sản phẩm dù chỉ là ý chí

Nhìn chung, những phẩm chất đặc trưng của người sáng tạo hay nhân cách sáng tạo là hết sức phong phú, phức tạp vì những đặc điểm của nhân cách vừa mang bản sắc cá nhân vừa mang bản sắc xã hội Lẽ đương nhiên, những phẩm chất này không thể bao quát toàn bộ những yếu tố đặc trưng của con người sáng tạo Tuy nhiên có thể nói đây là những yếu tố nổi bật nhất đảm bảo cho nhân cách sáng tạo thể hiện chính mình một cách rõ nét [9; tr.90 – 92]

1.1.5 Một số năng lực sáng tạo chủ yếu

a.Năng lực tư duy - sáng tạo

Tư duy là một hiện tượng tâm lý, là hoạt động nhận thức bậc cao ở con người Trong các năng lực của con người, năng lực tư duy đóng vai trò số một, có ảnh hưởng quyết định đến đời sống của con người về thể chất, về tinh thần, về quan hệ với cộng đồng, đến sự giàu có, hạnh phúc của một gia đình đến hưng thịnh, hùng cường của một quốc gia

Quy luật hình thành và phát triển của TDST được diễn tả như sau:

- Khi hoàn cảnh có vấn đề(có tình huống vấn đề) thì TDST mới phát triển

- TDST hình thành và phát triển trên cơ sởthực tiễn rồi trở lại làmphong phú thực tiễn

- TDST phát triển từ tư duy độc lập, tư duy phê phán

- Chủ thể của TDST cần được cung cấp đầy đủ tư liệu, đó là tri thức, thông tin, kinh nghiệm, các phương pháp, các sự kiện trong tự nhiên, xã hội

Trang 28

- Bộ não cần được cung cấp đầy đủcác chất dinh dưỡng, và được hoạt động trong môi trường thuận lợi

- TDST hình thành và phát triển dần dần theo qui luật từ tiệm tiến đến nhảy vọt

b Năng lực quan sát và sáng tạo

Quan sát là hình thức phát triển cao độtri giác có chủ định, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong hoạt động thực tiễn, sáng tạo của loài người D.Mendeleep nhà bác học người Nga cũng đã đánh giá rất cao về năng lực quan sát: “Quan sát và thực nghiệm là cửa ra của khoa học” Quan sát chiếm một vị trí quan trọng trong phát minh sáng tạo Để nâng cao năng lực quan sát cần phải:

- Xác định chính xác mục đích và nhiệm vụ của quan sát

- Chuẩn bị tốt tri thức về đối tượng quan sát: Dụng cụ, máy móc, thời gian

- Khi quan sát, tập trung sức chú ý trong phạm vi đã quy định, và đối với từng khâu cần thực hiện quan sát chu đáo, chính xác, và ghi chép tỉ mỉ, cụ thể, chuẩn xác

- Tăng cường sử dụng yếu tố tư duy trong quan sát

c Năng lực tưởng tượng – liên tưởng

Tưởng tượng và liên tưởng là hai phẩm chất quan trọng của TDST, để năng lực tưởng tượng phát triển phong phú, đúng hướng cần:

- Làm giàu đầu óc mình bằng tri thức và khái niệm thực tiễn

- Nỗ lực rèn luyện năng lực liên tưởng của mình

- Vận dụng tư duy, can thiệp làm cho tưởng tượng hợp logic và hợp với quy luật

- Tư duy giúp cho tưởng tượng bớt sự bay bổng, viễn vông và gắn thực tế hơn

- Luôn luôn chịu khó suy nghĩ, tưởng tượng ra cái mới tốt hơn cái cũ là một yêu cầu không thể thiếu được với nhà sáng tạo

- Trí tưởng tượng và óc liên tưởng ở nhiều nhà sáng tạo rất mạnh, giúp họ thành công lớn

Trang 29

1.1.6 Các tiêu chí và cấp độ của sáng tạo

a Dựa trên giá trị sản phẩm

- Cấp độ 1: Những sản phẩm có giá trị một cách khách quan: Những sản phẩm được tạo ra mang giá trị độc đáo là có ý nghĩa xã hội, thực sự khách quan nghĩa là những sản phẩm này có thể là những phát minh, sáng kiến, khuynh hướng, trường phái hoặc những sản phẩm và thậm chí là ý tưởng nào đó mà trước kia chưa từng có

- Cấp độ 2: Sản phẩm sáng tạo có giá trị chủ quan: Đặc điểm nổi bật của cấp

độ này là những sản phẩm tạo ra chuẩn có giá trị xã hội hay ý nghĩa xã hội Tất cả các sản phẩm sáng tạo có được của học sinh và ngay cả trẻ em mẫu giáo luôn có giá trị đối với chính bản thân chúng Nếu những sản phẩm sáng tạo này được đánh giá một cách đúng mức sẽ động viên, kích thích trẻ tạo ra những cái mới Nói khác đi, hai cấp độ sáng tạo có thể liên hệ chặt chẽ với nhau và sự phân chia cũng chỉ mang tính chất tương đối

b Dựa trên tính chất của sản phẩm sáng tạo

Có thể phân chia sáng tạo thành năm cấp độ khác nhau, bao gồm:

