Học tập lịch sử theo quan niệm hiện đại không phải là sự học thuộc, nạp vào trí nhớ của người học theo lối thầy đọc trò chép, thầy giảng trò nghe, HS học thuộc lòng theo thầy, theo SGK m
Trang 1ỌC N N
I HỌC SƯ P M KHOA LỊCH SỬ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP I HỌC
Vấn đề tự học môn Lịch sử (khóa trình lịch sử Việt Nam) của học sinh lớp 11 (chương trình chuẩn) ở trường THPT trên
địa bàn T.P à Nẵng
Sinh viên thực hiện : Doãn Thị Năm
Người hướng dẫn : Th.S Dương Thị Tuyết
Đà Nẵng, tháng 5/ 2013
Trang 2Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn Th.S Dương Thị Tuyết, người
đã tận tình hướng dẫn, theo sát em trong suốt thời gian dài hoàn thành khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ từ các thầy cô bộ môn Lịch sử ở các trường THPT trên địa bàn T.P Đà Nẵng : THPT Phan Châu Trinh, Hòa Vang, Nguyễn Trãi đã nhiệt tình giúp đỡ em trong thời gian tiến hành khảo sát thực tế, phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến phòng học liệu khoa Lịch sử; thư viện trường Đại Học sư phạm; thư viện Tổng hợp T.P Đà Nẵng; thư viện Tổng hợp Huế đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình tiếp cận các nguồn tài liệu
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình đã ủng hộ và tạo điều kiện, giúp em có động lực và thời gian để hoàn thành khóa luận
Dù đã cố gắng nhưng do điều kiện, thời gian, trình độ còn hạn chế nên đề tài của em không tránh khỏi sai sót Kính mong thầy (cô) đóng góp ý kiến để đề tài của em được hoàn thiện hơn
Trang 3
MỤC LỤC
MỞ ẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8
3.1 Đối tượng nghiên cứu 8
3.2 Phạm vi nghiên cứu 8
4.1 Mục đích nghiên cứu 8
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 9
5.1 Nguồn tư liệu 9
5.2 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp của đề tài 9
7 Cấu trúc của khóa luận 9
NỘI DUNG 11
C ƯƠN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN Ề 11
TỰ HỌC MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT 11
1.1 Cơ sở lý luận 11
1.1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ 11
1.1.1.1 Tự học 11
1.1.1.2 Chủ thể 12
1.1.1.3 Tích lũy 12
1.1.1.4 Sở hữu 12
1.1.2 Một số quan điểm về tự học 13
1.1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin 13
1.1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh 14
1.1.2.3 Đường lối, chủ trương của Đảng ta về vấn đề tự học 16
Trang 41.1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc tự học môn Lịch sử 17
1.1.3.1 Về mặt giáo dưỡng 17
1.1.3.2 Về mặt giáo dục 18
1.1.3.3 Về mặt phát triển 19
1.1.4 Các loại hình tự học Lịch sử 19
1.1.4.1 Tự học cá nhân 19
1.1.4.2 Tự học theo nhóm, tổ 25
1.1.4.3 Tự học cả lớp 30
1.2 Cơ sở thực tiễn 36
1.2.1 Thực trạng 36
1.2.2 Nguyên nhân của thực trạng 38
C ƯƠN 2: Ệ THỐNG CÁC LO I HÌNH TỰ HỌC MÔN LỊCH SỬ (KHÓA TRÌNH LỊCH SỬ VIỆT NAM) CỦA HỌC SINH LỚP 11 (C ƯƠN TRÌN CHUẨN) Ở TRƯỜN T PT TRÊN ỊA B N T.P N NG 41
2.1 Khóa trình lịch sử Việt Nam trong chương trình Lịch sử lớp 11 (chương trình chuẩn) 41
2.1.1.Vị trí, ý nghĩa đối với chương trình lịch sử lớp 11 41
2.1.2 Nội dung cơ bản 41
2.2 Bảng tổng hợp các loại hình tự học khóa trình lịch sử Việt Nam của học sinh lớp 11 (chương trình chuẩn) ở trường THPT trên địa bàn T.P Đà Nẵng 45
C ƯƠN 3: MỘT SỐ HÌNH THỨC VÀ BIỆN PHÁP TỰ HỌC MÔN LỊCH SỬ (KHÓA TRÌNH LỊCH SỬ VIỆT NAM) CỦA HỌC SINH LỚP 11 (C ƯƠN TRÌNH CHUẨN) Ở TRƯỜN T PT TRÊN ỊA B N T.P N NG 56
3.1 Những nguyên tắc chung đối với việc tự học môn Lịch sử (khóa trình lịch sử Việt Nam) của học sinh lớp 11(chương trình chuẩn) ở trường THPT trên địa bàn T.P Đà Nẵng 56
3.1.1 Nắm vững yêu cầu về chương trình môn học 56
3.1.2 Đảm bảo tính khoa học 57
3.1.3 Đảm bảo tính vừa sức và phù hợp với đặc điểm bộ môn 59
3.2 Các hình thức và biện pháp tự học môn Lịch sử (khóa trình lịch sử Việt Nam) của học sinh lớp 11 (chương trình chuẩn) ở trường THPT trên địa bàn T.P Đà Nẵng 59
3.2.1 Đối với bài học nội khóa 59
Trang 53.2.1.1 Đối với bài cung cấp kiến thức mới 60
3.2.1.2 Đối với bài ôn tập, sơ kết, tổng kết 74
3.2.1.3 Đối với bài kiểm tra, đánh giá 76
3.2.2 Đối với hoạt động ngoại khóa 77
3.2.2 1 Đọc sách 78
3.2.2 2 Kể chuyện 79
3.2.2 3 Tham quan lịch sử 80
3.2.2 4 Tham gia hoạt động công ích xã hội 81
3.3 Thực nghiệm sư phạm 81
3.3.1 Mục đích thực nghiệm 81
3.3.2 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 82
3.3.2.1 Nội dung 82
3.3.2.2 Phương pháp 82
3.3.3 Kết quả thực nghiệm 82
KẾT LUẬN 84
1 Kết luận 84
2 Một số kiến nghị 85
Trang 6MỞ ẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bàn về chuyện học hành, từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây đã có nhiều bậc hiền triết
và nhiều nhà giáo dục bàn đến Sau đây xin đưa ra một số quan điểm:
Gibbon cho rằng: “Mỗi người đều phải nhận hai thứ giáo dục, một người do người
khác truyền cho, một thứ quan trọng hơn – do chính mình tạo lấy” [48;101]
Mác đã nói: “Không có con đường nào thênh thang để tiến lên những đỉnh cao của
khoa học” [48;101]
Lênin khuyên thanh niên: “Học, học nữa, học mãi!” [48;101]
Trong cuốn “Sửa đổi lề lối làm việc”, Bác Hồ viết: “Cách học tập, phải lấy tự học
làm cốt, phải biết tự động học tập” [48;102]
Trong xu thế đổi mới giáo dục hiện nay, cùng với việc thay đổi mục tiêu chương trình, nội dung giáo dục thì vấn đề đổi mới PPDH được coi là vấn đề trọng tâm Đổi mới PPDH là quá trình tất yếu của lịch sử, là yêu cầu khách quan của thực tiễn giáo dục Nghị quyết Đại hội VIII và nghị quyết Trung ương II đã khẳng định: Tập trung sức nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học, tự nghiên cứu cho học sinh phát triển mạnh
mẽ phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên
Đối với bộ môn Lịch sử ở các trường THPT, do đặc trưng của bộ môn Lịch sử là những sự việc đã diễn ra và tồn tại khách quan trong quá khứ Nó chứa đựng rất nhiều sự kiện, nhân vật với các mốc thời gian khác nhau Đây là nguyên nhân làm cho HS thấy chán học môn sử Vì vậy, đại bộ phận HS không thích môn sử, coi như môn học của các
sự kiện và năm tháng, môn học của trí nhớ, khô khan và nhàm chán Vấn đề này đặt ra yêu cầu bức thiết cho các GV dạy sử phải tiến hành đổi mới PPDH bộ môn
Học tập lịch sử theo quan niệm hiện đại không phải là sự học thuộc, nạp vào trí nhớ của người học theo lối thầy đọc trò chép, thầy giảng trò nghe, HS học thuộc lòng theo thầy, theo SGK mà là HS thông qua quá trình làm việc với sử liệu, tự tạo cho mình các hình ảnh lịch sử, hình dung được nhữngsự kiện lịch sử đã diễn ra trong quá khứ
Trang 7Với quan niệm trên thì vấn đề tự học môn Lịch sử của HS có ý nghĩa rất lớn, giúp cho HS không chỉ biết mà còn hiểu và nắm vững kiến thức một cách sâu sắc Có “nó” sẽ
có được chìa khóa của sự thành công, chỉ cần ta biết cách sử dụng đúng đắn
Là một sinh viên sắp bước ra khỏi cánh cổng trường Đại học và về các trường phổ thông dạy học, để định hướng được phương pháp dạy học đúng đắn và hiệu quả, nâng cao trình độ chuyên môn cho sự nghiệp giảng dạy sau này, chúng tôi rất muốn tìm hiểu về vấn
