Đây là một trong những phương pháp mà cả giáo viên và học sinh đều cảm thấy hứng thú khi sử dụng trong quá trình dạy học.. Từ những lí do trên, để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy
Trang 11
ỌC N N
ỌC SƯ P M KHOA SINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Xây dựng bộ trò chơi hỗ trợ dạy học phần
“Sinh học tế bào”, chương trình sinh học 10 (nâng cao)
Sinh viên thực hiện : Nguyễn ồng Thảo Chuyên ngành : Cử nhân Sinh Môi Trường Người hướng dẫn : Nguyễn Thị ải Yến
à Nẵng, tháng 5/ 2013
Trang 22
LỜ CAM OAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả khóa luận Nguyễn Hồng Thảo
Trang 33
LỜ CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc đến cô giáo Nguyễn Thị ải Yến, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo
và giúp đỡ tôi tận tình trong thời gian thực hiện đề tài và cả trong quá trình phấn đấu, học tập của bản thân
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Sinh – Môi Trường, trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng đã giúp đỡ, giảng dạy, truyền thụ cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm học tập, sinh hoạt quý báu trong suốt thời gian học tập bốn năm vừa qua, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trường THPT Hoàng Hoa Thám đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận
Đà Nẵng, tháng 06 năm 2013 Sinh viên: Nguyễn Hồng Thảo
Trang 44
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined
1 Tính cấp thiết của đề tài Error! Bookmark not defined
2 Mục tiêu đề tài Error! Bookmark not defined
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU Error! Bookmark not defined
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu và sử dụng trò chơi hỗ trợ dạy - học
Error! Bookmark not defined 1.1.1 Trên thế giới Error! Bookmark not defined 1.1.2 Ở Việt Nam Error! Bookmark not defined 1.2 Cơ sở lí luận của đề tài Error! Bookmark not defined 1.2.1 Cơ sở lí luận của phương tiện dạy học Error! Bookmark not defined 1.2.2 Cơ sở lí luận về tính tích cực hóa hoạt động học tập của HS Error!
Bookmark not defined
1.2.3 Phương pháp đánh giá qua câu hỏi trắc nghiệm khách quan Error!
Bookmark not defined
1.2.4 Cơ sở phân loại các dạng ô chữ Error! Bookmark not defined 1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài Error! Bookmark not defined 1.3.1 Thực trạng việc học của học sinh học ở trường THPT hiện nay Error!
Bookmark not defined
1.3.2 Thực trạng về phương pháp dạy học của giáo viên Error! Bookmark
not defined
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined 2.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu Error! Bookmark not defined 2.2 Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined 2.2.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết Error! Bookmark not defined 2.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu Error! Bookmark not defined 2.2.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia Error! Bookmark not defined 2.2.4 Phương pháp quan sát sư phạm: Error! Bookmark not defined 2.2.5 Phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi Error! Bookmark not
defined
Trang 55
2.2.5 Phương pháp xử lý số liệu Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN Error! Bookmark not
defined
3.1 Phân tích nội dung kiến thức phần “Sinh học tế bào” chương trình Sinh
học 10 Error! Bookmark not defined
3.2 Kết quả xây dựng bộ trò chơi hỗ trợ dạy học phần “Sinh học tế bào” Sinh
học 10 (Nâng cao) Error! Bookmark not defined 3.2.1 Quy trình thiết kế xây dựng bộ trò chơi.Error! Bookmark not defined
3.2.2 Kết quả xây dựng trò chơi ô chữ phần “Sinh học tế bào” Sinh học 10
Error! Bookmark not defined 3.2.3 Kết quả xây dựng trò chơi dưới dạng trò chơi “Ai là triệu phú” Error!