- Sáng tạo biểu hiện: là dạng cơ bản nhất của sáng tạo, không đòi hỏi tính độc đáo hay kĩ năng quan trọng nào Đặc trưng của cấp độ sáng tạo là tính bộc phát

“hứng khởi” và sự tự do khoáng đạt Theo Taylor, đây là bậc quan trọng nhất của sáng tạo vì không có nó thì chẳng có một chút sáng tạo nào cao hơn

- Sáng tạo chế tạo: là bậc cao hơn sáng tạo biểu hiện, đòi hỏi có kĩ năng nhất định

để thể hiện rõ ràng, chính xác các ý kiến, ý đồ của cá nhân Tính tự do, hứng khởi bột phát nhường bước cho các quy tắc trong khi thể hiện cái tôi của người sáng tạo

- Sáng tạo phát kiến: là sự phát hiện hoặc “ tìm ra” do “nhìn thấy” các quan hệ mới giữa các thông tin trước đây Cấp bậc sáng tạo này chưa phải là sáng tạo cao nhất mà mới chỉ là chế biến các thông tin cũ và sắp xếp lại chúng để đi đến các quan

hệ mới và đó chính là sự xuất hiện sáng kiến hay phát kiến

- Sáng tạo cải biến (đổi mới, cải cách): là cấp bậc sáng tạo cao, thể hiện sự am hiểu sâu sắc các kiến thức khoa học hoặc nghệ thuật, kỹ thuật hay sản xuất, tức đòi hỏi một trình độ thông tuệ nhất định Từ đó xây dựng được các ý tưởng cải tạo, cải cách có ý nghĩa xã hội, văn hoá và khoa học – kỹ thuật

- Sáng tạo trí tuệ đặc biệt: là loại sáng tạo cao nhất là những ý tưởng làm nảy sinh nghành mới, nghề mới, trường phát mới, vượt qua cả trí tuệ đương thời Đại diện cho những người đạt cấp bậc này có thể kể đến là Einstein trong vật lí học,

Trang 30

Picasso trong lĩnh vực hôị hoạvà nhiều sản phẩm sáng tạo khác mang một giá trị trí tuệ đặc biệt của một cá nhân hay nhóm có đẳng cấp cực cao trên phương diện ý nghĩa xã hội [5, tr45]

1.1.7 Điều kiện của sáng tạo

a Các điều kiện chung

- Não và các giác quan: Não và các giác quan hoạt động bình thường là cơ sở

quan trọng để phát triển sáng tạo của con người Nếu không có não thì không thể phát triển sáng tạo Tuy vậy chỉ khi nào được kích hoạt thật sự thì sáng tạo mới thật

sự được “vận động” Sự kích hoạt này phụ thuộc khá nhiều vào các điều kiện khác

và vào chính bản thân của chủ thể sáng tạo

- Môi trường: Môi trường được đề cập ở đây bao gồm cả môi trường tự nhiên

và môi trường xã hội Môi trường là nguồn gốc và nội dung của sáng tạo xét về cả phương diện loài hay phương diện cá nhân, quy định về nội dung và cả phương thức phát triển sáng tạo của con người Trong đó, môi trường xã hội là nguồn gốc của sự phát triển sáng tạo ở dạng tiềm năng và thúc đẩy sự phát triển sáng tạo diễn ra trong

sự tương tác với chính nó, là môi trường trong đó hoạt động sáng tạo diễn ra Môi trường này bao gồm các môi trường vật chất, xã hội và môi trường văn hóa tinh thần, là nơi chốn và thời gian mà con người chìm đắm trong công việc sáng tạo và nơi họ có khả năng tập trung cao độ để sáng tạo mà ở những môi trường mà họ không thể có được những khả năng đó

Môi trường xã hội sáng tạo là môi trường tạo điều kiện để con người nâng cao khả năng sáng tạo Nói tóm lại đó là tất cả các điều kiện kinh tế, chính trị,văn hóa

hỗ trợ và khuyến khích sự sáng tạo.Môi trường đó phải đảm bảo sự tự do cho các ý tưởng mới,cho sự suy nghĩ và tư duy tự do mà không bị một áp lực hay sự ràng buộc nào Những người sáng tạo luôn tìm kiếm môi trường làm việc cho mình hơn

là để môi trường ràng buộc Một số nhà nghiên cứu cho rằng, thay đổi môi trường

và tạo điều kiện để con người sáng tạo dễ hơn là ép buộc họ sáng tạo nhiều hơn (Gorni E (2007); Đỗ Thanh Năm (2008); Trần Thị Bích Liễu (2012) Hollanders H.và Cruisen(2009)cho rằng,chất lượng của nền giáo dục ước muốn được thể hiện bản thân của con người một cách nghệ thuật, sự cởi mở của xã hội đối với các nền văn hóa khác nhau tạo nên bầu không khí tích cực của một đất nước Bầu không khí càng tích cực thì sự sáng tạo càng có điều kiện để phát triển mạnh Các chính sách,cơ chế tài chính,các điều kiện pháp lí và các quy định của pháp luật…là những yếu tố ảnh