đề tự học môn Lịch sử của HS ở các trường THPT Đặc biệt là việc tự học Lịch sử của HS lớp 11 – vì đây là cơ sở, là nền tảng để HS lớp 12 học tập tốt và hiệu quả môn Lịch sử, chuẩn bị tốt cho kì thi tốt nghiệp và kì thi đại học khối C
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Vấn đề tự học môn Lịch sử (khóa
trình lịch sử Việt Nam) của học sinh lớp 11 (chương trình chuẩn) ở trường THPT trên địa bàn T.P à Nẵng” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khi nghiên cứu về PPDH Lịch sử, đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến vấn
đề tự học Lịch sử của học sinh THPT Liên quan đến đề tài này có các công trình sau:
Phan Ngọc Liên – Trần Văn Trị (chủ biên) (2004), Phương pháp dạy học Lịch sử, NXB Giáo dục Nội dung có giới thiệu qua về vai trò, ý nghĩa của việc tổ chức tự học cho
HS Đưa ra quan niệm đúng về việc tự học Đồng thời cũng nêu lên được một số hình thức tự học Lịch sử Nhưng chỉ dừng lại ở mức giới thiệu
Nguyễn Thị Côi (2008), Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học Lịch
sử, NXB Đại học sư phạm Nội dung tác phẩm có đề cập đến vấn đề tự học ở nhà Khẳng
định hoạt động học tập là một khâu của quá trình dạy học Chứng minh được tự học là một vấn đề quan trọng của HS Nêu ra một số đặc điểm hoạt động tự học, nội dung tự học
ở nhà của HS và một số nhiệm vụ của GV đối với việc tự học của HS
Tạp chí giáo dục (2012), số 292 - kì 2, Tạp chí lý luận - Khoa học giáo dục – Bộ giáo dục và đào tạo Bàn về phát triển kĩ năng tự học với SGK cho HS trong dạy học Lịch
sử ở trường Phổ thông với các nội dung: Tầm quan trọng của SGK với việc phát triển tự học cho HS trong dạy học Lịch sử ở trường THPT; nội dung và tiêu chí đánh giá kĩ năng
tự học với SGK cho HS trong dạy học lịch sử; một số biện pháp phát triển kĩ năng tự học với SGK cho HS
Trang 8Ngoài ra, bàn chung về vấn đề tự học có các tác phẩm sau:
Nguyễn Cảnh Toàn – Lê Hải Yến (2012), Xã hội học tập học tập suốt đời và các kĩ
năng tự học, NXB Dân trí Nội dung tác phẩm nói về bản chất của tự học; tự học với việc
đọc sách; kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề trong việc tự học; kỹ năng ghi nhớ và vận dụng kến thức và việc tìm hiểu cơ sở tư duy các môn học để tự học đạt hiệu quả cao
Vũ Quốc Chung – Lê Hải Yến (2003), Để tự học đạt được hiệu quả, NXB Đại học
sư phạm Nội dung bàn về nội lưc, ngoại lực của người tự học Đi sâu hướng dẫn về kỹ thuật đọc sách Tuy nhiên đối tượng của tác phẩm không phải là học sinh THPT mà dành cho người đang học từ xa và vừa học vừa làm
Ngoài các công trình trên thì cũng còn nhiều Hội thảo và tác phẩm nữa liên quan đến vấn đề tự học Tuy nhiên, các tác phẩm, tài liệu nói trên là cơ sở để chúng tôi tham
khảo và tiến hành đề tài “Vấn đề tự tự học môn Lịch sử (khóa trình lịch sử Việt Nam)
của học sinh lớp 11 (chương trình chuẩn) ở trường THPT trên địa bàn T.P à Nẵng”
3 ối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 ối tượng nghiên cứu
- Vấn đề tự học môn Lịch sử (khóa trình lịch sử Việt Nam) của HS lớp 11 (chương trình chuẩn) ở trường THPT
- Nghiên cứu lý luận và thực tiễn xung quanh vấn đề tự học môn Lịch sử, nhằm tìm
ra những hình thức và biện pháp tự học Lịch sử cho HS lớp 11 ở các trường THPT để góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả trong dạy – học bộ môn
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản sau:
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề tự học môn Lịch sử ở trường THPT
- Hệ thống các loại hình tự học môn Lịch sử (khóa trình lịch sử Việt Nam) của HS lớp 11(chương trình chuẩn) ở trường THPT trên địa bàn T.P Đà Nẵng
Trang 9- Đưa ra một số hình thức và biện pháp về việc tự học môn Lịch sử (khóa trình lịch
sử Việt Nam) của HS lớp 11(chương trình chuẩn) ở trường THPT trên địa bàn T.P Đà Nẵng
- Đề xuất một số kiến nghị
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Đề tài chúng tôi nghiên cứu dựa trên các nguồn tài liệu sau:
- Các tác phẩm sử học liên quan đến vấn đề tự học môn Lịch sử
- Các tạp chí giáo dục và một số bài viết khác
- Các số liệu từ điều tra và thực nghiệm sư phạm
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Các phương pháp lí luận như: phương pháp sưu tầm, lịch sử, lôgic, tổng hợp và phân tích nguồn tư liệu, đối chiếu, so sánh, hệ thống hóa
- Phương pháp khảo sát, điều tra thực tế
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp thống kê toán học
6 óng góp của đề tài
Qua việc nghiên cứu đề tài sẽ giúp mọi người hiểu được vai trò quan trọng của việc
tự học Lịch sử Giúp mỗi HS có được phương pháp tự học Lịch sử đúng đắn và phù hợp
để nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn
Đề tài nghiên cứu của chúng tôi có thể làm tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên, HS nhằm phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu
Đồng thời, việc nghiên cứu đề tài có thể mang lại cho chúng tôi một số kinh nghiệm và kiến thức cần thiết để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ - là hành trang cần thiết cho việc giảng dạy sau này
7 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung chính của đề tài nghiên cứu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề tự học môn Lịch sử ở trường THPT
Trang 10Chương 2: Hệ thống các loại hình tự học môn Lịch sử (khóa trình lịch sử Việt Nam) của học sinh lớp 11 (chương trình chuẩn) ở trường THPT trên địa bàn T.P Đà Nẵng
Chương 3: Một số hình thức và biện pháp tự học môn Lịch sử (khóa trình lịch sử Việt Nam) của học sinh lớp 11 (chương trình chuẩn) ở trường THPT trên địa bàn T.P Đà Nẵng
Trang 11
Có nhiều định nghĩa khác nhau về tự học:
Theo giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn : “Tự học là tự mình động não, sử dụng các năng
lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực nào đó thành sở hữu của mình” [48;103]
Nhà tâm lý học N.Arubakhin coi: “Tự tìm lấy kiến thức có nghĩa là tự học” [46;16]
Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong thực tiễn hoạt động
cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của chủ thể
Còn theo tác giả Lê Khánh Bằng : tự học (self learning) là tự mình suy nghĩ, sử dụng
các năng lực trí tuệ, các phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định
Theo tác giả Nguyễn Văn Đạo: “Tự học phải là công việc tự giác của mỗi người do
nhận thức được đúng vai trò quyết định của nó đến sự tích lũy kiến thức cho bản thân, cho chất lượng công việc mình đảm nhiệm, cho sự tiến bộ của xã hội”
Như vậy, từ định nghĩa về tự học của các tác giả trên có thể hiểu một cách đầy đủ:
“tự học” là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức
bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định, là một quá trình lĩnh hội kinh nghiệm xã hội thông qua hoạt động lý luận và thực tiễn của mỗi cá nhân bằng cách thiết lập mối quan hệ mới, cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn kinh nghiệm của chủ thể
Trang 12Trong đề tài này, chủ thể được nhắc đến chính là cá nhân người học, là người làm chủ quá trình nhận thức
1.1.1.3 Tích lũy
Khái niệm “tích lũy” thường được nhắc đến trong các tài liệu là “tích lũy tư bản” Trong phạm vi của đề tài thì không có một khái niệm cụ thể nào về “tích lũy” Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu chúng tôi xin đưa ra cách hiểu của mình về “tích lũy” như sau:
“tích lũy” hay “tích lũy kiến thức” là cả một quá trình người học tiếp nhận, lĩnh hội các kiến thức (cũ và mới) trong quá trình học tập cùng với những kinh nghiệm trong thực tiễn cuộc sống, sàng lọc và biến những kiến thức và kinh nghiệm mà mình lĩnh hội được thành kiến thức và kinh nghiệm của mình Quá trình từ tiếp nhận kiến thức, kinh nghiệm đến khi các kiến thức, kinh nghiệm đó trở thành vốn kiến thức, kinh nghiệm của mình gọi là quá trình “tích lũy”
1.1.1.4 Sở hữu
Có các loại hình sở hữu khác nhau: sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu cá nhân…Trong phạm vi đề tài “sở hữu” được nhắc đến là loại hình “sở hữu cá nhân” Theo cách hiểu của C.Mác và Ăngghen thì “sở hữu cá nhân” hay “sở hữu cá thể” có trước sở hữu tư sản, là do cá nhân mỗi người làm ra, kết quả lao động của cá nhân dựa trên cơ sở quyền tư hữu của người lao động đối với những tư liệu sản xuất chỉ nhằm cho việc sử dụng cá nhân; quyền sở hữu sản phẩm là dựa trên lao động của bản thân (nếu có nhờ đến
sự giúp đỡ của người khác thì chỉ là thứ yếu)
Như vậy, sở hữu có thể hiểu một cách đơn giản là người làm chủ và quyền làm chủ
Trang 131.1.2 Một số quan điểm về tự học
1.1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin
Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra bản chất của quá trình dạy học ở trường phổ thông là quá trình nhận thức của HS dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo, điều khiển của GV nhằm đạt được mục tiêu giáo dưỡng, giáo dục và phát triển Trong đó, tự học là quá trình tiếp thu, gia công, lưu trữ thông tin từ nhiều nguồn khác nhau để vận dụng trí nhớ vào giải quyết vấn đề thực tiễn và chuyển hóa thành trí tuệ của bản thân mình Đó chính là sự phản ánh khách quan thông qua chủ quan của HS, từ đó HS mới có thể nắm vững tri thức và phát triển nhân cách toàn diện Mác và Ăngghen cho rằng con người phải được phát triển toàn diện bằng các hoạt động thực tiễn sinh động Điều này được kiểm nghiệm bởi chính quá trình hoạt động cách mạng và những cống hiến khoa học vĩ đại của các bậc vĩ nhân cho loài người Đó là kết quả của quá trình tự tìm tòi, nghiên cứu và khổ luyện để rút nên chân
lí lớn của thời đại
Mác đã từng nói: “không có con đường nào thênh thang dẫn đến các đỉnh cao khoa
học” [48;101], điều này đã khẳng định một lần nữa yếu tố quyết định của nội lực con
người Chúng ta chỉ có thể chinh phục được đỉnh cao khoa học khi biết chấp nhận con đường đầy khó khăn thử thách có cả thành công và thất bại Hơn nữa nó còn đòi hỏi con người có ý chí quyết tâm, tinh thần bền bỉ, cầu học cầu tiến bộ để chiếm lĩnh tinh hoa văn hóa nhân loại Quá trình “tự vận động” của HS cũng không nằm ngoài quy luật đó
Như vậy, việc tự học tất yếu đòi hỏi phải có sự nỗ lực, tích cực và tự điều chỉnh hành vi của bản thân, tự học chỉ đem lại hiệu quả cao khi tính mục đích trở thành một phẩm chất độc lập của nhân cách gắn liền với việc xây dựng ý chí, niềm tin trong quá trình học tập của HS Mặt khác, quá trình tự học là quá trình “tự vận động” của HS từ chỗ chưa biết đến biết và ngày càng đầy đủ, sâu sắc, hoàn thiện hơn Từ chỗ nắm vững tri thức đến nắm vững kỹ năng, kỹ xảo và ngày càng ở mức độ cao hơn Từ chỗ vận dụng những điều đã học vào các tình huống quen thuộc đến vận dụng chúng vào những tình huống mới trên cơ sở ngày càng hoàn thiện hơn các năng lực và phẩm chất đạo đức khác Quá trình này diễn ra dưới sự hướng dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp của GV
Tự học còn là quá trình tích cực trong đó HS với niềm hăng say, khao khát chiếm lĩnh tri thức và kinh nghiệm đã được chắt lọc qua nhiều thế kỉ để biến thành trí tuệ của
Trang 14mình Như Lênin đã khẳng định: “cần phải trau dồi trí thức, cần thay thế lối học sách vở
cũ, lối nhồi sọ cũ, lối giáo dục cũ bằng nghệ thuật tiến bộ toàn bộ kiến thức của nhân loại thành những kiến thức của chính chúng ta” [27;13] Tự học là quá trình đấu tranh của
chính bản thân người học và động lực của quá trình này là kết quả của việc giải quyết những mâu thuẫn nội tại của quá trình tự học Biểu hiện của nó là sự mâu thuẫn giữa một bên là yêu cầu, nhiệm vụ nhận thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo học tập với một bên là khả năng, mức độ giải quyết vấn đề của HS Giải quyết được những mâu thuẫn này sẽ thúc đẩy quá trình học tập, phát triển ngày càng cao ở những nấc thang nhận thức khác nhau
Tự học là một hệ thống động, luôn có sự vận động, biến đổi, tất cả sự biến đổi này đều nhằm kết quả học tập tối ưu Đó là một hệ thống các thao tác nhằm biến các nguồn tri thức đã tiếp thu thành những sản phẩm trí tuệ của riêng bản thân và được sử dụng như một công cụ lao động
Nghiên cứu những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin sẽ giúp chúng ta có được nhận thức đúng đắn về quá trình tự học, tự giáo dục, giúp chúng ta tin tưởng vào sức mạnh tiềm tàng của bản thân để chinh phục đỉnh cao tri thức nhân loại
1.1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh
Có thể nói Hồ Chí Minh là một nhà giáo dục vĩ đại của dân tộc ta Ở Người là sự hội
tụ của những nền văn hóa lớn Ngay từ khi ra đi tìm đường cứu nước, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã trang bị cho mình vốn học chắc chắn, một năng lực trí tuệ sắc sảo Người luôn có khả năng tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo và đầu óc phê phán tinh tường, sáng suốt trong việc nghiên cứu, tìm hiểu những nền văn minh thế giới mà không bị đánh lừa bởi hào nhoáng bên ngoài Đó là kết quả của sự khổ công học tập cộng với tư chất thông minh, nhạy bén trong việc chiếm lĩnh những tinh hoa của truyền thống dân tộc, tinh hoa của nhân loại để chuyển hóa thành trí tuệ của bản thân, từ đó khái quát lên thành lý luận và đưa vào thực tiễn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những cống hiến to lớn và quý báu vào kho tàng lý luận dạy học của dân tộc ta Bản thân người là một tấm gương sáng
vầ tinh thần học tập, tự rèn luyện, tự tìm ra con đường chiếm lĩnh trí tuệ của mọi thời đại cho các thế hệ noi theo
Ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã nhận thấy được vai trò to lớn của giáo dục, giáo dục là nội lực của sự phát triển đất nước Trong đó, khả năng tự học là nội lực trung tâm
Trang 15của nền giáo dục, cần phải được khơi dậy và phát huy cao độ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
có tư tưởng lớn và hiện đại về cách học mà đặc biệt là con đường tự học
Hồ Chí Minh đã xác định nhiệm vụ của giáo dục là “nhằm đào tạo những con người kế
tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân ta”[33;112] Nền giáo dục đó phải
phát triển toàn diện năng lực sẵn có của HS, trong đó có năng lực tự học Chính vì thế, Người luôn quan niệm học ở mọi nơi, mọi lúc, học mọi người, học suốt đời
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tự học có những nội dung cơ bản sau:
Trong việc tự học, điều quan trọng là phải xác định rõ mục đích hoạt động và xây dựng động cơ hoạt động đúng đắn Bản thân Hồ Chí Minh luôn tự xác định cho mình động cơ học tập cao cả và động cơ trong sáng Người tự học với ý nguyện cao cả là tìm ra con đường đấu tranh cứu nước cứu dân, giành độc lập dân tộc, tự do hạnh phúc cho nhân dân Mục đích đó là động cơ thôi thúc Bác tự học
Hồ Chí Minh còn thấy rõ vai trò của học tập đối với mọi người, chỉ có học tập mới đưa hiểu biết chúng ta lên một tầm cao và chiều sâu mới để đáp ứng được nhu cầu của xã
hội Người khẳng định “học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời Suốt đời phải gắn lý
luận với công tác thực thực tế, không ai có thể tự cho mình là biết đủ rồi” [33;32] Vì thế,
Người luôn nhấn mạnh đến việc tự giác học tập, học suốt đời không mệt mỏi để mở mang tầm hiểu biết của mình
Trong tự học, phải tận dụng triệt để mọi hoàn cảnh, mọi phương tiện, hình thức để
tự học và học đến đâu cố gắng thực hành đến đó
Bàn về phương pháp học tập, Hồ Chí Minh đã dạy: “Về cách học tập, phải lấy tự
học làm cốt” [34;67] Phải có kế hoạch sắp xếp thời gian học tập một cách khoa học
Không những thế, đòi hỏi người học phải có lòng kiên trì, bền bỉ, quyết tâm thực hiện
được mục đích của mình Người khuyên “Phải tự nguyện, tự giác, tích cực, tự động hoàn
thành các kế hoạch học tập, nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng không lùi bước trước bất
kì khó khăn nào trong việc học tập” [33;112] Bản thân Người trong cuộc đời hoạt động
cách mạng đã không ngừng học hỏi, mở mang tầm hiểu biết bằng chính những khao khát, niềm say mê của một người lao động, một chiến sĩ cộng sản chân chính muốn chiếm lĩnh được những thành tựu khoa học vĩ đại của loài người
Trang 16Sự thành công của chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc đời hoạt động cách mạng từ khi bắt gặp và tiếp thu chân lý vĩ đại của chủ nghĩa Mác-Lênin đến việc sáng tạo con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc ở một nước thuộc địa nửa phong kiến là kết quả của một quá trình tự học bền bỉ, khổ công rèn luyện của Người
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự gặp gỡ giữa trí tuệ lớn của Người với trí tuệ dân tộc và thời đại Người đã có những cống hiến to lớn trong kho tàng lý luận giáo dục, trong đó có
lý luận về vấn đề tự học Đây là cơ sở, nền tảng quan trọng để chúng ta xác định vai trò của tự học, từ đó đưa ra những con đường, cách thức đúng đắn nhằm phát huy năng lực quý giá của người học
1.1.2.3 ường lối, chủ trương của ảng ta về vấn đề tự học
Cùng với bước trưởng thành của dân tộc trong công cuộc xây dựng đất nước, nền giáo dục của chúng ta ngày càng được nhận thức sâu sắc và được đánh giá xứng đáng hơn Vì thế phát triển mạnh mẽ công tác giáo dục đã trở thành nhiệm vụ thường xuyên và cần phải huy động mọi lực lượng xã hội để thu được những thắng lợi to lớn, vững chắc bằng cách vận dụng những kinh nghiệm giáo dục được tích lũy trong lịch sử dân tộc và tiếp thu có chọn lọc thành tựu của văn minh nhân loại Yếu tố quan trọng là phải phát huy được nội lực, tiềm năng giáo dục của đất nước Nội lực đó chính là nội lực của con người
Do đó, Đảng ta đã xác định con người là mục tiêu, là động chính của sự phát triển,
là vị trí trung tâm của chiến lược kinh tế, xã hội Phát huy sự nghiệp giáo dục là nhằm phát huy nhân tố con người được xem là quốc sách hàng đầu Mục tiêu xây dựng người Việt Nam mới phải có ý thức tự giáo dục, tự hoàn thiện theo hệ chuẩn mực giá trị văn hóa
để nâng cao chất lượng cuộc sống
Nhận thức được ý nghĩa to lớn đó, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới và phát triển giáo dục, đào tạo Đổi mới giáo dục nói chung, đổi mới phương pháp dạy học nói riêng trong đó có bộ môn lịch sử thể hiện sự đúng đắn của Đảng và nhà nước nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, để thực hiện nhiệm vụ: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Đảng ta đã xác định mục tiêu của giáo dục-đào tạo là tạo ra người lao động có năng lực thực hành, tự chủ, năng động, sáng tạo, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên Mục đích cuối cùng của đổi mới là làm sao để từng cá nhân, bản thân người học có ý thức tạo được một cuộc cách mạng học tập cho
Trang 17mình Luật Giáo dục được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua
(1998), ở chương I “những quy định chung” đã nhấn mạnh “yêu cầu đối với phương
pháp dạy học nói riêng là phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”
[30;316]
Cần phải giúp từng HS thay đổi quan niệm và phương pháp học tập trong từng thời
kì đổi mới cho phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước Đó là phải bồi dưỡng, phát huy năng lực tự học của HS
Như vậy, việc đổi mới hệ thống giáo dục-đào tạo cũng như bồi dưỡng và phát huy năng lực tự học của HS là một yêu cầu cấp thiết hơn bao giờ hết Đó là sự nghiệp chung của Đảng, nhà nước, toàn dân và cá nhân mỗi người trong xã hội
1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc tự học môn Lịch sử
Theo quan điểm của Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: “Lịch sử là thầy giáo của
cuộc sống”, “là bó đuốc soi đường đi tới tương lai”, “Là tấm gương sáng cho mọi người noi theo” và hành động cho sự phát triển hợp quy luật loài người Đối với dân tộc ta, lịch
sử đã trở thành “một động lực cách mạng” Trải qua những bước thăng trầm của cách
mạng, lịch sử vẫn giữ nguyên vẹn tính hiện thực khách quan của nó
Chính vì thế, vấn đề tự học Lịch sử của HS là vấn đề quan trọng, “đó là một khâu
trong quá trình thống nhất của việc dạy học, nhằm phát huy năng lực độc lập, tư duy của các em trên lớp cũng như ở nhà” [30;106] Vì vậy, việc dạy học Lịch sử nói chung và
việc tự học Lịch sử của HS nói riêng đảm bảo các vai trò, ý nghĩa về mặt giáo dưỡng, giáo dục và phát triển đối với mỗi HS
1.1.3.1 Về mặt giáo dƣỡng
Tự học Lịch sử là con đường đưa các em đến với kho tàng tri thức khổng lồ của loài người được tích lũy, chọn lọc qua nhiều thế kỷ Giúp những chủ thể tương lai đất nước hiểu sâu sắc và toàn diện về lịch sử dân tộc cũng như hiểu biết rộng hơn về lịch sử thế giới Tự học Lịch sử còn giúp HS nắm được các kiến thức cơ bản của lịch sử từ lúc hình thành loài người cho đến ngày nay: về quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của các quốc gia trên thế giới trên tất cả các lĩnh vực (từ kinh tế, chính trị, xã hội đến văn hóa);
HS nắm và hiểu được các khái niệm, thuật ngữ, tên người, tên đất, niên đại, những hiểu
Trang 18biết về lý luận sơ giản, những vấn đề phương pháp nghiên cứu và học tập, phù hợp với yêu cầu và trình độ của HS
Với con đường tự học Lịch sử, HS mới có thể chiếm lĩnh và mở rộng tri thức, tự mình khám phá những kiến thức mới Đối với HS lớp 11 ở trường THPT thì việc tự học môn Lịch sử (khóa trình lịch sử Việt Nam) sẽ giúp cho các em hiểu và nắm bắt được tình hình kinh tế, xã hội Việt Nam từ khi thực dân Pháp tiến hành xâm lược (1858) cho đến hết Chiến tranh thế giới thứ nhất (1918): giúp HS biết được cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ của nhân dân Việt Nam từ năm 1858 - cuối thế kỉ XIX; những chuyển biến mới
