Phương pháp trắc nghiệm khách quan là một trong những phương pháp kiểm tra đánh giá được sử dụng phổ biến tại nhiều nước trên thế giới trong các kì thi để đánh giá năng lực nhận thức của
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA VẬT LÝ -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH SƯ PHẠM VẬT LÝ
Đề tài:
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM CHƯƠNG
“LƯỢNG TỬ ÁNH SÁNG” VẬT LÝ 12 NÂNG CAO VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA PHẦN MỀM ARI – QUIZ THEO HƯỚNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
Trang 21
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC HÌNH ẢNH v
MỤC LỤC 1
Đà Nẵng, tháng 5/2013 1
1 2
LỜI CẢM ƠN i 2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
2 DANH MỤC BẢNG .iii
2 DANH MỤC HÌNH ẢNH v
2 PHẦN MỞ ĐẦU 7
2 Mục tiêu của đề tài 9
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Giả thuyết khoa học 9
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
6 Phương pháp nghiên cứu 10
Phần mở đầu 11
Phần nội dung 11
Phần kết luận 11
Tài liệu tham khảo 11
Phụ lục 11
CHƯƠNG 1 12
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM QUA MẠNG INTERNET THEO HƯỚNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH 12
1.1 Một số vấn đề về kiểm tra đánh giá chất lượng và xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan 12
1.1.1 Bản chất của kiểm tra đánh giá chất lượng trong giáo dục 12
1.1.2 Năng lực tự kiểm tra đánh giá chất lượng học tập của học sinh 14
1.1.3 Trắc nghiệm khách quan trong giáo dục 15
Hình 1.1: Các mức độ nhận thức theo Bloom (1956) 17
Bảng 1.1: Mô tả về cấp độ tư duy 18
Trang 31.1.4 Ưu và nhược điểm của hình thức kiểm tra trắc nghiệm khách quan 19
1.2 Cơ sở của việc sử dụng Internet và Website trong việc tự kiểm tra đánh kết quả học tập 20 1.2.1 Khái niệm mạng máy tính và Internet 20
1.2.2 Khái niệm web và website học tập 21
1.2.3 Vai trò của Internet trong Giáo dục 22
1.2.4 Hình thức triển khai Website học tập hỗ trợ việc tự kiểm tra đánh giá bằng hình thức trắc nghiệm khách quan 23
1.3 Cơ sở lý luận của việc khai thác và sử dụng mạng Internet trong việc tự học và tự kiểm tra đánh giá môn Vật lý 27
1.3.1 Vai trò của Internet trong việc hỗ trợ năng lực tự kiểm tra đánh giá môn Vật lý 27
1.3.2 Joomla!- công cụ thuận lợi để thiết kế website học tập 28
1.3.3 Phần mềm ARI-quiz tạo bài kiểm tra trắc nghiệm trực tuyến 30
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31
CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM CHƯƠNG “LƯỢNG TỬ ÁNH SÁNG”-VẬT LÍ 12 NÂNG CAO VÀ KHAI THÁC SỬ DỤNG PHẦN MỀM ARI-QUIZ TRÊN WEBSITE JOOMLA! 34
2.1 Đặc điểm kiến thức chương “Lượng tử ánh sáng” 34
2.1.1 Nội dung chính của chương 34
2.1.2 Mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ học sinh cần đạt được 36
2.1.3 Sơ đồ cấu trúc của chương Lượng tử ánh sáng Vật lí 12 NC THPT 37
Hình 2.1 Cấu trúc chương Lượng tử ánh sáng 38
2.2 Quy trình xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan 39
2.2.1 Nguyên tắc xây dựng 39
2.2.2 Các bước xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan 40
Giai đoạn 1: Quy hoạch bài trắc nghiệm 40
Bước 1: Phân tích nội dung môn học 40
Bước 2: Xác định các mục tiêu nhận thức cho từng nội dung: 41
Bước 3: Thiếp lập dàn bài trắc nghiệm 41
Giai đoạn 2: Soạn câu trắc nghiệm và tạo đề tương đương 41
Bước 4: Soạn câu hỏi trắc nghiệm 41
Bước 5: Trao đổi với đồng nghiệp 41
Bước 6: Làm đề thi gốc và tạo các đề tương đương 41
Giai đoạn 3: Tổ chức thi và chấm thi 42
Bước 7 : Tổ chức thi và chấm thi 42
Giai đoạn 4: Phân tích và lưu trữ câu trắc nghiệm 42
Bước 8: Phân tích bài trắc nghiệm 42
Trang 4Bước 9: Phân tích câu trắc nghiệm 42
Bước 10: Sửa chữa và lưu trữ câu trắc nghiệm 42
2.3 Biên soạn hệ thống câu hỏi trắc nghiệm chương “Lượng tử ánh sáng” 42
Bảng2.3: Trọng số cụ thể của từng nội dung bài học 46
CHƯƠNG 7: LƯỢNG TỬ ÁNH SÁNG 49
Chương trình: Vật lí 12 Nâng cao 49
Hình thức kiểm tra: Trắc nghiệm khách quan 49
Thời gian làm bài: 45 phút 49
Câu 07.47.17.B Trong quang phổ của nguyên tử Hidro 51
A 3 B.1 C.6 D 4 52
Câu 07.48.23.C Chọn phát biểu không đúng 52
2.4 Khai thác và sử dụng phần mềm ARI-Quiz trên website Joomla! tạo bài kiểm tra theo hướng bồi dưỡng năng lực tự KT-ĐG kết quả học tập của HS 53
2.4.1 Khai thác và sử dụng phần mềm ARI-quiz trên website Joomla 53
Hình 2.2: Truy cập phần mềm ARI-Quiz 54
Hình 2.3: Cấu trúc chung của ARI-Quiz 55
2.4.2 Loại bài kiểm tra - Bài kiểm tra (Quiz Categories - Quiz) 55
Hình 2.6: Cách truy cập chức năng Quizzes 56
Hình 2.7: Các thông số chính cần thiết lập của một bài kiểm tra 57
Hình 2.8: Các thông số về quyền truy cập của bài kiểm tra 58
Hình2.9: Các thông số cần thiết lập trong Additional Settings 59
Hình 2.10: Thiếp lập thông số để hiển thị đáp án của bài kiểm tra 59
2.4.3 Loại ngân hàng câu hỏi - ngân hàng câu hỏi (Bank categories - question bank) 59
Hình 2.11: Các thông số chính để tạo một ngân hàng câu hỏi mới 60
Hình 2.12 : Phần điền các phương án trả lời 61
2.4.4 Câu hỏi (Question) 61
Hình 2.13: Nhập câu hỏi cho bài kiểm tra 62
Hình 2.14: Cách nhập câu hỏi vào bài kiểm tra (Quizz) 62
Hình 2.15: Các thông số của câu hỏi 62
2.4.5 Kết quả bài kiểm tra (Quizzes Results) 63
Hình 2.16: Cách truy cập kết quả bài kiểm tra 63
Hình 2.17: Xem chi tiết bài làm của HS 64
2.5 Tạo bài kiểm tra chương “Lượng tử ánh sáng” bằng phần mềm ARI-Quiz trên Web Joomla 64
2.5.1 Tạo bài kiểm tra 64
Hình 2.20: Các thông số của một câu hỏi trắc nghiệm khách quan 65
2.5.2 Tạo ngân hàng câu hỏi 65
2.6 Quy trình làm bài kiểm tra với phần mềm ARI-Quiz trên Website Joomla! 66
Trang 5a)Tạo tài khoản và đăng nhập 66
Hình 2.21: Giao diện khi làm bài kiểm tra 67
Hình 2.22: Bảng thông báo điểm số của bài làm 67
Hình 2.23: Đáp án cụ thể của bài kiểm tra 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 70
3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 70
3.1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 70
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm: 70
3.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm: 71
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm: 71
3.2.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 71
3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 71
3.3.1 Phương pháp phân tích câu hỏi: 71
Với: n i : số học sinh đạt được điểm X i 72
*Hệ số tin cậy của bài trắc nghiệm: 72
Trong đó: K: số câu hỏi của bài trắc nghiệm 72
*Độ khó câu trắc nghiệm 72
Với : N: tổng số HS dự thi 72
3.3.2 Điều tra bằng bảng hỏi 73
3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm: 73
3.4.1 Phân tích bài kiểm tra của học sinh 73
Bảng 3.1 Bảng phân bố câu trả lời bài kiểm tra 74
Bàng 3.4 Bảng phân tích các chỉ số thống kê câu 1 80
Bảng 3.5 Bảng phân tích các chỉ số thống kế câu 2 80
Bảng 3.6: Bảng phân tích các chỉ số thống kê câu 3 81
Bảng 3.7 Bảng phân tích các chỉ số thống kê câu 4 82
Bảng 3.8 Bảng phân tích các chỉ số thống kê câu 5 83
Bảng 3.9 Bảng phân tích các chỉ số thống kê câu 6 84
Bảng 3.10 Bảng phân tích các chỉ số thống kê câu 7 85
Bảng 3.11 Bảng phân tích các chỉ số thống kê câu 8 85
Bảng 3.12 Bảng phân tích các chỉ số thống kê câu 9 86
Bảng 3.13 Bảng phân tích các chỉ số thống kê câu 10 87
Bảng 3.14 Bảng phân tích các chỉ số thống kê câu 11 88
Bảng 3.15 Bảng phân tích các chỉ số thống kê câu 12 89
Bảng 3.16 Bảng phân tích các chỉ số thống kê câu 13 90
Trang 6Bảng 3.17 Bảng phân tích các chỉ số thống kê câu 14 91
Bảng 3.18 Bảng phân tích các chỉ số thống kê câu 15 92
Bảng 3.19 Bảng phân tích các chỉ số thống kê câu 16 92
Bảng 3.20 Bảng phân tích các chỉ số thống kê câu 17 93
Bảng 3.21 Bảng phân tích các chỉ số thống kê câu 18 94
Bảng 3.22 Bảng phân tích các chỉ số thống kê câu 19 95
Bảng 3.23 Bảng phân tích các chỉ số thống kê câu 20 96
Bảng 3.24 Bảng phân tích các chỉ số thống kê câu 21 96
Bảng 3.25 Bảng phân tích các chỉ số thống kê câu 22 97
Bảng 3.26 Bảng phân tích các chỉ số thống kê câu 23 98
Bảng 2.27 Bảng phân tích các chỉ số thống kê câu 24 99
Bảng 2.28 Bảng phân tích các chỉ số thống kê câu 25 100
3.4.2 Kết quả điều tra thực trạng sử dụng mạng Internet và website học tập để rèn luyện kỹ năng tự kiểm tra đánh giá 100
Bảng 2.29 Kết quả điều tra từ HS 101
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 1 106
CÁCH NHẬP CÂU HỎI DẠNG FILE *.CSV ( CSV IMPORT) 109
Xuất hiện hộp thoại như sau, chọn Option other và điền dấu “,” 110
PHỤC LỤC 3 112
I Thông tin về học sinh 112
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với mục tiêu năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại và hội nhập với cộng đồng quốc tế Cùng với mục tiêu đề ra đó, đòi hỏi nền giáo dục phải thay đổi mạnh
mẽ, sâu sắc và toàn diện để có thể đào tạo ra những thế hệ người lao động sáng tạo, năng động, tích cực, thích ứng với sự phát triển đa dạng, nhanh chóng và yêu cầu khắt khe của xã hội, đáp ứng được nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Điều 28 Luật giáo dục quy định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.”
