1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Văn hóa nghệ tĩnh thể hiện qua tục ngữ

82 6 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đề tài Văn hóa Nghệ Tĩnh thể hiện qua tục ngữ chính là tìm về với cội nguồn lịch sử, văn hoá, tìm ra những giá trị chân chính được con người nơi đây đúc kết trong ngôn ngữ, t

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng:

Công trình này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Lê Đức Luận Tôi xin chịu trách nhiệm về những nội dung khoa học trong công trình này

Đà Nẵng, ngày 16 tháng 05 năm 2013

Kí tên

Nguyễn Thị Lương

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Xin trân trọng cảm ơn:

TS Lê Đức Luận đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Thầy cô giáo khoa Ngữ văn, các cán bộ thư viện Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng, thư viện Đại học Vinh, và thư viện tỉnh Nghệ An đã giúp tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu

Đà Nẵng, ngày 16 tháng 05 năm 2013

Tác giả

Nguyễn Thị Lương

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nghệ Tĩnh - vùng đất đã nuôi lớn, làm rạng danh bao thế hệ con người, nơi sản sinh ra biết bao nhiêu người mà tên riêng của họ đã thành bất tử, vang vọng tới núi sông, để rồi đi xa đến đâu người ta cũng tự hào nhắc hai từ “Xứ Nghệ” Trong lịch sử Nghệ Tĩnh, “xứ” là một đơn vị hành chính đi qua rất nhanh, khoảng 53 năm (1456-1509) trong một lịch sử dài lâu hơn 2200 năm (kể từ đời Hán) Thế nhưng

“xứ” nhìn từ góc độ văn hoá lại sống mãi trong sách vở, trong ý thức, trong tâm hồn người Nghệ Tĩnh và cả nước Tự nó trở thành một chỉnh thể văn hoá toàn vẹn có phong cách riêng, độc đáo, thống nhất mà phân cách địa lý qua thời gian “thương ải tang điền” không chia cắt được Vậy thiết nghĩ phải có một chất keo dính nào đó mà cho đến nay, khi xứ Nghệ đã là hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh riêng biệt nhưng cái tên đó vẫn là cái bất biến trong vô số cái khả biến

Xứ Nghệ không được tạo vật ưu ái, đồng bằng cằn cỗi, khí hậu khắc nghiệt, từng là biên trấn, trấn địa, đất căn cứ, đất lập nước của nhiều đời, song vùng đất

còn được mệnh danh là địa linh nhân kiệt, là quê hương của những bậc danh nhân,

anh hùng, có một nền văn hoá dân gian vô cùng phong phú Đã bao đời rồi cái gia tài vô giá ấy là ngọn nguồn nuôi dưỡng tinh thần, là cơ sở văn hoá, là trí tuệ và tài năng, là sức mạnh vật chất, là động lực phát triển của người dân xứ Nghệ

Nghiên cứu đề tài Văn hóa Nghệ Tĩnh thể hiện qua tục ngữ chính là tìm về

với cội nguồn lịch sử, văn hoá, tìm ra những giá trị chân chính được con người nơi đây đúc kết trong ngôn ngữ, trong tính cách vừa mang đặc trưng địa phương lại vừa thống nhất trong nền văn hoá, văn học dân gian dân tộc Mặt khác, nghiên cứu đề tài mong muốn góp phần xác định rõ đặc điểm tục ngữ Nghệ Tĩnh cũng như khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của văn hoá xứ này Hơn nữa, với đề tài “Văn hóa Nghệ Tĩnh thể hiện qua tục ngữ” chúng tôi muốn thể hiện tình yêu tha thiết với xứ Nghệ thân thương

Trang 5

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu về đề tài “Văn hoá Nghệ Tĩnh thể hiện qua tục ngữ” cũng chính

là nghiên cứu văn học, văn hoá của mảnh đất xứ Nghệ nói riêng và dân tộc nói chung Với đề tài này, đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, song đến nay vẫn chưa

có một công trình nào nghiên cứu sâu, có thể điểm qua một số công trình và một số bài viết đã được xuất bản hay đang tải sau:

Nguyễn Nhã Bản, Bản sắc văn hoá của con người Nghệ Tĩnh (2001) có viết:

“ Còn tục ngữ có cấu trúc như một thông báo, một câu Cả tục ngữ và thành ngữ đều phản ánh nhận thức của con người về cuộc sống hay những kinh nghiệm của con người về cuộc đời được lưu giữ trong những thành ngữ, tục ngữ” [3, tr.195]

Nguyễn Đổng Chi trong cuốn Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh (2003):

“Tục ngữ Nghệ Tĩnh rất phong phú Ngoài những câu phổ biến dùng chung với cả nước, ở đấy còn có những câu chỉ lưu hành riêng trong nội bộ địa phương mà không lan rộng mấy Có Trong tục ngữ có chứa đựng ngoài vốn từ ngữ dân tộc, có khi là tiếng cổ, có khi là tiếng địa phương Do đó, có một số câu tuy phổ biến, nhưng trong đó có những tiếng quen dùng của xứ Nghệ nên có thể nhận ra nó từ Nghệ Tĩnh đóng góp vào kho tàng chung” [4, tr.185]

Cũng trong cuốn sách này, Nguyễn Đổng Chi khẳng định: “Tục ngữ Nghệ Tĩnh có một số câu về nội dung hình thức gần gũi với tục ngữ phổ biến Ví dụ câu:

Con nhà đói, thói nhà quan Nhưng cũng có một số câu thường là do thêm thắt vào

những câu tục ngữ phổ biến mà thành, nó trở nên một thứ dị bản của những câu phổ

biến Ví dụ: Rán sành ra mỡ, hơ be (lọ) lấy dầu, Giận cá bằm thớt, ( ) Tục ngữ

Nghệ Tĩnh đặc biệt có một số câu giống với tục ngữ Bình Trị Thiên ( ) tục ngữ ở đây nói chung là có lối nói hình ảnh, ví von, lối nói gắn liền với tư duy hình tượng, dùng để diễn đạt những tư tưởng trừu tượng thích hợp với trình độ của quần chúng

Trang 6

nhiều hơn hẳn thành ngữ Có lẽ lí do này được giải thích bằng những đặc trưng, nội dung, kết cấu của từng đơn vị tồn tại những tục ngữ và số lượng âm tiết giống nhau:

Trai Đông Thái gái Yên Hồ; Trai Đông Thái gái Phượng Lịch, Trai Cát Ngạn gái Đô Lương” [2] Đây có thể xem là những phát hiện về tục ngữ Nghệ Tĩnh

Bài báo khoa học Sơ bộ nhận xét về vần trong tục ngữ Nghệ Tĩnh đăng trên https://sites.google.com của tác giả Bình Sơn - Hà Nguyên Đối đã viết khá rõ về

vần trong tục ngữ Nghệ Tĩnh: “ Vần trong tục ngữ Nghệ Tĩnh không chỉ thực hiện đầy đủ chức năng trên mà còn mang những nét đăc trưng, đặc sắc riêng biệt của phương ngữ so với tiếng Việt văn hoá Trong đó tục ngữ không có vần chiếm tỉ lệ

37 % ( ) Tục ngữ có vần: vần liền, vần cách (vần cách một âm tiết, vần cách hai

âm tiết, vần cách ba âm tiết, vần cách bốn âm tiết, vần cách năm âm tiết) và vần chân” [18] Từ đó tác giả đã đi tới khẳng định: “Qua khảo sát, các loại vần trong tục ngữ Nghệ Tĩnh : vần cách có số lượng cao nhất, thứ đến là vần liền, thứ ba là tục ngữ không mang vần và thứ tư là vần chân” [18]

Như vậy có thể khẳng định rằng, tục ngữ Nghệ Tĩnh đang là sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhưng với đề tài “Văn hoá Nghệ Tĩnh thể hiện qua tục ngữ” thì vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và có quy mô

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Văn hoá Nghệ Tĩnh thể hiện qua tục ngữ

- Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát trong cuốn Từ điển thành ngữ, tục ngữ Nghệ Tĩnh (2002), Nxb Nghệ An, Vinh

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thống kê, phân loại

- Phương pháp so sánh đối chiếu

- Phương pháp phân tích tổng hợp

Ngoài những phương pháp trên, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp khác có liên ngành ngôn ngữ, văn hoá nhằm phục vụ tốt hơn trong quá trình nghiên cứu

Trang 7

5 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung được chia làm ba chương như sau:

Trang 8

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Khái lược về văn hoá

1.1.1 Khái niệm văn hoá

“Từ văn hoá có rất nhiều nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng

để chỉ học thức (trình độ văn hoá), lối sống (nếp sống văn hoá); theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ văn minh của một giai đoạn (văn hoá Đông Sơn) , ” [19, tr.20]

Theo nghĩa hẹp văn hoá khu biệt với chính trị, kinh tế, tư tưởng, khoa học, giáo dục, nghệ thuật Tác giả Edouard Heriot phát biểu về khía cạnh bản chất của văn hoá “VĂN HÓA là cái còn lại khi ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn thiếu khi người

ta đã học tất cả” [Dẫn theo 19, tr.4]

Theo nghĩa rộng, văn hoá bao gồm tất cả những giá trị vật chất, tinh thần mà con người tạo nên khác với tự nhiên Theo nghĩa này Hồ Chí Minh cho rằng “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày như ăn, mặc, ở và các phương tiện sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là VĂN HÓA Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [Dẫn theo 19, tr.4]

Theo Federico, Tổng giám đốc UNESCO phát biểu trong hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá họp năm 1970 tại Venise thì “Đối với một số người, văn hoá chỉ bao gồm những kiệt tác trong tư duy và sáng tạo; đối với người khác văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động” [Dẫn theo 19, tr.20] Khái niệm văn hoá theo cách hiểu thứ hai được nhiều người thừa nhận, được xem như một khái niệm thuộc phạm trù văn hoá học

Trang 9

Theo Thầy Lê Đức Luận “Văn hoá là những giá trị tinh thần được mọi người thừa nhận, nó bao gồm những giá trị tinh thần có tính vật thể và giá trị tinh thần phi vật thể Các vật thể khi đã có bàn tay con người tạo ra, mang dấu ấn tinh thần của con người thì đó là vật thể nhân tạo Đó chính là sản phẩm văn hoá, biểu hiện cụ thể của văn hoá, có hình khối, có diện mạo, có tính người, tính nghệ thuật khác hẳn với vật thể tự nhiên Những sản phẩm phi vật thể thể hiện trong đời sống tinh thần, trí tuệ của con người, nó không thể hiện bằng vật thể nhưng nó vẫn có tính vật chất như âm thanh, ngôn ngữ, văn bản tác phẩm văn học, âm nhạc” [13]

Theo Trần Ngọc Thêm, “VĂN HÓA là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực

tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của

mình” [19, tr.25]

Còn “văn hoá Việt Nam là toàn bộ hệ thống các giá trị về văn hoá về vật thể

và phi vật thể của con người Việt Nam từ thời tiền sử cho đến ngày nay, có bản chất chuyên biệt đặc thù làm nền bản sắc riêng của dân tộc, quốc gia Mặt khác, theo các nhà nghiên cứu văn hoá Việt Nam là một nền văn hoá mở, luôn tiếp thu và tiếp biến những yếu tố của văn hoá khu vực và thế giới để làm giàu thêm những giá trị vật chất và tinh thần nên nó vừa có tính truyền thống vừa có tính hiện đại Cội nguồn của văn hoá Việt Nam là văn hoá dân gian” [13]

1.1.2 Đặc trưng của văn hoá

Thứ nhất văn hoá có tính hệ thống, bởi mọi hiện tượng, sự kiện thuộc về một nền văn hoá, đều có liên quan mật thiết với nhau Nhờ có tính hệ thống mà văn hoá với tư cách là một đối tượng của xã hội, thực hiện được chức năng tổ chức xã hội Văn hoá là một hệ thống ứng xử của con người đối với tự nhiên và xã hội, là sự điều tiết của bản thân cho phù hợp với tự nhiên và xã hội thể hiện ở hai phạm trù: văn hoá trong ta và văn hoá ngoài ta Văn hoá trong ta do văn hoá ngoài ta chi phối và ngược lại văn hoá trong ta có vai trò tác động làm cho văn hoá ngoài ta duy trì và phát triển Có nghĩa là cần phải thấy vai trò đóng góp của cá nhân đối với văn hoá dân tộc Mỗi thời đại đều có những con người điển hình văn hoá, có tác động đến

