1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vấn đề thể tài trong tiểu thuyết lịch sử của nguyễn xuân khánh (qua mẫu thượng ngàn và đội gạo lên chùa)

70 11 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài Vấn đề thể tài trong tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh qua Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa làm luận văn tốt nghiệp nhằm góp thê

Trang 1

1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN -

VẤN ĐỀ THỂ TÀI TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ

CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH

(QUA MẪU THƯỢNG NGÀN VÀ ĐỘI GẠO LÊN CHÙA)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Trang 2

1.2 Trong dòng chảy cuồn cuộn (nhưng cũng bộn bề) ấy, có một dòng âm thầm tiếp nối truyền thống song cũng không hoàn toàn trung thành với cách viết cũ mà thật sự đi vào “khoảng trống” của lịch sử để khai thác

triệt để cho mảnh đất tiểu thuyết, đó là dòng tiểu thuyết lịch sử Nhờ vậy,

nhiều hiện tượng văn học đã gây được tiếng vang lớn, khẳng định được vị trí

của thể tài này như Hoàng Quốc Hải (Bão táp triều Trần), Nguyễn Quang Thân (Hội thề), Võ Thị Hảo (Giàn thiêu), Nguyễn Mộng Giác (Sông Côn mùa lũ), Thái Bá Lợi (Minh sư)…Trong “rừng” tiểu thuyết lịch sử ấy có một

“cội mai già vẫn rừng rực nở hoa”: Nguyễn Xuân Khánh Đây là một hiện tượng “lạ” trong văn học Việt Nam đương đại

1.3 Nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân có nhận xét : “Có thể

nói mà không quá lời, trong mười năm qua kể từ lúc công bố tiểu thuyết Hồ Quý Ly, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh trở thành tiểu thuyết gia hàng đầu của văn xuôi Việt Nam đầu thế kỷ XXI” Bộ ba tiểu thuyết Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa của ông, mỗi tác phẩm đều có dung lượng

trên 500 trang in xuất hiện sừng sững đã gây sửng sốt trên văn đàn lúc bấy giờ Nhưng điều đáng nói không phải ở khối lượng tác phẩm mà ở chỗ cuốn nào cũng gây nên những cuộc tranh luận sôi nổi, gay gắt trước khi nó được

Trang 3

3

khẳng định chân giá trị Cả ba cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh, đương nhiên có những điểm khác nhau nhưng tư tưởng xuyên suốt của nó là tinh thần văn hóa Việt, là chấp nhận đa dạng văn hóa để làm nổi bật sự bền

vững của văn hóa Việt Thế nhưng, về mặt thể tài, nếu như ở Hồ Quý Ly là tiểu thuyết lịch sử không còn phải bàn cãi thì hai cuốn sau: Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa vẫn còn ý kiến phân vân, chưa dễ thông suốt

Vì vậy, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài Vấn đề thể tài trong tiểu

thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh (qua Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo

lên chùa) làm luận văn tốt nghiệp nhằm góp thêm một tiếng nói nhận diện tác

phẩm từ góc nhìn thể loại của nó

2 Lịch sử nghiên cứu

Về tác giả Nguyễn Xuân Khánh cùng bộ ba tiểu thuyết trên của ông

và về vấn đề thể tài trong sáng tác của ông, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu Có thể đề cập đến một số công trình sau:

Tác giả Trần Thị An trong bài “Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân gian

trong tiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 6/2007 cho rằng: “Tác giả Mẫu Thượng Ngàn dành một sự quan tâm đặc biệt đến

truyện kể dân gian và lễ hội dân gian về hai nhân vật huyền thoại (ông Đùng

và bà Đà), và ở chỗ này, trong một chừng mực nào đó, nhà tiểu thuyết đóng vai một nhà biên soạn và khảo cứu folklore” [1, tr 27–47]

Đỗ Hải Ninh trong bài viết “Quan niệm về lịch sử trong tiểu thuyết

của Nguyễn Xuân Khánh”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 2/2009 có nhận định: “Mẫu Thượng Ngàn đề cập đến vấn đề giữ gìn bản sắc dân tộc trong giao

lưu và tiếp biến văn hóa, đâu là hướng đi của dân tộc trước những biến động lịch sử” [31, tr 48–57]

