1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng chương trình ngoại khóa nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THCS tại khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng

129 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VÀ NHU CẦU CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH ĐỐI VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA NHẰM GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC TRƯỜNG THCS TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG .... Giáo dục môi t

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA SINH MÔI TRƯỜNG

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận có nguồn gốc rõ ràng, tuân thủ đúng theo nguyên tắc và trung thực, chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Sinh viên thực hiện

Trần Thị Cẩm Tiên

Trang 3

Xin chân thành cảm ơn chị Lê Thị Trang và Trung tâm Bảo tồn Đa dạng Sinh học Nước Viêt Xanh (GreenViet) đã tạo điều kiện, cung cấp cho tôi những hiểu biết thực tế hơn về Khu bảo tồn Thiên nhiên Sơn Trà, cũng như đã nhiệt tình hỗ trợ cho tôi để thực hiện chương trình giáo dục cho học sinh tại Khu bảo tồn Thiên nhiên Sơn Trà Xin trân trọng cảm ơn bạn Thu (13SS), Diễm (13SS), Tường An (13SS), Thúy (13SS), Dung (13SS), Tiệp (14CTM), Minh Phước (13CTM) trong nhóm đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô trong Khoa Sinh

Môi Trường đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành khóa luận này Cám

ơn các bạn sinh viên trong khoa đã nhiệt tình giúp đỡ và góp ý cho khóa luận của tôi

Đà Nẵng, ngày tháng năm 2016

Sinh viên thực hiện

Trần Thị Cẩm Tiên

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa khoa học của đề tài 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI 4

1.1.1 Hoạt động ngoại khóa 4

1.1.2 Môi trường và Giáo dục môi trường 4

1.1.3 Chương trình giáo dục 5

1.1.4 Khu bảo tồn thiên nhiên 7

1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU GDMT TRÊN THẾ GIỚ VÀ VIỆT NAM 9

1.2.1 Trên thế giới 9

1.2.2 Ở Việt Nam 11

1.3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA 14

1.3.1 Đặc điểm của HĐNK 14

1.3.2 Phân loại HĐNK 15

1.3.3 Vai trò của HĐNK GDBVMT 15

1.3.4 Nguyên tắc xây dựng và tổ chức HĐNK 17

1.4 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH 18

1.4.1 Mục đích của GDMT 18

1.4.2 Mục tiêu của GDMT 18

1.4.3 Nguyên tắc của GDMT ở trường học 19

1.4.4 Cách tiếp cận trong GDMT 20

1.4.5 Phương pháp GDMT 21

1.4.6 Các hình thức tổ chức GDMT 21

Trang 5

1.4.7 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THCS 21

1.4.8 GDMT và những trở ngại chính trong việc phát triển, thực hiện và đánh giá 21

1.5 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 22

1.5.1 Vị trí địa lí và địa hình 22

1.5.2 Đặc điểm khí hậu 22

1.5.3 Tài nguyên rừng 22

1.5.4 Tài nguyên sinh vật 23

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 25

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.1.2 Khách thể nghiên cứu 25

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 25

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 26

2.3.2 Phương pháp khảo sát và tổ chức thực địa 26

2.3.3 Phương pháp điều tra, phỏng vấn 26

2.3.4 Phương pháp thực nghiệm chương trình ngoại khóa 27

2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 28

2.3.6 Phương pháp chuyên gia 28

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 29

3.1 THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VÀ NHU CẦU CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH ĐỐI VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA NHẰM GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC TRƯỜNG THCS TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 29

3.1.1 Nhận thức của giáo viên và học sinh về vai trò của hoạt động ngoại khóa cho học khóa cho học sinh THCS hiện nay 29

Trang 6

3.1.2 Ý kiến của giáo viên về những lợi ích của giáo dục ngoại khóa

30

3.1.3 Ý kiến của giáo viên và học sinh về địa điểm để tổ chức giáo dục ngoại khóa 31

3.2 XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH NGOẠI KHÓA TẠI KBTTN SƠN TRÀ 33

3.2.1 Quy trình thiết kết chương trình ngoại khóa tại KBTTN 33

3.2.2 Chương trình ngoại khóa về GDBVMT tại KBTTN Sơn Trà 37

3.2.3 Đánh giá chương trình ngoại khóa GDBVMT 54

3.3 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ BÀN LUẬN 54

3.3.1 Hiểu biết của học sinh về vai trò của Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà 54

3.3.2 Mức độ quan tâm của học sinh đến tự nhiên và môi trường xung quanh 55

CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57

4.1 KẾT LUẬN 57

4.2 KIẾN NGHỊ 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

Trang 7

KBTTN Khu bảo tồn thiên nhiên

IUCN Internation Union for Conversation of Nature:

Liên minh quốc tế về bảo tồn thiên nhiên

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

3.1 Ý kiến của giáo viên về những lợi ích đạt được của

3.2 Ý kiến của giáo viên về địa điểm để tổ chức giáo dục

3.3 Ý kiến của học sinh về địa điểm để tổ chức giáo dục

3.4 Nội dung chương trình ngoại khóa “Một ngày trong

rừng” tại KBTTN Sơn Trà cho học sinh THCS 41

Trang 9

DANH MỤC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ

Số hiệu hình

ảnh, biểu đồ

Tên hình ảnh, biểu đồ Trang

3.1 Biểu đồ Nhận định của giáo viên và học sinh về vai

trò của hoạt động ngoại khóa cho học sinh THCS hiện nay

3.5 Biểu đồ Mức độ quan tâm đến môi trường của học

sinh trước khi tham gia chương trình ngoại khóa

56

3.6 Biểu đồ Mức độ quan tâm đến môi trường của học

sinh sau khi tham gia chương trình ngoại khóa

56

Trang 10

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng phát triển nhanh chóng theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa và đạt được nhiều thành tựu trên nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, kéo theo đó là những vấn đề về tự nhiên, xã hội như ô nhiễm môi trường, mất đa dạng sinh học, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, biến đổi khí hậu,… ngày càng trở nên nghiêm trọng đe dọa trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại và tương lai

Trước tình hình đó, chính phủ Việt Nam đã đề ra nhiều biện pháp nhằm giảm thiểu và hạn chế các vấn đề môi trường Trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò quan trọng của giáo dục môi trường, đây được coi là một phương pháp hiệu quả để xây dựng và nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cho người dân, và đặc biệt là với giới trẻ Giáo dục môi trường cho học sinh đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng kiến thức, thái độ đối với môi trường

và thúc đẩy hành vi tích cực để bảo vệ môi trường Giáo dục môi trường ở Việt Nam đã và đang được giảng dạy cho học sinh các cấp dưới nhiều hình thức khác nhau, tuy nhiên chưa thực sự hiệu quả vì nhiều lý do như: Thiếu các hoạt động ngoại khóa giáo dục bảo vệ môi trường trong môi trường tự nhiên, đặt biệt là tại các khu bảo ồn thiên nhiên, vườn quốc gia; trong chương trình giảng dạy ở Việt Nam, kiến thức về vấn đề môi trường không được dạy như một môn học độc lập và mới chỉ được nghiên cứu tích hợp vào các môn học khác như sinh học, địa lý… tuy nhiên vẫn chưa được ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn dạy học Bên cạnh đó, những chủ đề chủ yếu cũng chỉ giới hạn giảng dạy trong các lớp học và học sinh không có nhiều cơ hội để thực hành hay tự khám phá chúng Do đó, học sinh còn thiếu trải nghiệm thực tế, tình yêu và nguồn cảm hứng từ thiên nhiên và môi trường xung quanh

