Ngoài ra, dạy học các chủ đề THLM giúp cho Hs không phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau, vừa gây quá tải, nhàm chán, vừa không có được sự hiểu biết
Trang 1KHOA VẬT LÝ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2Đặc biệt, em xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Phùng Việt Hải đã tận tình
hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt thời gian thực hiện bài khóa luận “Xây dựng chủ
đề dạy học tích hợp liên môn về Mắt ”
Do thời gian nghiên cứu, tìm hiểu và do kiến thức còn hạn chế, bài khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý và thông cảm của thầy cô để bài khóa luận được hoàn thiện hơn
Cuối cùng em kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong
sự nghiệp cao quý
Em xin chân thành cảm ơn !
Đà Nẵng, tháng 4 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Quỳnh Phương
Trang 3PHẦN 1 : MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, làm thay đổi tất cả các lĩnh vực, từ đó đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực ngày càng cao ở nhiều quốc gia Điều này đòi hỏi giáo dục và đào tạo phải có những thay đổi một cách căn bản và toàn
diện Việc học không phải chỉ là “ tạo ra kiến thức”, “ truyền đạt kiến thức” hay “
chuyển giao kiến thức” mà phải làm cho người học đáp ứng hiệu quả các đòi hỏi cơ
bản liên quan đến môn học và có khả năng vượt ra ngoài phạm vi môn học để chủ động thích ứng với cuộc sống lao động sau này
Để hình thành một năng lực cần nhiều kĩ năng tác động lên nhiều nội dung
và ở nhiều tình huống khác nhau Nếu kĩ năng đạt được dần dần trong suốt cuộc đời thì năng lực cũng đạt được dần dần, lâu dài, đòi hỏi sự đóng góp nhiều môn học Việc tổ chức dạy học tích hợp liên môn là cần thiết nhằm :
+ Thực hiện mục tiêu giáo dục là phát triển toàn diện người học ở trường phổ thông:
Dự kiến về mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ áp dụng vào năm 2018 là chuyển từ dạy học trang bị kiến thức sang dạy học nhằm phát triển năng lực học sinh Từ đó hình thành nên hình mẫu học sinh Việt Nam sau 2018 đầy
đủ 3 phẩm chất : sống yêu thương, sống tự chủ, sống trách nhiệm; và 8 năng lực cốt lõi : năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực tính toán, năng lực công nghệ thông tin và truyền thông Thực hiện dạy học THLM sẽ phát huy tối đa
sự trưởng thành và phát triển cá nhân mỗi học sinh, giúp các em thành công trong vai trò của người chủ gia đình, người công dân, người lao động tương lai
+ Tận dụng được vốn kinh nghiệm, phát triển năng lực của người học:
Dạy học tích hợp không chỉ đánh giá kiến thức đã lĩnh hội được, mà chủ yếu đánh giá xem học sinh có năng lực sử dụng kiến thức trong các tình huống có ý nghĩa hay không Nói cách khác, người học phải có khả năng huy động có hiệu quả kiến thức và năng lực của mình để giải quyết một cách hữu ích một vấn đề xuất hiện, hoặc có thể đối mặt với một khó khăn bất ngờ, một tình huống chưa từng gặp
Trang 4+ Tinh giản kiến thức, tránh sự lặp lại, góp phần giảm tải cho người học:
Thiết kế các chủ đề tích hợp, ngoài việc tạo điều kiện thực hiện tích hợp mục tiêu của các môn học còn cho phép thiết kế các nội dung học để tránh sự lặp lại cùng một kiến thức ở các môn khác nhau, tiết kiệm thời gian khi tổ chức Tạo điều kiện tổ chức các hoạt động đa dạng
+ Do bản chất của mối liên hệ giữa các tri thức khoa học:
Tuy có mối liên hệ với nhau nhưng chương trình các môn học trong chương trình giáo dục trung học phổ thông hiện hành có tính độc lập tương đối, được thiết
kế theo mạch kiến thức môn học trên nguyên tắc kiến thức được học trước là cơ sở của những kiến thức được học sau Vì thế, một số nội dung kiến thức có liên quan đến nhiều môn học đều được đưa vào chương trình của các môn học đó gây ra sự chồng chéo, quá tải Không những thế, thời điểm dạy học các kiến thức đó ở các môn học khác nhau là khác nhau, đôi khi thuật ngữ được dùng cũng khác nhau, gây khó khăn cho học sinh
Các chủ đề THLM có tính thực tiễn nên sinh động, hấp dẫn đối với học sinh,
có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho học sinh Học các chủ đề THLM, Hs được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến thức một cách máy móc, nhờ đó năng lực và phẩm chất của Hs được hình thành và phát triển Ngoài ra, dạy học các chủ đề THLM giúp cho Hs không phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau, vừa gây quá tải, nhàm chán, vừa không có được sự hiểu biết tổng quát cũng như khả năng ứng dụng của kiến thức tổng hợp vào thực tiễn
Thông qua nghiên cứu chương trình sách giáo khoa thì tôi thấy Mắt có liên quan đến kiến thức của nhiều môn học như Vật Lí, Sinh Học, Hóa Học
Với mong muốn góp phần vào việc nghiên cứu nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học trong việc xây dựng chủ đề dạy học THLM ở trường THPT mà
trọng tâm là môn Vật Lí tôi nghiên cứu đề tài: “Xây dựng chủ đề dạy học tích hợp
liên môn về Mắt”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu xây dựng chủ đề dạy học THLM về “Mắt” phát triển năng lực
của Hs
Trang 53 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận về dạy học tích hợp, trọng tâm là tổ chức dạy học THLM lĩnh vực khoa học tự nhiên
Nghiên cứu nội dung kiến thức về chủ đề Mắt ở SGK Vật Lí 11, kết hợp
Sinh Học lớp 8 và Hóa Học 12, Y Học làm cơ sở để tổ chức dạy học THLM
Điều tra, khảo sát thực trạng áp dụng dạy học THLM ở một số trường THPT trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng
Thiết kế tiến trình tổ chức dạy học THLM về chủ đề “Mắt”
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Dạy học tích hợp liên môn Vật Lí – Hóa Học – Sinh Học – Y học;
Hoạt động dạy và học của Gv và Hs về kiến thức chủ đề Mắt
Nội dung kiến thức bài 31 - Mắt - Vật Lí 11 kết hợp kiến thức bài 49 – Cơ
quan phân tích thị giác & bài 50 – Vệ sinh mắt - Sinh Học 8, bài 44 Hóa học và
vấn đề xã hội - Hóa Học 12, giáo trình Giải phẫu sinh lý thị giác - Y Học
5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu cơ sở lý luận của PPDH tích hợp liên môn
và quy trình tổ chức hoạt động DHTHLM
Điều tra, khảo sát thực tế: Tìm hiểu thực tế về hoạt động dạy học và nội dung kiến thức bài “Mắt” chủ yếu về phần của Vật lý 11, Sinh học 8
6 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Hiện nay, giáo dục nước ta đã và đang triển khai nghiên cứu lý luận và tổ chức xây dựng các chủ đề tích hợp liên môn Giảng viên các trường đại học sư phạm trên cả nước cũng như giáo viên trung học phổ thông đang gấp rút chuẩn bị để đến năm 2018 có thể áp dụng dạy học tích hợp toàn diện