về kinh tế, xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp; điểm mới trong phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914) và biết được tình hình Việt Nam trong những năm Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918)
1.1.3.2 Về mặt giáo dục
Bên cạnh giúp HS nắm bắt được các kiến thức cơ bản về lịch sử thì tự học Lịch sử còn giữ vai trò, ý nghĩa quan trọng khác là giáo dục cho HS lòng yêu nước, biết quý trọng
và giữ gìn những thành quả lao động và thành quả cách mạng của loài người
Việc tự học Lịch sử giúp HS hiểu rằng: giá trị cuộc sống hôm nay được tạo bởi những hy sinh xương máu trong lao động và chiến đấu của lớp người đi trước Từ đó, hình thành niềm tin đạo đức, chuẩn mực về thái độ và hành vi đúng đắn, xác định nhiệm
vụ bản thân đối với quê hương, đất nước
Tự học Lịch sử còn là phương pháp hữu hiệu để rèn luyện ý chí, lòng kiên trì, niềm tin, lí tưởng cho HS Từ đó khắc phục được những sai lệch trong nhận thức, chống lại hiện tượng “bóp méo lịch sử” đang diễn ra ngày càng nhiều trong giai đoạn hiện nay
Từ tự học Lịch sử, HS sẽ có ý thức tự học các bộ môn khác, giúp cho quá trình học tập của HS đạt kết quả cao hơn Đối với HS lớp 11 ở trường THPT thì việc tự học môn Lịch sử (khóa trình lịch sử Việt Nam) sẽ giúp cho các em hiểu rõ về bản chất của chủ nghĩa thực dân (Pháp), cuộc kháng chiến chống Pháp anh dũng và truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta…
Trang 191.1.3.3 Về mặt phát triển
Tự học Lịch sử không chỉ giúp cho HS có biểu tượng đầy đủ, chính xác về một quá trình các em không sống, không trực tiếp quan sát mà còn làm cho người học có ý thức xã hội, suy nghĩ, cảm thụ những gì đã xảy ra để có trách nhiệm với hiện tại và tương lai đất nước
Khi tự học Lịch sử, HS không chỉ dừng lại ở việc ghi nhớ sự kiện mà điều quan trọng là trên cơ sở nắm vững kiến thức cơ bản của chương trình SGK để hiểu được bản chất của sự kiện, hiện tượng và rút ra quy luật, bài học kinh nghiệm của quá khứ với hiện tại Đồng thời, có sự nhìn nhận, đoán định xu hướng phát triển trong tương lai
Tự học Lịch sử còn giúp HS hứng thú học tập bộ môn, HS sẽ khao khát tìm hiểu Lịch sử, say mê với các hoạt động ngoại khóa để nâng cao hiểu biết của các em lên một tầm cao mới Đây cùng là biện pháp để rèn luyện tính nhẫn nại, phát triển tư duy độc lập sáng tạo của HS góp phần nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử ở trường phổ thông
Loại hình tự học cá nhân tạo điều kiện cho mỗi HS tự lực làm việc, phát huy hết tiềm năng sáng tạo Bởi vì, nó phù hợp ở mức độ cao nhất những đặc điểm cá nhân HS về trình độ nhận thức, năng lực, tính cách với mục đích, nội dung, phương pháp, cường độ làm việc phù hợp Mặt khác, GV có thể đưa ra những nhiệm vụ nhận thức phù hợp với từng HS Kết quả học tập của mỗi em được thể hiện rõ GV có thể đánh giá chính xác và kịp thời điều chỉnh phương pháp sư phạm của mình Quy trình thực hiện loại hình tự học
cá nhân được thể hiện:
* Học trên lớp
- Có các hình thức tự học sau:
+ Đọc SGK
Trang 20+ Sử dụng đồ dùng trực quan
+ Trả lời các câu hỏi, làm bài tập
- Quy trình tổ chức, thực hiện đối với mỗi hình thức tự học:
* ọc SGK Bước Nhiệm vụ của GV Nhiệm vụ của HS
Bước 1: Chuẩn bị - Hướng dẫn cho HS nội dung
cần đọc trong SGK
- Cho HS biết mục đích của việc đọc sách nhằm giải quyết các vấn đề gì
- Chuẩn bị SGK
- Biết được vị trí cần đọc
- Nhận thức được mục đích của việc đọc sách
Bước 2: Tiến
hành đọc
- Đặt ra yêu cầu khi đọc (thời gian, giữ trật tự trong quá trình đọc…)
- Quan sát ý thức, thái độ của mỗi HS khi đọc
- Có thể đọc khi GV không yêu cầu (đọc SGK kết hợp với việc ghi bài giảng)
- Giữ trật tự trong quá trình đọc
- Tóm tắt được nội dung chính khi đọc
Bước 3: Kiểm tra
kiến thức sau khi
đọc
- Gọi HS lên trả lời một số câu hỏi liên quan đến nội dung bài đọc
- Nhận xét câu trả lời của HS
- Đánh giá thái độ của HS khi đọc
- Dựa vào những kiến thức trong SGK, trả lời được các câu hỏi mà
GV đưa ra
- Nghe những ý kiến nhận xét, đánh giá của GV để biết được năng lực đọc và hiểu SGK của mình
* Ghi bài giảng Bước Nhiệm vụ của GV Nhiệm vụ của HS
Bước 1: Chuẩn bị - Chuẩn bị giáo án giảng dạy
(nội dung cần thiết cho HS ghi bài và cách trình bày bài giảng)
- Chuẩn bị dụng cụ: bút, vở ghi
- Nhận thức được mục đích của việc ghi bài
- Xác định nội dung cần thiết để
Trang 21- Hướng dẫn cho HS nội dung cần ghi
Bước 3: Kiểm tra
ý thức ghi bài
- Đánh giá ý thức ghi bài của mỗi cá nhân qua viêc theo dõi quá trình ghi chép bài của các
em (em nào không ghi? em nào ghi sơ sài?,…) để kịp thời nhắc nhở các em
- Trước khi vào dạy bài mới, bên cạnh kiểm tra vở bài tập thì
GV nên kiểm tra vở ghi để nắm bắt được ý thức ghi bài cũng như ý thức học bài của HS
- HS tự kiểm tra ý thức ghi bài của mình bằng việc: xem lại vở ghi và hiểu được nội dung chính của bài học thông qua vở ghi hay không?
Có thể dùng vở ghi của mình để học bài cũ không?
Trang 22
* Sử dụng đồ dùng trực quan Bước Nhiệm vụ của GV Nhiệm vụ của HS
Bước 1: Tìm hiểu
đồ dùng trực
quan
- Chuẩn bị đồ dùng trực quan (có thể yêu cầu HS chuẩn bị trước ở nhà)
- Giới thiệu cho HS tên đồ dùng trực quan (để cho HS tự giới thiệu , nếu là đồ dùng trực quan do HS chuẩn bị)
- Giới thiệu các kí hiệu có trong
đồ dùng trực quan do GV chuẩn bị (lược đồ lịch sử)
- Chuẩn bị các đồ dùng trực quan cần dùng trong bài học (tranh, ảnh các nhân vật lịch sử) mà GV yêu cầu
- Biết tên đồ dùng trực quan
- Hiểu được các kí hiệu có trong đồ dùng trực quan
- Nếu ĐDTQ do GV chuẩn bị:
+ Trình bày sự kiện, hiện tượng lịch sử mà đồ dùng trực quan (lược đồ lịch sử) muốn thể hiện
+ Yêu cầu HS chú ý quan sát khi trình bày
+ Gọi một HS khá, giỏi trình bày lại
+ Yêu cầu HS, nhận xét, đánh giá một số sự kiện, hiện tượng lịch sử thông qua việc quan sát
+ Rèn luyện được cách chỉ lược đồ; cách trình bày lược đồ
+ Hiểu được nội dung, bản chất các
sự kiện, hiện tượng lịch sử thông qua lược đồ
+ Rút ra được những nhận xét, đánh giá các kiến thức lịch sử từ việc quan sát lược đồ
Trang 23
* Trả lời các câu hỏi, làm bài tập Bước Nhiệm vụ của GV Nhiệm vụ của HS
Bước 1: Chuẩn bị - Đọc kĩ nội dung bài giảng
- Định hướng được các câu hỏi dành cho HS (phù hợp với trình
độ, hiểu biết của HS)
- Đọc trước nội dung bài học, nắm bắt nội dung chính
Bước 2: Tiến
hành
- Đọc nội dung câu hỏi, bài tập
- Cho HS thời gian suy nghĩ
- Hướng dẫn cách làm bài đối với bài tập khó và đưa ra những gợi ý cho HS
- Gọi cá nhân HS lên trả lời câu hỏi hoặc làm bài tập
- Nghe kĩ câu hỏi của GV và ghi lại câu hỏi (bài tập) vào vở
- Suy nghĩ, vận dụng những hiểu biết cùng với viêc nghiên cứu kiến thức trong SGK để trả lời câu hỏi
và hoàn thành các bài tập của GV
- Hoàn thiện câu trả lời và bài tập cho HS
- Mỗi HS tiếp thu ý kiến của các bạn
+ Đọc trước bài mới
- Quy trình tổ chức, thực hiện đối với từng hình thức tự học:
Trang 24* Sưu tầm tranh, ảnh, tài liệu Bước Nhiệm vụ của GV Nhiệm vụ của HS
Bước 1: Xác định
việc sưu tầm
- Hướng dẫn HS sưu tầm các tranh, ảnh, tài liệu liên quan đến nội dung bài học
- Cho HS thấy được các tranh, ảnh, tài liệu sưu tầm nhằm làm
rõ nội dung cụ thể nào?