Trang 11

2

Khu bảo tồn thiên nhiên nhiên Sơn Trà nằm trên Bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, có tổng diện tích tự nhiên 4439 ha với khoảng với 985 loài thực vật và 287 loài động vật Đây là một khu bảo tồn sinh thái độc đáo gồm đất ướt ven biển và rừng nhiệt đới nguyên sinh Nơi đây có nhiều loài động thực vật quý hiếm trong đó phải nói đến loài Voọc chà vá chân nâu là thú loài linh trưởng đặc hữu ở Đông Dương đang có nguy cơ tuyệt chủng và cần được bảo

vệ [14] Với hệ sinh thái tự nhiên rất đa dạng và phong phú, Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà trong những năm gần đây đã phát triển một số tour du lịch sinh thái để cho du khách đến khám phá và hòa mình với vẻ đẹp thiên nhiên nơi đây Đây là điều kiện để phát triển giáo dục môi trường cho học sinh Đà Nẵng tại khu bảo tồn thiên nhiên

Giáo dục môi trường cho học sinh thông qua chương trình ngoại khóa ở trong các Khu bảo tồn thiên nhiên hay vườn quốc gia là một hình thức mới trong giáo dục bảo vệ môi trường ở Việt Nam cũng như ở Đà Nẵng Xuất phát

từ những lí do trên, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Xây dựng chương trình ngoại khóa nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THCS tại khu Bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng được chương trình ngoại khóa nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THCS tại khu Bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng Qua đó, giúp cho học sinh THCS có cơ hội trải nghiệm thực tế ngoài thiên nhiên, càng thêm yêu quý và có trách nhiệm với thiên nhiên và môi trường sống xung quanh

3 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Thông qua việc tổ chức chương trình ngoại khóa giáo dục bảo vệ môi trường dựa vào môi trường tự nhiên tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Sơn Trà cho học sinh THCS sẽ góp phần giúp đưa học sinh đến với phương pháp học

Trang 12

3

thông qua trải nghiệm thực tế, học từ tự nhiên để từ đó nâng cao nhận thức về môi trường xung quanh Qua chương trình này, học sinh không chỉ được cung cấp kiến thức về môi trường một cách trực quan và lý thú, mà còn được rèn luyện các kỹ năng cần thiết để tự tìm tòi, nghiên cứu ngoài thực địa, từ đó dần dần hình thành thái độ tôn trọng và biết cách ứng xử thân thiện với môi trường tự nhiên hơn Nhờ đó, công tác giáo dục môi trường cho học sinh cũng đạt hiệu quả tốt hơn

Trang 13

4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI

1.1.1 Hoạt động ngoại khóa

Hoạt động ngoại khóa (HĐNK) được hiểu như là những hoạt động được

tổ chức ngoài giờ học của các môn học ở trên lớp HĐNK là sự tiếp nối hoạt động dạy – học trên lớp, là con đường gắn lí thuyết với thực tiễn, tạo sự thống nhất giữa nhận thức với hành động của học sinh, là việc tổ chức giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa học – kĩ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hóa văn nghệ, thẩm mĩ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí, … để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách (đạo đức, năng lực, sở trường, …) [5]

1.1.2 Môi trường và Giáo dục môi trường

a Môi trường

Môi trường là tập hợp các điều kiện bên ngoài mà sinh vật tồn tại trong

đó Môi trường của con người bao gồm các lĩnh vực tự nhiên, xã hội, công nghệ, kinh tế, chính trị, đạo đức, văn hóa, lịch sử và mỹ học [12]

Theo Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 của Việt Nam đã giải thích: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”

Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển

b Giáo dục môi trường

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về GDMT:

GDMT là một quá trình nhằm phát triển ở người học sự hiểu biết và quan tâm trước những vấn đề môi trường, bao gồm: Kiến thức, thái độ, hành

vi, trách nhiệm và khả năng để tự mình và cùng tập thể đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề môi trường trước mắt cũng như lâu dài [1]

Trang 14

5

Theo Jonathon Wigley, 2000 có nêu rõ “GDMT là một quá trình phát triển những tình huống dạy/học hiệu quả giúp người dạy và người học tham gia giải quyết những vấn đề môi trường liên quan, đồng thời tìm ra một lối sống có trách nhiệm và được thông tin đầy đủ”

Điều quan trọng nhất là tất cả những định nghĩa khác nhau này đều có một số điểm cơ bản sau:

- GDMT là một quá trình diễn ra trong một khoảng thời gian ở nhiều địa điểm khác nhau, thông qua những kinh nghiệm khác nhau và bằng những phương thức khác nhau

- GDMT nhằm thay đổi hành vi

- Môi trường học tập chính là môi trường và các vấn đề có trong thực tế

- GDMT liên quan đến việc giải quyết vấn đề và ra quyết định về cách sống

- Trong GDMT, việc học phải tập trung vào người học và lấy hành động làm cơ sở [7]

1.1.3 Chương trình giáo dục

a Định nghĩa chương trình giáo dục

Theo định nghĩa đầy đủ: “Chương trình giáo dục là một khung của nhiều hoạt động lên kế hoạch bởi nhà trường nhằm khuyến khích học sinh học tập,

nó liên quan tới tất cả các khía cạnh của người dạy, phương pháp sử dụng, các hoạt động, các vấn đề môn học và các tiêu chí đánh giá cũng như phương pháp để đưa ra phán quyết những kết quả học tập của học sinh Đây có thể là chương trình nội khóa hoặc ngoại khóa” [2], [3]

b Thành phần của chương trình

Trang 15

- Quy trình kiểm tra, đánh giá

c Các đặc điểm của một chương trình tốt

- Cấu trúc của chương trình: [3]

+ Rộng (có nội dung, kiến thức rộng, liên hệ thực tế cuộc sống)

+ Cân đối (nội dung, kiến thức không quá xa vời, phù hợp với đối tượng)

+ Có sự kế tiếp (tìm hiểu các chương trình trước và tiếp nối kết quả, hoặc thừa hưởng từ những nghiên cứu có sẵn)

+ Khăng khít, chặt chẽ (các nội dung trong chương trình phải logic với nhau)

- Trải nghiệm của học sinh: Sự tiến triển, kế tiếp, đa dạng, liên hệ [3]

d Các hình thức đưa GDMT vào chương trình giáo dục

GDMT như một môn học độc lập

- Dễ dàng cho việc kiểm tra, đánh

giá

- Không khả thi vì phải đào tạo

mới giáo viên bộ môn GDMT

- Chỉ thích hợp cho bậc đại học

hoặc cao hơn

Lồng ghép/Khai thác GDMT trong một số môn học cụ thể

- Có thể thực hiện ở các trường phổ

thông

- Khó đánh giá vì nội dung GDMT nằm rải rác trong một số môn học

Trang 16

7

- Không phải đào tạo mới giáo viên

bộ môn

khác nhau

GDMT xen vào tất cả các môn học

- Học sinh được tiếp cận với kiến

thức đa dạng về GDMT theo

nhiều khía cạnh môn học khác

nhau

- Không khả thi đối với một số

môn học vì giáo viên bộ môn chưa có khái niệm về GDMT

- Cần đào tạo tất cả giáo viên bộ

môn về GDMT

- Khó tiến hành kiểm tra đánh giá Dành một phần quỹ thời gian trong chương trình cho GDMT

