Từ thực tế trên và những nhận thức thu được, đồng thời qua thực tiễn giảng dạy môn Vật lí ở trường THPT chúng tôi lựa chọn đề tài theo hướng “ Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khá
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA VẬT LÝ -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lí do chọn đề tài: 4
2 Mục đích nghiên cứu đề tài 5
3 Giả thiết khoa học 5
4 Đối tượng nghiên cứu và nội dung nghiên cứu 6
5 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 6
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Đóng góp của đề tài 6
8 Bố cục của luận văn: 7
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BIÊN SOẠN CÁC CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ 11 8
1.1 Cơ sở lí luận về về việc biên soạn câu hỏi trắc nghiệm 8
1.1.1 Khái niệm về phương pháp trắc nghiệm 8
1.1.2 Đánh giá ưu điểm và nhược điểm của phương pháp trắc nghiệm 8
1.1.3.Vấn đề sử dụng hiệu quả phương pháp trắc nghiêm trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh 10
1.2 Dạy học các bài tập vật lí 11
1.2.1 Định nghĩa bài tập vật lí trong dạy học 11
1.2.2 Mục đích sử dụng bài tập vật lí trong dạy học 11
1.2.3 Phân loại bài tập vật lí: 11
1.2.4 Phương pháp giải bài tập vật lí: 14
1.2.5 Lựa chọn và sử dụng bài tập trong dạy học vật lí: 16
1.3 Sử dụng thư viện câu hỏi và biên soạn câu hỏi theo các cấp độ tư duy 17
1.3.1 Thư viện câu hỏi và biên soạn câu hỏi 17
1.3.2 Hoạt động tương ứng với các cấp độ tư duy: 19
1.4 Hướng dẫn xây dựng thư viên câu hỏi và bài tập 21
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CẤU TRÚC CHƯƠNG TRÌNH VÀ PHÂN LOẠI BÀI TẬP CHƯƠNG CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ 24
2.1 Phân tích nội dung và cấu trúc chương trình vật lí 11 phổ thông trung học ở chương “ Cảm ứng điện từ” 24
Trang 32.2 Các chuẩn môn học (theo chuẩn của bộ GD-ĐT ban hành) 28
2.2.1 Chuẩn kiến thức, kĩ năng: 28
2.2.2 Mục tiêu chi tiết: 30
2.3 Phân loại bài tập chương “Cảm ứng điện từ” vật lí 11 nâng cao 35
DẠNG I:XÁC ĐỊNH TỪ THÔNG, ĐỘ BIẾN THIÊN TỪ THÔNG, CẢM ỨNG TỪ XUẤT HIỆN TRONG KHUNG DÂY DẪN 35
DẠNG 2: XÁC ĐỊNH CHIỀU DÒNG ĐIỆN CẢM ỨNG DỰA VÀO ĐỊNH LUẬT LENTZ 40 DẠNG 3: TÍNH SUẤT ĐIỆN ĐỘNG CẢM ỨNG DỰA VÀO ĐỊNH LUẬT FARADAY 45
DẠNG 4: SUẤT ĐIỆN ĐỘNG CẢM ỨNG XUẤT HIỆN TRONG ĐOẠN DÂY DẪN CHUYỂN ĐỘNG CẮT CÁC ĐƯỜNG SỨC TỪ 50
DẠNG 5: DÒNG ĐIỆN FU-CÔ 55
DẠNG 6: HIỆN TƯỢNG TỰ CẢM 58
DẠNG 7: NĂNG LƯỢNG TỪ TRƯỜNG 62
CHƯƠNG III HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN NHIỀU LỰA CHỌN CHƯƠNG CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ VẬT LÍ 11 NÂNG CAO 65
3.1 Bài tập trắc nghiệm chương “Cảm ứng điện từ” 65
DẠNG 1: TÍNH TỪ THÔNG, ĐỘ BIẾN THIÊN TỪ THÔNG, CẢM ỨNG TỪ XUẤT HIỆN TRONG KHUNG 65
DẠNG 2: XÁC ĐỊNH CHIỀU CỦA DÒNG ĐIỆN CẢM ỨNG 69
DẠNG 3: TÍNH SUẤT ĐIỆN ĐỘNG CẢM ỨNG DỰA VÀO ĐỊNH LUẬT FA-RA-ĐÂY 76
DẠNG 4: SUẤT ĐIỆN ĐỘNG CẢM ỨNG TẠO BỞI ĐOẠN DÂY DẪN CHUYỂN ĐỘNG CẮT CÁC ĐƯỜNG SỨC TỪ 81
DẠNG 5: DÒNG ĐIỆN FU-CÔ 94
DẠNG 6: HIỆN TƯỢNG TỰ CẢM 96
DẠNG 7: NĂNG LƯỢNG TỪ TRƯỜNG 102
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Ngày nay, khoa học công nghệ thông tin phát triển rất mạnh mẽ Công nghệ thông tin có rất nhiều ứng dụng trong cuộc sống Trong giảng dạy, việc ứng dụng công nghệ thông tin ( CNTT) đã đem đến nhiều lợi ích mà cụ thể là kết quả học tập của học sinh Quan điểm của các phương pháp dạy học là dạy học bằng hoạt động, thông qua hoạt động, học sinh bằng các hoạt động tích cực, tự lực của mình mà chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kĩ năng, phát triển năng lực sáng tạo Vai trò của giáo viên trong dạy học là
tổ chức, hướng dẫn giúp đỡ học sinh thực hiện tốt các hoạt động học tập Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX và nghị quyết trung ương của Đảng đã có những khẳng định rõ ràng về vấn đề mà giáo dục phải chăm lo: “ Đổi mới phương pháp dạy học ở tất
cả các cấp bậc học, áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề…” Nhiệm vụ hiện nay của sự nghiệp giáo dục đào tạo là phải góp phần quyết định vào việc bồi dưỡng cho thế hệ trẻ tiềm năng trí tuệ, tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề để thích ứng được với thực tiễn và cuộc sống hiện tại
Muốn đổi mới phương pháp dạy học, trước hết cần phải đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh Trong dạy học, kiểm tra đánh giá tốt sẽ phản ánh đầy đủ việc dạy của thầy và việc học của trò, người dạy hoàn thiện quá trình dạy, người học tự đánh giá lại bản thân
Thực tế ở nước ta cho thấy rằng, đa số học sinh sau khi tốt nghiệp phổ thông chưa đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống bởi chất lượng dạy học và giáo dục còn yếu kém
Sự yếu kém do nhiều nguyên nhân, trong đó một nguyên nhân quan trọng là giáo viên đang còn xem nhẹ vấn đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Trang 5Các bài kiểm tra viết được chia làm hai loại: loại trắc nghiệm tự luận và loại trắc nghiệm khách quan Đối với trắc nghiệm tự luận, đây là loại mang tính truyền thống, được sử dụng một cách phổ biến trong một thời gian dài từ trước tới nay Ưu điểm loại này là nó cho học sinh cơ hội phân tích và tổng hợp dữ kiện theo theo lời lẽ riêng của mình, nó có thể dùng để kiểm tra trình độ tư duy ở trình độ cao, nhưng hạn chế của nó cũng dễ nhận ra là nó chỉ cho khảo sát một số ít kiến thức trong thời gian nhất định Hơn nữa việc chấm điểm loại này đòi hỏi nhiều thời gian chấm bài, kết quả thì không có ngay, thiếu khách quan, khó ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực và do đó trong một số trường hợp không xác định được thực chất trình độ nắm bài của học sinh Trong khi đó lợi thế của phương pháp trắc nghiệm khách quan có thể khảo sát trên một diện rộng, một cách nhanh chóng, khách quan chính xác Nó cho phép xử lí kết quả theo nhiều chiều từng học sinh cũng như tổng thể cả lớp học hoặc một trường học Nhưng việc biên soạn một hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan là không đơn giản, đòi hỏi sự quan tâm nhiều người, đặc biệt là các nhà giáo, phải qua nhiều thử nghiệm mất nhiều thời gian Các sách cung cấp câu hỏi trắc nghiệm về các môn học đã và đang xuất hiện nhiều trên thị trường, nhưng phần lớn không đảm bảo chất lượng Nguyên nhân quan trọng là
do cộng đồng giáo dục và trong xã hội nước ta chưa có nhiều người hiểu biết về phương pháp trắc nghiệm khách quan