Trong khi đó, nhà nghiên cứu văn học Phạm Xuân Nguyên trong bài viết

Mẫu Thượng Ngàn: nội lực văn chương của Nguyễn Xuân Khánh (trao đổi với

Trang 4

4

phóng viên VTC News) khẳng định: “Mẫu Thượng Ngàn là nhân vật quần

chúng nhưng lại mang tính đại diện tiêu biểu cho dân tộc Việt” và “ Đạo Mẫu trong tiểu thuyết (được thể hiện trong tiểu thuyết qua nhân vật bà Tổ Cô bí

ẩn, bà ba Váy đa tình, cô đồng Mùi, mõ Hoa khèn khổ, trinh nữ Nhụ…) vừa

là tín ngưỡng, vừa thể hiện tính phồn thực và sự trường tồn của dân tộc Việt” Cũng trong cuộc phỏng vấn này, tác giả còn đề cập tới vai trò của nhà văn trong việc viết về văn hóa : “Nhà văn rất cần phải làm văn hóa, nói về văn hóa” [28]

Nhà văn và nhà nghiên cứu Châu Diên trong bài “Nguyễn Xuân Khánh

và cuộc giành lại bản sắc”, báo Tuổi trẻ chủ nhật, 16/7/2006 cũng nhận định về

tác phẩm Mẫu Thượng Ngàn là: “cuốn tiểu thuyết mang tầm khái quát văn hóa, nhân vật không còn là những thân phận riêng lẻ mà là cả một cộng đồng” [9,

tr 47 –54]

Tác giả Đoàn Ánh Dương trong bài viết “Kiến giải về dân tộc trong “Đội gạo lên chùa” của Nguyễn Xuân Khánh” ở báo Văn nghệ số 27 ra ngày 2/7/2011

có nhâ ̣n xét: “nhìn riêng ở khía ca ̣nh những kiến giải về li ̣ch sử dân tô ̣c, tái nhìn

nhận những ứng xử trong cải cách ruộng đất trong phần II và lẽ hành xử của nhà

sư – chiến sĩ An trong phần III làm thành cốt lõi tư tưởng cho viê ̣c đề xuất căn

bản văn hóa dân tô ̣c.”[16, tr 30–33]

Nguyễn Thị Nguyệt ở bài viết “Kiểu truyện về Thánh mẫu và truyền thống

trọng mẫu trong văn hóa dân gian Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số

6/2010, có đưa ra thuyết giải về tính Mẫu ở Viê ̣t Nam như sau: “Việt Nam thuộc loại văn hóa gốc nông nghiệp Nền kinh tế nông nghiệp lúa nước đặc biệt thích ứng với sự đảm đang, khéo léo của người phụ nữ, vì thế, người Việt cổ tôn thờ nước, lúa, và người phụ nữ Mặt khác, con người nông nghiệp ưa sống theo nguyên tắc trọng tình, điều đó dẫn đến thái độ trọng người phụ nữ.”[29, tr 29–34]

Ngoài ra cũng có thể nhắc đến các ý kiến của Hoàng Quốc Hải, Nguyên Ngọc, Nguyễn Thị Minh Thái, Nguyễn Văn Tùng, Mai Anh Tuấn, Nguyễn Khắc

Trang 5

5

Phê, Phong Lê, Ma Văn Kháng,…trên các báo Phụ nữ, Văn nghệ, Tạp chí Non nước, vannghequandoionline,…

Một số khóa luận tốt nghiệp đại học, luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ cũng đề

cập đến Nguyễn Xuân Khánh và tác phẩm của ông như: Nguyễn Thị Hiền, Tính mẫu trong Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP Đà Nẵng, 2010; Thái Bá Thanh, Hình tượng tác giả trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh, Luận văn Thạc sỹ, ĐH Vinh, 2012

Tuy nhiên, cho tới nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu thật sự chuyên biệt nào bàn về vấn đề thể tài trong tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn

Xuân Khánh, nhất là với hai cuốn Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa

Tiếp thu những công trình nghiên cứu đi trước, chúng tôi muốn tìm hiểu sâu hơn về vấn đề thể tài trong lý luận văn học khi nghiên cứu một hiện tượng văn học cụ thể