- Có thể thực hiện ở trường phổ

thông thông qua các chiến dịch

môi trường, các chuyến tham

Theo Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) (1994) đã định nghĩa:

“Khu bảo tồn thiên nhiên là vùng đất hay vùng biển đặc biệt được dành để

bảo vệ và duy trì tính đa dạng sinh học, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, kết hợp với việc bảo vệ các tài nguyên văn hoá và được quản lí bằng pháp luật hoặc các phương thức hữu hiệu khác” [11]

b Mục tiêu của các KBTTN

Mục tiêu quản lý của các KBTTN rất đa dạng, trong đó có các mục tiêu sau:

Trang 17

8

- Nghiên cứu khoa học;

- Bảo vệ các vùng hoang dã;

- Bảo vệ sự đa dạng loài và gen;

- Duy trì các lợi ích về môi trường từ thiên nhiên;

- Bảo vệ các cảnh quan đặc biệt về thiên nhiên và văn hoá;

- Sử dụng cho du lịch và giải trí;

- Giáo dục;

- Sử dụng hợp lí các tài nguyên từ các hệ sinh thái tự nhiên;

- Duy trì các biểu trưng văn hoá và truyền thống

Khu bảo tồn thiên nhiên là những khu được bảo vệ nghiêm ngặt, chỉ dành cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo và quan trắc môi trường Các khu bảo tồn thiên nhiên này cho phép gìn giữ các quần thể của các loài cũng như các quá trình của hệ sinh thái không hoặc ít bị nhiễu loạn [11]

c Yêu cầu đối với các KBTTN

- Vùng đất tự nhiên có dự trữ tài nguyên thiên nhiên và có giá trị đa dạng sinh học cao;

- Có giá trị cao về khoa học, giáo dục, du lịch;

- Có các loài động thực vật đặc hữu hoặc là nơi cư trú, ẩn náu, kiếm ăn

của các loài động vật hoang dã quý hiếm;

- Đủ rộng để chứa được một hay nhiều hệ sinh thái, tỷ lệ cần bảo tồn trên 70% [11]

d Phân loại khu BTTN

Theo IUCN (1994), hệ thống phân hạng khu bảo tồn thiên nhiên gồm có:

- Khu dự trữ thiên nhiên nghiêm ngặt/khu bảo vệ hoang dã: chủ yếu để nghiên cứu khoa học hay bảo vệ vùng hoang dã;

Trang 18

9

Khu dự trữ thiên nhiên nghiêm ngặt (tiếng Anh: Strict Nature Reserve): chủ yếu cho nghiên cứu khoa học;

Vùng hoang dã (Wildeness Area): chủ yếu để bảo vệ sự nguyên vẹn

của vùng chưa có sự tác động của con người;

- Vườn quốc gia (National Park): chủ yếu bảo tồn hệ sinh thái và giải trí,

du lịch;

- Khu bảo tồn thắng cảnh tự nhiên (National Monument/Natural Landmark): chủ yếu bảo tồn các cảnh quan độc đáo, có giá trị;

- Khu bảo tồn loài/sinh cảnh (Habitat/Species Management Area): chủ

yếu bảo tồn các hệ sinh thái hoặc các loài bằng cách quản lí có sự can thiệp tích cực;

- Khu bảo tồn cảnh quan đất liền/biển (Protected Landscape/Seascape):

bảo tồn phong cảnh thiên nhiên đẹp chủ yếu cho giải trí, du lịch;

- Khu bảo tồn kết hợp sử dụng bền vững tài nguyên (Managed Resource Protected Area): khu bảo tồn được quản lí để sử dụng hợp lí các hệ sinh

và xã hội [16]

Trang 19

10

Ở Nhật Bản, trong suốt thời kỳ tăng trưởng kinh tế cao (những năm 1960) giáo dục môi trường ở các cấp học nói chung và giáo dục môi trường cho học sinh trung học cơ sở nói riêng được bắt đầu bằng việc giáo dục chống

ô nhiễm môi trường và bảo vệ môi trường tự nhiên Đến nửa cuối những năm

1980, người Nhật bắt đầu ý thức được tầm quan trọng của các vấn đề môi trường đối với cuộc sống của con người Họ bắt đầu thực sự quan tâm tới bảo

vệ môi trường và lúc này giáo dục môi trường mới thực sự có chỗ đứng trong nền giáo dục của Nhật Bản [16]

Có nhiều tài liệu khác nhau đề cập đến sự ra đời thuật ngữ Giáo dục môi trường (GDMT) - Enviromental education Theo Wheeler (1985) thì thuật ngữ GDMT lần đầu tiên xuất hiện trong các tài liệu về giáo dục trên thế giới vào năm 1948 và lý luận về GDMT được nhà giáo dục học đồng thời là nhà sinh vật học Patrick Geddes người Scotland đề ra từ cuối thế kỷ 19 Patrick Geddes được gọi là “cha đẻ” của GDMT vì ông là người đầu tiên đã liên kết

“chất lượng của môi trường” (Quality of Environment) với “chất lượng của giáo dục” (quality of Education) Ông cho rằng giáo dục phải hướng tới việc cải thiện, nâng cao chất lượng môi trường, ngược lại môi trường cũng phải được huy động để nâng cao chất lượng giáo dục Môi trường không chỉ đơn giản là địa điểm để con người sống, làm việc, và hoạt động trong xã hội loài người mà còn là nơi giáo dục cho con người vì những hiểu biết và tình cảm với môi trường sẽ giúp cho việc nâng cao chất lượng môi trường

Hoạt động ngoại khóa về giáo dục môi trường là hoạt động rất được chú trọng ở trên thế giới.Với nhiều mô hình như:

Ở New Zealand, Giáo dục ngoài trời đã trở thành một phần của giáo dục nước này trong hơn 150 năm (Lynch, 1998) Vai trò giáo dục ngoài trời đã chuyển dịch theo thời gian trong bối cảnh rộng hơn về những thay đổi trong

hệ thống giáo dục NewZealand Giáo dục ngoài trời trước năm 1940 chủ yếu

Trang 20

11

là giải trí Từ những năm 1940 tập trung thay đổi thành một ý định giáo dục cao hơn Lynch (2000) chỉ ra rằng một trong những thay đổi giáo dục có thể xảy ra kể từ năm 1970 là giáo dục ngoài trời có trở thành công cụ hơn, và các

kỹ năng và giá trị được nhấn mạnh được kết hợp với việc làm Mãi cho đến năm 1999, giáo dục ngoài trời đã đạt được một nơi chính thức trong chương trình khi nó trở thành một trong những trong bảy lĩnh vực học tập chính của y

tế và vật lý Giáo dục (H & PE) chương trình giảng dạy (Bộ Giáo dục, 1999) [13]

Các nghiên cứu của các nhà giáo dục trên đều nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục ngoại khóa Để học sinh có thể phát triển toàn diện, các thầy cô giáo không phải chỉ cần quan tâm đến việc cung cấp tri thức trong các giờ học trên lớp mà còn coi trọng các hoạt động tập thể, vui chơi giải trí, văn nghệ, thể dục thể thao… [10]