Bookmark not defined
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Error! Bookmark not
Trang 88
DAN MỤC CÁC ÌN VẼ, SƠ Ồ
Số hiệu hình,
sơ đồ Tên hình, sơ đồ Trang
Hình 1.2 Các mức độ nhận thức theo thang Bloom 15
Sơ đồ 3.2 Quy trình thiết kế xây dựng bộ trò chơi 25
Hình 3.2
Giao diện ô chữ hỗ trợ dạy học chương 1: Thành phần
Hình 3.3
Giao diện trò chơi “Ai là triệu phú” hỗ trợ dạy học phần II “Sinh học tế bào” Sinh học 10 30
Trang 99
MỞ ẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trên đà phát triển và hội nhập, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra mạnh mẽ Để đáp ứng nhu cầu của quá trình phát triển đó Đảng và nhà nước Việt Nam đang không ngừng đổi mới tất cả các mặt về thể chế - pháp luật, an ninh quốc phòng và giáo dục Theo nghị quyết số 40/2000/QH – X (09/12/2000) của quốc hội khóa X, đổi mới chương trình phổ thông phải tiến hành ở tất cả các mặt: mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá
Đổi mới giáo dục để phát triển chung với xu thế của thời đại là vấn đề cấp thiết và đổi mới phương pháp dạy học là trọng tâm của đổi mới giáo dục hiện nay Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học để làm tăng tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học
Qua nghiên cứu thực tiễn cho thấy tâm lý của con người nói chung và học sinh nói riêng thích sự thoải mái, không thích phải căng thẳng, nhức đầu
Vì thế khi chọn giữa giải trí và học tập thì giải trí luôn thắng thế Để chống lại
xu thế này, có một xu thế mới trong giáo dục hiện nay là kết hợp giáo dục và giải trí
Bộ trò chơi gồm các câu hỏi trắc nghiệm, câu hỏi đố vui, trò chơi ô chữ góp phần đáp ứng nhu cầu trên Đây là một trong những phương pháp mà cả giáo viên và học sinh đều cảm thấy hứng thú khi sử dụng trong quá trình dạy học Sử dụng trò chơi dạy học tránh cho người học sự nhàm chán với những lí thuyết khô khan, cứng nhắc Các trò chơi bổ trợ cho việc học kích thích nơi
Trang 1010
người học niềm hứng thú say mê, sự sáng tạo và chủ động, giúp cho không khí lớp học sôi nổi hơn, thu hút sự chú ý, hoạt động tích cực của học sinh và giảm bớt sự căng thẳng trong giờ học, góp phần rút ngắn khoảng cách giữa giáo viên và học sinh
Phần hai “ Sinh học tế bào” SGK Sinh học 10 (nâng cao) với nội dung kiến thức mới, rộng và phong phú Những kiến thức này sẽ là cơ sở, nền tảng
để tiếp thu những kiến thức phần vi sinh học,di truyền, tiến hóa, sinh thái Để tạo điều kiện và hỗ trợ quá trình dạy học của giáo viên, đồng thời nâng cao kết quả học tập của học sinh nên kết hợp các phương pháp giảng dạy truyền thống và mới Do đó, việc xây dựng bộ trò chơi hỗ trợ giảng dạy là cần thiết Đây cũng là nguồn tư liệu hỗ trợ công tác giảng dạy của giáo viên và sinh viên mới ra trường
Từ những lí do trên, để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy phần II
“Sinh học tế bào” sinh học 10 (nâng cao), chúng tôi chọn đề tài: “Xây dựng
bộ trò chơi hỗ trợ dạy học phần “Sinh học tế bào”, chương trình sinh học 10 (nâng cao)”
Đóng góp về mặt lí luận của đề tài:
- Hệ thống hóa được cơ sở lí luận về việc xây dựng trò chơi hỗ trợ quá trình dạy học
- Nghiên cứu tình hình sử dụng trò chơi trong dạy – học trên thế giới và Việt Nam