Trang 31

hưởng đến sự sáng tạo của mỗi cá nhân và của cả đất nước [3; tr 29 – 30]

Dự án của Comenius School Education 2006 cho rằng, giáo dục của nhà trường đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự sáng tạo của học sinh Nhà trường cung cấp cho học sinh các phương tiện để các em sáng tạo, phát triển các ý tưởng mới Lớp học tạo môi trường sáng tạo để học sinh sáng tạo, phát triển sự tò

mò, phát triển của cảm xúc, tư duy đa chiều và trí tưởng tượng của các em - những yếu tố cần thiết để phát triển sự sáng tạo

Lubart 2004 chỉ ra rằng, nhà trường có thể cung cấp môi trường rất có giá trị cho việc phát triển TDST của học sinh, sự phát triển của học sinh, NLST của các

em cần được đánh giá để có những chiến lược phát triển phù hợp và tốt hơn

Theo Sahlberg (2009), nhà trường là nơi tốt nhất để phát triển sự sáng tạo của học sinh thông qua các môn học trong chương trình như các môn nghệ thuật, nhạc, kịch, và giải quyết vấn đề Cũng theo ông, ở cấp tiểu học, mầm non thường có nhiều hoạt động sáng tạo hơn các cấp học cao hơn Ông đã làm rõ các điều kiện cần thiết

để nhà trường có thể phát triển sự sáng tạo của người học bao gồm: Coi trọng và thực hiện sự hợp tác trong trường học và dạy học hợp tác trong các lớp học; Chấp nhận sự mạo hiểm trong các trường học; Chấp nhận và học hỏi từ những lỗi lầm và thất bại Theo ông, để phát triển được sự sáng tạo của học sinh thì GV cần sử dụng các phương pháp dạy học sáng tạo để học sinh thực hiện các hoạt động theo những cách thức mới, nảy sinh các ý tưởng mới, có sự đồng hành của cách thức đánh giá mới, đánh giá sự sáng tạo thay cho đánh giá trắc nghiệm các kiến thức mà học sinh thu nhập được Các chuẩn về kết quả học tập hay chuẩn chất lượng giáo dục cũng là một cản trở vì nhà trường sẽ chú trọng thực hiện các hoạt động giáo dục sao cho học sinh đạt được một số chuẩn mực trong khi năng lực, sở thích và hứng thú của từng

cá nhân học sinh là khác nhau Ông đã chỉ ra một cách rõ ràng rằng, dạy học theo chuẩn theo những yêu cầu và những kết quả đầu ra đã được định sẵn là kẻ thù tồi tệ nhất của sáng tạo Khi các giáo viên dạy theo các chuẩn đặt ra từ bên ngoài hướng đến mỗi một kết quả học tập hẹp mà học sinh cần đạt thì giáo viên không bao giờ muốn thử nghiệm những phương pháp dạy học mới, sáng tạo hơn Đánh giá kết quả học tập bằng các trắc nghiệm dẫn đến việc người ta hạn chế chương trình dạy, sử dụng nhiều hơn các phương pháp dạy học truyền thống lấy giáo viên làm trung tâm, học sinh học vẹt và làm nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực [10; tr 40-43]

- Giáo dục: Giáo dục ở đây được hiểu là cả quá trình dạy dỗ nói chung mang

Trang 32

tính lâu dài và cả việc giáo dục chuyên biệt và giáo dục sớm Nếu không có giáo dục chắc chắn khó có thể có sự sáng tạo một cách thiết thực và hiệu quả Có những

sự sáng tạo xuất phát dường như “tự thân” nhưng ngay mầm mống của chúng lại là yêu cầu của giáo dục và tự giáo dục Bên cạnh đó, chính sự giáo dục cũng yêu cầu con người, yêu cầu học sinh phải sáng tạo Giáo dục sẽ đóng vai trò chủ đạo để phát triển sáng tạo Giáo dục cái mới sẽ không bao giờ đủ nhưng giáo dục sáng tạo để đạt đến cái mới, tìm cái mới là yêu cầu tối cần thiết, là trang bị công cụ tối ưu cho người có khả năng sáng tạo “Giáo dục sớm” lại có vai trò vô cùng quan trọng để nuôi dưỡng và phát triển TDST của con người Việc “giáo dục sớm” chính là việc mở ra môi trường kích thích sớm, tạo điều kiện để sáng tạo được thể hiện, được trắc nghiệm thông qua một điều kiện bộc lộ khả năng, nhu cầu, sở thích Rất nhiều thiên tài đã được giáo dục từ rất sớm một cách hiệu quả nhưng ở đây không phải là nhồi nhét mà là giáo dục chủ động, giáo dục phát triển bằng biện pháp kích thích sáng tạo