Trang 10

chất lượng của văn hoá Lịch sử Việt Nam có những tri thức lỗi lạc, những danh nhân văn hoá có vai trò và thúc đẩy sự phát triển văn hoá Theo Đỗ Lai Thuý thì ở Mỗi thời đại có những mẫu người văn hoá: con người vô ngã thời Lý Trần theo thuyết Phật Lão với đại diện tiêu biểu là Từ Đạo Hạnh, Không Lộ Thiền Sư, Tuệ Trung Thượng Sỹ, Trần Nhân Tông; con người quân tử thời Lê theo thuyết Nho giáo xuất thế như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, con người tài

tử trong giai đoạn cuối Lê đầu Nguyễn như Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Dương Khuê; con người cá nhân trong giai đoạn nhà Nguyễn và Pháp thuộc như Trương Vĩnh Ký, Phan Khôi, Nhất Linh, Đinh Gia Trinh Tuy nhiên, mẫu người hoạt động văn hóa chỉ thiên về hoạt động văn học, văn hóa nhiều hơn hoạt động chính trị Các nhân vật lãnh tụ tầm cỡ quốc gia ít nhiều có vai trò to lớn trong việc tác động đến văn hóa dân tộc [20, tr.159-446]

Thứ hai, văn hóa có tính giá trị “Theo nghĩa từ nguyên thì văn hóa là trở nên đẹp, hóa thành đẹp, nghĩa là tính phẩm chất và tính giá trị của văn hóa Nó bao gồm các giá trị tinh thần và giá trị vật chất, từ đây có chia thành giá trị sử dụng, giá trị

đạo đức và thẫm mĩ Từ các giá trị, văn hóa có vai trò định hướng các chuẩn mực, điều chỉnh các mối quan hệ ứng xử của con người, tạo động lực cho sự phát triển

của xã hội Văn hóa có giá trị vĩnh cửu hay giá trị nhất thời tính theo đồng đại và lịch đại Văn hóa có tính lịch sử hay nói rõ hơn, giá trị văn hóa có tính lịch sử Mỗi thời đại có những chuẩn mực giá trị phù hợp với xã hội kia, ở giai đoạn lịch sử này

mà không thể phù hợp với giai đoạn lịch sử khác Chế độ chính trị xã hội với thiết chế của nó phần nào tạo nên những giá trị văn hóa nhất thời Giá trị văn hóa có tính truyền thống, nghĩa là nó được định hình qua nhiều thế hệ, qua thời gian Truyền thống văn hóa là những giá trị văn hóa được kết tinh qua nhiều thời kỳ lịch sử Giá trị văn hóa bao giờ cũng có tính kế thừa, kế tục và diễn tiến theo thời gian Chính vì thế mà Trần Ngọc Thêm cho rằng văn hóa có tính lịch sử” [13]

Thứ ba, văn hóa có tính nhân văn Theo Trần Ngọc Thêm văn hóa có tính nhân sinh, “văn hóa là một hiện tượng xã hội, là sản phẩm hoạt động thực tiễn của con người Theo nghĩa này, văn hóa đối lập với tự nhiên, nó là cái nhân tạo, trong

Trang 11

khi tự nhiên là cái thiên tạo Nhưng nó không phải là sản phẩm của hư vô, mà có nguồn gốc tự nhiên: văn hóa là cái tự nhiên đã được biến đổi dưới tác động của con người, là “phần giao” giữa tự nhiên và con người” [19, tr.23] Nhưng hoạt động của con người phải là hoạt động có ý nghĩa xã hội, gắn với nhu cầu cơ bản và tiến bộ của loài người để đối lập với những hoạt động tự nhiên hoặc phi nhân tính Tính nhân văn gắn với tính dân tộc vì thế mà có tính dân tộc của văn hóa Mỗi dân tộc có những giá trị, chuẩn mực văn hóa, nhân văn riêng

Còn cội nguồn của văn hoá Việt Nam là văn hoá dân gian, theo Ngô Đức Thịnh nó được sưu tầm, nghiên cứu trên các lĩnh vực: “Ngữ văn dân gian bao gồm:

tự sự dân gian (thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, truyện cười, ngụ ngôn, vè, sử thi, truyện thơ ) Trữ tình dân gian (ca dao, dân ca); Thành ngữ, tục ngữ, câu đố dân gian Nghệ thuật dân gian bao gồm: nghệ thuật tạo hình dân gian (kiến trúc dân gian, hội hoạ dân gian, trang trí dân gian, trò diễn ) Tri thức dân gian bao gồm: tri thức về môi trường tự nhiên (địa lý, thời tiết, khí hậu ), tri thức về con người (bản thân), y học dân gian, dưỡng sinh dân gian; Tri thức ứng xử xã hội (ứng xử cá nhân, ứng xử cộng đồng); Tri thức sản xuất (kỹ thật và công cụ sản xuất) Tín ngưỡng, phong tục và lễ hội Các lĩnh vực nghiên cứu trên của văn hoá dân gian nảy sinh, phát triển và tồn tại với tư cách là một chỉnh thể nguyên hợp, thể hiện tính chưa chia tách ở các bộ phận (ngữ văn, nghệ thuật, tín ngưỡng, phong tục ), giữa hoạt động sáng tạo và sinh hoạt văn hoá của nhân dân” [Dẫn theo 13]

Văn hoá dân gian là một thực thể sống, nảy sinh, tồn tại và phát triển gắn với sinh hoạt văn hoá cộng đồng của quần chúng lao động Vì vậy khi nhận thức, lý giải các hiện tượng văn hoá phải gắn với môi trường sinh hoạt văn hoá của nó, tức là các sinh hoạt của văn hoá cộng đồng, trong đó cộng đồng gia tộc và cộng đồng làng xã giữ vai trò quan trọng Văn hoá trong đó có văn hoá dân gian là sản phẩm của sự phát triển xã hội nhất định Tuy nhiên, sau khi hình thành và định hình, văn hoá tác động lại xã hội với tư cách là “nền tảng tinh thần xã hội”, là “động lực và mục tiêu của sự phát triển xã hội” [dẫn theo 13] Truyền thống lịch sử và xã hội Việt Nam đã quy định những nét đặc trưng của văn hoá nước ta Đó là văn hoá xóm làng trội hơn

Trang 12

là văn hoá đô thị, văn hoá truyền miệng lấn át văn hoá chữ nghĩa, ứng xử duy tình nặng hơn ứng xử duy lý Chủ nghĩa yêu nước trở thành cái trục của hệ ý thức Việt Nam, nảy sinh và tích hợp các giá trị văn hoá Việt Nam Từ đây có thể thấy, văn hoá Việt Nam bao gồm những đặc trưng:

Văn hoá dân gian mang đặc trưng cội nguồn của văn hoá dân tộc Người ta thường nói cội nguồn văn hoá dân tộc là văn hoá gốc, văn hoá mẹ Điều đó hàm nghĩa văn hoá dân gian gắn với lịch sử lâu đời của dân tộc, là nguồn sản sinh và tiếp tục nuôi dưỡng văn hoá dân tộc

Các biểu tượng của văn hoá chủ yếu gắn với văn hoá dân gian Hệ biểu tượng này hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài và quy định những hành vi ứng

xử của cộng đồng “Ta có thể nói tới biểu tượng đất nước trong văn hoá Việt Nam vừa mang tính nội sinh đất và nước hai yếu tố cơ bản tạo nên canh tác lúa của cư

dân nông nghiệp; vừa mang tính ngoại sinh: quốc gia mô hình của văn minh Trung Hoa Quốc tổ các vua Hùng - biểu tượng về cội nguồn, về tâm thức “uống nước nhớ nguồn” mà căn cỗi của nó là tục thờ cúng tổ tiên ở mỗi gia tộc, dòng họ Biểu tượng

tứ bất tử gồm Chử Đạo Tổ, Thánh Tản Viên, Thánh Gióng, Thánh Mẫu Liễu Hạnh,

đó là hệ ý thức nhân sinh Việt Nam hình thành do đòi hỏi xây dựng và cũng cố quốc gia phong kiến tự chủ nhất là từ thời Lê” [13]

Văn hoá dân gian với hệ giá trị và biểu tượng của nó đã làm nên cái gọi là tâm thức dân gian, tâm hồn dân tộc Những cái đó, tới lượt nó quy định các hành vi, tình cảm, hoài vọng của con người Bởi vậy, để nuôi dưỡng tâm hồn tình cảm dân tộc, xây dựng và cũng cố các biểu tượng của dân tộc, chúng ta cũng phải bắt đầu từ văn hoá dân gian

1.1.3 Chức năng và các thành tố của văn hoá

Trong giới nghiên cứu, sự trình bày về chức năng văn hóa chưa có sự thống

nhất hoàn toàn Theo Giáo trình Văn hóa xã hội chủ nghĩa của Học viện chính trị

quốc gia Hồ Chí Minh, văn hóa có các chức năng sau:

- “Chức năng bao trùm là chức năng giáo dục

- Chức năng nhận thức

Trang 13

- Chức năng thẫm mĩ

- Chức năng dự báo

- Chức năng giải trí” [Dẫn theo 22, tr.101]

Còn theo Trần Ngọc Thêm, lại xuất phát từ các đặc trưng, ông đi đến khẳng định văn hóa có những chức năng:

- Chức năng tổ chức xã hội

- Chức năng điều chỉnh xã hội

- Chức năng giao tiếp

- Chức năng giáo dục

- Chức năng phái sinh là đảm bảo tính kế tục của lịch sử [19, tr.21-24]

Trần Quốc Vượng lại cho rằng văn hóa bao gồm những chức năng:

tr.102] Nhưng văn hóa thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng giá trị ổn định, mà còn cả bằng những giá trị đang hình thành, nó tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người đang hướng tới

Bên cạnh đó, văn hóa có chức năng nhận thức, đây là chức năng quan trọng, tồn tại trong mọi hoạt động của văn hóa

Văn hóa còn có chức năng thẫm mĩ, “Đây là chức năng rất quan trọng của văn hóa ( ) Cùng với nhu cầu hiểu biết, con người còn có nhu cầu hưởng thụ, hướng tới cái đẹp Con người nhào nặn hiện thực theo quy luật của cái đẹp như Các Mác từng khẳng định, cho nên văn hóa nghệ thuật phải có chức năng này Xét cho cùng, văn hóa là sự sáng tạo của con người theo quy luật của cái đẹp” [22, tr.103-104]

Trang 14

Có một chức năng mà theo Trần Quốc Vượng không thể không nói tới của

văn hóa đó là chức năng giải trí Trong cuộc sống, ngoài lao động, con người cần có nhu cầu giải tỏa tinh thần, tâm lý, sự mệt mỏi của cơ bắp Theo chừng mực nhất định, giải trí ấy thiết thực và bổ ích, cũng vì thế nó gắn liền với chức năng giáo dục

Ngoài ra, cũng như Trần Ngọc Thêm, văn hóa còn có chức năng tổ chức xã hội Chính văn hóa thường xuyên làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để đối phó với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [19, tr.21] Với chức năng điều chỉnh xã hội, giúp xã hội duy trì được trạng thái cân bằng hoạt động của mình, không ngừng hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường để nhằm bảo vệ để tồn tại và phát triển Từ đó, nó “có chức năng bộ phận là định hướng các chuẩn mực ( ) chức năng phái sinh là động lực cho

sự phát triển” [19, tr.23]

Mặt khác, văn hóa có chức năng giao tiếp “Nếu ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa là nội dung của nó; điều đó đúng với nội dung giao tiếp giữa các cá nhân trong một dân tộc, lại càng đúng với giao tiếp giữa những người thuộc các dân tộc khác nhau và giao tiếp giữa các nền văn hóa” [19, tr.24] Và Trần Ngọc

Thêm cũng nói rằng, từ chức năng giáo dục, văn hóa có chức năng phái sinh là đảm bảo tính kế tục của lịch sử

Về thành tố của văn hóa, theo Trần Quốc Vượng: “Văn hóa là một hệ thống được tạo thành bởi nhiều thành tố khác nhau Mỗi thành tố mang những đặc điểm chung của văn hóa, nhưng mỗi thành tố cũng lại có những đặc điểm riêng” [22, tr.73] Và theo ông, văn hóa bao gồm các thành tố: Lối sống; Nhiếp ảnh, điện ảnh; Văn chương; Mass media; Thông tin, tín hiệu; Kiến trúc; Nghệ thuật trình diễn; Ngôn ngữ; Nghề thủ công; Sân khấu tuồng, chèo, kịch; Lễ hội; Nghệ thuật âm thanh; Phong tục tập quán; Tín ngưỡng tôn giáo; Nghệ thuật tạo hình

