Luận văn được nghiên cứu với mục tiêu nhằm làm rõ các khía cạnh lý luận xung quanh về pháp luật thi đua, khen thưởng. Nghiên cứu pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về thi đua, khen thưởng để có được các đánh giá thực trạng pháp luật về thi đua, khen thưởng. Xác định quan điểm và kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về lĩnh vực này.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Trang 2Công trình đƣợc hoàn thành tại:
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NGỌC ĐÀO
Phản biện 1: PGS.TS Trần Thị Diệu Oanh
Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia hoặc
trên trang Web Khoa Sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong hệ thống pháp luật về thi đua, khen thưởng, cùng với Luật thi đua, khen thưởng được Quốc hội thông qua, còn có các văn bản do Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH), Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ,
cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan khác của nhà nước ở trung ương, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương ban hành
Xuất phát từ thực tiễn trên, những năm gần đây, ở một số nơi, một số đơn
vị, của tỉnh Bắc Ninh, các phong trào thi đua chưa thực sự trở thành động lực mạnh mẽ động viên, cổ vũ mọi tầng lớp nhân dân; khen thưởng chưa gắn chặt với công tác thi đua, chưa kịp thời, chưa phát huy tối đa tác dụng khuyến khích động viên thi đua, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
Việc xác định thẩm quyền, xây dựng quy chế, quy trình thi đua khen thưởng ở nhiều lĩnh vực chưa được cụ thể hoá, còn nhiều yếu tố chưa đồng nhất
do chưa có những đề tài nghiên cứu sâu để đưa ra những giải pháp thật sát thật phù hợp với từng lĩnh vực, ngành nghề Những công trình nghiên cứu có tính chất tổng kết về lý luận và thực tiễn mang tính chất hệ thống thì chưa nhiều, hầu hết chỉ dừng ở báo cáo tổng kết hoặc báo cáo nêu kinh nghiệm (như tổng kết thi đua yêu nước, kinh nghiệm khuyến khích sáng kiến của các cơ quan, doanh nghiệp ) Về mặt lý luận, hiện nay Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương đã biên soạn tập bài giảng về công tác thi đua khen thưởng và triển khai tập huấn cho các đơn vị, địa phương Tuy nhiên, tập bài giảng mới chỉ khái quát những vấn đề cơ bản, tổng quát, những vấn đề cụ thể phát sinh trong quá trình triển khai công tác thi đua khen thưởng ở các cơ quan, đơn vị chưa được giải quyết, dẫn tới việc hiểu, vận dụng ở mỗi nơi, mỗi lúc, mỗi đơn vị, địa phương còn có
sự khác nhau
Nhận thức được tầm quan trọng trên, cần phải có những nghiên cứu lý luận, đánh giá thực tiễn và đề ra những giải pháp, kiến nghị nhằm đổi mới công
Trang 4tác thi đua khen thưởng qua thực tiễn tỉnh Bắc Ninh, học viên chọn đề tài học
viên chọn đề tài: “ thực hiện Pháp luật về t i đua, k en t ưởng trên địa
bàn tỉnh Bắ Nin ” làm đề tài nghiên cứu là rất cần thiết trong giai đoạn hiện
nay nhằm làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác thi đua, khen thưởng, tạo cơ sở khoa học cho việc kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền của Đảng và Nhà nước đổi mới toàn diện pháp luật về thi đua, khen thưởng
2 Tình hình nghiên cứu
- Dương Thị Thanh, Đ i mới quản lý n à nước về công tác t i đua k en
t ưởng ở địa p ương; Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý hành chính công -
Học viện Hành chính quốc gia, năm 2007
- Lê Xuân Khánh, ăng ường quản lý n à nướ về t i đua k en t ưởng
giai đoạn 2011-2020, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý hành chính công -
Học viện Hành chính quốc gia, năm 2010
- Phùng Thị Thanh Loan, Đ i mới công tác t i đua k en t ưởng góp phần
tạo động lực cho cán bộ, công ch ngàn tài ín trong điều kiện hiện nay,
Luận văn thạc sĩ Quản lý Hành chính công - Học viện Hành chính, năm 2013
- Đào Thị Thúy, Hoàn thiện nội dung quản lý n à nước đối với công tác
t i đua k en t ưởng TP Hải Phòng, Luận văn thạc sĩ Quản lý Hành chính công -
Học viện Hành chính, năm 2013
- Trần Thị Hà, Đ i mới ông tá t i đua k en t ưởng t eo tư tưởng Hồ
C í Min ”, Tạp chí Cộng sản, năm 2015
- TS Phạm Huy Giang, Một số p ương p áp t p ong trào t i đua