Tình hình tổ chức xây dựng chủ đề dạy học tích hợp liên môn ở Đà Nẵng đang diễn ra nhưng nhiều giáo viên còn lúng túng khi xây dựng các chủ đề liên môn
và làm sao tổ chức cho hợp lí, đạt hiệu quả tối ưu
Với mong muốn trong tương lai có thể đáp ứng được nhu cầu đổi mới giáo
dục, nâng cao chất lượng dạy và học ở trường phổ thông, tôi nghiên cứu đề tài “
Xây dựng chủ đề dạy học tích hợp liên môn về Mắt” với sự hướng dẫn của TS
Phùng Việt Hải
Trang 6Phần 2 NỘI DUNG CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN
1.1 Dạy học tích hợp
1.1.1 Khái niệm tích hợp
Theo từ điển bách khoa "Le petit Larousse illustrée và Từ điển tiếng Pháp thì nghĩa của từ “tích hợp” là: " gộp lại, sát nhập vào thành một tổng thể"
Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “integration” một từ gốc Latinh
(integer) có nghĩa là “whole” hay “toàn bộ, toàn thể”
Theo từ điển (Oxford Advanced Learner‟s Dictionary), từ „Intergration‟ có nghĩa là kết hợp những phần, những bộ phận với nhau trong một tổng thể Những phần, những bộ phận này có thể khác nhau nhưng tích hợp với nhau
Theo từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng Tích hợp có nghĩa
là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp”
Theo từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học”
1.1.2 Khái niệm dạy học tích hợp
Dạy học tích hợp là hành động liên kết một cách hữu cơ, có hệ thống các đối tượng nghiên cứu, học tập của một lĩnh vực môn học khác nhau thành nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó nhằm hình thành ở học sinh các năng lực cần thiết
Trong dạy học tích hợp, Hs dưới sự chỉ đạo của Gv thực hiện việc chuyển đổi liên tiếp các thông tin từ ngôn ngữ của môn học này sang ngôn ngữ của môn học khác; học sinh học cách sử dụng phối hợp những kiến thức, những kĩ năng và những thao tác để giải quyết một tình huống phức hợp – thường là gắn với thực tiễn Chính nhờ quá trình đó, Hs nắm vững kiến thức, hình thành khái niệm, phát triển năng lực và phẩm chất cá nhân
Vậy, dạy học tích hợp là một quan điểm dạy học nhằm hình thành ở học sinh những năng lực giải quyết hiệu quả các tình huống thực tiễn dựa trên sự
Trang 7huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau [ ]
Điều đó cũng có nghĩa là đảm bảo để mỗi học sinh biết cách vận dụng kiến
thức học được trong nhà trường vào các hoàn cảnh mới lạ, khó khăn, bất ngờ, qua
đó trở thành một người công dân có trách nhiệm, một người lao động có năng lực Dạy học tích hợp đòi hỏi việc học tập trong nhà trường phải được gắn với các tình huống của cuộc sống mà sau này học sinh có thể đối mặt vì thế nó trở nên có ý nghĩa đối với học sinh Với cách hiểu như vậy, dạy học tích hợp phải được thể hiện
ở cả nội dung chương trình, phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá, hình thức tổ chức dạy học
1.1.3.2 Tích hợp đa môn
Đó là đưa các yếu tố nội dung gắn với thực tiễn, gắn với xã hội, gắn với các môn học khác vào dòng chảy chủ đạo của nội dung bài học của một môn học Ở mức độ lồng ghép, các môn học vẫn dạy riêng rẽ Tuy nhiên, giáo viên có thể tìm thấy mối quan hệ giữa kiến thức của môn học mình đảm nhận với nội dung của các
Trang 8Hình 1.2 : mô hình xương cá
môn học khác và thực hiện việc lồng ghép các kiến thức đó ở những thời điểm thích hợp
Tích hợp đa môn có thể thực hiện thuận lợi ở
nhiều thời điểm trong tiến trình dạy học Các chủ đề
gắn với thực tiễn, gắn với nhu cầu của người học sẽ có
nhiều cơ hội để tổ chức dạy học lồng ghép Mô hình
xương cá (Hình 1.2) thể hiện quan hệ giữa kiến thức
của một môn học (trục chính) với kiến thức của các
môn học khác (các nhánh)
Có thể lấy các ví dụ như lồng ghép nội dung về bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng, bảo vệ chủ quyền biển đảo, vào bài học Hoặc liên hệ các kiến thức về hóa học, sinh học trong dạy học các bài học chương dòng điện trong các môi trường (Vật Lí 11)
Từ cách tiếp cận đa môn này, Gv không cần phải thay đổi nhiều lắm nội dung giảng dạy bộ môn của mình Nội dung và đánh giá vẫn nguyên theo bộ môn Đây
là mức độ/kiểu mà giáo viên trung học phổ thông vận dụng chủ yếu khi thực hiện quan điểm dạy học tích hợp hiện nay [ ]
1.1.3.3 Tích hợp liên môn
Ở mức độ này, hoạt động học diễn ra xung quanh các chủ đề, ở đó người học cần đến các kiến thức của nhiều môn học để giải quyết vấn đề đặt ra Các chủ đề khi
đó được gọi là các chủ đề hội tụ
Với các môn học khác nhau, mối quan hệ giữa
các môn học trong chủ đề được hình dung qua sơ đồ
mạng nhện (Hình 1.3) Như vậy, nội dung các môn
học vẫn được phát triển riêng rẽ để đảm bảo tính hệ
thống, mặt khác, vẫn thực hiện được sự liên kết giữa
các môn học khác nhau qua việc vận dụng các kiến
Trang 9Cách 1: Các môn học vẫn được dạy riêng rẽ nhưng đến cuối học kì, cuối năm hoặc
cuối cấp học có một phần, một chương về những vấn đề chung (của các môn khoa học tự nhiên hoặc các môn khoa học xã hội) và các thành tựu ứng dụng thực tiễn nhằm giúp học sinh xác lập mối liên hệ giữa các kiến thức đã được lĩnh hội
Cách 2: Những ứng dụng chung cho các môn học khác nhau thực hiện ở những thời
điểm đều đặn trong năm học Nói cách khác, sẽ có bố trí xen một số nội dung tích hợp liên môn vào chỗ thích hợp nhằm làm cho học sinh quen dần với việc sử dụng kiến thức của những môn học gần gũi với nhau
Ví dụ về một sơ đồ tích hợp theo cách thứ hai như hình 1.4 dưới đây:
Hình 1.4 Sơ đồ về cách thực hiện tích hợp ở chương trình phổ thông hiện nay
Đây là trường hợp phổ biến ở trường phổ thông hiện nay khi chương trình, sách giáo khoa, giáo viên dạy phân hóa khá rõ rệt giữa các môn học
Như vậy, để thực hiện tích hợp mức độ liên môn, cần xây dựng môn học mới, trong
đó chương trình môn học (các bài học) được thể hiện thành các chủ đề có tính liên môn (trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ bài học, HS được hình thành đồng thời các kiến thức ở nhiều môn học cũng như phải vận dụng kiến thức nhiều môn học)
Có thể thấy rằng, để thực hiện thành công dạy học tích hợp liên môn, đòi hỏi giáo viên ở các đơn môn cần ngồi lại trao đổi, thảo luận với nhau để xác định các nội dung/phần kiến thức giao nhau giữa các môn, từ đó xây dựng thành các chủ đề dạy học liên môn [ ]
1.1.3.4 Tích hợp xuyên môn
Mức độ tích hợp xuyên môn (hay hòa trộn) là mức độ cao nhất của dạy học tích
hợp Việc dạy học xuất phát từ các vấn đề/ngữ cảnh cuộc sống thực và có ý nghĩa đối với Hs mà không xuất phát từ các khoa học tương ứng với môn học Điều quan tâm nhất ở đây là sự phù hợp đối với Hs Điểm khác duy nhất so với liên môn là