Từ thực tế trên và những nhận thức thu được, đồng thời qua thực tiễn giảng dạy
môn Vật lí ở trường THPT chúng tôi lựa chọn đề tài theo hướng “ Xây dựng hệ thống
câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng để đánh giá kiến thức học sinh trong dạy học vật lí 11 chương “ Cảm ứng điện từ”
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan cho chương “ Cảm ứng điện từ” ở lớp 11 nâng cao nhằm đáp ứng yêu cầu của việc đánh giá kết quả học tập của học sinh THPT
3 Giả thiết khoa học
Trang 6Nếu có một hệ thống câu hỏi được soạn thể một cách khoa học theo phương pháp trắc nhiệm khách quan nhiều lựa chọn, phù hợp với mục tiêu dạy học và nội dung kiến thức Vật lí chương “ Cảm ứng điện từ” của lớp 11 nâng cao THPT thì có thể đánh giá khách quan mức độ chất lượng kiến thức chương “ Cảm ứng điện từ” của học sinh góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Vật lí ở trường THPT
4 Đối tượng nghiên cứu và nội dung nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng sử dụng phương pháp trắc nghiệm trong việc kiểm tra đánh giá học sinh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung kiến thức chương “ Cảm ứng điện từ” và đề tài phương pháp trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn để soạn thảo hệ thống câu hỏi nhằm kiểm tra đánh giá chất lượng kiến thức của chương
5 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở trường Trung học phổ thông
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và kĩ thuật xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
- Nghiên cứu nội dung chương trình vật lí 11 nói chung và chương “Cảm ứng điện từ” nói riêng Trên cơ sở đó xác định mức độ của mục tiêu nhận thức ứng với từng đơn
vị kiến thức mà học sinh cần đạt được
- Vân dụng cơ sở lí luận xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn chương “Cảm ứng điện từ” lớp 11 nâng cao trung học phổ thông
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp chọn lọc, phân tích, tổng hợp tài liệu
- Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Giải cụ thể các bài tập trong hệ thống bài trắc nghiệm
Trang 77.1 Đóng góp về mặt khoa học:
Đề tài nghiên cứu, hệ thống các phương pháp, cách soạn một bài trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn và sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan để đánh giá kết quả học tập chương “Cảm ứng điện từ” của học sinh 11 Trung học phổ thông
8 Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lí luận về biên soạn các câu hỏi trắc nghiệm khách quan chương trình Vật lí 11
Chương II: Phân tích cấu trúc chương trình và phân loại bài tập chương cảm ứng điện từ
Chương III: Soạn thảo hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn chương “Cảm ứng điện từ” Vật lí 11 nâng cao
KẾT LUẬN VÀ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BIÊN SOẠN CÁC CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ 11
1.1 Cơ sở lí luận về về việc biên soạn câu hỏi trắc nghiệm
1.1.1 Khái niệm về phương pháp trắc nghiệm
Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về trắc nghiệm
Theo từ điển Webster’s Collegiate cho rằng: “ Trắc nghiệm là bất cứ một loại câu hỏi hay bài tập hoặc một phương tiện nào đó để đo kỉ xảo, tri thức, trí tuệ năng lực hay tài năng của một các nhân hay nhóm”
F.S Freeman cho rằng: “ Trắc nghiệm tâm lí là một công cụ đã được chuẩn hóa dùng để đo lường khách quan một hay nhiều khía cạnh của nhân cách hoàn chỉnh qua những mẫu trả lời bằng ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ hay bất cứ một hình thức hành vi nào khác”
Trong các định nghĩa đó, thì định nghĩa của Freeman hay hơn cả và đã được nhiều người chấp nhận vì nếu được bản chất của phương pháp trắc nghiệm đồng thời mô tả được hình thức thể hiện của trắc nghiệm điển hình, giúp chúng ta nhận diện được phương pháp trắc nghiệm
1.1.2 Đánh giá ưu điểm và nhược điểm của phương pháp trắc nghiệm
- Ưu điểm
Ưu điểm nổi bật câu hỏi trắc nghiệm giáo dục là nhanh chóng, tốn ít thời gian Soạn thảo một bài trắc nghiệm giáo dục thì công phu và lâu nhưng chấm rất nhanh và thuận lợi
Đảm bảo được tính khách quan trong việc đánh giá Đây là ưu điểm cơ bản của trắc nghiệm giáo dục Sự đánh giá đó không phụ thuộc vào quan hệ giữa người chấm thi
và thí sinh, tâm trạng của người chấm thi và các loại kích thích không ảnh hưởng đến kết quả của bài làm Trong thời gian làm trắc nghiệm, các thí sinh đều có những điều kiện khác nhau Một bài trắc nghiệm khách quan bao gồm những câu hỏi mà tất cả mọi người
Trang 9giám khảo đều có thể trả lời giống nhau và các câu hỏi đó phải được định sẵn Vì vậy bài trắc nghiệm khách quan thường được chấm bằng bảng đục lỗ hay bằng máy
Ưu điểm nổi bậc thứ ba đó là khảo sát được một giới hạn rộng về nội dung của một môn học hay bài học Mặc khác, do phạm vi trí thức được kiểm tra bằng trắc nghiệm khách quan khá rộng nên có thể tránh được trường hợp học sinh may mắn “ trúng tủ”, tình trạng “học tủ”, học lệch được hạn chế, khắc phục
Thứ tư, trắc nghiệm giáo dục gây được hứng thú và tính tích cực học tập của học sinh Vì là một hình thức kiểm tra mới so với hình thức cổ truyền, và chủ yếu là tính chất “ gọn nhẹ” có kết quả tức thời của việc làm bài trắc nghiệm mà học sinh hào hứng với việc làm bài và do đó thúc đẩy được việc học tập và tự học
Có nhiều cách sắp đặt và tổ chức bài thi trắc nghiệm sao cho học sinh có thể biết được kết quả ngay sau khi làm bài xong Chẳng hạn như niêm yết những câu trả lời đúng ngay sau khi học sinh ra khỏi lớp Như vậy có thể thực hiện được tính công khai, công bằng và dân chủ
- Nhược điểm
Trước hết trắc nghiệm tâm lí nói chung và trắc nghiệm giáo dục nói riêng chỉ cho
ta biết kết quả chứ không cho ta biết quá trình dẫn đến kết quả đó Do vậy không tránh khỏi những trường hợp học sinh trả lời bằng cách đoán mò, hú họa ngẫu nhiên Các phương pháp truyền thống thì không thể làm như vậy Đây là một nhược điểm lớn cần được khắc phục Để khắc phục nhược điểm này, người ta đã tính toán các kết quả bằng cách không chỉ tính đến số lượng những câu trả lời đúng mà còn tính đến cả sự chênh lệch giữa số câu sai cũng như cả những câu trả lời đưa ra để lựa chọn
Thứ hai, trắc nghiệm chỉ tính đến những chỉ số định lượng những đặc điểm tính mà không biết đến các chỉ số định lượng được dùng để so sánh cả mức độ tri thức lẫn trí tuệ con người