1.2.2 Ở Việt Nam

Trong những năm gần đây ở Việt Nam cũng đã phát triển nhiều chương trình ngoại khóa tổ chức cho học sinh với chủ đề bảo vệ môi trường như: Chương trình ngoại khóa tổ Hóa – Sinh với chủ đề “Biến đổi khí hậu với cuộc sống” ở trường THPT Ngô Sỹ Liên, tỉnh Bắc Giang tổ chức vào ngày 17 tháng 11 năm 2014, tạo không khí vui tươi trong học tập, cung cấp và mở rộng cho các em học sinh những hiểu biết phong phú về các bộ môn, đặc biệt

là môn Hóa học và môn Sinh học, mối quan hệ chặt chẽ giữa môn Hóa học và môn Sinh học với các môn học khác như môn Địa lý, môn Lịch sử… và vai trò tầm quan trọng của các môn học với cuộc sống Qua buổi ngoại khoá này, các em có thêm những thông điệp của cuộc sống, yêu cuộc sống hơn và từ đó luôn có ý thức bảo vệ môi trường cũng là bảo vệ cuộc sống [18]

Các chương trình cho học sinh trường THCS và THPT trải nghiệm thực

tế tại Bảo tàng Tài nguyên rừng Việt Nam, Hà Nội được Nhà trường phối hợp

Trang 21

12

cùng Viện bảo tàng tổ chức cho học sinh học môn sinh học thông qua khám phá sự đa dạng của thực vật tại Vườn thực vật của Bảo tàng và tập làm tiêu bản thực vật [16]

Hội thảo “Trải nghiệm và sáng tạo về Giáo dục môi trường cho học sinh phổ thông tại Bảo tàng Tài nguyên rừng Việt Nam” do Bảo tàng Tài nguyên rừng Việt Nam – Viện Điều tra, Quy hoạch rừng tổ chức ngày 20/12/2014 nhằm: Giúp học sinh hiểu được vai trò, tầm quan trọng của rừng đối với môi trường sống của chúng ta, từ đó nâng cao ý thức bảo vệ, phát triển rừng bền vững và bảo vệ môi trường ; Kết hợp với nhà trường đưa trải nghiệm thực tế

và sáng tạo về giáo dục môi trường vào trong trường học để góp phần nâng cao hiệu quả cho công tác giáo dục môi trường [20]

Bên cạnh đó ở các Vườn Quốc gia cũng thường xuyên tổ chức các

Chương trình giáo dục môi trường tại trường học xung quanh vùng đệm Như

ở VQG Pù Mát chương trình đã được thực hiện bắt đầu từ năm 1999, đến nay

đã kết nối hoạt động tại 54 trường Tiểu học và Trung học cơ sở thuộc vùng đệm VQG Với mục tiêu nâng cao nhận thức cho các em học sinh về bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học [17] Ở các VQG Kon

Ka Kinh, Bạch Mã … cũng triển khai các chương trình tương tự để hỗ trợ tốt cho công tác bảo tồn tại VQG Một số chương trình giáo dục môi trường ở các khu bảo thồn thiên nhiên Việt Nam cũng đã được biên soạn thành sách để phục vụ cho việc giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở các khu bảo tồn Trong đó tiêu biểu có hai cuốn: “Giáo dục môi tường” (tài liệu dành cho giáo viên và học sinh THCS) của Lên Văn Lanh làm chủ biên, xuất bản năm 2006;

Và cuốn “Một ngày trong rừng” – Cẩm nang diễn giải môi trường với khách tại các Vườn Quốc gia và Khu Bảo tồn Thiên nhiên, nguyên bản tiếng Đức đã được Đỗ trọng Hoài dịch và Đỗ Thanh Huyền cùng các cộng sự biên soạn lần đầu năm 2009 Những tập sách này được các giáo viên hay các cán bộ trong

Trang 22

13

khu bảo tồn sử dụng làm tài liệu tham khảo khi tổ chức các chương trình giáo dục cho học sinh ở ngoài tự nhiên

Ở Đà Nẵng, từ năm 2012 trở lại đây với sự ra đời của Trung tâm Bảo tồn

đa dạng sinh học Nước Việt Xanh (GreenViet) hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu, truyền thông và giáo dục về bảo tồn đa dạng sinh học tại khu vực miền Trung – Tây Nguyên, đã đẩy mạnh các hoạt động giáo dục cho học sinh các trường xung quanh KBTTN Sơn Trà như các dự án chiếu phim, dạy học

về loài Voọc Chà vá chân nâu và Bảo tồn Đa dạng sinh học ở các trường học,

dự án “Khám phá thế giớ động vật hoang dã” ở công viên 29/3 vào các tháng hè; hay các chương trình “Giáng sinh cùng Voọc Chà vá chân nâu” … đã thực

sự giúp các em học sinh đến gần hơn với thiên nhiên và góp phần vào việc bảo vệ môi trường cũng như bảo vệ đa dạng sinh học của KBTTN Sơn Trà Qua đó ta thấy việc giáo dục môi trường theo hướng trải nghiệm ngoài thực tế cho học sinh ngày càng được các tổ chức, trường học quan tâm và chú trọng phát triển nhiều các hoạt động khác nhau để tăng hiệu quả của giáo dục bảo vệ môi trường Tuy đã có các nghiên cứu về những hoạt động ngoại khóa đưa học sinh vào thiên nhiên để học tập, khám phá và trải nghiệm… ở một số khu bảo tồn và vườn quốc gia lớn ở Việt Nam như Cúc Phương, Tam Đảo, Kon Ka Kinh,… nhưng chúng vẫn chưa được nghiên cứu để áp dụng và triển khai rộng rãi ra các khu bảo tồn khác Do đó cần phải có nghiên cứu cụ thể hơn với thực tiễn của từng khu bảo tồn khác nhau để việc xây dựng chương trình ngoại khóa về giáo dục môi trường sao cho phù hợp Qua đó, phát triển hơn nữa việc giáo dục môi trường ở các khu bảo tồn kết hợp nhiều kiến thức trong nội dung chương trình vào dạy học ngoại khóa, đưa các em học sinh đến gần hơn với thiên nhiên sinh động và lý thú, để các em thêm hiểu và yêu quý môi trường tự nhiên Để rồi sau đó, các em sẽ biết điều chỉnh hành vi của mình, sống thân thiện và có trách nhiệm hơn với môi trường Đồng thời,

Trang 23

14

chính các em sẽ là những người truyền đi những thông điệp về bảo vệ môi trường đến mọi người xung quanh các em Từ đó, hiệu quả của giáo dục bảo

vệ môi trường sẽ được nâng cao một cách đáng kể

1.3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA

HĐNK có thể được tổ chức dưới nhiều dạng như tập thể cả lớp, dạng theo nhóm, dạng học tập, câu lạc bộ… Nội dung ngoại khóa rất đa đạng cả về mặt văn hóa, khoa học, công nghê, kĩ thuật…

HĐNK có thể được tổ chức dưới nhiều dạng: Dạng tập thể cả lớp, dạng nhóm theo năng khiếu, dạng học tập, dạng vui chơi, dạng thường kì, dạng đột xuất nhân những dịp lễ kỉ niệm hay lễ hội

