Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận và làm rõ việc thực thi chính sách đào tạo nghề cho thanh niên, từ đó đề xuất một số giải pháp thực hiện có hiệu quả chính sách đào tạo nghề cho thanh niên trên địa bàn thành phố Phúc Yên- tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI – NĂM 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 8.34.04.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TSKH PHAN XUÂN SƠN
HÀ NỘI – NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TSKH Phan Xuân Sơn Các nội dung nghiên cứu, số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây Các số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, đánh giá, nhận xét được chính tác giả thu thập từ nhiều nguồn thông tin khác và được nêu rõ trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, tổ chức cơ quan khác cũng đã thể hiện trong phần tài liệu tham khảo
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng cũng như kết quả luận văn của mình./
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thanh Tùng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này; trước tiên em xin chân thành cảm ơn đến qu thầy, cô Học viện Hành chính Quốc gia đã tận tình chỉ dạy, hướng dẫn, gi p đ tôi trong quá trình học tập tại trường
Em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến GS.TSKH Phan Xuân Sơn đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn em nghiên cứu và viết luận văn
Tôi xin cảm ơn Sở Lao động - Thương binh- Xã hội tỉnh Vĩnh Ph c, Uỷ ban Nhân dân, Phòng Lao động - Thương binh- Xã hội thành phố Ph c Yên, Thành đoàn thành phố Ph c Yên, Chi cục thống kê thành phố Ph c Yên
Mặc dù, đã có nhiều cố gắng nỗ lực, nghiên cứu để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp tận tình của qu thầy, cô và các bạn
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thanh Tùng
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
LĐTBXH Lao động- Thương binh- Xã hội
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu 2.1 Cơ cấu lực lượng lao động thanh niên trên địa bàn thành phố Phúc
Yên theo trình độ chuyên môn kỹ thuật (đơn vị %) 50
Biểu 2.2 : Quy mô tuyển sinh theo từng năm của các cơ sở gdnn trên địa bàn thành phố Ph c Yên 52 Biểu 2.3 : Kết quả tuyển sinh giai đoạn 2014-2018 trên địa bàn thành phố Ph c
Yên (học viên/ năm) 53
Biểu 2.4 : Biểu thống kê các ngành học được tuyển sinh nhiều nhất trên địa bàn thành phố Ph c Yên giai đoạn 2014-2018 65
Trang 7MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO THANH NIÊN Error! Bookmark not defined 1.1 Đào tạo nghề và chính sách đào tạo nghề cho thanh niên 14
1.1.1 Đào tạo nghề 14
1.1.2 Các loại hình đào tạo nghề 16
1.1.3 Chính sách đào tạo nghề 20
1.1.4 Sự cần thiết và các yếu tố tác động đến việc thực thi chính sách 20
1.2 Thực thi chính sách đào tạo nghề cho thanh niên: 28
1.2.1 Khái niệm thực thi chính sách cho thanh niên 28
1.2.2 Nội dung chính sách đào tạo nghề cho thanh niên: 30
1.2.3 Quy trình thực thi chính sách đào tạo nghề cho thanh niên 34
1.3 Kinh nghiệm thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên 40
1.3.1 Kinh nghiệm trong nước 40
1.3.2 Kinh nghiệm ngoài nước 42
1.3.3 Bài học rút ra cho thành phố Phúc Yên: 44
TIỂU KẾT CHƯƠNG I 46
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC 47
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội và lao động thanh niên trên địa bàn thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 47
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 47
2.1.2 Điều kiện kinh tế 48
2.1.3 Khái quát về thanh niên và lao động là thanh niên trên địa bàn thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 49
Trang 82.2 Thực trạng chính sách đào tạo nghề cho thanh niên trên địa bàn thành
phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 50
2.2.1 Thực trạng các cơ sở đào tạo nghề cho thanh niên khu vực Phúc Yên 50
2.2.2 Thực trạng thực thi các nội dung chính sách đào tạo nghề cho thanh niên trên địa bàn thành phố Phúc Yên 55
2.2.3 Thực tế việc thực hiện đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 62
2.3 Nhận xét công tác đào tạo nghề của thành phố Phúc Yên 69
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 75
CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ ĐẨY MẠNH THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO THANH NIÊN 76
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC 76
3.1 Quan điểm, định hướng hướng đào tạo nghề cho thanh niên của thành phố Phúc Yên giai đoạn 2019- 2023 76
3.1.1 Quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước đào tạo nghề 76
3.1.2 Mục tiêu đào tạo nghề cho thanh niên tại thành phố Phúc Yên đến năm 2023: 78
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách đào tạo nghề cho thanh niên: 79
3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách đào tạo nghề cho thanh niên trên địa bàn thành phố Phúc Yên 83
3.3.1 Đối với các cấp chính quyền địa phương: 83
3.3.2 Đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp sử dụng lao động trên địa bàn: 90
3.3.3 Đối với xã hội và thanh niên trên địa bàn: 93
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 94
KẾT LUẬN 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9sự là thời cơ thuận lợi to lớn dễ phát triển, đồng thời đây cũng là một thách thức đòi hỏi phải có nghị lực kiên cường, tài năng sáng tạo để vượt lên thành nước phát triển Chính vì lẽ đó mà đầu tư cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo - phát triển nguồn nhân lực đã được Đảng, Nhà nước ta coi là quốc sách hàng đầu Đào tạo nghề là một nội dung quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực, đây là việc làm không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế -
xã hội của mọi quốc gia trên thế giới Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ XI xác định rõ: “Nước ta cần hoàn thiện pháp luật về dạy nghề, ban
hành chính sách, ưu đãi về đất đai, thuế, đào tạo giáo viên, hỗ trợ cơ sở hạ tầng nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đào tạo nghề Đổi mới phương thức, nâng cao chất lượng dạy và học, gắn dạy nghề với nhu cầu thực tế ”
Thời điểm hiện tại, dân số nước ta đang trong thời kỳ dân số vàng, thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dư ng, phát huy nguồn nhân lực quốc gia Chăm lo, giáo dục, bồi dư ng và phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng ta luôn đánh giá cao vai trò của thanh niên, xây dựng chiến lược giáo dục, bồi dư ng thanh niên thành lực lượng xứng đáng kế tục sự nghiệp cách mạng
Trước thực trạng một bộ phận không nhỏ thanh niên sống thiếu định hướng, không được đào tạo có tay nghề cơ bản, phải chấp nhận làm các
Trang 102 công việc giản đơn thu nhập thấp, ảnh hưởng đến cơ hội phát triển và thay đổi cuộc sống Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã đưa ra nhiệm vụ:
“Nâng cao chất lượng lao động trẻ, giải quyết việc làm, tăng thu nhập và
cải thiện đời sống cho thanh niên” , điều này thể hiện sự coi trọng đặc biệt
của Đảng với công tác đào tạo nghề cho thanh niên trong thời kỳ đổi mới
Phúc Yên là thành phố đô thị loại III trực thuộc tỉnh Vĩnh Ph c; là đô thị cửa ngõ của tỉnh, thành phố Ph c Yên được xác định như là một trong những đô thị vệ tinh của Vùng thủ đô Hà Nội; là trung tâm du lịch, nghỉ
dư ng, thể dục thể thao và đào tạo, là trung tâm kinh tế công nghiệp- dịch
vụ, trung tâm khoa học kỹ thuật và công nghệ, giữ vị trí quan trọng về phát triển công nghiệp và thương mại - du lịch của tỉnh Vĩnh Ph c, góp phần kết nối giao lưu phát triển kinh tế với vùng thủ đô Hà Nội Nơi đây cũng tập trung khá nhiều thanh niên từ các tỉnh, thành lân cận đến cư tr đề tìm kiếm việc làm, khởi nghiệp cho sự phát triển tương lai của bản thân Để đáp ứng nhu cầu việc làm ngày càng cao của thanh niên trong những năm gần đây,