Văn kiện Đại hội XI của Đảng cũng chỉ ra: “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo
dục, đào tạo: Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng,…”
Bên cạnh những đổi mới về chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi và kiểm tra cũng đang dần được cải cách Điển hình như những năm gần đây, phương pháp trắc nghiệm khách quan đang được sử dụng trong các kì thi tuyển sinh Cao đẳng, Đại học, kì thi Tốt nghiệp và bài kiểm tra định kì ở một số trường THPT
Phương pháp trắc nghiệm khách quan là một trong những phương pháp kiểm tra đánh giá được sử dụng phổ biến tại nhiều nước trên thế giới trong các kì thi để đánh giá năng lực nhận thức của người học, bởi lẽ nó có những ưu điểm vượt trội như phạm
vi kiến thức kiểm tra rộng, cho kết quả nhanh, chính xác và công bằng, đặc biệt là khắc phục được những tiêu cực trong thi cử So với phương pháp trắc nghiệm tự luận, TNKQ yêu cầu người học cần trải rộng kiến thức, tránh học tủ, học lệch, biết tự hệ
Trang 8thống và vận dụng kiến thức để giải quyết lượng câu hỏi lớn trong thời gian tương đối ngắn Vậy người học cần phải có phương pháp học như thế nào để đạt được hiệu quả cao và mang lại kết quả tốt nhất đối với hình thức kiểm tra TNKQ?
Trong những năm gần đây, sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin- truyền thông, mạng thông tin toàn cầu Internet đã tác động mạnh
mẽ đến nền giáo dục, đòi hỏi người dạy và người học đổi mới phương pháp, phương thức dạy và học, đồng thời cũng cung cấp một môi trường thuận lợi phát huy tính chủ động, tích cực của người học
Ngoài việc tự tìm đến với những nguồn tài liệu vô hạn, những bài giảng điện tử E-learning, phòng học trực tuyến, trao đổi thông tin trên các diễn đàn…v.v, hình thức thi trắc nghiệm trực tuyến đang dần trở thành một trào lưu và thu hút sự quan tâm của nhiều người Không quá áp lực như một phòng thi thật, nhưng áp lực về mặt thời gian với những con số chạy lùi kích thích người học phải nhanh nhẹn trong tư duy và thao tác Bên cạnh đó, kiểm tra trắc nghiệm trực tuyến cho phép nhận ngay kết quả bài làm, nhanh chóng tìm ra đáp án đúng của câu hỏi và lời giải thỏa đáng, từ đó, người học tự đánh giá được khả năng của mình và có những điều chỉnh thích hợp trong việc học và
ôn tập nội dung kiến thức cần thiết
Tuy nhiên, việc xây dựng ngân hàng đề phong phú, xác suất trùng lặp câu hỏi thấp và đề kiểm tra đúng theo khung ma trận đề thi đòi hỏi người biên soạn tốn nhiều thời gian và công sức, đáp ứng được nhu cầu kiểm tra kiến thức của người học một cách đầy đủ và toàn diện nhất Bên cạnh đó, hình thức tự kiểm tra đánh giá thông qua trắc nghiệm trực tuyến còn khá mới mẻ, chưa thật sự trở nên phổ biến và được ứng dụng rộng rãi, học sinh còn khá lúng túng trong việc tự lựa chọn những đề thi phù hợp, sát với các bài kiểm tra-đánh giá thật sự trên vô vàn Website học tập hiện tại
Xuất phát từ những lí do trên, với mong muốn đóng góp thêm một cái nhìn mới
về hình thức này, tôi chọn đề tài:
“ Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm chương “Lượng tử ánh sáng”-Vật lí
12 Nâng cao với sự hỗ trợ của phần mềm ARI-Quiz theo hướng bồi dưỡng năng lực tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh.”
Trang 92 Mục tiêu của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm,
đồng thời kết hợp với mạng Internet và Website để bồi dưỡng năng lực tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS bằng các bài kiểm tra trực tuyến
-Xây dựng được hệ thống câu hỏi trắc nghiệm chương “Lượng tử ánh sáng”-Vật
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
-Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc sử dụng máy vi tính và mạng internet để hỗ trợ việc tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
-Nghiên cứu nội dung, chương trình chương “Lượng tử ánh sáng”-Vật lí 12 NC -Nghiên cứu cách soạn thảo đề và quy trình để xây dựng đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan nhiều phương án lựa chọn
-Xây dựng được đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan chương “Lượng tử ánh sáng”-Vật lí 12 NC
-Xây dựng website kiểm tra đánh giá chất lượng chương “Lượng tử ánh Vật lí 12 NC
sáng” Thực nghiệm sư phạm, xử lý số liệu và đánh giá độ tin cậy của bài trắc nghiệm, câu trắc nghiệm Đồng thời đánh giá hiệu quả của việc vận dụng hệ thống tự kiểm tra đánh giá chất lượng học tập của học sinh qua mạng internet trong kiểm tra và đánh giá bộ môn Vật lí
4 Giả thuyết khoa học
Hiện nay, việc tự kiểm tra đánh giá chất lượng học tập của học sinh thông qua mạng Internet, website chưa thật sự phổ biến và được áp dụng rộng rãi, nếu xây dựng được hệ thống câu hỏi trắc nghiệm trực tuyến một cách khoa học, bám sát với các tiêu
Trang 10chuẩn về kiến thức kĩ năng sẽ góp phần đổi mới phương pháp học tập, phát huy tính tích cực, chủ động của HS nhằm nâng cao chất lượng học tập, tự củng cố kiến thức môn Vật lí của học sinh tại nhà trường trung học phổ thông, rèn luyện được khả năng
tự kiểm tra đánh giá chất lượng của HS
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng
-Nội dung kiến thức chương “Lượng tử ánh sáng” – Vật lí 12 NC
-Hoạt động tự kiểm tra đánh giá chất lượng học tập môn Vật lí ở trường trung học phổ thông với sự hỗ trợ của mạng Internet và website
b Phạm vi nghiên cứu:
-Đề tài chỉ nghiên cứu chương “Lượng tử ánh sáng”-Vật lí 12 NC
6 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành tốt các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tôi sử dụng các phương pháp sau đây:
a Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, luật Giáo dục, các văn bản của ngành, tài
liệu về lý luận dạy học, tài liệu về kiểm tra đánh giá chất lượng, các trang báo mạng về hình thức kiểm tra trắc nghiệm trực tuyến
-Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc sử dụng máy vi tính, mạng internet và ứng dụng của nó trong việc góp phần bồi dưỡng năng lực tự kiểm tra đánh giá chất lượng của HS
-Nghiên cứu nội dung, chương trình chương “Lượng tử ánh sáng”-Vật lí 12 NC
b Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
-Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm chương “Lượng tử ánh sáng”-Vật lí 12 NC -Tìm hiểu, khai thác sử dụng và thiết kế Website trên mã nguồn mở Joomla! và phần mềm tích hợp ARI-Quiz để thiết kế bài kiểm tra chương “Lượng tử ánh sáng” Vật lí 12 NC
c Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm tại một lớp của trường THPT Phan Châu Trinh
để đánh giá hiệu quả của đề tài
d Điều tra thực tế
Trang 11Khảo sát, tìm hiểu hứng thú của học sinh đối với việc tự kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập bằng hình thức trắc nghiệm trực tuyến
7 Cấu trúc luận văn
Phần mở đầu
Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận việc xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm qua mạng
Internet theo hướng bồi dưỡng năng lực tự kiểm tra đánh giá chất lượng học tập của học sinh
Chương 2: Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm chương “Lượng tử ánh sáng”
-Vật lí 12 Nâng cao và khai thác sử dụng phần mềm ARI-Quiz trên website Joomla!