đạt iệu quả trong giai đoạn iện nay, Tạp í Viện K oa ọ t N à nướ , Bộ Nội vụ, năm 2015 Trong bài viết này, tác giả đã đánh giá khá chi tiết
thực trạng công tác thi đua khen thưởng sau 10 năm thực hiện Chỉ thị số CT/TW ngày 21/5/2004 của Bộ Chính trị khóa IX, chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện các PTTĐ yêu nước, từ đó đề ra phương pháp
39-tổ chức PTTĐ đạt hiệu quả cao giai đoạn hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ các khía cạnh lý luận xung quanh về pháp luật thi đua, khen thưởng
Trang 5- Nghiên cứu pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về thi đua, khen thưởng để có được các đánh giá thực trạng pháp luật về thi đua, khen thưởng Xác định quan điểm và kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về lĩnh vực này
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu (trong giai đoạn iện nay của luận văn là hệ thống
các văn bản pháp luật về thi đua, khen thưởng do các cơ quan nhà nước ban hành, chủ yếu là các văn bản của các cơ quan nhà nước trung ương trong giai đoạn 2015 - 2019, thực tiễn áp dụng vào công tác thi đua khen thưởng trên địa
bàn tỉnh Bắc Ninh đối tư ng ng iên u
Phạm vi: trong giai đoạn hiện nay
Đối tượng: công tác thi đua khen thưởng ở Tỉnh Bắc Ninh
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu pháp luật về thi đua, khen thưởng trên cơ sở quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về thi đua, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua và về khen thưởng Để nghiên cứu luận văn, tác giả sử dụng phương pháp tiếp cận đa ngành và liên ngành
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Một là, luận văn đã hệ thống hóa, bổ sung những vấn đề lý luận về thi đua khen thưởng nhằm đề xuất nhận thức lý luận về vấn đề này một cách toàn diện, đầy đủ
Hai là, luận văn đã phân tích, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật
về thi đua, khen thưởng, chỉ ra ưu điểm, nhược điểm, nguyên nhân của những
ưu điểm, nhược điểm của pháp luật về thi đua, khen thưởng; từ đó, kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thi đua, khen thưởng
Với những kết quả đạt được, luận văn trực tiếp góp phần trong việc tiếp tục bổ sung, phát triển và làm phong phú thêm lý luận về thi đua, khen thưởng Các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo tin cậy đối với các cán bộ, công chức, viên chức đang trực tiếp tham gia vào quá trình nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về thi đua, khen thưởng; Kết quả nghiên cứu đề tài còn cung cấp luận cứ khoa học cho việc sửa đổi, bổ sung toàn diện
Trang 6Luật thi đua, khen thưởng năm 2013 Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận văn còn là tài liệu tham khảo cho các hoạt động nghiên cứu và giảng dạy liên quan đến vấn đề thi đua, khen thưởng
7 Kết cấu, bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn có cơ cấu như sau: Chương 1 Lý luận về thi đua, khen thưởng
Chương 2 Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Chương 3 Giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về thi đua, khen thưởng ở tỉnh Bắc Ninh
Trang 7Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THI ĐUA KHEN THƯỞNG 1.1 Khái niệm, ý nghĩa và bản chất của thi đua, khen thưởng
1.1.1 Khái niệm và ý nghĩa của thi đua
Ngày 13/12/2013, Văn phòng Quốc hội Việt Nam đã có Văn bản số 16/VBHN-VPQH về việc hợp nhất Luật TĐKT năm 2013 Tại Điều 3 Khoản 1
Luật TĐKT năm 2013 quy định: “Thi đua là hoạt động có tổ chức với sự tham
gia tự nguyện của cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[29]
Như vậy, luận văn sử dụng khái niệm thi đua được quy định tại Điều 3 Khoản 1 Luật TĐKT năm 2013 làm cơ sở lý luận về TĐKT
1.1.2 Khái niệm khen thưởng và ý nghĩa của khen thưởng
Trong luận văn, tác giả đồng nhất sử dụng khái niệm khen thưởng theo
Điều 3 khoản 2 Luật TĐKT năm 2013: “K en t ưởng là việc ghi nhận, biểu
dương, tôn vin ông trạng và khuyến khích bằng l i ích vật chất đối với cá nhân, tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ T quốc” [29]
1.1.3 Mối quan hệ giữa thi đua và khen thưởng
- Theo C.Mác, khen thưởng tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng với thi đua: “Thi đua nảy nở trong quá trình hợp tác lao động, trong hoạt động chung và kế hoạch của con người với sự tiếp xúc xã hội tạo nên thi đua và