HĐNK có thể được tổ chức theo những hình thức như: Tổ ngoại khóa, câu lạc bộ khoa học, dạ hội nghệ thuật, câu lạc bộ thể thao…

Giáo viên không trực tiếp hoạt động cùng học sinh, nhưng phải là người hướng dẫn, tổ chức, tư vấn và có thể trong nhiều trường hợp cần thiết cũng là người chỉ đạo, điều khiển các hoạt động ngoài giờ học của học sinh

Nội dung hoạt động ngoại khóa thường liên quan với nội dung học tập trong chương trình và phù hợp với hoàn cảnh của địa phương và đặc điểm của

HS tham gia hoạt động

Không tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động ngoại khóa của HS bằng điểm số mà đánh giá dựa trên các yếu tố sau:

Trang 24

15

+ Sản phẩm của buổi hoạt động ngoại khoá

+ Tính tích cực và tự lực sáng tạo của học sinh

Những kết quả này phải được tiến hành công khai, cho học sinh có cơ hội tự đánh giá mình, đánh giá bạn Giáo viên tuy không cho điểm nhưng cần

có hình thức động viên, khích lệ kịp thời như biểu dương, tặng phần thưởng,

… [8]

1.3.2 Phân loại HĐNK

Hình thức dạy học ngoại khóa có thể chia làm các loại sau: [8]

Ngoại khóa bộ môn

HĐNK bộ môn là hoạt động liên quan trực tiếp đến kiến thức môn học nhưng không nằm trong phân phối chương trình của môn học đó Ngoại khóa

bộ môn có thể do từng lớp hoặc từng khối, cũng có thể cho toàn trường

Ngoại khóa chung

HĐNK chung thường là các hoạt động phong trào nằm trong kế hoạch chỉ đạo của nhà trường, của các tổ chức đoàn thể Những hoạt động này đã có

sự thống nhất về thời gian và thường được triển khai thực hiện cho tất cả HS trong trường, dưới nhiều hình thức và chủ đề khác nhau

Để tiến hành GDBVMT cần khuyến khích các phương pháp giảng dạy

và học tập có tính chất kích thích nghiên cứu, quan sát, phân tích, suy luận và đánh giá có phê phán để hình thành khả năng tiếp nhận thông tin và thu thập bằng chứng, giải quyết vấn đề theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo của

Trang 25

16

học sinh Vì thế, ngoại khoá là một trong những cách thức, con đường hiệu quả giúp học sinh bổ sung, mở rộng, tích luỹ thêm những kiến thức về GDBVMT, có nhận thức đúng đắn, có thái độ và hành vi tích cực khi giải quyết các vấn đề liên quan trong cuộc sống [8]

Các hoạt động ngoại khoá GDBVMT góp phần hình thành tinh thần trách nhiệm, ý thức gắn bó với tập thể ở học sinh Thông qua các hoạt động ngoại khoá, học sinh sẽ hoà nhập vào cuộc sống tập thể một cách vui vẻ, tự nguyện và tự tin, có hứng thú học tập và có lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước Đó là những tiền đề quan trọng để rèn luyện các em trở thành những con người lao động mới, đáp ứng mục tiêu giáo dục hiện nay [8] Đặc biệt, trong quá trình tham gia ngoại khoá GDBVMT tính độc lập và sáng tạo của học sinh được phát huy, các kĩ năng làm việc độc lập hay tập thể được rèn luyện Như vậy, hoạt động ngoại khoá sẽ phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo của học sinh, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tế để các em có thể tham gia các hoạt động về bảo vệ môi trường ở địa phương [8]

Với quan điểm học tập suốt đời và xã hội hoá học tập, những bài học trên lớp không còn giữ vị trí độc quyền, nhiều cơ hội học tập mới xuất hiện với những tiềm năng và tác dụng to lớn Hoạt động ngoại khoá GDBVMT cũng chính là một trong những cơ hội đó, tạo điều kiện cho việc tiến hành một

xã hội học tập [8]

Với vai trò to lớn như trên, nếu người giáo viên tổ chức tốt được các hoạt động ngoại khoá GDBVMT cho học sinh thì có thể tạo nên chiếc cầu nối, sự liên kết chặt chẽ giữa lí thuyết và thực hành, giữa những kiến thức GDBVMT trong sách vở với những hoạt động thực tiễn trong đời sống xã hội Như vậy, hoạt động ngoại khóa là một hình thức dạy học mang tính tích hợp cao, có tác dụng phát triển ở học sinh không chỉ kiến thức mà còn rèn luyện kĩ năng, phát triển thái độ và hành vi tích cực trong việc bảo bệ môi trường [8]

Trang 26

Cần phải xác định rõ mục đích cần đạt được (về các mặt: kiến thức – kĩ năng – phương pháp) của buổi ngoại khóa, lấy đó làm căn cứ xuất phát, chi phối đến toàn bộ quá trình thực hiện nó Nếu chú ý đúng mức đến mặt này, giáo viên sẽ không bỏ sót nội dung dạy học hoặc không đi chệch huớng, không nhầm lẫn giữa mục đích và phương tiện, giữa kiến thức chính yếu với thứ yếu Việc xử lý vấn đề nhờ thế sẽ linh hoạt hơn [8]

Hình thức ngoại khóa phải thật sự sinh động, gây hứng thú, tránh sự đơn điệu, gò bó, căng thẳng Phải làm sao để có sức hấp dẫn, lôi cuốn đuợc tất cả học sinh, huy động các em tham gia tích cực vào quá trình tìm kiếm, khám phá tri thức, chủ động phát hiện vấn đề, biết bảo vệ quan điểm, biết trình bày kết quả khảo sát của mình trên cơ sở cùng tham gia một hoạt động tập thể… Những nội dung ngoại khóa phải đảm bảo tính thiết thực - bổ ích, tính thực tiễn - khả thi, tính ứng dụng – thực hành cao, tránh đưa vấn đề ra một cách chung chung, sơ lược, phiến diện, không mang tính cá biệt lại vừa phải phù hợp đặc điểm tâm lý – nhận thức của học sinh Những vấn đề ngoại khóa cần được phát triển theo huớng phát triển của xã hội, qua đó giúp học sinh đón nhận đuợc những tri thức – thành tựu mới [8]

HĐNK phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của HS THCS Đặc điểm lứa tuổi thời kì này của các em dồi dào về thể lực, phong phú về tinh thần, phức tạp về tính cách và hành vi Do đó, việc tổ chức dạy học GDMT cho HS phải đựa trên tâm lý lứa tuổi để xác định phương pháp giáo dục hiệu quả

Trang 27

18

Ngoại khóa GDMT phải đảm bảo nguyên tắc tích hợp giúp học sinh mở rộng, đào sâu kiến thức, vận dụng lí thuyết vào thực tế thông qua các hình

thức thực hành trong và ngoài nhà truờng [8]

1.4 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC GIÁO DỤC MÔI

- Tạo cơ hội cho mọi người tiếp thu những kiến thức, quan điểm về giá

trị, thái độ, ý thức và ký năng cần thiết để bảo vệ môi trường;

- Tạo ra các mô hình về hành vi thân thiên với môi trường cho từng cá

nhân, cộng đồng và toàn xã hội;