Vật lí 2 Thực hiện
nhiệm vụ hoặc bài làm tích hợp 2
Vật lí 3
Hóa học 3
Sinh học 3
Thực hiện nhiệm vụ hoặc bài làm tích hợp 3
Trang 10ở chỗ chúng bắt đầu bằng ngữ cảnh cuộc sống thực và sở thích của Hs Sơ đồ hóa như hình 1.5
Hình 1.5 Mức độ tích hợp xuyên môn
Ở mức độ này, tiến trình dạy học là tiến trình “không môn học”, có nghĩa, nội
dung kiến thức trong bài học không thuộc riêng về một môn học nhưng lại thuộc về nhiều môn học khác nhau, do đó, các nội dung thuộc chủ đề tích hợp sẽ không cần dạy ở các môn học riêng rẽ Mức độ tích hợp này dẫn đến sự hợp nhất kiến thức của hai hay nhiều môn học
Trong quá trình thiết kế, sẽ có những chủ đề, trong đó, các năng lực cần hình thành được thể hiện xuyên suốt qua toàn bộ các nội dung của chủ đề mà không phải chỉ là một nội dung nào đó của chủ đề Các năng lực này chính là các năng lực được hình thành xuyên môn học Ví dụ, với các môn khoa học tự nhiên, đó là năng lực thực hiện các phép đo và sử dụng công cụ đo, năng lực khoa học
Ở mức độ này, cần sự hợp tác của các giáo viên đến từ các môn học khác nhau Để lựa chọn và xây dựng nội dung học, giáo viên phải có hiểu biết sâu sắc về chương trình và đặt chương trình các môn học cạnh nhau để so sánh, để tôn trọng những đặc trưng nhằm dẫn học sinh đạt tới mục tiêu dạy học xác định Việc phân tích mối quan hệ giữa các môn học khác nhau trong chủ đề cũng như sự phát triển các kiến thức trong cùng môn học phải đảm bảo nguyên tắc tích hợp và hợp tác
Việc triển khai các nội dung dạy học thành các dự án để áp dụng phương pháp dạy học Dự án là sự thể hiện rõ nét của quan điểm tích hợp xuyên môn [ ]
1.1.4 Các nguyên tắc tích hợp trong dạy học
Tích hợp là sự kết hợp có hệ thống các kiến thức có liên quan (hay còn gọi là kiến thức cần tích hợp) và kiến thức các môn học thành một nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau dựa trên những mối liên hệ về lý luận và thực tiễn được
Ngữ cảnh cuộc sống thực
Dựa vào vấn đề
HS là người đưa ra vấn đề
Trang 11đưa vào bài học Như vậy cần phải căn cứ vào nội dung bài học để lựa chọn kiến thức tích hợp có liên quan
Nội dung các kiến thức tích hợp chứa đựng trong các bài học, các môn học khác nhau Do đó, GV phải xác định được nội dung cần tích hợp trong kiến thức môn học, biết cách lựa chọn, phân loại các kiến thức tương ứng, phù hợp với các mức độ tích hợp khác nhau để đưa vào bài giảng, ngoài ra do thời gian một giờ giảng trên lớp có hạn, nên GV phải biết chọn những vấn đề quan trọng, mấu chốt nhất để dạy học theo cách tích hợp, còn phần kiến thức nào dễ hiểu nên để HS tự đọc SGK hoặc các tài liệu tham khảo
Việc đưa ra các kiến thức tích hợp vào kế hoạch dạy học cần dựa vào các nguyên tắc sư phạm sau:
- Không làm thay đổi tính đặc trưng của môn học, như không biến bài dạy
sinh học thành bài giảng toán học, vật lí, hoá học hay thành bài giáo dục các cấn
đề khác (Môi trường, dân số, sức khỏe sinh sản, phòng chống HIV/AIDS…),nghĩa
là các kiến thức được tích hợp vào phải được tiềm ẩn trong nội dung bài học, phảicó mối quan hệ logic chặt chẽ trong bài học
- Khai thác nội dung cần tích hợp một cách có chọn lọc, có tính hệ thống, đặc trưng:
Theo nguyên tắc này, các kiến thức tích hợp được đưa vào bài học phải có hệ thống, được sắp xếp hợp lí làm cho kiến thức môn học thêm phong phú, sát với thực tiễn, tránh sự trùng lặp, không thích hợp với trình độ của HS, không gây quá tải, ảnh hưởng đến việc tiếp thu nội dung chính
- Đảm bảo tính vừa sức: DHTH phải phát huy cao độ tính tích cực và vốn sống
của HS Các kiến thức tích hợp đưa vào bài học phải làm cho bài học rõ ràng và bài học tường minh hơn, đồng thời tạo hứng thú cho người học
- Thống nhất tích hợp và phân hóa: Một trong các nguyên tắc quan trọng của
giáo dục học nói chung và DHTH nói riêng Nguyên tắc thống nhất tích hợp và phân hóa thể hiện cách thức tự tổ chức của quá trình giáo dục Nguyên tắc này đòi hỏi khi xây dựng các nội dung DHTH cần phân tích, xem xét các đặc thù riêng của các lĩnh vực riêng đóng góp vào nội dung DHTH đó, đồng thời nó cũng làm rõ vai
trò của các kiến thức của các môn học riêng trong mối quan hệ với nội dung DHTH
- Lấy người học làm trung tâm: Xác định vị trí của Hs và của Gv trong hệ thống
Trang 12giáo dục tích hợp Theo nguyên tắc này, HS là chủ thể của quá trình giáo dục Trong dạy học THLM, Hs luôn đứng trước các tình huống có vấn đề mà để giải quyết chúng, Hs phải huy động nhiều kiến thức và kĩ năng đã học được từ các môn học khác nhau Để giải quyết các tình huống như vậy Hs phải tích cực, chủ động Gv trong hệ thống dạy học THLM đóng vai trò người tổ chức và cố vấn, Hs phải là
trung tâm của các hoạt động học tập
- Đặc trưng văn hóa của giáo dục tích hợp: chỉ rõ mối quan hệ của giáo dục với
môi trường văn hóa, đòi hỏi việc tổ chức quá trình giáo dục và dạy học phải tính đến đặc trưng văn hóa xã hội, bên ngoài và bên trong của người học Văn hóa bên ngoài, đó là các chuẩn mực đạo đức, sinh hoạt và nhu cầu của người học; văn hóa bên trong, là đời sống tinh thần của con người và văn hóa xã hội là các quan hệ xã hội và văn hóa dân tộc [ ]
1.2 Dạy học tích hợp liên môn
1.2.1 Khái niệm dạy học THLM
Dạy học THLM là dạy học những nội dung kiến thức liên quan đến hai hay nhiều môn học "Tích hợp" là nói đến phương pháp và mục tiêu của hoạt động dạy học còn "liên môn" là đề cập tới nội dung dạy học Đã dạy học "tích hợp" thì chắc chắn phải dạy kiến thức "liên môn" và ngược lại, để đảm bảo hiệu quả của dạy liên môn thì phải bằng cách và hướng tới mục tiêu tích hợp
Ở mức độ thấp thì dạy học tích hợp mới chỉ là lồng ghép những nội dung giáo dục có liên quan vào quá trình dạy học một môn học như: lồng ghép giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục pháp luật; giáo dục chủ quyền quốc gia về biên giới, biển, đảo; giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường,
an toàn giao thông Mức độ tích hợp cao hơn là phải xử lí các nội dung kiến thức trong mối liên quan với nhau, bảo đảm cho học sinh vận dụng được tổng hợp các kiến thức đó một cách hợp lí để giải quyết các vấn đề trong học tập, trong cuộc sống, đồng thời tránh việc học sinh phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau
Chủ đề tích hợp liên môn là những chủ đề có nội dung kiến thức liên quan đến hai hay nhiều môn học, thể hiện ở sự ứng dụng của chúng trong cùng một hiện
Trang 13tượng, quá trình trong tự nhiên hay xã hội Ví dụ: Kiến thức Vật lí và Công nghệ trong động cơ, máy phát điện; kiến thức Vật lí và Hóa học trong nguồn điện hóa học; kiến thức Lịch sử và Địa lí trong chủ quyền biển, đảo; kiến thức Ngữ văn và Giáo dục Công dân trong giáo dục đạo đức, lối sống… [ ]