Theo Đại Bách khoa toàn thư Trung Quốc chia văn hóa thành các yếu tố chủ yếu sau:

- “Yếu tố tinh thần, tức là văn hóa tinh thần, nó tạo nên các hệ giá trị

- Ngôn ngữ và tín hiệu

Trang 15

- Hệ thống quy phạm về các chuẩn mực hành vi của con người, có loại do

“ước định thành tục” Quy phạm quy định phương hướng, phương pháp, dạng thức hoạt động của con người, quy định đối tượng và phương pháp mà ngôn ngữ và tín hiệu sử dụng Muốn hiểu hết văn hóa của một xã hội, thông thường là bắt đầu từ các quy phạm

- Quan hệ xã hội và tổ chức xã hội

- Sản phẩm vật chất” [Dẫn theo 13]

Đặng Đức Siêu cho rằng, văn hóa nhìn chung có ba bộ phận thành tố sau:

- “Những hoạt động thực tiễn của con người trong mối quan hệ tương tác với tự nhiên với thế giới vật chất, tạo thành các sản phẩm, các kết quả mang giá trị văn hóa

- Những hoạt động thực tiễn của con người trong mối quan hệ tương tác với môi trường xã hội tạo thành các thành phẩm mang giá trị văn hóa

- Những hoạt động thực tiễn của con người trong mối quan hệ với chính bản thân, với tư cách là một thành viên của cộng đồng, của xã hội tạo ra các giá trị văn hóa” [17, tr.41-44]

Theo Thầy Lê Đức Luận, văn hóa xét theo hệ thống giá trị bao gồm:

- Văn hóa vật thể (văn hóa vật chất): Văn hóa nghề nghiệp; Văn hóa ẩm thực; Văn hóa trang phục và sinh hoạt

- Văn hóa phi vật thể (văn hóa tinh thần): Văn hóa tâm linh và phong tục; Văn hóa phong tục; Văn hóa nhận thức, tư tưởng

- Văn hóa xã hội: Gia đình và gia tộc; Làng xã; Quốc gia (nước)

Chúng tôi lấy cơ sở này làm căn cứ luận lý luận cho đề tài khóa luận

1.2 Tục ngữ và đặc điểm của tục ngữ Nghệ Tĩnh

1.2.1 Khái niệm tục ngữ

Theo ông Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu: “Tục ngữ (tục:

thói quen đã có lâu đời; ngữ: lời nói) là những câu nói gọn ghẽ và có ý nghĩa lưu hành từ đời xưa, rồi do cửa miệng của người đời truyền đi” [Dẫn theo 11] Đây là một trong những định nghĩa về tục ngữ đã xuất hiện sớm Tuy chưa thật sự đầy đủ

Trang 16

các đặc trưng nhưng cũng đã nêu được một số đặc điểm cơ bản của tục ngữ

Một định nghĩa khác trong giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam (tập1): “Tục

ngữ là câu nói thường ngắn gọn có vần hoặc không có vần, có nhịp điệu hoặc không

có nhịp điệu, đúc kết kinh nghiệm sản xuất hay đấu tranh xã hội, rút ra một chân lí phổ biến, ghi lại một nhận xét về tâm lí, phong tục tập quán của nhân dân, tục ngữ

do nhân dân sáng tác và được toàn thể xã hội công nhận” [Dẫn theo 11] Trong giáo

trình Văn học dân gian (tập 2) của Hoàng Tiến Tựu diễn đạt lại định nghĩa về tục

ngữ đã nêu ở trên gọn hơn: “Tục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức, nêu lên những nhận xét, phán đoán, lời khuyên răn của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, giản dị súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ

truyền”

Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên đưa ra định nghĩa “Tục ngữ là

những câu ngắn gọn, thường có vần, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống và đạo đức

thực tiễn của nhân dân” [16, tr.1361]

Trong cuốn Từ điển thuật ngữ Văn học, Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn

Khắc Phi cho rằng “Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian mà chức năng chủ yếu

là đúc kết kinh nghiệm, tri thức dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, giàu vần điệu, hình ảnh, dễ nhớ, dễ truyền, ví dụ như: Tre già măng mọc; Nói ngọt lọt tận xương; Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ; Gần mực thì đen, gần đèn thì

1.2.2 Tục ngữ trong sự phân biệt với thành ngữ và ca dao

Giữa tục ngữ, thành ngữ và ca dao có sự sắp xếp lẫn lộn và đôi khi rất khó phân biệt Trước hết giữa tục ngữ và thành ngữ, để cho rõ ràng thì cần phải căn cứ

Trang 17

vào nội dung mới có thể phân biệt được

Về nội dung, tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lí, một công lí, có khi là một sự phê phán Còn thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là bộ phận của câu mà nhiều người quen dùng, nhưng tự riêng nó thì không diễn đạt được một ý trọn vẹn

Về hình thức ngữ pháp, mỗi thành ngữ chỉ là một nhóm từ, một cụm từ trơn tru, chưa phải một câu hoàn chỉnh Tục ngữ dù ngắn đến đâu cũng đã là một thể loại sáng tác ngang hàng với các thể loại ca dao, dân ca, tuy tác dụng của nó có khác Nếu kể cấp bậc thì thành ngữ ngang hàng với từ, thành ngữ là anh, các từ đơn độc là

em, vì thành ngữ qua thời gian, đã được gắn bó thành cụm từ như: “Áo rách, quần manh”, “Dốt đặc cán mai”, “Ăn trắng, mặc trơn”… Thành ngữ có ý nghĩa chỉ về một chiều, về một mặt, nói lên một tình trạng nhưng nó lại không kết thúc Ta thấy câu “Áo rách, quần manh” chỉ nói lên hai hình tượng đều biểu hiện cái nghèo, nhưng ai nghèo, nghèo làm sao thì lại không rõ ràng

Còn tục ngữ thì khác, mặc dù ngắn nhưng thường diễn tả một ý nghĩa trọn vẹn không kể đó là một kinh nghiệm hay là một lời khuyên răn, như “Chó cắn áo rách”, “Bệnh quỷ thuốc tiên”, “Người chửa cửa mả”… Cũng là nói về nghèo khổ nhưng ta xét câu tục ngữ “Chó cắn áo rách”, thì rõ ràng là nó diễn đạt một ý nghĩa trọn vẹn Nó phản ánh một hiện thực là con chó hễ thấy người ăn mặc rách rưới thì thường sủa hoặc xông ra cắn Mặt khác câu tục ngữ còn miêu tả cái cảnh đã nghèo lại gặp nhiều cái không may mắn

Xét về mặt nguồn gốc thì thành ngữ và tục ngữ hầu như đều là do nhân dân

ta sáng tạo ra, nhưng cũng có một số ít câu được rút ra ở những thi phẩm đã được phổ biến sâu rộng thành dân gian và cũng có những câu rút ở ca dao, dân ca Chính

vì vậy, có khi người ta còn gọi tục ngữ là ngạn ngữ Nghĩa là lời nói đã được lưu hành từ xưa

Như vậy, tục ngữ đã được cấu tạo trên cơ sở những kinh nghiệm về sinh hoạt, về sản xuất trong lâu đời Nó là những câu đúc kết, những nhận xét đã được nhiều người thừa nhận, để hướng dẫn con người ta trong sự nhìn nhận mọi khía

Trang 18

cạnh của cuộc đời

Còn trong cuốn Tục ngữ Việt Nam của nhóm Chu Xuân Diên lại nhận xét về

sự khác nhau giữa tục ngữ và thành ngữ như sau: “Xét nội dung và cách diễn đạt của những câu mà ta vẫn gọi là tục ngữ và thành ngữ thì thấy:1) Nội dung của thành ngữ là nội dung của những khái niệm Còn nội dung của tục ngữ là nội dung của những phán đoán; 2) Quan hệ giữa thành ngữ và tục ngữ là phản ánh quan hệ các hình thức khái niệm và phán đoán” [5, tr.70]

Không phải bao giờ tục ngữ và thành ngữ cũng phân biệt một cách rõ ràng

Có những câu có thể hiểu hai mặt, mặt kinh nghiệm là tục ngữ, mặt hình tượng là thành ngữ Ví dụ các câu: “Ruộng sâu, trâu nái”; “Mặt sứa, gan lim”; “Mèo mả, gà đồng” Về cơ bản đó là thành ngữ, nhưng người ta cũng có thể cho đó là tục ngữ Chẳng hạn câu: “Ruộng sâu, trâu nái” nói về kinh nghiệm trồng trọt và chăn nuôi Làm ruộng thì cấy ruộng sâu lúa mới tốt vì đủ nước và giàu chất mùn Nuôi trâu thì nuôi trâu nái mới có lời Còn thành ngữ để chỉ gia đình bề thế, giàu có Hay câu:

“Mèo mả, gà đồng”, nếu là tục ngữ thì chỉ kinh nghiệm về giống mèo mả gà đồng là giống thịt chắc, ngon còn thành ngữ là nói về một con người đanh đá, chua ngoa, lăng loàn Câu: “Mặt sứa, gan lim” cũng vậy Nếu là tục ngữ thì nói về kinh nghiệm nhận xét của sứa và lim Mặt sứa là loại nhám, rất ngứa, còn gan lim thì chắc tốt Nhưng thành ngữ thì lại nói về tính gan lì, chầy bữa của một con người Trong thực

tế, có sự chuyển hóa giữa thành ngữ, tục ngữ Câu thành ngữ: “Rồng đến nhà tôm” (chỉ một hiện tượng) được chuyển hóa thành tục ngữ: “Mấy đời rồng đến nhà tôm” (chỉ một quy luật) hoặc câu “Xấu như ma” (chỉ một tính chất) thành “Xấu như ma vinh hoa cũng đẹp” (chỉ một quy luật)” [11]

Thứ hai, giữa tục ngữ và ca dao tưởng chừng như dễ xác định song cũng còn những vấn đề khó phân định Có thể hiểu, tục ngữ thiên về lí trí (nội dung triết lý dân gian), ca dao thiên về tình cảm (nội dung trữ tình dân gian) nhưng giữa hai thể loại đó không phải là không có những trường hợp thâm nhập lẫn nhau Khi những câu tục ngữ có thêm yếu tố cảm xúc thì tục ngữ đã tiếp cận với ca dao Những câu tục ngữ ngắn gọn từ bốn đến mười tiếng thường được xác định khá rõ ràng, nhưng

Trang 19

những câu có mười bốn tiếng thì đang còn bàn cãi giữa tục ngữ và ca dao Không phải tất cả các câu sáng tác bằng thể lục bát đều là ca dao, mà thực tế là có những câu ca dao lấy từ chất liệu tục ngữ Khi tục ngữ là: “Có công mài sắt, có ngày nên kim” thì lại có câu ca dao tương xứng: “Ai ơi đừng chóng chớ chầy, có công mài sắt

có ngày nên kim”; hay: “Lời nói chẳng mất tiền mua” thì câu ca dao tương xứng sẽ là: “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”;… Những câu trên đây tuy vậy thường được nhân dân sử dụng với tư cách là tục ngữ Hơn nữa, do tính chất súc tích của nội dung, mà nhiều câu vốn là ca dao cũng đồng thời được dùng như tục ngữ: “Đem cực mà đổ lên non / Cong lưng mà chạy cực còn theo sau”; “Tranh quyền cướp nước gì đây / Coi nhau như bát nước đầy là hơn” [11]

1.2.3 Tục ngữ, thể loại thể hiện tri thức dân gian

Tục ngữ là một thể loại Văn học dân gian, ngắn gọn, súc tích, giàu vần điệu, hình ảnh nhằm đúc rút kinh nghiệm, truyền bá tri thức, giáo dục đạo đức, lối sống cho con người [11] Tục ngữ ra đời từ thời kỳ nguyên thủy bắt nguồn từ lối nói ẩn

dụ, tỷ dụ cụ thể trên cơ sở những quan sát khách quan Nội dung của tục ngữ, trước hết nó phản ánh kinh nghiệm lao động sản xuất Thời tiết là mối quan tâm của người dân, nó có ảnh hưởng tới sức khỏe, sinh hoạt Mối quan tâm đến thời tiết qua các hiện tượng tự nhiên như: mưa, nắng, gió, bão: “cầu vồng mống cụt, không lụt thì bão” hay “dày sao thì nắng, vắng sao thì mưa”, “chớp đông nhay nháy gà gáy thì mưa” Không chỉ thời tiết mà kinh nghiệm trồng trọt chăn nuôi cũng là mối quan tâm của nhà nông Các yếu tố cho cây lúa phát triển là “nước, phân, cần, giống” Yếu tố thời vụ đối với cây trồng cũng rất quyết định: “hớt hải không bằng phải thì” Trồng trọt, khâu làm mạ là khâu quan trọng đầu tiên “ Mùa bớt ra, chiêm tr vào”,