- Khuyến khích, củng cố và phát huy những thái độ và hành vi tích cực

đối với môi trường hiện có

1.4.2 Mục tiêu của GDMT

a Mục tiêu của GDMT nói chung

- Kiến thức: GDMT cung cấp cho các cá nhân và cộng đồng những

kiến thức, sự hiểu biết cơ bản về môi trường và mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa con người và môi trường [7]

- Nhận thức: GDMT thức đẩy các cá nhân, cộng đồng tạo dựng nhận

thức và sự nhạy cảm dối với môi trường cũng như các vấn đề môi trường [7]

- Thái độ: GDMT khuyến khích các cá nhân, cộng đồng tôn trọng và

quan tâm tới tầm quan trọng của môi trường, khuyến khích họ tham gia tích cực vào việc cải thiện và bảo vệ môi trường [7]

Trang 28

19

- Kỹ năng: GDMT cung cấp cho các kỹ năng cho việc xác định, dự

đoán, ngăn ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường

- Sự tham gia: GDMT cung cấp cho các cá nhân và cộng đồng cơ hội

tham gia tích cực vào giải quyết các vấn đề môi trường cũng như đưa

ra các quyết định môi trường đúng đắn [7]

b Mục tiêu GDMT trong trường THCS

Mục tiêu GDMT trong các trường THCS là làm học sinh nắm vững kiến thức về môi trường; có thái độ - tình cảm yêu quý, tôn trọng thiên nhiên, thân thiện với môi trường và ý thức quan tâm thường xuyên đến môi trường sống

cá nhân, gia đình, cộng đồng, chủ động tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, phê phán những hành vi gây hại cho môi trường; có kỹ năng phát hiện

và ứng xử tích cực với các vấn đề môi trường nảy sinh; có hành động cụ thể bảo vệ môi trường; tuyên truyền bảo vệ môi trường trong gia đình, nhà trường, cộng đồng [9]

1.4.3 Nguyên tắc của GDMT ở trường học

- GDMT là một lĩnh vực giáo dục liên ngành, tích hợp vào các môn học

và các hoạt động, là cách tiếp cận qua các bộ môn;

- Mục tiêu, nội dung và phương pháp GDMT phải phù hợp với mực tiêu

đào tạo của cấp học;

- GDMT phải trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức tương đối

đầy đủ về môi trường và kỹ năng bảo vệ môi trường;

- Nội dung giáo dục môi trường phải chú ý khai thác tình hình thực tế

môi trường của từng địa phương;

- Nội dung GDMT phải chú trọng thực hành, hình thành các ký năng

sống về bảo vệ môi trường phù hợp với độ tuổi;

- Cách tiếp cận cơ bản của GDMT là: Giáo dục về môi trường, trong môi

trường và vì môi trường;

Trang 29

20

- Phương pháp GDMT nhằm tạo cơ hội cho học sinh phát hiện và tìm cách giải quyết các vấn đề môi trường dưới sự hướng dẫn của giáo viên [9]

1.4.4 Cách tiếp cận trong GDMT

Có 3 phương pháp tiếp cận GDMT thường được nhắc đến:

- Giáo dục về môi trường: nhằm trang bị cho người học những kiến thức

và hiểu biết thiết yếu về khoa học môi trường trong mối quan hệ với các vấn

đề xã hội, văn hóa, và kinh tế Mục đích của cách tiếp cận này là giúp cho người học có thông tin đầy đủ và đưa ra được những quyết định hợp lý về cách ứng xử với môi trường

- Giáo dục trong môi trường: hướng tiếp cận này xem môi trường thiên

nhiên hoặc nhân tạo là phương tiện, môi trường để giảng dạy và học tập Điều này tạo cơ hội cho người học sử dụng chính môi trường xung quanh làm nơi học tập, tìm hiểu và trải nghiệm thực tế các vấn đề về môi trường

- Giáo dục vì môi trường: nhằm truyền đạt kiến thức về bản chất, đặc

trưng của môi trường, hướng tới hình thành thái độ, cách ứng xử, ý thức trách nhiệm về môi trường; đồng thời cung cấp tri thức, kỹ năng, phương pháp cần thiết cho những quyết định hành động bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Hướng tiếp cận giáo dục này giúp người học có khả năng thực hiện thay đổi vì một thế giới tốt đẹp hơn, đương đầu với những vấn đề và nguy cơ của địa phương

Hướng tiếp cận toàn diện và hiệu quả nhất cho GDMT là kết hợp cả ba hướng trên nhằm giúp cho mỗi cá nhân xây dựng và phát triển hiểu biết của mình về môi trường, tương tác với môi trường, từ đó mỗi cá nhân có thể sử dụng được kiến thức và kỹ năng đã có để bảo vệ môi trường [15]

Trang 30

21

1.4.5 Phương pháp GDMT

- Phương pháp tham quan, điều tra khảo sát thực địa;

- Phương pháp thí nghiệm;

- Phương pháp khai thác kinh nghiệm thực tế về giáo dục;

- Phương pháp hoạt động thực tiễn;

- Phương pháp giải quyết vấn đề cộng đồng;

- Phương pháp học tập theo dự án;

- Phương pháp nêu gương;

- Phương pháp tiếp cận kĩ năng sống BVMT [9]

1.4.6 Các hình thức tổ chức GDMT

- GDMT thông qua hoạt động dạy và học trên lớp;

- GDMT thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp [9]

1.4.7 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THCS

Mỗi học sinh THCS là một chỉnh thể, một thực thể hồn nhiên Ở mỗi em đều tiềm ẩn khả năng phát triển Học sinh THCS ở độ tuổi đang phát triển và định hình về nhân cách Vì vậy những hiểu biết cơ bản của các em đưuọc bồi dưỡng qua GDMT sẽ để lại dấu ấn sâu sắc trong toàn bộ cuộc đời sau này của các em Đồng thời các em ở lứa tuổi này có tính tích cực cao, dễ hưng phấn, hiếu động nghịch ngợm, nếu không được giáo dục sẽ dẫn tới những hành động làm tổn hại môi trường một cách vô ý thức hoặc có ý thức [9]

1.4.8 GDMT và những trở ngại chính trong việc phát triển, thực hiện và

đánh giá

Có rất nhiều trở ngại khi đưa GDMT vào hệ thống giáo dục hiện hành Điều quan trọng là phải biết cách phân biệt những trở ngại đó và tạo ra nổ lực chung cùng giải quyết Những trở ngại đó bao gồm:

- Khả năng tiếp cận khoa học liên ngành và kỹ năng giải quyết các vấn

đề môi trường còn yếu;

Trang 31

- Cơ sở vật chất – kĩ thuật chưa đáp ứng được nhu cầu;

- Chưa tạo được mối quan tâm của gia đình, cộng đồng và nguồn tài trợ ủng hộ [3]

1.5 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN

SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

1.5.1 Vị trí địa lí và địa hình

Sơn Trà là bán đảo nằm ở Đông Bắc thành phố Đà Nẵng, có diện tích 4.370 ha, đã trở thành khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà từ năm 1977 (theo quyết định số 41/TTG ngày 24.1.1977) của thủ tướng chính phủ Bán đảo Sơn Trà có tọa độ địa lí: Kinh độ đông từ 108o12’45’’ đến 108o20’40”; vĩ bắc