Trắc nghiệm là một phương pháp dễ sử dụng nhưng lại mang tính tính khoa học rất cao và công phu trong khâu soạn thảo vì nó là phương pháp phức tạp về mặt lí thuyết
Trang 10Do đó phải có đội ngũ chuyên gia có trình độ chuyên môn, có kĩ thuật soạn thảo mới làm được
Một hạn chế lớn của phương pháp này đó là: trắc nghiệm không tính đến sự phát triển của năng lực nói riêng, tâm lí nói chung Trắc nghiệm làm giảm thiểu các năng lực trí tuệ, dễ làm cho học sinh trở nên xơ cứng, máy móc, không phát triển tư duy đặc biệt
là tư duy sáng tạo
Ngoài những nhược điểm trên thì phương pháp kiểm tra bằng trắc nghiệm không
có khả năng phát triển ngôn ngữ viết, do đó giáo viên không biết được tư tưởng, tình cảm, thái độ của học sinh về vấn đề nêu ra Đây là một ngược điểm lớn cần phải được khắc phục
Trắc nghiệm có khả năng mang lại kết quả khách quan, nhưng không phải là một phương pháp vạn năng, không thể thay thế các phương pháp cổ truyền mà cần sử dụng phối hợp với chúng một cách hợp lí Cần phải đa dạng hóa các loại trắc nghiệm, chú trọng những câu hỏi mang tính tư duy, hạn chế câu hỏi tái hiện
1.1.3.Vấn đề sử dụng hiệu quả phương pháp trắc nghiêm trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
- Mức độ phức tập khi viết câu hỏi và tổ hợp đề
Theo Bloom (1956) cấu trúc kết quả học tập được phân chia thành 6 mức độ nhận thức: đánh giá, tổng hợp, phân tích, áp dụng, hiểu, nhận biết Để đề thi đánh giá được các mức độ nhận thức như vậy là một vấn đề phức tạp, cho nên trong khi soạn câu hỏi trắc nghiệm cần phải chuẩn bị hàng tháng, hàng năm, phải chuẩn bị kĩ lưỡng, có thử nhiệm trước khi đưa ra sử dụng thì mới có thể đảm bảo được các mức độ nhận thức như vậy
- Phân tích và đánh giá các câu hỏi
Để đảm bảo hiệu quả sử dụng phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh thì cần phải phân tích, đánh giá các câu hỏi Do không chú
ý đến việc phân tích các câu hỏi, không có thử nghiệm khi đưa ra sử dụng nên một số
Trang 11bài trắc nghiệm quá dễ hoặc quá khó so với năng lực của học sinh Đề quá dễ dẫn đến kết quả làm bài của học sinh quá tốt nên bị xã hội phê phán là chạy theo thành tích, không phản ánh đúng thực lực của học sinh Đề quá khó dẫn đến kết quả làm bài của học sinh quá kém cũng bị xã hội phê phán là chất lượng giáo dục thấp Tuy nhiên đánh giá chất lượng giáo dục mà chỉ nhìn vào điểm số là cách đánh giá rất thiếu chính xác vì điểm số phụ thuộc rất nhiều vào độ khó của đề thi
1.2 Dạy học các bài tập vật lí
1.2.1 Định nghĩa bài tập vật lí trong dạy học
Trong thực tế dạy học, bài tập vật lí được hiểu là một vấn đề đặt ra đòi hỏi phải giải quyết nhờ những suy luận logic, những phép toán và thí nghiệm dựa trên cơ sở các định luật và các phương pháp vật lí Hiểu theo nghĩa rộng, mỗi vấn đề xuất hiện do nghiên cứu tài liệu giáo khoa cũng chính là một bài toán đối với học sinh
1.2.2 Mục đích sử dụng bài tập vật lí trong dạy học
Rèn luyện tư duy, bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho học sinh
Phương pháp ôn tập củng cố kiến thức một cách sinh động và có hiệu quả
Rèn luyện những đức tính: tự lập, cẩn thận, kiên trì, tinh thần vượt khó
Phương tiện để kiểm tra đánh giá kiến thức kỹ năng của học sinh
1.2.3 Phân loại bài tập vật lí:
- Bài tập định tính:
Bài tập định tính là những bài tập mà khi giải, học sinh không cần phải thực hiện các phép tính phức tạp hay chỉ phải làm những phép tính đơn giản, có thể tính nhẩm được Muốn giải được những bài tập định tính, học sinh phải thực hiện những phép suy luận loogic, do đó phải hiểu rõ bản chất của các khái niệm, định luật vật lí và nhận biết được
Trang 12biểu hiện của chúng trong những trường hợp cụ thể Đa số các bài tập định tính yêu cầu học sinh giải thích hoặc dự đoán một hiện tượng xảy ra rong những điều kiện xác định Nhằm mục đích: tăng thêm hứng thú, phát triển óc quan sát, là phương tiện tốt để phát triển tư duy của học sinh
- Bài tập tính toán:
Bài tập tính toán là những bài tập mà muốn giải chúng, ta phải thực hiện một loạt phép tính và kết quả thu được một đáp số định lượng, tìm giá trị của một số đại lượng vật
lí Có thể chia làm hai loại: bài tập tập dượt và bài tập tổng hợp:
Bài tập tính toán tập dượt
Bài tập tính toán tập dượt là những bài tập cơ bản, đơn giản, trong đó chỉ đề cập đến một hiện tượng, một định luật và sử dụng một vài phép tính đơn giản Những bài tập này
có tác dụng củng cố kiến thức cơ bản vừa học làm cho học sinh hiểu rõ ý nghĩa của các định luật và các công thức biễu diễn chúng, sử dụng các đơn vị vật lí và thói quen cần thiết để giải bài tập phức tạp hơn
Bài tập tính toán tổng hợp
Bài tập tính toán tổng hợp là bài tập muốn giải nó thì phải vận dụng nhiều khái niệm, định luật, dùng nhiều công thức Những kiến thức cần sử dụng trong việc giải bài tập tổng hợp có thể là những kiến thức đã học trong nhiều bài trước Loại bài tập này có tác dụng đặc biệt giúp học sinh đào sâu, mở rộng kiến thức, thấy rõ những mối liên hệ khác nhau giữa các phần của chương trình vật lí, tập cho học sinh biết phân tích những hiện tượng thực tế phức tạp thành những phần đơn giản tuân theo một định luật xác định Dạng bài tập này có ưu điểm lớn là làm sâu sắc các kiến thức của học sinh, rèn luyện cho học sinh vận dụng phương pháp nhận thức đặc thù của Vật lí đặc biệt phương pháp suy luận Toán học
Tuỳ theo phương pháp Toán học được vận dụng, bài tập tính toán được quy về các bài tập số học, đại số và hình học
Phương pháp số học: Phương pháp giải chủ yếu là phương pháp số học, tác động
Trang 13ẩn số
Phương pháp đại số: Dựa trên các công thức Vật lí, lập các phương trình từ đó
giải chúng để tìm ra ẩn số
Phương pháp hình học: Khi giải dựa vào hình dạng của đối lượng, các dữ liệu
cho theo hình vẽ để vận dụng quy tắc hình học hoặc lượng giác Ví dụ: khi giải bài
toán động học, tĩnh học, tĩnh điện, quang hình học
Trong các phương pháp trên, phương pháp đại số là phương pháp phổ biến nhất, quan trọng hơn cả vì vậy cần thường xuyên quan tâm rèn luyện cho học sinh
Khi giải các bài tập tính toán người ta còn sử dụng thủ pháp logic khác nhau, cũng
có thể coi là phương pháp giải: đó là phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp phân tích: Cần chia các bài toán đã cho thành các bài toán nhỏ hơn