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

1 Làm rõ vấn đề thể tài trong tác phẩm văn học và trong tiểu thuyết

Nguyễn Xuân Khánh (cụ thể ở tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa)

2 Làm rõ vấn đề mẫu gốc và văn hóa tính mẫu trong văn học Việt Nam và trong hai tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh

3 Chỉ ra đóng góp của Nguyễn Xuân Khánh ở phương diện nghệ thuật trần thuật trong hai tiểu thuyết nói trên của ông

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề thể tài trong các tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh

4.2 Phạm vi khảo sát: Hai tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn (In lần thứ

2, NXB Phụ nữ, H., 2006), Đội gạo lên chùa (In lần thứ 2, NXB Phụ nữ, H.,

2011)

Trang 6

6

Ngoài ra, khóa luận cũng có tham khảo thêm các tiểu thuyết Hồ Quý

Ly (Nguyễn Xuân Khánh), Bão táp triều Trần (Hoàng Quốc Hải)

5 Phương pháp nghiên cứu:

Khóa luận kết hợp các phương pháp

 Phương pháp thống kê – tổng hợp:

 Phương pháp phân tích – đánh giá tác phẩm văn học

 Phương pháp so sánh – đối chiếu

 Phương pháp cấu trúc – hệ thống

6 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, khóa luận có 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý thuyết về thể tài, về khái niệm mẫu gốc

và văn hóa tính mẫu trong hai tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh

Chương 2: Tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa từ góc nhìn thể tài lịch sử – văn hóa

Chương 3: Nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Xuân Khánh trong Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa

Trang 7

7

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT

1.1 Giới thuyết các thuật ngữ, khái niệm liên quan

1.1.1 Thể loại văn học, thể tài văn học

1.1.1.1 Thể loại văn học

– Khái niệm: Thể loại là hình thức chỉnh thể của tác phẩm văn học Tác phẩm văn học là một chỉnh thể thống nhất toàn vẹn giữa các yếu tố hợp thành trong đó thể loại là khái niệm chỉ quy luật loại hình của tác phẩm Ứng với mỗi nội dung vốn có trong hiện thực sẽ có những phương thức phản ánh tương ứng Sự thống nhất này là do các phương thức chiếm lĩnh đời sống văn học vốn ứng với các dạng thức tồn tại nhất định của thế giới thực tại Các hình thức phản ánh thực tại của văn học cũng tương thích với các hình thức hoạt động nhận thức của con người: hoặc trầm tư suy nghĩ, chiêm nghiệm (ví

dụ: tác phẩm trữ tình); hoặc lần theo diễn biến của các sự kiện, biến cố liên tục, sinh động (ví dụ: tác phẩm tự sự); hoặc cảm nhận đối tượng bằng trạng thái xung đột, mâu thuẫn (ví dụ: kịch bản văn học)…Cụ thể hơn: trong sáng

tạo nghệ thuật, các thể loại trữ tình phù hợp với kiểu nhận thức đối tượng và trạng thái xúc cảm, suy nghĩ, chiêm nghiệm; các loại thể tự sự tìm được ưu thế phản ánh từ nhu cầu nhận thức các đối tượng diễn biến sinh động trong những hoàn cảnh không gian và thời gian nhất định; các thể loại kịch đặc biệt phù hợp với hình thức nhận thức thế giới đối tượng theo lối “mục sở thị” trực tiếp các xung đột và mâu thuẫn…Như vậy, ứng với mỗi nhu cầu khám phá, phản ánh hiện thực sẽ có những hình thức thể loại tương thích Người nghệ sĩ khi sáng tạo văn học cần tìm đến những hình thức thể loại phù hơp nhất với tính chất của hiện thực và có khả năng phản ánh đắc địa các phạm vi hiện

thực đó Chẳng hạn, thơ hợp tạng với loại hiện thực cần sự ngẫm ngợi, suy tư; truyện hợp với loại hiện thực cần sự tái tạo sinh động các biến cố, sự kiện