Trang 1111
- Phân tích cấu trúc, nội dung kiến thức phần II “Sinh học tế bào” Sinh học 10, nâng cao – THPT
Ý nghĩa thực tiễn
- Xây dựng và sử dụng bộ trò chơi để hỗ trợ dạy học phần “Sinh học tế
bào”, góp phần tạo hứng thú, say mê, kích thích sự sáng tạo, chủ động của
HS, đồng thời giảm bớt sự căng thẳng trong giờ học, cải thiện mối quan hệ
giữa GV và HS
- Kết quả của đề tài sẽ là tƣ liệu tham khảo cho sinh viên sƣ phạm, học
sinh và giáo viên phổ thông
Trang 1212
C ƯƠN TỔN QUAN T L ỆU
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu và sử dụng trò chơi hỗ trợ dạy - học
1.1.1 Trên thế giới
Vấn đề xây dựng và sử dụng trò chơi trong dạy học được nhiều tác giả
trên thế giới quan tâm từ lâu, cụ thể là:
Trong những công trình nghiên cứu của mình , L.X Vuwgôtxki đã lí giải
và phân tích vai trò của hoạt động chơi nhất là dưới dạng các trò chơi mô phỏng, trên cơ sở những kết quả nghiên cứu của mình ông đã chỉ ra: chính những trò chơi mô phỏng tạo ra vùng “cận phát triển”, là điều kiện đầu tiên thuận lợi nhất cho sự hình thành và phát triển nhân cách, “hoàn cảnh chơi” mang tính tưởng tượng là con đường dẫn tới trừu tượng hóa; việc thực hiện các quy tắc chơi là trường học rèn luyện các phẩm chất ý chí, phẩm chất đạo đức Từ những luận điểm trên, phát triển hướng nghiên cứu mới đặc biệt là nghiên cứu sử dụng trò chơi nhằm mục đích giáo dục nhiều mặt Nhiều công trình nghiên cứu được ra đời như “Giáo dục trẻ trong trò chơi” của Đ.B
Menđgieritxkaia…[8]
T.A.Comenxki (1592-1670), G.Pestallossi (1746-1827) đề cao vai trò của trực quan trong dạy học cũng như số cơ quan cảm giác tham gia vào nhận thức của con người Theo các tác giả này thì không có gì trong trí não của con người nếu không có gì trong cảm giác Số cơ quan tham gia vào quá trình nhận thức tỉ lệ thuận với độ chính xác kiến thức
Trang 13Orwill vẫn tiếp tục sáng tác, duy trì mục ô chữ cho tờ báo Và trò giải trí thú vị này nhanh chóng lan truyền khắp thế giới, thu hút hàng triệu người chơi sau đó
Ở Nga, trò chơi này có tên là “Kpoccbopabi” và có hẳn một tập sách in toàn bộ ô chữ với số lượng phát hành lớn Các tờ báo sinh động và hấp dẫn nhiều hơn nhờ trò chơi ô chữ [4]
Người dân Mỹ rất thích ô chữ, có đến 30,000,000 người hiện là nô lệ cho các ô chữ được in trên báo, tạp chí hay trên bìa của những cuốn sách Tờ New York Times có một ủy viên hợp đồng biên tập và nhiều biên tập viên để thiết
kế những bản ô chữ mới để phục vụ cho các độc giả Ở Nhật, trò chơi ô chữ cũng rất đa dạng, điển hình là các ô số SUDOKU
Trò chơ ô chữ hiện nay đã đăng tải rộng rãi trên các tờ báo, tạp chí và các gameshow truyền hình.Trò chơi ô chữ cũng được sử dụng trong các hoạt
động ngoại khóa cho HS nhưng chưa áp dụng rộng rãi trong dạy học
1.1.2 Ở Việt Nam
Trang 1414
Xây dựng và sử dụng trò chơi trong dạy học đã được nhiều nhà giáo dục trong nước quan tâm và nghiên cứu ở tất cả bộ môn khác nhau, trong đó có bộ môn Sinh học