Trang 32

1.5.4 Tài nguyên sinh vật

a Giá trị tài nguyên thực vật

Hệ thực vật Sơn Trà có tính đa dạng về họ, chi, loài Đã thống kê được

985 loài thực vật bậc cao, có mạch thuộc 143 họ (trong đó có 143 loài có giá trị dược liệu, 140 loài có giá trị cây cảnh, 31 loài có giá trị đan lát, 134 loài có giá trị cung cấp gỗ gia dụng và 57 loài cho củ, quả làm thức ăn cho người và động vật và 22 loài thực vật quý hiếm) Tuy trong một diện tích nhỏ chỉ chiếm 0,014% diện tích của cả nước nhưng số họ thực vật chiếm 37,83% tổng

số họ thực vật của Việt Nam, số chi chiếm 19,13% tổng số chi của Việt Nam,

số loài chiếm 9,37% số loài của của Việt Nam [14]

Thảm thực vật tự nhiên của Sơn Trà có 3 kiểu: quần hệ rừng kín thường xanh mùa mưa nhiệt đới; quần hệ rừng phục hồi sau khai thác; quần hệ cây bụi và trảng cỏ [14]

Hệ thực vật Sơn Trà thể hiện tính giao lưu của hai luồng thực vật phía Bắc xuống và phía Nam lên Hiện trạng hệ thực vật Sơn Trà xuất hiện phổ biến nhiều loài thực vật ưa sáng thuộc các họ: cà phê, cam, trôm, mua, đay

Là những loài thực vật chỉ thị theo diễn thế đi xuống Điều đó chứng tỏ hệ thực vật Sơn Trà đang bị tác động mạnh theo chiều hướng xấu, cần được giữ gìn và bảo tồn kịp thời [14]

b Đa dạng về hệ động vật

Thành phần loài khu hệ động vật Sơn Trà:

Từ kết quả giám định và phân tích mẫu trong thiên nhiên, đã thống kê được cấu trúc thành phần loài động vật như sau: khu hệ động vật ở Sơn Trà

Trang 33

- Giá trị tài nguyên động vật: Hệ động vật Sơn Trà là yếu tố cấu thành hệ

sinh thái rừng nhiệt đới Sơn Trà Hệ thực vật cung cấp lá, mầm quả, hoa, rễ,

lá củ làm thức ăn cho động vật và ngƣợc lại động vật rừng cũng tham gia quá trình tồn tại và phát triển của thực vật [14]

Các loài động vật ăn thịt, ăn côn trùng đóng vai trò điều chỉnh trong hệ sinh thái Một hệ sinh thái bền vững khi các yếu tố, các mắt xích của nó giữ đƣợc cân bằng một số loài cho phép và việc thuần dƣỡng thì khả năng bắt gặp động vật sẽ đƣợc tăng lên [14]

- Đã thống kê danh mục động vật bao gồm 287 loài, 93 họ, 38 bộ, trong

đó lớp thú 36 loài, 18 họ, 8 bộ; lớp chim có 106 loài, 34 họ; lớp bò sát có 23 loài, 12 họ, 2 bộ; lớp ếch nhái có 9 loài, 4 họ, 1 bộ; lớp côn trùng 113 loài, 26

họ, 12 bộ

Đặc điểm khu hệ động vật Sơn Trà là khu hệ bán đảo cô lập có thành phần loài hạn chế, tính đa dạng thấp Số lƣợng loài trong các họ, bộ không cao, nhƣng số lƣợng các cá thể của một số loài lớn hơn đất liền Tính ƣu thế sinh thái ở đây chủ yếu là những động vật nhỏ, leo trèo Giá trị bảo tồn gen động vật ở Sơn Trà có 20 loài quý hiếm Trong đó loài Voọc chà vá đƣợc coi là biểu tƣợng bảo tồn của Sơn Trà [14]

Trang 34

25

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Hệ thống kiến thức về hoạt động ngoại khóa và giáo dục môi trường

- Cách thiết kế chương trình và bài giảng ngoại khóa cho học sinh THCS

tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, Tp Đà Nẵng

2.1.2 Khách thể nghiên cứu

Quá trình thực hiện chương trình ngoại khóa nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THCS tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn

Trà, thành phố Đà Nẵng

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Đề tài nghiên cứu bao gồm những nội dung sau:

- Nghiên cứu tổng quan tài liệu về nội dung kiến thức sinh thái học và môi

trường trong chương trình Sinh học ở THCS và điều kiện tự nhiên ở khu BTTN Sơn Trà, làm cơ sở xây dựng nội dung giáo dục bảo vệ môi

trường trong chương trình ngoại khóa

- Khảo sát, đánh giá tình trạng nhận thức, sự quan tâm của giáo viên và

học sinh THCS đối với các vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường hiện

nay

- Thiết kế chương trình giáo dục ngoại khóa với nội dung gắn với thực

tiễn của KBTTN Sơn Trà nhằm giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh

THCS

- Thực hiện thử nghiệm kế hoạch chương trình ngoại khóa cho các đối

tượng học sinh THCS tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, Tp Đà Nẵng

- Đánh giá tính hiệu quả của chương trình ngoại khóa đã thử nghiệm cho

học sinh về các mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ, …

Trang 35

26

- Đề xuất các biện pháp để giáo dục môi trường thông qua các hoạt động

giáo dục ngoài trời tại KBTTN Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Đề tài tiến hành nghiên cứu các tài liệu liên quan làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho đề tài như: Các tài liệu về kiến thức sinh thái học, đặt biệt là kiến thức sinh thái học và môi trường trong sách giáo khoa sinh học của bậc THCS; các tài liệu tập huấn, giáo dục bảo vệ môi trường; các tài liệu về hiện trạng môi trường và công tác giáo dục bảo vệ môi trường hiện nay, nghiên cứu các tài liệu liên quan đến KBTTN Sơn Trà Đồng thời tham khảo, các tài liệu có liên quan đến các chương trình ngoại khóa ngoài trời, các dự án, các khóa tập huấn ngoài tự nhiên có nội dung về sinh thái học và bảo vệ môi

trường

2.3.2 Phương pháp khảo sát và tổ chức thực địa

- Tiến hành khảo sát thực địa Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, lựa chọn

địa điểm thích hợp để xây dựng và tổ chức chương trình giáo dục ngoài trời

- Hướng dẫn và quản lý chuyến học tập ngoài thực địa của học sinh trong khu vực đã chọn Học sinh sẽ được chia thành các nhóm nhỏ và được hướng dẫn cách sử dụng các trang thiết bị nghiên cứu để phục vụ cho quá trình học tập và khám phá thiên nhiên

2.3.3 Phương pháp điều tra, phỏng vấn

- Sử dụng phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp để thu thập thông tin hiện

trạng (về nhu cầu, sự quan tâm và khả năng thực hiện …) giáo dục môi trường ở một số trường THCS trong thành phố Đà Nẵng

- Đối tượng là giáo viên (GV) và học sinh (HS) của ba trường: THCS Lý

Tự Trọng, THCS Phạm Ngọc Thạch và THCS Nguyễn Chí Thanh

Trang 36

27

- Đánh giá kiến thức, thái độ và kỹ năng của học sinh trước và sau khi tham gia chương trình ngoại khóa này