Trang 8

8

khách quan, ký có ưu thế nổi bật ở khả năng tiếp cận hiện thực trong “thế

nhìn gần” các sự kiện bản thể nguyên vẹn…Thể loại là sản phẩm của quá trình kiếm tìm hình thức phản ánh hiện thực, nó do thực tại cuộc sống trực tiếp “đặt hàng” với nhà văn

Tùy thuộc đặc trưng của mình, mỗi thể loại có những quy luật, cách thức tổ chức tác phẩm riêng Cách thức phản ánh hiện thực trực tiếp chi phối cách tổ chức tác phẩm của mỗi thể loại Tổ chức văn bản truyện khác với thơ, thơ khác với ký, ký khác với kịch Không có kiểu tổ chức tác phẩm chung nhất cho các thể loại vốn có những đặc trưng khác nhau Tổ chức truyện là tổ chức cốt truyện thông qua hệ thống các biến cố, sự kiện, nhân vật, các thành phần trần thuật; tổ chức thơ là tổ chức cấu tứ thơ thông qua cảm xúc, hình ảnh, hình tượng, bố cục dòng thơ, câu thơ, khổ thơ, đoạn thơ; tổ chức tác phẩm ký tự sự là nghệ thuật liên kết sự kiện, tạo dựng điểm nhìn của chủ thể trần thuật, bố trí nhân chứng, số liệu quan sát thực…Quy luật tổ chức tác phẩm theo đặc trưng từng thể loại cũng là một khía cạnh xác định quy luật loại hình của tác phẩm, tạo cho tác phẩm văn học một hình thức tồn tại chỉnh thể tương đối ổn định, khu biệt với tác phẩm ở các thể loại khác

Thể loại không chỉ là cách thức phản ánh hiện thực, một cách nhìn có phần cố định hóa trong sự cách tân không ngừng đối với hiện thực để kiến tạo tác phẩm mà còn là sự “mách bảo” đối với người đọc về tính chất đặc thù của từng loại tác phẩm Do vậy mỗi thể loại sẽ tạo ra “kênh giao tiếp” riêng đối với người đọc khi tiếp nhận tác phẩm Vì thế, giao tiếp thơ không giống với giao tiếp kịch, giao tiếp bằng tiểu thuyết rất khác với giao tiếp qua tác phẩm ký hay chính luận…Bởi lẽ mỗi thể loại ấy cần có những hình thức ngôn ngữ, các phương tiện nghệ thuật và kinh nghiệm phản ánh hiện thực, cách thức tổ chức tác phẩm riêng và tất yếu sẽ có các phương thức giao tiếp đặc thù cho mỗi người đọc Không có cách đọc chung nhất áp dụng cho các

Trang 9

nhà văn muốn dự báo cho người đọc các phạm vi cuộc sống được quan tâm, cách tiếp cận và quan sát đối với nó, hướng họ vận dụng các kinh nghiệm nhất định vào việc tiếp nhận tác phẩm Thậm chí tên thể loại đã gắn kết thành

bộ phận không thể tách rời với tên tác phẩm (thường là trong văn học cổ):

Bình ngô đại cáo, Thượng kinh ký sự, Hoàng Lê nhất thống chí, Truyền kỳ mạn lục Vậy, nói đến thể loại là nói đến các kiểu phản ánh hiện thực, kiểu tổ

chức tác phẩm, kiểu giao tiếp nghệ thuật

Tóm lại: “Thể loại tác phẩm văn học là khái niệm chỉ quy luật loại hình của tác phẩm, trong đó ứng với một loại nội dung nhất định có một loại hình thức nhất định, tạo cho tác phẩm một hình thức tồn tại chỉnh thể” [31,

tr 220]

Trong quá trình sáng tác, các nhà văn thường sử dụng những phương pháp chiếm lĩnh đời sống khác nhau, thể hiện những quan niệm thẩm mỹ khác nhau đối với hiện thực, có những cách thức xây dựng hình tượng khác nhau Các phương thức ấy ứng với những hình thức hoạt động nhận thức khác nhau của con người hoặc trầm tư, chiêm nghiệm, hoặc qua biến cố liên tục hoặc qua xung đột…làm cho các tác phẩm bao giờ cũng có sự thống nhất quy định lẫn nhau về mặt hình thức lời văn Ví dụ nhân vật kịch, kết cấu kịch, hành động kịch với lời văn kịch; hoặc nhân vật trữ tình, kết cấu thơ trữ tình với lời thơ, luật thơ…Người ta có thể tập hợp thành từng nhóm những tác phẩm văn học giống nhau về phương thức miêu tả và hình thức tồn tại chỉnh thể ấy