(phân tích) lời giải bắt đầu từ đại lượng phải tìm hoặc từ việc tìm kiếm các quy luật từ
đó cho phép tìm lời giải trực tiếp cho bài toán, khi phân tích bài toán, học sinh sẽ tìm
ra quy luật đại lượng phải tìm với đại lượng khác, quá trình tiếp tục cho tới khi tìm ra câu trả lời cuối cùng
- Bài tập thí nghiệm:
Bài tập thí nghiệm là bài tập đòi hỏi phải làm thí nghiệm để kiểm chứng lời giải lí thuyết hoặc để tìm những số liệu cần thiết cho việc giải bài tập, những thí nghiệm này thường là những thí nghiệm đơn giản có thể làm ở nhà, với những dụng cụ đơn giản dễ tìm hoặc dễ tự làm được Để giải các bài tập thí nghiệm, đôi khi cũng cần đến những thí nghiệm đòi hỏi học sinh phải tới phòng thí nghiệm vật lí của trường phổ thông để thực hiện
Bài tập thí nghiệm có nhiều tác dụng tốt về cả 3 mặt giáo dưỡng, giáo dục và giáo dục kĩ thuật tổng hợp, đặc biệt giúp làm sáng tỏ mối quan hệ giữa lí thuyết và thực tiễn Cần lưu ý rằng: trong các bài tập thí nghiệm thì thí nghiệm chỉ cho các số liệu để giải bài tập chứ không cho biết tại sao hiện tượng lại xảy ra như thế Cho nên phần vận dụng các định luật vật lí để giải các hiện tượng mới là nội dung chính của bài tập thí nghiệm
Trang 14- Bài tập đồ thị:
Bài tập đồ thị là bài tập trong đó các số liệu được dùng làm dữ kiện để giải phải tìm trong các đồ thị cho trước hoặc ngược lại, đòi hỏi học sinh phải biễu diễn quá trình diễn biến của hiện tượng nêu trên trong bài tập bằng đồ thị Khi giải bài tập đó đòi hỏi học sinh
vẽ chính xác đồ thị biễu diễn các số liệu thực nghiệm
Ta đã biết: đồ thị là một hình thức để biểu đạt mối quan hệ giữa hai đại lượng vật lí, tương đương với cách biểu đạt bằng lời hay bằng công thức Nhiều khi nhờ vẽ được chính xác đồ thị biểu diễn các số liệu thực nghiệm mà ta có thể tìm được định luật vật lí mới Bởi vậy các bài tập luyện tập sử dụng đồ thị hoặc xây dựng đồ thị có vị trí ngày càng quan trọng trong dạy học vật lí
1.2.4 Phương pháp giải bài tập vật lí:
Việc rèn luyện học sinh biết cách giải bài tập một cách khoa học, đảm bảo đi đến kết quả một cách chắc chắn là một việc rất cần thiết, nó không những giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn rèn luyện kĩ năng suy luận chính xác, linh hoạt, làm việc một cách khoa học, có kế hoạch
Bài tập vật lí rất đa dạng, cho nên phương pháp giải cũng rất phong phú gồm các bước chính sau:
a Tìm hiểu đầu bài:
- Phân biệt đâu là ẩn số, đâu là dữ liệu
- Ghi vắn tắt các điều kiện, có thể sử dụng các kí hiệu, vẽ hình hoặc sơ đồ nếu cần thiết
- Dùng các ký hiệu để tóm tắt đầu bài
b Phân tích hiện tượng:
Trước hết là nhận biết những dữ kiện cho trong đầu bài có liên quan đến những khái niệm nào, qui tắc nào, định luật nào trong vật lí Xác định được các giai đoạn diễn biến của hiện tượng nêu trong đầu bài, mỗi giai đoạn bị chi phối bởi những đặc tính nào, định luật nào, cần phải hình dung rõ được bản chất của hiện tượng, tránh được sự mò mẫn,
Trang 15c Xây dựng lập luận:
Sử dụng hai phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp
- Phương pháp phân tích thì xuất phát từ ẩn số của bài tập, tìm ra mối quan hệ giữa
ẩn số đó với một đại lượng nào đó của một định luật đã xác định, diễn đạt bằng công thức, tiếp tục phát triển lập luận hoặc biến đổi cuối cùng tìm được một công thức chỉ chứa mối quan hệ giữa ẩn số và các dữ kiện đã cho
- Phương pháp tổng hợp thì trình tự làm ngược lại: điểm xuất phát không phải từ ẩn
số mà từ những dữ kiện của đầu bài, xây dựng lập luận hoăc biến đổi công thức diễn đạt mối quan hệ giữa các dữ kiện đã cho với các đại lượng khác để tiến dần đến công thức cuối cùng chứa ẩn số và các dữ kiện đã cho
Cả hai phương pháp đều có giá trị, nhiều khi chúng bổ sung cho nhau Tuy nhiên trong giai đoạn đầu của quá trình vận dụng kiến thức để giải bài tập thì phương pháp phân tích dễ thực hiện hơn đối với học sinh vì mục tiêu của lập luận rõ ràng hơn
d Giải bài tập:
Ở bước này cần hình thành một kế hoạch giải bài toán, bổ sung các điều kiện bằng các hằng số Vật lí hoặc các bảng số liệu, phân tích các đồ thị nếu có
Chuyển đơn vị đo các đại lượng Vật lí sang hệ số SI
Tìm quy luật liên hệ các đại lượng phải tìm và các đại lượng đã cho viết ra các công thức tương ứng
Lập các phương trình dưới dạng tổng quát hoặc lắp ráp các thí nghiệm cần thiết cho việc giải toán (bài toán thí nghiệm)
Giải phương trình để tìm ẩn số (hoặc phân tích các số liệu thực nghiệm)
Trang 161.2.5 Lựa chọn và sử dụng bài tập trong dạy học vật lí:
a Việc lựa chọn bài tập:
Trong dạy học bất cứ một đề tài nào, giáo viên cần phải lựa chọn một hệ thống bài tập thỏa mãn các yêu cầu sau:
Các bài tập phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp ( phạm vi và số lượng các kiến thức, kĩ năng cần vận dụng từ trong một đề tài đến trong nhiều đề tài, số lượng các đại lượng cho biết và các đại lượng phải tìm…) giúp học sinh nắm được các phương pháp giải các loại bài tập điển hình
Mỗi bài tập phải là một mắc xích trong hệ thống bài tập, đóng góp một phần nào đó vào việc củng cố, hoàn thiện và mở rộng kiến thức
Hệ thống bài tập cần bao gồm nhiều loại bài tập: bài tập giả tạo và bài tập có nội dung thực tế, bài tập luyện tập và bài tập sáng tạo, bài tập cho thừa hoặc thiếu dữ liệu, bài tập mang tính chất ngụy biện và nghịch lí, bài tập có nhiều cách giải khác nhau và bài tập có nhiều lời giải tùy theo những điều kiện cụ thể của bài tập mà giáo viên không nêu lên hoặc chỉ nêu lên một điều kiện nào đó mà thôi
- Bài tập giả tạo là bài tập mà nội dung không sát với thực tế, các quá trình tự nhiên được đơn giản hóa đi nhiều hoặc ngược lại có ý ghép nhiều yếu tố thành một đối tượng phức tạp để luyện tập nghiên cứu Bài tập giả tạo thường là bài tập định lượng, có tác dụng giúp học sinh sử dụng thành thạo các công thức để tính đại lượng nào đó khi biết các đại lượng khác có liên quan, mặc dù trong thực tế ta có thể đo nó được trực tiếp
- Bài tập có nội dung thực tế là bài tập đề cập đến những vấn đề có liên quan trực tiếp tới đối tượng có trong đời sống, kĩ thuật
- Bài tập luyện tập được dùng để rèn luyện cho học sinh áp dụng các kiến thức đã học để giải từng loại bài tập theo mẫu xác định Việc giải bài tập này không đòi hỏi tư duy sáng tạo của học sinh mà chủ yếu cho học sinh luyện tập để nắm vững cách giải đối với một loại bài tập nhất định
