1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp để phát triển loại hình công ty hợp danh tại Việt Nam

58 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 688,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng và giải pháp để phát triển loại hình công ty hợp danh tại Việt Nam Thực trạng và giải pháp để phát triển loại hình công ty hợp danh tại Việt Nam Thực trạng và giải pháp để phát triển loại hình công ty hợp danh tại Việt Nam luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Tình hình nghiên cứu 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Kết cấu luận văn 5

CHƯƠNG I 6

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LOẠI HÌNH CÔNG TY HỢP DANH 6

1.1 Sự hình thành công ty hợp danh 6

1.1.1 Nguồn gốc 6

1.1.2 Sự hình thành và phát triển công ty hợp danh trên thế giới 6

1.1.3 Sự hình thành và phát triển công ty hợp danh tại Việt Nam 8

1.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò công ty hợp danh 9

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm công ty hợp danh theo pháp luật các nước trên thế giới 9

1.2.2 Khái niệm và đặc điểm công ty hợp danh theo pháp luật Việt Nam 10

1.2.3 Vai trò của công ty hợp danh 14

1.3 Thành lập công ty hợp danh 14

1.3.1 Đối tượng được đăng ký thành lập 14

1.3.2 Thủ tục đăng ký kinh doanh 15

1.4 Cơ cấu tổ chức, quản lý công ty hợp danh 19

1.4.1 Hội đồng thành viên 19

1.4.1.1 Thành phần Hội đồng thành viên 19

1.4.1.2 Thể thức thông qua quyết định của Hội đồng thành viên 29

1.4.1.3 Triệu tập họp Hội đồng thành viên 32

1.4.2 Vấn đề quản lý, điều hành công ty hợp danh của thành viên hợp danh 23 1.5 Quy chế thành viên công ty hợp danh .24

Trang 2

1.5.1 Quy chế thành viên hợp danh 24

1.5.1.1 Xác lập tư cách thành viên hợp danh 24

1.5.1.2 Chấm dứt tư cách thành viên hợp danh 29

1.5.1.3 Quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp danh 32

1.5.2 Quy chế thành viên góp vốn 38

1.5.2.1 Xác lập tư cách thành viên góp vốn 38

1.5.2.2 Chấm dứt tư cách thành viên góp vốn 39

1.5.2.3 Quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn 40

1.5.3 Tiếp nhận thành viên mới 42

TIỂU KẾT CHƯƠNG I 42

CHƯƠNG II 44

THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỂ PHÁT TRIỂN CÔNG TY HỢP DANH TẠI VIỆT NAM 44

2.1 Thực trạng trong quy định pháp luật và hoạt động thực tiễn của loại hình công ty hợp danh ở Việt Nam 44

2.1.1 Nhận thức của xã hội và ưu, nhược điểm về công ty hợp danh 44

2.1.1.1 Nhận thức của xã hội về công ty hợp danh 44

2.1.1.2 Ưu, nhược điểm của công ty hợp danh 45

2.1.2 Thực trạng quy định pháp luật về công ty hợp danh 46

2.1.3 Thực trạng đăng ký kinh doanh của các công ty hợp danh 48

2.2 Giải pháp phát triển công ty hợp danh tại Việt Nam 49

2.3 Một số kiến nghị phát triển công ty hợp danh tại Việt Nam 52

TIỂU KẾT CHƯƠNG II 53

KẾT LUẬN 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, đầu tiên em xin chân thành gửi lời cảm

ơn đến quý thầy cô khoa Luật, trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh

- Hutech, đã luôn tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập, cho em nhiều kiến thức và tư vấn các vấn đề chuyên môn trong bốn năm học, đặc biệt đã tạo cơ hội để em được nghiên cứu, tìm hiểu về khoá luận như hôm nay

Đặc biệt, em xin trân trọng cảm ơn giảng viên hướng dẫn: Thạc sĩ Vũ Anh Sao, Thầy đã hết lòng, tận tâm giúp đỡ em, đưa ra những lời khuyên và sửa chữa những điểm thiếu sót trong khoá luận Một lần nữa em trân trọng cảm ơn Thầy!

Cuối cùng, do kiến thức cũng như kỹ năng nghiên cứu còn nhiều hạn chế nên khoá luận tốt nghiệp của em không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được

sự quan tâm và ý kiến đánh giá từ quý Thầy, Cô!

TP.HCM, ngày … tháng … năm 2018

Người thực hiện

Lý Phương Thảo

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên: LÝ PHƯƠNG THẢO, MSSV: 1411270377, Lớp: 14DK04

Tôi xin cam kết các số liệu, thông tin sử dụng trong khoá luận tốt nghiệp này được thu thập từ nguồn thực tế, trên các sách báo khoa học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và theo đúng qui định)

Nội dung trong khoá luận này do bản thân tìm hiểu, nghiên cứu KHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu, báo cáo khác

Nếu sai sót Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của Nhà Trường và Pháp luật

TP.HCM, ngày … tháng … năm 2018

Người thực hiện

Lý Phương Thảo

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đối với một quốc gia như Việt Nam hiện nay đang trong quá trình hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới thì môi trường pháp lý nói chung và trong hoạt động kinh doanh nói riêng vô cùng quan trọng Chính vì vậy việc liên tục hoàn thiện chính sách pháp luật kinh tế, trong đó có pháp luật về doanh nghiệp luôn là nhiệm

vụ trọng tâm

Ở Việt Nam, ngay từ khi Thực dân Pháp đô hộ đất nước ta, công ty hợp danh đã được quy định dưới hình thức là Hội người trong dân luật Bắc kỳ năm 1931, dân luật Trung kỳ 1936 và Bộ luật Thương mại Sài Gòn trước năm 1975 Cho đến những năm cuối của thế kỷ XX, khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hơn một thập kỷ, thì công ty hợp danh lần đầu tiên được quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 1999 với vỏn vẹn chỉ có 4 điều (từ Điều 95 đến Điều 98) Một vài năm sau đó, những quy định về công ty hợp danh đã bộc lộ những nhược điểm khi nhà đầu tư không mặn mà với loại hình doanh nghiệp này Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã quy định 11 điều đối với công ty hợp danh (từ Điều 130 đến Điều 140) Trong gần 10 năm thực hiện Luật Doanh nghiệp năm

2005, số lượng công ty hợp danh vẫn chỉ dừng lại ở con số vài chục, điều này chứng

tỏ loại hình công ty vẫn còn chưa hấp dẫn các nhà đầu tư kinh doanh Đến Luật Doanh nghiệp 2014 vẫn quy định hình thức công ty hợp danh gồm 11 điều (từ Điều

172 đến Điều 182) và chưa khắc phục được những đặc điểm cố hữu của loại hình công ty này Mô hình công ty này đã được quy định chi tiết rõ ràng hơn, phù hợp với tình hình kinh tế đất nước Tuy nhiên, những quy định ấy vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn và chưa phát huy được hết những điểm mạnh vốn có của loại hình công ty này

Xét về thời gian, thì công ty hợp danh là một trong những loại hình doanh nghiệp ra đời sớm nhất trên thế giới, nhưng với Việt Nam nó chỉ mới tồn tại cách đây không lâu Mặc dù vậy, nhưng cũng không thể coi là mới mẻ, xa lạ để các nhà đầu tư ngoảnh mặt với mô hình này, nhưng trên thực tế số lượng công ty hợp danh đang hoạt động hiện nay rất ít Có rất nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hiện tượng trên là môi trường pháp

lý chưa thuận lợi, chặt chẽ, chưa tạo được tiền đề, cũng như động lực để các nhà đầu tư thấy sự hấp dẫn khi lựa chọn mô hình này

Có nên khai trừ loại hình này hay cần phải điều chỉnh lại các quy định của pháp luật để tạo bàn đạp cho loại hình này được phát triển mạnh mẽ và phổ biến rộng

Trang 6

rãi Xuất phát từ những lý do trên nên đề tài “Thực trạng và giải pháp để phát triển loại hình công ty hợp danh tại Việt Nam” được chọn với mong muốn làm

sáng tỏ những đặc điểm, bản chất pháp lý của loại hình công ty này, từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật về công ty hợp danh

2 Tình hình nghiên cứu

Công ty hợp danh là một mô hình kinh doanh tương đối phổ biến ở các nước trên thế giới Mô hình kinh doanh này đã trở nên gần gủi với người dân cũng như thị trường của hầu hết các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, ở Việt Nam công ty hợp danh mới xuất hiện từ thời Pháp thuộc và sau đó hiện tượng kinh doanh này tồn tại dưới những hình thức pháp lý như: Nhóm kinh doanh, tổ hợp tác, … Dưới góc