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Phần kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 121.1.1 Bản chất của kiểm tra đánh giá chất lượng trong giáo dục
1.1.1.1 Khái niệm kiểm tra và đánh giá
Trong giáo dục, việc phân loại và đánh giá mức độ học tập của học sinh (HS) là rất cần thiết đối với nhà giáo Nếu quá trình kiểm tra và đánh giá được thực hiện tốt, giáo viên (GV) có thể biết được sự tiếp thu kiến thức của HS tiến bộ đến mức nào và mục tiêu dạy học đạt đã được đến đâu Tuy nhiên cũng cần biết được sự khác biệt giữa công việc kiểm tra và đánh giá
Hiện nay, có nhiều tài liệu trong và ngoài nước định nghĩa về kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS nhưng trong khuôn khổ của khóa luận các khái niệm được cố gắng đưa ra theo lối đơn giản nhất
Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá và nhận xét (theo từ điển
Tiếng Việt của viện Ngôn ngữ học Việt Nam) Trong giáo dục, kiểm tra là công việc
nhằm mô tả và thu thập những bằng chứng tương đối khách quan về kết quả của quá trình giáo dục nhằm đối chiếu với mục tiêu Những bằng chứng đó có thể được biểu thị bằng điểm số Công việc kiểm tra sẽ cung cấp những dữ kiện, những thông tin làm
cơ sở cho việc đánh giá
Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc dựa vào những thông tin thu được và đối chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩn đã được
đề ra Trong giáo dục, khâu đầu tiên của quá trình đánh giá là phải định trước mục tiêu
cụ thể cho chương trình học tập Tiếp theo là xét đoán sự tiếp thu và tiến bộ của HS có đạt được mức độ chấp nhận trên những mục tiêu đã đề ra hay không Như vậy, đánh giá trong giáo dục là quá trình thu nhập và xử lí thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của HS
Trang 13Tuy nhiên không chỉ đơn thuần phản ánh quá trình phấn đấu và kết quả học tập của HS, đánh giá còn cho ta biết được nguyên nhân dẫn đến thành công hoặc thất bại của chương trình giảng dạy và hiệu quả học tập để từ đó có thể đưa ra phương án cải cách chương trình, đổi mới phương pháp giảng dạy, phương pháp học tập Trong giáo dục, đánh giá là công cụ vô cùng quan trọng nhằm điều chỉnh và làm cơ sở đối mới giáo dục đào tạo
Kiểm tra-đánh giá (KT-ĐG) là công việc có liên quan mật thiết với nhau Kiểm tra để lấy cơ sở cho việc đánh giá Cũng có thể kiểm tra mà không đánh giá nhằm tìm hiểu tình hình học tập của HS Nhưng muốn đánh giá thì nhất định phải thông qua việc kiểm tra để có thể nhận xét mức độ đạt được mục tiêu đã đề ra Kiểm tra là phương tiện để đánh giá Đánh giá trong dạy học tức là bao hàm cả việc kiểm tra
1.1.1.2 Vai trò, ý nghĩa của việc kiểm tra đánh giá
a) Vai trò của kiểm tra đánh giá:
“Bất kì một quá trình giáo dục nào mà một con người tham gia cũng nhằm tạo
ra những biến đổi nhất định trong con người đó Muốn biết những biến đổi đó xảy ở mức độ nào phải đánh giá hành vi của người đó trong một tình huống nhất định Việc đánh giá cho phép chúng ta xác định, một là mục tiêu giáo dục được đặt ra có phù hợp hay không và có đạt được hay không, hai là việc giảng dạy có thành công hay không, học sinh có tiến bộ hay không.” [1]
KT-ĐG là một mắt xích quan trọng không thể thiếu được của quá trình giáo dục
và đào tạo GV kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của HS, phân tích trình độ kiến thức và sự tiến bộ mà HS đạt được, từ đó rút ra những kết luận nhằm tiếp tục hoàn thiện việc giảng dạy của bản thân đồng thời giúp HS hoàn thiện những thiếu sót trong kiến thức và kĩ năng Mặt khác, KT-ĐG giúp các nhà hoạt động giáo dục có cơ sở để điều chỉnh chương trình học tập, phương pháp giảng dạy, cải thiện nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu đã đề ra
b) Ý nghĩa của kiểm tra đánh giá
-KT-ĐG đánh giá giúp GV hiểu rõ quá trình và kết quả học tập của HS, phát hiện thiếu sót trong kiến thức, kĩ năng để kịp thời sửa chữa, bổ sung Bên cạnh đó, GV
Trang 14cũng tự đánh giá kết quả giảng dạy của bản thân, thấy được thành công và những vấn
đề cần rút kinh nghiệm, từ đó có những điều chỉnh thích hợp trong phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng dạy học
-KT-ĐG là cơ hội để HS tự khẳng định mình, phát triển toàn diện về năng lực nhận thức (nhớ, hình dung, tưởng tượng…), hình thành những kỹ năng như phân tích,
so sánh, tổng hợp… và nâng cao khả năng tư duy độc lập, sáng tạo…Bên cạnh đó, HS được hình thành những kĩ năng giải quyết vấn đề ở các cấp độ khác nhau như nhận biết, thông hiểu, vận dụng
-Ngoài ra, KT-ĐG còn có tác dụng giáo dục về mặt đạo đức, phẩm chất cho HS Hình thành cho các em ý chí quyết tâm đạt kết quả cao, sự trung thực, ý thức giúp đỡ nhau trong học tập…v.v
1.1.1.3 Yêu cầu sư phạm của kiểm tra đánh giá
-Việc kiểm tra đánh giá được tiến hành bởi GV, phải có kế hoạch cụ thể và có mối liên hệ chặt chẽ với nội dung kiến thức và mục tiêu đã đề ra
-KT-ĐG là thao tác hoạt động của một chủ thể, vì vậy không thể tránh khỏi tính chủ quan Tuy nhiên, công việc KT-ĐG đòi hỏi phải mang tính khách quan, công bằng, cố gắng phụ thuộc càng ít vào những sự kiện ngẫu nhiên càng tốt, càng khách quan thì giá trị của việc đánh giá càng cao
1.1.2 Năng lực tự kiểm tra đánh giá chất lượng học tập của học sinh
Trong những năm gần đây, phương pháp tự kiểm tra đánh giá đang được quan tâm nghiên cứu và thực hiện ở một số nơi trên thế giới Đây là một khái niệm khá mới
mẻ trong giáo dục Đã có một số báo cáo về mặt lý thuyết và thực tiễn về tác động của việc tự kiểm tra đánh giá đến kết quả học tập của HS Bên cạnh công việc KT-ĐG chất lượng học tập được tiến hành bởi GV thì việc tự kiểm tra đánh giá lại là một phương pháp mà HS có thể tự thu thập thông tin và suy ngẫm lại quá trình học tập của mình Qua đó HS tự đưa ra những đánh giá sơ bộ về sự tiến bộ của bản thân trong việc tiếp thu kiến thức, phát triển kỹ năng, phương pháp học và thái độ
Tự kiểm tra đánh giá sẽ không còn là mối quan tâm chung chung trong lĩnh vực học tập tự chủ mà nó là một thành phần thiết yếu trong phương pháp học của mỗi HS Đối với người học, thông tin phản hồi về sự cố gắng của họ cho biết ba yếu tố: mục
Trang 15tiêu học tập của bản thân là gì, vị trí của mình đang ở đâu so với mục tiêu và làm cách nào để lấp đầy khoảng trống giữa vị trí hiện tại và mục tiêu đã xác định đó
Cụ thể hơn, việc tự kiểm tra đánh giá sẽ mang lại những lợi ích sau cho HS:
- Xác định được mục tiêu học tập đúng tương ứng với yêu cầu của môn học -Nhận thức được điểm mạnh cần phát huy và điểm yếu cần khắc phục Thúc đẩy
sự phát triển của bản thân thông qua việc tự ý thức được khả năng hiện tại của mình
- Chủ động trong quá trình kiểm tra đánh giá, có thể mang lại thành tích học tập tốt hơn
- Nhận thức được trách nhiệm của việc học và phát triển kỹ năng tự học suốt đời Bên cạnh đó, việc tự kiểm tra đánh giá của HS còn giúp ích cho GV trong việc tham khảo để đưa ra những chiến lược giảng dạy và mục tiêu đánh giá phù hợp
Để thực hiện được tốt việc tự kiểm tra đánh giá, HS có thể thực hiện tuần tự theo những bước sau: xây dựng và chọn lọc tiêu chí đánh giá có sự hướng dẫn của GV;
so sánh và đối chiếu kết quả của mình với tiêu chuẩn; phát hiện những sai sót và tự điều chỉnh phương pháp, nội dung học tập
Thuận lợi của việc tự kiểm tra đánh giá là HS có thể tự tiến hành ở bất kì đâu, bất cứ lúc nào, nhờ vậy mà có thể chủ động về mặt thời gian và tài liệu tham khảo tra cứu thuận tiện Tuy nhiên, hiện nay năng lực tự kiểm tra đánh giá của HS được hình thành một cách tự phát, thực hiện một cách tùy tiện, dễ bị chi phối bởi những ngoại cảnh khác nhau Nó xuất phát từ nhu cầu tự học, tự củng cố và ôn luyện kiến thức của bản thân mà chưa có sự hướng dẫn cụ thể nào để việc xây dựng kỹ năng tự kiểm tra đánh giá đạt được hiệu quả tốt và giúp ích cho quá trình kiểm tra đánh giá trên lớp Càng ngày kỹ năng này ngày càng trở nên cần thiết trong quá trình tự học của HS ở các cấp học cao hơn nữa Vì vậy, ở cấp học THPT, việc bồi dưỡng năng lực tự kiểm tra đánh giá cho HS rất cần có sự hướng dẫn và định hướng rõ ràng cụ thể của GV
1.1.3 Trắc nghiệm khách quan trong giáo dục
1.1.3.1 Khái niệm trắc nghiệm khách quan
Đối với những bài kiểm tra hoặc bài thi viết, hình thức làm bài có thể được chia thành hai dạng: trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan (TNKQ) Cả hai hình thức này đều được gọi chung là trắc nghiệm HS cùng thực hiện những công việc đã
Trang 16định hay những yêu cầu cụ thể, tại một thời điểm, địa điểm đã định trước và HS ý thức được việc mình đang được theo dõi, đánh giá
Trắc nghiệm tự luận đòi hỏi HS phải viết và diễn đạt câu trả lời theo ngôn ngữ riêng của mình cho mỗi câu hỏi tương ứng, thường gồm nhiều dòng Kết quả của bài kiểm tra trắc nghiệm tự luận ít nhiều vẫn còn phụ thuộc vào chủ quan của người chấm