Trang 10

Tính chất của thể loại:

+ Thể loại có tính chất truyền thống, tương đối ổn định, ít phát triển: Thể loại có vẻ như mang tính chất bảo thủ, không chấp nhận sự cách tân, đổi mới độc đáo của người sáng tác Có điều này là do thể loại là sản phẩm được hình thành qua quá trình lịch sử lâu dài, nó được khái quát và cô đúc lại để tồn tại trong những hình thức ổn định bền vững, ít thay đổi Không

có một thể loại nào có cuộc hành trình số phận trong vài ba năm Mỗi thể loại khi đã định hình trong hệ thống thể loại phổ quát ít ra cũng đã có tuổi đời vài thế kỷ, thậm chí không ai tính được tuổi đời của nó là mấy vạn năm hay mấy

triệu năm? (chẳng hạn lục bát của Việt Nam) Các thế hệ nhà văn khi cầm bút

sáng tác đều phải tuân theo những chuẩn mực đã định sẵn từ bao đời của cổ nhân mà viết trên tinh thần kế thừa và sáng tạo Với các thể loại cách luật có

giá trị như những “khuôn vàng thước ngọc” (thơ Đường luật chẳng hạn) thì ở

đó người sáng tác phải nương theo những quy cách truyền thống của thể loại như những giá trị mẫu mực, bất biến “Xét về thực chất, thể loại văn học phản ánh những khuynh hướng lâu dài và hết sức bền vững trong sự phát triển văn học Ở thể loại bao giờ cũng bảo lưu những yếu tố cổ xưa bất tử” (Bakhtin) Trong thực tế chẳng có thể loại văn học nào được vận dụng sáng tạo theo ngẫu hứng tùy tiện của các cá nhân Trong văn học trung đại, sự phá cách thể loại thái quá thường dễ bị phủ nhận và lên án Tính ổn định của thể loại phản ánh phương diện hữu hạn, trung lập với mọi sự cách tân độc đáo,

Trang 11

11

không lặp lại Chẳng hạn, tiểu thuyết phương Tây hay phương Đông thường

có dung lượng lớn, gắn bó với tính chất tự sự (Chiến tranh và hòa bình của Liev Tolstoi ở Nga hay Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần ở Trung Quốc)…

+ Nhưng mặt khác, do quy luật không ngừng đổi mới và sáng tạo của văn học, thể loại văn học cũng luôn phát sinh, đổi mới để thích ứng với nội dung hiện thực cuộc sống Trước sự đổi thay mạnh mẽ của hiện thực cuộc sống, những thể loại không có khả năng thích ứng được với môi sinh văn hóa mới sẽ bị triệt tiêu để nhường chỗ cho sự ra đời của các thể loại văn học mới

có ưu thế hơn Chẳng hạn, Cáo, Chiếu, Biểu, Phú…thịnh hành thời trung đại nhưng nay gần như cáo chung; ngược lại, tiểu thuyết tâm lý, kịch nói, phóng

sự, thơ tự do, phê bình văn học…trước đây rất hiếm hoặc không có nhưng bây giờ lại rất thịnh hành Nhưng sự cách tân thể loại diễn ra không đoạn tuyệt hoàn toàn với truyền thống vốn có của nó, nghĩa là không có sự đổi mới toàn diện cấu trúc hình thức thể loại theo lối phủ nhận sạch trơn cấu trúc

truyền thống của thể loại Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã có những cách tân mới mẻ về nhịp phách trong thể loại lục bát, song lục bát trong Truyện Kiều với lục bát biến thể sau này vẫn kế thừa, bảo lưu những nét đẹp óng ả,

dịu dàng, uyển chuyển của lục bát cổ xưa Hầu hết các thể loại văn học nước

ta sau năm 1986 đã có sự cách tân nhưng bóng dáng của nó vẫn còn giữ được đặc trưng, hình thức kiểu truyền thống