1.2.2 Ƣu điểm
1.2.2.1 Đối với học sinh
Các chủ đề THLM có tính thực tiễn nên sinh động, hấp dẫn đối với Hs, có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho Hs Học các chủ đề THLM, Hs được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến thức một cách máy móc, nhờ đó năng lực và phẩm chất của Hs được hình thành và phát triển
Ngoài ra, dạy học các chủ đề THLM giúp cho Hs không phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau, vừa gây quá tải, nhàm chán, vừa không có được sự hiểu biết tổng quát cũng như khả năng ứng dụng của kiến thức tổng hợp vào thực tiễn [ ]
1.2.2.2 Đối với giáo viên
Ban đầu có thể có chút khó khăn do việc phải tìm hiểu sâu hơn những kiến thức thuộc các môn học khác Tuy nhiên khó khăn này chỉ là bước đầu và có thể khắc phục bởi hai lý do:
Một là, trong quá trình dạy học môn học của mình, Gv vẫn thường xuyên phải dạy những kiến thức có liên quan đến các môn học khác và vì vậy đã có
sự am hiểu về những kiến thức liên môn đó;
Hai là, với việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, vai trò của Gv không còn là người truyền thụ kiến thức mà là người tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học của Hs cả ở trong và ngoài lớp học; vì vậy, Gv các bộ môn liên quan có điều kiện và chủ động hơn trong sự phối hợp, hỗ trợ nhau trong dạy học
Như vậy, dạy học theo các chủ đề liên môn không những giảm tải cho Gv trong việc dạy các kiến thức liên môn trong môn học của mình mà còn có tác dụng bồi dưỡng, nâng cao kiến thức và kĩ năng sư phạm cho Gv, góp phần phát triển đội ngũ Gv bộ môn hiện nay thành đội ngũ Gv có đủ năng lực dạy học kiến thức liên
Trang 14môn, tích hợp Thế hệ Gv tương lai sẽ được đào tạo về dạy học THLM ngay trong quá trình đào tạo Gv ở các trường sư phạm
Bảng 1.1 So sánh dạy học tích hợp và dạy học truyền thống [ ]
Dạy học tích hợp Dạy học một môn
Mục
tiêu
Phục vụ cho mục tiêu chung của
một số nội dung thuộc các môn
khác nhau
Phục vụ cho mục tiêu riêng rẽ của từng môn học
Mục tiêu rộng, ưu tiên các mục
tiêu chung hướng đến sự phát
triển năng lực
Mục tiêu hạn chế hơn, chuyên biệt hơn (thường là các kiến thức và kĩ năng của môn học)
Tổ chức
dạy học
Xuất phát từ tình huống kết nối
với lợi ích và sự quan tâm của học
sinh, của cộng đồng, liên quan tới
nội dung của nhiều môn học
Xuất phát từ tình huống liên quan tới nội dung của một môn học
Hoạt động học thường xuất phát
từ vấn đề mở cần giải quyết hoặc
một dự án cần thực hiện Việc giải
quyết vấn đề cần viện vào các
kiến thức, kĩ năng thuộc các môn
học khác nhau
Hoạt động học thường được cấu trúc chặt chẽ theo tiến trình đã dự kiến (trước khi thực hiện hoạt động)
tiêu lâu dài như các phương pháp,
kĩ năng và thái độ của người học
Có quan tâm đến sự phát triển các
kĩ năng, thái độ của người học
nhưng đặc biệt nhằm tới việc làm
chủ mục tiêu ngắn hạn như kiến thức, kĩ năng
Hiệu
quả của
việc học
Dẫn đến việc phát triển phương
pháp, thái độ và kĩ năng, trí tuệ
cũng như tình cảm Hoạt động học
dẫn đến việc tích hợp các kiến
thức
Dẫn đến việc tiếp nhận kiến thức
và kĩ năng mang đặc thù của môn học
Trang 151.2.3 Cách xây dựng chủ đề
Các chủ đề tích hợp thường sẽ được đưa ra hoặc gợi ý trong chương trình Tuy nhiên Gv cũng có thể tự xác định chủ đề tích hợp cho phù hợp với hoàn cảnh địa phương, trình độ Hs Để xác định chủ đề cần:
- Rà soát các môn học qua khung chương trình hiện có; các chuẩn kiến thức,
kĩ năng; chuẩn năng lực để tìm ra các các nội dung dạy học gần giống nhau, có liên quan chặt chẽ với nhau trong các môn học của chương trình hiện hành
- Tìm ra những nội dung giáo dục liên quan đến các vấn đề thời sự của địa phương, đất nước để xây dựng chủ đề/bài học gắn với thực tế, có tính phổ biến, gắn với vốn kinh nghiệm của học sinh và phù hợp trình độ nhận thức của họ
- Đọc thêm sách chuyên ngành ở bậc đại học, qua đó có thể tìm được thêm nguồn thông tin tham khảo cũng như cơ sở khoa học của chủ đề bởi vì bản thân các nội dung chuyên ngành này cũng đã mang tính tích hợp
Khi lựa chọn chủ đề, giáo viên cần phải trả lời các câu hỏi:
Tại sao lại phải tích hợp?
Tích hợp nội dung nào là hợp lí? Các nội dung cụ thể đó là gì? Thuộc các môn học, bài học nào trong chương trình?
Lô gic và mạch phát triển các nội dung đó như thế nào?
Thời lượng cho bài học tích hợp dự kiến là bao nhiêu?
Từ đó, xác định (đặt tên) cho chủ đề/bài học Tên chủ đề/bài học làm sao phải phản ánh được, phủ được nội dung của chủ đề/bài học và hấp dẫn học sinh [ ]
1.2.4 Nội dung trình bày một chủ đề THLM
1.2.4.1 Các vấn đề (câu hỏi) cần giải quyết trong chủ đề
Định hướng các nội dung cần được đưa vào trong chủ đề Các vấn đề này là những câu hỏi mà thông qua quá trình học tập chủ đề học sinh có thể trả lời được.[ ]
1.2.4.2 Các kiến thức cần thiết để giải quyết các vấn đề
Dựa trên ý tưởng chung và việc giải quyết các vấn đề mà chủ đề đặt ra, giáo viên sẽ xác định được kiến thức cần đưa vào trong chủ đề Các kiến thức này có thể thuộc một môn học hoặc nhiều môn học khác nhau Các nội dung chủ đề đưa ra cần dựa trên các mục tiêu đã đề ra, tuy nhiên cần có tính gắn kết với nhau Để thực hiện
Trang 16tốt việc này, có thể phối hợp các Gv bộ môn có liên quan đến chủ đề cùng xây dựng các nội dung nhằm đảm bảo tính chính xác khoa học và sự phong phú của chủ đề
1.2.4.3 Mục tiêu dạy học của chủ đề
Để xác định mục tiêu chủ đề tích hợp cần rà soát xem kiến thức cần dạy, kĩ năng cần rèn luyện thông qua chủ đề tích hợp ở từng môn là những kiến thức, kĩ
năng nào Đồng thời căn cứ vào cấu trúc các năng lực chung và năng lực chuyên biệt của môn khoa học tự nhiên để xác định các năng lực của Hs (đặc biệt là các
năng lực xuyên môn) có thể được hình thành và phát triển thông qua chủ đề
Việc xác định mục tiêu này đôi khi diễn ra đồng thời với việc xác định các
nội dung, các hoạt động học tập của chủ đề tích hợp (cách tiếp cận hỗn hợp)
Mục tiêu chủ đề tích hợp sẽ quyết định xem chủ đề đó tích hợp kiến thức, kĩ năng của môn nào Nếu trong mục tiêu chỉ có những kiến thức Hs đã được học, những kĩ năng đã thành thục của một môn nào đó thì không thể coi có sự tích hợp của môn này vào trong chủ đề
Sau khi xác định mục tiêu cho phép Gv có thể hoàn thành bảng 1.2
Bảng 1.2 : Các mục tiêu dạy học của chủ đề tích hợp liên môn
1.2.4.4 Nội dung các hoạt động dạy học của chủ đề
Ở đây cần làm rõ: Chủ đề có những hoạt động nào, từng hoạt động đó thực
hiện vai trò gì trong việc đạt được mục tiêu toàn bài học?