- Bài tập sáng tạo là bài tập mà các điều kiện cho trong đầu bài không chỉ dẫn trực
Trang 17phát triển tính tự lực và sáng tạo của học sinh, giúp học sinh nắm vững các kiến thức chính xác, sâu sắc và mềm dẻo
kĩ năng của học sinh
Trong tiến trình dạy học một đề tài cụ thể, việc giải hệ thống bài tập mà giáo viên đã lựa chọn của học sinh thường bắt đầu bằng những bài tập định tính hay những bài tập tập dượt Sau đó học sinh sẽ giải những bài tập tính toán, bài tập đồ thị, bài tập thí nghiệm có nội dung phức tạp hơn Việc giải những bài tập tính toán tổng hợp, những bài tập có nội dung kĩ thuật với dữ liệu không đầy đủ, những bài tập sáng tạo có thể coi là sự kết thúc việc hệ thống bài tập đã được lựa chọn cho đề tài
Cần chú ý cá biệt hóa học sinh trong việc giải bài tập vật lí, thông qua các biện pháp sau:
Biến đổi mức độ yêu cầu của bài tập ra cho các loại đối tượng học sinh khác nhau, thể hiện ở mức độ trừu tượng của đầu bài, loại vấn đề cần giải quyết, phạm vi và tính phức hợp của các số liệu cần xử lí, loại và số lượng thao tác tư duy logic và các phép biến đổi toán học cần sử dụng, phạm vi và các mức độ các kiến thức kĩ năng cần huy động Biến đổi mức độ yêu cầu về số lượng bài tập cần giải, về mức độ tự lực của học sinh trong quá trình giải bài tập
1.3 Sử dụng thư viện câu hỏi và biên soạn câu hỏi theo các cấp độ tư duy
1.3.1 Thư viện câu hỏi và biên soạn câu hỏi
GV phải căn cứ vào hệ thống các chuẩn kiến thức, kỹ năng được mô tả trong ma trận đề kiểm tra để biên soạn câu hỏi và bài tập theo các cấp độ của tư duy từ dễ đến khó Đó là các kiến thức khoa học và cả phương pháp nhận thức chúng, các kỹ năng và
Trang 18khả năng vận dụng vào thực tế, những thái độ, tình cảm đối với khoa học và xã hội Dưới đây ta tìm hiểu kỹ hơn về những cấp độ này trong môn Vật lí
- Cấp độ 1: Đó là những câu hỏi yêu cầu về kiến thức đạt ở mức độ nhận biết hoặc
câu hỏi yêu cầu về kỹ năng đạt ở mức độ bắt chước làm được một việc đã học, có thái
- Cấp độ 2: Đó là những câu hỏi yêu cầu về kiến thức đạt ở mức độ thông hiểu
hoặc câu hỏi yêu cầu về kỹ năng đạt được ở mức độ làm được chính xác một việc đã học, có thái độ đúng mực
Nội dung thể hiện ở việc thông hiểu thông tin, nắm bắt được ý nghĩa, chuyển tải kiến thức từ dạng này sang dạng khác, diễn giải các dữ liệu, so sánh, đối chiếu tương phản, sắp xếp thứ tự, sắp xếp theo nhóm, suy diễn các nguyên nhân, dự đoán các hệ quả Động từ mô tả yêu cầu cần đạt ở cấp độ 2 có thể quy về nhóm động từ: hiểu được, trình bày được, mô tả được, diễn giải được,
- Cấp độ 3: Đó là những câu hỏi yêu cầu về kiến thức đạt ở mức độ vận dụng cấp
độ thấp, những câu hỏi yêu cầu giải quyết vấn đề bằng những kiến thức, kỹ năng đã học đòi hỏi đến sự tư duy lôgic, phê phán, phân tích, tổng hợp, có thái độ tin tưởng
Nội dung thể hiện ở việc sử dụng thông tin, vận dụng các phương pháp, khái niệm
và lý thuyết đã học trong những tình huống khác, giải quyết vấn đề bằng những kỹ năng hoặc kiến thức đã học
Động từ mô tả yêu cầu cần đạt ở cấp độ 3 có thể quy về nhóm động từ: vận dụng được, giải thích được, giải được bài tập, làm được
- Cấp độ 4: Đó là những câu hỏi về kiến thức đạt ở mức độ vận dụng cấp độ cao,
Trang 19hiểu biết của bản thân HS đòi hỏi đến sự tư duy lôgic, phê phán, phân tích, tổng hợp và
có dấu hiệu của sự sáng tạo, có thái độ tin tưởng
Nội dung thể hiện ở việc phân tích nhận ra các xu hướng, cấu trúc, những ẩn ý, các
bộ phận cấu thành, thể hiện ở việc sử dụng những gì đã học để tạo ra nhữg cái mới, khái quát hóa từ các dữ kiện đã biết, liên hệ những điều đã học từ nhiều lĩnh vực khác nhau,
dự đoán, rút ra các kết luận, thể hiện ở việc so sánh và phân biệt các kiến thức đã học, đánh giá giá trị của các học thuyết, các luận điểm, đưa ra quan điểm lựa chọn trên cơ sở lập luận hợp lý, xác minh giá trị của chứng cứ, nhận ra tính chủ quan, có dấu hiệu của sự sáng tạo
Động từ mô tả yêu cầu cần đạt ở cấp độ 4 có thể quy về nhóm động từ: phân tích được, so sánh được, giải thích được, giải được bài tập, suy luận được, thiết kế được
Sự phân loại các cấp độ là tương đối, phụ thuộc vào đặc trưng của từng môn học
và đối tượng học sinh Đó là các mức độ yêu cầu về kiến thưc, kỹ năng cần đạt của chương trình giáo dục phổ thông
Chú ý: Những câu hỏi liên quan đến các kiến thức về lý thuyết thường ở cấp độ 1,
cấp độ 2 Những câu hỏi liên quan đến bài tập, thực hành thường ở cấp độ 3, cấp độ 4 Những câu hỏi, bài tập ở cấp độ 4 thường liên quan đến sự vận dụng nhiều kiến thức, kỹ năng tổng hợp trong phạm vi kiểm tra chẳng hạn như những câu hỏi cần vận dụng các mức cao của tư duy để xử lí tình huống, giải quyết vấn đề, những câu hỏi vận dụng các kiến thức, kỹ năng đã học vào thực tiễn như các kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thực hành, kỹ năng giải thích các sự vật hiện tượng cũng như ứng dụng trong thế giới tự nhiên, những câu hỏi liên quan đến các vấn đề bảo vệ môi trường, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, ứng phó với sự biến đổi khí hậu và giảm thiểu thiên tai … (tùy theo môn học)
Số lượng câu hỏi và bài tập cho các chuẩn kiến thức, kỹ năng cần kiểm tra biên soạn được càng nhiều, càng chất lượng thì càng tốt
1.3.2 Hoạt động tương ứng với các cấp độ tư duy:
Trang 20Phần lớn chúng ta đều cảm nhận được rằng có nhiều cấp độ tư duy khác nhau, từ hời hợt cho đến phức tạp, sâu sắc Trên cơ sở thang phân loại của Bloom và thang phân loại của Nikko, căn cứ vào các mục tiêu giáo dục, các mục đích học tập khác nhau và cấu trúc của quá trình tiếp thu, ta có thể phân loại thành tư duy thành 4 cấp độ sau đây: cấp độ 1, cấp độ 2, cấp độ 3 và cấp độ 4
Ý nghĩa quan trọng nhất của thang phân loại tư duy là nó giúp chúng ta hiểu được cấu trúc của quá trình học hỏi, tiếp thu nhận thức của HS GV cần nắm vững các cấp độ tư duy khác nhau này để kiểm tra, đánh giá tư duy (kiến thức, kỹ năng và thái độ) của HS và
mở ra cơ hội để HS biết được khả năng của mình từ đó tự phát triển các kỹ năng tư duy ở cấp độ cao hơn Chúng ta càng thúc đẩy HS vươn tới tư duy ở cấp độ cao hơn, HS càng tham gia tích cực hơn vào quá trình học tập và họ sẽ lĩnh hội tốt hơn nội dung học tập, và hiệu quả đào tạo cũng cao hơn
Bảng dưới đây đưa ra một số gợi ý về những yêu cầu kiểm tra đánh giá cho từng cấp độ