và nhiều yếu tố khác có thể tác động đến Trong khi đó, chữ “khách quan” dùng để chỉ loại trắc nghiệm không phụ thuộc vào người chấm, có phương pháp chấm điểm khá đều tay và có độ tin cậy khá cao dựa vào đáp án đã được soạn từ trước HS khi làm bài trắc nghiệm khách quan buộc phải chọn chỉ một đáp án đúng nhất tương ứng với câu hỏi đưa ra Như vậy, việc chấm điểm bài kiểm tra TNKQ nếu đưa cho một hoặc nhiều người chấm cũng đều cho kết quả như nhau hoặc sai lệch rất ít Hơn nữa, công việc này có thể được tiến hành bằng máy móc để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy cao hơn nữa Vậy nên, do những tính chất trình bày ở trên, loại trắc nghiệm này có tên là trắc nghiệm khách quan
1.1.3.2 Các loại trắc nghiệm khách quan
TNKQ có thể được chia làm 4 loại :
-Loại trắc nghiệm điền khuyết: đây là câu hỏi TNKQ mà HS cần phải điền từ
hoặc cụm từ thích hợp với các chỗ để trống Các câu trả lời thường thuộc loại đòi hỏi trí nhớ hoặc óc suy luận hay sáng kiến
-Loại trắc nghiệm “đúng- sai”: đây là loại trắc nghiệm yêu cầu người làm phải
phán đoán nội dung hay hình thức một câu trần thuật là đúng hay sai Loại câu hỏi này thích hợp với việc khảo sát trí nhớ hoặc sự nhận biết các sự kiện
-Loại trắc nghiệm ghép đôi (xứng hợp): câu hỏi TNKQ dạng này có hai cột
gồm danh sách những câu hỏi và câu trả lời HS cần tìm cách ghép mỗi từ hay câu trả lời trong một cột với một từ hay câu xếp trong cột khác Số câu hoặc từ ở trong hai cột
có thể không bằng nhau, ít hoặc nhiều hơn
-Loại câu hỏi có nhiều câu trả lời để lựa chọn (MCQ): gồm một câu phát biểu
căn bản (câu dẫn), đi với nhiều câu trả lời- thường từ bốn đến năm câu, có dạng giống nhau, gồm một từ, một cụm từ hay một câu hoàn chỉnh HS phải chọn ra câu trả lời đúng nhất hay hợp lý nhất Ngoài câu trả lời đúng, các câu còn lại cũng có vẻ hợp lý gọi là
Trang 17câu nhiễu Đây là loại TNKQ thông dụng và được sử dụng phổ biến nhất trong các bài kiểm tra Các câu hỏi này có thể dùng để thẩm định trí nhớ, mức độ hiểu biết, khả năng
áp dụng, phân tích, tổng hợp và cả khả năng phán đoán cũng yêu cầu phải cao hơn
1.1.3.3 Cơ sở để lựa chọn hệ thống câu hỏi TNKQ:
Có nhiều cơ sở để lựa chọn và phân loại hệ thống câu hỏi TNKQ, tuy nhiên trong đề tài này tôi căn cứ vào các mức độ nhận thức để xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQ Hiện nay việc phân loại mức độ nhận thức có đề nghị khác nhau, nhưng cách phân loại của Benjamin Bloom vẫn được nhiều người chấp nhận
Năm 1956, nhà tâm lý học Benjamin Bloom đã đưa ra lối phân loại mục tiêu giáo dục theo hai lĩnh vực nhận thức và cảm xúc Trong đó, lối phân loại về nhận thức được phổ biến rộng khắp trên thế giới, không ngừng được cải tiến và khai triển Theo cách phân loại về nhận thức của Bloom, lĩnh vực nhận thức được chia làm sáu phạm
trù chủ yếu, xếp theo mức độ tăng dần gồm nhận biết, thông hiểu, ứng dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá
Trang 18Mức độ nhận biết (câu hỏi loại A): yêu cầu người học nhớ lại đúng điều được
hỏi đến Đây là mức độ nhận thức thấp nhất mà người học chỉ cần vận dụng trí nhớ
Nó bao gồm việc có thể thuộc lòng, nhớ lại các điều đặc biệt hoặc tổng quát, nhớ lại các phương pháp và quá trình, hoặc nhớ lại một dạng thức, một cấu trúc, một mô hình
mà người học đã được gặp trong quá khứ
Mức độ thông hiểu (câu hỏi loại B): được bao hàm cả mức độ nhận biết nhưng
ở mức cao hơn vận dụng trí nhớ Nó có liên quan đến ý nghĩa và mối liên hệ của những gì HS đã được học Ở mức độ này, yêu cầu người học biết giải thích được các khái niệm, giải thích được thí nghiệm xảy ra như thế nào, phát biểu lại định nghĩa dưới một dạng khác mà không mất đi đặc trưng của khái niệm đó…Như vậy, mức độ thông hiểu yêu cầu học sinh phải giải thích, phân biệt, phát biểu lại định nghĩa và suy diễn từ các dữ kiện đã cho
Mức độ vận dụng (ứng dụng) (câu hỏi loại C và D) : đòi hỏi người học biết
vận dụng kiến thức, sử dụng ý tưởng, phương pháp, nguyên lý hay các định luật đã học
để giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó Ở mức độ vận dụng cấp độ thấp, học sinh chỉ cần xác định được nội dung kiến thức liên quan đến tình huống, biết áp dụng công thức, định luật, định lý như thế nào cho phù hợp với vấn đề đó Ở mức độ cao hơn, yêu cầu HS phải chuyển kiến thức từ hoàn cảnh quen thuộc sang hoàn cảnh mới, thu nhặt
và sắp xếp các kiến thức rời rạc, tạo thành mối liên hệ để giải quyết vấn đề tổng quát hơn Việc vận dụng quá trình tư duy nhiều hơn để đưa ra những phán đoán, suy luận
và sử dụng thành thạo các thao tác tư duy càng được phát huy ở câu hỏi loại D
Tóm lại các cấp độ tư duy được mô tả tóm tắt như sau:
Bảng 1.1: Mô tả về cấp độ tư duy
Trang 19Các vấn đề tương đương với tình huống thực tế HS gặp ở môi trường ngoài lớp học cũng có thể được đưa ra giải quyết ở cấp
độ này
1.1.4 Ưu và nhược điểm của hình thức kiểm tra trắc nghiệm khách quan
Trong hai loại trắc nghiệm, trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan đều
có những ưu nhược điểm riêng Không phải TNKQ sẽ tỏ ra vượt trội hơn vì tính
“khách quan” cao hơn mà bên cạnh đó nó vẫn tồn tại những hạn chế
*Ưu điểm của trắc nghiệm khách quan :
-Có thể KT-ĐG kiến thức của HS ở nhiều mức độ tư duy khác nhau như: nhớ,
áp dụng các nguyên lý, các định luật, suy diễn, tổng quát hóa…
-Có thể kiểm tra trên nhiều lĩnh vực, phạm vi kiến thức trải rộng trong mỗi bài thi, bao quát nội dung chương trình giảng dạy làm độ tin cậy của bài thi được tăng lên
-Đối với HS, hình thức TNKQ khuyến khích người học tích lũy nhiều kiến thức
và kỹ năng, đòi hỏi phạm vi kiến thức cần tích lũy trải rộng, tránh được tình trạng học
tủ, học lệch khi làm bài thi, bài kiểm tra Nếu thi bằng hình thức tự luận, trả lời một câu hỏi cần thời gian khá dài để diễn giải một phần nội dung nhỏ, nếu hành văn tốt, thí sinh có thể gây ấn tượng bằng phần mình hiểu biết và khỏa lấp những phần yếu kém khác trong bài, điều này thì không thể xảy ra với TNKQ
-Việc chấm điểm bài thi bằng hình thức TNKQ nhanh hơn và chính xác hơn Nhờ có những đáp án ấn định điểm số cụ thể nên độ tin cậy của bài thi cao hơn
*Nhược điểm của trắc nghiệm khách quan:
- Việc xây dựng câu hỏi TNKQ đòi hỏi mất nhiều thời gian và công sức của người soạn Câu từ trong câu dẫn và các phương án trả lời phải được dùng chính xác,
độ khó của câu phải tương ứng với mức độ nhận thức Trong một bài kiểm tra có nhiều câu hỏi và những câu hỏi này phải nhắm vào những phần HS dễ chủ quan, dẫn đến ngộ nhận Chỉ có một lựa chọn là đúng nhưng các lựa chọn còn lại cũng phải có lý, tức là gây được nhiễu với HS
Trang 20- HS có thể đoán mò đáp án, tức là kết quả của bài kiểm tra TNKQ bị ảnh hưởng bởi độ may rủi Số lựa chọn trong một câu hỏi có thể được tăng lên để giảm độ may rủi, tuy nhiên nếu có quá nhiều lựa chọn cũng gây khó khăn và mệt mỏi cho HS khi làm bài
-TNKQ chỉ cho thấy được kết quả mà không kiểm tra được quá trình suy luận, diễn biến tư duy và khả năng diễn đạt, sắp xếp ý tưởng của HS
-Tốn kém giấy mực và tốn nhiều thời gian để HS đọc nội dung câu hỏi
Tùy vào mục tiêu của chương trình học, mỗi môn học hay yêu cầu cần KT-ĐG trong mỗi trường hợp riêng biệt mà sử dụng hình thức trắc nghiệm tự luận hoặc trắc nghiệm khách quan Việc lựa chọn này cân nhắc dựa trên các ưu, khuyết điểm của mỗi loại trắc nghiệm
Đối với các môn khoa học tự nhiên như Vật lí, Hóa học, Sinh học có thể áp dụng hình thức kiểm tra trắc nghiệm khách quan vào trong các bài kiểm tra định kì hoặc các kì thi tuyển sinh
1.2 Cơ sở của việc sử dụng Internet và Website trong việc tự kiểm tra đánh kết quả học tập
1.2.1 Khái niệm mạng máy tính và Internet
1.2.1.1 Khái niệm mạng máy tính
Mạng máy tính là hệ thống gồm nhiều máy tính được kết nối với nhau theo cách nào đó để người dùng có thể chia sẻ, dùng chung tài nguyên, trao đổi thông tin và thực hiện các tính năng bảo mật dữ liệu cho người dùng trên cùng mạng
Các mạng máy tính thường được phân loại theo phạm vi kết nối hoặc phương pháp kết nối
- Mạng GAN (Global Area Network): kết nối các máy tính từ các châu lục khác nhau, thông qua mạng viễn thông và vệ tinh
- Mạng WAN (Wide Area Network): kết nối các máy tính trong cùng một khu vực, một quốc gia, một châu lục…thông qua mạng viễn thông Các mạng WAN kết nối với nhau thành mạng GAN
- Mạng MAN (Metropolitan Area Network): kết nối các máy tính trong phạm vi một thành phố, thị xã…bán kính tầm 50km thông qua đường môi trường truyền thông tốc độ cao như mạng không dây hoặc cáp quang
Trang 21-Mạng cục bộ LAN (Local Area Network): kết nối các máy tính trong khu vực tương đối nhỏ, bán kính vài trăm mét Thường được kết nối bằng cáp đồng trục, cáp quang Kết nối nhiều mạng LAN lại sẽ được mạng WAN
1.2.1.2 Khái niệm Internet