“Mùa sướng cao, chiêm ao lấp”, “Cơm quanh rá, mạ quanh bờ” Tiếp đến là kinh nghiệm làm đất: “Nhai kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa”, “nhất cày ải, nhì vãi phân” Rồi kinh nghiệm gieo giống cấy lúa “chiêm to tẻ, mùa nhỏ con”, “Gieo rẫy mong mưa tới, cấy ruộng mong trời hửng: Cuối cùng là kết quả nhờ chăm bón: “Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân”

Tri thức dân gian ấy còn được thể hiện ở kinh nghiệm chăn nuôi: “Chấm trán

Trang 20

lọ đuôi, không đuôi cũng nậy” (nuôi lợn), “Gà đen chân trắng mẹ mắng cũng mua,

gà trắng chân chì mua gì giống ấy” (nuôi gà), “Mặt bánh rán, trán bánh chưng, lưng tôm càng” (nuôi chó) Bên cạnh đó, là kinh nghiệm về ngư nghiệp, nhưng bộ phận này ít hơn Song có thể thấy, kinh nghiệm trồng trọt phong phú nhất Đây cũng là minh chứng sinh động cho một thực tế của người Việt có kinh nghiệm trồng trọt hơn chăn nuôi, chài lưới

Và có lẽ hơn hết, tục ngữ phản ánh chân thực những vấn đề xã hội Nó ghi lại các dấu ấn của các thời kỳ lịch sử xã hội như “Ăn lông ở lỗ”, “Chồng chung vợ chạ” Tri thức dân gian lại thể hiện một cách rất tinh tế qua những danh lam thắng cảnh, của ngon vật lạ của mỗi vùng quê “Nhất Kinh Kỳ, nhì phố Hiến”, “Cam xã Đoài, xoài Bình Định” Tri thức dân gian còn được đưa vào trong tục ngữ những hoạt động tín ngưỡng, phong tục tập quán của nhân dân: “Đói ra ma, quét nhà ra rác” “Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề” Quan niệm về hôn nhân “Lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống”

Mặt khác, quan niệm về triết lý nhân sinh được tác giả dân gian đưa vào khá phong phú, đề cao giá trị con người “Người ta là hoa đất”, “Người sống đống vàng” Đề cao và xét đoán con người qua lao động “Khen nết hay làm, ai khen nết hay ăn”, “Của một đồng, công một nén” Tục ngữ còn thể hiện lối sống trọng tình nghĩa: “Tiếng chào cao hơn mâm cỗ”, “Máu chảy ruột mềm” Phê phán những kẻ bạc nghĩa “Được chim quăng ná, được cá quăng nơm” Đề cao những giá trị đạo đức “Đói cho sạch, rách cho thơm”, “Cần cù bù khả năng”, “Ăn ham chắc, mặc ham bền” Tục ngữ nêu lên kinh nghiệm đánh giá, xét đoán con người qua hình dạng,

tác phong, cách ăn nói: Người thanh nói tiếng cũng thanh / Chuông kêu sẽ đánh bên thành cũng kêu”, Những người con mắt là răm / Lông máy lá liễu đáng trăm quan tiền Tục ngữ phản ánh đời sống khổ cực của nhân dân lao động: “Ăn xó mó niêu”,

“Nhà rách, váy nát” Phản ánh sự bất công của xã hội phong kiến “Tuần hà là cha

kẻ cướp”, “Muốn nói oan làm quan mà nói” Thể hiện tinh thần dân chủ nhân văn

“Ăn cho đều, kêu cho sòng”, “Hơn nhau tấm áo manh quần, cởi ra bóc trần ai cũng như ai” Và ở tục ngữ còn thể hiện tinh thần đoàn kết “Một cây làm chẳng nên non,

Trang 21

ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, hay ý thức phản khánh của nhân dân “Được làm vua, thua làm giặc”

Điều khiến người ta lưu tâm hơn, tục ngữ thể hiện quan niệm về con người, cuộc đời mang tính chất duy vật biện chứng về sự tồn tại của thế giới khách quan

“Còn da lông mọc, còn chồi lên cây” Tục ngữ nêu lên những mặt đối lập, mâu thuẫn trong xã hội: “Được mùa cau, đau mùa lúa”, “Được lòng ta, xót xa lòng người” Tục ngữ còn thể hiện mối quan hệ nhân quả “Rau nào sâu ấy”, “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”

Nội dung của tục ngữ chứa đựng khá sinh động và phong phú tri thức dân gian Nó được xem như một kho kinh nghiệm sống, là bách khoa toàn thư của dân

tộc ta trong suốt chiều dài lịch sử lao động, đấu tranh xây dựng và bảo vệ đất nước 1.2.4 Đặc điểm của tục ngữ Nghệ Tĩnh

Tục ngữ Nghệ Tĩnh ngoài những nét chung của tục ngữ dân tộc, còn có những nét đặc trưng mang đậm dấu ấn của tính cách con người nơi đây

Về nội dung, là những lời đúc kết kinh nghiệm của nhân gian về địa lý, lịch

sử, về phong tục tập quán, nghề nghiệp, ẩm thực, sinh hoạt, ăn mặc, nếp sống nếp nghĩ của người Nghệ

Về hình thức, Theo Nguyễn Nhã Bản khảo sát thì độ dài ngắn khác nhau, và

có những câu rất dài, có thể nói là dài nhất trong tục ngữ dân tộc “Theo chúng tôi, dài như vậy cũng là có lý do của nó Bởi lẽ, nó có sự liên kết khá rõ có khi là cùng một vùng đất, có khi liên kết nhờ đặc trưng của chính các sự vật được nhắc tới trong

câu tục ngữ Như trong câu: Lắm ló Xuân Viên, lắm tiền Hội Thống, lắm nống Do Nha, lắm cà Lộc Châu, lắm dâu Cẩm Mỹ, lắm bị Kẻ Găng, lắm măng Kẻ Cừa, lắm bừa Trung Sơn, lắm cơn Yên Xứ Đây đều là những địa danh thuộc huyện Nghi

Xuân, Hà Tĩnh” [2]

“Vần trong tục ngữ Nghệ Tĩnh không chỉ thực hiện đầy đủ những chức năng vốn có, mà nó còn mang những nét đặc trưng, đặc sắc riêng biệt của phương ngữ so với Tiếng Việt văn hóa Giải pháp của chúng tôi là chấp nhận các loại vần sau trong tục ngữ Nghệ Tĩnh: tục ngữ không có vần (hay vần zêrô); đa số tục ngữ mang vần (bao

Trang 22

gồm: vần liền, vần cách)” [18] Có thể diễn đạt điều vừa nói bằng sơ đồ sau:

- Tục ngữ không có vần (vần zêrô) chiếm tỷ lệ 37 % (theo thống kê của Nguyễn Thái Hoà là 0,02 %, Phan Thị Đào là 33 %)

Vần cách một âm tiết: Nác chè hâm lại, con gái ngủ trưa;

Vần cách hai âm tiết: Sấm tháng mười cấy trửa cươi cũng có ló; Thiếu tháng giêng mất khoai, thiếu tháng hai mất độ, thiếu tháng tư mất tằm, thiếu tháng năm mất ló; Sợ đọi cơm đầy không sợ thầy to tiếng; Qua vườn cam chớ sửa mũ, qua vườn củ chớ sửa giày;

Vần cách ba âm tiết: Ai biết sống đến mai mà để cổ khoai đến mốt; Bán ba con tru mua một thúng ló, bán ba con chó mua một vại cà; Bay cao bay thấp cũng

kể là diều, ăn ít ăn nhiều cũng kể là ăn; Cả đời thì ăn của chồng, mới được một đồng thì đòi ăn riêng;

Vần cách bốn âm tiết: Ai không ăn gai đầu mùa là dại, ai không ăn mít trái mùa là ngu; Ăn cơm độn ngô mà nói chuyện thủ đô Hà Nội; Con nít sướng khi ăn giỗ, trâu bò sướng khi sổ ràn

Vần cách năm âm tiết: Thực tế đây là kiểu vần lưng trong thơ lục bát: Cau già dao sắc cũng non, mẹ già ngon miệng thì con sớm chồng; Nước đục thì đã

có phèn, chanh chua có muối, vợ hèn có nhông; Ăn trù nhớ mở trù ra, một là mặn thuốc hai là mặn vôi; Bao giờ Đại Huệ mang tơi, rú Đụn đội nón thì trời mới mưa;

Vần cách sáu âm tiết: Số lượng kiểu loại vần này không nhiều: Có nam có

nữ mới nên xuân, có xôi có thịt mới nên phần

Loại vần cách có số lượng cao nhất, thứ đến là vần liền, thứ ba là tục ngữ không mang vần

Mặt khác, tục ngữ Nghệ Tĩnh xuất hiện rất nhiều từ cổ và tiếng địa phương

Trang 23

Từ ngữ địa phương là vốn từ cư trú ở một địa phương cụ thể có sự khác biệt với ngôn ngữ văn hóa hoặc địa phương khác về ngữ âm và ngữ nghĩa Vậy nên, đặc điểm này được xem như một đặc trưng dễ nhận diện và phận biệt tục ngữ Nghệ Tĩnh với tục ngữ ở những vùng khác Như: “kít ga một nơi bỏ mun một lộ” Cách

sử dụng thanh điệu, ngôn ngữ của từng vùng trong tục ngữ Nghệ Tĩnh cũng thể hiện khá rõ về thanh nặng, thanh ngã, và có những vùng thành những ốc đảo thổ ngữ Điều này được ghi nhận trong cách phát âm:

- Lau bau như kẻ bàu đi chợ

- Nói lu bu như dân chợ Cồn

Có khi là sự so sánh giữa những nơi có thanh điệu nặng với nơi có thanh điệu

nhẹ: Kẻ Dua hay nói giọng gằn, rừng thiêng nước độc khó mần ăn đừng về

Có nơi giọng chua so với những vùng có giọng ngọt, cũng có khi phân biệt

về mặt ngữ điệu: Nho Lâm ăn nói nặng nề, tiếng nói đi trước “mà lề” theo sau…

Không những vậy, ta còn thấy một đặc điểm khá rõ, tục ngữ Nghệ Tĩnh nhiều câu có cấu trúc giống nhau:

- Trai Cát Ngạn, gái Đô Lương

- Trai Đông Phái, gái Phượng Lịch

Từ những đặc điểm trên, chúng ta có thể thấy tục ngữ Nghệ Tĩnh có sự thống nhất trong đa dạng Có nghĩa là bên cạnh những nét chung vốn có của tục ngữ dân tộc, tục ngữ Nghệ Tĩnh mang những nét riêng thể hiện chính bản sắc văn hóa và tính cách của con người xứ Nghệ