độ pháp lý, hình thức kinh doanh này mới chỉ được ghi nhận trong Luật doanh nghiệp 1999, Luật doanh nghiệp 2005 và nay là Luật doanh nghiệp 2014 tiếp tục hoàn thiện và mở rộng thêm các quy định về loại hình công ty hợp danh Điều này chứng tỏ sự kỳ vọng của nhà làm luật đối với loại hình công ty hợp danh ngày càng lớn

Công ty hợp danh được coi là một hiện tượng pháp luật mới ở Việt Nam và được rất nhiều nhà nghiên cứu luật học lựa chọn làm đề tài trong các bài viết như:

- Bài viết của tác giả Đồng Ngọc Ba "Một số vấn đề pháp lý và thực tiễn về các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam”, Tạp chí Luật học số 1/2005

- Bài viết “Khái niệm công ty hợp danh tại Luật Doanh nghiệp 2005”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 11, tác giả Ngô Huy Cương

- Bài Viết “Một số vấn đề về công ty hợp danh ở Việt Nam theo Luật Doanh nghiệp và hướng đề xuất hoàn thiện” tác giả Đoàn Thị Ngọc Hải

- Bài viết của Nguyễn Thị Kim Thoa, “Công ty hợp danh theo Luật Doanh nghiệp 2005”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Và còn nhiều bài viết khác đã nghiên cứu về “công ty hợp danh”

Tuy nhiên, khác với các bài nghiên cứu trước đây, luận văn của em sẽ tập trung

đi sâu hơn khi nghiên cứu về các quy định, vấn đề pháp lý xoay quanh công ty hợp doanh, đặc biệt là cập nhật các điều luật mới từ Luật Doanh nghiệp 2014 Những con số thực tế được thống kê rõ ràng về công ty hợp danh trong những năm gần đây, hơn thế luận văn còn đề xuất cụ thể nhất những giải pháp để phát triển công ty hợp danh trong giai đoạn hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

Trang 7

- Khoá luận nghiên cứu các quy định pháp luật của Việt Nam về công ty hợp danh như: Thành lập, cơ cấu tổ chức, quản lý, vận hành công ty hợp danh,… để làm

rõ những vấn đề có tính nguyên tắc, cần thiết cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về công ty hợp danh tại Việt Nam

* Phạm vi nghiên cứu:

- Về mặt không gian: Khoá luận tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về công ty hợp danh trong Luật Doanh nghiệp 2014 và thực tiễn số lượng công ty hợp danh trên phạm vi cả nước

- Về mặt thời gian: Khoá luận chủ yếu nghiên cứu từ khoảng thời gian 2014 trở lại đây, khi mà Luật Doanh nghiệp 2014 ra đời thay thế Luật Doanh nghiệp 2005

Cụ thể là giai đoạn năm 2016 – 2017 và giai đoạn ba tháng đầu năm 2018

4 Phương pháp nghiên cứu

Khoá luận sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, đối chiếu, thống

kê, cụ thể như sau:

- Phương pháp tổng hợp, phân tích được sử dụng xuyên suốt ở chương 1 từ mục 1.3 đến mục 1.6 khi phân tích các vấn đề về thành lập công ty, quy chế thành viên,

cơ cấu tổ chức, quản lý công ty hợp danh

- Phương pháp thống kê được sử dụng ở mục 2.1.3 phục vụ nghiên cứu thực trạng đăng ký kinh doanh của các công ty hợp danh trên phạm vi cả nước

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn sẽ gồm 2 chương:

+ Chương I: Một số vấn đề chung về loại hình công ty hợp danh

+ Chương II: Thực trạng, giải pháp và một số kiến nghị để phát triển công ty hợp danh tại Việt Nam

Trang 8

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LOẠI HÌNH CÔNG TY HỢP DANH

1.1 Sự hình thành công ty hợp danh

1.1.1 Nguồn gốc

Một trong những loại hình công ty có mặt sớm nhất trong lịch sử đó là công ty hợp danh Khái niệm về “hợp danh” bắt đầu xuất hiện và tồn tại từ khi con người bắt đầu hợp tác với nhau Người ta đã tìm thấy những quy định về sự hợp danh theo nghĩa rộng trong các bộ luật thời Babylone, Hy Lạp và La Mã cổ đại trong Bộ luật Hammurabi của Babylon vào khoảng năm 2300 trước công nguyên cũng đã có chế định về hình thức hợp danh

Ở Châu Âu, Châu Á tập quán kinh doanh của các thương nhân, sự liên kết những phường, hội người buôn là tiền đề ban đầu hình thành nên những hình thức hợp danh sau này

Ban đầu, công ty chỉ là những liên kết giản đơn của các thương nhân quen biết nhau Sự quen biết dựa trên yếu tố nhân thân tạo nên sự tin cậy về mặt tâm lý Yếu

tố nhân thân của thành viên hợp danh được coi trọng hàng đầu khi thành lập công

ty Do đó, loại hình công ty đầu tiên ra đời trên thế giới là công ty đối nhân, tức là công ty gồm các thành viên quen biết và tin cần liên kết lại, yếu tố con người quan trọng hơn yếu tố vốn Đặc điểm cơ bản của công ty đối nhân là không có sự tách bạch tài sản công ty với tài sản cá nhân Các dạng của công ty đối nhân gồm công ty hợp danh, công ty hợp vốn đơn giản và công ty hợp vốn theo cổ phần

Như vậy, công ty hợp danh là loại hình đặc trưng của công ty đối nhân Các nhà nghiên cứu cho rằng đây là loại hình công ty ra đời sớm nhất trên thế giới

1.1.2 Sự hình thành và phát triển công ty hợp danh trên thế giới

Công ty hợp danh là một trong bốn mô hình tổ chức kinh doanh được pháp luật

doanh nghiệp ghi nhận Về mặt lịch sử, công ty hợp danh là mô hình công ty xuất hiện đầu tiên và được pháp luật của nhiều nước trên thế giới ghi nhận

Vào khoảng thế kỷ thứ XIII, ở các thành phố lớn của Châu Âu có điều kiện địa

lý thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán, đã xuất hiện các công ty thương mại đối nhân đầu tiên Sang đầu thế kỷ XVII các công ty đối vốn cũng ra đời Sự ra đời của các công ty kéo theo nhu cầu cần phải có pháp luật điều chỉnh Lịch sử luật công ty gắn liền với các quy định về liên kết, hợp đồng và các quan hệ nợ nần trong La Mã Luật công ty hiện đại ra đời cùng với thời kỳ tự do hóa tư sản Các công ty hoạt động theo luật tư và chịu rất ít sự giám sát của nhà nước Năm 1807 Pháp ban hành

Trang 9

Bộ luật thương mại, thể chế hóa quan điểm tự do hóa hoạt động kinh doanh, sau đó các nhiều nước châu Âu đã ban hành luật thương mại Mặc dù vậy, việc thành lập vẫn cần giấy phép của nhà nước

Đến năm 1870, hầu hết các nước đều bãi bỏ thủ tục cấp giấy phép thành lập Công dân hoàn toàn có quyền tự do thành lập công ty và tự do hoạt động Nhà nước chỉ đưa ra các quy định bắt buộc, các công ty có nghĩa vụ đăng ký theo các quy định của pháp luật, căn cứ vào kết quả thẩm định của các chuyên gia kiểm toán độc lập

Do sự tự do hóa kinh doanh nên xảy ra nhiều vụ lừa đảo trong công chúng, đặc biệt

là trong chiến tranh, vì vậy vấn đề hoàn thiện pháp luật được đặt ra Đức là một trong những nước xuất hiện mô hình công ty sớm Năm 1870, ban hành Luật công

ty cổ phần, sau đó được bổ sung bởi Bộ luật thương mại 1897, sau này thay thế bằng Luật công ty cổ phần Từ năm 1937 đến 1965 ban hành Luật công ty cổ phần mới Năm 1892 ban hành Luật công ty trách nhiệm hữu hạn

Từ lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về mô hình công ty trên thế giới đã cho thấy có hai loại công ty cơ bản: công ty đối nhân và công ty đối vốn Công ty đối nhân là công ty mà việc thành lập dựa trên sự liên kết chặt chẽ bởi

độ tin cậy về nhân thân của các thành viên tham gia, sự hùn vốn là yếu tố thứ yếu Công ty đối nhân có hai dạng cơ bản:

 Công ty hợp danh: là loại hình công ty trong đó các thành viên cùng nhau tiến hành hoạt động kinh doanh dưới một tên chung và cùng liên đới chịu trách nhiệm tài sản vô hạn về các khoản nợ của công ty