Internet (International Network) là kết nối các mạng máy tính với nhau thông qua các mạng viễn thông như mạng điện thoại, vệ tinh, cáp quang…để tạo ra một mạng chung rộng lớn có tính chất toàn cầu Hai mạng máy tính bất kì kết nối theo kiểu Internet có thể tiếp xúc và trao đổi dữ liệu nhờ vào giao thức TCP/IP Vì vậy, mạng Internet được gọi là “tập hợp của các mạng”
TCP/IP ( Transmission Control Protocol/ Internet Protocol) là bộ giao thức truyền thông mà hầu hết mạng Internet và các mạng máy tính thương mại đang chạy trên đó, nó cho phép truyền dữ liệu từ máy tính này sang máy tính khác Nhờ vậy mà các máy chủ (server) kết nối với nhau dễ dàng
1.2.2 Khái niệm web và website học tập
1.2.2.1 Khái niệm web
World Wide Web, gọi tắt là web hoặc www, là mạng lưới thông tin toàn cầu mà người dùng có thể truy cập qua các máy tính nối với mạng Internet World Wide Web
là một loại dịch vụ phổ biến và phát triển nhất trên mạng Internet hiện nay, nó được xây dựng và lưu trữ dựa trên một kỹ thuật có tên gọi là HyperText (siêu văn bản) Kỹ thuật này cho phép trình bày thông tin trên một trang văn bản có thể liên kết đến các trang khác Trang chủ hay còn gọi là trang gốc của website thường gọi là Home Page,
là trang có nhiều liên kết nhất Trên siêu văn bản, một cụm nội dung, từ ngữ được chọn có thể được mở rộng bất kỳ lúc nào để cung cấp thêm thông tin đầy đủ hơn Sự
mở rộng này nhờ vào các liên kết với các tài liệu lưu trữ ở trang khác Website có thể cho người dùng truy cập và xử lý thông tin các trang dữ liệu đa phương tiện này trên mạng Internet
Thông tin dữ liệu lưu trữ trong trang văn bản (Web) có thể hiển thị cùng một lúc nhiều kiểu khác nhau như dạng text, hình ảnh, âm thanh, video…v.v Để xây dựng được thông tin đa phương tiện (Hypermedia), web sử dụng ngôn ngữ trình bày có tên
Trang 22là HTML (Hyper Text Markup Language) HTML cho phép đọc và liên kết các dữ liệu khác nhau trên cùng một trang thông tin
Mỗi trang web chứa nhiều tài liệu, nhiều dịch vụ khác nhau Người ta sử dụng
URL (Uniform Resource Locator) để tham chiếu đến từng tài liệu, từng dịch vụ ở
trong web Hay nói cách khác mỗi URL là một địa chỉ để định danh cho mỗi tài nguyên cụ thể trên web Một URL sẽ có cấu trúc như sau: giao thức-tên miền (domain name) - đường dẫn tuyệt đối đến vị lưu trữ tài nguyên trên máy chủ
và lĩnh hội nội dung kiến thức bên cạnh phương pháp giáo dục truyển thống Từ những
định nghĩa về website ở trên, có thể hiểu website học tập là một dạng phần mềm trên
máy tính, với các siêu văn bản ở dạng liên kết (là các tài liệu điện tử như bài giảng, Sách giáo khoa, sách bài tập, sách tham khảo, đề kiểm tra…), được trang bị các công
cụ tiện ích (thông tin đa phương tiện như văn bản, âm thanh, hình ảnh, video bài giảng…và các ứng dụng khác) và các siêu giao diện để hỗ trợ cho việc dạy và học
1.2.3 Vai trò của Internet trong Giáo dục
Mạng máy tính bắt đầu xuất hiện vào những năm 60 - 70 của thế kỉ 20 và đã không ngừng phát triển cho đến ngày nay Vì vậy, với sự lan rộng của Internet, thế kỉ
21 được gọi là thời đại bùng nổ thông tin Từ cuối năm 1997, Việt Nam chính thức bắt đầu hòa mạng Internet toàn cầu Theo thống kê đến cuối tháng 7 năm 2011, số người
sử dụng Internet ở Việt Nam đã đạt đến 31 triệu Số lượng người dùng Internet đông đảo được xem là nền tảng và cơ hội để phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam
Giao thức tên miền của
trang web
vị trí của tài liệu trên máy chủ
Trang 23Với sự lan rộng của mạng Internet, sức ảnh hưởng của công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) cũng ngày càng trở nên mạnh mẽ, tác động đến mọi lĩnh vực trong đời sống và đặc biệt là Giáo dục và đào tạo Việc ứng dụng những thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ vào công cuộc dạy và học ở Việt Nam nhằm thích ứng với sự phát triển của nền giáo dục hiện đại đang là mối quan tâm hàng đầu của nhiều nhà quản lý giáo dục, nhiều GV và nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực viễn thông Đặc biệt, khi tất cả các công nghệ đều tập trung vào sự giao tiếp giữa các máy tính, coi trọng khả năng kết nối hơn là khả năng tính toán thì máy tính nối mạng đã trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc học tập Sự ra đời của World Wide Web tạo khả năng cung cấp thông tin và kiến thức tổng hợp trực tuyến cho người sử dụng mạng
Internet Việc học những kỹ năng mới sẽ được thiết kế thành những mô-đun (module)
tích hợp trên web để bất kì ai cũng có thể học ở mọi lúc mọi nơi Một website học tập được xây dựng bởi những giáo viên giỏi và các chuyên gia đa phương tiện, giúp cho việc tự học của người học chủ động, tích cực hơn và có thể mang đến hiệu quả tốt hơn
Họ có thể tự kiểm soát được những bài học, nội dung kiến thức muốn tìm hiểu, quyết định khi nào học, khi nào tự kiểm tra đánh giá kết quả… v.v
Tuy nhiên, sự phát triển của CNTT trong giáo dục còn yếu, công nghệ Internet còn chưa được ứng dụng phổ biến Nguyên nhân là do các chủ trương đưa ra rất đúng nhưng thực tiễn áp dụng chưa triệt để, nhiều địa phương chưa hiểu rõ được sự phát triển của CNTT thong giáo dục có ý nghĩa như thế nào Bên cạnh đó, kinh phí đầu tư cho cơ sở hạ tầng, bồi dưỡng đội ngũ GV và phát triển các khóa học rất tốn kém…v.v
Giáo dục điện tử luôn được đánh giá là bước phát triển quan trọng trong chiến lược đổi mới căn bản toàn diện giáo dục của tương lai Xu thế phát triển của công nghệ Internet hiện nay là chìa khóa thúc đẩy chúng ta phải đổi mới giáo dục
1.2.4 Hình thức triển khai Website học tập hỗ trợ việc tự kiểm tra đánh giá bằng
hình thức trắc nghiệm khách quan
1.2.4.1 Khả năng ứng dụng của website học tập
a) Tạo môi trường tương tác để người học làm quen với MVT và mạng Internet
Với các công cụ truyền thông đa phương tiện (hypermedia) được liên kết chặt chẽ với nhau thành siêu văn bản, Website tạo ra khả năng đáp ứng nhu cầu thu nhập
Trang 24thêm thông tin liên quan đến các vấn đề cần giải quyết Đây là nguồn tài nguyên thông tin vô tận mà HS có thể tự tìm hiểu nội dung kiến thức nào đó, đưa ra các hình ảnh, video clip minh họa, TN ảo hoặc TN mô phỏng chứng minh cho một định luật, định lý đã học
Ngoài ra, website còn có các diễn đàn (forum), các nhóm học tập được tổ chức
để người học có thể chủ động trao đổi thông tin, tương tác với nhau một cách tích cực
và năng động hơn Một vấn đề thắc mắc, cần quan tâm được đưa ra thảo luận, bàn bạc
theo các chủ đề (topic) trên Website
b) Sử dụng website như công cụ hỗ trợ giảng dạy
Thông qua web, GV có thể tìm kiếm thông tin, tư liệu về hình ảnh, âm thanh, đoạn clip, thí nghiệm mô phỏng để minh họa cho nội dung bài giảng sinh động và dễ tiếp thu hơn Hơn nữa, nhờ vào khả năng truyền thông đa phương tiện của Web, ngày nay GV có thể xây dựng những bài giảng trực tuyến; trao đổi trực tiếp thông tin về bài học; giao nhiệm vụ, bài tập và cả bài kiểm tra…cho HS
c) Sử dụng website như công cự hỗ trợ học tập
Qua các Websie học tập, HS chủ động tìm kiếm các khóa học phù hợp với bản thân, lựa chọn được nội dung kiến thức cần học Các bài giảng trực tuyến được thiết kế khoa học và chặt chẽ mở ra thêm cho HS một cách thức mới để tiếp cận với nội dung môn học Ngoài ra, các trang web kiểm tra đánh giá trực tuyến giúp học sinh có thể tự củng cố kiến thức và đánh giá khả năng học tập của mình Bên cạnh đó, người học còn học được cách khai thác tài nguyên thông tin thành thạo thông qua mạng Internet và website, tạo một thói quen chủ động giải quyết các vấn đề gặp phải trong quá trình học tập
d) Sử dụng website như công cụ quản lý học tập
Quyền của người quản lý website có thể biết và kiểm soát được thời gian sử dụng web của HS, thời gian truy cập để học tập và thời gian để làm bài kiểm tra Kết quả các bài kiểm tra của HS cũng được lưu trữ một cách chính xác Việc quản lý và xử
lý lượng thông tin ngày càng nhiều, càng phức tạp giờ đây có thể trở nên dễ dàng hơn với GV nhờ vào website và Internet
Trang 251.2.4.2 Triển khai website học tập với hoạt động tự kiểm tra đánh giá bằng hình
thức trắc nghiệm khách quan
a) Ưu điểm và hạn chế của Website học tập với hoạt động tự kiểm tra đánh giá
Như đã trình bày ở trên, website học tập có thể được xem là một công cụ hỗ trợ đắc lực để rèn luyện năng lực tự kiểm tra đánh giá cho người học Những trang web
học tập được tích hợp thêm các chức năng (component) KT-ĐG cho phép GV tạo ra
những bài kiểm tra TNKQ trực tuyến và HS truy cập để làm bài
Nhờ vào khả năng xử lý của MVT và thông qua các website, HS có thể tự sắp xếp để tiến hành bài kiểm tra trực tuyến ở bất kỳ nơi đâu và bất kỳ lúc nào thuận lợi trong thời gian biểu của mình Tuy không có những áp lực như trong phòng thi thật sự nhưng với đồng hồ đếm giây hiển thị trên mỗi bài kiểm tra đòi hỏi HS phải tập trung cao độ, nhanh nhạy khi làm bài và thao tác phải thật chuẩn xác Việc chấm điểm được