- Hoạt động thực tiễn: Dù rằng có khá nhiều điều kiện nuôi dưỡng sáng tạo

của con người nhưng tài năng hay khả năng sáng tạo của con người lại thường xuất phát từ thực tiễn, từ hoạt động thực tế Sự phát triển sáng tạo phải dựa vào bản thân hoạt động tích cực của con người, đó là tính chất hoạt động của công việc, thái độ làm việc,…Sự khác nhau của hoạt động thực tiễn thì kết quả phát triển NLST của con người cũng khác nhau Thực tiễn cuộc sống, xã hội luôn đề ra cho con người mọi vấn đề phức tạp, đa dạng và luôn mới mẻ Con người phải luôn khắc phục mọi khó khăn để giải quyết và qua đó con người phải tự rút ra những bài học thành công

và thất bại cho mình Sáng tạo không thể tự dưng mà có được hay có sự “chia sớt”

từ người này sang người khác Cũng không thể có chuyện đã đủ khả năng sáng tạo nên bằng lòng với hiện thực mà tất cả phải liên tục được rèn luyện phấn đấu, mày

mò và hoạt động bền bỉ

Như vậy, những yếu tố cùng tạo ra sự tác động đồng bộ đến việc hình thành và phát triển sáng tạo của con người Thế nhưng, sáng tạo chỉ thực sự phát triển dưới sự tác động của những yếu tố đặc thù nếu sự tác động này là đúng hướng và hiệu quả

b Một số điều kiện cụ thể

- Nhu cầu khám phá và đặc vấn đề cho mình: Nếu bằng lòng với thực tại, bằng

lòng với cách giải quyết vấn đề hiện có thì ắt hẳn không thể có sáng tạo Chính lòng mong muốn, ham thích khám phá và tự đặt câu hỏi sẽ làm cho sự TDST nảy sinh và phát triển Rất nhiều nghiên cứu cho thấy sản phẩm của sáng tạo xuất hiện ngay cả

Trang 33

khi được đặt vấn đề và đặc biệt là khi tự đặt vấn đề cho chính mình

- Sự tự tin: Có thể khẳng định rằng để chăm bón mầm mống của sáng tạo thì

hãy bắt đầu ở sự tự tin của con người Nếu con người buông thả cho số mệnh thì ắt hẳn khó có thể sáng tạo tích cực Có thái độ oán trách bản thân, oán trách hoàn cảnh

và oán trách người khác sẽ làm cho tiềm lực TDST bị thui chột Do đó, sự thành công của sáng tạo phải được bắt nguồn từ niềm tin kiên định Con người sẽ tin vào trí tuệ và năng lực của mình, tin vào cái đã nhận, cái mới khám phá và tự tin khi xác lập kết quả TDST Sự tự tin là lòng tin vào chính mình, tin vào khả năng của mình

và có lòng tự tin vào những giá trị sáng tạo đích thực Niềm tin kiên định và tự tin

sẽ giúp con người có thói quen TDST, sẽ làm khả năng sáng tạo phát triển khi được

khơi gợi, kích thích

- Tự rèn luyện và ý chí: Khả năng sáng tạo của con người xuất hiện từ rất sớm

nhưng không đồng nghĩa với việc là nó sẽ như vậy mãi mãi trong cuộc đời Sáng tạo được nuôi dưỡng thông qua sự tựrèn luyện và ý chí Nhờ vào ý chí, con người sẽ

nổ lực vượt khó để giải quyết vấn đề tưởng chừng là nan giải Tự rèn luyện cũng giúp con người có tinh thần và thói quen phấn đấu bền bỉ chuyên cần để đạt đến những yêu cầu đích thực của TDST Ý chí trong sáng tạo thể hiện rõ ở các giai đoạn: Nhận thức một mục đích; Khát vọng đạt được mục đích; Nhận thức về khả năng đạt được mục đích; Cân nhắc và quyết định chọn mục đích; Tiến hành thực

hiện mục đích

- Biết hoài nghi và không vâng lời: Chính sự hoài nghi và không vâng lời sẽ

kích thích con người tìm ra câu trả lời cho một vấn đề và đó là một mở đầu cho quá trình sáng tạo Hoài nghi ở đây không phải là phủ nhận hoàn toàn suy nghĩ hay cách làm của người khác mà đó đích thực là sự nghi ngờ và suy nghĩ khoa học Nếu vâng lời một cách máy móc, rập khuôn nhanh chóng thì làm sao có TDST khi sự thật phơi bày rõ ràng theo kết luận chủ quan Không vâng lời và hoài nghi dưới góc nhìn

sáng tạo được thể hiện rõ nhất qua các câu hỏi “Có phải là cái (giải pháp) tốt nhất

chưa? Còn giải pháp nào tốt không? Làm sao để cải thiện thêm? ”

- Cảm xúc: Không thể có sáng tạo khô cứng vốn không dựa trên một nền tảng

nhất định của cảm xúc Nhìn nhận một cách khách quan thì xúc cảm đóng vai trò khá quan trọng trong sáng tạo của con người Có thể thấy sự giận dữ, sợ hãi, sự sung sướng, sự ngạt nhiên, sự chán ghét,…đều ẩn hiện trong tiến trình liên tục của sáng tạo Cảm xúc và trường cảm xúc sẽ tạo ra một sản phẩm nhất định về mặt tinh