sự nâng cao theo lối đặc biệt, nghị lực sinh động làm tăng thêm nghị lực riêng của từng người”[19]
Khen thưởng kịp thời, chính xác, công bằng không những có tác dụng động viên, thu hút nhiều người tham gia, giải quyết được các vấn đề khó khăn, bức xúc đặt ra mà còn giúp cho các đợt thi đua sau đạt kết quả cao hơn Như vậy, thi đua là cơ sở của khen thưởng, nếu tổ chức tốt PTTĐ thì kết quả khen thưởng cao Ngược lại, khen thưởng đúng người, đúng việc, kịp thời sẽ có tác dụng động viên, cỗ vũ cho thi đua Khen thưởng vừa là kết quả, vừa là yếu tố thúc đẩy PTTĐ Do vậy, chúng ta không coi nhẹ khen thưởng trong thi đua, ngược lại không có thi đua thì không có căn cứ đánh giá thành tích khen thưởng
Trang 81.2 Vai trò và nội dung điều chỉnh của pháp luật về thi đua, khen thưởng
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về thi đua, khen thưởng
1.2.1.1 Khái niệm pháp luật về t i đua, k en t ưởng
Pháp luật về thi đua, khen thưởng theo nhận thức chung pháp luật là các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu, định hướng cụ thể
Từ nhận thức này có thể định nghĩa pháp luật về thi đua khen thưởng là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng[33]
1 2 1 2 Đặ điểm của pháp luật về t i đua, k en t ưởng
- Pháp luật về thi đua khen thưởng điều chỉnh liên quan đến phương pháp
cơ bản trong quản lý nhà nước là thuyết phục; có nhiều phương pháp quản lý cơ bản đã được xác định là cưỡng chế, thuyết phục, mệnh lệnh, chỉ thị và kinh tế
- Pháp luật về thi đua, khen thưởng là công cụ điều chỉnh hoạt động của các chủ thể pháp luật liên quan nhằm tác động đến lĩnh vực tư tưởng, tinh thần của con người;
- Pháp luật về thi đua, khen thưởng có chức năng tạo động lực động viên, lôi cuốn, khuyến khích mọi cá nhân, tập thể phát huy truyền thống yêu nước
- Pháp luật về thi đua, khen thưởng có hình thức thể hiện phong phú và đa dạng, do nhiều loại cơ quan ban hành gồm các loại văn bản như: sắc lệnh, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định, chỉ thị, thông tư ;
- Đối tượng của Luật thi đua, khen thưởng rất rộng bao gồm công dân Việt Nam; người Việt Nam ở nước ngoài; người nước ngoài, cơ quan tổ chức nước ngoài và các tổ chức quốc tế ở Việt Nam;
- Pháp luật về thi đua, khen thưởng sớm được hình thành cùng với sự ra đời
và phát triển của nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay
1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác thi đua, khen thưởng
Một là, chủ thể quản lý, p át động ông tá t i đua, k en t ưởng
Chủ thể phát động thi đua là những cơ quan, tổ chức, cá nhân mà pháp luật cho phép thực hiện quyền
Trang 9Hai là, thi đua vừa là quyền lợi, vừa là trách nhiệm của mỗi công dân Phải có sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và phát huy đầy đủ vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các Đoàn thể nhân dân, làm cho cả hệ thống chính trị tham gia các phong trào thi đua yêu nước và làm công tác thi đua, khen thưởng;
Ba là, sự nghiệp cách mạng là của quần chúng, vì vậy phải khơi dậy được lòng yêu nước nồng nàn, tính cần cù, sáng tạo, năng động trong toàn thể các tầng lớp nhân dân tham gia vào các phong trào thi đua yêu nước
Từ đó những tư tưởng và quan điểm, chủ trương trên, các nguyên tắc cơ bản trong tổ chức phong trào thi đua yêu nước và công tác thi đua, khen thưởng trong thời kỳ đổi mới có thể được xác định là:
Một là, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác thi đua,
khen thưởng;
Hai là, phong trào thi đua phải đạt được yêu cầu thiết thực, sâu rộng và
bao quát được toàn bộ lĩnh vực đời sống xã hội, các tầng lớp nhân dân, các thành phần kinh tế, các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận, các Đoàn thể, các lực lượng vũ trang
Ba là, tập trung chỉ đạo xây dựng điển hình và nhân điển hình tiên tiến; Bốn là, tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức và cải tiến thủ tục, quy trình
xét khen thưởng, thực hiện công khai, dân chủ, kịp thời và đảm bảo tính nêu gương, giáo dục trong khen thưởng;
Năm là, gắn kết tổ chức các phong trào thi đua yêu nước với việc triển
khai cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