tự động hóa với độ tin cậy cao Kết quả của bài kiểm tra sẽ được hiển thị ngay sau khi hoàn thành Bên cạnh đó phần mềm cung cấp đáp án chính xác cho từng câu hỏi để HS
so sánh và tìm ra nguyên nhân sau khi hoàn thành bài kiểm tra Với việc nhận lại thông tin phản hồi một cách nhanh chóng tức thời, HS kịp thời rút ra được những sai lầm, thiếu sót của bản thân để có những điều chỉnh phù hợp trong phương pháp học nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng học tập Bên cạnh đó, HS có quyền lựa chọn những bài kiểm tra được sắp xếp theo chủ đề, theo chương, theo nội dung môn học hoặc theo các cấp độ, với quy mô khác nhau…v.v phù hợp với mục đích của cá nhân Quyền tự lựa chọn nội dung và tự quyết định tần suất thực hiện bài kiểm tra giúp HS chủ động hơn trong việc tự củng cố kiến thức, tiết kiệm được thời gian và công sức
Tuy nhiên, không phải PTDH nào mới cũng chỉ toàn những ưu điểm và toàn năng Bên cạnh những ưu điểm, tự kiểm tra đánh giá qua các website học tập cũng có những hạn chế nhất định cùng với những yêu cầu khắt khe
- Website học tập với những bài kiểm tra đánh giá trắc nghiệm phải đảm bảo được tính sư phạm trong cả nội dung và hình thức Đòi hỏi GV và người quản lý Website tốn nhiều thời gian và công sức đầu tư xây dựng bài kiểm tra và quản trị web
- Khi học tập độc lập với Website HS sẽ bị hạn chế về mặt giao tiếp với GV và người học khác Kết quả của bài kiểm tra chỉ cho biết được đáp án sai, đúng hoặc lời
Trang 26giải nhưng không thể đưa ra lời giải thích cho quá trình trả lời câu hỏi của bản thân học sinh Trong khi, nếu làm việc trực tiếp với GV, HS có thể được chỉ ra những lỗi sai cụ thể Thêm vào đó hình thức TNKQ vốn đã không cung cấp cho GV cơ sở để đánh giá được quá trình tư duy của học sinh
-Việc học tập trực tuyến và làm các bài kiểm tra trên mạng Internet rất phù hợp với HS có tinh thần tự học cao và nền tảng kiến thức vững chắc Đối với những HS có khả năng tập trúng kém thường dễ sa đà vào các cám dỗ khác trên mạng như trò chơi trực tuyến (game online) hay các trang mạng xã hội Hơn nữa, nguồn thông tin đa chiều
dễ làm HS bị “nhiễu”, dẫn đến nhầm lẫn nội dung kiến thức này với nội dung khác
- Các Website được cài đặt trên MVT và sử dụng qua mạng Internet, mà công nghệ, máy móc thì không phải lúc nào cũng đáng tin cậy Các dữ liệu lưu trữ có thể bị mất nếu hệ thống bị xâm nhập hoặc bị lỗi ở một phần nào đó Việc bảo mật dữ liệu, kết nối đường truyền có thể bị hỏng hóc bất thường Tốc độ của MVT và đường truyền Internet ảnh hưởng đáng kể đến việc tự kiểm tra đánh giá thông qua website
- Chi phí đầu tư để xây dựng một Website học tập khá tốn kém, các phần mềm chức năng hỗ trợ kiểm tra đánh giá, không gian để chứa dữ liệu của web (host) đều phải trả phí
- Tình hình chung về điều kiện được trang bị máy móc và mạng Internet chưa
đủ lớn để có thể sử dụng Website học tập và triển khai mô hình tự kiểm tranh đánh giá một cách phổ biến và rộng khắp đến đại đa số HS
Tuy nhiên, nhìn nhận những điểm yếu và khó khăn sẽ giúp chúng ta có thể xây dựng và triển khai Website học tập với mục đích tự kiểm tra đánh giá một cách hợp lý hơn và khắc phục được những hạn chế tối đa nhất Từ đó, có thể thấy rằng việc sử dụng Website để hình thành năng lực tự kiểm tra đánh giá cho HS cần có sự định hướng và giám sát chặt chẽ từ GV
b) Triển khai Website học tập như một công cụ hỗ trợ khả năng tự kiểm tra đánh giá
Dựa vào tình hình thực tế về mặt cơ sở vật chất của nhà trường và của học sinh
có thể tiến hành cài đặt và khai thác Website kiểm tra đánh giá với hình thức:
- Đưa Website lên mạng Internet để phổ biến rộng rãi
Trang 27- Mua tên miền (domain) và host để tạo điều kiện cho số lượng người truy cập lớn
- Mua phần mềm hỗ trợ kiểm tra đánh giá TNKQ
- Cài đặt Website vào máy tính cá nhân của học sinh
Website học tập có thể đáp ứng được nhu cầu của người học hay không còn tùy thuộc vào việc nội dung của trang Web được xây dựng như thế nào và có theo sát nội dung kiến thức phổ thông hay không Quy mô phát triển của Web nếu được mở rộng
và trở nên phổ biến cũng đòi hỏi tính bảo mật cao, lượng người truy cập nhiều đòi hỏi
hệ thống quản trị web phải vững chắc, đội ngũ chuyên sâu
Khai thác một mô hình học tập mới và tính khả thi của việc triển khai mô hình đó vào trong thực tế luôn có những điểm mạnh và hạn chế nhất định Nhìn nhận được những điểm tốt để phát huy và tiếp tục kế thừa cũng như những khó khăn, hạn chế gặp phải trong quá trình triển khai sẽ làm bài học kinh nghiệm để tìm cách khắc phục tốt hơn
1.3 Cơ sở lý luận của việc khai thác và sử dụng mạng Internet trong việc tự học và
tự kiểm tra đánh giá môn Vật lý
1.3.1 Vai trò của Internet trong việc hỗ trợ năng lực tự kiểm tra đánh giá môn Vật lý
CNTT nói chung và MVT, mạng Internet nói riêng ngày càng được ứng dụng phổ biến trong các môn học ở trường THPT Trong quá trình dạy học môn Vật lí, MVT và mạng Internet không những trở thành phương tiện hỗ trợ đắc lực cho việc giảng dạy và học tập mà còn cung cấp một môi trường thuận lợi để rèn luyện kĩ năng
tự kiểm tra đánh giá cho người học
Việc đổi mới hình thức thi TNKQ đối với môn Vật lí trong các kì thi tuyển sinh Cao đẳng, Đại học, thi Tốt nghiệp và ở một số bài kiểm tra định kì tại lớp khiến HS phải thay đổi phương pháp học tập, phạm vi kiến thức cần được bao quát hơn và tần suất ôn luyện cũng nhiều hơn Nhờ vào khả năng lưu trữ và xử lý của máy tính, thông qua các Website học tập, trong đó có hoạt động tự ôn tập, củng cố kết hợp với tự kiểm tra đánh giá, HS có thể tiến hành làm các bài kiểm tra trắc nghiệm trực tuyến và nhận lại kết quả tức thời HS có thể làm ở mọi nơi và tự sắp xếp thời gian thích hợp cho bản thân
Ngoài hình thức làm bài kiểm tra TNKQ trực tuyến, thông qua mạng Internet
HS có thể tìm kiếm tài liệu bổ trợ cho việc tự củng cố kiến thức như các đề thi thử, đề kiểm tra định kì, tóm tắt lý thuyết…v.v
Trang 28Hiện nay, việc khai thác hiệu quả những tiện ích mà Internet mang lại, cũng như xây dựng những trang Web hỗ trợ kiểm tra trắc nghiệm trực tuyến môn Vật lí đang được các thầy cô và HS quan tâm Tuy nhiên, nguồn tư liệu trên mạng Internet ngày càng phong phú và có thể chưa được đảm bảo hoàn toàn về tính chính xác khoa học,
do đó làm thế nào để khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên mà Internet mang lại là một
kỹ năng cần thiết của HS và cả GV
1.3.2 Joomla!- công cụ thuận lợi để thiết kế website học tập
1.3.2.1 Giới thiệu chung về Joomla
“Joomla!” là hệ thống quản trị nội dung với mã nguồn mở Joomla! được viết bằng ngôn ngữ PHP (Hypertext Preprocessor) - ngôn ngữ lập trình web phổ biến nhất thế giới hiện nay, và kết nối tới cơ sở dữ liệu MySQL, cho phép người sử dụng dễ dàng xuất bản nội dung của họ lên Internet hoặc mạng nội bộ
Joomla! được phát âm theo tiếng Swahili như là jumla, có nghĩa là
“đồng tâm hiệp lực” Joomla! ra đời năm 2005 bởi một nhóm nhân sự do bất đồng
quan điểm trong nội bộ Manbo-một hệ quản trị mạng nổi tiếng của Úc Hiện tại, tổ chức phi lợi nhuận Open Source Matter được thành lập để đứng ra bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển cho dự án Joomla!
Joomla! có mã nguồn mở do đó việc sử dụng Joomla! là hoàn toàn miễn phí cho tất cả mọi người
Chỉ trong một thời gian ngắn kể từ khi ra đời, Joomla! đã đạt được nhiều giải thưởng đáng tín cậy trên Thế giới về hệ quản trị nội dung mạng mã nguồn mở và không ngừng nâng cấp hệ thống của mình qua các phiên bản 1.0, 1.5, 2.5 và 3.0 Bên
cạnh đó, điểm mạnh của Jommla! là có các thành phần mở rộng (extensions) như
component, plugin, module để tích hợp vào web ngày càng nhiều và đạt đến số lượng rất lớn Điều đó đã khẳng định việc xây dựng Website trên mã nguồn mở Joomla sẽ luôn được cập nhật và mang lại hiệu quả tốt nhất
Một điều đáng mừng đối với người muốn thiết kế và xây dựng Website trên nền tảng Joomla! là họ luôn có sự hỗ trợ từ cộng đồng Joomla! trên toàn Thế giới Tại Việt
Nam, Jomlaviet.org là cộng đồng Joomla số một nhờ tính hỗ trợ cao và phi lợi nhuận Ngoài ra còn có một số trang Web khác như http://www.joomla.edu.vn …
Trang 291.3.2.2 Joomla!-công cụ thuận lợi để thiết kế website học tập
Hiện nay có nhiều hệ thống quản lý học tập LMS ( Learning Management
System) với mã nguồn mở như Blackboard, Atutor, Itias và đáng kể đến là
Moodle…v.v Bên cạnh đó Joomla! cũng cho phép cung cấp một hệ thống JoomlaLMS cạnh tranh để xây dựng các Website học tập Và JoomlaLMS đang cố gắng có được vị trí thứ hai nổi bật trên thị trường thế giới chỉ sau Moodle
“Mã nguồn mở” đã trở thành thuật ngữ mới trong công nghệ phần mềm Các phần mềm được viết trên nền tảng mã nguồn mở đều cho phép bất kì ai nghiên cứu, đánh giá, và can thiệp vào phần mã của các phần mềm đó sao cho phù hợp với yêu cầu