 Công ty hợp danh hữu hạn (hay còn gọi là công ty hợp vốn đơn giản):

là loại công ty có ít nhất một thành viên chịu trách nhiệm tài sản vô hạn (thành viên nhận vốn), còn thành viên khác chỉ chịu trách nhiệm tài sản hữu hạn trong số vốn góp vào công ty (thành viên góp vốn) Công ty đối vốn là công ty không quan tâm đến nhân thân người góp vốn mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp, nói một cách khác, vốn góp là yếu tố quan trọng để hình thành nên công ty đối vốn Công ty đối vốn cũng có hai dạng cơ bản:

 Công ty cổ phần

 Công ty trách nhiệm hữu hạn

Và như thế, công ty hợp danh ở các nước trên giới đã được hình thành như một điều tất nhiên để có thể biến những điều tưởng chừng như khó khăn trong nền kinh

tế của các nước trở nên dễ dàng hơn, phục vụ mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các nhà kinh doanh

Trang 10

1.1.3 Sự hình thành và phát triển công ty hợp danh tại Việt Nam

Trong khi hợp danh và pháp luật về hợp danh đã ra đời từ rất sớm ở các quốc gia trên thế giới, còn ở Việt Nam, với đặc trưng là nền kinh tế nông nghiệp, hoạt động thương mại không phải là thế mạnh Bởi vậy, các loại hình công ty ra đời khá muộn so với các nước trên thế giới, trong đó có công ty hợp danh Mô hình hợp danh xuất hiện ở Việt Nam cùng với quá trình thực dân Pháp xâm lược nước ta vào thế kỷ XIX Bộ Dân luật thi hành tại các toà Nam án Bắc kỳ 1931 gọi công ty là các hội buôn, các hội buôn gồm có hội người và hội vốn Hội người được chia thành hội hợp danh (công ty hợp danh), hội hợp tư (công ty hợp vốn đơn giản) và hội hợp lợi (công ty hợp danh) Hội vốn chia thành hội vô danh và hội hợp cổ Hội hợp danh là

“hội buôn dùng một danh hiệu mà trong hội tất cả các hội viên ai nấy đều phải xuất

cả tài sản của mình, cùng nhau chịu trách nhiệm liên đới vô hạn các khoản nợ của hội Như vậy, ta có thể thấy được hội hợp danh mang các đặc trưng của công ty hợp danh sau này

Dưới chính quyền vua Bảo Đại đã ban hành Bộ luật thương mại Trung phần

1994 Bộ luật này chia công ty thành công ty đối nhân và công ty đối vốn Công ty đối nhân gồm công ty đồng danh và công ty cấp vốn đơn giản Tuy có sửa đổi, bổ sung nhưng về cơ bản những quy định mô hình hợp danh vẫn giống so với quy định trong Luật Thương mại Pháp áp dụng tại Việt Nam Từ năm 1954, ở miền Bắc tiến dần từ chế độ dân chủ nhân dân lên xã hội chủ nghĩa và vào thời gian này thì pháp luật không ghi nhận sự tồn tại của các mô hình công ty và hợp danh Còn ở Miền Nam, Bộ luật thương mại Sài Gòn 1972 gọi công ty là thương hội mà thương hội bao gồm hội hợp danh, hội hợp tư thông thường và hội trách nhiệm hữu hạn Bộ luật này đã ghi nhận sự tồn tại của mô hình hợp danh

Năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng và cả nước bắt đầu xây dựng nền kinh tế theo mô hình xã hội chủ nghĩa Chủ trương của nhà nước là thực hiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, lấy kinh tế quốc doanh làm chủ đạo nên các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh không được thừa nhận

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, năm 1990, Luật công ty được ban hành, nhưng trong Luật này không có quy định nào về hợp danh mà chỉ quy định về mô hình Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty cổ phần Luật Doanh ngiệp 1999 ra đời trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, đồng thời khắc phục những hạn chế của các văn bản trước đó Một trong những điểm mới của văn bản này là ghi nhận sự tồn tại của hai loại hình công ty mới đó là công ty hợp danh và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Luật Doanh nghiệp 2005

đã thay thế Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệp 2014 đã thay thế Luật

Trang 11

Doanh nghiệp 2005, Luật mới đã hoàn thiện các quy định về công ty hợp danh, tạo một chỗ đứng vững hơn trong môi trường pháp lý và còn có nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho việc phát triển loại hình công ty này

1.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò công ty hợp danh

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm công ty hợp danh theo pháp luật các nước trên thế giới

Ở đa số các nước trên thế giới hiện nay, công ty hợp danh đều được pháp luật ghi nhận là một loại hình đặc trưng của công ty đối nhân, tuy nhiên không phải là không có sự khác biệt giữa pháp luật các nước khi đưa ra định nghĩa về công ty hợp danh Theo Ralph Warner & Denis Clifford, chế định “hợp danh” được ghi nhận lần đầu tiên trong Bộ luật Hammurabi của Babylon năm 2300 (trước công nguyên) Khái niệm “hợp danh” theo Đạo luật Justinian của đế chế La Mã cổ đại vào thế kỷ

VI, xét về bản chất không có sự khác biệt trong pháp luật hiện nay

Theo Luật số 66-537 ban hành ngày 24/7/1966 ở Pháp về công ty thương mại, công ty hợp danh được định nghĩa là loại hình công ty mà trong đó có ít nhất hai thành viên (đều là thương nhân) cùng tiến hành hoạt động thương mại dưới một hình thức chung và cùng liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của công ty Thông thường, chỉ có cá nhân có đủ năng lực để thực hiện hoạt động thương mại mới có thể trở thành thành viên của công ty hợp danh Tuy nhiên, ở Pháp, thành viên công ty hợp danh cũng có thể là một pháp nhân Trong trường hợp này, thành viên pháp nhân sẽ được đại diện bởi người được pháp nhân ủy nhiệm Trong thực tiễn, pháp nhân này chỉ có thể là một công ty thương mại do luật quy định tất cá các thành viên của công ty hợp danh điều có tư cách thương nhân Ngoài

ra, ở Pháp, cũng có một loại hình côngg ty đối nhân mà trong đó có hai loại thành viên: thành viên nhận vốn và thành viên góp vốn Thành viên nhận vốn có địa vị pháp lý giống như thành viên công ty hợp danh, còn thành viên góp vốn thì chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn góp nhưng không có quyền tham gia quản lý công ty Công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản là hai loại hình công ty đặc trưng của công ty đối nhân

Ở Thụy Sĩ loại hình công ty hợp danh được quy định trong Bộ luật dân sự Nhìn chung, quan điểm của các nhà làm luật Thụy Sĩ khi đưa ra định nghĩa về công ty hợp danh trong Bộ luật dân sự không có sự khác biệt mấy so với quan điểm của các nhà làm luật ở Pháp Công ty hợp danh cũng có ít nhất hai thành viên cùng góp vốn kinh doanh và cùng liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty Tuy nhiên, có một điểm cần chú ý là theo pháp luật Thụy Sĩ, thành viên công ty hợp danh chỉ có thể là pháp nhân Ở Thụy Sĩ, cũng tồn tại loại hình công ty hợp vốn đơn

Trang 12

giản Công ty hợp vốn đơn giản ở Thụy Sĩ có 2 loại thành viên: thành viên nhận vốn

và thành viên góp vốn Thành viên nhận vốn chỉ có thể là cá nhân và chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty Thành viên góp vốn có thể là cá nhân hoặc pháp nhân, chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vồn góp nhưng không được quyền tham gia quản lý công ty

Còn ở Anh,Hoa Kỳ hay Nhật Bản thì khi nghĩ đến công ty đối nhân là người ta nghĩ ngay đến loại hình công ty hợp danh Tuy nhiên, ở các nước này, khái niệm công ty hợp danh được hiểu rộng hơn Theo đó, công ty hợp danh được chia làm hai loại chủ yếu: loại thứ nhất là công ty hợp danh thông thường (general partnership) theo pháp luật Anh, Hoa Kỳ hay công ty hợp danh thương mại (Go-mei Gaisha) theo pháp luật Nhật Bản (loại này tương đương khái niệm công ty hợp danh theo pháp luật của Pháp) Hơn nữa gần đây, tại Anh, Hoa Kỳ, người ta còn chứng kiến

sự ra đời của một loại hình công ty hợp danh mới, đó là công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn (limited liability partnership) Đây là loại hình công ty hợp danh mà thành viên của công ty chỉ có thể chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn góp vào công ty trong trường hợp có một thành viên lạm dụng địa vị của mình để tiến hành hoạt động kinh doanh nhưng mang lại rủi ro, thua lỗ cho công ty Tuy nhiên, loại hình công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn này chỉ có thể được thành lập trong hai lĩnh vực, đó là lĩnh vực tư vấn pháp lý và lĩnh vực kiểm toán