Ở Việt Nam, trò chơi ô chữ du nhập cũng khá sớm Trò chơi ô chữ tiếng Việt buổi đầu cũng không phổ biến và đơn điệu, song về sau nó trở nên quen thuộc trên các tờ báo, tạp chí và hình thức cũng phong phú, đa dạng hơn Trò chơi ô chữ là một trong những hình thức được sử dụng phổ biến ở các sân chơi trên truyền hình dành cho HS (cả 9 phiên bản của trò chơi Đường lên đỉnh Olympia của VTV3 Đài Truyền hình Việt Nam đều sử dụng trò chơi đoán ô chữ) Nhiều tạp chí, tờ báo cũng dành riêng một chuyên mục đoán ô chữ (Báo Thiếu Niên, Nhi đồng,…)
Đã có một số tài liệu về trò chơi ô chữ như “Trò chơi ô chữ (chủ đề Quốc Gia – Thủ Đô)” của tác giả Trịnh Huỳnh Trang – NXB Trẻ và nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế ô chữ trong giảng dạy như phần mềm Violet (Visual&online lesson Editor for Teacher-công cụ soạn thảo bài giảng trực tuyến cho GV) do nhóm Violet (Đinh Hải Minh, Nguyễn Phú Bình, Nguyễn Phú Quảng và Bùi Anh Tuấn) xây dựng, chương trình “Thiết kế ô chữ được viết trên nền Microsoft Access” của thầy Nguyễn Viết Lộc – Phòng giáo dục huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, “Nghiên cứu và khai thác Visual Basic trong Microsoftpowerpoint để thiết kế trò chơi
ô chữ phục vụ đố vui để học và dạy học” của thạc sĩ Nguyễn Văn Cần – phòng GD&ĐT huyện Hương Thủy – Huế, “Tạo ô chữ trong powerpoint” của thầy Lê Trung Hiệp – Trường trung học cơ sở Nguyễn Huệ, thị xã Vĩnh Long,…[4]
Một số tác giả sách giáo khoa, sách tham khảo đã thiết kế ô chữ trong các phần ôn tập,bài tập cũng cố kiến thức (Nguyễn Văn Sang, Nguyễn Thị Vân, 2007) Giải bài tập sinh học 11.Nhà xuất bản Quốc gia Hà Nội hay Trần
Trang 1515
Tân Phú, Lê Sơn Hòa, Nguyễn Văn Sang, 2007 400 câu hỏi trắc nghiệm sinh học 11 Nhà xuất bản Đại học quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh,…)
1.2 Cơ sở lí luận của đề tài
1.2.1 Cơ sở lí luận của phương tiện dạy học
1.2.1.1 Khái niệm phương tiện dạy học và phương tiện trực quan trong dạy học
Phương tiện dạy học (PTDH) là toàn bộ sự vật, hiện tượng trong thế giới, tham gia vào quá trình dạy học, đóng vai trò là công cụ hay điều kiện để
GV và HS sử dụng làm khâu trung gian tác động vào đối tượng dạy học Phương tiện dạy học có chức năng khơi dậy, dẫn truyền và làm tăng sức mạnh
tác động của người dạy và người học đến đối tượng dạy học [10]
Trong quá trình dạy học, PTDH có vị trí đặc biệt quan trọng PTDH không chỉ là một yếu tố trong chỉnh thể của quá trình mà còn có vai trò tác
động trực tiếp đến nội dung và PPDH
Phương tiện trực quan (PTTQ) là PTDH đóng vai trò công cụ được GV
và HS sử dụng làm khâu trung gian tác động tới đối tượng dạy học PTTQ trong dạy học là những phương tiện được sử dụng trong hoạt động dạy học,
có chức năng khơi dậy, dẫn truyền, tăng cường khả năng hoạt động của các giác quan góp phần tạo nên chất liệu cảm tính của đối tượng nhận thức nhằm đạt đến mục đích dạy học cụ thể Trong PTTQ, bên cạnh những PTTQ truyền thống còn có cả PTTQ có tính hiện đại, các phương tiện nghe nhìn, phương tiện đa năng (Multimedia)… Sự phong phú về PTDH đã tạo ra những thuận lợi và khó khăn trong dạy học Nhờ các PTTQ mà các tri thức trừu tượng, các
Trang 1616
sự kiện phức tạp được bộc lộ một cách trực quan làm cho người học tiếp thu một cách dễ dàng Do đó, PTTQ là rất cần thiết phục vụ cho quá trình dạy học, nó không chỉ giúp GV tiết kiệm thời gian giảng dạy mà còn tạo niềm say