sử dụng riêng Nếu những sửa chữa đó tiến bộ hơn có thể gửi cho cộng đồng sử dụng
để tiếp tục được đánh giá và nâng cấp Vì vậy, khi sử dụng công nghệ mã nguồn mở, người dùng có quyền can thiệp để cải tiến các phần mềm sao cho phù hợp với mục đích riêng Đặc biệt, mở nguồn mở hoàn toàn miễn phí, người dùng không cần phải chi trả chi phí cho các công ty sản xuất ứng dụng và lệ thuộc bị động vào họ một khi họ thay đổi công nghệ
Joomla! Đáp ứng được các đặc tính của Web 2.0, cho phép cung cấp nhiều tùy chọn hơn cho người sử dụng, các thông tin và dữ liệu được cập nhật hàng ngày Trong
đó, người sử dụng có thể tham gia đóng góp, chia sẻ thông tin, làm phong phú trang web một cách dễ dàng
Trong giáo dục, Joomla! cung cấp cho GV một cách thức mới để thu hút HS và thậm chí cho phép sự tham gia của tất cả mọi người trên phạm vi toàn cầu Giáo dục được xây dựng dựa trên sự hợp tác Các Website học tập không chỉ xây dựng nên khối nội dung kiến thức tĩnh mà thay vào đó nó cần phải bao gồm sự tương tác, hồi đáp giữa HS và GV, cung cấp các chức năng đàm thoại và trao đổi thông tin được cập nhật hàng ngày, hàng giờ…v.v Joomla! rất chú trọng phát triển tính cộng đồng của Website , thuận lợi cho sự tương tác giữa GV-HS, giữa HS-HS, đáp ứng được yêu cầu quan trọng hàng đầu của Giáo dục
Điều quan trọng hơn nữa, Joomla! được tạo ra với giao diện rất thân thiện cho người sử dụng cuối Đối với GV không nhất thiết phải hiểu biết và thành thạo Tin học chuyên sâu hoặc lập trình web, việc cài đặt Joomla! khá dễ dàng và nhanh chóng
Trang 30Joomla! cung cấp các phần mềm tích hợp, các chức năng mở rộng với nhiều tính năng phức tạp nhưng lại dễ dàng sử dụng Hơn nữa Joomla! có một cộng đồng người sử dụng và phát triển rất lớn, không ngừng tăng trưởng với các thành viên nhiệt tình và sẵn sàng tư vấn, giúp đỡ khi gặp khó khăn Với giao diện trực quan, GV có thể tự tạo cho mình một trang Web học tập và quản trị nó dễ dàng
1.3.3 Phần mềm ARI-quiz tạo bài kiểm tra trắc nghiệm trực tuyến
Đối với những Website học tập, tính năng hỗ trợ công việc tự kiểm tra đánh giá cho HS là một phần quan trọng không thể thiếu Việc xây dựng một Website học tập khả dụng cần phải đi sâu vào nghiên cứu JoomlaLMS, tuy nhiên Joomla cũng cung
cấp một thành phần mở rộng (Joomla Components) độc lập, có thể tích hợp vào
Website thông thường trên nền tảng Joomla để tạo ra các bài kiểm tra khác nhau
ARI-Quiz đáp ứng mọi điều kiện cần thiết để tạo ra một hoặc một hệ thống bài kiểm tra trực tuyến Với rất nhiều thông số, GV có thể chủ động thiết lập thông tin và đặc trưng của bài kiểm tra theo yêu cầu nhất định nào đó
Cụ thể, ARI-Quiz hỗ trợ những tính năng ưu việt sau:
-Cho phép tạo ra các bài kiểm tra và giới hạn quyền truy cập của người dùng
Ví dụ, bài kiểm tra chương “Lượng tử ánh sáng” chỉ cho phép thành viên có tài khoản được quyền truy cập và làm bài
-Phân mục các bài kiểm tra theo danh mục (hoặc theo chủ đề), thậm chí trong chủ đề có thể được chia thành nhiều mục nhỏ hơn Nhờ vậy GV có thể quản lý và tổ chức các bài kiểm tra hợp lý, HS dễ dàng tiếp cận và hệ thống kiến thức hiệu quả
- Các câu hỏi cũng được phân loại theo nhóm riêng (question categories) GV
có thể tự tạo ra các nhóm câu hỏi tùy thuộc vào mục đích riêng Có thể phân loại theo mức độ khó của câu hỏi, theo chương…v.v
- Tạo ra được nhiều đề thi tương đương bằng tính năng hiển thị câu hỏi theo thứ
tự ngẫu nhiên (Random) Nhờ vậy mà tiết kiệm được khá nhiều thời gian và công sức,
giúp GV bỏ qua được công đoạn xáo trộn đề thi gốc để tạo ra nhiều đề thi khác nhau
- ARI-Quiz cho phép tạo lập và phân loại được ngân hàng câu hỏi Không chỉ câu
hỏi trong từng ngân hàng được phân loại (Question categories) mà ngân hàng câu hỏi cũng được phân loại ( Bank categories) Nếu có sự thay đổi câu hỏi trong ngân hàng câu
Trang 31hỏi thì các thay đổi đó đều được áp dụng cho các bài kiểm tra liên quan Vì vậy, việc xây dựng ngân hàng câu hỏi trên ARI-Quiz được tổ chức khoa học và thuận tiện cho GV
- Một đặc điểm quan trọng là ARI-Quiz hỗ trợ xuất cơ sở dữ liệu, ví dụ như kết quả bài kiểm tra, dưới dạng CSV, HTML, Microsoft Word định dạng Mircrosoft Excel
và nhập câu hỏi hàng loạt dưới dạng CSV Thay vì phải nhập nội dung và tùy chỉnh các thông số kỹ thuật cho từng câu hỏi, GV có thể nhập một lần dưới dạng file CSV để tiết kiệm thời gian và sửa chữa dễ dàng
- Hỗ trợ sao chép và di chuyển toàn bộ dữ liệu của câu hỏi từ bài kiểm tra này sang bài kiểm tra khác một cách nhanh chóng
- Thông báo kết quả ngay sau khi HS hoàn thành bài kiểm tra, kèm theo đáp án chi tiết cho từng câu hỏi, tổng điểm số đạt được, đạt hoặc chưa đạt yêu cầu tối thiểu
mà bài kiểm tra đặt ra
- Trên trang web xuất hiện danh sách những HS đạt kết quả cao nhất và những HS vừa tham gia làm bài kiểm tra Với việc thông báo kết quả của HS lên trang web như một hình thức khen ngợi, kích thích tinh thần tự giác học hỏi để đạt được kết quả cao
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương này, tôi đã nghiên cứu:
-Làm rõ được khái niệm cũng như vai trò và ý nghĩa của kiểm tra đánh giá và năng lực tự kiểm tra đánh giá trong giáo dục
+Kiểm tra đánh giá chất lượng là một hoạt động quan trọng trong quá trình giảng dạy và học tập của GV và HS Thông qua kiểm tra đánh giá, GV định lượng được khả năng tiếp thu kiến thức và sự tiến bộ của HS trong quá trình học, đồng thời phát hiện ra những chỗ kiến thức còn yếu kém của HS để bổ sung, phụ đạo và điều chỉnh phương pháp dạy học của GV Đối với các nhà hoạt động giáo dục, kiểm tra đánh giá là cơ sở đáng tin cậy để họ có thể điều chỉnh nội dung môn học, mục tiêu và đổi mới phương pháp giảng dạy phù hợp để nâng cao chất lượng đào tạo con người cả
về mặt tri thức lẫn phẩm chất
+Tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập của bản thân là một kỹ năng cần thiết đối với HS hiện nay Nhờ vào việc tự kiểm tra đánh giá, HS tự xác định được mục tiêu cần phải đạt được đối với mỗi môn học, xác định được vị trí học tập của mình đang ở đâu
Trang 32và mình còn cần bổ sung những gì để có thể rút ngắn khoảng cách giữa vị trí của mình
và mục tiêu đó Tự kiểm tra đánh giá giúp HS tự đưa ra những phản hồi tích cực cho bản thân về khả năng nắm bắt kiến thức của mình, rèn luyện được những kĩ năng cần thiết và chủ động khi làm các bài kiểm tra định kì và bài thi để đạt được kết quả tốt hơn Ở bậc THPT, đặc biệt là với môn Vật lí, GV nên hình thành kỹ năng tự kiểm tra đánh giá cho HS và tạo cơ hội để HS có thể phát triển kỹ năng đó
- Làm rõ được khái niệm và phân loại các câu hỏi TNKQ, trong đó, loại câu hỏi nhiều phương án lựa chọn đang được dùng phổ biến và rộng rãi trong các bài kiểm tra Bởi vì loại câu hỏi này có thể dùng để đánh giá nhiều mức độ nhận thức khác nhau như thẩm định trí nhớ, mức độ hiểu biết, khả năng áp dụng, phân tích, tổng hợp và cả khả năng phán đoán
- Giới thiệu được cơ sở để lựa chọn câu hỏi và các bước xây dựng một bài kiểm tra với hình thức TNKQ
- Phân tích và tổng hợp những ưu điểm và nhược điểm của hình thức TNKQ để
có thể vận dụng thích hợp hình thức này vào các môn học khác nhau và tùy vào mục đích kiểm tra đánh giá khác nhau
- Nghiên cứu được cơ sở lý luận của việc xây dựng và sử dụng Website học tập với mục đích tạo ra các bài trắc nghiệm trực tuyến,cụ thể là đối với môn Vật lí, nhằm
hỗ trợ và tạo cơ hội để HS củng cố kiến thức bộ môn và hình thành được năng lực tự kiểm tra đánh giá của bản thân
- Tìm hiểu được các khái niệm cơ bản thuộc về Website và mạng Internet Đồng thời, khai thác được thế nào là mã nguồn mở Joomla! và tìm hiểu vì sao nó thích hợp cho việc xây dựng một Website học tập Lý do quan trọng nhất chính là khả năng tương tác với người dùng cao, giao diện thân thiện, không đòi hỏi phải lập trình bằng ngôn ngữ phức tạp, GV cũng có thể tự tạo cho mình một trang Web riêng Hơn nữa, với số lượng phần mềm (hay các thành phần mở rộng) được thiết kế trọn gói và có sẵn, việc xây dựng và thiết kế trang Web trả nên thuận tiện hơn bao giờ hết
- Để tạo được bài kiểm tra trắc nghiệm trực tuyến, hỗ trợ cho việc tự học, tự kiểm tra đánh giá của HS, phần mềm ARI-Quiz tích hợp trên website Joomla! tỏ ra có thể đáp ứng được các yêu cầu cần thiết ARI-Quiz thích hợp cho GV xây dựng hệ
Trang 33thống bài kiểm tra, thuận tiện cho việc quản lý và theo dõi kết quả của HS Đồng thời,
HS có thêm phương tiện để có thể tự kiểm tra đánh giá khả năng tiếp thu kiến thức của bản thân đến đâu và bổ sung, hoàn thiện kịp thời nhằm mục đích đạt được kết quả cao trong các bài kiểm tra và bài thi tập trung
Trang 34CHƯƠNG 2
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM CHƯƠNG
“LƯỢNG TỬ ÁNH SÁNG”-VẬT LÍ 12 NÂNG CAO VÀ KHAI THÁC SỬ
DỤNG PHẦN MỀM ARI-QUIZ TRÊN WEBSITE JOOMLA!