1.2.3 Sự hình thành và phát triển của pháp luật về thi đua, khen thưởng
Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954
Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 2003 t ời điểm Luật t i đua, k en
t ưởng đư c ban hành)
Giai đoạn từ khi có Luật t i đua, k en t ưởng năm 2003 đến 2013
Giai đoạn từ khi có Luật t i đua, k en t ưởng 2013 đến nay
1.2.4 Vai trò của pháp luật về thi đua, khen thưởng
Điều chỉnh định hướng trong hoạt động thi đua khen thưởng, điều chỉnh định hướng trong hoạt động quản lý về thi đua khen thưởng của pháp luật về thi đua khen thưởng thể hiện ở việc xác định các nguyên tắc trong hoạt động thi đua khen thưởng
Trang 10Vai trò thông tin về lĩnh vực thi đua, khen thưởng thông tin có nhiều loại hình hoạt động khác nhau như báo chí, truyền hình, phát thanh… mỗi loại hình
có thế mạnh riêng trong việc thực hiện chức năng thông tin tuyên truyền Đối với pháp luật, thông tin không phải là nhiệm vụ cơ bản,
Vai trò thông tin của pháp luật về thi đua khen thưởng không chỉ sự nhận biết đối với thi đua khen thưởng hiện thời thông qua các văn bản tuy không có hiệu lực pháp luật thi hành nhưng vẫn có giá trị nghiên cứu lịch sử hình thành của thi đua khen thưởng
1.2.5 Nội dung điều chỉnh cơ bản của pháp luật về thi đua, khen thưởng
- Những quy định chung trong đó có những quy phạm quan trọng là mục tiêu của thi đua; nguyên tắc thi đua, khen thưởng; danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng; căn cứ xét tặng danh hiệu thi đua, căn cứ xét khen thưởng;
- Đối với các quy định về thi đua bao gồm: hình thức tổ chức thi đua, nội dung các phong trào thi đua, chủ thể phát động thi đua, danh hiệu và tiêu chuẩn đối với mỗi danh hiệu thi đua;
- Đối với các quy định về hình thức, đối tượng, tiêu chuẩn khen thưởng bao gồm: huân chương, huy chương, danh hiệu vinh dự nhà nước, giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng Nhà nước, kỷ niệm chương, huy hiệu, bằng khen, giấy khen;
- Thẩm quyền quyết định trao tặng, thủ tục, hồ sơ khen thưởng; quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tập thể được khen thưởng; quản lý nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng; xử lý viphạm trong thi đua, khen thưởng
- Tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy định
của pháp luật về thi đua, khen thưởng
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về thi đua, khen thưởng Giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm việc thực hiện các quy định pháp luật về thi đua, khen thưởng
1.3 Các yếu tố tác động đến việc thực hiện uật thi đua, khen thưởng
1.3.1 hận th c về thi đua, khen thưởng
Nhận thức về công tác thi đua - khen thưởng và quản lý Nhà nước đối với công tác thi đua - khen thưởng Phải bám sát và thực hiện nguyên tắc khen thưởng: “chính xác, công khai, công bằng, kịp thời”;
Trang 11Ngoài ra, Hội đồng Thi đua - Khen thưởng đã triển khai và sử dụng có hiệu quả cổng thông tin điện tử thành phần của Hội đồng để tuyên truyền, vận động, phát động các PTTĐ; Qua đó, đã góp phần nâng cao nhận thức pháp luật
về TĐKT trong cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và các tầng lớp nhân dân, kịp thời biểu dương, tôn vinh những tấm gương xuất sắc tiêu biểu trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.Đồng thời, qua đó, chất lượng các PTTĐ và công tác khen thưởng ngày càng được nâng cao
1.3.2 ho ch triển khai thi đua, khen thưởng
- Thông qua kế hoạch triển khai các phong trào thi đua để rèn luyện, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức chính trị tư tưởng, phẩm chất đạo đức, lối sống, trình
độ năng lực chuyên môn
- Nâng cao tinh thần trách nhiệm và sự tận tụy phục vụ nhân dân của công chức, viên chức; người lao động phát huy vai trò của người đứng đầu trong phong cách làm việc dân chủ, thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí
“Học tập tư tưởng và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”
- Các phong trào thi đua phải được có kế hoạch triển khai thực hiện thường xuyên, liên tục thành nề nếp, phát huy sức mạnh của các phòng, ban, đơn
vị chuyên môn và các tổ chức đoàn thể trong việc thực hiện các phong trào thi đua của cơ quan, đơn vị
ội dung thực hiện