- Nhận thức được việc sưu tầm các tranh, ảnh, tài liệu nhằm phục vụ cho nội dung bài học
Bước 2: Tiến
hành sưu tầm
- Gia hạn thời gian sưu tầm
- Theo dõi, đánh giá ý thức sưu tầm các tranh, ảnh, tài liệu của
cá nhân HS
- Có ý thức, thái độ khi tiến hành sưu tầm (tích cực, tự giác)
- Sưu tầm đúng chủ đề
- Đối với các tài liệu, nên sưu tầm
từ nhiều nguồn khác nhau (qua sách; báo; qua Internet; …) Biết cách xử lý các nguồn tài liệu đó
* Làm bài tập Bước Nhiệm vụ của GV Nhiệm vụ của HS
Bước 1: Tiến
hành làm bài
- Ra các bài tập phù hợp với trình độ, năng lực của HS
- Gợi ý cho HS hướng làm bài
- Giải quyết những thắc mắc trong quá trình HS làm bài
- Ghi các bài tập mà GV giao
Bước 2: Đánh giá
kết quả làm bài
- GV đánh giá ý thức làm bài tập ở nhà của HS qua việc kiểm tra vở bài tập
- Nhận xét về bài làm (số
- Ghi lại những nhận xét, góp ý của
GV, hoàn thiện lại tất cả các bài tập
Trang 25lượng, chất lượng làm bài) của
HS
- Sữu chữa những sai sót cho
HS
* ọc trước bài mới Bước Nhiệm vụ của GV Nhiệm vụ của HS
Bước 2: Tóm tắt
nội dung chính
của bài
- GV hướng dẫn HS tóm tắt nội dung chính (bài đó, mục đó muốn nói đến các vấn đề gì?)
- Rút ra các ý chính
- Tự lập dàn bài: từ ý chính đến ý phụ, từ nội dung bao quát đến nội dung cụ thể…
- Nắm được các nội dung chính của bài đọc
Bước 3: Hệ thống
lại kiến thức của
bài đọc
- Hướng dẫn HS sắp xếp các hiện tượng, sự kiện lịch sử sau khi đọc (theo thời gian, trình tự)
- Sắp xếp các sự kiện, hiện tượng lịch sử một cách lôgic, có hệ thống
1.1.4.2 Tự học theo nhóm, tổ
Học theo nhóm, tổ cũng là một loại hình tự học, trong đó tổ, nhóm phải thực hiện những nhiệm vụ nhận thức dành riêng cho từng nhóm mà GV giao Mỗi cá nhân trong nhóm đều phải suy nghĩ, cùng thảo luận và vạch ra cách giải quyết các nhiệm vụ đó Trong quá trình học nhóm, thông qua việc tìm tòi, nghiên cứu, thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến của mỗi cá nhân được bộc lộ, được điều chỉnh, khẳng định hay bác
bỏ Qua đó, người học được nâng mình lên một trình độ mới, bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi cá nhân hay cả lớp
Trang 26Việc giảng dạy theo nhóm thỏa mãn nhu cầu học tập cá nhân, phù hợp với việc học tập hướng tới người học, khuyến khích sự độc lập tự chủ của người học Để giải quyết nhiệm vụ được giao mỗi HS thông qua việc phân tích , suy luận, tổng hợp, đánh giá, giải quyết vấn đề…để đưa ra những giải pháp, cách biểu đạt riêng cho vấn đề đó Từ đó, giúp phát triển năng lực nhận thức và tư duy của HS
Trong quá trình học nhóm, tổ, GV là người thiết kế các nhiệm vụ học tập và đưa ra các hoạt động cụ thể cho từng nhóm Mỗi cá nhân phải tự hoàn thành nhiệm vụ của mình Thành công của cá nhân là thành công của cả nhóm Tự học nhóm của HS diễn ra ở 2 hình thức: học nhóm trên lớp và hoc nhóm ở nhà
Bước 1 Xác
định nhiệm
vụ học tập
- Giới thiệu chủ đề, xác định nhiệm vụ học tập cho HS, nêu vấn
đề cần giải quyết
- Tổ chức các nhóm học tập (chọn các kiểu nhóm, số lượng nhóm)
- Giao nhiệm vụ cho từng nhóm (tùy theo dạng và đặc điểm của từng nhóm mà giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm khác nhau)
- Dự kiến thời gian hoạt động nhóm
- Hướng dẫn cách làm việc nhóm
- Nhận thức nhiệm vụ học tập (hiểu được yêu cầu của GV, vấn đề cần thảo luận)
- Thu thập thông tin, tái hiện tri thức, chuẩn bị làm việc theo nhóm
- Hướng dẫn HS tổ chức các nhóm học tập
- HS tham gia vào các nhóm đã được phân công
Trang 27hoạt động
nhóm
- Cử nhóm trưởng, thư kí nhóm (có thể giao cho các nhóm tự bầu)
- Bầu ra người học khá, có năng lực làm trưởng nhóm, bầu thư kí của
- Theo dõi, hướng dẫn, khích lệ
HS làm việc, kịp thời khen ngợi nhằm tạo không khí phấn khởi, giúp HS tự tin trong học tập
- Đưa ra các câu hỏi gợi ý để khi thảo luận bế tắc, đi chệch hướng giúp HS hoàn thành nhiệm vụ được giao
- Phát hiện các nhóm hoạt động chưa có hiệu quả để uốn nắn và điều chỉnh
- Xây dựng mối liên hệ thân thiện, hợp tác giữa GV – HS, HS – HS trong quá trình học tập
- Đọc SGK, nghiên cứu tài liệu, huy động kiến thức để tham gia thảo luận
- Các thành viên trong nhóm tự lực thực hiện nhiệm vụ được giao và thông báo kết quả cho nhau
- Trong quá trình thảo luận nhóm, mỗi thành viên nêu ý kiến cá nhân, nếu không thống nhất thì tiến hành trao đổi để đạt được sự thống nhất chung trong nhóm
- Tổ chức thảo luận chung cả lớp
- Đại diện nhóm trình bày, bảo vệ kết quả của mình trước lớp
- Đánh giá kết quả của các nhóm khác, từ đó thảo luận, đánh giá lẫn nhau
- Tiếp thu ý kiến hợp lý của các nhóm để bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiện kết quả của nhóm mình
Trang 28Bước 5: Tổng
kết chung
- Nhận xét, đánh giá về tinh thần làm việc, kết quả công việc của từng nhóm
- Dựa vào kết quả từng nhóm, GV tổng kết từng vấn đề, từ đó chuẩn kiến thức cho HS rút ra những kết luận cho việc học tập tiếp theo
- Theo dõi nhận xét của GV, đối chiếu với kết quả làm việc của nhóm mình với các nhóm khác để điều chỉnh kết quả
- Tự rút kinh nghiệm về cách học, cách xử lý tình huống, cách giải quyết vấn đề của mình nhằm nâng cao hoạt động nhóm
Trong 5 bước trên, cần lưu ý bước 2, bước 3 và bước 4 yêu cầu HS làm việc theo
nhóm, còn bước 1 và bước 5 làm việc cá nhân, đòi hỏi mỗi HS phải tìm tòi Bước 5 giúp
HS tự lĩnh hội, tự điều chỉnh tri thức nhận được thông qua quá trình hoạt động nhóm Nó giúp cho kiến thức mỗi HS lĩnh hội vững chắc hơn
* Học ở nhà
- Có hình thức tự học sau:
+ Sưu tầm tranh, ảnh, tài liệu
+ Vẽ lược đồ
- Quy trình tổ chức, thực hiện đối với từng hình thức tự học:
* Sưu tầm tranh, ảnh, tài liệu Bước Nhiệm vụ của GV Nhiệm vụ của HS
Chuẩn bị
- Tổ chức các nhóm học tập (chọn các kiểu nhóm, số lượng nhóm)
- Giao nhiệm vụ cho từng nhóm (tùy theo dạng và đặc điểm của từng nhóm mà giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm khác nhau)
- Dự kiến thời gian hoàn thành
- Biết được các chủ đề cần phải sưu tầm sưu tầm
- Bầu người có năng lực làm trưởng nhóm
Trang 29Triển khai
hoạt động
- Các cá nhân trong nhóm nhận nhiệm vụ và tiến hành sưu tầm
- Chuẩn bị tốt hơn chi quá trình sưu tầm tranh, ảnh theo nhóm ở giai đoạn sau
* Vẽ lược đồ Bước Nhiệm vụ của GV Nhiệm vụ của HS
Chuẩn bị
- Tổ chức các nhóm học tập (chọn các kiểu nhóm, số lượng nhóm)
- Giao nhiệm vụ cho từng nhóm (tùy theo dạng và đặc điểm của từng nhóm mà giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm khác nhau)
- Dự kiến thời gian hoàn thành
- Mỗi nhóm nhận nhiệm vụ (chuẩn
bị lược đồ gì?)