2.1 Đặc điểm kiến thức chương “Lượng tử ánh sáng”
2.1.1 Nội dung chính của chương
Chương Lượng tử ánh sáng thuộc chương trình Vật lí 12 NC, đề cập đến hiện tượng quang điện và các định luật quang điện, thuyết lượng tử ánh sáng, các tiền đề của Bo, quang phổ vạch của nguyên tử Hidro, hiện tượng quang dẫn, hiện tượng quang điện trong, sự hấp thụ lọc lựa, phản xạ lọc lựa và màu sắc của các vật, trình bày sơ lược về laze, các tính chất, ứng dụng của laze và sự lưỡng tính sóng-hạt của ánh sáng Nội dung của chương khá trừu tượng và phức tạp nên SGK đã giới hạn các mức độ nhận thức cần thiết, không yêu cầu HS phải tìm hiểu quá sâu về bản chất của các vấn
đề Các kết luận, định luật của chương hầu hết được rút ra từ các kết quả thu được từ thí nghiệm (TN) Tuy nhiên những TN trong điều kiện phổ thông chỉ mang tính chất định tính chứ chưa thể tiến hành khảo sát định lượng Nội dung của chương có liên quan đến kiến thức về dòng điện trong chất bán dẫn đã học ở chương trình Vật lí 11
NC, có sự tiếp nối giữa các bài học trong cùng một chương và nội dung kiến thức của các chương trước thuộc chương trình Vật lí 12 NC
Số tiết học dành cho chương này gồm 11 tiết, 8 tiết lí thuyết và 3 tiết bài tập Chương được chia thành 7 bài gồm 6 bài lí thuyết và 1 bài giải bài tập
Trong chương này, đầu tiên HS được tìm hiểu TN về mặt định tính cũng như
TN về mặt định lượng của hiện tượng quang điện ngoài để từ đó rút ra những hình dung cụ thể về hiện tượng quang điện ngoài, quang electron và đúc kết lại nội dung của ba định luật quang điện
Để giải thích cho hiện tượng quang điện và các định luật quang điện, HS được tiếp cận với giả thuyết lượng tử năng lượng của Plăng và các nội dung cơ bản của thuyết lượng tử ánh sáng Anh-xtanh, đây cũng chính là một trong hai thuyết trụ cột của nền Vật lí học hiện đại Kết hợp với kiến thức cũ của chương “Sóng ánh sáng” và thuyết lượng tử ánh sáng, HS sẽ biết được rằng ánh sáng có lưỡng tính sóng-hạt Tính
Trang 35chất sóng của ánh sáng giúp giải thích các hiện tượng giao thoa nhiễu xạ nhưng để giải thích được các hiện tượng quang điện phải thừa nhận tính chất hạt của ánh sáng
Sau khi tìm hiểu về hiện tượng quang điện ngoài và các thuyết lượng tử, HS được giới thiệu như thế nào là hiện tượng quang điện trong, hiện tượng quang dẫn và các ứng dụng quan trọng nó trong đời sống và kĩ thuật Trong đó phải kể đến pin quang điện và quang điện trở Để hiểu được rõ ràng hiện tượng quang điện trong và nguyên tắc cấu tạo của pin quang điện, HS cần ôn lại kiến thức đã học về dòng điện trong chất bán dẫn, khái niệm electron dẫn và lỗ trống ở chương trình Vật lí 11 NC
Thuyết lượng tử đã giúp Bo (Niels Bohr) đưa ra mẫu nguyên tử Bo cùng với các tiền đề về trạng thái dừng, về sự bức xạ và hấp thụ năng lượng của nguyên tử Các
khái niệm mới cần được HS lưu ý là: trạng thái dừng, trạng thái cơ bản, trạng thái
kích thích Đồng thời, mẫu nguyên tử Bo đã giải thích được cấu trúc quang phổ vạch
của Hydro cả về mặt định tính lẫn định lượng, từ đó HS có thể giải các bài tập tính bước sóng của các vạch quang phổ của nguyên tử Hidro
Đồng thời qua chương này, HS được tìm hiểu về hiện tượng hấp thụ ánh sáng, hiện tượng phản xạ lọc lựa, biết được nội dung của định luật hấp thụ ánh sáng và có thể giải thích được nguyên nhân tạo ra màu sắc của các vật khác nhau Hiện tượng phát quang của một số chất khi hấp thụ năng lượng và các dạng quang phát quang như lân quang, huỳnh quang và định luật Xtốc về sự phát quang cũng được giới thiệu và trình bày một cách khái quát Cuối cùng, HS được giới thiệu sơ lược thế nào là tia laze cũng như các đặc trưng cơ bản và ứng dụng thường gặp của nó
Nhìn chung nội dung kiến thức của chương khá nhiều, nhưng một số bài chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu, còn mang tính chất định tính và chưa đòi hỏi HS phải tìm hiểu sâu về mặt toán học định lượng Sau khi học xong chương này HS có thể giải thích được các hiện tượng đơn giản trong khoa học cũng như trong cuộc sống hàng ngày và bước đầu được tiếp cận với nền Vật lí học hiện đại
Trang 362.1.2 Mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ học sinh cần đạt được
a) Về kiến thức
-Trình bày được thí nghiệm Héc về hiện tượng quang điện ngoài và nêu được
hiện tượng quang điện ngoài là gì, thế nào là quang electron, giới hạn quang điện, dòng điện bão hòa, hiệu điện thế hãm
-Hiểu và phát biểu được ba định luật quang điện
-Nêu được nội dung cơ bản của thuyết lượng tử ánh sáng
-Viết được công thức Anh-xtanh về hiện tượng quang điện ngoài
-Nêu được ánh sáng có lưỡng tính sóng-hạt
-Nêu được hiện tượng quang dẫn là gì
-Nêu được quang điện trở là gì
-Nêu được pin quang điện là gì, nguyên tắc cấu tạo của pin quang điện
-Phát biểu được các tiền đề của Bo
-Mô tả được các dãy quang phổ vạch của nguyên tử Hidro và nêu được cơ chế tạo thành các dãy quang phổ vạch phát xạ và hấp thu của nguyên tử này
-Nêu được hiện tượng hấp thụ ánh sáng là gì và phát biểu định luật hấp thụ ánh sáng
-Nêu được hấp thụ và phản xạ lọc lựa là gì
-Hiểu được hiện tượng quang-phát quang, phân biệt được huỳnh quang và lân quang
-Phát biểu được định luật X-tốc về sự phát quang
-Nêu được laze là gì và một số ứng dụng phổ biến của laze
b) Về kĩ năng
-Giải thích quá trình tạo thành hiệu điện thế giữa hai cực của pin quang điện -Vận dụng được thuyết lượng tử ánh sáng để giải thích ba định luật quang điện -Giải được các bài tập về hiện tượng quang điện
-Giải thích được tại sao các vật có màu sắc khác nhau
-Giải được các bài tập về tính bước sóng các vạch quang phổ của nguyên tử Hidro
Trang 37-Có ý thức vận dụng những hiểu biết Vật lí vào đời sống nhằm cải thiện điều kiện sống, học tập, cũng như bảo vệ môi trường sống tự nhiên
2.1.3 Sơ đồ cấu trúc của chương Lượng tử ánh sáng Vật lí 12 NC THPT
Căn cứ vào nội dung chương trình và sự phân bố kiến thức trong SGK, có thể
xây dựng cấu trúc của chương như sau (hình 2.1) :
Trang 38
Hình 2.1 Cấu trúc chương Lượng tử ánh sáng
Mẫu nguyên tử Bo
Quang phổ vạch của nguyên tử Hiđrô
THUYẾT LƯỢNG
TỬ ÁNH LƯỠNG TÍNH SÓNG-HẠT
SÁNG-HIỆN TƯỢNG QUANG ĐIỆN TRONG
QUANG PHỔ VẠCH CỦA NGUYÊN TỬ HIĐRÔ
Các định luật quang điện
Thuyết lượng tử ánh sáng của
SỰ PHÁT QUANG
Sự phản xạ lọc lựa
& màu sắc của vật
Hiện tượng lân quang và huỳnh quang
LAZE
Sơ lược về Laze
Ứng dụng
Trang 392.2 Quy trình xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan
2.2.1 Nguyên tắc xây dựng
-Phần chính, câu dẫn của câu hỏi phải diễn đạt rõ ràng một vấn đề, một đặc điểm, tính chất cụ thể Các phương án trả lời phải là những câu khả dĩ thích hợp với vấn đề đã nêu
- Phần chính (câu dẫn) của câu hỏi nên mang trọn ý nghĩa và phần đáp án để chọn nên ngắn gọn Như vậy sẽ tiết kiệm được khoảng in câu hỏi và thời gian để HS đọc đề
-Trong các câu hỏi ở thể phủ định, nên gạch chân hoặc viết hoa để HS chú ý hơn -Nên lược bỏ các chi tiết không cần thiết để diễn tả ý nghĩa của câu hỏi, đặc biệt khi kiểm tra các môn khoa học tự nhiên, nếu không nhằm mục đích kiểm tra khả năng nhận biết sự kiện chính trong một đoạn văn
- Nên tránh hai thể phủ định liên tiếp, ví dụ hai chữ ‘‘không’’ trong cùng một câu hỏi
- Các đáp án trả lời để lựa chọn phải có vẻ hợp lý, nếu một câu phương án chọn sai hiển nhiên thì HS có thể loại dễ dàng Ngoài đáp án đúng ra, các đáp án còn lại gần như là đúng hoặc chưa đúng hoàn toàn, nghĩa là có độ nhiễu tốt
- Đồng thời với việc tạo ra những phương án trả lời có vẻ hợp lý thì phương án đúng phải chắc chắn là câu trả lời duy nhất đúng và chính xác hoàn toàn nhất Vì vậy, sau khi soạn đề nên tham khảo ý kiến bạn bè, đồng nghiệp để sửa chữa những điểm sai lầm và những chỗ tối nghĩa
- Độ dài của các phương án trả lời phải có độ dài bằng nhau, không nên để trình trạng có phương án dài hơn hoặc ngắn hơn các phương án trả lời khác
- Các câu trả lời trong các phương án phải đồng nhất với nhau, có thể dựa trên ý nghĩa căn bản, cùng là động từ, tính từ, danh từ…
- Không nên đặt những câu hỏi mang vấn đề thiếu tính khoa học, không thể xảy
ra trong thực tế
- Sự phân biệt câu hỏi thuộc mức độ nhận thức nào chỉ mang tính tương đối Tuy nhiên, với các câu hỏi nhằm đo sự hiểu biết, suy luận khả năng áp dụng nguyên lý vào những trường hợp mới, tức là thuộc mức độ nhận thức thì nên trình bày dưới hình thức mới Nếu câu hỏi nêu ra các vấn đề giống hoặc tương tự như ví dụ đã cho trong
Trang 40sách giáo khoa hoặc đã trình bày ở lớp lại được giải quyết bằng cách vận dụng trí nhớ nhiều hơn, khác với mức độ cần thẩm định
- Trong hai phương án nên tránh xảy ra hai câu trả lời có hình thức hay ý nghĩa trái nhau nếu một trong hai câu là đáp án đúng nhất Vì khi đó HS sẽ chỉ tập trung vào một trong hai câu này và đặt nghi vấn rằng chỉ một trong hai phương án này là đúng
- Nên cẩn thận và hạn chế sử dụng cụm từ « không câu nào trên đây đúng » hoặc
« tất cả các câu trên đây đều đúng » để làm một trong những phương án trả lời, vì các mệnh
đề trên không ăn khớp với các đáp án khác về mặt văn phạm và ăn khớp với câu hỏi Nếu
HS biết chắc hai trong ba đáp án đều đúng sẽ chọn ngay đáp án « tất cả đều đúng »
- Các đáp án đúng phải được đặt ở các vị trí khác nhau với tần số tương đương nhau Ví dụ, số đáp án A đúng tương đương với B, C, D…
2.2.2 Các bước xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Để xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan đạt tiêu chuẩn, yêu cầu
về số lần thử nghiệm nhiều hơn, thu nhập số liệu và phân tích trên nhiều nhóm HS khác nhau
Quy trình xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm gồm 10 bước và được chia làm 4 giai đoạn chính
Giai đoạn 1: Quy hoạch bài trắc nghiệm
Bước 1: Phân tích nội dung môn học
Đây là khâu quan trọng không thể thiếu mà người soạn đề kiểm tra trắc nghiệm cần phải làm Bằng cách phân tích nội dung của một bài học, một chương hoặc nhiều chương, hoặc của cả năm học, GV xác định được những kiến thức và kĩ năng cần thiết, quan trọng mà người học cần phải lĩnh hội Việc xác định đúng mục tiêu để đưa ra những nội dung cần kiểm tra đánh giá không phải là một công việc dễ dàng, vì giữa nội dung giảng dạy và nội dung kiểm tra tuy có quan hệ chặt chẽ nhưng không nhất thiết phải đưa tất cả nội dung của môn học vào bài kiểm tra Những mục tiêu này phải
là mục tiêu có thể đo lường được, được định nghĩa rõ ràng, cụ thể và phải bao gồm cả nội dung học tập cần thiết Để dễ dàng cho việc xác định đúng mục tiêu và có một quy chuẩn cụ thể, từ năm 2009, Bộ Giáo dục –Đào tạo đã ban hành quy định về chuẩn kiến thức kỹ năng cần đạt được cho mỗi bài học Nhờ vậy, việc xác định nội dung cần kiểm