hệ thống dạy nghề của tỉnh Vĩnh Ph c nói chung và thành phố Ph c Yên nói riêng đã có bước phát triển mạnh, từng bước đáp ứng nhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội của thành phố theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, góp phần tăng trưởng kinh tế và
phát triển xã hội
Những năm gần đây, mặc dù đã có chuyển biến tích nhưng việc đào tạo nghề, việc ban hành những cơ chế, chính sách để bảo đảm việc làm ổn định, thường xuyên cho thanh niên khu vực Phúc Yên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường cụ thể: Một số chính sách chưa sát theo mong muốn của thanh niên; việc đào tạo lao động về tay nghề và các kỹ năng mềm, cơ cấu đào tạo theo cấp trình độ và nghề đào tạo chưa hợp l , chưa
Trang 113 gắn bó hữu cơ với nhu cầu nhân lực của từng ngành, của khu vực Ph c Yên
và của tỉnh; chưa đáp ứng được nhu cầu nhân lực kỹ thuật chất lượng cao cho sản xuất và thị trường lao động Hầu hết các trường cao đẳng, trung cấp nghề trên địa bàn chưa thực sự ch trọng đến đầu ra của đào tạo nghề mà chỉ cốt sao cho tuyển sinh được nhiều Rất nhiều người sau khi tốt nghiệp các trường dạy nghề vẫn không đáp ứng được yêu cầu công việc hoặc thường ít vận dụng được những gì sau khi học hay muốn làm việc được thì phải chấp
nhận qua quá trình “đào tạo lại” Điều này gây lãng phí rất nhiều về thời
gian và tiền của đối với người học Những hạn chế trên đây xuất phát từ nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân cơ bản chính là xuất phát từ khâu chính sách và chất lượng đào tạo
Trước thực tiễn đó, vấn đề cấp thiết đặt ra đối với Phúc Yên là phải thực hiện chính sách đào tạo nghề nhằm trang bị cho người lao động có tay nghề nhất định để họ có thể đáp ứng được nhu cầu lao động ngày càng cao của xã hội Nói cách khác, nâng cao chất lượng đào tạo nghề là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu nhằm cải thiện chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố
Phúc Yên Với l do đó, em xin lựa chọn đề tài: “Thực hiện chính sách đào
tạo nghề cho thanh niên trên địa bàn thành phố Phúc Yên- tỉnh Vĩnh Phúc”
làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành chính sách công, rất mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào sự nghiệp đổi mới chất lượng đào tạo nghề ở nước
ta nói chung và thành phố Ph c Yên nói riêng
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên là một vấn đề không mới đã có nhiều nhà khoa học, nhiều công trình nghiên cứu, tiếp cận dưới những góc độ khác nhau và có những nhìn nhận, đánh giá khách quan, trung thực về thực trạng thực hiện chính sách đào tạo nghề cho con người nói chung và cho thanh niên nói riêng Có thể kể đến một số công
Trang 124 trình nghiên cứu tiêu biểu về lĩnh vực này theo nhóm các vấn đề nghiên cứu như sau
2.1 Nhóm công trình nghiên cứu về chính sách đào tạo nghề
Nguyễn Chí Trường (2012), Luận án tiến sĩ “Phân tích các yếu tố ảnh
hướng đến công tác dạy nghề Việt Nam: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giai đoạn 2013 - 2020” chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Trường Đại học Nông lâm, Đại học Thái Nguyên Luận án đã xác định và phân tích các yếu tố có ảnh hưởng đến chất lượng dạy nghề, gồm: đặc tính
cá nhân; trình độ giáo viên dạy nghề; cơ sở vật chất giảng dạy; năng lực quản lý; cơ hội việc làm; thông tin thị trường lao động; tỗ trợ chính sách về dạy nghề Trên cơ sở đó, luận án cũng đề xuất các giải pháp, chiến lược nhằm nâng cao chất lượng dạy nghề góp phần tăng năng xuất lao động và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước, gồm các giải pháp, chiến lược như: nâng cao năng lực giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề; nâng cao năng lực quản lý về dạy nghề; tăng cường cơ sở vật chất dạy nghề; hỗ trợ cơ hội việc làm; tăng cường thông tin thị trường lao động và chính sách phát triển dạy nghề; tăng cường quan hệ công – tư; nâng cao chất lượng phát triển các
bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia (NOSS); nâng cao năng lực hệ thống đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia Mặt khác, luận án đã phân tích những mô hình điển hình, các kinh nghiệm hay của một số nước phát triển có mô hình dạy nghề hiện đại đáp ứng hiệu quả nhu cầu của ngành công nghiệp trên thế giới và đề xuất mô hình mới nhằm gắn kết dạy nghề với thực tiễn ngành công nghiệp cho Việt Nam, gồm: mô hình trường trung học đào tạo nghề cao cấp; mô hình Cơ quan quản l đánh giá kỹ năng nghề quốc gia (NSTMA); mô hình Hội đồng nghề (ISC); khung trình độ quốc gia;
đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật liên quan như Luật lao động, luật dạy nghề; đề xuất thông qua luật việc làm liên quan đến các quy định quyền hạn, trách nhiệm của người lao động được cấp chứng chỉ kỹ
Trang 135 năng nghề quốc gia, đặc biệt là quy định về thang bảng lương; quyền hạn, trách nhiệm của bên sử dụng lao động đối với người được cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan quản l nhà nước đối với người lao động và người sử dụng lao động có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
Ngô Phan Anh Tuấn (2012) Luận án Tiến sỹ “Đảm bảo chất lượng
đào tạo của trung tâm dạy nghề công lập vùng Đông Nam Bộ” chuyên
ngành Quản l giáo dục Luận án đã đưa ra được những đánh giá khách quan
về thực trạng, chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế và đề xuất được các giải pháp đảm bảo chất lượng đào tạo, nhằm duy trì và từng bước nâng cao chất lượng đào tạo ở trung tâm dạy nghề công lập vùng Đông Nam bộ Bước đầu khẳng định được tính đ ng đắn của giả thuyết khoa học: “Đảm bảo chất lượng là cấp độ quản lí chất lượng phù hợp với các trung tâm dạy nghề công lập Nếu đánh giá đ ng thực trạng và triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp theo một hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo phù hợp với đặc điểm và điều kiện
cụ thể của trung tâm dạy nghề công lập, thì sẽ duy trì và từng bước nâng cao được chất lượng đào tạo ở các trung tâm dạy nghề công lập vùng Đông Nam bộ” Về mặt lí luận: Luận án đã tiếp cận quan điểm đảm bảo chất lượng đào tạo ở các trung tâm dạy nghề công lập theo quá trình: Đầu vào – Quá trình đào tạo - Đầu ra, phù hợp với đặc thù đào tạo nhân lực trong nền kinh tế thị trường Phân tích được các cấp độ quản lí chất lượng, từ đó lựa chọn cấp độ quản lí chất lượng và thiết lập được hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo phù hợp với đặc thù và điều kiện của trung tâm dạy nghề công lập; Lựa chọn được các tiêu chuẩn, tiêu chí để đo kết quả cho việc thực hiện và có thể kiểm định được khi cần thiết Nếu được áp dụng vào thực tiễn sẽ hiện thực hóa việc công khai và minh bạch trong quản lí chất lượng đào tạo ở các trung tâm dạy nghề công lập hiện nay Về mặt thực tiễn: Luận án đã phân tích và đánh giá một cách khách quan thực trạng đảm bảo chất lượng đào tạo, chỉ rõ
Trang 146 những tồn tại, nguyên nhân làm cho đảm bảo chất lượng ở các trung tâm dạy
nghề công lập vùng Đông Nam Bộ còn hạn chế
Đào Thị Phương Nga, luận văn “Tăng cường sự liên kết giữa trường
dạy nghề với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc giang nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề” chuyên ngành Quản trị kinh doanh của Đại học
Nông nghiệp Hà Nội (2008); Nguyễn Thị Kim Thu, luận văn “Nâng cao
chất lượng đào tạo nghề tại các trường cao đẳng nghề Hà Nội” chuyên
ngành chính sách công của Trung tâm đào tạo, bồi dư ng giảng viên lý luận chính trị (2012)