Như vậy, theo pháp luật các nước, nhìn chung công ty hợp danh có thể được định nghĩa là một loại hình doanh nghiệp được thành lập bởi ít nhất hai thành viên, cùng góp vốn tiến hành hoạt động kinh doanh chung và cùng liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về các nghĩa vụ của công ty

1.2.2 Khái niệm và đặc điểm công ty hợp danh theo pháp luật Việt Nam

Công ty hợp danh là một trong các loại hình công ty ra đời sớm nhất trong lịch

sử nhân loại Nó được tìm thấy những quy định về sự hợp danh theo nghĩa rộng trong các bộ luật thời cổ đại như: Bộ luật Hammurabi của Babylon cổ đại ra đời vào

khoảng năm 2300 trước Công nguyên

Trước đây, loại hình công ty này chỉ là những liên kết đơn giản của các thương nhân quen biết nhau và dựa vào yếu tố nhân thân để tạo nên sự tin tưởng, cùng nhau tiến hành các hoạt động kinh doanh Đây là đặc điểm của loại hình công ty đối nhân

(dựa vào yếu tố nhân thân hơn yếu tố vốn)

Sau này, do nhu cầu về vốn, loại hình công ty hợp danh đã tiếp nhận thêm các thành viên góp vốn bên cạnh các thành viên hợp danh Tuy nhiên, hoạt động trong công ty vẫn dựa trên nguyên tắc thỏa thuận giữa các thành viên hợp danh và về nguyên tắc đại diện, tính chất hữu hạn được cấy ghép vào hợp danh nhưng không

Trang 13

làm thay đổi bản chất của hợp danh, trách nhiệm liên đới vô hạn đối với các nghĩa

vụ của công ty vẫn thuộc về các thành viên hợp danh

Pháp luật doanh nghiệp hiện hành không đưa ra định nghĩa về công ty hợp danh, tuy nhiên, căn cứ vào những đặc điểm pháp lý cơ bản nêu tại Điều 172 Luật Doanh nghiệp 2014 thì có thể khái quát về công ty hợp danh như sau: Công ty hợp danh là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và có chế độ trách nhiệm tài sản vô hạn Công ty hợp danh gồm ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty (được gọi là thành viên hợp danh) và có thể có thành viên góp vốn chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.1

Như vậy, công ty hợp danh theo pháp luật Việt Nam là loại hình công ty có sự trộn lẫn giữa mô hình công ty hợp danh thông thường và mô hình công ty hợp danh hợp vốn đơn giản Xoay quanh vấn đề này, có ý kiến cho rằng công ty hợp danh của Việt Nam có nội hàm rộng hơn công ty hợp danh theo quan niệm phổ biến trên thế giới Ở các nước khác, “công ty hợp danh là một loại hình của công ty đối nhân, chỉ

có một loại thành viên duy nhất và các thành viên phải chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty Công ty hợp danh được phân biệt với các loại hình công

ty khác là công ty hợp danh hữu hạn (công ty hợp vốn đơn giản) với hai loại thành viên là thành viên hợp danh (chịu trách nhiệm vô hạn) và thành viên góp vốn (chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn góp)”2 Hay “theo pháp luật Việt Nam hiện nay, công ty hợp danh bị gắn với một hình thức công ty khác là công ty hợp vốn đơn giản để cùng được gọi là công ty hợp danh”3

Tuy nhiên, việc Luật Doanh nghiệp 2014 “dung hòa” hai mô hình hợp danh đã tạo ra một đặc trưng riêng cho pháp luật doanh nghiệp Việt Nam, đó chính là sự chủ động và linh hoạt cho nhà đầu

tư Mô hình công ty đối nhân linh hoạt như vậy của pháp luật Việt Nam cũng là mội nội dung thể hiện quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư Khi nhà đầu tư muốn thành lập công ty hợp danh, xuất phát từ nhu cầu kinh doanh của mình mà trong công ty có thể không cần phải có thành viên góp vốn (lúc này công ty chính là công

ty hợp danh truyền thống), hoặc cũng có thể có thành viên góp vốn nếu hoạt động của công ty thực sự cần đến vốn cho việc kinh doanh (công ty hợp danh hữu hạn) Mặt khác, pháp luật doanh nghiệp của Việt Nam có sự phân định rất rõ ràng về chế độ pháp lý của hai loại thành viên này, như về trách nhiệm, thành viên hợp danh

1 Điều 172 Luật Doanh nghiệp 2014

2 Đồng Ngọc Ba (2005), Một số vấn đề pháp lý và thực tiễn về các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 1/2005, tr.12

3 Ngô Huy Cương (2009), Khái niệm công ty hợp danh tại Luật Doanh nghiệp năm 2005, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 11

Trang 14

chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình về các khoản nợ của công ty, còn thành viên góp vốn lại chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn góp của mình hay thành viên hợp danh được quyền quản lý điều hành công ty còn thành viên góp vốn thì không…

Từ những phân tích về khái niệm công ty hợp danh như trên, công ty hợp danh

có các đặc điểm sau đây:

(1) Công ty hợp danh là một loại hình doanh nghiệp

Xuất phát từ sự phân hóa đa dạng của các lĩnh vực trong đời sống kinh doanh, các loại hình doanh nghiệp không thể phù hợp với tất cả ngành nghề kinh doanh, trong một số trường hợp thì loại hình công ty hợp danh có thể được coi là một sự lựa chọn phù hợp

Giống như các loại hình doanh nghiệp khác, công ty hợp danh cũng có các đặc điểm chung của một doanh nghiệp, loại hình này được hưởng những quy chế pháp

lý giống như các doanh nghiệp tại Việt Nam

(2) Công ty hợp danh có hai loại thành viên với quy chế pháp lý khác nhau

+ Các thành viên hợp danh là chủ sở hữu chung của công ty, nhân danh công ty tiến hành các hoạt động kinh doanh

Tóm lại, theo Luật Doanh nghiệp 2014, công ty hợp danh có thể tồn tại dưới hai

hình thức: (i) công ty hợp danh chỉ bao gồm các thành viên hợp danh, không có thành viên góp vốn (hình thức này tương ứng với mô hình công ty hợp danh có trách nhiệm chung); (ii) công ty hợp danh bao gồm cả thành viên hợp danh và thành viên góp vốn (hình thức này tương ứng với mô hình công ty hợp danh hữu hạn)

(3) Chế độ trách nhiệm

Trang 15

Công ty hợp danh chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty bằng tài sản của công ty Nếu tài sản công ty không đủ thanh toán các khoản nợ thì thành viên hợp danh liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ còn lại của công ty Điều này thể hiện trước tiên công ty hợp danh phải tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của công ty, trách nhiệm của thành viên hợp danh chỉ phát sinh khi tài sản công ty không đủ để thanh toán khoản nợ của công ty

Khác với thành viên hợp danh, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty

(4) Công ty hợp danh là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân

Đây là đặc điểm khác biệt lớn nếu so sánh pháp luật cả Việt Nam với pháp luật của các quốc gia trên thế giới về loại hình công ty hợp danh, bởi vì loại hình này ở các quốc gia hầu hết là không có tư cách pháp nhân Theo quy định tại Điều 74 Bộ luật Dân sự 2015 thì pháp nhân phải là một tổ chức: Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83

Bộ luật Dân sự 2015; có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình

Đối với tài sản độc lập của công ty hợp danh, hiện nay, trong công ty hợp danh

có sự tách bạch về tài sản của công ty và tài sản của thành viên công ty (thành viên hợp danh và thành viên góp vốn) Luật Doanh nghiệp 2014 quy định thành viên công ty hợp danh phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty Như vậy, công ty là chủ sở hữu đối với tài sản góp vốn, còn các thành viên công ty là chủ sở hữu chung đối với công ty

Đối với trách nhiệm tài sản, công ty hợp danh chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình Nếu tài sản công ty không đủ thanh toán thì thành viên hợp danh phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán hết số nợ còn lại của công ty.4

Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập Về tư cách pháp

lý, công ty hợp danh tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập, là chủ thể trong các quan hệ bởi vì công ty là nguyên đơn, bị đơn trong các vụ kiện, tranh chấp thương mai hoặc các tranh chấp khác Thành viên hợp danh trực tiếp tiến hành các hoạt động kinh doanh như nhân danh công ty và dưới tên công ty

(5) Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào

Khả năng huy động vốn của công ty hợp danh bị thu hẹp vì công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào để huy động vốn mà chỉ có thể huy động vốn bằng cách:

4

Điều 87 Bộ luật Dân sự 2015

Trang 16

- Kết nạp thêm thành viên mới;

- Việc góp thêm vốn của các thành viên hiện hữu;

- Vay của các tổ chức, cá nhân khác hoặc các biện pháp huy động vốn hợp pháp khác

Như vậy, Luật Doanh nghiệp 2014 vẫn kế thừa các quy định tại Điều 130 Luật Doanh nghiệp 2005, hạn chế này xuất phát từ quy định liên quan đến trách nhiệm

vô hạn của thành viên hợp danh đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của công ty hợp danh

1.2.3 Vai trò của công ty hợp danh

Là một trong những loại hình công ty xuất hiện sớm nhất trong lịch sử và cho đến ngày nay vẫn tiếp tục phát triển về số lượng, điều này cho thấy vai trò vô cùng quan trọng của loại hình công ty hợp danh trong nền kinh tế của đất nước ta Bên cạnh có các vai trò chung như các loại hình công ty khác, công ty hợp danh còn có những vai trò riêng khiến cho nó không thể mất đi được trong môi trường kinh doanh

Trước hết, sự ra đời của công ty hợp danh đáp ứng được nhu cầu của những nhà đầu tư nhỏ, mong muốn cùng liên kết chia sẽ với những người thân quen, anh em họ hàng trong gia đình, dòng tộc, đồng nghiệp, …

Công ty hợp danh ra đời cũng đáp ứng được nhu cầu kinh doanh cũng như sử dụng các dịch vụ như: Khám chữa bệnh, tư vấn thiết kế công trình xây dựng, kiểm toán, tư vấn luật, … những ngành nghề đồi hỏi phải có tính nghiêm túc và trách nhiệm cao của những người hành nghề

Công ty hợp danh cũng có vai trò quan trọng trong việc làm phong phú thêm kênh huy động vốn cho nền kinh tế, thêm sự lựa chọn cho các nhà đầu tư, những người giỏi về kiến thức, trình độ quản lý, kinh nghiệm kinh doanh nhưng không có vốn và những người có vốn nhưng không giỏi kinh doanh

Công ty hợp danh là sự kết hợp hoàn hảo của hai nhóm đối tượng trên, tạo ra những sự tương hỗ lẫn nhau trong việc phát triển kinh tế của công ty nói chung và của từng thành viên nói riêng

1.3 Thành lập công ty hợp danh

1.3.1 Đối tượng được đăng ký thành lập

Theo Điều 172 Luật doanh nghiệp quy định các điều kiện thành lập công ty hợp danh như sau:

Trang 17

- Phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh) Ngoài các thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn

- Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty

- Thành viên góp chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty

Ngoài ra, các cá nhân tham gia thành lập công ty hợp danh không thuộc các trường hợp sau:

- Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để đăng ký thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;

- Cán bộ công chứ, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức;

- Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan, chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làm đại diện theo uỷ quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp;

- Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo uỷ quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;

- Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân;

- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Toà án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng

1.3.2 Thủ tục đăng ký kinh doanh

Trình tự thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh công ty hợp danh

Trang 18

- Trường hợp đăng ký qua mạng điện tử sử dụng chữ ký số công cộng:

Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử hợp lệ khi đảm bảo đầy đủ các yêu cầu sau:

+ Có đầy đủ các giấy tờ và nội dung các giấy tờ phải được kê khai đầy đủ theo quy định như hồ sơ bằng bản giấy và được chuyển sang dạng văn bản điện tử Tên văn bản điện tử phải được đặt tương ứng với tên loại giấy tờ trong hồ sơ bằng bản giấy

+ Các thông tin đăng ký doanh nghiệp được nhập đầy đủ và chính xác theo thông tin trong các văn bản điện tử

+ Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử phải được xác thực bằng chữ ký số công cộng hoặc tài khoản đăng ký kinh doanh của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Người đại diện theo pháp luật kê khai thông tin, tải văn bản điện tử, ký số vào hồ sơ đăng ký điện tử và thanh toán lệ phí qua mạng điện tử theo quy định trên cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp Sau khi hoàn thành việc gửi hồ sơ đăng ký, người đại diện theo pháp luật sẽ nhận được giấy biên nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử

- Trường hợp đăng ký qua mạng điện tử sử dụng tài khoản đăng ký kinh doanh:

Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử hợp lệ khi đảm bảo đầy đủ các yêu cầu sau:

+ Có đầy đủ các giấy tờ và nội dung các giấy tờ đó được kê khai đầy đủ theo quy định như hồ sơ bằng bản giấy và được chuyển sang dạng văn bản điện tử Tên văn bản điện tử phải được đặt tương ứng với tên loại giấy tờ trong hồ sơ bằng bản giấy

+ Các thông tin đăng ký doanh nghiệp được nhập đầy đủ và chính xác theo thông tin trong các văn bản điện tử

+ Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử phải được xác thực bằng chữ ký số công cộng hoặc tài khoản đăng ký kinh doanh của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Người đại diện theo pháp luật kê khai thông tin, tải văn bản điện tử của các giấy tờ chứng thực cá nhân tại Cổng thông tin quốc gia

về đăng ký doanh nghiệp để được cấp tài khoản đăng ký kinh doanh Người đại diện theo pháp luật sử dụng tài khoản đăng ký kinh doanh để kê khai thông tin, tải văn bản điện tử và xác thực hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử theo quy trình trên cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp Sau khi hoàn thành

Trang 19

việc gửi hồ sơ đăng ký, người thành lập doanh nghiệp sẽ nhận được giấy biên nhận

hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử

và bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân quy định tại Điều 10 Nghị định 78/2015/NĐCP của từng đại diện theo uỷ quyền Các giấy tờ chứng thực cá nhân trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp:

- Đối với công dân Việt Nam: Thẻ căn cước công dân hoặc chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu Việt Nam còn hiệu lực

- Đối với người nước ngoài: Hộ chiếu nước ngoài hoặc giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu nước ngoài còn hiệu lực

Danh sách người đại diện theo uỷ quyền theo mẫu quy định tại Phụ lục I-10 Thông tư số 20/2015/TT-BKHĐT

4 Bản sao hợp lệ các giấy tờ sau đây:

- Một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân của chủ sở hữu công ty đối với trường hợp chủ sỡ hữu công ty là cá nhân

- Quyết định thành lập hoặc giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy

tờ tương đương khác, Điều lệ hoặc tài liệu tương đương khác của chủ sở hữu công ty là tổ chức (trừ trường hợp chủ sở hữu công ty là Nhà nước)

- Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với trường hợp doanh nghiệp được thành lập bởi nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định tại Luật đầu tư và các văn bản hướng dẫn thi hành

5 Văn bản uỷ quyền của của sở hữu cho người được uỷ quyền đối với trường hợp chủ sở hữu công ty là tổ chức Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ Lệ phí là 200.000 đồng/lần được nộp tại thời điểm nộp

hồ sơ

Nhận kết quả:

Trường hợp đăng ký trực tiếp: Trường hợp nhận đủ hồ sơ hợp lệ, phòng Đăng

ký kinh doanh cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 3 ngày

Trang 20

làm việc Nếu từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì phòng Đăng

ký kinh doanh sẽ thông báo cho người thành lập doanh nghiệp biết bằng văn bản trong thời hạn 3 ngày làm việc

Trường hợp đăng ký qua mạng điện tử sử dụng chữ ký số công cộng: Khi hồ sơ

đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, phòng đăng ký kinh doanh gửi thông tin sang cơ quan thuế để tự động tạo mã số doanh nghiệp Sau khi nhận được mã số doanh nghiệp từ cơ quan thuế, phòng đăng ký kinh doanh cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và thông báo cho doanh nghiệp về việc cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Nếu hồ sơ chưa hợp lệ, phòng đăng ký kinh doanh gửi thông báo qua mạng điện tử cho doanh nghiệp để yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ

Trường hợp đăng ký qua mạng điện tử sử dụng tài khoản đăng ký kinh doanh: Phòng đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét, gửi thông báo qua mạng điện tử cho doanh nghiệp để yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ trong trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ Khi hồ sơ đã đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, phòng đăng ký kinh doanh gửi thông tin sang cơ quan thuế để tạo mã số doanh nghiệp Sau khi nhận được mã số doanh nghiệp từ cơ quan thuế, phòng đăng ký kinh doanh thông báo qua mạng điện tử cho doanh nghiệp về việc cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Sau khi nhận được thông báo về việc cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật nộp một bộ hồ sơ đăng

ký doanh nghiệp bằng bản giấy kèm theo giấy biên nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử đến phòng đăng ký kinh doanh Người đại diện theo pháp luật có thể nộp trực tiếp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp bằng bản giấy và giấy biên nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử tại phòng đăng ký kinh doanh hoặc nộp qua đường bưu điện Sau khi nhận được hồ sơ bằng bản giấy, phòng đăng

ký kinh doanh đối chiếu đầu mục hồ sơ với đầu mục hồ sơ doanh nghiệp đã gửi qua mạng điện tử và trao giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp nếu nội dung đối chiếu thống nhất Nếu quá thời hạn 30 ngày, kể từ ngày gửi thông báo

về việc cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mà phòng đăng ký kinh doanh không nhận được hồ sơ bằng bản giấy thì hồ sơ đăng ký điện tử của doanh nghiệp không còn hiệu lực Người đại diện theo pháp luật chịu trách nhiệm về tính đầy đủ

và chính xác của bộ hồ sơ nộp bằng bản giấy so với bộ hồ sơ được gửi qua mạng điện tử Trường hợp bộ hồ sơ nộp bằng bản giấy không chính xác so với bộ hồ sơ được gửi qua mạng điện tử mà người nộp hồ sơ không thông báo với phòng đăng ký

Trang 21

kinh doanh tại thời điểm nộp hồ sơ bằng bản giấy thì được coi là giả mạo hồ sơ và

sẽ bị xử lý theo quy định5

1.4 Cơ cấu tổ chức, quản lý công ty hợp danh

“Công ty với tư cách là một pháp nhân – một thực thể pháp lý độc lập (a separate legal entity), tự bản thân nó không thể hành động cho chính mình mà chỉ hành động thông qua con người cụ thể - những người quản lý công ty”6 Công ty hợp danh muốn tồn tại và phát triển thì phải dựa vào các chủ thể quản lý và điều hành công ty Dựa vào những quy định hiện hành của Luật Doanh nghiệp 2014 cho thấy công ty hợp danh có cấu trúc quản trị khá đơn giản, bao gồm: Hội đồng thành viên và Tổng giám đốc hoặc Giám đốc công ty

1.4.1 Hội đồng thành viên

1.4.1.1 Thành phần hội đồng thành viên

Hội đồng thành viên là cơ quan có quyền lực cao nhất của công ty hợp danh, thể hiện qua quyền được quyết định tất cả công việc kinh doanh của công ty Hội đồng thành viên bao gồm tất cả thành viên hợp lại, đứng đầu là Chủ tịch Hội đồng thành viên, được Hội đồng thành viên bầu từ các thành viên hợp danh7 Hội đồng thành viên bao gồm tất cả các thành viên hợp lại tức là bao gồm tất cả thành viên hợp danh và thành viên góp vốn trong công ty Luật Doanh nghiệp 2014 không phân biệt việc tham gia vào Hội đồng thành viên thông qua quyền quản lý điều hành công ty mà dựa vào quyền sở hữu phần vốn góp của các thành viên, cho nên thành viên góp vốn cũng là thành phần của Hội đồng thành viên

Chủ tịch hội đồng thành viên do Hội đồng thành viên bầu ra trong số các thành viên hợp danh của công ty, đồng thời kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc nếu Điều

lệ công ty không có quy định khác8 Như vậy, thông thường trong công ty Chủ tịch Hội đồng thành viên đồng thời kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Tuy nhiên, Điều lệ công ty vẫn cũng có thể quy định một thành viên hợp danh khác không phải

là Chủ tịch Hội đồng thành viên làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc

Theo quy định của Luật doanh nghiệp, các thành viên hợp danh có quyền đại diện theo pháp luật và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công

ty Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là thành viên hợp danh nên người này sẽ có các quyền và nghĩa vụ của một thành viên hợp danh

5

Theo Đời sống & Pháp lý, Luật gia Đồng Xuân Thuận

6 Bùi Xuân Hải (2007), Học thuyết về đại diện và mấy vấn đề của pháp luật công ty Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4 (41)

7 Điều 177 Luật Doanh nghiệp 2014

8

Khoản 1 Điều 177 Luật Doanh nghiệp 2014

Trang 22

Ngoài ra, với vai trò Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc thì họ sẽ có thêm các quyền và nghĩa vụ sau:

+ Triệu tập và tổ chức họp Hội đồng thành viên; ký các nghị quyết của Hội đồng thành viên;

+ Phân công, phối hợp công việc kinh doanh giữa các thành viên hợp danh; + Tổ chức sắp xếp, lưu giữ đầy đủ và trung thực sổ kế toán, hóa đơn, chứng

từ và các tài liệu khác của công ty theo quy định của pháp luật;

+ Đại diện cho công ty trong quan hệ với cơ quan nhà nước; đại diện cho công ty với tư cách là bị đơn hoặc nguyên đơn trong các vụ kiện, tranh chấp thương mại hoặc các tranh chấp khác;

+ Các nghĩa vụ khác do Điều lệ công ty quy định

1.4.1.2 Thể thức thông qua quyết định của Hội đồng thành viên Cách thức thông qua quyết định của Hội đồng thành viên tại cuộc họp

Cách thức thông qua quyết định của Hội đồng thành viên tại cuộc họp là biểu quyết bằng phiếu biểu quyết Theo Luật Doanh nghiệp 2014, mỗi thành viên hợp danh có một phiếu biểu quyết hoặc có số phiếu biểu quyết khác quy định tại Điều lệ công ty9 Như vậy, số phiếu được tính trên số lượng thành viên hợp danh chứ không phải dựa trên phần vốn góp Quy định này xuất phát từ đặc điểm của công ty hợp danh là công ty đối nhân, công ty thành lập dựa trên sự liên kết chặt chẽ bởi độ tin cậy về nhân thân của các thành viên tham gia, sự hùn vốn là yếu tố thứ yếu Đây là một điểm khác biệt của loại hình công ty hợp danh so với loại hình công ty cổ phần

và công ty trách nhiệm hữu hạn (biểu quyết dựa trên phần vốn góp)

Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp 2014 còn trao cho Điều lệ công ty quy định thành viên hợp danh có số phiếu biểu quyết khác, tức là một thành viên hợp danh có hơn một phiếu biểu quyết Thực tế, đối với một số thành viên hợp danh có vai trò quan trọng với sự tồn tại và phát triển của công ty thì Điều lệ công ty có thể quy định cho những người này nhiều hơn một phiếu biểu quyết

Điều kiện thông qua quyết định của Hội đồng thành viên

Điều kiện để thông qua quyết định của Hội đồng thành viên là dựa vào số thành viên hợp danh chấp nhận/tán thành Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014, nếu Điều lệ công ty không quy định thì quyết định các vấn đề sau đây phải được ít nhất ba phần tư tổng số thành viên hợp danh chấp thuận:

9

Điểm a khoản 1 Điều 176 Luật Doanh nghiệp 2014

Trang 23

+ Phương hướng phát triển công ty;

+ Sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;

+ Tiếp nhận thêm thành viên hợp danh mới;

+ Chấp nhận thành viên hợp danh rút khỏi công ty hoặc quyết định khai trừ thành viên;

+ Quyết định dự án đầu tư;

+ Quyết định việc vay và huy động vốn dưới hình thức khác, cho vay với giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% vốn điều lệ của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định một tỷ lệ khác cao hơn;

+ Quyết định mua, bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn vốn điều lệ của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định một tỷ lệ khác cao hơn;

+ Quyết định thông qua báo cáo tài chính hằng năm, tổng số lợi nhuận được chia và số lợi nhuận chia cho từng thành viên;

+ Quyết định giải thể công ty

Những vấn đề trên là những vấn đề quan trọng, có sự tác động lớn đến sự tồn tại và phát triển của công ty hợp danh Chẳng hạn, khi công ty cho vay với giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% vốn điều lệ của công ty, do hợp đồng vay có giá trị quá lớn

nên cần phải được ba phần tư tổng số thành viên hợp danh chấp thuận thì hợp đồng

mới được thực hiện Những quyết định về các vấn đề khác không thuộc các trường

hợp trên được thông qua nếu được ít nhất hai phần ba tổng số thành viên hợp danh

tán thành, tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định

Cách thức để thông qua quyết định của Hội đồng thành viên tại cuộc họp là dựa trên số phiếu phiếu biểu quyết nhưng điều kiện để thông qua quyết định là dựa trên số thành viên hợp danh chấp nhận/tán thành Như vậy, nếu trường hợp Điều lệ công ty hợp danh có quy định về “số phiếu biểu quyết khác” thì lúc này quyết định của Hội đồng thành viên được thông qua không thể dựa trên số thành viên hợp danh

mà phải dựa trên số phiếu biểu quyết Do đó, điều kiện để thông qua quyết định của Hội đồng thành viên phải căn cứ vào số phiếu biểu quyết của các thành viên hợp danh Quy định như vậy sẽ giúp cho các quy định của Luật Doanh nghiệp được thống nhất, đồng thời vẫn tôn trọng được sự thỏa thuận của các thành viên hợp danh trong công ty, tạo ra động lực cho các thành viên hợp danh có thể đóng góp nhiều hơn cho công ty