1.3 Nghệ Tĩnh - vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa

1.3.1 Đặc điểm tự nhiên, lịch sử xã hội Nghệ Tĩnh

Nghệ Tĩnh là một bộ phận không tách rời của tổ quốc kể từ ngày vua Hùng dựng nước, có diện tích là 22.149 km2, có 150.500 ha diện tích đất canh tác Trước mặt Nghệ Tĩnh là biển Đông với chiều dài là 229 km, sau lưng là dãy Trường Sơn trùng diệp với 250 km có biên giới với nước bạn Lào anh em Phía Bắc giáp với tỉnh Thanh Hoá, phía Nam giáp với Quảng Bình. “Nghệ Tĩnh về địa hình, địa mạo

có núi rừng trùng điệp mênh mông, chiếm ngót hai phần ba diện tích ( ) Núi trải

Trang 24

dài và dày đặc ở phía tây, bốn mùa mây phủ từ xưa đã được nhân dân quen gọi là dãy Giăng Màn (hay Trường Sơn), núi còn sừng sững đâm thẳng ra tận biển, được gọi là đèo Ngang (hay Hoành Sơn)” [4, tr.17] “Từ phía tây bắc núi cao độ khoảng

từ 2.000 mét trở xuống ( ) tạo cho mặt đất một vẻ gồ ghề, lởm chởm ít thấy ở nhiều tỉnh đồng bằng khác Về sông ngòi, không kể những con sông nhỏ, ngắn, độ dốc nhiều, dồn nước nhanh ra biển, con sông lớn và dài nhất mà năm 1841 được xếp hạng là một trong những con sông đẹp nhất nước ta, cũng lại là con sông hung

dữ nhất vì nó thường phá phách đổi dòng, gọi là sông Lam hay sông Cả ( ) Tóm lại, thiên nhiên Nghệ Tĩnh hiểm trở gập ghềnh nhưng không đến nỗi hỗn độn Đối với việc trồng trọt, thiên nhiên quả là không thực tình hào phóng, buộc con người phải vất vả nhiều, nhưng cũng luyện cho con người chí phấn đấu cao Dù sao thì thiên nhiên cũng góp phần làm nảy nở nghệ thuật [4, tr.18-19]

Về khí hậu, mùa nóng ở Nghệ Tĩnh thường rất nắng nóng có khi làm cho đồng điền nứt nẻ, cây cỏ khô cháy Nghệ Tĩnh hàng năm phải chịu đựng “gió Nam Lào mang cái nóng rang bụi khô thu góp từ lục địa xa xôi trút về đây, làm thêm phần kéo dài và tăng cao nhiệt độ của những ngày hè Tiếp đó, có thể là những trận bão xuất phát từ Thái Bình Dương thỉnh thoảng kéo vào thăm xứ Nghệ (khoảng các tháng 7, 8, 9 hoặc muộn hơn) có khi mang theo những cơn gió xoáy hoặc một khối lượng nước lớn tạo thành lụt kinh khủng gây thiệt hại về người và của Mùa xuân

ở đây so với miền Bắc có muộn hơn và lượng mưa không đồng đều đối với từng vùng Mùa lạnh trong khi Bình Trị Thiên mưa liên miên, dầm dề, ở Lào hoàn toàn nắng ráo, thì ở Nghệ Tĩnh vừa lạnh vừa khô Không kể những đợt lạnh đột xuất, nhiệt độ trung bình ở đây là trên dưới 200C, điều đó cũng gần giống với phía nam đồng bằng Bắc Bộ” [4, tr.19-20] Khí hậu đặc biệt này, “rõ ràng rất khắc nghiệt đối với sinh vật, trước hết là đối với con người và cây lương thực Từ nạn này đến nạn khác, tình trạng oái oăm thường gặp là nhiều khi lo chống hạn chưa xong thì bão lụt

đã bất ngờ ập tới Cộng với đất thiếu màu mỡ làm cho nghề trồng trọt nói chung khó phát triển, thu hoạch không bù đắp cho công sức con người vất vả bỏ ra Từng tấc đất ở đây đều thấm máu và mồ hôi của cha ông Hạnh phúc dường như luôn

Trang 25

luôn bị đe dọa Cuộc vật lộn giữa con người và thiên nhiên diễn ra khá liên tục, được phản ánh khá rõ trong văn học dân gian của nhiều dân tộc ở đây” [4, tr.20]

Nhưng cũng không thể quên những yếu tố tốt đẹp mà thiên nhiên xứ Nghệ cấp cho con người và thiên nhiên ấy có quan hệ khá sâu sắc trong sự hình thành tính

cách Nghệ ở cả hai chiều ưu điểm và nhược điểm Nhân viết về Phan Bội Châu,

Trần Đình Hượu trình bày khá đầy đủ: “Nghệ Tĩnh là một vùng địa thế rộng, nhưng đất xấu, lắm đồi, núi, sông, biển Đời sống nhân dân dựa nhiều vào kinh tế tự nhiên: săn bắn, đánh cá, đốn gỗ, lấy tranh củi Dân công nhiều người phải bỏ quê hương đi nơi khác kiếm ăn Nét khá nổi bật là dân Nghệ Tĩnh học tập rất cần cù; làm thầy đồ dạy học là một nghề nghiệp của rất nhiều người Nhiều người hằng năm đi dạy học

ở các tỉnh xa” [Dẫn theo 3, tr.198-199]

Đến với mảnh đất Nghệ Tĩnh vẫn còn dấu tích của toà thành cổ trên ngọn Trúc Sơn trong dãy Hồng Lĩnh Người ta đã phát hiện được nơi đây có dấu tích của chiếc Ao Trời, Tháp Cờ, đồi Bắn Cung…Những dấu tích đó tương truyền là kinh đô Ngàn Hống của nước Xích Quỷ do Kinh Dương Vương trị vì (khoảng thế kỉ III TCN) Đồng thời núi Nam Giới thuộc vùng cửa sát bờ biển Thạch Hà, còn tại một vùng đất có tên gọi là Quỳnh Viên Đây là một tương truyền con gái của Vua Hùng thứ 12 là Tiên Dung đã gặp và chung sống với chàng trai nghèo có tên là Chử Đồng

Tử Từ những truyền thuyết được lưu truyền cho tới ngày nay là một minh chứng cho xứ Nghệ là vùng đất được hình thành từ hàng ngàn năm nay và có một bề dày lịch sử và văn hoá

Nghệ Tĩnh vinh dự là khu vực chứng kiến dấu vết quá trình chuyển biến từ vượn thành người “Ở hang Thẩm Ồm, xã Châu Thuận, Quỳ Châu, 5 chiếc răng vừa mang đặc điểm của răng vượn, vừa mang đặc điểm của răng người khôn ngoan (Homo sapien) Các nhà khảo cổ xác định chúng thuộc vào giai đoạn tiến hóa cuối cùng của người vượn cách ta khoảng 20 vạn năm Các di tích vào cuối thời đại đồ

đá cũ, như văn hóa Sơn Vi, văn hóa Hòa Bình [4, tr.90-91]

Từ năm 1960, giới khảo cổ phát hiện ở khu vực Thạch, Cẩm, Kỳ, kể từ núi Nam Giới trở vào “có nhiều di chỉ và hiện vật, đã đi đến kết luận về một giai đoạn

Trang 26

văn hóa hậu kỳ đá mới trong quá trình chuyển từ văn hóa Quỳnh Văn sang văn hóa Bàu Tró: đó là các cồn sò điệp Thạch Lâm, Thạch Đài, Núi Nài, cồn Lôi Mốt (thuộc Thạch Hà) Cồn ở Cẩm Thạch, Cẩm Hòa (Cẩm Xuyên) mà đặc điểm nổi bật là chiếc rìu có vai màu sắc lưỡi phổ biến, nồi gốm đáy tròn thay cho nồi đáy nhọn cũng như nhiều đồ gốm khác kiểu dáng đa dạng, hoa văn trang trí phong phú Không nghi ngờ gì nữa, một xã hội đang tiến vào nghề trồng trọt, cách ta trên bốn thiên niên kỷ được sinh tụ tiêu biểu tại khu vực này [4, tr.79-80]

Và nhiều chứng tích của sự phát triển kỹ thuật nguyên thủy qua nhiều thế hệ

kế tiếp thuộc xã Xuân Viên - Nghi Xuân - Hà Tĩnh “Từ đồ đá sang đồ đá mài: cuốc

đá, dao cắt lúa, bàn nghiền, rìu có vai, Đặc biệt, di chỉ núi Dầu (Đức Thọ), một xưởng làm công cụ đá nói lên sự phân công lao động, sự chuyên môn hóa sản xuất

và sự trao đổi sản phẩm thịnh hành ở đây Những cuộc khai quật trên bờ sông Lam (Nghi Xuân), bờ sông La (Đức Thọ) còn cho ta chứng tích của thời kỳ Đông Sơn đồng và sắt, nào lò luyện sắt (ở Xuân Giang), nào khuyên tai hai đầu thú (ở Xuân An) có thể gợi lên vai trò quan trọng của xứ Nghệ thời đó đối với việc giao lưu văn hóa” [4, tr.54]

Từ lúc nhà Hán mở cuộc bàng trướng xuống phía Nam, Nghệ Tĩnh dưới chính sách đô hộ của họ chỉ là một huyện mang tên Hàm Hoan - huyện lớn rộng nhất của quận Cửu Chân Trải qua nhiều đời, với nhiều tên gọi, đến đầu thế kỷ VII tên Hoan Châu ra đời Nhưng năm 622 thuộc nhà Đường, mới chính thức có Hoan Châu, là một đơn vị hành chính quan trọng lớn hơn trước đó

Cái tên Nghệ An xuất hiện vào đời Lý Thái Tông năm 1033, thay cho tên

Hoan Châu Nhưng nó cũng còn trải qua nhiều duyên cách nữa, cho đến mãi hơn 4 thế kỷ sau Lê Thánh Tông mới bắt đầu chia đất nước làm 13 đạo thừa tuyên (1466)

mà Diễn và Hoan mới chính thức được sáp nhập làm một gọi chung là thừa tuyên Nghệ An Từ “thừa tuyên” lúc này được dùng để gọi đơn vị hành chính lớn thay cho

“lộ”, về sau đổi là xứ (1456), làm trấn (1509) [4, tr.15-16] Như vậy, “xứ” là đơn vị

hành chính xuất hiện năm 1456 và kéo dài 53 năm, cho đến năm 1509 được đổi làm

“trấn”

Trang 27

Năm 1831 thuộc đời Minh Mạng mới phân chia “trấn” làm hai tỉnh: Nghệ

An và Hà Tĩnh “Nhưng cách chia này nếu có tiện cho công việc hành chính, thì về nhiều mặt không được thỏa đáng Nhân dân từ lâu quen gọi tắt địa danh Nghệ Tĩnh bằng “xứ Nghệ” ( ) Từ lúc đặt ra tên tỉnh Hà Tĩnh người ta phải gọi chung hai tỉnh bằng cái tên An Tĩnh hay Nghệ Tĩnh Sau khi lãnh thổ Việt Nam thống nhất và giải phóng toàn vẹn, thì Nghệ An, Hà Tĩnh lại được hợp nhất thành tỉnh Nghệ Tĩnh Và sau đó (tháng 8 năm 1991) lại tách làm hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh” [4, tr.16-17]

Nhưng theo Nguyễn Đổng Chi thì hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh như một đơn vị truyền thống, thống nhất về mặt văn hóa dân gian [4, tr.17]

Trên mảnh đất truyền thống này cũng có rất nhiều danh nhân nổi tiếng, chúng ta có thể kể như: Lê Hữu Trác (1720-1791); Nguyễn Công Trứ (1778-1858); Nguyễn Trường Tộ (1830-1871); Phan Bội Châu (1867-1940) Đặc biệt là Nguyễn

Ái Quốc - Hồ Chí Minh (1890-1969) là một chiến sĩ cách mạng lỗi lạc của dân tộc

và của cả thế giới, và còn là một thi sĩ tài năng, một danh nhân văn hóa

Chỉ riêng huyện Can Lộc, Hà Tĩnh mà cũng có nhiều kẻ sĩ hiển đạt lưu danh

sử sách như: Hà Công Trình, Bùi Cầm Hổ (thế kỉ XV), Nguyễn Văn Giai, Dương Trí Trạch, Phan Kính (thế kỉ XVII), Lê Sĩ Bàng (thế kỉ XVIII), Mai Thế Quý Đây

là những tên tuổi có đóng góp lớn trong xây dựng đất nước ở các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế, quân sự Trong sự nghiệp giáo dục, cũng có rất nhiều danh nhân nổi tiếng làm rạng danh đất học Hồng Lam: dòng họ Nguyễn với Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Huy Quýnh, Lê Hồng Hàn, Hoàng Dật, La sơn phu tử Nguyễn Thiếp, Hoàng Trừng, Lưu Công Đạo, Ngô Đức Kế Chúng ta mãi tự hào về vùng đất mà mỗi tên đất tên người đều ngời lên những chiến công cho quê hương dân tộc

Không thể quên Nguyễn Du - Đại thi hào dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, tác giả Truyện Kiều Một số tên tuổi khác ở vùng Nghi Xuân - Hà Tĩnh: Nguyễn Nghiễm - Hoàng giáp, Tể tướng triều Hậu Lê, tước Đại tư đồ Xuân Quận Công; Nguyễn Quỳnh - Quan võ, tước Lĩnh Nam công; Nguyễn Khản - Tiến sĩ, Thượng thư Bộ lại kiêm trấn thủ Sơn Tây, tước Toản quận công; Nguyễn Hành -