Cấp độ
1
Quan sát và nhớ lại thông tin, nhận biết
được thời gian, địa điểm và sự kiện, nhận
biết được các ý chính, nắm được chủ đề
nội dung
Liệt kê, định nghĩa, thuật lại, mô tả, nhận dạng, chỉ ra, đặt tên, sưu tầm, tìm hiểu, lập bảng kê, trích dẫn, kể tên, ai, khi nào, ở đâu v.v
Cấp độ
2
Thông hiểu thông tin, nắm bắt được ý
nghĩa, chuyển tải kiến thức từ dạng này
sang dạng khác, diễn giải các dữ liệu, so
sánh, đối chiếu tương phản, sắp xếp thứ tự,
sắp xếp theo nhóm, suy diễn các nguyên
nhân, dự đoán các hệ quả
Tóm tắt, mô tả, diễn giải, so sánh tương phản, dự đoán, liên hệ, phân biệt, ước đoán, chỉ ra khác biệt đặc thù, trình bày suy nghĩ, mở rộng, v.v
Cấp độ Sử dụng thông tin, vận dụng các phương Vận dụng, thuyết minh, tính toán,
Trang 213 pháp, khái niệm và lý thuyết đã học trong
những tình huống khác, giải quyết vấn đề
bằng những kỹ năng hoặc kiến thức đã học
hoàn tất, minh họa, chứng minh, tìm lời giải, nghiên cứu, sửa đổi, liên hệ, thay đổi, phân loại, thử nghiệm, khám phá v.v
cái mới, khái quát hóa từ các dữ kiện đã
biết, liên hệ những điều đã học từ nhiều
lĩnh vực khác nhau, dự đoán, rút ra các kết
luận
So sánh và phân biệt các kiến thức đã học,
đánh giá giá trị của các học thuyết, các
luận điểm, đưa ra quan điểm lựa chọn trên
cơ sở lập luận hợp lý, xác minh giá trị của
chứng cứ, nhận ra tính chủ quan
Có dấu hiệu của sự sáng tạo
Phân tích, phân tách, xếp thứ tự, giải thích, kết nối, phân loại, sắp xếp, chia nhỏ, so sánh, lựa chọn, giải thích, suy diễn
Kết hợp, hợp nhất, sửa đổi, sắp xếp lại, thay thế, đặt kế hoạch, sáng tạo, thiết kế, chế tạo, điều gì sẽ xảy ra nếu?, sáng tác, xây dựng, soạn lập, khái quát hóa, viết lại theo cách khác
Đánh giá, quyết định, xếp hạng, xếp loại, kiểm tra, đo lường, khuyến nghị, thuyết phục, lựa chọn, phán xét, giải thích, phân biệt, ủng
hộ, kết luận, so sánh, tóm tắt v.v
1.4 Hướng dẫn xây dựng thư viên câu hỏi và bài tập
Thư viện câu hỏi, bài tập là tiền đề để xây dựng Ngân hàng câu hỏi, phục vụ cho việc dạy và học của các thầy cô giáo và học sinh, đặc biệt là để đánh giá kết quả học tập của học sinh Trong khuôn khổ phần viết này chúng tôi nêu một số vấn đề về Xây dựng Thư viện câu hỏi và bài tập trên mạng internet
Mục đích của việc xây dựng Thư viện câu hỏi, bài tập trên mạng internet là nhằm cung cấp hệ thống các câu hỏi, bài tập có chất lượng để giáo viên tham khảo trong việc xây dựng đề kiểm tra nhằm đánh giá kết quả học tập của học sinh theo chuẩn kiến thức, kĩ năng
Trang 22của chương trình giáo dục phổ thông Các câu hỏi của thư viện chủ yếu để sử dụng cho các loại hình kiểm tra: kiểm tra thường xuyên và kiểm tra định kì; dùng cho hình thức luyện tập và ôn tập Học sinh có thể tham khảo Thư viện câu hỏi, bài tập trên mạng internet để tự kiểm tra, đánh giá mức độ tiếp thu kiến thức và năng lực học; các đối tượng khác như phụ huynh học sinh
và bạn đọc quan tâm đến giáo dục phổ thông tham khảo
Trong những năm qua một số Sở GDĐT, phòng GDĐT và các trường đã chủ động xây dựng trong website của mình về đề kiểm tra, câu hỏi và bài tập để giáo viên và học sinh tham khảo Để Thư viện câu hỏi, bài tập của các trường học, của các sở GDĐT, Bộ GDĐT ngày càng phong phú cần tiếp tục tổ chức biên soạn, chọn lọc câu hỏi, đề kiểm tra
có phần gợi ý trả lời; qui định số lượng câu hỏi và bài tập, font chữ, cỡ chữ; cách tạo file của mỗi đơn vị
Trên cơ sở nguồn câu hỏi, bài tập từ các Sở và các nguồn tư liệu khác Bộ GDĐT
đã và đang tổ chức biên tập, thẩm định, đăng tải trên website của Bộ GDĐT và hướng dẫn
để giáo viên và học sinh tham khảo sử dụng
Để xây dựng và sử dụng thư viện câu hỏi và bài tập trên mạng internet đạt hiệu quả tốt nên lưu ý một số vấn đề sau:
a Về dạng câu hỏi
Nên biên soạn cả 2 loại câu hỏi, câu hỏi dạng tự luận và câu hỏi trắc nghiệm khách quan (nhiều lựa chọn, điền khuyết, đúng sai, ghép đôi ) Ngoài các câu hỏi đóng (chiếm
đa số) còn có các câu hỏi mở (dành cho loại hình tự luận), có một số câu hỏi để đánh giá
kết quả của các hoạt động thực hành, thí nghiệm
b Về số lượng câu hỏi
Số câu hỏi của một chủ đề của chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) tương ứng
với một chương trong SGK, bằng số tiết của chương đó theo khung phân phối chương trình nhân với tối thiểu 5 câu/1 tiết Hàng năm tiếp tục bổ sung để số lượng câu hỏi và bài tập ngày càng nhiều hơn
Trang 23Đối với từng môn tỷ lệ % của từng loại câu hỏi so với tổng số câu hỏi, do các bộ môn bàn bạc và quyết định, nên ưu tiên cho loại câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn và câu hỏi tự luận
Đối với các cấp độ nhận thức (nhận biết, thông hiểu, vận dụng) thì tuỳ theo mục
tiêu của từng chủ đề để quy định tỉ lệ phù hợp đối với số câu hỏi cho từng cấp độ, nhưng cần có một tỉ lệ thích đáng cho các câu hỏi vận dụng, đặc biệt là vận dụng vào thực tế Việc xác định chủ đề, số lượng và loại hình câu hỏi nên được xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ với khung phân phối chương trình, các chương, mục trong sách giáo khoa, quy định về kiểm tra định kì và thường xuyên
Số lượng câu hỏi tuỳ thuộc vào số lượng của các chủ đề, yêu cầu về chuẩn KT, KN của mỗi chủ đề trong chương trình GDPT
Mỗi môn cần thảo luận để đi đến thống nhất về số lượng câu hỏi cho mỗi chủ đề
c Yêu cầu về câu hỏi
Câu hỏi, bài tập phải dựa vào chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình GDPT do
Bộ GDĐT ban hành, đáp ứng được yêu cầu về: lí thuyết, thực hành, kĩ năng của một môn học hoặc tích hợp nhiều môn học Các câu hỏi đảm bảo được các tiêu chí đã nêu ở Phần thứ nhất
Thể hiện rõ đặc trưng môn học, cấp học, thuộc khối lớp và chủ đề nào của môn học Nội dung trình bày cụ thể, câu chữ rõ ràng, trong sáng, dễ hiểu
Đảm bảo đánh giá được học sinh về cả ba tiêu chí: kiến thức, kỹ năng và thái độ
Trang 24CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CẤU TRÚC CHƯƠNG TRÌNH VÀ PHÂN LOẠI
BÀI TẬP CHƯƠNG CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ 2.1 Phân tích nội dung và cấu trúc chương trình vật lí 11 phổ thông trung học ở
chương “ Cảm ứng điện từ”
2.1.1 Tổng quan lí thuyết:
a Từ thông
- Khái niệm:
Giả sử có một mặt phẳng diện tích S được đặt trong từ
trường đều 𝐵⃗ ( như hình 1.1).Vẽ vecto pháp tuyến 𝑛⃗ của S,
chiều của 𝑛⃗ có thể chọn tùy ý Góc hợp bởi 𝐵⃗ và 𝑛⃗ kí hiệu là α