mê, hứng thú, ham học hỏi của HS, phát huy năng lực tư duy và sáng tạo của
HS [6]
1.2.2.2 Phân loại phương tiện dạy học
Có nhiều cơ sở để phân loại phương tiện dạy học
* Dựa vào mục đích sử dụng:
- Phương tiện dùng trực tiếp: bao gồm những máy móc, thiết bị và
dụng cụ GV sử dụng trong giờ học để trình bày kiến thức, rèn luyện kỹ năng cho HS Đó có thể là: máy chiếu, máy ghi âm, máy quay phim, các tài liệu in (SGK, sách bài tập…), tranh vẽ, bản đồ, đồ thị, các mô hình, vật mẫu…
- Phương tiện hỗ trợ và điều khiển quá trình dạy học là những phương
tiện được sử dụng để tạo ra một môi trường học tập thuận lợi, có hiệu quả và liên tục Bao gồm: bảng viết, các giá di động, bàn thí nghiệm, các loại sổ sách ghi chép về tiến trình học tập, về thành tích học tập của HS
* Dựa vào cấu tạo, nguyên lý hoạt động và chức năng của phương tiện:
- Phần cứng: bao gồm các phương tiện được cấu tạo trên cơ sở các
nguyên lý thiết kế về cơ, điện, điện tử… theo yêu cầu biểu diễn nội dung bài giảng Đó có thể là: máy chiếu, máy tính, máy quay phim… Phần cứng là kết quả của sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong nhiều thế kỷ
- Phần mềm: bao gồm các phương tiện được sử dụng theo nguyên lý sư
phạm, tâm lý để xây dựng cho HS khối kiến thức hay cải thiện hành vi ứng xử cho HS Đó có thể là: chương trình môn học, báo chí, sách vở, tạp chí, tài liệu SGK… [6]
1.2.2.3 Vai trò của phương tiện dạy học trong quá trình dạy học
* PTDH có ý nghĩa to lớn đối với quá trình dạy học Cụ thể như sau:
Trang 1717
- Giúp HS dễ hiểu bài, hiểu bài sâu sắc hơn và nhớ bài lâu hơn
- Góp phần làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng thú học tập
bộ môn, nâng cao lòng tin của HS vào khoa học
- Giúp HS phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là khả năng quan sát,
tư duy (phân tích, tổng hợp các hiện tượng, rút ra những kết luận có độ tin cậy…)
- Giúp GV tiết kiệm được thời gian trên lớp trong mỗi tiết học Đồng thời điều khiển được hoạt động nhận thức của HS, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của các em một cách thuận lợi và có hiệu suất cao
1.2.2.4 Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học
Khi sử dụng PTDH cần đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau:
* Nguyên tắc sử dụng PTD đúng lúc, đúng chỗ:
Sử dụng PTDH đứng chỗ tức là phải tìm vị trí để giới thiệu, trình bày phương tiện trên lớp hợp lý nhất, giúp HS có thể đồng thời sử dụng nhiều giác quan để tiếp thu bài giảng một cách đồng đều ở mọi vị trí trên lớp Phải bố trí chỗ cất giấu PTDH ngay tại lớp sau khi sử dụng để không làm mất tập trung
tư tưởng của HS khi nghe giảng
Sử dụng PTDH cần đưa vào đúng lúc cần thiết, lúc HS mong muốn nhất (mà trước đó thầy giáo đã dẫn dắt, nêu vấn đề, gợi ý …) và được quan sát, gợi nhớ trong trạng thái tâm sinh lý thuận lợi nhất Cần đưa phương tiện vào theo trình tự bài giảng, tránh việc trưng bày hàng loạt phương tiện trên giá, tủ trong một tiết học hoặc biến phòng học thành phòng trưng bày, triển lãm
* Nguyên tắc sử dụng PTD đúng cường độ