Có thể chia hoạt động theo vấn đề cần giải quyết hoặc theo cấu trúc nội dung của chủ đề Mỗi nội dung nhỏ, hoặc một vấn đề cần giải quyết của chủ đề có thể được xây dựng thành một hoặc vài hoạt động dạy học khác nhau Ứng với mỗi hoạt động, giáo viên cần thực hiện các công việc sau:
- Xác định mục tiêu hoạt động
- Xây dựng nội dung học dưới dạng các tư liệu học tập: phiếu học tập,
Trang 17- Chuẩn bị phương tiện, thiết bị dạy học cho hoạt động
- Dự kiến nguồn nhân, vật lực để tổ chức hoạt động
- Lập kế hoạch tổ chức hoạt động dạy học
- Xây dựng công cụ đánh giá mục tiêu hoạt động
- Dự kiến thời gian cho mỗi hoạt động
Bảng dưới đây là một số gợi ý các tư liệu cần thiết để tổ chức các loại hình hoạt động học tập đặc thù của khoa học tự nhiên [ ]
Bảng 1.3: Gợi ý các tư liệu cần thiết để tổ chức hoạt động học của Hs
Tiến hành
thí nghiệm
- Thiết bị thí nghiệm
- Báo cáo thí nghiệm: yêu cầu, ảnh chụp, ảnh vẽ, các bảng số liệu…
- Phiếu trợ giúp và đáp án gợi ý Thu thập
số liệu
thực tế
- Yêu cầu thu thập số liệu thực tế
- Phiếu điều tra
- Hướng dẫn cách xử lí số liệu điều tra Đọc văn
bản
- Câu hỏi định hướng
- Yêu cầu báo cáo
- Văn bản (đoạn văn, thơ, bản đồ tư duy, hình vẽ, đồ thị, bảng biểu…)
Trang 181.2.4.6 Tổ chức dạy học và đánh giá
Sau khi tổ chức dạy học chủ đề, giáo viên cũng cần đánh giá các mặt như:
- Tính phù hợp thực tế dạy học với thời lượng dự kiến
- Mức độ đạt được mục tiêu học tập qua đánh giá các hoạt động học tập
- Sự hứng thú của học sinh với chủ đề, thông qua quan sát và qua phỏng vấn
- Mức độ khả thi với điều kiện cơ sở vật chất
Việc đánh giá tổng thể chủ đề giúp Gv điều chỉnh, bổ sung chủ đề cho phù hợp hơn Mặt khác, đánh giá Hs cho phép Gv có thể biết được mục tiêu dạy học đề ra có đạt được hay không Mục tiêu dạy học có thể được thực hiện thông qua các hoạt động dạy học và thông qua các công cụ đánh giá [ ]
1.2.5 Các phương pháp và kĩ thuật dạy học sử dụng trong dạy học THLM
Vận dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực, việc thiết kế tiến trình dạy học các chủ đề THLM phải đảm bảo các yêu cầu sau
1.2.5.1 Về phương pháp dạy học
Tiến trình dạy học phải thể hiện chuỗi hoạt động học của Hs phù hợp với phương pháp dạy học tích cực được vận dụng Tùy theo đặc thù bộ môn và nội dung dạy học của chủ đề, Gv có thể lựa chọn các phương pháp dạy học khác nhau Tuy nhiên, các phương pháp dạy học tích cực nói chung đều dựa trên quan điểm dạy học giải quyết vấn đề có tiến trình sư phạm tương tự nhau: xuất phát từ một sự kiện/hiện tượng/tình huống/nhiệm vụ làm xuất hiện vấn đề cần giải quyết - lựa chọn giải pháp/xây dựng kế hoạch giải quyết vấn đề - thực hiện giải pháp/kế hoạch
để giải quyết vấn đề - đánh giá kết quả giải quyết vấn đề Vì vậy, nhìn chung tiến trình dạy học một chủ đề THLM như sau:
a Đề xuất vấn đề
Để đề xuất vấn đề, Gv giao cho Hs một nhiệm vụ có tiềm ẩn vấn đề Nhiệm
vụ giao cho Hs có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: giải thích một sự kiện/hiện tượng trong tự nhiên hay xã hội; giải quyết một tình huống trong học tập hay trong thực tiễn; tiến hành một thí nghiệm mở đầu Dưới sự hướng dẫn của Gv, Hs quan tâm đến nhiệm vụ đặt ra, sẵn sàng nhận và tự nguyện thực hiện nhiệm vụ Từ nhiệm vụ cần giải quyết, Hs huy động kiến thức, kĩ năng đã biết và nảy sinh nhu cầu về kiến thức, kĩ năng còn chưa biết, nhưng hi vọng có thể tìm tòi,
Trang 19xây dựng được; diễn đạt nhu cầu đó thành câu hỏi Lúc này vấn đề đối với Hs xuất hiện, dưới sự hướng dẫn của Gv vấn đề đó được chính thức diễn đạt
Nhiệm vụ giao cho Hs cần đảm bảo rằng Hs không thể giải quyết trọn vẹn với kiến thức, kĩ năng đã có mà cần phải học thêm kiến thức mới để vận dụng vào quá trình giải quyết vấn đề
b Giải pháp và kế hoạch giải quyết vấn đề
Sau khi đã phát biểu vấn đề, Hs độc lập hoạt động, xoay trở để vượt qua khó khăn, tìm các giải pháp để giải quyết vấn đề Trong quá trình đó, khi cần phải có sự định hướng của Gv để Hs có thể đưa ra các giải pháp theo suy nghĩ của Hs Thông qua trao đổi, thảo luận dưới sự định hướng của Gv, Hs xác định được các giải pháp khả thi, bao gồm cả việc học kiến thức mới phục vụ cho việc giải quyết vấn đề đặt
ra, đồng thời xây dựng kế hoạch hành động nhằm giải quyết vấn đề đó
c Thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề
Trong quá trình thực hiện giải pháp và kế hoạch giải quyết vấn đề, Hs diễn đạt, trao đổi với người khác trong nhóm về kết quả thu được, qua đó có thể chỉnh
lý, hoàn thiện tiếp Trường hợp Hs cần phải hình thành kiến thức mới nhằm giải quyết vấn đề, Gv sẽ giúp học sinh xây dựng kiến thức mới của bản thân trên cơ sở đối chiếu kiến thức, kinh nghiệm sẵn có với những hiểu biết mới; kết nối/sắp xếp kiến thức cũ và kiến thức mới dựa trên việc phát biểu, viết ra các kết luận/ khái niệm/ công thức mới… Trong quá trình đó, Hs cần phải học lí thuyết hoặc/và thiết
kế phương án thực nghiệm, tiến hành thực nghiệm, thu lượm các dữ liệu cần thiết
và xem xét, rút ra kết luận Kiến thức, kĩ năng mới được hình thành giúp cho việc giải quyết được câu hỏi/vấn đề đặt ra
Trong quá trình hoạt động giải quyết vấn đề, dưới sự hướng dẫn của Gv, hành động của Hs được định hướng phù hợp với tiến trình nhận thức khoa học Giáo viên cần hướng dẫn Hs vận dụng những kiến thức, kĩ năng mới học để giải quyết các tình huống có liên quan trong học tập và cuộc sống hàng ngày; tiếp tục tìm tòi và mở rộng kiến thức thông qua các nguồn tư liệu, học liệu, khác nhau; tự đặt ra các tình huống có vấn đề nảy sinh từ nội dung bài học, từ thực tiễn cuộc sống, vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết bằng những cách khác nhau Qua quá trình dạy học, cùng với sự phát triển năng lực giải quyết vấn đề của