Theo Luật Doanh nghiệp 2014, thành viên góp vốn cũng nằm trong Hội đồng thành viên, nhưng chỉ được quyền biểu quyết các nội dung sau:

Trang 24

+ Sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;

+ Sửa đổi, bổ sung các quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn;

+ Về tổ chức lại và giải thể công ty;

+ Các nội dung khác của Điều lệ công ty có liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của họ

Nhìn chung, quyền biểu quyết của thành viên góp vốn rất hạn chế, chỉ được thực hiện quyền này khi có liên quan đến lợi ích của họ trong công ty Như vậy, Luật Doanh nghiệp 2014 có ghi nhận quyền biểu quyết của thành viên góp vốn nhưng lại không quy định về số phiếu biểu quyết, đồng thời cũng không quy định cho Điều lệ công ty được quy định vấn đề này Có lẽ đây là một thiếu sót mà Luật Doanh nghiệp 2014 vẫn chưa khắc phục được

Điều kiện tiến hành cuộc họp Hội đồng thành viên

Luật Doanh nghiệp 2014 không quy định điều kiện để tiến hành cuộc họp Hội đồng thành viên như trong công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn Đây là một thiếu sót mà Luật Doanh nghiệp mới (Luật Doanh nghiệp 2014) vẫn chưa khắc phục được, có thể tạo ra “kẻ hở” cho một số thành viên hợp danh không có “thiện chí” lợi dụng Theo quy định của pháp luật, nếu Điều lệ công ty không quy định thì tùy vào tính chất và tầm quan trọng của vấn đề biểu quyết mà quyết định của Hội đồng thành viên được thông qua với mức là 3/4 hay 2/3 tổng số thành viên hợp danh chấp nhận/tán thành Từ đó, có thể xảy ra trường hợp Hội đồng thành viên được triệu tập nhưng không đủ mức 3/4 hay 2/3 tổng thành viên hợp danh chấp nhận/tán thành, do không đủ số thành viên hợp danh tham dự cuộc họp, nên quyết định của Hội đồng thành viên sẽ không thông qua được

1.4.1.3 Triệu tập họp Hội đồng thành viên

Quyền triệu tập họp Hội đồng thành viên được Luật Doanh nghiệp 2014 quy định cho hai chủ thể: Chủ tịch Hội đồng thành viên và thành viên hợp danh Chủ tịch Hội đồng thành viên có thể triệu tập họp Hội đồng thành viên khi xét thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của thành viên hợp danh Trường hợp Chủ tịch Hội đồng thành viên không triệu tập họp theo yêu cầu của thành viên hợp danh thì thành viên

đó triệu tập họp Hội đồng thành viên Việc Luật ghi nhận quyền triệu tập Hội đồng thành viên của thành viên hợp danh sẽ tránh được tình trạng Chủ tịch Hội đồng thành viên trì hoãn việc triệu tập cuộc họp do có hành vi sai trái hoặc trì hoãn do có liên quan đến lợi ích cá nhân

Thông báo mời họp rất đa dạng về hình thức, có thể bằng giấy mời, điện thoại, fax hoặc phương tiện điện tử khác Thông báo mời họp phải nêu rõ mục đích, yêu

Trang 25

cầu và nội dung họp, chương trình và địa điểm họp, tên thành viên yêu cầu triệu tập họp Các tài liệu thảo luận được sử dụng để quyết định các vấn đề thuộc khoản 3 Điều 177 của Luật Doanh nghiệp 2014 phải được gửi trước đến tất cả thành viên; thời hạn gửi trước do Điều lệ công ty quy định Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc thành viên yêu cầu triệu tập họp sẽ là chủ tọa cuộc họp Cuộc họp của Hội đồng thành viên phải được ghi biên bản của công ty

1.4.2 Vấn đề quản lý, điều hành công ty hợp danh của thành viên hợp danh

Trong công ty hợp danh, các thành viên hợp danh vừa là đồng chủ sở hữu công

ty, vừa trực tiếp quản lý và đại diện theo pháp luật cho công ty Mọi hạn chế đối với thành viên hợp danh trong thực hiện công việc kinh doanh hằng ngày của công ty chỉ có hiệu lực đối với bên thứ ba khi người đó được biết về hạn chế đó10 Đây là một quy định nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng cho bên thứ ba khi tiến hành các giao dịch với công ty hợp danh

Trong điều hành hoạt động kinh doanh của công ty, thành viên hợp danh phân công nhau đảm nhiệm các chức danh quản lý và kiểm soát công ty Khi một số hoặc tất cả thành viên hợp danh cùng thực hiện một số công việc kinh doanh thì quyết định được thông qua theo nguyên tắc đa số Như vậy, hệ quả của quyền đại diện theo pháp luật cho công ty là sự phân tán quyền lực trong công ty hợp danh Nếu Điều lệ công ty không có thỏa thuận khác, các thành viên hợp danh đều có quyền ngang nhau và cá nhân thành viên hợp danh đều có thể thực hiện quyền này nhân danh công ty Hành vi nhân danh công ty tiến hành các hoạt động kinh doanh của thành viên hợp danh sẽ trực tiếp làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ cho công ty, đồng thời ảnh hưởng đến các thành viên hợp danh còn lại về chế độ trách nhiệm cũng như các quyền và nghĩa vụ khác Thế nên, có thể nói, công ty hợp danh là điển hình của công ty đối nhân, tính gắn kết và sự tin tưởng giữa các thành viên là nhân

tố quan trọng giúp cho công ty tồn tại và phát triển

Hoạt động do thành viên hợp danh thực hiện ngoài phạm vi hoạt động kinh doanh của công ty đều không thuộc trách nhiệm của công ty, trừ trường hợp hoạt động đó đã được các thành viên còn lại chấp thuận Về nguyên tắc, những hoạt động kinh doanh không trùng với ngành, nghề đầu tư kinh doanh của công ty thì công ty không chịu trách nhiệm Với quy định như vậy, Luật đã giới hạn trách nhiệm liên đới của các thành viên hợp danh, việc này ý nghĩa rất lớn trong việc bảo

vệ các thành viên hợp danh còn lại khỏi rủi ro trong việc thực hiện các giao dịch của một thành viên hợp danh gây ra mà giao dịch này lại không thuộc ngành, nghề

10

Khoản 1 Điều 179 Luật Doanh nghiệp 2014

Trang 26

đầu tư kinh doanh của công ty Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp 2014 cũng tôn trọng

ý chí của các thành viên hợp danh còn lại thông qua quy định: “trừ trường hợp hoạt động đó đã được các thành viên còn lại chấp thuận”

Như vậy, Luật Doanh nghiệp 2014 đã xây dựng một khung quản trị tối thiểu cho các hoạt động công ty hợp danh, các vấn đề về tổ chức điều hành đều do các thành viên hợp danh định đoạt Trong công ty, quyền tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh của công ty thuộc về tất cả các thành viên hợp danh, giữa họ có sự phân công nhau đảm nhiệm các hoạt động kinh doanh của công ty Nếu không có sự phân công thì về nguyên tắc, mọi thành viên đều có quyền nhân danh công ty tiến hành hoạt động kinh trong phạm vi hoạt động của công ty Do đó, để tránh những mâu thuẫn phát sinh, đồng thời giúp cho hiệu quả kinh doanh của công ty được nâng cao thì các thành viên hợp danh nên thỏa thuận với nhau về việc phân chia phạm vi hoạt động kinh doanh một cách rõ ràng và chi tiết

Nhìn chung, Luật Doanh nghiệp 2014 trao cho các thành viên hợp danh rất nhiều quyền hành trong quản lý và điều hành công ty, thể hiện qua quy định quyền được đại diện theo pháp luật và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty hoặc được mở rộng quyền thông qua các thỏa thuận giữa các thành viên hợp danh hay bằng Điều lệ của công ty

1.5 Quy chế thành viên công ty hợp danh

1.5.1 Quy chế thành viên hợp danh

Để trở thành thành viên hợp danh, thì nhà đầu tư phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

Thứ nhất, không thuộc đối tượng bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp quy định tại khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014