Mỗi PTDH có mức độ sử dụng tại lớp khác nhau Nếu kéo dài việc trình diễn PTDH hoặc dùng lặp đi lặp lại một PTDH quá nhiều lần trong một buổi giảng, hiệu quả của nó sẽ giảm sút Việc áp dụng thường xuyên các phương tiện nghe nhìn trên lớp sẽ dẫn đến sự quá tải về thông tin do HS
Trang 1818
không kịp tiêu thụ hết khối lượng kiến thức được cung cấp Để đảm bảo yêu cầu về chế độ làm việc của mắt chỉ nên sử dụng phương tiện nghe nhìn không quá 2-3 lần trong tuần và mỗi lần không quá 20-30 phút
1.2.2 Cơ sở lí luận về tính tích cực hóa hoạt động học tập của S
1.2.2.1 Tính tích cực trong hoạt động học tập của HS
Tính tích cực là hoạt động vốn có của con người Khác với đời sống động vật, con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong thiên nhiên mà còn chủ động sản xuất ra những của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của xã hội, sáng tạo ra nền văn minh ở mỗi thời đại, chủ động cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội [7]
Tính tích cực của con người biểu hiện trong hoạt động, đặc biệt trong những hoạt động chủ động của chủ thể Học tập là hoạt động chủ đạo ở mọi lứa tuổi đi học Tính tích cực trong hoạt động học tập thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức
Tính tích cực nhận thức trong hoạt động học tập liên quan trước hết với động cơ học tập Động cơ tạo ra hứng thú, hứng thú là tiền đề tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lý tạo nên tính tích cực
Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái trả lời các câu hỏi của GV, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra, hay nêu thắc mắc, đồi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ, chủ động vận dụng kiến thức kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới, tập trung chú ý vào vấn đề đang học, kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản chí trước những tình huống khó khăn…
Tính tích cực trong hoạt động học tập có thể phân chia thành những cấp
độ từ thấp đến cao như sau:
+ Bắt chước: Gắng sức làm theo các mẫu hành động của thầy, của bạn
Trang 1919
+ Tìm tòi: Độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác nhau về một vấn đề…
+ Sáng tạo: Tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo hữu hiệu
1.2.2.2 Các biện pháp tích cực hóa hoạt động học tập của HS
Thực hiện dạy và học tích cực không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp truyền thống Trong hệ thống các phương pháp dạy học quen thuộc, được đào tạo trong các trường sư phạm nước ta từ mấy thập kỉ gần đây, cũng
đã có nhiều phương pháp dạy học tích cực Các tài liệu về lí luận dạy học đã chỉ rõ, nếu xét về mặt hoạt động nhận thức, thì nhóm phương pháp thực hành
là tích cực nhất, sau đó là các phương pháp trực quan và cuối cùng là phương pháp dùng lời [8]
Cách thức tổ chức hoạt động học tập cho HS trong các bài học có thể hiểu là các biện pháp, thao tác cụ thể của người GV sử dụng, thực hiện, giúp
HS tích cực, chủ động tìm ra kiến thức mới bằng chính hoạt động của mình
Mục đích cuối cùng của việc tổ chức các hoạt động học tập cho HS là hướng dẫn HS thực hiện hệ thống các thao tác nhằm tự mình khám phá ra những kiến thức mới, những kĩ năng mới hoặc có khả năng vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tế