Trang 34

thần, mặt tâm lí và sẽ chi phối rất rõ sáng tạo Chính cảm xúc sẽ tạo nên một động

cơ và hướng đạo cho quá trình sáng tạo của con người đạt đến một kết quả nhất định, một sản phẩm nhất định Chính cảm xúc sẽ thâm nhập vào sự lựa chọn – quyết định vấn đề, tri giác, lựa chọn các thao tác và ra quyết định cuối cùng của TDST, sự chi phối này có thể bắt đầu từ những cảm xúc đơn giản đã nêu hoặc các cảm xúc

phức hợp và linh cảm trực giác [26]

Theo tác giả Đức Uy, động lực sáng tạo là khuynh hướng con người muốn thể

hiện chính mình muốn trở thành tiềm năng của mình Những điều kiện nội tâm cho

sự sáng tạo là: Sự cởi mở đón nhận kinh nghiệm; Khả năng lượng giá từ bên trong - Khả năng đùa giỡn với những yếu tố và những quan điểm Những điều kiện về mặt tâm lí nuôi dưỡng sự sáng tạo là: Có kiến thức vững chắc; Hứng thú nảy sinh sáng

tạo, sáng tạo lại thúc đẩy hứng thú; Chấp nhận cá nhân như một giá trị vô điều kiện; Tạo ra bầu không khí vắng mặt sự đánh giá từ bên ngoài; Sự cảm thông và hiểu biết triệt để cá nhân sáng tạo, tạo sự tự do tâm lí cho cá nhân sáng tạo; Có tính “nghi ngờ khoa học”: Cách làm này hay phương án này có tối ưu chưa ? Có cách giải quyết nào khác hay không ? Và khả năng tư duy độc lập, tự xác định phương hướng hoạt động của mình trong tình huống mới, tự phát hiện, tự tìm ra con đường giải quyết vấn đề

1.1.8 Phương pháp đo đạc đánh giá sáng tạo

a Phương pháp đo lường năng lực sáng tạo

Đo lường nghĩa là xác định độ lớn của một đặc điểm dựa vào một đơn vị phù hợp Điều này cũng thích hợp khi đo lường thành tích của một con người hay đo lường và đánh giá các đặc điểm thể chất của môt cá nhân, một nhóm

Việc đo lường hay chuẩn đoán sáng tạo của cá nhân thì các nhà khoa học sẽ tập trung khám phá nó bằng những công cụ chuyên biệt Có thể đề cập đến các lĩnh vực có thể đo lường sáng tạo của cá nhân như: Đo lường khả năng sáng tạo, tìm ra mức độ sáng tạo, đánh giá khả năng sáng tạo, tìm lực sáng tạo Thực chất của việc

đo lường sáng tạo là việc đánh giá khả năng sáng tạo theo chuẩn đo lường được xác định và thiết lập trước một cách khoa học Đo lường mức độ sáng tạo nhằm phân mức năng lực sáng tạo của khách thể dựa theo phân phối chuẩn trong lí thuyết và xác xuất thống kê

Khả năng sáng tạo được đo lường thông qua các trắc nghiệm Quá trình này được diễn ra bằng cách đo khả năng sáng tạo khi các cá nhân được kiểm tra thử

Trang 35

thách thông qua giải quyết các nhiệm vụ đã được chọn lọc, chuẩn hóa một cách cẩn thận Xét trên phương diện hình thức, các trắc nghiệm sáng tạo có nhiều nhiệm vụ

và các nhiệm vụ trắc nghiệm này có thể cấu trúc khác nhau Khi các nhiệm vụ trong trắc nghiệm được cấu trúc cao theo hướng tìm ra nhiều hướng thì nghiệm thể càng

có cơ hội bộc lộ khả năng tìm ra các cách giải quyết mới, sáng tạo ra những tổ hợp độc đáo và mới lạ Chính vì thế, các bài tập để đo lường khả năng sáng tạo thường được thiết kế theo hướng có cấu trúc kiểu trả lời chọn nhiều lần Lẽ đương nhiên, các dạng bài tập này thì việc đánh giá các phương án trả lời sẽ rất khó khăn và không thể loại bỏ hoàn toàn tính chủ quan vì bản thân ranh giới giữa đúng và sai không rạch ròi cũng như sự tham gia của cảm xúc hay yếu tố cảm tính là rất cao Như vậy đo lường khả năng sáng tạo là một công việc đầy thách thức Để đo lường chính xác đòi hỏi người đo lường phải xác định chính xác cái cần đo, chọn lọc công cụ đo lường thích hợp và giải mã những con số đo lường được sao cho thật chính xác và khách quan

b Thẩm định phát minh, sáng chế

Xã hội này càng phát triển đòi hỏi có những phát minh mới phục vụ cho đời sống của con người cũng như phát triển của xã hội Trong guồng quay liên tục, phát minh, sáng chế được ra đời như là một đáp ứng rất tự nhiên Một thực tế hết sức hiển nhiên là có những phát minh, sáng chế thực sự là mới, nhưng cũng không ít trường hợp cứ đoán chắc rằng ý tưởng này là độc đáo, là tuyệt vời nhưng thực chất lại chưa hẳn như thế