- Chuẩn bị các dụng cụ vẽ: bút chì, bút màu, thước kẽ, giấy…
Trang 30- Đảm bảo yêu cầu: phải có tên lược
đồ, có chú thích, thể hiện được trọng tâm…
- Các thành viên khác trong nhóm hỗ trợ, góp ý bạn trong quá trình vẽ
- Hoàn thiện lược đồ
Bước 3: Tổng
kết
- Đánh giá ý thức, thái độ làm việc của các nhóm thông qua sản phẩm của các nhóm
- Nhận xét ưu, nhược điểm
- Nghe nhận xét của GV để rút ra những kinh nghiệm trong hoạt động nhóm
1.1.4.3 Tự học cả lớp
Tự học cả lớp là một loại hình tự học có tính chất tập thể Mục đích của loại hình tự học này là thống nhất phương pháp dạy học tương ứng với mục đích chung nhất cho cả lớp Đối với HS, phải hoàn thành những nhiệm vụ nhận thức chung: làm việc với SGK, làm những bài tập…
GV có thể lãnh đạo, điều khiển hoạt động nhận thức chung cho cả lớp Điều này đảm bảo HS cả lớp được học tập đồng đều những tri thức chính xác, có hệ thống Mặt khác, từng HS có thể đóng góp vào kết quả chung của lớp học và thông qua đó rèn luyện được cho các em phương pháp làm việc, ý thức tập thể
Trang 31- Quy trình tổ chức, thực hiện đối với từng hình thức tự học:
* Thảo luận vấn đề Bước Nhiệm vụ của GV Nhiệm vụ của HS
- Nghe và ghi lại vấn đề cần thảo luận
- Cử người điều hành chung cho cả lớp
Bước 2: Tiến
luận
- Gợi ý hướng giải quyết vấn đề
- Quy định thời gian thảo luận
- Giám sát quá trình thảo luận, làm việc của từng cá nhân trong lớp (tích cực hay không tích cực)
- Nghiên cứu SGK
- Tất cả các thành viên trong lớp đưa
ra ý kiến của mình và trao đổi, thảo luận với nhau
- Thống nhất ý kiến cho vấn đề thảo luận
- Nhận xét, đánh giá ý thức thảo luận cũng như kết quả quả quá trình thảo luận
- Bổ sung và hoàn thiện vấn đề thảo luận cho HS
- Cử đại diện lớp-là người có khả năng thuyết trình lên trình bày kết quả thảo luận của cả lớp
- Cùng nhau trả lời các câu hỏi nhỏ
Trang 32* Làm việc với đồ dùng trực quan Bước Nhiệm vụ của GV Nhiệm vụ của HS
Bước 1: Làm
việc với đồ
quan
- Trên cơ sở giao nhiệm vụ cho
cả lớp chuẩn bị tài liệu, đồ dùng trực quan trước ở nhà, GV gọi đại diện lớp lên giới thiệu đồ dùng trực quan và thuyết trình các kiến thức lịch sử mà đồ dùng trực quan muốn thể hiện
- Nghe, quan sát quá trình HS trình bày
- Trên cơ sở chuẩn bị trước ở nhà, cả lớp cử đại diện giới thiệu và trình bày các kiến thức lịch sử trên cơ sở
độ hiểu lược đồ của HS
- Nhận xét ưu, nhược điểm của
cả lớp trong quá trình chuẩn bị, trình bày cũng như quá trình giải quyết vấn đề của HS
- Cả lớp cùng thảo luận và và giải quyết vấn đề của GV
- Nghe những nhận xét, đánh giá của
+ Tìm hiểu về truyền thống lịch sử địa phương
+ Thực hiện các công tác xã hội: chăm sóc những gia đình có công với cách mạng; thăm viếng nghĩa trang liệt sĩ; tham gia chương trình thanh niên tình nguyện…
- Quy trình tổ chức, thực hiện đối với từng hình thức tự học
Trang 33* Sưu tầm tranh, ảnh, tài liệu Bước Nhiệm vụ của GV Nhiệm vụ của HS
- Dự kiến thời gian hoàn thành
- Biết được các chủ đề cần phải sưu tầm sưu tầm
- Cử người điều hành chung cho cả lớp
Bước 2:
hoạt động
- Hướng dẫn cả lớp phương pháp sưu tầm
- Phân công nhiệm vụ sưu tầm cho các thành viên trong lớp, có thể phân theo nhóm nhỏ
- Các cá nhân (nhóm) nhận nhiệm vụ
và tiến hành sưu tầm
- Các thành viên (nhóm) có thể hỗ trợ, giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn trong quá trình sưu tầm
- Tổ chức cuộc họp để tập hợp các sản phẩm mà cả lớp sưu tầm
- Chuẩn bị tốt hơn cho quá trình sưu tầm tranh, ảnh,tài liệu ở giai đoạn sau
* Vẽ lược đồ Bước Nhiệm vụ của GV Nhiệm vụ của HS
Bước 1: Xác
định hiệm vụ
- Giao nhiệm vụ cho cả lớp (lược
đồ cần vẽ)
- Dự kiến thời gian hoàn thành
- Cả lớp nhận nhiệm vụ được giao
- Chuẩn bị các dụng cụ vẽ: bút chì, bút màu, thước kẽ, giấy…
Trang 34Triển khai
hoạt động
lớp (là người có năng lực trong học tập)
- Chuẩn bị các dụng cụ vẽ: bút chì, bút màu, thước kẽ, giấy…
- Hoàn thiện lược đồ
Bước 3: Tổng
kết
- Đánh giá ý thức, thái độ làm việc của cả lớp thông qua sản phẩm (lược đồ mà cả lớp chuẩn bị)
- Nhận xét ưu, nhược điểm của bản vẽ
- Nghe nhận xét của GV để rút ra những kinh nghiệm trong hoạt động tập thể
* Tìm hiểu về truyền thống lịch sử địa phương Bước Nhiệm vụ của GV Nhiệm vụ của HS
- Nhận thức được ý nghĩa của việc tìm hiểu truyền thống lịch sử địa phương
Trang 35- Hướng dẫn HS nghiên cứu tài liệu lịch sử địa phương thu thập được
- Biên soạn bài giảng
- Thông qua bản sơ thảo trước các cấp lãnh đạo địa phương và nhà trường
- Tiến hành giảng bài lịch sử địa phương (ở trên lớp hoặc tại thực địa)
phương từ nhiều nguồn khác nhau (tài liệu thành văn, tài liệu miệng,…)
+ Nghiên cứu tài liệu thu thập được + Sắp xếp tài liệu đã chỉnh lý, tiến hành xác minh
- Cá nhân ghi chép bài giảng lịch sử địa phương
Bước 3: Rút
kinh nghiệm
- Đánh giá qúa trình sưu tầm tài liệu, quá trình tiếp thu bài giảng lịch sử địa phương của cả lớp
- Tổng kết kinh nghiệm khi tiến hành bài giảng lịch sử địa phương
- Hiểu được mối quan hệ giữa lịch
sử địa phương và lịch sử dân tộc
- Rút kinh nghịệm từ thực tiễn làm việc tập thể (sưu tầm, nghiên cứu, sắp xếp tài liệu)
* Thực hiện các công tác xã hội: chăm sóc những gia đình có công với cách mạng; thăm viếng nghĩa trang liệt sĩ; tham gia chương trình thanh niên tình nguyện… Bước Nhiệm vụ của GV Nhiệm vụ của HS
- Nhận thức được mục đích, ý nghĩa của hoạt động là nhớ ơn công lao của những người đi trước
- Có tinh thần tương thân tương ái, giúp đỡ mọi người xung quanh
- Theo dõi quá trình hoạt động
- Tham gia hoạt động trên tinh thần
tự nguyện, tự giác
- Có thái độ đúng đắn đối với từng
Trang 36của tập thể lớp và của từng cá nhân
đối tượng: niềm nở khi đến chăm sóc những gia đình có công với cách mạng; có thiện chí khi thăm viếng nghĩa trang liệt sĩ; tích cực trong công tác tình nguyện…
- Có tinh thần tập thể khi tiến hành hoạt động
Về phía HS, chúng tôi xây dựng hệ thống câu hỏi gồm 10 câu hỏi trắc nghiệm (phụ lục 1) để kiểm tra HS ở 3 trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng: trường THPT Phan Châu Trinh, trường THPT Hòa Vang và trường THPT Nguyễn Trãi năm học 2012-
2013 với các mục đích sau:
Trang 37- Kiểm tra HS có nhớ sự kiện, hiện tượng lịch sử (khóa trình lịch sử Việt Nam) thông qua việc sử dụng phương pháp tự học Lịch sử hay không? (câu 3, 4, 8 phụ lục 1)
- Kiểm tra HS có hiểu bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử (khóa trình lịch sử Việt Nam) thông qua việc sử dụng phương pháp tự học Lịch sử hay không? (câu 5, 9 phụ lục 1)