Nhà thơ An nam ngũ tuyệt, tác giả: Quan Đông hải thi tập, Minh Quyên thi tập,

Trang 28

Thiên hạ nhân vật thư; Nguyễn Thiện - Nhà thơ, tác giả: Đông phủ thi tập, Huyền

cơ đạo thuật bí thư, Nhuận bút Hoa Tiên; Nguyễn Huệ - Tiến sĩ cập đệ Tam giáp, tước Trung Trinh đại phu, Hàn lâm viện thừa chỉ, Tiên Lĩnh hầu Năm Cảnh Hưng thứ 11, Trịnh Ân Vương bao phong Võ Đại vương Thượng đẳng Phúc thần

Như vậy có thể thấy, về đặc điểm tự nhiên đó là sự hoà quyện của núi, sông, biển, giữa thiên nhiên và con người cùng với lịch sử xã hội được hình thành từ rất sớm tạo ra một bản sắc riêng cho Nghệ Tĩnh Bản sắc ấy là “Người Nghệ Tĩnh quen chịu đựng gian khổ, làm việc rất cần cù và sinh hoạt rất tiết kiệm Những nét độc đáo trong tính cách Nghệ Tĩnh là gan góc, mưu trí Có nhà nghiên cứu nhận xét rằng dân Nghệ Tĩnh nói chung quen chịu đựng gian khổ nhưng không quen chịu nhục và trong cái gan góc có cái bướng bỉnh, trong cái trung thực có cái thô bạo, trong cái mưu trí có cái liều lĩnh” [Dẫn theo 3, tr.198]

1.3.2 Nghệ Tĩnh - vùng đất giàu văn hoá dân gian

Theo nghĩa gốc, “dân” là những người trong cộng đồng xã hội, “gian” là

khoảng khu vực Văn hóa dân gian là tác phẩm văn hóa do bình dân sáng tạo ra

Thông thường người ta dùng thuật ngữ folklore (theo tiếng Anh, folk - nhân dân, lore - tri thức) Nội dung thuật ngữ văn hóa dân gian bao gồm nhiều thể loại khác

nhau như truyện cổ tích, truyện kể dân gian, ca dao, hò vè,…

Với văn nghệ dân gian, ở cái đất xứ Nghệ này có tất cả các loại hình từ ca dao, dân ca, câu đối, tục ngữ, thành ngữ, vè, truyện kể, chuyện ví hát, trò chơi, lễ nghi trong hội diễn Có thể nói, đó là một gia tài văn nghệ dân gian hoàn chỉnh Hoàn chỉnh không chỉ về thể loại, mà còn hoàn chỉnh về nội dung, về mức độ phản ánh các sinh hoạt xã hội, về đấu tranh chống ngoại xâm và các lực lượng hắc ám; về thể hiện nội tâm, tình cảm; về đạo lý và các mối quan hệ trong cuộc sống,…

Ngoài ra, trên địa bàn Nghệ Tĩnh có một số dân tộc ít người như: Thái, Thổ, Khơ Mú, Ơ Đu, H’mông, và dân tộc Chứt Mỗi một dân tộc là một gia tài văn hóa, văn nghệ dân gian Gia tài đó đã góp phần làm cho gia tài văn hoá văn nghệ dân gian Nghệ Tĩnh phong phú hơn, nhiều sắc thái văn hoá hơn

Hai thổ sản đặc biệt của xứ Nghệ là hát ví và hát giặm Hát ví phổ biến ở cả

Trang 29

Hà Tĩnh và Nghệ An, song đậm đà nhất là ở Nam Đàn và vùng thượng Can Lộc; Hát giặm, nhất là hát giặm trai gái phần lớn thường lưu hành ở các huyện Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh của Hà Tĩnh Hai kiểu hát dân ca này phải được

xem như đặc sản của một vùng, một khu vực riêng Người dân xứ này khi nói tới cả

hai kiểu loại dân ca này, hầu như ai cũng biết đến và rất nhiều người biết hát

Khi nói đến hát ví là nói chung Đó là những loại dân ca xuất hiện trong nghề nông và nghề thủ công, bao gồm trong đó nhiều thể dạng khác nhau như ví phường vải, ví phường nón, ví phường đan, ví phường củi, ví phường đan lưới… Hát ví quả đúng là một sinh hoạt văn hóa của nhân dân lao động Đây là một lối hát đối đáp, các câu hát được sáng tạo ngay tại chỗ, người hát vừa cất giọng, vừa suy nghĩ để tìm chữ, lựa lời:

Lắng tai nghe tiếng em đàn, Bằng ai bưng chén ngọc đổ vào gan lạnh lùng

Theo Nguyễn Nhã Bản thì một trong những đặc điểm nổi bật của hát ví đó:

“Là một khúc hát dân ca địa phương mà ở đấy cách sử dụng tài tình ở các trường hợp ứng đáp, các ngữ cảnh giao tiếp và thêm vào đó cũng biểu chỉ khả năng diễn đạt rất thông minh, dí dỏm, hàm súc, mang tính trí tuệ rất cao” [3, tr.247]

Cùng với hát ví, ở địa phương Hà Tĩnh còn có hát giặm Có người cho rằng giặm là giẫm chân và hát giặm là lối hát có đánh nhịp bằng chân Lại có người cho rằng, tiếng giặm xuất phát từ tính phân đoạn trong một bài hát giặm Còn có người cho rằng, giặm là giắm vào, điền vào như giắm lúa

Nguyễn Đổng Chi cho rằng, hát giặm có hai làn điệu là hát nói và hát ngâm, chủ yếu là hát nói Hát nói của hát giặm tạo cho người nghe một cảm giác đều đều, chắc gọn, nặng nề Phương ngữ xứ Nghệ có câu:

Dại nhất là thổi tù và, Thứ nhì hát giặm, thứ ba thả diều

Mặc dù có vần, có âm, có điệu, nó phản ánh một loại dân ca ở trình độ còn thô sơ Cách hát của giặm thường có ngâm mà không rung nghe đều đều mà mặt mũi không được tròn trĩnh xinh tươi cho lắm nên phương ngữ xứ Nghệ còn có

Trang 30

câu: hát giặm đồng đôi, mặt to như cái nồi, còn ngồi hát giặm, nghe nhiều thường

nhàm chán Ông cũng nhấn mạnh, hát giặm phản ánh một thứ lao động nào đó tương đối mệt nhọc, đều đều như đi đường, giã gạo, leo núi,v.v… hoặc phải chăng

nó ảnh hưởng của một công cuộc sinh hoạt hãy còn thô sơ, đơn điệu ở chỗ núi rừng

Vùng phía nam Hà Tĩnh là quê hương, là nơi xuất phát ban đầu của hát giặm

Đâu phải địa hậu nghiệt ngã làm cho con người trở nên khô cằn Người Nghệ Tĩnh lại càng sâu sắc, thâm thúy trước cái cuộc sống khắc nghiệt đó Họ sáng tạo nghệ thuật để vơi lấp đi sự bạc bẽo, bủn xỉn của điều kiện tự nhiên, để tìm nên những cái đẹp giữa muôn vàn khắc nghiệt “Với những yếu tố còn sót lại, so với văn hóa dân gian của các vùng khác, Nghệ Tĩnh quả là một vùng trù phú nhất nhì hiện nay” [4 tr.32]

1.3.3 Nghệ Tĩnh cái nôi văn hoá của người Việt ở Miền Trung

Theo Nguyễn Nhã Bản đã từng viết: “Nghệ - Tĩnh là mảnh đất có từ ngày

nhà nước chúng ta mang tên Văn Lang Lịch sử tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta có bao nhiêu thăng trầm thì dường như đất Nghệ cũng xẩy ra bấy nhiêu

biến cố” [3, tr.115]

Đó cũng là nhận xét hết sức chính xác về mảnh đất “địa linh nhân kiệt” này Nguyễn Tài Cẩn cũng đã từng nhận xét về mặt ngôn ngữ học: “Trong các vùng phương ngữ Việt Nam, vùng phương ngữ Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Trị Thiên có một vị trí đặc biệt: đấy là vùng còn giữ được nét cổ Có thể coi đây là kho tàng tư liệu có thể giúp ích được rất nhiều trong việc nghiên cứu lịch sử ngữ âm Tiếng Việt

giai đoạn khá xa xưa” [3, tr.115] Mặt khác, tộc người ở Nghệ Tĩnh nói một thứ tiếng thuộc ngữ hệ Việt - Mường, nhưng còn có thể liên hệ tới một ngôn ngữ có nguồn gốc xa hơn, là tiếng tiền Việt Mường [4, tr.20-21] Theo giả thiết, “một số bộ

lạc khác thì lại xô đẩy lên Trường Sơn mà tiếng Chứt (Quảng Bình), tiếng Poọng (Nghệ Tĩnh) là những đảo ngôn ngữ mang ít nhiều dấu vết của Tiền Việt - Mường còn sót lại Một số bộ lạc còn bị đẩy xa hơn nữa” [4, tr.21] Ngày nay, ngôn ngữ của vùng Bình Trị Thiên ít nhiều cũng rất giống với vùng Nghệ - Tĩnh Từ thanh điệu, cách phát âm, cho đến lớp từ cổ, mà chúng ta thường gọi là phương ngữ Ví dụ: gạo

Trang 31

- gấu; mệt - nhoọc; anh - eng, enh

Bên cạnh đó, “Tục ngữ Nghệ Tĩnh đặc biệt có những câu giống với tục ngữ Bình Trị Thiên, cụ thể là Quảng Bình, mặc dầu trong đó có thay đổi một vài từ, Ví

dụ: Nhét cua lòi giam (NT) - Nhét cá lòi giam (QB) Trai nhiều đời vợ cửa nhà tan tác; gái nhiều đời chồng chú bác say no (NT) - Trai nhiều vợ cửa nhà xơ xác, gái nhiều chồng chú bác được nhờ (QB) [4, tr.187] Nhìn một cách khách quan, có thể

thấy rõ những câu tục ngữ trên của vùng Nghệ Tĩnh là bản gốc, trong quá trình lan truyền qua Quảng Bình nó có những dị bản Chắc chắn còn nhiều điều tương đồng trong văn hóa sinh hoạt, nhưng do hạn chế nhất định chúng tôi chưa có điều kiện để tiếp xúc và tìm hiểu

Qua các nhận xét, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học chúng ta

có thể thấy Nghệ Tĩnh là một vùng đất có nền văn hoá lâu đời và có lịch sử hình thành từ rất sớm Với những kết quả của các nhà các nhà nghiên cứu “cho nên có người cho rằng Nghệ Tĩnh là một trong những trung tâm văn hóa của Việt Nam thì điều đó có thể không phải là một ngoa dụ” [4, tr.33], chúng ta có thể đưa ra kết luận: Nghệ Tĩnh là cái nôi văn hoá của người Việt ở Miền Trung

Tiểu kết:

Nghệ Tĩnh là một vùng địa đầu của miền Trung với địa hình chủ yếu là đồi núi Khí hậu của vùng đất này cũng rất khắc nghiệt, nắng, gió, cát đã ảnh hưởng không nhỏ đến tính cách và văn hoá của con người Nghệ Tĩnh đó là sự rắn rõi, gân guốc và kiên cường Với những cổ vật mà các nhà nghiên cứu tìm thấy được đã chứng tỏ Nghệ Tĩnh chính là cái nôi của văn hoá Việt ở miền Trung Đặc biệt, những tri thức dân gian thể hiện qua tục ngữ Nghệ Tĩnh được phản ánh khá phong phú, thể hiện một thế giới sinh động về nhiều mặt từ đời sống, sinh hoạt đến tính cách, ngôn ngữ của con người nơi đây

Như vậy, có thể thấy xứ Nghệ là vùng đất giàu văn hóa dân gian, nó đã góp phần làm giàu tâm thức dân gian và tâm hồn dân tộc Việt

Trang 32

CHƯƠNG 2: ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ PHI VẬT THỂ CỦA NGƯỜI NGHỆ