Trong hoạt động sáng tạo của con người, những sáng chế (được gọi là licence)

sẽ phải trải qua khá nhiều công đoạn khác nhau Từ những sáng chế rất bình thường như cải tiến một vấn đề nào đó đến những sáng chế phức tạp hơn mang tầm vóc quốc gia thì tất cả đều phải trải qua các bước thẩm định như sau: Xác định tác giả của sáng chế, cải tiến; Xác định các giải pháp kĩ thuật so với chuẩn sáng chế; Cấp giấy chứng nhận tác giả hoặc công nhận sáng chế (patent); Xác định quyền chuyển nhượng hay sử dụng; Bảo mật sáng chế theo quy mô

Thực chất cho thấy khâu quan trọng nhất đó chính là việc xác định các giải pháp kĩ thuật so với chuẩn sáng chế Như đã nói ở trên việc tạo ra ý tưởng luôn luôn

là niềm vui đối với những người sáng tạo nhưng trong thực tế hoàn toàn có thể ý tưởng này đã xuất hiện ở đâu đó dưới dạng thức này hay dạng thức khác Hơn thế nữa, những tiêu chuẩn như liệu có phải là cái mới thực sự, liệu có phải đó là cái có

Trang 36

lợi và liệu đây phải là cái sử dụng được là những câu hỏi rất lớn Giải quyết điều này thì tất cả những gì gọi là sáng chế sẽ được phân chia thành ba dạng: Dạng ý tưởng, dạng ý tưởng sản phẩm và dạng sản phẩm cụ thể Thông thường chỉ có dạng sản phẩm cụ thể là cái dễ dàng hình dung và được bảo hộ một cách rất hiệu quả Còn sản phẩm dạng ý tưởng thật sự vẫn được bảo vệ ở một số quốc gia khi căn cứ vào ngày giờ cũng như chi tiết hồ sơ nộp đăng ký bản quyền [15; 96 -99]

c Mô hình WICS đánh giá năng lực thế kỷ XXI của học sinh

Mô hình WICS được viết tắt từ các từ: Wisdon, Intelligence, Creativity và Synthesized = Sự thông thái, trí thông minh, sự sáng tạo và khả năng tổng hợp (Sternberg 2003) Mô hình này dùng để đánh giá các loại năng lực khác nhau

Một công dân tích cực và có trách nhiệm, đặc biệt một người lãnh đạo trong thế kỷ XXI được cho rằng cần có năng lực sau đây:

- Có một viễn cảnh sáng tạo về việc họ sẽ làm cho thế giới tốt đẹp hơn như thế nào không chỉ cho bản thân mà cho gia đình, bạn bè và những người khác

- Có kĩ năng trí tuệ để giải thích viễn cảnh của mình cho những người khác hiểu và giải thích viễn cảnh của những người khác

- Có kĩ năng trí tuệ thực hành để thực thi viễn cảnh của mình và thuyết phục những người khác về giá trị của nó

- Có sự thông thái để đảm bảo rằng các ý tưởng của họ thể hiện quyền lợi chung của mọi người, bạn bè và gia đình Đánh giá sự thông thái là đánh giá sự sáng tạo và kiến thức, kĩ năng mà một người có được

Như vậy, khi kiểm tra đánh giá học sinh nên chú ý đánh giá kỹ năng sáng tạo

và tư duy thực hành Để đánh giá và giúp học sinh tự đánh giá cần xây dựng thang đánh giá về các tiêu chí kĩ năng phân tích, kĩ năng sáng tạo (tính mới, tính độc đáo….), kĩ năng thực hành (mức độ hoàn thành thao tác phù hợp với thời gian, với nguồn lực, tính thực tế ), sự thông thái (sự kết hợp giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung, sự sâu sắc và mức độ rộng của kiến thức…)

d Đánh giá tính sáng tạo của sản phẩm theo mô hình CPAM

Mô hình CPAM là viết tắt của các từ Creative Product Analysis Model (Hình ảnh) Mô hình này gồm 3 đơn vị đo:

- Tính mới: Đo lường tính sáng tạo trong sản phẩm gồm: Vật liệu mới, quá trình sản xuất mới, các khái niệm mới, các yếu tố mới của sản phẩm mới hay ý tưởng mới Tuy nhiên chỉ một mình tính mới thì không đủ khi xem xét một sản

Trang 37

phẩm bởi vì như vậy có thể dẫn đến việc đánh giá không đúng, do đôi khi chỉ có những sản phẩm có những tính chất kì dị hay kì quái Hai tính chất khác của tính mới là tính đặc sắc (originality), và tính chất khác là tính ngạc nhiên (surprise).Tính đặc sắc là một trong những đặc tính cơ bản của sản phẩm và người ta rất mong chờ đặc điểm này Tính ngạc nhiên của sản phẩm là chúng ta có thể cảm thấy thích thú hay bị sốc với sản phẩm Nếu sản phẩm gây sốc nó có thể không được thị trường chấp nhận Sản phẩm phải mới, phải có tác dụng giải quyết vấn đề và có tính riêng,