Các công trình trên đã tập trung nghiên cứu đánh giá, chỉ ra những yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách dạy nghề trên một địa bàn cụ thể; chỉ ra thực trạng việc thực hiện chính sách dạy nghề với việc liên kết với các cơ sở đào tạo, qua đó, tác giả đưa ra hệ thống những giải pháp nhằm nâng cao chính sách đào tạo nghề ở nước ta hiện nay, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến việc thực thi những chính sách đó một cách quyết liệt của các cơ quan, chức năng, ban ngành nhằm khai thác có hiệu quả nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
2.2 Nhóm công trình nghiên cứu về thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên
Phan Thị Thúy Linh (2011),“ Các giải pháp đào tạo nghề và tạo việc
làm cho thanh niên tại thành phố Đà Nẵng” luận văn thạc sĩ chuyên ngành
chính sách công Luận văn đã khẳng định tính tất yếu khách quan phải thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên, bởi với sự phát triển của Đà Nẵng hiện nay, đặt ra yêu cầu rất cao về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, mà một trong những chính sách được Ủy ban nhân dân thành phố rất quan tâm đó là thanh niên Trên cơ sở đánh giá thực trạng việc thực hiện các giải pháp về đào tạo nghề và tạo việc làm cho thanh niên tại thành phố
Đà Nẵng, luận văn đã đưa ra hệ thống các giải pháp về nhận thức,về đổi mới
Trang 157 nội dung, hình thức đào tạo nghề cho thanh niên, vai trò của đội ngũ cán bộ, xây dựng cơ sở đào tạo nghề
Nguyễn Thị Thu Hòa (2014)“Một số giải pháp đào tạo nghề cho
thanh niên nông thôn hiện nay” Tạp chí tổ chức nhà nước, số 447, tháng
10.2014; TS Nguyễn Nam Đàn “ Giải pháp việc làm cho thanh niên hiện
nay”, Tạp chí Lý luận chính trị số 3-2015; Đoàn Kim Thắng “Đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn, thực trạng và giải pháp” Tạp chí khoa học xã hội
Việt Nam, số 9 2014
2.3 Một số bài báo và công trình nghiên cứu trên thế giới:
Tác giả Wich Esthorst- thành viên Viện nghiên cứu lao động IZA
có bài báo tiêu đề: Học nghề có giúp cho người trẻ kiếm được việc tốt không? Trong đó nêu ra thông điệp:
Thất nghiệp thanh niên đã gia tăng ở nhiều nước công nghiệp sau các cuộc suy thoái toàn cầu Tuy nhiên, điều này không chỉ phản ánh cú sốc theo chu kỳ mà còn là vai trò quan trọng của các tổ chức trong việc cấu trúc sự
chuyển đổi từ trường học sang công việc Dạy nghề, đặc biệt ở dạng kép (kết
hợp học nghề và học có cấu trúc tại chỗ), thường được coi là một trong
những giải pháp chính sách quan trọng nhất trong việc chống thất nghiệp thanh niên
Nếu phù hợp với nhu cầu của người sử dụng lao động và thị trường lao động, giáo dục nghề nghiệp kép và các chương trình học tại chỗ có cấu trúc
có thể dễ dàng thâm nhập vào thị trường lao động cho những người trẻ tuổi so với một nền giáo dục trung học hàn lâm Tuy nhiên, việc thiết lập một mô hình đào tạo nghề kép là một nhiệm vụ đòi hỏi khắt khe và không thể được coi là một giải pháp nhanh chóng cho tình trạng thất nghiệp của thanh niên cao Cải cách cơ cấu để vực dậy nền kinh tế và giảm rào cản gia nhập việc làm cũng là cần thiết
Trang 168 Các hệ thống kép của các quốc gia này có bốn yếu tố thể chế chính: Thứ nhất, họ có một mức độ cao của việc chính thức Đào tạo được cung cấp trong các tổ chức trình độ nghề nghiệp được công nhận tập trung, trong đó nội dung đào tạo được điều chỉnh liên tục để đáp ứng yêu cầu thị trường lao động thay đổi
Thứ hai, có sự tham gia mạnh mẽ và lâu dài của các đối tác xã hội, bao gồm các ủy ban thương mại và nghề nghiệp khu vực, thông qua các ban cố vấn hỗ trợ phát triển và duy trì chương trình giảng dạy và giám sát kết quả
Thứ ba, các trường cao đẳng dạy nghề, được tài trợ bởi chính phủ, cung cấp một phần dựa trên trường học của giáo dục và đào tạo nghề kép, bao gồm
cả giáo dục phổ thông và nghề nghiệp cụ thể
Và thứ tư, các công ty tham gia phải đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật nhất định để được công nhận
Cũng như học nghề, hệ thống giáo dục và dạy nghề kép kết hợp giữa học nghề và học có cấu trúc trong công việc dường như vượt trội hơn các loại hình học nghề khác Tuy nhiên, trong trường hợp này, các lợi ích tập trung vào các cơ hội việc làm, thay vì thu nhập và được tập trung khi bắt đầu cuộc sống chuyên nghiệp của một cá nhân
Trang 179 ngoài công trường, các nhà hoạch định chính sách có thể th c đẩy mở rộng đào tạo nghề hiệu quả và tăng thu nhập của người lao động chỉ với chi tiêu công khiêm tốn
Theo nghiên cứu, việc học nghề ở 100 công ty Đức cho phép người sử dụng lao động đánh giá chi tiết về chi phí và lợi ích của việc học nghề trong thời gian đào tạo Không giống như các nghiên cứu lớn hơn được trích dẫn ở trên, nghiên cứu này ước tính lợi nhuận cho hầu hết các công ty, vì họ không thu hồi được các khoản đầu tư của mình trong thời gian đào tạo Thật đáng ngạc nhiên, chi phí ròng có liên quan nghịch với chất lượng của việc học nghề Chất lượng học nghề càng cao, tổng chi phí càng cao, nhưng nhà tuyển dụng càng có khả năng thu lại khoản đầu tư của họ trong thời gian đào tạo
Một nghiên cứu năm 2019 kiểm tra chi phí và lợi ích cho 306 công ty
Áo và 703 công ty Thụy Sĩ cung cấp học nghề ba năm trong mười nghề nghiệp Các phát hiện xác nhận mô hình của các công ty Thụy Sĩ đạt được lợi ích ròng trong thời gian học nghề Cũng như các công ty Đức, các công ty Áo
có chi phí ròng trong thời gian học việc nhưng đã thu hồi khoản đầu tư của họ bằng cách giữ lại một phần lớn người học việc và tránh chi phí tuyển dụng Những l do chính được tìm thấy cho sự khác biệt giữa các quốc gia là:
tỷ lệ trả lương cho người lao động khác ở Thụy Sĩ thấp hơn và tỷ lệ thời gian dành cho thực hiện các nhiệm vụ lành nghề cao hơn ở Thụy Sĩ
Tóm lại, các nghiên cứu về chi phí ròng cho các công ty trong thời gian học việc chỉ ra sự khác biệt lớn giữa các quốc gia, nghề nghiệp và thời gian Trọng tâm của khả năng các công ty thu lại hầu hết hoặc tất cả các chi phí đào tạo của họ là lượng thời gian người học việc dành cho các hoạt động sản xuất trực tiếp Các công ty Thụy Sĩ đặc biệt hiệu quả trong việc kết hợp các khoản đầu tư lớn vào đào tạo học nghề với việc sử dụng rộng rãi các người học việc trong sản xuất Với chi phí ròng thấp như vậy (hoặc thậm chí
Trang 1810 lợi ích ròng nhỏ), học nghề có thể có giá trị đối với các công ty ngay cả khi họ chỉ giữ lại một nửa hoặc ít hơn số sinh viên tốt nghiệp Do đó, hầu hết các công ty xem các khoản đầu tư của họ vào các chương trình học nghề là rất quan trọng đối với thành công lâu dài của họ trong việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ chất lượng cao
Đ c kết từ thực tế: Các quốc gia có hệ thống học nghề mạnh mẽ đang thể hiện bằng cách giáo dục và đào tạo có thể giữ tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên thấp và nâng cao chất lượng công việc không yêu cầu bằng tú tài Các tổ chức quốc tế đang ngày càng kêu gọi các nước khác mở rộng các chương trình học nghề để đảm bảo an sinh xã hội
(Nguồn:https://wol.iza.org/articles/do-firms-benefit-from-apprenticeship-investments)
Các công trình, bài báo ở trên đã luận giải dưới nhiều góc độ khác nhau, chỉ ra những vấn đề về lý luận, thực tiễn để giải quyết việc làm cho thanh niên là rất cần thiết, đặt ra cho các cơ quan, chức năng ban ngành hiện nay Chỉ ra nguyên nhân của thực trạng đào tạo nghề cho thanh niên bao gồm cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân về cơ chế, chính sách được các tác giả cho là quan trọng, cần phải tháo bỏ những khúc mắc tạo hành lang thông thoáng để đẩy mạnh việc đào tạo nghề cho thanh niên ở nước ta hiện nay, đáp ứng được với yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Như vậy, dưới góc độ chính trị - xã hội các luận văn tập trung nghiên cứu thế nào là đào tạo nghề, vai trò của đào tạo nghề đối với việc giải quyết việc làm cho thanh niên Kết quả nghiên cứu của các luận văn và bài báo đã cung cấp cơ sở khoa học cho việc xác định các chủ trương, giải pháp để thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên tại thành phố Ph c Yên, tỉnh Vĩnh Ph c giai đoạn hiện nay Đến thời điểm hiện tại, chưa có luận văn nào nghiên cứu cơ bản dạng công trình khoa học dưới góc độ Chính sách công
về việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên khu vực thành phố
Trang 1911
Ph c Yên tỉnh Vĩnh Ph c Vì vậy, luận văn không trùng lặp với các công trình khoa học, luận văn, luận án đã công bố trước đây
Em xin tiếp thu, trân trọng kế thừa kết quả nghiên cứu của các công
trình có liên quan để luận giải làm rõ những vấn đề cơ bản về “Thực thi
chính sách đào tạo nghề cho thanh niên trên địa bàn thành phố Phúc Yên- tỉnh Vĩnh Phúc”, dưới góc độ chuyên ngành chính sách công
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ cơ sở l luận và làm rõ việc thực thi chính sách đào tạo nghề cho thanh niên, từ đó đề xuất một số giải pháp thực hiện có hiệu quả chính sách đào tạo nghề cho thanh niên trên địa bàn thành phố Ph c Yên- tỉnh Vĩnh Ph c hiện nay
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề l luận và thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên
- Đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân và những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên trên địa bàn thành phố Ph c Yên- tỉnh Vĩnh Ph c hiện nay
- Xác định phương hướng, đề xuất phương án nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách đào tạo nghề cho thanh niên trên địa bàn thành phố Ph c Yên- tỉnh Vĩnh Ph c hiện nay
4 Khách thể, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Khách thể nghiên cứu
Chính sách đào tạo nghề cho thanh niên và thực thi chính sách đào tạo
nghề cho thanh niên
* Đối tượng nghiên cứu
Quá trình tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho thanh niên
trên địa bàn thành phố Ph c Yên, tỉnh Vĩnh Ph c hiện nay
Trang 20Luận văn sử dụng l luận của chủ nghĩa Mác – Lênin,tư tưởng Hồ Chí
Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
* Phương pháp luận của luận văn
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và chủ nghĩa lịch sử; các l thuyết về chính sách công về đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực
* Phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Các phương pháp nghiên cứu, phân tích và tổng hợp:
Thực hiện phân tích tài liệu, thông tin về chính sách công; tổng hợp khái quát những vấn đề lí luận về quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đặc biệt là chính sách về đào tạo nghề cho thanh niên, tổng hợp các tài liệu sơ cấp và thứ cấp thu thập được từ nghiên cứu thực
tế tại địa phương
Phương pháp dự báo: Trên cơ sở phân tích các dữ liệu, luận văn đưa
ra các dự báo liên quan đến thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên địa phương, làm cơ sở cho việc đề ra các giải pháp
Phương pháp tổng kết thực tiễn: Nghiên cứu những vấn đề đã và đang diễn ra nhằm r t ra những kinh nghiệm về thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên trên địa bàn
Phương pháp chuyên gia: Xin kiến một số nhà khoa học, nhà quản lí, nhà sư phạm về một số vấn đề l luận và thực tiễn có liên quan đến luận văn
Trang 2113
6 Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm phong ph thêm l
luận về thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên; cung cấp cơ sở
khoa học cho các cơ sở đào tạo dạy nghề xác định các giải pháp để thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn thành phố Ph c Yên, tỉnh Vĩnh
Ph c và các tỉnh, thành phố trong cả nước
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khỏa và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về thực thi chính sách đào tạo nghề cho thanh niên
Chương 2: Thực trạng thực thi chính sách đào tạo nghề cho thanh niên trên địa bàn thành phố Ph c Yên, tỉnh Vĩnh Ph c
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách đào tạo nghề cho thanh niên trên địa bàn thành phố Ph c Yên, tỉnh Vĩnh Ph c
Trang 2214
CHƯƠNG I
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO THANH NIÊN
1.1 Đào tạo nghề và chính sách đào tạo nghề cho thanh niên
1.1.1 Đào tạo nghề
Khái niệm đào tạo
Theo từ điển bách khoa Việt Nam: “ Đào tạo đề cập đến việc dạy kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận một công việc nhất định’’[tr658]
Theo từ điển tiếng Việt: “ Đào tạo là việc làm cho trở thành người có năng lực theo tiêu chuẩn nhất định” [tr296]
Tóm lại: Đào tạo là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn, nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận được một công việc nhất định
Nghề theo Đại Từ điển Tiếng Việt và Từ điển Tiếng Việt đã cùng đưa
ra định nghĩa như sau: “Nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công
lao động của xã hội’’
Nghề có một số đặc trưng cụ thể như sau:
+ Nghề gắn liền với những kiến thức và kỹ năng Những kiến thức và
kỹ năng này không phải tự nhiên có được mà là do kết quả của đào tạo chuyên môn và tích lũy kinh nghiệm;
+ Nghề là một công việc chuyên làm;
+ Là phương tiện sinh sống gắn với cả cuộc đời hoặc phần lớn cuộc đời người lao động; bao gồm cả lao động trí óc và lao động chân tay;
Trang 2315 + Phù hợp với yêu cầu của xã hội…
Như vậy, Nghề có thể hiểu là tổng hợp kiến thức, sự hiểu biết và kĩ
năng trong lao động mà con người tiếp thu được do kết quả đào tạo chuyên môn hoặc tích lũy kinh nghiệm cần có để thực hiện một loạt hoạt động trong một lĩnh vực cụ thể
- Đào tạo nghề
Luật Giáo dục nghề nghiệp được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2014 đưa ra khái niệm như sau: “ Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp” [tr1]
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa: ĐTN là nhằm cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới công việc, nghề nghiệp được giao
Theo giáo trình Kinh tế lao động của trường Đại học kinh tế quốc dân
Hà Nội thì: Đào tạo nghề là đào tạo nguồn nhân lực, là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động, để họ có thể đảm nhận được một số công việc nhất định
Theo tài liệu của Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội xuất bản năm
2002, đào tạo nghề là hoạt động nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức, kỹ năng và thái độ lao động cần thiết để người lao động sau khi hoàn thành khoá học hành được một nghề trong xã hội
Các khái niệm trên đã không chỉ dừng lại ở trang bị những kiến thức,
kỹ năng cơ bản mà còn đề cập đến thái độ lao động cơ bản Điều này thể hiện tính nhân văn, tinh thần xã hội chủ nghĩa, đề cao người lao động ngay trong quan niệm về lao động chứ không chỉ coi lao động là một nguồn vốn
Trang 2416 nhân lực, coi công nhân như cái máy sản xuất với công nghệ và kỹ thuật tiên tiến hiện nay
L luận của chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định: sự tồn tại, vận động và phát triển của con người bao giờ cũng gắn với môi trường xã hội nhất định, con người tham gia vào những hoạt động xã hội khác nhau, tức là
có ngành nghề nhất định thì mới đóng góp công sức của mình cho sự phát triển của xã hội Xã hội càng phát triển, thì càng đặt ra yêu cầu cao cho con người có công việc ổn định để đảm bảo nuôi sống bản thân mình, rồi mới cho gia đình và xã hội, không có công việc ổn định, không có ngành nghề nào thì mãi mãi con người chỉ loanh quanh trong một không gian,thời gian nhất định, không định hình được cho tương lai của mình Do đó, có một công việc, ngành nghề ổn định sẽ gi p cho con người yên tâm trong cuộc sống, tương lai sẽ rộng mở hơn, có những tưởng, sáng kiến, tích cực trong học tập, công tác