Trong dạy học hiện nay, một số phương pháp thường được GV sử dụng
để phát huy tính tích cực của HS là: Vấn đáp tìm tòi, hoạt động nhóm, sử dụng các trò chơi trong dạy học…
1.2.3 Phương pháp đánh giá qua câu hỏi trắc nghiệm khách quan
1.2.3.1 Khái niệm trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm (T) trong giáo dục là một phương pháp đo để thăm dò
một số đặc điểm năng lực trí tuệ của học sinh (ghi nhớ, thông minh, năng khiếu ) hoặc để kiểm tra đánh giá một kiến thức, kĩ năng và thái độ của học
sinh
Trang 2020
Trắc nghiệm khách quan (TNKQ) đây là dạng T trong đó mỗi câu hỏi
thường có kèm theo câu trả lời sẵn Loại câu hỏi này cung cấp cho học sinh một phần hay tất cả thông tin cần thiết và đòi hỏi học sinh thường phải chọn
một câu để trả lời hoặc chỉ điền thêm một vài từ
TNKQ được gọi là câu hỏi đóng, được xem là T khách quan vì chúng đảm bảo tính khách quan khi chấm điểm, không phụ thuộc vào ý kiến đánh
giá của người chấm [18]
1.2.3.2 Phân loại câu hỏi TNKQ
Đa số các nhà nghiên cứu giáo dục đều thống nhất và chia câu hỏi
TNKQ thành 5 loại:
Trắc nghiệm úng/Sai
Đây là loại câu hỏi mà câu trả lời chỉ có hai phương án trả lời đúng hoặc sai
- Phần dẫn: trình bày một nội dung cần kiểm tra, đánh giá
- Phần trả lời: đúng (Đ) hoặc sai (S)
Những lưu ý khi soạn câu hỏi trắc nghiệm dạng đúng sai:
+ Chọn câu dẫn mà học sinh trung bình khó nhận ra ngay đúng hoặc sai
+ Không nên trích nguyên văn câu trong SGK
+ Tính đúng hay sai của câu là chắc chắn
+ Mỗi câu trắc nghiệm chỉ nên diễn tả một ý đơn nhất
+ Tránh dùng các cụm từ “tất cả”, “không bao giờ”, “không một ai”
“thường”, “đôi khi”… vì những cụm từ này có thể làm cho học sinh dễ nhận
ra phương án trả lời đúng hay sai
+ Không nên bố trí số câu đúng bằng số câu sai, không nên sắp đặt các câu đúng theo một trình tự có tính chu kỳ
Trắc nghiệm ghép đôi
Trang 2121
Loại trắc nghiệm này gồm có hai dãy thông tin gọi là các câu dẫn (gọi
là bảng truy) và câu đáp (gọi là bảng chọn) Học sinh, sinh viên cần phải lực chọn sắp xếp lại với nhau thành từng cặp thông tin ở hai dãy sao cho phù hợp
về nội dung và cấu trúc
Những lưu ý khi soạn TNKQ dạng ghép đôi:
+ Dãy thông tin nêu ra không quá dài
+ Số lượng nội dung cột câu bên phải và cột bên trái không nên bằng nhau, nên có câu trả lời dư ra để tăng sự cân nhắc khi lực chọn
+ Thứ tự các ghép đúng không khớp với thứ tự nội dung trình bày ở các cột để gây khó khăn cho sự lựa chọn
Trắc nghiệm điền khuyết hay trắc nghiệm có câu trả lời ngắn
Đây là dạng trắc nghiệm khách quan có câu trả lời tương đối tự do
- Câu dẫn: là một câu trình bày khuyết các từ, mệnh đề cần kiểm tra, đánh giá
- Phần trả lời: không có
Những lưu ý khi soạn TNKQ dạng điền khuyết:
+ Các phương án trả lời điền vào chỗ khuyết phải đơn trị hoặc là một câu diễn đạt ngắn
+ Chỉ nên chừa trống chữ quan trọng và chỉ nên dùng một vị trí khuyết trong một câu
+ Khoảng trống dành cho các câu trả lời nên bằng nhau để tránh sự đoán mò của học sinh
Trắc nghiệm nhiều lựa chọn
Đây là loại câu hỏi mà có nhiều phương án lựa chọn trong đó chỉ có duy nhất một phương án đúng
- Phần dẫn: trình bày một vấn đề, một câu hỏi hoặc một câu chưa hoàn chỉnh cần kiểm tra đánh giá