có tác dụng hữu ích với người dùng Vì vậy nó cần có hai đơn vị đo khác sau đây

- Giải pháp giải quyết vấn đề: Đặc điểm này của sản phẩm liên quan đến việc sản phẩm mới này hoạt động như thế nào, các chức năng của nó ra sao? Nó làm cho người ta thỏa mãn như thế nào? Sản phẩm có khả năng giải quyết vấn đề giúp người dùng biết cách dùng, biết logic của nó và tính chất hữu ích của nó.Tính hữu ích của

nó phù hợp với chiến lược tổ chức.Tính logic của sản phẩm thể hiện ở sự tôn trọng triệt để với “các quy định của trò chơi”.Sản phẩm có tính cần thiết phục vụ và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Một sản phẩm có ích có khả năng ứng dụng và đáp ứng mong đợi của người dùng Sản phẩm có giá trị theo một số cách: Gói tiền, gói trị tâm lý tinh thần, nó có tác dụng tiết kiệm thời gian và làm cho công việc dễ dàng thực hiện hơn Sản phẩm đó phải dễ hiểu, đặc biệt là các sản phẩm về kĩ thuật – phải giúp người tiêu dùng hiểu và biết cách sử dụng

- Kiểu cách (Style): Kiểu cách thể hiện “tính riêng” hay “đối mặt với thế giới” tin cậy và an toàn: Hữu cơ (Organic) Có nghệ thuật, kĩ nghệ tốt (Well- crafted), và trang nhã (Elegant) Tính hữu cơ của sản phẩm thể hiện ở đặc tính thiên nhiên của

nó (không có yếu tố hóa học) Tính nghệ thuật, kĩ nghệ tốt thể hiện ở chất liệu tốt, tính đẹp và bền của sản phẩm và các chi tiết tinh tế hay có các dịch vụ phục vụ thêm Tính trang nhã thể hiện ở tính đơn giản của sản phẩm, khách hàng đánh giá cao Nếu bạn có thể đánh giá, làm tốt lên và phát triển kiểu cách của sản phẩm của bạn thì bạn sẽ có một thứ vũ khí bí mật để chiến thắng trong thế giới người tiêu dùng tinh tế hiện nay

e Đánh giá quá trình sáng tạo

Đánh giá quá trình sáng tạo có tác dụng khuyến khích sự sáng tạo thông qua quá trình thực hiện các hoạt động sáng tạo chúng ta có thể thấy được năng lực tổ chức hoạt động, vượt qua được cản trở và hướng đích của học sinh

Đánh giá quá trình sáng tạo có thể thực hiện như sau:

Trang 38

- Tính sáng tạo của mục tiêu và kế hoạch đề ra: Kế hoạch có nhiều giải pháp sáng tạo, cách nhìn nhận và phân tích vấn đề sáng tạo và có các chương trình hành động khác nhau để thực hiện mục tiêu đề ra;

- Tính sáng tạo của quá trình tổ chức thực hiện: Linh hoạt trong quá trình thực hiện hay lựa chọn nguồn lực, phân công trách nhiệm, vận dụng nhiều thao tác trí thuệ để thực hiện nhiệm vụ…

Thế kỉ XXI đòi hỏi phải thay đổi hình thức đánh phù hợp với yêu cầu phát triển năng lực sáng tạo của công dân và với các hình thức, phương pháp dạy học mới Các phương pháp đánh giá này giúp học sinh phát huy được các sở trường, trí tưởng tượng của các em và giúp giáo viên học hỏi từ học sinh của mình [10; tr 92-97]

Trong dạy học, việc đánh giá học sinhnhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò, tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy Để đào tạo ra những con người năng động sáng tạo, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không chỉdừng lại ở việc tái hiện các kiến thức, kĩ năng đã học mà phải phát huy trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế Đánh giá kết quảhọc tập của HS là việc làm thường xuyên của người GV Chúng ta có nhiều kinh nghiệm trong việc đánh giá kết quả học tập của HS qua các bài tập tái hiện Đối với các bài tập sáng tạo thì khi đánh giá có thể dựa vào các biểu hiện của năng lực sáng tạo Tuy nhiên

để giúp việc kiểm tra đánh giá năng lực sáng tạo một cách dễdàng, chính xác, ta có thểáp dụng các cách sau :

- Sử dụng phối hợp các phương pháp kiểm tra – đánh giá khác như: Viết, vấn đáp, thí nghiệm, trắc nghiệm tự luận, trắc nghiệm khách quan

- Sử dụng các câu hỏi phải suy luận, bài tập có yêu cầu tổng hợp, khái quát hoá, vận dụng lí thuyết vào thực tiễn

- Chú ý kiểm tra tính linh hoạt, tháo vát trong thực hành, thực nghiệm (thí nghiệm hoá học, sử dụng các phương tiện trực quan)

- Kiểm tra việc thực hiện những bài tập sáng tạo và tìm ra cách giải ngắn nhất, hay nhất (những bài tập yêu cầu học sinh đềxuất nhiều cách giải quyết)