Từ những phân tích trên có thể hiểu: Đào tạo nghề là hoạt động trang
bị năng lực (tri thức, kỹ năng và thái độ) hành nghề cho người lao động để người lao động có thể tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm
1.1.2 Các loại hình đào tạo nghề
Ở nước ta hiện nay có rất nhiều loại hình đào tạo nghề với quy mô, trình độ khác nhau, sự đa dạng của các loại hình đào tạo đó phản ánh bức tranh kinh tế đa sắc màu của nước ta hiện nay, có thể kể đến một số loại hình và hình thức đào tạo nghề ở nước ta như sau:
Căn cứ vào trình độ đào tạo nghề:
Theo quy định của Luật dạy nghề nghiệp năm 2014, dạy nghề chính quy được thực hiện với các chương trình sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề tại các cơ sở dạy nghề theo các khoa học tập trung và liên tục
- Đào tạo trình độ sơ cấp: Để người học có năng lực thực hiện được
các công việc đơn giản của một nghề Cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo
Trang 2517 trình độ sơ cấp: trung tâm giáo dục nghề nghiệp, trường trung cấp, trường cao đẳng có đăng k hoạt động đào tạo trình độ sơ cấp và dạy nghề thường xuyên Người học nghề học hết chương trình sơ cấp thì được dự kiểm tra, nếu đạt yêu cầu thì được người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp cấp chứng chỉ sơ cấp nghề theo quy định
- Đào tạo trình độ trung cấp: để người học có năng lực thực hiện
được các công việc của trình độ sơ cấp và thực hiện được một số công việc
có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề; có khả năng ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc, làm việc độc lập, làm việc theo nhóm
- Đào tạo trình độ cao đẳng: để người học có thể thực hiện được các
công việc của trình độ trung cấp và giải quyết được các công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào công việc, hướng dẫn và giám sát được người khác trong nhóm thực hiện công việc
Đây đều là các hình thức đào tạo chính quy, các học viên được tập trung tại các trung tâm dạy nghề, các trường nghề và quy mô đào tạo tương đối lớn, chủ yếu là đào tạo các công nhân kỹ thuật có trình độ lành nghề cao
Việc đào tạo theo trình độ tại các cơ sở trên thường được chia ra làm hai giai đoạn: giai đoạn học tập cơ bản và giai đoạn học tập chuyên môn Giai đoạn học tập cơ bản là giai đoạn đào tạo nghề theo diện rộng, thường chiếm từ 60% đến 80% nội dung giảng dạy và tương đối ổn định Còn trong giai đoạn học tập chuyên môn, người học được trang bị những kiến thức chuyên sâu và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo để nắm vững nghề đã chọn
Ưu điểm: Học sinh được học một cách có hệ thống từ đơn giản đến
phức tạp, từ l thuyêt đến thực hành, tạo điều kiện cho học sinh tiếp thu kiến thức nhanh chóng và dễ dàng Đào tạo tương đối toàn diện cả lý thuyết lẫn thực hành
Trang 2618 Với hình thức đào tạo chính quy, sau khi đào tạo, học viên có thể chủ động, độc lập giải quyết công việc, có khả năng đảm nhận các công việc tương đối phức tạp, đòi hỏi trình độ lành nghề cao Cùng với sự phát triển của sản xuất và tiến bộ của khoa học kỹ thuật, hình thức đào tạo này ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật
Nhược điểm: Thời gian đào tạo tương đối dài Đòi hỏi phải đầu tư lớn
để đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, các cán bộ quản lý
…nên kinh phí đào tạo cho một học viên là rất lớn
Căn cứ vào thời gian đào tạo nghề:
- Đào tạo ngắn hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo dưới 1 năm, chủ yếu áp dụng đối với phổ cập nghề Loại hình này có ưu điểm là có thể tập hợp đông đảo lực lượng lao động ở mọi lứa tuổi, những người không có điều kiện học tập trung vẫn có thể tiếp thu được tri thức ngay tại chỗ, với sự hỗ trợ đắc lực của các cơ quan đoàn thể, địa phương, Nhà nước về mặt giáo trình, giảng viên
- Đào tạo dài hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo từ 1 năm trở lên, chủ yếu áp dụng đối với đào tạo công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ Đào tạo nghề dài hạn thường có chất lượng cao hơn các lớp đào tạo ngắn hạn
Căn cứ vào đối tượng được đào tạo:
- Đào tạo mới: Là loại hình đào tạo nghề áp dụng cho những người chưa có nghề, đào tạo mới để đáp ứng yêu cầu tăng thêm lao động có nghề
- Đào tạo lại: Là quá trình đào tạo những người đã có nghề, song vì lý
do nào đó nghề của họ không còn phù hợp nữa
- Đào tạo nâng cao: Nhằm bồi dư ng nâng cao kiến thức và kinh nghiệm làm việc để người lao động có thể đảm bảo công việc phức tạp hơn
và có năng suất cao hơn
- Đào tạo liên thông: Nhằm để chuyển đối giữa lao động kỹ thuật thực hành và lao động chuyên môn mang tính hàn lâm và ngược lại
Trang 2719
Đào tạo nghề tại nơi làm việc (kèm cặp trong sản xuất)
Là hình thức đào tạo trực tiếp, trong đó người học sẽ được dạy những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc thông qua thực tế thực hiện công việc và thường là dưới sự hướng dẫn của những người lao động có trình độ cao hơn Hình thức đào tạo này thiên về thực hành ngay trong quá trình sản xuất và thường là do các doanh nghiệp (hoặc các cá nhân sản xuất) tự tổ chức
Chương trình đào tạo áp dụng cho hình thức đào tạo tại nơi làm việc
và thường được chia ra làm ba giai đoạn: Giai đoạn đầu, người hướng dẫn vừa sản xuất vừa hướng dẫn cho học viên Giai đoạn hai, giao việc làm thử cho học viên sau khi họ đã nắm được các nguyên tắc và phương pháp làm việc Giai đoạn ba, giao việc hoàn toàn cho học viên sau khi họ đã có thể tiến hành làm việc một cách độc lập
Ưu điểm: Có khả năng đào tạo nhiều người cùng một lúc ở tất cả các
doanh nghiệp, phân xưởng; thời gian đào tạo ngắn; không đòi hỏi điều kiện
về trường lớp, giáo viên chuyên trách, bộ máy quản lý, thiết bị học tập riêng…nên tiết kiệm chi phí đào tạo Trong quá trình học tập, người học còn được trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, giúp họ có thể nắm chắc kỹ năng lao động
Nhược điểm: Việc truyền đạt và tiếp thu kiến thức không có tính hệ
thống Người dạy không có nghiệp vụ sư phạm nên hạn chế trong quá trình hướng dẫn, việc tổ chức dạy lý thuyết gặp nhiều khó khăn nên kết quả học tập còn hạn chế Học viên không chỉ học các phương pháp tiên tiến mà còn
có thể bắt chước những thói quen không tốt của người hướng dẫn Vì vậy hình thức đào tạo này chỉ phù hợp với những công việc đòi hỏi trình độ không cao
Căn cứ vào mối liên hệ giữa chính quyền địa phương và doanh nghiệp (tổ chức các lớp đào tạo cạnh doanh nghiệp):
Trang 2820 Đây là hình thức đào tạo theo chương trình gồm hai phần lý thuyết và thực hành Phần lý thuyết được giảng tập trung do các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật phụ trách Còn phần thực hành thì được tiến hành ở các xưởng thực tập do các kỹ sư hoặc công nhân lành nghề hướng dẫn Hình thức đào tạo này chủ yếu tập trung áp dụng để đào tạo cho những nghề phức tạp, đòi hỏi có sự hiểu biết rộng về lý thuyết và độ thành thục cao
Ưu điểm: Dạy lý thuyết tương đối có hệ thống, đồng thời học viên lại được trực tiếp tham gia lao động ở các phân xưởng, tạo điều kiện cho họ nắm vững nghề Bộ máy đào tạo gọn, chi phí đào tạo không lớn
Nhược điểm: Hình thức này chỉ áp dụng được ở những doanh nghiệp tương đối lớn và chỉ đào tạo cho các doanh nghiệp cùng ngành có tính chất giống nhau
1.1.3 Chính sách đào tạo nghề
Từ những phân tích trên có thể hiểu chính sách đào tạo nghề là những
định hướng mang tính tổng thể về nội dung, chương trình, dự án đào tạo nghề thông qua hệ thông các trường đào tạo nghề, các trung tâm hướng nghiệp tác động đến một đối tượng cụ thể nhằm giải quyết một cách tốt nhất những nhu cầu về việc làm cho người lao động góp phần ổn định xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển
Một số điểm r t ra về mục tiêu và nội dung chính sách đào tạo nghề:
Thứ nhất, chủ thể của Chính sách đào tạo nghề cho người lao động
được đề cập chính là Nhà nước, mà cụ thể là Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Chính sách đào tạo nghề của một địa phương cụ thể chỉ được xem xét trong chừng mực để làm rõ chủ trương chung của quốc gia
Thứ hai, mục tiêu của Chính sách đào tạo nghề bao gồm cả khía cạnh
kinh tế, xã hội và môi trường Mục tiêu kinh tế là tạo điều kiện cho người lao động tiếp cận được các ngành nghề mới góp phần vào việc tăng trưởng và phát triển kinh tế địa phương, cải thiện thu nhập của các hộ gia đình Mục tiêu
Trang 2921
xã hội là góp phần xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, giảm độ chênh lệch về mức sống giữa thành thị và nông thôn Mục tiêu môi trường của chính sách đào tạo nghề là phát triển các ngành kinh tế một cách bền vững, tiến hành sản xuất đi đôi với giữ gìn và bảo vệ môi trường Có thể thấy, mục tiêu của chính sách đào tạo nghề là rất rộng và phức tạp Vì vậy, khi hoạch định và phát triển chính sách đào tạo nghề là việc làm rất khó khăn
Thứ ba, do tính đa dạng của các vùng miền, tính đặc thù của thanh
niên (trình độ học vấn không đồng đều, lao động theo mùa vụ, thói quen canh tác ) Vì vậy, khi nghiên cứu tình hình thực hiện Đề án đào tạo nghề cần phải ch đến yếu tố này để tổ chức các khóa đào tạo phải linh hoạt về chương trình đào tạo, nội dung đào tạo, hình thức đào tạo, phương pháp truyền đạt phù hợp với trình độ người học
Chính sách đào tạo nghề được Nhà nước đưa ra nhằm nâng cao chất lượng lao động và làm thay đổi cơ cấu ngành lao động theo hướng giảm lao động nông nghiệp và tăng lao động ngành nghề và phi nông nghiệp, nâng cao tính bền vững của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, giảm chênh lệch về thu nhập, thực hiện xóa đói, giảm nghèo và cải thiện các vấn đề về xã hội
Chính sách đào tạo nghề cho người lao động bao hàm trong nó chủ định của Nhà nước, mục tiêu mà Nhà nước mong muốn đạt tới là cơ cấu ngành lao động tiến bộ hơn Ở phạm vi nhỏ là cơ cấu của tỉnh, huyện tiến bộ hơn so với trước khi thực hiện chính sách
1.1.3.1 Mục tiêu đào tạo nghề:
Mục tiêu đào tạo nghề là tạo ra nguồn nhân lực có trình độ, tay nghề đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ nguồn nhân lực của xã hội Hiện nay, nước ta đa phần là những người lao động có trình độ thấp, chưa có khả năng tiếp cận với khoa học, công nghệ tiên tiến Đào tạo nghề là con đường gi p cho những người được đào tạo nâng cao nhận thức về ngành nghề được đào tạo, đáp ứng yêu cầu của nhà sử dụng lao động, nâng cao thu nhập và cải thiện cuộc sống
Trang 3022 Tại điều 33, Luật giáo dục 2005 và tại điều 4 Luật dạy nghề có nêu:
“Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước”
1.1.3.2 Nội dung chính sách đào tạo nghề
Chính sách với người được đào tạo: Những người được đào tạo được
hưởng chính sách người có công, quân nhân xuất ngũ, người dân tộc thiểu
số, người thuộc hộ nghèo, người tàn tật, khuyết tật… được hỗ trợ chi phí học nghề, sau khi học nghề được vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm để tìm việc làm, tự tạo việc làm,
lập thân, lập nghiệp
Chính sách đối với giảng viên đào tạo: Chính sách đối với giảng viên
dạy nghề ngày càng được quan tâm Hiện nay, họ được hưởng các chính sách chung đối với nhà giáo trong hệ thống giáo dục quốc dân Ngoài ra, còn
có một số chế độ, chính sách riêng đối với giáo viên dạy nghề như: chính sách về phụ cấp cho giáo viên khi dạy thực hành các nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và phụ cấp đặc thù cho giáo viên dạy nghề cho ngưới tàn tật, khuyết tật Giáo viên dạy nghề ở các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn đều
có chế độ đãi ngộ riêng…
Chính sách đối với cơ sở đào tạo nghề: Nhà nước có chính sách đầu
tư mở rộng mạng lưới cơ sở đào tạo nghề như việc hỗ trợ kinh phí, đầu tư cơ
sở vật chất, thiết bị dạy nghề cho các trung tâm dạy nghề, hỗ trợ cho các làng nghề truyền thống để tham gia dạy nghề cho lao động nông thôn Ngày 23/5/2014, Thủ tướng đã ban hành quyết định số 761/QĐ-TTg phê duyệt Đề
án phát triển trường nghề chất lượng cao đến năm 2020, trong đó nêu rõ
Trang 3123 những ưu đãi về đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại để phát triển hệ thống trường này, góp phần đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ, có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp cao, trên cơ
sở đó tăng cường năng lực cạnh tranh của người lao động
1.1.4 Sự cần thiết và các yếu tố tác động đến việc thực thi chính sách đào tạo nghề cho thanh niên:
1.1.4.1 Sự cần thiết của chính sách đào tạo nghề cho thanh niên
* Giải quyết việc làm cho thanh niên, góp phần bảo đảm ổn định an sinh, công bằng xã hội
Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó không thể thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi trong mối quan hệ khăng khít kinh tế- xã hội Bảo đảm sự phát triển bền vững, ổn định của đất nước phải đi đôi với vấn đề giải quyết việc làm cho xã hội Giải quyết việc làm nói chung hay giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn thành phố Ph c Yên nói riêng vừa tận dụng được tối đa nguồn nhân lực vào phát triển kinh tế- xã hội, vừa phát huy được tiềm năng, thế mạnh của địa phương và khu vực phụ cận
Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên sẽ tạo điều kiện để phát triển nguồn lao động đông đảo về số lượng và chất lượng, làm cơ sở cho nền kinh tế quốc dân tăng trưởng bền vững Chính sách đào tạo nghề luôn là mối quan tâm hàng đầu của thanh niên, nếu như những chính sách này không đáp ứng được nhu cầu bức thiết của xã hội, nhu cầu mong muốn thực tế của thanh niên sẽ là nguyên nhân chính gây nên những vấn đề về tư tưởng, niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; từ đó dẫn đến phát sinh các tệ nạn xã hội như cờ bạc, ma t y, rượu chè…ảnh hưởng nghiêm trọng đến đạo đức xã hội và tương lai, vận mệnh của dân tộc
Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên trên địa bàn thành phố Ph c Yên chính là tạo ra cho thanh niên nơi đây có điều kiện được rèn
Trang 3224 luyện, thể hiện, đem khả năng của mình gi p sức cho quê hương, đất nước Thể hiện đ ng tính chất của thanh niên là nhóm người tiên phòng đi đầu trong các phong trào, là nguồn lực tiềm năng về nhiệt huyết, hoài bão và sức lực mạnh mẽ
Muốn th c đẩy phát triển khả năng của thanh niên Việt Nam bắt buộc các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân Việt Nam, Đảng và Nhà nước phải có chủ trương, đường lối đầu tư về chính sách làm kinh tế, đào tạo học tập để rèn luyện cho thanh niên chí kiên cường trong thời đại kinh tế mới
* Giảm áp lực về quá trình đô thị hóa, thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển
Thông qua việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên sẽ giảm được tình trạng thanh niên ra thành phố, các đô thị lớn để tìm kiếm việc làm, làm quá trình đô thị hóa tăng lên nhanh chóng, đồng thời cũng làm tăng nguy cơ tiềm ẩn những hệ lụy phức tạp, tệ nạn xã hội cho các đô thị lớn, đặc biệt là Hà Nội
Các trung tâm, cơ sở đào tạo nghề tại địa phương mục đích là đào tạo, tạo ra nghề nghiệp cho người lao động tai khu vực, bổ sung ngân sách cho địa phương Những cơ sở đào tạo nghề cũng là yếu tố tích cực để nhà đầu tư tìm đến địa phương, tập trung khai thác vào các tiềm năng, thế mạnh của địa phương và cơ sở đào tạo Do vậy, việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên có nghĩa quan trọng trong việc cơ cấu lại đối tượng lao động, đội ngũ cán bộ quản l , giáo viên các cơ sở đào tạo nghề
* Tạo điều kiện để các trung tâm, cơ sở đào tạo nghề trong việc thu hút thanh niên tham gia vào quá trình đào tạo và lựa chọn ngành nghề phù hợp