+ Thể loại văn học nào cũng có tính lịch sử bởi lẽ chúng phát sinh và tồn tại trong những điều kiện lịch sử nhất định Nó cũng mất đi do hoàn cảnh

xã hội thay đổi, không còn là mảnh đất màu mỡ cần thiết cho sự sinh tồn của

nó nữa…Tính lịch sử chi phối hình hài, phẩm chất của các thể loại trong từng thời đoạn của cuộc hành trình để rồi từ đó tạo ra địa vị lịch sử đầy những thăng trầm cho mỗi thể loại Văn học là sản phẩm sáng tạo của mỗi dân tộc, thể loại văn học tất yếu cũng mang tính dân tộc Thể loại văn học nào cũng

Trang 12

12

gắn với một kiểu ngôn ngữ, tâm lý và truyền thống văn hóa của một dân tộc nhất định

Phân loại thể loại văn học:

Có rất nhiều cách phân chia thể loại trong lịch sử văn học nhân loại Chẳng hạn, Aritxtôt chia thể loại làm ba loại hay còn gọi là ba phương thức:

tự sự, trữ tình, kịch Từ 3 phương thức này Beelinxki lại phân ra chi tiết hơn: loại tự sự gồm thơ tự sự, tiểu thuyết, ngụ ngôn…; loại trữ tình gồm thơ trữ tình và văn xuôi trữ tình…loại kịch gồm bi kịch, hài kịch, chính kịch,…Ở Trung Quốc lịch sử phân loại thể loại khá phức tạp, đa dạng Tới tận đời Thanh mới chia làm 4 loại phổ biến là thơ ca, văn xuôi, tiểu thuyết, kịch

Ở Việt Nam, ý thức phân loại văn học xuất hiện muộn Trước đây

chia thành 4 thể loại: thơ trữ tình, kịch, tiểu thuyết, ký Ngày nay sách Lý luận văn học đang dùng trong trường đại học ở nước ta chia văn học thành 5

thể loại: Tác phẩm tự sự, Tác phẩm trữ tình, Tác phẩm ký, Tác phẩm kịch, Văn chính luận Trong khóa luận của chúng tôi đang dùng cách chia thể loại trong giáo trình mới đây

1.1.1.2 Thể tài văn học

Chữ tài trong tiếng Trung Quốc có nhiều nghĩa: chỉ sự giỏi giang

(người tài), chỉ tiền bạc (tài vụ), chỉ chất liệu (tài liệu),…Trong thuật ngữ

may mặc người ta dùng chữ tài để chỉ việc phân chia các mảnh trong một tấm

vải nhằm để may các bộ phận khác nhau (mảnh để may cổ áo, mảnh để may thân áo, tay áo…) của một chiếc áo hay chiếc quần.Từng mảnh vải trong tấm

vải ấy là một bộ phận chuyên biệt dùng để may một loại nào đó (áo hay quần), người ta gọi là tài Như vậy, xét ở một phương diện cụ thể, “tài” là

một bộ phận trong “loại” mang tính chuyên biệt để phục vụ cho một mục đích nào đó của “loại”

Trang 13

13

Từ đây có thể hiểu: Thể tài là khái niệm chỉ sự tập trung về một đề tài, chủ đề, nội dung phản ánh nhất định (chuyên biệt) trong văn học ở một thời

kỳ, giai đoạn nào đó của một nền văn học

Nhưng cũng từ khái niệm này, có thể thấy: thể tài vừa nhỏ hơn lại vừa

lớn hơn thể loại Xét về phạm vi, nó “nhỏ hơn” vì là một đề tài, chủ đề, sự

phản ánh nào đó trong một thể loại với tư cách là một bộ phận trong thể loại

Chẳng hạn, thể loại tự sự có thể chia ra thể tài lịch sử – dân tộc, thể tài thế sự – đời tư…Nhưng xét về khả năng nó lại “lớn hơn” vì một thể tài lịch sử – dân tộc không chỉ có trong thể loại tự sự mà còn có cả trong các thể loại khác