- Kiểm tra HS có nắm chắc các sự kiện, hiện tượng lịch sử (khóa trình lịch sử Việt Nam) thông qua việc ứng dụng phương pháp tự học Lịch sử hay không? (câu 7, 10 phụ lục 1)
- Kiểm tra xem HS có nhớ sự kiện, hiện tượng lịch sử (khóa trình lịch sử Việt Nam) thông qua tự học đồ dùng trực quan hay không? (câu 1, 2, 6 phụ lục 1)
Sau khi điều tra, chúng tôi tiến hành xử lí số liệu bằng phương pháp thống kê toán học và thu được kết quả như sau:
Do chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của bộ môn Lịch sử nên nhiều HS ở các trường THPT trên địa bàn TP Đà Nẵng chưa chú trọng và quan tâm đến việc tự học môn Lịch sử (khóa trình lịch sử Việt Nam) Dẫn đến đối với khóa trình lịch sử Việt Nam, HS ít nhớ và ít hiểu bản chất các sự kiện, hiện tượng lịch sử (phụ lục 2, 3) HS chưa nắm chắc các sự kiện, hiện tượng lịch sử (phụ lục 4) và HS ít nhớ các sự kiện, hiện tượng lịch sử thông qua việc tự học đồ dùng trực quan (phụ lục 5) Ý thức và khả năng tự học môn Lịch
sử (khóa trình lịch sử Việt Nam) còn rất yếu Vì vậy, vấn đề đặt ra trong giai đoạn hiện nay là: HS lớp 11 (chương trình chuẩn) ở các trường THPT trên địa bàn T.P Đà Nẵng nên
có ý thức tự học và có phương pháp tự học đúng đắn, hợp lí đối với bộ môn Lịch sử (khóa trình lịch sử Việt Nam)
Về phía GV, chúng tôi xây dựng 5 câu hỏi trắc nghiệm để tìm hiểu ý kiến của 12 GV
tại các trường THPT Phan Châu Trinh, trường THPT Hòa Vang và trường THPT Nguyễn Trãi theo các nội dung sau (phụ lục 6):
- Nội dung 1: Tìm hiểu ý kiến của GV về vị trí, vai trò của việc tự học Lịch sử (khóa trình lịch sử Việt Nam) đối với HS (câu 1, phụ lục 6)
- Nội dung 2 Tìm hiểu ý kiến của GV về vai trò của GV đối với quá trình tự học Lịch sử của HS (câu 3 phụ lục 6)
Trang 38- Nội dung 3: Tìm hiểu ý kiến của GV về tình hình tự học Lịch sử (khóa trình lịch sử Việt nam) ở nhà của HS (câu 4 phụ lục 6)
- Nội dung 4: Tìm hiểu ý kiến của GV về việc áp dụng PPDH theo hướng tự học
Lịch sử (khóa trình lịch sử Việt Nam) của HS hiện nay (câu 2,5 phụ lục 6)
Qua quá trình xử lí số liệu, chúng tôi thu được kết quả sau:
Kết quả điều tra trên cho thấy, nhiều GV chưa nhận thức được đầy đủ về vị trí, vai trò việc tự học Lịch sử (khóa trình lịch sử Việt Nam) đối với HS (phụ lục 7); chưa nhận thức được vị trí, vai trò của người thầy giáo đối với quá trình tự học Lịch sử (khóa trình lịch sử Việt Nam) của HS (phụ lục 8); thông qua GV, biết được việc chuẩn bị bài – tức là
ý thức tự học Lịch sử (khóa trình lịch sử Việt Nam) ở nhà của HS còn yếu (phụ lục 9); rất nhiều GV trong quá trình dạy học Lịch sử (khóa trình lịch sử Việt Nam) còn chưa áp dụng PPDH theo hướng tự học cho HS Thực trạng trên đây cho thấy những thiếu sót của GV trong giảng dạy bộ môn Lịch sử Đặt ra yêu cầu cấp thiết là đổi mới PPDH nói chung và đổi mới PHDH bộ môn Lịch sử nói riêng Trước hết, cần tập trung vào việc tổ chức việc
tự học môn Lịch sử (khóa trình lịch sử Việt Nam) cho HS lớp 11 (chương trình chuẩn) ở trường THPT trên địa bàn T.P Đà Nẵng nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học
bộ môn
1.2.2 Nguyên nhân của thực trạng
Nguyên nhân của thực trạng vấn đề tự học Lịch sử của HS hiện nay vẫn chưa được quan tâm, chú ý, trước hết nói đến thái độ của gia đình và xã hội hiện nay: nhiều bậc cha
mẹ chỉ muốn con mình tập trung học các môn: Văn, Toán, Lý, Ngoại ngữ vì cho là những môn cơ bản để thi vào đại học đạt kết quả tốt Họ khuyến khích con tập trung thời gian, công sức cho các môn này, cho con đi học thêm các buổi tối hay mời gia sư đến nhà kèm cặp con về các môn trên Xã hội cũng không quan tâm nhiều đến bộ mộ Lịch sử, coi đây chỉ là môn học bổ trợ kiến thức, không phải là môn học chính Dẫn đến HS không có thời gian cho việc tự học môn Lịch sử và cũng không hề quan tâm đến việc tự học bộ môn này
Quan niệm của một số cán bộ Bộ Giáo dục và Đào tạo chưa coi trọng môn sử, chưa chú ý việc cải tiến nội dung các SGK về sử, cách tổ chức dạy và học sử ở các cấp, đặc biệt ở cấp THPT Ở các trường THPT thường có cách chia thành môn học chính và môn
Trang 39học phụ Môn sử thường được coi là môn học phụ, trong khi các môn về khoa học tự nhiên được coi là các môn học chính vì đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế hiện nay Do ảnh hưởng từ tư tưởng trên nên HS không chú tâm và dành nhiều thời gian cho môn Lịch
sử
Chính sách đối với các GV dạy sử chưa được sự quan tâm để tạo điều kiện cho họ dạy môn sử thuận lợi và tốt hơn Việc đào tạo các GV giỏi về sử lại chưa được chú ý Những điểm thiếu sót trên đã ảnh hưởng đến tinh thần làm việc và cách giảng dạy Lịch sử của đội ngũ giáo viên Nhiều người dạy qua loa các kiến thức về sử, coi đó là môn học thuộc lòng Họ chưa phát huy sáng kiến trong công tác giảng dạy, chưa chú ý bồi dưỡng cho HS cách tư duy khoa học về sử, trong quá trình giảng dạy chưa định hướng được cho
HS phương pháp tự học Lịch sử có hiệu quả Vì vậy đã không đem lại thích thú, kích thích ý thức tự học Lịch sử cho các em HS
Bản thân HS, với cách nhìn thiển cận, không nhận thức đúng vị trí, vai trò của môn Lịch sử nên không tập trung học môn này Một số HS còn nghĩ rằng: chỉ cần học qua loa, học cho có để đối phó với thầy cô, với các kì kiểm tra chứ không cần biết và hiểu về các kiến thưc lịch sử Vì suy nghĩ trên nên rất nhiều HS không có ý thức tự học Lịch sử, thậm chí thầy cô hỏi học đến bài nào cũng không nhớ Số HS này cũng không có ý thức hoặc thói quen xem trước bài lịch sử trước khi đến lớp và càng không tự mình tìm tòi, nghiên cứu các tài liệu khác ngoài SGK liên quan đến bài học Một số khác có ý thức hơn nhưng vẫn chưa phải thực sự chú ý tới vấn đề tự học Lịch sử Chỉ dừng lại ở việc nắm một số kiến thức cơ bản, trọng tâm trong SGK để phục vụ cho việc thi cử và đọc sơ qua nội dung bài mới cho dễ tiếp thu Chính vì vậy, chất lượng dạy học Lịch sử chưa cao, điểm thi Lịch
sử ngày một giảm sút
Tóm lại, do nhiều nguyên nhân khác nhau tác động, dẫn đến nhiều HS chưa quan tâm và chú trọng đến việc tự học Lịch sử Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có số ít HS ở trường THPT có ý thức tự học Lịch sử rất tốt, luôn học kĩ các kiến thức cơ bản trong SGK, tìm tòi các tài liệu hoàn thành tốt các bài tập lịch sử ở nhà, nghiên cứu kĩ các nội dung bài mới, luôn lắng nghe và ghi nhớ chọn lọc các kiến thức mới mà GV cung cấp trên lớp…
Trang 40Từ thực trạng đó, đặt ra yêu cầu cấp thiết là GV nên áp dụng PPDH Lịch sử theo hướng tăng cường khả năng tự học cho HS và HS phải có ý thức tự nguyện và tự giác học tập môn Lịch sử, để nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học