- Đánh giá cao những biểu hiện sáng tạo dù nhỏ

f Các test sáng tạo

Các bài tập của test sáng tạo đặt cho nghiệm thể nhiệm vụ phải đưa càng nhiều càng tốt các lời giải bài tập đã cho Các trả lời này không phải được đánh giá đúng -

Trang 39

sai mà là xem xét theo các tiêu chí khác hơn: Mới mẻ, độc đáo (hiếm, lạ) và tối lợi

Tất nhiên, việc đánh giá về test sáng tạo ít nhiều mang tính chủ quan

Một số nguyên tắc soạn thảo các bài tập (item) của test sáng tạo như sau:

- Bài tập test sáng tạo phải đặt ra cho nghiệm thể một vấn đề nào đó

- Trả lời các bài tập test sáng tạo không phải là hệ quả logic rút ra từ các yếu tố

- Tạo cho nghiệm thể tâm lý không ngần ngại bị đánh giá đúng sai mà có tâm lý

đề xuất càng nhiều ý tưởng mới hơn người khác càng tốt

Đặc điểm kỹ thuật của test sáng tạo: Test sáng tạo cũng có dạng nhóm và

dạng cá nhân như ở test thông minh Ở cả hai dạng, test sáng tạo đều có thể sử dụng vật liệu test là ngôn ngữ, hình vẽ, đồ vật, hành động hoặc sự kết hợp của những vật liệu này

Về mặt kỹ thuật, một bộ test sáng tạo là một hệ thống bài tập (Items) cần thiết, hợp lí có khả năng kích thích tính sáng tạo nghiệm thể Tại mỗi bài tập không đòi hỏi nghiệm thể lựa chọn lời giải đúng hoặc sai như ở test thông minh (test trí tuệ truyền thống) mà đòi hỏi nghiệm thể đề xuất càng nhiều tốt các ý tưởng giải pháp, phương án, cách thức Các giải pháp càng độc đáo, hiếm lạ, gây ngạc nhiên cho

người khác càng tốt

Các loại trắc nghiệm sáng tạo bao gồm:

Trắc nghiệm sáng tạo định hướng sản phẩm phân kì: Đây là những trắc

nghiệm sáng tạo được xây dựng theo khuynh hướng chỉ đánh giá số lượng sản phẩm

phân kì Các trắc nghiệm sáng tạo tiêu biểu cho loại này là:

- Test tổng nghiệm “Digergence - Production - Testbatterie” - DPT của Guilford

- Test TDST của Torrance bao gồm 12 tiểu test có vật liệu test là ngôn ngữ, hình, âm thanh

- Test TDST của Schoppe gồm 9 tiểu test với vật liệu ngôn ngữ Kết quả test dẫn đến xác định CQ của nghiệm thể

Trắc nghiệm sáng tạo định lượng và định tính: Xây dựng dựa trên quan niệm

Trang 40

cho rằng tính sáng tạo là một thành phần trí tuệ đồng thời phụ thuộc vào những mặt nhân cách khác, hay tính sáng tạo được đánh giá trên cơ sở định tính và định lượng

đồng thời Thuộc vào loại test sáng tạo này là:

- Trắc nghiệm sáng tạo TCT - DP của Kratzmeier được cấu tạo bởi ba hoạ tiết của một bức tranh vẽ chưa xong, đòi hỏi nghiệm thể phải hoàn thành bức tranh theo

ý tưởng riêng trong 15 phút

- Trắc nghiệm sáng tạo TSD - Z của Klaus K Urban Được cấu tạo bởi 6 hoạ tiết của một bức tranh vẽ chưa xong (có một hoạ tiết ngoài khung tranh), đòi hỏi nghiệm thể phải hoàn thành bức tranh theo ý tưởng của mình trong 15 phút Sản phẩm vẽ (bức tranh) được đánh giá theo 14 tiêu chí Điểm bức tranh (điểm thô) được tra theo bảng chuẩn của test sẽ dẫn đến chỉ số CQ của nghiệm thể

g Cách đánh giá

Theo quan điểm phát triển năng lực, việc đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá Đánh giá kết quả học tập theo năng lực cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau.Thông qua việc hoàn thành một nhiệm vụ trong bối cảnh thực, người ta có thể đồng thời đánh giá được cả kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hiện và những giá trị, tình cảm của người học Mặt khác, đánh giá năng lực không hoàn toàn phải dựa vào chương trình giáo dục môn học như đánh giá kiến thức, kỹ năng, bởi năng lực là tổng hòa, kết tinh kiến thức,

kỹ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, chuẩn mực đạo đức,… được hình thành từ nhiều lĩnh vực học tập và từ sự phát triển tự nhiên về mặt xã hội của một con người Có thể tổng hợp một số dấu hiệu khác biệt cơ bản giữa đánh giá năng lực người học và đánh giá kiến thức, kỹ năng của người học như sau:

- Vì sự tiến bộ của người học so với chính

họ

- Xác định việc đạt kiến thức, kỹ năng theo mục tiêu của chương trình giáo dục

- Đánh giá, xếp hạng giữa những người học với nhau Ngữ cảnh - Gắn với ngữ cảnh học tập và thực tiễn - Gắn với nội dung học tập

Ngày đăng: 09/05/2021, 20:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w