như trữ tình, kịch…

Sự phân chia thể loại trong lịch sử văn học, như trình bày ở trên, khá

phức tạp và chưa hẳn đã thống nhất trong các thời kỳ, các nền văn học dân tộc, do đó có lúc, có nơi chia ba, rồi chia bốn, chia năm…và giữa chúng cũng

có sự xâm lấn nhau Ở thể tài, cũng sẽ gặp tình trạng giống như hiện tượng

thể loại Ví dụ, nền văn học Cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945–1975, do

sự gia tăng của yếu tố chính luận trong cơ cấu nghệ thuật của các tác phẩm và tính sự kiện dày đặc nên “nội dung xã hội – lịch sử chính là nét chủ đạo nghệ thuật” [2, tr 100] của nền văn học mới này (như các motif: cách mạng – ngày hội, thức tỉnh – giác ngộ, motif ân tình cách mạng…), nhưng rõ ràng, giai đoạn văn học này không chỉ có thể tài lịch sử – dân tộc mà vẫn có cả thể tài thế sự – đời tư Các truyện ngắn, tiểu thuyết (thậm chí cả thơ ca) vẫn đề cập đến những nỗi đau riêng, những thân phận cá nhân, những tình yêu đôi lứa, những hồi tưởng đầy ân tình của con người từng sống qua hai chế độ…mà

tiểu thuyết Đi bước nữa, Nắng của Nguyễn Thế Phương, Vào đời của Hà Minh Tuân, truyện ngắn Bộ quần áo mới của Ngô Ngọc Bội, thơ Màu tím hoa sim của Hữu Loan…là những hiện tượng văn học như thế Có điều, do

đặc điểm giai đoạn này nên nhóm thể tài lịch sử – dân tộc giữ vai trò chủ đạo

Trang 14

14

(đề tài, chủ đề tập trung vào vấn đề độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội) nên nó “quyết định toàn bộ diện mạo thể tài, toàn bộ hệ thống thể loại của nền văn học mới” [2,tr 116] nên khi giải quyết các xung đột cá nhân, những riêng tư của số phận, những mối tình lứa đôi…đều được “chiếu” dưới

cái nhìn của dân tộc, kháng chiến Chẳng hạn, bà Vạn (Bộ quần áo mới) bồi

hồi nhớ lại cả quãng đời tủi nhục khi được mặc bộ quần áo nâu mới sau Cải cách ruộng đất, bà khóc là bởi ơn Đảng, ơn Chính phủ mới có ngày hôm nay;

sự tỉnh ngộ của Cúc (Thức tỉnh – Phan Tứ) để thoát ra cái đời làm “me Tây”

nhơ nhuốc là nhờ sự đùm bọc vừa giận vừa thương của bà con lối xóm; tình

yêu của Nguyệt và Lãm (Mảnh trăng cuối rừng – Nguyễn Minh Châu), Mẫn

và Thiêm (Mẫn và tôi – Phan Tứ), Quyên và Ngạn (Hòn Đất – Anh

Đức)…chỉ có thể là những nốt nhạc xanh vút lên trên nền bản giao hưởng trầm hùng của cuộc kháng chiến Nói như nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân “Cái khung của thể tài lịch sử – dân tộc, cái khung sử thi ở đây

có ý nghiã vạn năng, nhờ đó nhà văn có thể đưa ra được những giải pháp cho rất nhiều cốt truyện có tính chất đời tư hoặc sinh hoạt thế sự” [2, tr 117] Một vấn đề khác của thể tài là ngay trong một thể tài nào đó cũng có thể được chia nhỏ hơn nữa Chẳng hạn, “thể tài lịch sử – dân tộc”, tùy sự tập

trung đến mức như thế nào đó mà có thể chia ra thể tài lịch sử (truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết lịch sử) và thể tài dân tộc Cũng vậy trong “thể tài thế

sự – đời tư”, nếu xét thấy hàm lượng thế sự nhiều hơn đời tư thì người ta chia

ra thành thể tài thế sự (tập trung trình bày xã hội và con người đương thời

chứ không phải là trình bày trạng thái dân sự của xã hội đương thời, chẳng hạn, văn xuôi Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Khải, Chu Văn,…)

hoặc thể tài đời tư (miêu tả cuộc đời và số phận cá nhân con người, chẳng hạn, truyện Quê hương của Nguyễn Địch Dũng, Ché Mèn được đi họp của