Nếu như nhà đầu tư thuộc một trong các trường hợp của khoản 1 Điều 18 thì họ

sẽ không thể trở thành thành viên hợp danh của công ty hợp danh Nói một cách

Trang 27

khác, đối với những trường hợp này, pháp luật cấm thành lập và quản lý công ty hợp danh Xuất phát từ hiệu quả kinh doanh và mục tiêu đảm bảo cho sự an toàn của nền kinh tế và xã hội thì Nhà nước, với tư cách là chủ thể quản lý xã hội đã quy định những đối tượng không được thành lập và quản lý doanh nghiệp

Thứ hai, thành viên hợp danh phải là cá nhân

Đây là điều kiện bắt buộc để trở thành thành viên hợp danh Trong công ty Trách nhiệm hữu hạn và công ty Cổ phần, các thành viên có thể là tổ chức nhưng với công ty hợp danh, chỉ có cá nhân mới có thể làm thành viên hợp danh Hiện nay, có ý kiến cho rằng nên xem xét việc cho phép pháp nhân trở thành thành viên hợp danh Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp 2014 quy định như vậy là điều hợp lý, bởi loại hình công hợp danh được thành lập chủ yếu từ các yếu tố nhân thân của các nhà đầu tư là cá nhân như uy tín, năng lực, chuyên môn, kinh nghiệm, … và sự thống nhất trong ý chí chủ quan để cùng nhau kinh doanh chung, tìm kiếm lợi nhuận Mặt khác, chế định về đại diện ở Việt Nam vẫn chưa được hoàn thiện, cộng với trình độ năng lực quản lý, điều hành của các nhà quản lý ở Việt Nam cũng chưa cao Do đó, vào thời điểm hiện nay, việc ghi nhận pháp nhân có thể trở thành thành viên hợp danh của công ty hợp danh là chưa phù hợp

Trước đây, Luật Doanh nghiệp 1999 có quy định một điều kiện để trở thành thành viên hợp danh đó là thành viên hợp danh phải “có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp” Luật Doanh nghiệp 2005 và hiện tại là Luật Doanh nghiệp 2014

đã không còn quy định về vấn đề này nhằm mục đích mở rộng tính mở cho công ty hợp danh Tuy nhiên, đối với một số ngành nghề kinh doanh đặc thù (kinh doanh có điều kiện) mà luật chuyên ngành điều chỉnh như luật sư, kiểm toán, công chứng, … thì bắt buộc thành viên hợp danh phải có chứng chỉ hành nghề hay các yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ nhất định

Thứ ba, thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác, trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại

Theo quy định của pháp luật, thành viên hợp danh chịu trách nhiệm bằng toàn

bộ tài sản của mình về các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của công ty trong trường hợp tài sản của công ty không đủ Nếu như cho phép thành viên hợp danh được tự

do làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh thì ảnh hưởng đến quyền lợi và lợi ích của thành viên khác, chủ nợ và các bên có liên quan Một khi nhà đầu tư đã xác lập tư cách thành viên hợp danh thì đương nhiên người đó phải chịu trách nhiệm vô hạn về các nghĩa vụ tài chính của công ty và như vậy thì việc gánh vác thêm một “trách nhiệm vô hạn” khác sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của các

Trang 28

chủ thể khác, cũng như gây khó khăn cho việc xác định tài sản chịu trách nhiệm liên đới của thành viên hợp danh khi cả hai doanh nghiệp không có khả năng gánh chịu các nghĩa vụ tài chính phát sinh Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp 2014 cũng có cho phép thành viên hợp danh được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh khác khi các thành viên còn lại nhất trí Quy định này xuất phát từ tính liên đới chịu trách nhiệm của các thành viên hợp danh Một khi các thành viên còn lại đồng

ý thì trường hợp xảy ra việc không thanh toán được nợ cho công ty thì tất cả các thành viên phải liên đới chịu trách nhiệm với nhau Do đó, các thành viên hợp danh cần cân nhắc kĩ lưỡng trước khi chấp nhận cho phép một thành viên hợp danh trong công ty làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác

Sự không thống nhất của Luật Doanh nghiệp 2014

Khoản 3 Điều 183 Luật Doanh nghiệp 2014: “Chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên công ty hợp danh”

Khoản 1 Điều 175 Luật Doanh nghiệp 2014: “Thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác, trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại”

Đây là một sự mâu thuẫn và không thống nhất ngay trong một đạo luật Trong chương VII khi đề cập về doanh nghiệp tư nhân, Luật Doanh nghiệp 2014 đã quy định là chủ doanh nghiệp tư nhân không được làm thành viên công ty hợp danh (bao gồm thành viên hợp danh và thành viên góp vốn), tuy nhiên, tại chương VI lại cho phép thành viên hợp danh được làm chủ doanh nghiệp tư nhân nếu được sự nhất trí của các thành viên còn lại Luật Doanh nghiệp - với tư cách là một đạo luật quan trọng trong lĩnh vực luật kinh tế, thiết nghĩ các nhà làm luật của chúng ta cần phải rà soát kỹ càng các quy định trước khi ban hành để giúp cho nhà đầu tư có một hành lang pháp lý an toàn để hoạt động

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014, tư cách thành viên hợp danh được xác lập trong các trường hợp sau:

Thứ nhất, tham gia góp vốn để thành lập công ty hợp danh

Vốn là nhân tố quan trọng khi thành lập một công ty Khi công ty thành lập, nguồn vốn góp của của thành viên sẽ giúp cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển Ngoài ra, nhà đầu tư tiến hành thủ tục thành lập công ty hợp danh thì song song với việc chuyển quyền sở hữu tài sản của mình vào công ty thì họ đồng thời xác lập cho mình một tư cách mới đó là thành viên hợp danh của công ty hợp danh

Trang 29

Thứ hai, gia nhập công ty hợp danh khi công ty kết nạp thành viên mới Nếu Điều lệ công ty không quy định thì việc tiếp nhận thành viên hợp danh mới phải được ít nhất ba phần tư tổng số thành viên hợp danh chấp thuận

Một công ty muốn mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh thì cần phải có nguồn vốn lớn, việc tăng thêm vốn điều lệ công ty có thể thực hiện bằng các cách thức như tăng phần vốn góp của các thành viên, điều chỉnh tăng vốn điều lệ tương ứng với giá trị tài sản tăng lên của công ty, tiếp nhận thêm thành viên mới,

Trong quá trình hoạt động, do tác động của nhiều yếu tố khác nhau hoặc cũng

có thể xuất phát từ nhu cầu tiếp nhận thêm thành viên mới của công ty thì việc tiếp nhận này là một nhu cầu tất yếu của các doanh nghiệp nói chung và của công ty hợp danh nói riêng Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng việc tiếp nhận thêm thành viên mới trong công ty hợp danh là một sự kiện khá quan trọng với loại hình công ty này, bởi yếu tố quan trọng để hình thành nên công ty hợp danh chính là sự tin tưởng cũng như năng lực và phẩm chất của các thành viên Do đó, việc tiếp nhận cần phải được Hội đồng thành viên chấp nhận Nếu Điều lệ công ty không quy định khác thì việc tiếp này phải được ít nhất ba phần tư tổng số thành viên hợp danh chấp thuận11 Đồng thời với việc gia nhập vào công ty hợp danh đó là nghĩa vụ góp vốn Thành viên hợp danh phải nộp đủ số vốn cam kết góp vào công ty trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được chấp thuận, trừ trường hợp Hội đồng thành viên quyết định thời hạn khác Nếu không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết gây thiệt hại cho công ty phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho công ty12

Nghĩa vụ liên đới: Thành viên hợp danh mới phải cùng liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty, trừ trường hợp thành viên đó và các thành viên còn lại có thỏa thuận khác13 Với quy định “khắt khe” về chế độ trách nhiệm như vậy thì khi gia nhập vào công ty hợp danh, thành viên hợp danh mới bắt buộc “phải tìm hiểu kỹ khả năng tài chính của công ty, cung cách hoạt động kinh doanh của các thành viên khác”14 Tuy nhiên, quy định này gây ra bất lợi lớn cho thành viên hợp danh mới, đó là với trường hợp công ty phát sinh các khoản nợ không thể thanh toán được thì thành viên mới phải liên đới chịu trách nhiệm tài sản vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình

về các khoản nợ của công ty, mặc dù chưa nhận được lợi ích gì từ khi gia nhập

11 Khoản 3 Điều 177 Luật Doanh nghiệp 2014

12 Khoản 2 Điều 173, khoản 2 Điều 181 Luật Doanh nghiệp 2014

13

Khoản 3 Điều 181 Luật Doanh nghiệp 2014

14 Nguyễn Thị Kim Thoa (2006), Công ty hợp danh theo Luật Doanh nghiệp 2005, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, tr 36

Ngày đăng: 09/05/2021, 19:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w