Tuy nhiên, để đơn giản, sau này ta qui ước là nếu không
có những điều kiện bắt buộc đối với chiều của 𝑛⃗ thì ta chọn
chiều của vecto 𝑛⃗ sao cho α là góc nhọn
Với quy ước đó, Φ là đại lượng dương
- Ý nghĩa của từ thông:
Trong công thức (1) nếu α = 0 thì Φ = BS Lấy S = 1 thì Φ = B Đẳng thức này gợi ý
ta đưa ra quy định là vẽ các đường sức từ sao cho số đường sức từ xuyên qua một đơn vị
Hình 1.1
Hình 1.2 Các đường sức từ xuyên qua diện tích S
Trang 25diện tích đặt vuông góc với đường sức thì bằng trị số của cảm ứng từ B Nếu vậy, từ thông bằng số đường sức từ xuyên qua diện tích S đặt vuông góc với đường sức
Vì vậy, người ta dùng khái niệm từ thông để diễn tả số đường sức từ xuyên qua một diện tích nào đó Đó là ý nghĩa của từ thông
- Đơn vị của từ thông
Đơn vị của từ thông là vebe, kí hiệu là Wb
1WB = 1 T.1m2
b Hiện tượng cảm ứng điện từ:
- Dòng điện cảm ứng: Dòng điện xuất hiện khi có sự biến đổi từ thông qua một mạch điện kín gọi là dòng điện cảm ứng
- Suất điện động cảm ứng: Khi có sự biến đổi từ thông qua mặt giới hạn bởi một mạch kín thì trong mạch xuất hiện suất điện động cảm ứng
- Chiều dòng điện cảm ứng Định luật Len-xơ:
Dòng điện cảm ứng có chiều sao cho từ trường do nó sinh ra có tác dụng chống lại nguyên nhân sinh ra nó
- Định luật Fa- ra-đây về cảm ứng điện từ:
Độ lớn của suất điện động cảm ứng trong mạch kín tỉ lệ với tốc độ biến thiên từ thông
Trong hệ SI: ec ( V ), ΔΦ (Wb), Δt (s)
Nếu khung dây có N vòng dây:
t N
Φ là từ thông gửi qua diện tích giới hạn bởi một vòng dây
c Suất điện động cảm ứng trong đoạn dây dẫn chuyển động trong từ trường:
- Suất điện động cảm ứng trong một đoạn dây dẫn chuyển động trong từ trường:
Trang 26Khi một đoạn dây dẫn chuyển động tịnh tiến với vận tốc v trong một
từ trường đều 𝐵⃗ không song song với các đường sức từ, thì trong đoạn
dây dẫn đó xuất hiện suất điện động cảm ứng có chiều tuân theo quy tắc
bàn tay phải và có độ lớn tính bởi:
e = B.l.v.sinθ
Trong đó vr và Bur cùng vuông góc với đoạn dây và θ là góc giữa Bur
và vr
- Quy tắc bàn tay phải:
Áp dụng qui tắc bàn tay phải để xác định các cực của nguồn điện cảm ứng
Đặt bàn tay phải duỗi thẳng để cho các đường cảm ứng từ (vectơ Bur ) hướng vào lòng bàn tay, ngón tay cái choãi ra chỉ chiều chuyển động của dây dẫn, khi đó chiều từ
cổ tay đến ngón tay giữa là chiều đi qua nguồn tương đương từ cực âm sang cực dương
Chiều của dòng điện cảm ứng chạy trên đoạn dây dẫn chuyển động trong từ trường (khi đoạn dây là một phần của mạch kín) cũng được xác định bằng quy tắc bàn tay phải
- Biểu thức suất điện động cảm ứng trong một đoạn dây dẫn:
Trang 27- Ứng dụng của dòng điện Fu-co
Một vài ứng dụng dòng Fu-cô
Hãm chuyển động: nhất là chuyển động quay của một bộ phận nào đó trong một
số thiết bị máy móc hay dụng cụ như cân đồng hồ, tác dụng hãm của dòng Fu-co trong phanh điện từ ở các xe có tải trọng lớn, dùng trong công tơ điện…
Một vài ví dụ về trường hợp dòng Fu-co có hại:
- Làm nóng động cơ, gây hỏng máy
- Chống lại sự quay của động cơ , làm giảm công suất của động cơ
Cách khắc phục:
Để giảm tác dụng có hại của dòng Fu-co, người ta không dùng lõi sắt khối liền, mà dùng những lá thép silic mỏng có phủ lớp sơn cách điện ghép sát với nhau Ngoài ra những lá mỏng này lại được đặt song song với đường sức từ Làm như vậy điện trở của lõi sắt đối với dòng Fu-co tăng lên, và làm giảm cường độ của nó một cách đáng kể
- Hiện tượng tự cảm:
Khi dòng điện chạy trong một mạch kín thì có từ thông do chính dòng điện này gửi qua mạch kín đó Nếu cường độ dòng điện trong mạch điện biến thiên thì từ thông qua mạch cũng biến thiên và trong mạch sẽ xuất hiện suất điện động cảm ứng Hiện tượng trên là hiện tượng cảm ứng điện từ
Vậy hiện tượng cảm ứng điện từ trong một mạch điện do chính sự biến đổi của dòng điện trong mạch đó gây ra gọi là hiện tượng tự cảm
Trang 28Trong đó: Δi là độ biến thiên cường độ dòng điện trong mạch trong thời gian Δt;
L là hệ số tự cảm ( hay độ tự cảm) của mạch đó có giá trị tùy thuộc vào hình dạng và kích thước của mạch, có đơn vị là henri (H)
Từ thông tự cảm qua mạch có dòng điện i: Φ = Li
Độ tự cảm của ống dây dẫn dài (solenoid); có chiều dài l và số vòng dây N:
S N V
n L
2 7 2
7
.10 4
10
Trong đó n là số vòng dây trên đơn vị dài của ống, V là thể tích của ống
Nếu ống dây có lõi là vật liệu sắt từ có độ từ thẩm thì
l
S N L
2 7
.10 4
f Năng lượng từ trường:
- Năng lượng của ống dây có dòng điện I, độ tự cảm L:
- Năng lượng từ trường:
Năng lượng từ trường của ống dây dẫn có độ tự cảm L và có dòng điện I chạy qua:
- Mật độ năng lượng từ trường là:
2.2 Các chuẩn môn học (theo chuẩn của bộ GD-ĐT ban hành)
2.2.1 Chuẩn kiến thức, kĩ năng:
Trang 29- Viết được công thức tính
từ thông qua một diện tích
và nêu được đơn vị đo từ
thông
- Nêu được các cách làm
biến đổi từ thông
- Phát biểu được định luật Fa-ra-đây về cảm ứng điện
từ, định luật Len-xơ về chiều dòng điện cảm ứng
đều mang năng lượng
- Làm được thí nghiệm về hiện
tượng cảm ứng điện từ
- Tính được suất điện động cảm ứng trong trường hợp từ
thông qua một mạch kín biến đổi đều theo thời gian
- Xác định được chiều của dòng điện cảm ứng theo định
luật Len-xơ
- Tính được suất điện động tự cảm trong ống dây khi dòng
điện chạy qua nó có cường
độ biến đổi đều theo thời gian
Trang 302.2.2 Mục tiêu chi tiết:
điện cảm ứng
được định luật Faraday,định
luật lentz
-Hiểu được mục đích của các thí nghiệm về sự biến thiên của
từ trường
-Nêu được 2 cách làm biến
e c
xác định suất
vòng
-Vận dụng công thức :BScos để giải bài tập khi ta thay đổi các góc
Trang 31phải
được biểu thức suất điện động cảm ứng trong
đoạn dây
nguyên tắc ,cấu tạo và hoạt động của máy
phát hiện
-Thiết lập được biểu thức xác định suất điện động cảm ứng trong đoạn dây
động trong từ trường
- Hiểu được nguyên tắc hoạt động của máy phát điện
- Hiểu được bản chất của sự xuất hiện dòng điện cảm ứng trong đoạn dây
vuông góc với B
-Vận dụng thành thạo quy tắc bàn tay phải
để áp dụng vào việc
giải bài tập
-Vận dụng công thức vừa thiết lập (ở phần vận dụng bậc 1) để xác định rõ các đại lượng thông qua một
số bài tập năng cao
-Vận dụng trường hợp 2 (trường hợp khi
v
và B
cùng vuông góc với đoạn dây ,đồng thời v
hợp với
B
một góc ) để giải bài tập nâng cao khi
ta thay đổi góc
Trang 32điện Fu-Cô?