TĨNH THỂ HIỆN QUA TỤC NGỮ 2.1 Phong tục tập quán

Nghệ Tĩnh là một khu vực văn hóa, không thể tách Nghệ An ra khỏi Hà Tĩnh và cũng không thể tách Hà Tĩnh ra khỏi Nghệ An Nó đã nằm sâu trong tâm thức mọi người những nét văn hóa của người dân vùng này như: dân cá gỗ, tằn tiện, hiếu học Điều này tưởng chừng đơn giản nhưng khi đi tìm lời lý giải con người nơi đây mang những đặc trưng, bản sắc gì trên thực tế lại chẳng hề đơn giản Đến với phong tục con người Nghệ Tĩnh trong tục ngữ nó cũng thể hiện những nét riêng nhưng rất thống nhất với kho tàng văn hóa dân tộc Phong tục “đó là những thói quen đã ăn sâu vào trong đời sống xã hội từ lâu đời, được đại đa số mọi người thừa nhận và làm theo (phong: gió, tục: thói quen; phong tục là thói quen lan rộng)” [21, tr.179] Phong tục tập quán có trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, còn với tục ngữ Nghệ Tĩnh các tác giả dân gian cũng đã phản ánh khá đậm nét ở một số mặt, nhất là

về hôn nhân

Hôn nhân với người Nghệ Tĩnh cũng giống như văn hóa cả nước rất xem trọng Bởi đó là sự duy trì và phát triển nòi giống, thực hiện việc hương khói tổ đường, phụng dưỡng cha mẹ Một gia tộc bề thế là phải có đông con nhiều cháu Hôn nhân thời xưa không phải là sự lựa chọn của đôi lứa mà phải xem xét cả dòng tộc nòi giống:

Con gấy (gái) chọn nơi gả, con trai chọn nơi hỏi

Đó được xem là nguyên tắc chọn vợ gả chồng: phải tìm hiểu kỹ càng để lựa chọn nơi xứng đáng Việc chọn vợ với con người xứ này rất được đề cao, và là một khâu cực kì quan trong trong tiến tới hôn nhân Mặt khác, người Nghệ cũng rất xem trọng nhân duyên:

Hai tay bưng đọi (bát) chè tàu, vưa (vừa) đôi thì lấy ham giàu mà chi

Chỉ việc nhân duyên vợ chồng thì phải vừa đôi vừa lứa, chứ sang giàu thì trái

lẽ thường, nhân duyên tan vỡ Hạnh phúc là chuyện trăm năm, nên dựng vợ người Nghệ cũng chọn:

Trang 33

Muốn ăn cơm ngon lấy con nhà mót, muốn ăn canh ngọt lấy cháu bắt cua

Con nhà mót và con nhà bắt cua tần tảo, chịu thương, chịu khó, rất siêng năng, cần cù lao động Chọn những người này làm vợ thì sẽ có cơm ngon canh ngọt,

từ đó gia đình êm ấm Không những người con trai chọn vợ, mà với người con gái Nghệ Tĩnh lấy chồng cũng chỉ có một mong ước thật giản đơn:

Ham chi bó ló quan tiền, mụ gia dệ (dễ) ở, chồng hiền là hơn

Mong ước tưởng chừng như đơn giản nhưng đó là mong ước thiết tha nhất của người con gái khi đi lấy chồng gặp người chồng hiền và mẹ chồng dễ tính Không chỉ là duy trì và phát triển nòi giống, người con trai, con gái khi lấy chồng, lấy vợ phải có trách nhiệm làm rạng danh cho gia đình:

Chồng sang vợ được đi dày, vợ sang chồng cũng ghe ngày sướng thân

Chính điều này mà có một vùng đất được con người thời xưa rất tâm đắc khi chọn con dâu:

Con gấy (gái) rào Trai mười hai nén vàng

Rào Trai, tức cầu Đò Trai, thuộc xã Đức Thịnh - Đức Thọ - Hà Tĩnh Tương truyền từ xưa con gái rào Trai xinh đẹp, nết na, làm ăn giỏi giang

Quan niệm con người Nghệ Tĩnh lấy chồng gần nhà là sung sướng hơn cả, vì gần bố mẹ được nhờ vả, đỡ đần, đây cũng là một đặc điểm đặc sắc của văn hóa vùng lúa nước:

Lấy chồng trửa (giữa) làng, bằng vàng đeo trửa ngọ (ngõ)

Để đối lại câu tục ngữ vùng này cũng có câu:

Con gấy mà lấy chồng xa như con lợn béo khái tha vào rừng

Con gái đi lấy chồng xa là coi như mất đứa con, ngày xưa giao thông khó khăn, người con gái đã lấy chồng xa là biết tăm biệt tích không mấy khi về thăm cha mẹ

Trong tục cưới hỏi, lễ vật nhà trai mang đến nhà gái phải có trầu cau, trầu

phải đủ một trăm lá, cau phải đủ một buồng một trăm quả Miếng trầu là đầu câu chuyện, người Nghệ đi chạm ngõ cũng bắt đầu từ miếng trầu:

Quảy trù (trầu) đi chạm ngõ

Trang 34

Nhưng một khi người con gái đã có lễ chạm ngõ:

Ăn trù người ta như chim mắc nhạ

Trong quan hệ lứa đôi đã ăn trầu người, tức là đã nhận lời đính hôn, quan hệ

đã bị ràng buộc, duyên phận đã được định đoạt, sự ràng buộc này khi đã có giao ước hôn nhân giữa hai gia đình về việc xây dựng hôn nhân cho con cái

Ngoài quyền lợi dòng tộc, hôn nhân xưa ở xứ Nghệ cũng phải đáp ứng yêu cầu làng xã Hôn nhân phải được ưu tiên cho người cùng làng để duy trì dân số, tránh tình trạng người khác làng về đón dâu là mất nhân khẩu “Quy định nộp cheo của các đôi trai gái khi kết hôn là làm nghĩa vụ với làng xã Cheo là khoản tiền sung vào công quỹ, để tu bổ đình chùa, xây dựng các công trình công cộng như giếng làng, cổng làng, đường làng Cheo là một khoản tiền quan trọng để ghi nhận hôn nhân hợp pháp, tờ giấy ghi nhận nộp cheo có giá trị như giấy kết hôn Khi đã nộp cheo, nghĩa là được chính quyền làng xã công nhận sự hợp thức của cặp vợ chồng” [13] Dù dòng tộc hai bên đồng ý, có tổ chức cưới hỏi nhưng chưa nộp cheo thì không được làng xã thừa nhận Phản ánh điều này xứ Nghệ có câu:

Cưới vợ không cheo, như kèo không chốt

Kèo là nhà làm bằng tre, nứa, kèo nhà được làm bằng hai đoạn tre kẹp vào vào đầu cốt và được chốt bằng con xỏ để khỏi bị bật ra Cưới vợ mà không nạp tiền cheo thì rất dễ trục trặc và chưa có một sự ràng buộc chắc chắn của cộng đồng Và

để thể hiện vai trò của người vợ trong xây dựng hạnh phúc gia đình, người vợ phải chịu thiệt thòi không còn như thời con gái Tác giả dân gian nơi đây có câu:

Chưa chồng chơi đúm, chơi đu, có chồng chẳng giám mở trù ai ăn Hay câu: Có chồng như gông đeo cổ, không chồng cổi lổ mà đi

Những hình ảnh ví von được đưa vào câu tục ngữ đầy sinh động, không hổ mệnh danh tích cách con người nơi đây gắn với chữ “gàn”, cái hồn, cái cảm, cái tâm thật tinh tế Cũng là cái gàn ấy khi đề cao cái duyên hay cũng là cách nhắc nhở đừng để lỡ duyên của người con gái:

Còn duyên kén cá chọn canh, hết duyên ốc đực cua kêềnh cũng vơ

Ở Nghệ Tĩnh còn có tục con gái đi lấy chồng, khi sinh con so - con đầu lòng

Trang 35

về sinh ở nhà cha mẹ, hết cữ thì mới đưa về nhà chồng, ngược lại sinh con rạ thì ở bên nhà chồng:

Con so về nhà mạ, con rạ về nhà chồng

Dù hơi lạ nhưng nó đã ăn sâu vào vùng tâm thức của con người xứ này, thể hiện tình thương yêu của cha mẹ đối với con gái, bởi lần đầu sinh nở chưa có nhiều kinh nghiệm Hôn nhân và gia đình luôn là một đề tài muôn thuở ở mọi nền văn học, với tục ngữ Nghệ Tĩnh đề tài này cũng được phản ánh rất đậm đặc Đó cũng là một cách thể hiện con người nơi đây coi trọng đến cuộc sống gia đình với tất cả niềm vui, hạnh phúc

Đời sống tinh thần của con người xứ Nghệ cũng đậm đà trong phong tục ma chay được thể hiện trong tục ngữ:

Chết ba tiếng trôống (trống), sôống (sống) ba miếng dồi chó

Với phong tục tập quán người Nghệ Tĩnh chưa ăn dồi chó thì chưa thể nói là sống, chưa có tiếng trống kèn thì không thành đám ma Dồi chó là ruột chó rửa sạch, cho hỗn hợp tiết và các thứ gia vị vào, luộc hoặc nướng lên, ăn rất ngon Chết không thể thiếu trống kèn, cũng như sống không thể thiếu miếng dồi chó

Tục ma chay, việc chọn vị trí huyệt được người xứ Nghệ rất xem trọng Bởi

họ quan niệm khi chết linh hồn sẽ về bên kia thế giới sống một cuộc đời khác nên

họ bình tĩnh đón nhận cho mình một cái chết Vì thế người Diễn Châu - Nghệ An có câu:

Đầu gói Lèn, chân đạp Câu

Lèn là xã Diễn Minh, Câu là xã Diễn Hải, khi chết các thầy địa lý trị huyệt đều lấy hướng đầu ở phía Lèn, chân ở giữa Hòn Câu Đến nay, dân trong vùng vẫn truyền tụng câu ca:

Đầu gói Lèn, chân đạp Câu

Tứ đại công hầu, nhất đế vương Bao giờ thây chết đầy đường Câu sơn đáo địa, Trần vương ra đời

Nói về tục ma chay, người Nghệ cũng ý thức rất rõ:

Trang 36

Ma mô đón chạc nấy

Đòn: là dụng cụ khiêng người chết Chạc: là dây buộc quan tài để khiêng và đưa quan tài xuống huyệt Câu tục ngữ chỉ hồn ma chỉ linh thiêng với người thân thích, không liên quan đến người ngoài Và họ cũng quan niệm lễ nghi cúng ma tùy thuộc vào phong tục, quan niệm của từng nơi, không nơi nào giống nơi nào

Sống và chết là chuyện thường trong cuộc sống nên nó cũng thể hiện “cách

ăn nói của người xứ Nghệ thường tỏ ra bốp chát, không né tránh những suy tư táo tợn” [4, tr.189]

Ăn ba méng, uống ba chén, sôống ở với làng, chết ra cồn Chủi

Cồn Chủi là một bãi đất cao ở đồng làng Ích Hậu, Can Lộc, Hà Tĩnh Câu tục ngữ thể hiện một quan niệm sống không bon chen vật chất, danh lợi và rất trọng tình cảm xóm làng Thể hiện thái độ ngang tàn, bất cần của con người nơi đây Một lối sống phóng khoáng, con người có số trời sắp đặt cả rồi Làm ra được thì hãy cứ

ăn đi đã, cùng với sự chan hòa, sẻ chia tình làng nghĩa xóm thế là đủ, chẳng phải đi đâu

Tục ngữ Nghệ Tĩnh đã nói lên những thông điệp về sự chân thật, mộc mạc nhưng đằm thắm nghĩa tình của chính họ Xem trọng và đề cao tục hôn nhân, tục

ma chay đó cũng là cách người Nghệ tôn trọng chính bản thân mình

2.2 Tín ngưỡng

Người Nghệ Tĩnh có một đời sống tâm linh vô cùng sinh động Mùa xuân là mùa đâm chồi nảy lộc, mùa của vạn vật sinh sôi nảy nở Con người khắp nơi háo hức với những buổi du xuân thưởng ngoạn cảnh vật, đi trẩy hội, cầu mong một năm bình an, hạnh phúc sẽ đến với gia đình mình thì nhân dân xứ Nghệ cũng thế

Tháng giêng Đô Đài, tháng hai Hương Tích

Lễ hội Đô Đài là lễ hội lớn của người xứ Nghệ để ghi nhớ người con học giỏi

và có công với nước là Bùi Cẩm Hổ Còn chùa Hương Tích thuộc xã Thiên Lộc,

Can Lộc, Hà Tĩnh Chùa Hương Tích được mệnh danh là Hoan Châu đệ nhất danh thắng Nơi đây hằng năm vào tháng giêng du khách của Thanh Hóa cho tới Quảng