Trang 20học sinh, sự định hướng của Gv tiệm cận dần đến định hướng tìm tòi sáng tạo, nghĩa là Gv chỉ đưa ra cho học sinh những gợi ý sao cho Hs có thể tự tìm tòi, huy động hoặc xây dựng những kiến thức và cách thức hoạt động thích hợp để giải quyết nhiệm vụ mà họ đảm nhận Nghĩa là dần dần bồi dưỡng cho Hs khả năng tự xác định hành động thích hợp trong những tình huống không phải là quen thuộc đối với học sinh
d Trình bày, đánh giá kết quả
Sau khi đã hoàn thành hoạt động giải quyết vấn đề, dưới sự hướng dẫn của
Gv, Hs trình bày, tranh luận, bảo vệ kết quả thu được Gv chính xác hoá, bổ sung, xác nhận, phê duyệt kết quả, bao gồm những kiến thức mới mà Hs đã học được thông qua hoạt động giải quyết vấn đề Hs ghi nhận kiến thức mới và vận dụng trong thực tiễn cũng như trong các bài học tiếp theo
1.2.5.2 Về kĩ thuật dạy học [ ]
Tiến trình dạy học nói trên được thể hiện cụ thể thành chuỗi hoạt động học của Hs Mỗi hoạt động học của Hs phải thể hiện rõ mục đích, nội dung, phương thức và sản phẩm học tập mà Hs phải hoàn thành Phương thức hoạt động của Hs thể hiện thông qua kĩ thuật học tích cực được sử dụng Có nhiều kĩ thuật học tích cực khác nhau, mỗi kĩ thuật có mục tiêu rèn luyện các kĩ năng khác nhau cho Hs Tuy nhiên, dù sử dụng kĩ thuật học tích cực nào thì việc tổ chức mỗi hoạt động học của Hs đều phải thực hiện theo các bước sau:
- Chuyển giao nhiệm vụ học tập
- Báo cáo kết quả và thảo luận
- Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập
Mỗi chủ đề được thực hiện ở nhiều tiết học nên một nhiệm vụ học tập có thể được thực hiện ở trong và ngoài lớp học Vì thế, trong một tiết học có thể chỉ thực hiện một số bước trong tiến trình sư phạm của phương pháp và kĩ thuật dạy học được sử dụng Khi dự một giờ dạy, Gv cần phải đặt nó trong toàn bộ tiến trình dạy học của chủ đề đã thiết kế Cần tổ chức ghi hình các giờ dạy để sử dụng khi phân tích bài học
Có các kĩ thuật dạy học tích cực
Kĩ thuật KWL
Trang 21K: Know – Những điều đã biết;
W: Want to know – Những điều muốn biết;
L: Learned – Những điều đã học được
a Khái niệm
Là bảng liên hệ các kiến thức liên quan đến bài học, các kiến thức muốn biết
và các kiến thức học được sau bài học
b Cách tiến hành
Sau khi giới thiệu bài học, mục tiêu bài học, giáo viên phát phiếu học tập “KWL”
Kĩ thuật này có thể thực hiện cho cá nhân hoặc nhóm học sinh theo mẫu sau: Bảng KWL
Tên bài học: ……….………
Tên học sinh: … ……….Lớp:.…………
Trường: ……….……… ………
K (Những điều đã biết) W (Những điều muốn biết) L (Những điều đã học đƣợc) –………
–………
–………
–………
–……… –
………
Loại bảng này dùng để khơi gợi lại những kiến thức đã học của học sinh bằng cách hỏi về những gì đã biết về bài học và giúp các em liên hệ với bản thân trước khi tìm hiểu sâu hơn về nội dung bằng việc đưa ra các ớ kiến trong cột “K” Sau đó, các
em độc lập hoặc hợp tác động não đưa ra các câu hỏi trong cột “W” Cuối cùng, khi trả lời những câu hỏi này trong quá trình học, các em thu nhận thông tin và điền vào cột “L”
Kĩ thuật 5W1H
a Khái niệm
5W1H là sáu từ dùng để hỏi trong tiếng Anh: What (Cái gì) Where (Ở đâu), When (Khi nào), Who (Ai), Why (Tại sao), How (Thế nào) Kĩ thuật này xuất phát
từ một bài thơ của nhà văn, nhà thơ người Anh Joseph Rudyard Kipling
Kĩ thuật này thường được dùng cho các trường hợp khi cần có thêm ý tưởng mới hoặc xem xét nhiều khía cạnh của vấn đề, chọn lựa ý tưởng để phát triển
Trang 22b Cách thực hiện
Để trình bày một ý tưởng, tóm tắt một sự kiện, một cuốn sách hoặc bắt đầu nghiên cứu một vấn đề, hãy tự đặt cho mình những câu hỏi như: WHAT? (Cái gì?), WHERE (Ở đâu?), WHEN (Khi nào?), WHY (Tại sao?), HOW (Như thế nào?), WHO (Ai?)
c Ưu, nhược điểm
* Ưu điểm:
- Nhanh chóng, không mất thời gian, mang tính logic cao
- Có thể áp dụng cho nhiều tình huống khác nhau
c Ưu điểm
Sử dụng kĩ thuật này, giáo viên có thể kiểm soát được các hoạt động của buổi báo cáo, tránh trường hợp mất trật tự, thiếu tập trung của học sinh Đồng thời rèn luyện cho học sinh kĩ năng lắng nghe, góp ý tích cực
Kĩ thuật thu, nhận thông tin phản hồi
a Khái niệm
Kĩ thuật này hỗ trợ giáo viên và học sinh thực hiện khâu đánh giá quá trình trong quá trình dạy học, giúp giáo viên có thể hỗ trợ học sinh khi cần thiết, giúp học sinh tự đánh giá sự tiến bộ của bản thân và tiến độ làm việc của nhóm mình để
Trang 23điều chỉnh các hoạt động kịp thời, hợp lí Thông tin phản hồi trong quá trình dạy học là giáo viên và học sinh cùng nhận xét, đánh giá, đưa ra ớ kiến đối với những yếu tố cụ thể có ảnh hưởng tới quá trình học tập nhằm mục đích là điều chỉnh quá trình dạy và học
Những đặc điểm của việc đưa ra thông tin phản hồi tích cực là: có sự cảm thông, có kiểm soát, cụ thể, không nhận xét về giá trị, đúng lúc, có thể biến thành hành động, cùng thảo luận, khách quan
b Quy tắc trong việc đưa thông tin phản hồi
- Diễn đạt ý kiến một cách đơn giản và có trình tự (không nói quá nhiều);
- Cố gắng hiểu được những suy tư, tình cảm (không vội vã);
- Tìm hiểu các vấn đề cũng như nguyên nhân của chúng;
- Giải thích những quan điểm không đồng nhất;
- Chấp nhận cách thức đánh giá của người khác;
- Chỉ tập trung vào những vấn đề có thể giải quyết được trong thời điểm thực tế;
- Coi cuộc trao đổi là cơ hội để tiếp tục cải tiến;
- Chỉ ra các khả năng để lựa chọn
c Ví dụ
Trong quá trình học hay thực hiện các dự án học tập, giáo viên yêu cầu mỗi học sinh ghi phản hồi trong sổ tay những thông tin sau: Tôi làm việc tốt nhất khi , tôi làm tốt nhất trong những hoạt động , tôi thích làm việc với người khác khi , vấn đề tôi thích nhất đó là , phần thú vị nhất của dự án này là , tôi thích học thêm về , điều khó khăn nhất với tôi đó là … , tôi cần trợ giúp về nhằm hỗ trợ học sinh khi cần thiết và giúp học sinh tự đánh giá sự tiến bộ của bản thân
Kĩ thuật sơ đồ tư duy
a Khái niệm