2.3.4 Phương pháp thực nghiệm chương trình ngoại khóa

- Xây dựng chương trình ngoài thực địa và chuẩn bị các phương tiện cần

thiết cho quá trình giảng dạy, học tập và nghiên cứu

- Tổ chức chương trình ngoại khóa cho học sinh trường THCS Lý Tự

Trọng tại bán bán đảo Sơn Trà theo lộ trình: Xuất phát từ trường THCS

Lý Tự Trọng, đến Đồi Vọng Cảnh, Khu vực Không Gian Xanh, khu sân bay trực thăng, khu vực Hố sâu, sau đó trở về Trường

 Mục đích ý nghĩa của thực nghiệm

- Đánh giá tình khả thi và rút kinh nghiệm của quá trình tổ chức thực nghiệm chương trình ngoại khóa, lấy đó làm cơ sở để sửa đổi, bổ sung

và hoàn thiện chương trình đã thực nghiệm

- Đánh giá, phân tích chất lượng học tập và thái độ tham gia vào quá trình học để thấy rõ vai trò của việc sử dụng phương pháp dạy học ngoài tự nhiên, học qua khám phá và trải nghiệm thực tế trong chương trình ngoại khóa đối việc giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh

 Nội dung thực nghiệm

Do điều kiện thời gian và kinh phí không cho phép nên chúng tôi triển khai toàn bộ các chủ đề ngoại khóa đã xây dựng trong toàn văn Cụ thể, chúng tôi đã lựa chọn những hoạt động tiêu biểu trong các chủ đề để thực hiện chương trình: “Một ngày khám phá rừng”

Sau khi tiến hành thực nghiệm chúng tôi đã đưa ra một số câu hỏi dưới dạng phiếu điều tra với mục đích đánh giá mức độ hứng thú của học sinh đối với chương trình và kết quả học sinh thu được từ chương trình, từ đó kiểm định tính khả thi và hiệu quả của chương trình ngoại khóa ở ngoài tự nhiên tại KBTTN Sơn Trà

Trang 37

28

2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu

Tất cả dữ liệu được thu thập phần mềm Excel và xử lí số liệu bằng phần mềm SPSS 18 Trong đó sử dụng thống kê mô tả để xác định tần số và tần suất, kiểm định Paired Sample T-Test để xác định sự khác biệt trước và

sau khi tham gia chương trình ngoại khóa, với mức ý nghĩa α = 0,05

2.3.6 Phương pháp chuyên gia

Đề tài tiến hành tham khảo ý kiến từ giáo viên hướng dẫn và các chuyên gia trong lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên tại KBTTN Sơn Trà

Trang 38

29

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN

3.1 THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VÀ NHU CẦU CỦA GIÁO VIÊN

VÀ HỌC SINH ĐỐI VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA NHẰM GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC TRƯỜNG THCS TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

3.1.1 Nhận thức của giáo viên và học sinh về vai trò của hoạt động ngoại

khóa cho học khóa cho học sinh THCS hiện nay

Để biết được vai trò của hoạt động ngoại khóa cho học sinh, chúng tôi tiến hành khảo sát giáo viên và học sinh tại các trường THCS và thu được kết quả sau:

Hình 3.1: Nhận định của giáo viên và học sinh về vai trò của hoạt động

ngoại khóa cho học sinh THCS hiện nay

Theo nhận định của giáo viên tại các trường mà chúng tôi khảo sát thì tất cả giáo viên đều cho rằng hoạt động ngoại khóa có vai trò quan trọng trong dạy học học sinh THCS Trong đó 42,1% nhấn mạnh vai trò rất quan trọng của hoạt động ngoại khóa Về phía học sinh, hầu hết các em cũng đã nhận thức được vai trò quan trọng của các hoạt động ngoại khóa trong quá trình

Trang 39

30

học tập tại trường, có đến 95% học sinh khảo sát cho rằng các HĐNK đóng vai trò từ quan trọng đến rất quan trọng và chỉ có 5% học sinh cho rằng ít quan trọng hay không quan trọng Điều đó cho thấy chương trình ngoại khóa hiện nay là một hoạt động cần thiết trong giáo dục cho học sinh THCS

Có thể khẳng định rằng, giáo dục ngoại khóa là một công cụ rất hữu ích trong việc bổ trợ dạy học chính khóa, giúp học sinh có hứng thú trong học tập, thoát ra khỏi những tiết học căng thẳng và tham gia vào những hoạt động thú vị Tuy nhiên, hiện nay hoạt động ngoại khóa vẫn còn hạn chế về chủ đề

và hình thức tổ chức ở ngoài tự nhiên, ít mới mẻ nên vẫn còn nhiều em học sinh chưa thấy được tầm quan trọng của HĐNK

3.1.2 Ý kiến của giáo viên về những lợi ích của giáo dục ngoại khóa

Giáo viên là người có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và giảng dạy, để bài dạy được thành công thì mỗi giáo viên phải luôn xác định được lợi ích cụ thể của nội dung cần giảng dạy Chính vì thế để đánh giá được nhận thức của giáo viên về những lợi ích đat được của giáo dục ngoại khóa ở nhà trường chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát với các mức độ: Đồng ý = 3; Phân vân = 2; Không đồng ý = 1và thu được kết quả như sau:

Bảng 3.1: Ý kiến của giáo viên về những lợi ích đạt được của giáo dục ngoại

khóa

T

T

Lợi ích của hoạt động

ngoại khóa cho học sinh

Mức độ Đồng ý Phân vân Không

đồng ý

1 Bồi dưỡng thái độ tích cực

tham gia các hoạt động

giáo dục ngoài giờ lên lớp

Trang 40

5 Đáp ứng nhu cầu, tâm lí 15 88,2 2 11,8 0 0 2,88

6 Mở rộng, nâng cao kiến

7 Giáo dục đạo đức, nhân

cách cho học sinh 16 94,1 1 5,9 0 0 2,94

(Ghi chú: n: số lượng; : giá trị trung bình)

Bảng số liệu cho thấy lợi ích về: “Bồi dưỡng thái độ tích cực tham gia các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp”, “Giúp học sinh ham thích môn học hơn”,”Xây dựng được không khí học tập vui tươi, lành mạnh” có giá trị

trung bình lớn nhất với = 3 Như vậy 100% giáo viên hoàn toàn đồng ý với

các lợi ích trên Tiếp theo các lợi ích về: “Mở rộng, nâng cao kiến thức”;

“Giáo dục đạo đức, nhân cách cho học sinh” cũng được khá nhiều giáo viên

đồng ý với = 2,94 Với giá trị trung bình thấp nhất với = 2,76 thì việc gắn bó nhà trường với địa phương được ít giáo viên đồng tình nhất

Chúng tôi cho rằng, sở dĩ như vậy vì trong quá trình tổ chức các hoạt động ngoại khóa, học sinh sẽ được tiếp cận với thực tế, tự mình tham gia vào các hoạt động học tập trong điều kiện thực tế Điều đó sẽ tăng tính tò mò, khám phá Mặt khác các hoạt động giáo dục ngoại khóa không bị bó hẹp trong khuôn khổ lớp học, không còn khoảng cách giữa giáo viên và học sinh nên sẽ xây dựng được không khí học tập vui tươi

3.1.3 Ý kiến của giáo viên và học sinh về địa điểm để tổ chức giáo dục

ngoại khóa

Địa điểm để tổ chức giáo dục ngoại khóa đóng vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức giáo dục cho học sinh, nó quyết định hiệu quả học tập và

Ngày đăng: 09/05/2021, 20:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w