Bình đều đến chùa cầu cho một năm bình an Ngày lễ chính của chùa là 18 tháng 2

Trang 37

âm lịch nhân dân lại trẩy hội chùa Hương Hương Tích được xem là bàn thờ gia tiên

nên người dân hướng về chùa như hướng về cội nguồn lịch sử Chính La Sơn Phu

Tử Nguyễn Thiếp đã làm bài thơ tại chùa Hương Tích:

Hương Tích ngôi chùa đời Trần Dựng trên ngọn núi đẹp nhất Ngàn Hống

Am cũ còn lưu lại đá trắng Nền Trang Vương xưa chỉ những thông xanh

(Thái Kim Đỉnh dịch nghĩa) Không chỉ dừng lại ở đó:

Trống đền Cuông, chuông chùa Bốn

Chùa Bốn thuộc xã Diễn Hồng, Diễn Châu, Nghệ An Đây là ngôi chùa

mệnh danh có tiếng chuông vang vọng Hơn hết là sự linh thiêng của ngôi chùa Người dân nơi đây vào các dịp lễ đều đến đây cầu nguyện, như một sự nhớ ơn các

bậc sinh thành, cội nguồn của mình Đền Cuông thuộc xã Diễn An, chùa Bốn thuộc

xã Diễn Hồng, Diễn Châu, Nghệ An Đền Cuông - Cửa Hiền - Nghệ An: Đền toạ lạc tại núi Mộ Dạ, xã Diễn Trung, huyện Diễn Châu Đền Cuông thờ Thục An Dương Vương

Bụt chùa Già, ma chùa Dọc

Chùa Già là ngôi chùa của làng kẻ Già nay thuộc xã Thạch Kênh, Thạch Hà,

Hà Tĩnh Ngày xưa, ngôi chùa này nổi tiếng là linh thiêng; chùa Dọc là ngôi chùa

thuộc xã Tiến Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh (gần xã Thạch Kênh), một ngôi chùa hoang

có tiếng là lắm ma Cả hai ngôi chùa này nay không còn nữa

Gắn với tiến trình lịch sử dân tộc, quê hương Nghệ Tĩnh cùng nhân dân cả nước đã trải qua muôn vàn khó khăn và gian khổ để có được độc lập tự do Tính cách con người trên mảnh đất này không chỉ hình thành trong điều kiện lịch sử mà

cả địa lý Vừa dũng cảm gan góc, liều lĩnh; vừa hiếu học, thâm trầm, tiền phong; lại vừa khô khan tằn tiện Thế mới có câu tục ngữ:

Xứ Thanh cậy thế, xứ Nghệ cậy thần

Câu nói thể hiện niềm tự hào của người dân hai xứ, đều là những nơi đất

Trang 38

lành chim đậu Thanh Hóa được nhờ ân huệ của vua, đất Nghệ Tĩnh được thần phù

hộ Thanh Hóa là nơi sinh ra nhiều vị vua chúa Thời Lê Sơ tồn tại 99 năm 1527), mở đầu là Lê Thái Tổ (Lê Lợi) và có 11 vị vua Thời Lê Trung Hưng (1533 - 1788), tồn tại 255 năm, trải 17 đời vua Triều Nguyễn trải qua 9 đời chúa, 13 đời vua Riêng Vương triều Nguyễn trải 143 năm (1802 - 1945), mở đầu là Nguyễn Thế

(1428-Tổ, tức Gia Long (Phước ánh)

Đền Cờn, đền Quả, Bạch Mã, Chiêu Trưng

Người dân xứ Nghệ lấy làm niềm kiêu hãnh bởi đấy là bốn trong số những ngôi đền đẹp nhất An Nam Đền Cần tức đền Cờn Về ngôi đền này, Phan Huy Chú

đã viết rất cụ thể Đền Cần Hải còn gọi là đền Cờn ở huyện Quỳnh Lưu Chuyện kể ngày xưa có ba mẹ con công chúa Nam Tống bị chết chìm, xác trôi vào đây nhưng thây hãy còn tươi tắn như khi đang sống Người địa phương lấy làm lạ nên họ lo chôn cất và lập mộ đàng hoàng Về sau, khi Trần Thánh Tông cầm quân đi dẹp Chiêm Thành có trú quân ở cửa biển này, đêm nằm vua mộng thấy một người đàn

bà nói rằng: Thiếp là con gái của nhà Triệu, vì sóng gió mà phiêu bạt vào đây, đã được thượng đế phong làm thần biển, nay nghe Bệ hạ đi dẹp phương Nam, thiếp xin được đi theo phù hộ để Bệ hạ lập nên công lớn Sáng hôm sau vua hỏi các bô lão địa phương mới biết ra sự tích ấy Đến lúc nhà vua tiếp tục đi thì thấy sóng yên biển lặng, vua xuống chiếu lập đền thờ và cúng tế

Đền Cờn hiện ở xã Quỳnh Phương, Quỳnh Lưu Lễ hội đền này diễn ra hàng năm từ 15 đến 21 tháng Giêng âm lịch Phần hội diễn ra trong suốt bảy ngày, có đốt pháo bông, đua thuyền, và chủ yếu là “chạy ói”

Đền Quả Sơn thường gọi là đền Mượu, thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, hoàng tử thứ tám của vua Lý Thái Tổ, Tri châu Nghệ An (1039 - 1055) Đền này đã

từ lâu được xây dựng dưới chân núi Quả, tại làng Miếu Đường (thường gọi là làng Mượu, xã Bạch Đường, huyện Nam Đường, tỉnh Nghệ An, nay thuộc xã Bồi Sơn, huyện Đô Lương Lễ hội hai năm mở một lần, diễn ra trong ba ngày từ 19 đến 21 tháng giêng âm lịch Trong đó có lễ yết cáo, lễ rước ngược (có cả trên bộ và dưới sông), diễn ra cảnh xuất quân của Lý Nhật Quang và lễ rước xuôi… Hiện tại trên

Trang 39

đất Nghệ có trên 30 điểm lập đền thờ Lý Nhật Quang và đều coi ông là Thành Hoàng Nhưng đáng kể nhất là đền Cả (còn gọi là đền Lớn hoặc Tam Toà đại vương) tại làng ích Hậu, Can Lộc, Hà Tĩnh Tại vùng đất Tây Nam Hồng Lĩnh, ông cùng hai vương hầu nhà Lý là Lý Đạo Thành, Lý Thai Giai đã giúp dân khai hoang lập nên nhiều làng trong đó có làng kẻ Nhật (đến đời Lê đổi tên là ích Hậu) Vì thế dân địa phương thời chung cả ba ông và gọi là Tam Toà đại vương Sang đời Trần, công việc khẩn hoang vùng này lại được hai vương hầu nhà Trần là Trần Quang Khải và Trần Khánh Dư tiếp tục Sau khi mất, hai ông này cũng được hợp tự trong đền Cả

Đền Bạch Mã ở xã Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An Đền Bạch Mã thờ tướng quân Phan Đà, một vị tướng trẻ nổi tiếng thao lược của nghĩa quân Lam Sơn, từng lập nhiều chiến tích oanh liệt, được Bình Định Vương Lê Lợi rất yêu mến Ông người cao lớn, hùng dũng, dung mạo rất đẹp Lê Lợi ban cho ông một chiến mã màu trắng (bạch mã), một bộ giáp trắng Lúc ra trận, trông ông kiêu hùng như Mã Siêu thời Tam Quốc Ông vì mê hát bội mà bị giặc Minh phục kích rồi tử trận Sau khi mất, Lê Thái Tổ cho lập đền thờ tại nơi ông mất, tục gọi là đền Bạch Liêu

Đền Chiêu Trưng thờ Lê Khôi Ông là cháu ruột, con người anh trai của Lê Lợi và là một võ tướng từng lập nhiều chiến công trong nghĩa quân Lam Sơn Quân công hiển hách nhất của ông là cùng với đại tướng quân Lê Vấn chỉ huy 3000 thiết đội quân phối hợp với cánh quân Lê Sát tiến công quân Minh ở đồn Xương Giang tháng 10 năm Đinh Mùi (11/1427) bắt sống bọn Thôi Tụ, Hoàng Phúc và ba vạn quân giặc Năm Thuận Thiện thứ hai (1429), Lê Thái Tổ xét công bình ngô, ông được xếp hạng công thần, được phong tước Đinh Thượng Hầu Năm sau, ông cùng

Tư Mã Lê Liệt đem quân vào trấn thủ Thuận Hoá Thời Lê Thánh Tông ông được phong hàm Tư Mã tham tri chính sự, thời Lê Nhân Tông thăng tiếp chức Khâm Sai tiết chế thuỷ bộ chủ doanh, thượng tướng quân nhập nội thiếu uý Tư Mã Năm Thái Hoà thứ tư (1446), ông vâng mệnh làm tướng trong đội quân đi đánh Chiêm Thành

do Bình Chương Lê Thụ làm tiết chế Ông cùng Lê Thụ chỉ huy quân đội vây thành Chà Bàn bắt sống Vua Chiêm là Bí Cai giải về triều Khi qua cửa Nam Giới, ông

Trang 40

lâm trọng bệnh rồi mất tại đây Vua Nhân Tông nghe tin bãi triều ba ngày, rồi sai quân đến cửa Nam Giới tổ chức điếu tang trọng thể và xây lăng mộ cho ông ở phía Tây chân núi Long Ngâm, nay thuộc xã Thạch Kim, Thạch Hà, Hà Tĩnh Nhân dân địa phương cảm công đức của ông đã lập đền thờ ông tại đây Tục gọi là đền Chiêu Trưng đại vương, lại còn có tên gọi là đền Võ Mục, tức là gọi theo tên huý của ông

Có lẽ cái nổi bật trong “người Nghệ Tĩnh là chất kiên trung đã được lịch sử thừa nhận Kiên trung chính là sự chất phác, tính chất phác, là khí tiết bền bỉ của những tâm hồn tha thiết với quê hương, với dòng họ, với nghề nghiệp của mình, không vì một biến cố nào mà dao động” [4, tr.119] Điều này đã gây dựng nên từ lớp thế hệ này đến thế hệ khác và trên mọi miền tổ quốc đều có con em xứ Nghệ góp mặt Tín ngưỡng cũng là cách tự hào về ông cha, về quá khứ lịch sử hào hùng của quê hương, hơn thế đó còn là một đời sống tâm linh phong phú của người Nghệ Tĩnh

2.3 Văn hoá nhận thức tư tưởng

Đặc trưng của văn hóa nông nghiệp là sự sinh sôi, mùa màng bội thu và gia đình đông đúc Tính cộng đồng tập thể là yếu tố cơ bản tạo nên kết quả đông vỗ nên kêu “Yếu tố tạo nên sự sinh sôi là các cặp âm dương: cha - mẹ, đực - cái, nam - nữ, trời - đất Đất sinh và trời dưỡng Từ cuộc sống nông nghiệp và thời tiết có các cặp

âm dương như: úng - hạn, nắng - mưa, nước - lửa quan niệm từ xa xưa: cha thời,

mẹ đất Và cặp trái - phải cũng thể hiện rất rõ mối quan hệ âm dương này” [13]

Theo Trần Ngọc Thêm, đặc tính âm dương như sau: Âm: Mẹ - Đất: mềm, tình, chậm, tĩnh, hướng nội, ổn định, thấp, lạnh, phương Bắc, mùa đông, đêm, tối,

số chẵn, hình vuông Dương: Cha - Trời: cứng, lý/võ, nhanh, động, hướng ngoại, phát triển, cao, nóng, phương Nam, mùa hạ, ngày, sáng, mùa đỏ, số lẻ, hình tròn

Đặc tính này tạo nên hai cực và cặp đối lập và chuyển hóa lẫn nhau Muốn xác định tính âm dương của sự vật cần xác định đối tượng so sánh và cơ sở so sánh Theo Trần Ngọc Thêm, về bản chất có hai quy luật Quy luật thứ nhất là: sự vật không có gì hoàn toàn âm hoặc dương, trong âm có dương và ngược lại trong dương có âm Trong kho tàng tục ngữ Nghệ Tĩnh, chúng tôi khảo sát cho thấy

Ngày đăng: 09/05/2021, 17:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w