Sơ đồ tư duy (còn được gọi là bản đồ tư duy) là một cách trình bày rõ ràng những ý tưởng mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc của cá nhân hay nhóm về một chủ đề bằng hình ảnh, màu sắc, các từ khoá và các đường dẫn
b Cách làm
- Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề
Trang 24- Từ chủ đề trung tâm, vẽ các nhánh chính Trên mỗi nhánh chính viết một khái niệm, phản ánh một nội dung lớn của chủ đề, viết bằng CHỮ IN HOA Nhánh
và chữ viết trên đó được vẽ và viết cùng một màu Nhánh chính đó được nối với chủ đề trung tâm Chỉ sử dụng các thuật ngữ quan trọng để viết trên các nhánh
- Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung thuộc nhánh chính đó Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ in thường
- Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo
c Ứng dụng của bản đồ tư duy
- Tóm tắt nội dung, ôn tập một chủ đề
- Trình bày tổng quan một chủ đề
- Chuẩn bị ý tưởng cho một báo cáo hay buổi nói chuyện, bài giảng
- Thu thập, sắp xếp các ý tưởng
- Ghi chép khi nghe bài giảng
d Ưu điểm của bản đồ tư duy
- Các hướng tư duy được để mở ngay từ đầu
- Các mối quan hệ của các nội dung trong chủ đề trở nên rõ ràng
- Nội dung luôn có thể bổ sung, phát triển, sắp xếp lại
- Học sinh được luyện tập phát triển, sắp xếp các ý tưởng [ ]
1.2.5.3 Về kiểm tra, đánh giá
Phương án kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học phải đảm bảo sự đồng
bộ với phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực được sử dụng Cần tăng cường đánh giá về sự hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh thông qua quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập, thông qua các sản phẩm học tập mà học sinh đã hoàn thành; tăng cường hoạt động tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng của học sinh
Để thực hiện được điều đó, đối với mỗi hoạt động học trong cả tiến trình dạy học, cần mô tả cụ thể các sản phẩm học tập mà học sinh phải hoàn thành cùng với các tiêu chí đánh giá cụ thể [ ]
Trang 25CHƯƠNG 2 : THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC
TÍCH HỢP LIÊN MÔN CHỦ ĐỀ “MẮT”
2.1 Lí do chọn chủ đề Mắt
Mắt là cơ quan thị giác vô cùng phức tạp và ẩn chứa nhiều điều thú vị Mắt là một bộ phận rất quan trọng trong cuộc sống, sinh hoạt của con người Mắt thu nhận ánh sáng giúp người nhìn thấy mọi vật xung quanh
Hiện nay, vẫn chưa có một môn học nào ở phổ thông có thể cung cấp cho Hs kiến thức đầy đủ để có thể trả lời được hết những câu hỏi xoay quanh vấn đề về mắt
1 Mắt là gì? Mắt được cấu tạo như thế nào?
2 Vì sao ta có thể nhìn thấy một vật?
3 Sự tạo ảnh trên màng lưới như thế nào?
4 Hiện nay mắt thường mắc các tật gì? Khắc phục như thế nào?
5 Hiện nay mắt thường mắc các bệnh gì? Chữa trị như thế nào?
6 Làm thế nào để bảo vệ được đôi mắt luôn khỏe đẹp
Ở kiến thức Vật Lí : Mắt là một hệ quang học hết sức phức tạp và tinh vi, mắt được xem là một thấu kính hội tụ; sự điều tiết của mắt để có thể nhìn được vật
ở những khoảng cách khác nhau; khoảng cực cận, khoảng cực viễn ; các tật của mắt là cận thị, viễn thị và lão thị; sự lưu ảnh ảnh mắt ; cách khắc phục các tật của mắt là đeo thấu kính có tiêu cự phù hợp
Cùng với sự phát triển của xã hội, số lượng người mắc các bệnh, tật về mắt ngày càng tăng Ngoài 3 tật của mắt được đề cập trong nội dung chương trình Vật
Lí thì hiện nay một lượng lớn học sinh, sinh viên phần lớn đang mắc phải tật loạn thị nhưng tật loạn thị chưa được đề cập đến trong nội dung chương trình phổ thông
Để khắc phục các tật về mắt thì ngoài cách đeo thấu kính khắc phục thì vẫn có thể
sử dụng thuốc điều trị hay bắn lazer khắc phục
Ở kiến thức sinh học : Mắt là một bộ phận của cơ quan phân tích thị giác, thực hiện chức năng nhìn, quan sát, thu nhận lại hình ảnh của sự vật, màu sắc để chuyển vào não xử lý và lưu trữ; các bệnh, tật của mắt khái quát Ở đây cũng có nói đến cấu tạo của cầu mắt nhưng không được định nghĩa như bên Vật Lí 11 Theo thực trạng hiện nay, với phát triển không ngừng của xã hội thì con người ngày càng
Trang 26đối diện với những vấn đề như ô nhiễm môi trường, ô nhiễm không khí, thực phẩm bẩn, từ đó gây ra nguy cơ mắc các bệnh, tật về mắt ngày càng tăng nên việc cung cấp cho Hs lượng kiến thức như Sinh Học 8 là chưa đầy đủ
Vì vậy, việc xây dựng một chủ đề liên môn về mắt là rất cần thiết để Hs có thể nắm rõ được tầm quan trọng của các bộ phận từ đó có kiên thức vững để có thể chăm sóc, khắc phục, đề phòng các bệnh, tật về mắt là rất cần thiết Có một đôi mắt khỏe đẹp sẽ giúp ích cho việc lao động, học tập và làm việc hiệu quả
2.2 Các năng lực chính hướng tới khi thực hiện chủ đề
Qua chủ đề này, Gv có thể cung cấp đầy đủ phần nào kiến thức và rèn luyện cho Hs nhằm phát triển các năng lực như bảng 2.1:
Bảng 2.1 : Các năng lực chính hướng tới
- Sử dụng sơ đồ tư duy thống kê các nội dung về mắt
- Giải thích các cơ chế vận chuyển thông tin để mắt có thể nhận biết, phân biệt các vật, sự vật
- Đề xuất các biện pháp nhằm giúp cho mắt thích ứng tối ưu với môi trường sống bằng cách nêu ra các biện pháp làm thế nào để có đôi mắt sáng và đẹp
Trang 27- Phát triển năng lực tư duy logic trong tính toán các đại lượng Vật lí và thành phần hóa học của vật chất trong vận chuyển của cơ thể nhằm cung cấp dưỡng chất bảo vệ đôi mắt, phòng tránh các bệnh về mắt
4 Năng lực
hợp tác
- Thực hiện các nhiệm vụ học tập theo nhóm ở lớp và ở nhà, các thành viên nhóm cùng nhau làm việc, nghiên cứu, tìm tòi và sáng tạo nhằm giải quyết các nhiệm vụ mà Gv giao :
- Phát triển tư duy phát hiện ý tưởng khoa học qua kiến thức tích hợp liên môn
- Hình thành năng lực tìm tòi mở rộng nhằm áp dụng các kiến thức của chủ đề vào thực tiễn
Trang 282.3 Thiết kế sơ bộ nội dung chủ đề
2.3.1 Xác định các vấn đề cần giải quyết
Hình 2.1 : Các vấn đề cần giải quyết
2.3.2 Xác định các kiến thức cần thiết để giải quyết vấn đề
Thông tin trợ giúp giáo viên:
1 Mắt là gi? Cấu tạo nhƣ thế nào?
( Vật Lí 11 Cơ Bản – Bài 31 : Mắt – Mục I
Sinh Học 8 – Bài 49: Cơ quan phân tích thị giác – Mục II )
Mắt là một trong năm giác quan quan trọng, giúp con người quan sát và kiểm soát môi trường xung quanh Con người có khả năng dùng mắt để liên hệ, trao đổi
thông tin với nhau thay lời nói
Mắt là một hệ gồm nhiều môi trường trong suốt tiếp giáp nhau bằng các mặt cầu Chiết suất của các môi trường này có giá trị ở trong khoảng 1,336 1,437
Mắt (organon visus) gồm có nhãn cầu, thần kinh mắt và những bộ phận phụ thuộc như mí mắt, lông mi, các cơ mắt, các cân mạc, tuyến lệ và các màng tiếp hợp
Cấu tạo của mắt gồm những bộ phận như hình 2.2
Trang 29Hình 2.2 : cấu tạo của mắt
Cấu tạo quang học :
Hình 2.3 : Cấu tạo quang học của mắt
+ Màng giác hay giác mạc : là lớp màng cứng trong suốt có tác dụng bảo vệ các phần tử phía trong và làm khúc xạ các tia sáng chiếu vào mắt
+ Thủy dịch : là chất lỏng trong suốt có chiết suất xấp xỉ bằng chiết suất của nước + Lòng đen : là màn chắn, ở giữa có lỗ trống để điều chỉnh chùm sáng đi vào mắt + Thể thủy tinh : là khối chất đặc trong suốt ( giống như thạch) có hình dạng thấu kính hai mặt lồi
+ Dịch thủy tinh : là chất lỏng giống chất keo loãng, lấp đầy nhãn cầu phía sau thể thủy tinh
+ Màng lưới : là lớp mỏng tại đó tập trung đầu các sợi thần kinh thị giác
Trang 30Hình 2.4 : Sơ đồ mắt thu gọn
Hình 2.5 : so sánh máy ảnh và mắt
Mắt được biểu diễn bởi sơ đồ
tượng trưng như hình 2.4 hay gọi là sơ đồ
mắt thu gọn, trong đó hệ quang học phức
tạp của mắt được coi tương đương với
một thấu kính hội tụ Thấu kính tương
đương này gọi là thấu kính mắt
Tiêu cự của thấu kính mắt thường
được gọi tắt là tiêu cự của mắt
Tổng quát, mắt hoạt động như
một máy ảnh, so sánh ở hình 2.5
+ Thấu kính mắt có vai trò như vật kính
+ Màng lưới có vai trò như phim
Nhưng vật kính ở máy ảnh không
thể thay đổi tiêu cự, còn thể thủy tinh ở
mắt có thể thay đổi tiêu cự
Cấu tạo sinh học:
Hình 2.6 : Cấu tạo hốc mắt và cấu mắt
+ Cấu tạo của cầu mắt :
Cầu mắt nằm trong hốc mắt của xương sọ, phía ngoài được bảo vệ bởi các mi mắt, lông mày và lông mi nhờ tuyến lệ luôn luôn tiết nước mắt làm mắt không bị khô Cầu mắt vận động được là nhờ cơ vận động mắt
Trang 31Hinh 2.7 : Sơ đồ cấu tạo màng lưới
Cầu mắt gồm 3 lớp : lớp ngoài cùng là màng cứng có nhiệm vụ bảo vệ phần trong của cầu mắt Phía trước của màng cứng là màng giác trong suốt để ánh sáng đi qua vào trong cầu mắt; tiếp đến là lớp màng mạch có nhiều mạch máu và các tết bào sắc tố đen tạo thành một phòng tối trong cầu mắt ( như phòng tối của máy ảnh); lớp trong cùng là màng lưới , trong đó chứa tế bào thụ cảm thị giác, bao gồm 2 loại : tế bào nón và tế bào que
+ Cấu tạo của màng lưới:
Các tế bào nón tiếp nhận các kích thích ánh
sáng mạnh và màu sắc
Các tế bào que có khả năng tiếp nhận kích
thích ánh sáng yếu giúp ta nhìn rõ về ban đêm
Điểm vàng : các tế bào nón tập trung chủ
yếu ở điểm vàng, càng xa điểm vàng, số lượng tế
bào nón càng ít và chủ yếu là các tế bào que Mặt
khác, ở điểm vàng mỗi tế bào nón liên hệ với
một tế bào thần kinh thị giác qua một tế bào
hai cực, nhưng nhiều tế bào que mới liên hệ được với một tế bào thần kinh thị giác Chính vì vậy khi muốn quan sát một vật cho rõ phải hướng trục mắt về phía vật quan sát để ảnh của vật hiện trên điểm vàng
Điểm mù là nơi đi ra của các sợi trục các tế bào thần kinh thị giác, không có
tế bào thụ cảm thị giác nên nếu ảnh của vật rơi vào đó sẽ không nhìn thấy gì
Như vậy, sự phân tích hình ảnh cũng xảy ra ngay ở cơ quan thụ cảm
2 Mắt nhìn vật nhƣ thế nào?
(Vật Lí 11 Cơ Bản – Bài 31 :Mắt – Mục II & III
Sinh Học 8 – Bài 49 : Cơ quan phân tích thị giác – Mục 3-II )
Kiến thức Sinh Học :
Sự tạo ảnh ở màng lưới :
Ta nhìn được vật là do các tia sáng phản chiếu từ vật đi vào tới màng lưới qua một hệ thống môi trường trong suốt gồm màng giác, thủy dịch, thể thủy tinh, dịch thủy tinh
Trang 32Lượng ánh sáng vào trong phòng tối của cầu mắt nhiều hay ít là nhờ lỗ đồng
tử ở mống mắt ( lồng đen ) dãn rộng hay co hẹp ( điều tiết ánh sáng )
Nhờ khả năng điều tiết của thể thủy tinh ( như một thấu kính hội tụ ) mà ta
có thể nhìn rõ vật ở xa cũng như khi tiến lại gần Vật càng gần mắt, thể thủy tinh càng phồng lên để nhìn rõ
Khi các tia sáng phản chiếu từ vật qua thể thủy tinh tới màng lưới sẽ tác động lên các tế bào thụ cảm thị giác làm hưng phấn các tế bào này và truyền tới tế bào thần kinh thị giác; xuất hiện luồng thần kinh theo dây thần kinh thị giác về vùng võ não tương ứng ở thùy chẩm của đại não cho ta xảm nhận về hình ảnh của vật
Bổ sung tài liệu Y khoa
Cơ chế thu nhận ảnh
Về mặt quang học, mắt hoạt động như một máy chụp hình, vì nó có một hệ thống thấu kính, một hệ thống có thể điều chỉnh lượng ánh sáng ra vào và võng mạc tương đương với phim
Sự khúc xạ ánh sáng
Khi đi từ môi trường này sang môi trường khác có tỉ trọng khác nhau, tia sáng sẽ
bị lệch đi, trừ phi chúng đến thẳng góc với bề mặt tiếp giáp giữa hai môi trường Sự lệch
đi của tia sáng so với hướng ban đầu là hiện tượng khúc xạ Tia sáng khi đi vào mắt sẽ bị khúc xạ tại bốn bề mặt tiếp giáp: (1) giữa không khí và mặt trước giác mạc; (2) giữa mặt sau giác mạc và thủy dịch; (3) giữa thủy dịch và mặt trước thể thủy tinh; (4) giữa mặt sau thể thủy tinh và dịch kính Nếu gộp chung lại thành một thấu kính duy nhất, thì thấu kính này có khả năng khúc xạ là 59 đi-ốp, với điểm trung tâm cách xa võng mạc 17 mm
Kiến thức Vật Lí :
Khoảng cách từ thấu kính đến màng lưới ( điểm vàng ) OV có giá trị nhất định d‟ Nếu tiêu cự của thấu kính mắt cũng có giá trị nhất định thì mắt chỉ nhìn thấy vật ở một vị trí nhất định
Tuy nhiên, ta có thể quan sát được những vật từ rất xa ( chẳng hạn một ngôi sao ) cho đến những vật rất gần ( chẳng hạn một trang sách )