1 Tổ chức phát động các phong trào thi đua: Các cấp uỷ đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao
2 Đăng ký giao ước thi đua: Tổ chức cho tập thể, cá nhân đăng ký các hình thức thi đua;
3 Triển khai thực hiện các nội dung thi đua của cơ quan, đơn vị: Tổ chức các hoạt động thiết thực như:
Trang 124 Tổ chức sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm trong triển khai, tổ chức thực hiện phong trào thi đua của cơ quan, đơn vị Quan tâm công tác đánh giá, bình xét
1.3.3 guồn ực để thực hiện thi đua, khen thưởng
- Nguồn lự on người
- Nguồn lực tài chính
1.3.4 iểm tra, gi m s t việc thực hiện thi đua, khen thưởng
Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát được tiến hành trong những nội dung: Việc thực hiện Luật TĐKT, các văn bản hướng dẫn thi hành luật, các quy định, chính sách của nhà nước về TĐKT không đúng tiêu chuẩn cũng như không đúng đối tượng
Công tác thanh tra, kiểm tra,giám sáttheo quy định hàng quý, hàng tháng hoặc theo đợt phát động phong trào TĐKT cũng phải được quan tâm giải quyết
Sau khi thanh tra, kiểm tra, giám sát phải có đánh giá, kết luận ở từng đơn
vị, từng ngành, từng cấp trong việc thực hiện chính sách khen thưởng
Tiểu kết chương 1
Chương 1 luận văn đã phân tích những vấn đề chung nhất về thi đua, khen thưởng và thực hiện pháp luật về thi đua khen thưởng Có thể nói rằng thi đua, khen thưởng ngày càng có vai trò và tác dụng to lớn trong sự nghiệp xây dựng
và phát triển đất nước.thực hiện pháp luật về thi đua, khen thưởng là công cụ quan trọng trong quản lý nhà nước Thực hiện pháp luật về công tác thi đua khen thưởng phải dựa trên quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng Đồng thời phải phù hợp với yêu cầu của thời kỳ đổi mới, xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế Các nội dung thực hiện pháp luật về thi đua, khen thưởng có quan hệ chặt chẽ với nhau và cần phải tiến hành đồng thời để nâng cao hiệu quả của công tác quản lý Tổ chức bộ máy làm công tác thi đua, khen thưởng cần phải đồng bộ từ trung ương tới địa phương để đảm bảo thực hiện tốt chức năng tham mưu giúp cho quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng ngày càng đạt hiệu quả cao
Trang 13Chương 2
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
THI ĐUA, KHEN THƯỞNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH 2.1 Thực trạng tình hình thi đua, khen thưởng ở Việt Nam hiện na
2.1.1 Quá trình phát triển của công tác thi đua khen thưởng qua các thời kỳ
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời
Ngày 20/8/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 207/SL cử ông Hoàng Đạo Thuý về làm Tổng Bí thư Ban vận động Thi đua ái quốc Trung ương Trong buổi gặp mặt để nhận nhiệm vụ mới
Để tổng kết phong trào thi đua và biểu dương gương điển hình xuất sắc trong cuộc kháng chiến và kiến quốc được phát động từ năm 1948, Chính phủ đã
tổ chức Đại hội toàn quốc các chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu, họp từ ngày 1/5 - 6/5/1952 tại chiến khu Việt Bắc, với sự tham gia của trên 154 đại biểu
Để biểu dương những thành tích đạt được của quân và dân ta ở hai miền Nam, Bắc, từ ngày 6/1 - 7/1/1967 tại Hà Nội, Chính phủ đã tổ chức Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước lần thứ IV
Đất nước hoàn toàn độc lập, thống nhất Trong giai đoạn 1975 – 1987, thời kỳ hòa bình, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Chính phủ chỉ đạo từ Trung ương đến cơ sở tập trung xét khen thưởng thực hiện trên diện rộng trong
cả nước, đối tượng khen thưởng nhiều, đã biểu dương thích đáng thành tích, công lao to lớn của nhân dân và cán bộ đã diễn ra trong nhiều năm
Năm 1979, khen thưởng đối với thành tích bảo vệ biên giới của quân và dân các tỉnh phía Bắc và Tây Nam Năm 1981, Nhà nước đặt ra Huy chương Quân kỳ quyết thắng; Huy chương Vì an ninh Tổ quốc (năm 1984), Danh hiệu vinh dự Nhà nước:
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng họp tại Hà Nội từ ngày 15 đến 18/12/1986 xác định, đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực
Thời kỳ này, công tác thi đua và khen thưởng bộc lộ yếu kém bất cập trước tình hình mới, chưa thành động lực cổ vũ mọi tầng lớp nhân dân