Thông qua việc thực hiện các chính sách của Nhà nước sẽ cung cấp đầy đủ các thông tin ngành nghề, nhu cầu lao động tại từng địa phương, từng
Trang 3325 lĩnh vực, cũng như cung cấp cho thanh niên những kỹ năng, kiến thức thực
tế để đáp ứng nhu cầu xã hội
Các trung tâm, cơ sở đào tạo nghề có thể căn cứ vào các văn bản Luật, văn bản dưới luật, các hướng dẫn của các cấp Bộ, ngành, chính quyền địa phương để lựa chọn các ngành nghề, lĩnh vực phù hợp với khả năng đào tạo, đáp ứng nhu cầu nguyện vọng của xã hội và thanh niên trên địa bàn Trong đó, đặc biệt ch trọng đến những lĩnh vực truyền thống, lĩnh vực sở trường của vùng miền, địa phương hoặc của bản thân trung tâm làm hạt nhân phát triển
* Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế và đáp ứng yêu cầu cách mạng công nghiệp 4.0
Công tác đào tạo nghề cho thanh niên mục tiêu trước hết phải việc rèn luyện bản lĩnh, lập trường, giáo dục chính trị, tư tưởng sau mới đào tạo về tri thức, nghiệp vụ, chuyên môn, tay nghề Đào tạo nghề cho thanh niên mà không đáp ứng được nhu cầu thị trường, nhu cầu của doanh nghiệp, không phù hợp với đặc điểm kinh tế- xã hội mỗi địa phương thì việc đào tạo cũng không có nghĩa bởi lẽ việc đào tọa chưa gắn với giải quyết việc làm Việc xác định được cơ cấu đào tạo nghề phù hợp sẽ góp phần giảm sự mất cân bằng cung - cầu lao động trên thị trường, không gây lãng phí nguồn lực của
xã hội Đồng thời, qua các hình thức đào tạo nghề tập trung cho đối tượng lao động trẻ có thể đáp ứng được yêu cầu của sản xuất - kinh doanh và làm việc tại địa phương
Nhà nước quản l chương trình và nội dung đào tạo khuyến khích các
cơ sở đào tạo chuẩn hoá chương trình và đẩy lên ngang tiêu chuẩn quốc tế,
có tác dụng gi p cho việc hội nhập, từng bước đáp ứng nguồn nhân lực cả về
số lượng và chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế
1.1.4.2 Các yếu tố tác động đến việc thực thi chính sách đào tạo nghề cho thanh niên
Trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên diễn ra trong một thời gian dài, trong không gian rộng lớn bao gồm các
Trang 3426 tỉnh, thành phố có điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa khác nhau trong cả nước
và liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân Vì thế kết quả tổ chức thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên cũng sẽ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu
tố, có thể chia thành 2 nhóm như sau:
* Yếu tố khách quan:
Điều kiện tự nhiên, phong tục tập quán
Đối với các địa phương, phong tục của làng, xã, họ tộc có ảnh hưởng đáng kể đến tạo việc làm cho thanh niên nhất là địa bàn nông thôn, nó tác động đến việc chọn nghề nghiệp cho thanh niên Đặc biệt là các khu vực nông thôn, nhiều gia đình gắn việc học đại học thì mới mở mang, rạng danh dòng
họ và chỉ có học đại học mới có thể thành công trong cuộc sống hoặc có gia đình cho rằng phải theo học các trường sĩ quan, sư phạm để được nhà nước
hỗ trợ đào tạo Tư tưởng này, đã khiến cho việc lựa chọn nghề nghiệp của các
em bị lệch lạc, tạo nên xu thế chạy theo bằng cấp, thiếu thực tế
Vị trí địa l nước ta khá đa dạng, có nơi có điều kiện thuận lợi về tài nguyên thiên nhiên, có nhiều nơi lại có điều kiện khắc nghiệt, khó khăn ảnh hưởng đến lao động sản xuất; việc này dẫn đến nhu cầu về nguồn nhân lực phân bổ không đều cả về số lượng lẫn ngành nghề theo khu vực; đòi hỏi việc quy hoạch phải chi tiết, khoa học về chính sách đào tạo nghề một cách lâu dài
và bền vững
Nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất
Nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa- Hiện đại hóa, phải đầu tư cho nhiều ngành, nhiều lĩnh vực của xã hội trong khi nguồn lực của quốc gia
có giới hạn Do vậy, quá trình đầu tư cho chính sách dào tạo nghề nói chung, chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nói riêng khó tránh khỏi những hạn chế về nguồn lực tài chính, cân bằng giữa nhu cầu và khả năng đáp ứng
Cơ sở vật chất và trang thiết bị đào tạo nghề là yếu tố hết sức quan trọng,
nó tác động trực tiếp đến chất lượng đào tạo nghề, ứng với mỗi nghề dù đơn
Trang 3527 giản hay phức tạp cũng cần phải có các máy móc, trang thiết bị chuyên dùng phục vụ cho giảng dạy và học tập Nó gi p cho học viên có điều kiện thực hành để hoàn thiện kỹ năng
Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề càng tốt, càng hiện đại bao nhiêu thì người học viên càng thích ứng, vận dụng nhanh chóng với sản xuất trong thực tế bấy nhiêu
Tác động của nền kinh tế thị trường
Xu hướng “quốc tế hóa- toàn cầu hóa” là xu hướng chung của xã hội hiện đại, nó tác động đến đến mọi quốc gia, dân tộc và Việt Nam cũng không nằm ngoại lệ Trong những điều kiện thuận lợi, Việt Nam đã thu h t được nhiều nguồn đầu tư và tiếp thu tinh hoa khoa học kỹ thuật của Nhân loại, tuy nhiên khi kinh tế thế giới gặp khủng hoảng hoặc chiến tranh thương mại giữa những siêu cường nổ ra cũng gây ra nhiều khó khăn, thách thức cho các nước đang phát triển như nước ta
Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng công nghệ 4.0, người chiến thắng là người có thông tin nhanh; do vậy, đồi hỏi mỗi công đoạn, mỗi ngành nghề đều phải có sự nhanh nhạy, có yếu tố công nghệ và thông tin cũng đặt ra nhiều thách thức đối với chính sách đào tạo nghề hiện nay
* Yếu tố chủ quan:
Chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Đảng xây dựng chủ trương, đường lối, Nhà nước cụ thể hóa đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Khi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phù hợp với điều kiện thực tế và tốc độ phát triển về việc làm sẽ tạo điều kiện giải quyết hiệu quả vấn đề lao động, việc làm và ngược lại
Năng lực của cán bộ trong thực thi chính sách
Năng lực thực thi chính sách của cán bộ trong bộ máy quản l Nhà nước có vai trò quyết định đến kết quả tổ chức thực thi chính sách Năng lực thực thi của cán bộ là thước đo bao gồm nhiều tiêu chí phản ánh về đạo đức
Trang 3628 công vụ, về năng lực xây dựng kế hoạch, thiết kế tổ chức, năng lực phân tích,
dự báo để có thể chủ động ứng phó với những tình huống phát sinh trong tương lai
Năng lực của cán bộ thực thi chính sách đào tạo nghề cho thanh niên cũng giữ vị trí vô cùng quan trọng, là yếu tố quyết định đến kết quả tổ chức thực thi chính sách Nếu năng lực của cán bộ thực thi chính sách yếu kém sẽ đưa ra những kế hoạch dự kiến không sát thực tế, làm lăng phí nguồn lực huy động, giảm hiệu lực, hiệu quả của chính sách, thậm chí còn làm biến dạng chính sách trong quá trình thực hiện
Đội ngũ giáo viên đào tạo nghề đào tạo nghề:
Giáo viên đào tạo nghề là những người truyền đạt kiến thức, kỹ năng,
kỹ xảo, kinh nghiệm của mình cho các học viên trên cơ sở thiết bị đào tạo Vì vậy, năng lực giáo viên đào tạo nghề tác động trực tiếp lên chất lượng công tác đào tạo nghề Đào tạo nghề có những nét khác biệt so với các cấp học khác trong nền giáo dục quốc dân, đó là ngành nghề đào tạo rất đa dạng, học viên và nghề học có rất nhiều cấp trình độ khác nhau Sự khác biệt đó làm cho đội ngũ giáo viên đào tạo nghề cũng rất đa dạng với nhiều cấp trình độ khác nhau Năng lực của giáo viên đào tạo nghề tốt thì mới có thể đào tạo được các học viên được tốt, đảm bảo được chất lượng của các cơ sở đào tạo
Trình độ giáo viên còn được phản ánh thông qua việc hoạch định, xây dựng chương trình đào tạo nghề; chương trình đào tạo nghề phải khoa học, phải cân đối giữa l thuyết và thực hành; phù hợp trình độ từng loại đối tượng đào tạo và đề cao đạo đức nghề nghiệp Chương trình đào tạo được coi là kim chỉ nam để tiến hành đào tạo nghề cho người lao động, để họ dễ tiếp thu kiến thức cũng như các kỹ năng, kỹ xảo của nghề mình theo học