-Nêu lên được cái lợi và cái hại của dòng
điện Fu-Cô
-Nêu được một
số tác dụng của dòng điện Fu-
Cô
- Hiểu được
sinh ra dòng Fu-cô
- Hiểu được các tác dụng của dòng Fu-cô và cách khắc phục
khắc phục
-.Vận dụng dòng
Fu-Cô để chế tạo một số thiết bị có lợi như phanh xe đạp,một số thiết bị ở máy móc
đơn giản
-Tìm hiểu rõ các tác hại của dòng Fu-Cô
và đưa ra cách khắc
phục
- Phát biểu được định nghĩa hiện tượng tự cảm
- Viết được công
được kết quả thí nghiệm về hiện tượng tự cảm khi đóng và
tính hệ số tự cảm và biểu
-Vận dụng biểu thức xác định suất điện động tự cảm và biểu thức tính hệ số tự cảm của ống dây dài (vừa
Trang 33- Nêu được độ
tự cảm là gì và đơn vị đo độ tự cảm
- Viết được biểu thức tính
hệ số tự cảm của một ống dây dài dặt
tự cảm và biểu thức tính hệ số
tự cảm của ống
dây dài
điện động tự cảm để giải một số bài
không có lõi sắt và có lõi
sắt
thiết lập ở phần thông hiểu) để giải một số
bài tập khó hơn
-Vận dụng biểu thức suất điện động tự cảm cho cả hai trường hợp (vừa thiết lập ở vận dụng bậc 1) để giải một số bài tập nâng
mà là do ống dây cung cấp
này được tích lũy trong ống
từ trường
-So sánh sự tương quan giữa các đại lượng trong biểu thức năng lượng từ trường và biểu thức
trường
-Vận dụng công thức năng lượng từ trường trong một ống dây dài
và biểu thức mật độ
năng lượng từ trường
Trang 34và biểu thức tính năng lượng
từ trường
Và biểu thức mật độ năng
108
1
B w
đúng cho cả trường hợp từ
để giải quyết một số bài
tập đơn giản
(vừa thiết lập ở phần vận dụng bậc 1) để giải một số bài tập
nâng cao
Trang 352.3 Phân loại bài tập chương “Cảm ứng điện từ” vật lí 11 nâng cao
DẠNG I:XÁC ĐỊNH TỪ THÔNG, ĐỘ BIẾN THIÊN TỪ THÔNG, CẢM ỨNG TỪ
XUẤT HIỆN TRONG KHUNG DÂY DẪN
Từ thông qua một diện tích S, giới hạn bởi một vòng dây kín phẳng C, đặt trong
từ trường đều có cảm ứng từ urB là một đại lượng có biểu thức
XÁC ĐỊNH CHIỀU DÒNG ĐIỆN CẢM ỨNG DỰA VÀO ĐỊNH LUẬT LENZT
DẠNG 3:
TÍNH SUẤT ĐIỆN ĐỘNG CẢM ỨNG DỰA VÀO ĐỊNH LUẬT FARA-DAY
DẠNG 4:
SUẤT ĐIỆN ĐỘNG CẢM ỨNG XUẤT HIỆN TRONG ĐOẠN DÂY DẪN CHUYỂN ĐỘNG CẮT CÁC ĐƯỜNG SỨC TỪ
DẠNG 5:
DÒNG ĐIỆN DU-CÔ
DẠNG 6:
HIỆN TƯỢNG
TỰ CẢM
DẠNG 7:
NĂNG LƯỢNG
TỪ TRƯỜNG
Trang 36 α = 900 : các đường sức từ không qua mặt (S) ⇒ Φ = 0
Bài tập:
Câu 1.1.A: chọn phát biểu sai khi nói về từ thông:
A.Từ thông là một đại lượng luôn dương vì nó tỉ lệ với đường sức từ đi qua diện tích có
từ thông
B Từ thông là đại lượng vô hướng
C Từ thông có thể dương, âm hoặc bằng không
D Đơn vị của từ thông là Wb = Tm2
Câu 1.2.A : Đơn vị của từ thông là:
A.Tesla(T) B.Ampe (A) C.Veebe (Wb) D.Vôn (V)
PHÂN TÍCH:
Mục đích nhằm kiểm tra sự nhận biết đơn vị từ thông của học sinh
Học sinh đã học về khái niệm từ thông, biểu thức tính từ thông BScos.vì vậy phải nhớ
được đơn vị của từ thông là Wb Vì vậy đáp án đúng là C
Câu 1.3.B: Một vòng dây phẳng giới hạn, diện tích S = 5cm2 đặt trong từ trường đều có cảm ứng từ B = 0,4T; B hợp với pháp tuyến n của mặt phẳng vòng dây một góc α = 600 Tính từ thông qua S
A.10-4 Wb B 2.10-4 Wb C 3.10-4 Wb D 4.10-4 Wb
TÓM TẮT:
S = 5 cm2 = 5.10-4 m2, B = 0,4 T
Trang 37Từ thông qua mặt S: Φ = BScosα = 0,4.5.10-4.0,5 = 10-4 (Wb)
Vậy đáp án chọn A
Câu 1.4.C: Một khung dây hình tròn có đường kính 10cm Cho dòng điện có cường độ
20A chạy trong dây dẫn Tính Cảm ứng từ B do dòng điện gây ra tại tâm của khung dây
và Từ thông xuyên qua khung dây
cũ trong chương từ trường để áp dụng tính cảm ứng từ
Để tính cảm ứng từ ta áp dụng được công thức sau:
R I
B2.107 (*)
Trang 38Trong đó: B là cảm ứng từ do dòng điện gây ra tại tâm khung dây có đơn vị là (Tesla), I là dòng điện chạy trong khung dây có đơn vị là (Ampe), R là bán kính của khung dây tròn
có đơn vị là (mét)
Thay các số liệu bài cho vào công thức (*) ta có:
4 2
7 7
10.51,210.5
20.10.2.10
Câu 1.5.D: Khung dây dẫn hình chữ nhật MNPQ gồm N=20 vòng
dây, diện tích mỗi vòng dây là 6 2
trục ( ) thẳng đứng như hình vẽ 1.1 Khung dây đặt trong một từ
trường đều có vectơ cảm ứng từ B nằm ngang hợp với pháp tuyến
dây theo chiều kim đồng hồ quanh trục một góc 1800.Tính độ
biến thiên từ thông qua khung dây
Trang 39Mục đích nhằm kiểm tra mức độ vận dụng công thức tính từ thông ở vị trí đầu và vị
trí sau khi khung quay, từ đó tính được độ biến thiên từ thông
Để tính được độ biến thiên từ thông qua khung dây, học sinh phải áp dụng được
công thức sau: NBScos
Từ thông khi khung dây ở vị trí ban đầu: 1NBScos
Từ thông sau khi khung dây quay:
2 NBScos( )NBScos1
Suy ra độ biến thiên từ thông là:
21212NBScos2.20.0,2.6.104.cos300 4.103
Vậy độ biến thiên từ thông là: 4 . 103(Wb)
Dấu trừ chỉ chiều dòng điện cảm ứng
Vì vậy chọn đáp án C
Câu 1.6.D: Một khung dây hình tròn có diện tích S=15cm2 , gồm 20
vòng dây đặt trong từ trường đều có cảm ứng từ B hợp với pháp tuyến
của mặt phẳng khung dây một góc 300 như hình 1.2 Cho biết B=0,04
T Tính độ biến thiên từ thông qua khung dây khi quay khung dây
Mục đích nhằm kiểm tra sự vận dụng bậc cao học sinh về công thức tính độ biến
thiên từ thông trong khung dây tròn
Hình 1.2
Trang 40Để tính độ biến thiên từ thông, ta cần biết từ thông lúc sau và từ thông lúc đầu Sau
đó, tính độ biến thiên từ thông bằng công thức: ∆𝛷 = 𝛷2− 𝛷1
Một điều cần chú ý là diện tích đây là diện tích của cả N vòng dây (vì từ đường sức
từ đ qua cả N vòng này nên ta tính từ thông là từ thông qua cả N vòng dây)
Các bước để xác định chiều của dòng điện cảm ứng:
Bước 1: Nhận xét sự biến thiên của từ thông khi cho nam châm ( vòng dây) dịch chuyển lại gần hay ra xa vòng dây ( nam châm) ( tăng hay giảm)
Bước 2: Sau khi xác định sự biến thiên từ thông ta có thể xác định được B c dựa vào định luật Lenzt