1.2 Thực thi chính sách đào tạo nghề cho thanh niên:
1.2.1 Khái niệm thực thi chính sách cho thanh niên
Để hiểu thế nào là thực thi chính sách đào tạo nghề ta cần phải làm rõ các khái niệm sau:
Trang 3729
- Thực thi chính sách công
Theo tác giả có thể hiểu: Thực thi chính sách công là quá trình đưa
chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc triển khai, tổ chức, quản lý thực hiện các nhiệm vụ của chính sách nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách công
Thực thi chính sách là một khâu cấu hành chu trình chính sách, là toàn
bộ quá trình chuyển hóa chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản l nhằm đạt được mục tiêu nhất định.Thực hiện chính sách là khâu là bước đặt biệt quan trọng trong chu trình chính sách có nhiệm vụ hiện thực hóa chính sách, đưa chính sách và đời sống
Thanh niên là một bộ phận rất quan trọng của xã hội; C.Mác và
Ph.Ăngghen coi thanh niên là một lực lượng cách mạng hùng hậu, có vai trò quan trọng trong cách mạng và xem xét vấn đề thanh niên luôn gắn bó với giai cấp công nhân và đảng tiên phong Do những quy luật phát triển khách quan của xã hội, thanh niên bao giờ cũng giữ vai trò quan trọng trong việc
kế thừa và phát triển những thành tựu của người đi trước
Thanh niên theo Luật Thanh niên năm 2005 quy định là những người công dân Việt Nam có độ tuổi từ đủ 16 đến 30 tuổi
Như vậy:
Đào tạo nghề cho thanh niên là hoạt động trang bị năng lực (tri thức,
kỹ năng và thái độ) hành nghề cho đối tượng là thanh niên để nhóm người này có thể tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm đảm bảo nhu cầu cuộc sống
Thực thi chính sách đào tạo nghề cho thanh niên là một khâu của chu trình chính sách đào tạo nghề, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của Nhà Nước về đào tạo nghề cho thanh niên vào trong thực tế thông qua việc ban hành văn bản, dự án, chương trình thực thi chính sách và tổ chức thực hiện nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách do Nhà nước đề ra
Trang 3830
1.2.2 Nội dung chính sách đào tạo nghề cho thanh niên:
Nhà nước là chủ thể quản l xã hội, quản l chung mọi hoạt động kinh
tế - xã hội, trong đó có hoạch định chính sách về đào tạo nghề cho thanh niên Thông qua các chính sách Nhà nước tạo cơ chế và tận dụng mọi nguồn lực để chức đào tạo nghề, tạo việc làm cho người lao động Nhà nước quản
l hành chính, quy định các các quy trình, thủ tục trong quá trình quản l đào tạo nghề cho người lao động Nhà nước ban hành chính sách, tạo cơ chế,
bố trí nguồn lực tài chính, xã hội hóa nguồn lực; huy động sự tham gia của doanh nghiệp; các nghệ nhân; các tổ chức trong xã hội cùng tham gia thực hiện chính sách đào tạo nghề Trong mỗi một giai đoạn nhất định, nhà nước lựa chọn vấn đề ưu tiên để có chính sách ưu đãi nhằm th c đẩy việc thực hiện chính sách để đạt mục tiêu quản l của mình Chính sách đào tạo nghề cho thanh niên cũng vậy, Nhà nước đã đặt thanh niên vào vị trí trung tâm, trong mối quan hệ với nhiều chính sách khác có quan hệ mật thiết với sự phát triển kinh tế -xã hội của đất nước; do đó, chính sách đào tạo nghề cho thanh niên được quy định cụ thể, rõ ràng trong các Nghị định, thông tư, và các văn bản hướng dẫn thi hành
Trong quá trình nghiên cứu l luận và thực tiễn cũng như tính hiệu lực, hiệu quả của quá trình thực hiện chính sách về đào tạo nghề cho thanh niên, tác giả nghiên cứu nội dung cụ thể sau:
Thứ nhất, ban hành và tổ chức thực hiện các chiến lược, chính sách, chương trình đào tạo nghề cho thanh niên
Nghiên cứu, dự báo và xây dựng kế hoạch về tình hình đào tạo nghề
và đào tạo làm cho thanh niên; rà soát các văn bản pháp luật có liên quan đến chính sách về đào tạo nghề cho thanh niên để điều chỉnh, bổ sung, đồng thời tiếp tục ban hành cơ chế, chính sách về đào tạo nghề, định hướng nghề nghiệp cho thanh niên
Trang 3931 Nhà nước ban hành các chương trình, dự án về đào tạo nghề phải gắn với việc giải quyết việc làm cho lao động, gắn với đào tạo nghề ở các địa phương triển khai dự án; trong đó, lực lượng lao động chủ yếu là thanh niên
Nhà nước ban hành chính sách, cơ chế cụ thể để tạo điều kiện cho thanh niên, hoặc doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác do thanh niên làm chủ các dự án, công trình có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước với những điều kiện ưu đãi nhất định Có thể nói đến các chính sách cụ thể như sau:
Nghị quyết 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 nhấn mạnh “Thực hiện tốt chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn, nhất là lao động nghèo; ưu tiên nguồn lực đầu tư cơ sở trường, lớp học, thiết bị, đào tạo giáo viên dạy nghề ” Như vậy, có thể xác định vấn đề của chính sách đào tạo nghề cho thanh niên là tạo cơ hội để thanh niên tham gia các hình thức đào tạo nghề ngắn hạn, dài hạn phù hợp thông qua các cơ sở đào tạo nghề, truyền nghề truyền thống Sau khi thanh niên có nghề thì cơ hội tìm kiếm việc làm trở nên dễ dàng hơn và từng bước vươn lên ổn định cuộc sống
Thứ hai, thông tin về lao động và việc làm cho thanh niên
Tổ chức các hình thức tuyên truyền, phổ biến các chủ trương chính sách và giáo dục pháp luật về việc làm đến với thanh niên Bởi lẽ đào tạo nghề và giải quyết việc làm có mối quan hệ mật thiết với nhau, việc thực hiện tốt chính sách này sẽ là điều kiện để thực hiện chính sách kia Nếu như đào tạo nghề tốt thì sẽ tăng cơ hội tìm kiếm việc làm cho thanh niên Trong bối cảnh hiện nay, vấn đề giải quyết việc làm nói chung, giải quyết việc làm cho thanh niên nói riêng là vấn đề nóng bỏng được Chính phủ các nước quan tâm, th c đẩy thực hiện Việt Nam là quốc gia đang phát triển, lực lượng lao động trong độ tuổi thanh niên chiếm tỷ lệ cao Các chính sách kinh tế - xã hội cũng như những mục tiêu tạo việc làm cho thanh niên, bộ đôi, công an xuất ngũ Nâng cao nhận thức cho thanh niên về việc làm, nghề nghiệp nhằm làm thay đổi định hướng nghề nghiệp, định hướng giá trị xã hội cho lao động trẻ
Trang 4032 Kết nối cung cầu lao động; cập nhật thông tin tìm kiếm việc làm thông qua truyền thông trực tiếp hoặc giới thiệu trên các trang Web thông tin về lao động, việc làm Một mặt, gi p người lao động tìm kiềm việc làm phù hợp; qua đó, từng bước góp phần đảm bảo sự cân bằng giữa cung - cầu lao động trên thị trường
Thứ ba, đào tạo nghề cho thanh niên gắn với phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương:
Có cơ chế chính sách tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh, an toàn, hấp dẫn để thu h t đầu tư, bởi đầu tư của doanh nghiệp tác động lớn đến việc tạo việc làm cho xã hội và cho thanh niên nói riêng Khai thác có hiệu quả thế mạnh, tiềm năng của địa phương, quá trình khuyến khích phát triển các ngành nghề thu h t nhiều lao động của địa phương
Chuyển dịch cơ cấu lao động góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng lực lượng lao động phi nông nghiệp, giảm lực lượng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp
Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; phát triển thế mạnh của từng địa phường gắn với việc phát triển các ngành nghề truyền thống với phương thức sản xuất hàng hóa, tạo thương hiệu của ngành nghề truyền thống Đây là thế mạnh đặc thù của địa phương trong việc tạo thêm việc làm mới cho thanh niên
Xây dựng các mô hình phát triển kinh tế Cần có các chính sách tín dụng, tài chính, đất đai tạo điều kiện thuận lợi, cơ chế đảm bảo để khuyến khích thanh niên vươn lên làm giàu chính đáng, vươn lên khẳng định sức trẻ trong việc tạo dựng doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ để có thể tự tạo việc làm từ việc phát triển sản xuất kinh doanh, làm kinh tế trang trại, kinh tế hộ gia đình, kinh tế tập thể, mở doanh nghiệp vừa và nhỏ