Nông Minh Châu, hay thơ Tố Hữu, trường ca Thanh Thảo,…) Rõ ràng, cả

Trang 15

trung xét một thể tài tiểu thuyết lịch sử (trong đối sánh thể tài tiểu thuyết tâm

lý, tiểu thuyết phong tục, tiểu thuyết tình cảm ) của một tác giả cụ thể:

có ảnh hưởng đến tiến trình lịch sử…” (37 Tr 1725–1729)

Ở các nền văn học khác nhau, thể loại tiểu thuyết lịch sử đều nảy sinh

do quá trình phát triển và phân nhánh của các mảng thể tài trước thuật lịch sử hoặc văn xuôi lịch sử vốn gắn với trạng thái nguyên hợp của ý thức xã hội, ý thức khoa học và ý thức nghệ thuật Văn xuôi lịch sử đã có ở Hy Lạp cổ đại

và tiêu biểu là những tác phẩm như Lịch sử của Hérodote, Lịch sử chiến tranh Pelopone; được kế thừa và tiếp tục phát triển ở La Mã cổ đại cũng như

ở Trung Hoa cổ đại với những tác phẩm như Tả truyện (tương truyền do Tả

Trang 16

16

Khâu Minh soạn) Sử ký của Tư Mã Thiên…Truyền thống văn xuôi lịch sử cổ

đại được tiếp tục kế thừa và phát triển ở châu Âu thời Trung đại Tới thời đại Phục hưng của Châu Âu cho tới cuối thế kỷ XVIII sang đầu thế kỷ XIX ở châu Âu, văn xuôi lịch sử không chỉ ảnh hưởng đến tiểu thuyết lịch sử (như của Hugo, Duma) mà chính nó cũng sử dụng kinh nghiệm của nhiều nhà văn lãng mạn (trong các tác phẩm của Ghizô, Chiery)…Từ cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX, sử học tách hẳn văn học, tuy vậy một số tác phẩm lịch sử cũng đạt trình độ văn học cao và được xem là những tác phẩm nghệ thuật

Tiểu thuyết lịch sử xuất hiện khá sớm và phát triển mạnh mẽ ở văn học trung đại Trung Hoa Thời phồn thịnh đầu tiên là cuối thời đại Nguyên

đầu triều đại Minh (thế kỷ XIV–XV) mà tiêu biểu là Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Thủy hử của Thi Nại Am Đó là những tác phẩm văn học

vĩ đại của Trung Quốc và của thế giới, là những thiên anh hùng ca với cảm hứng anh hùng, với quy mô sử thi của cơ cấu tác phẩm, nhưng lại hơi ít chất tiểu thuyết Tuy vậy, những thành tựu lớn này vẫn và đã nuôi dưỡng một dòng mạch tiểu thuyết phong phú và mạnh mẽ trong văn học Trung Quốc sau

đó như triều Thanh, cuộc cách mạng Tân Hợi và Trung Hoa dân quốc viết về các nhân vật có mặt trong bàn cờ chính trị Trung Quốc thế kỷ XX, hình thành nên loại hình tiểu thuyết Minh Thanh

Ở văn học châu Âu, tiểu thuyết lịch sử xuất hiện vào khoảng cuối thế

kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX (Ivalhoe – W Scotte, Nhà thờ Đức bà Paris – V

Hugo…) Sự hình thành của thể loại lịch sử, trong đó có tiểu thuyết lịch sử,

có ý nghĩa lớn đối với văn học nói chung, bởi vì nó dẫn tới chỗ ý thức được quan niệm về tính lịch sử H Balzac viết: “Scotte đã nâng tiểu thuyết lên cấp

độ triết học và lịch sử”, còn Pushkin thì ghi nhận rằng “ở thời đại chúng ta chữ “tiểu thuyết” được trỏ cả một thời đại lịch sử đang được triển khai trong thiên tự sự hư cấu”

Trang 17

17

Ở Việt Nam, ngay từ thời trung đại đã xuất hiện những tác phẩm lịch

sử, quan trọng nhất là bộ Đại việt sử ký toàn thư – bộ thông sử chép theo lối

sử biên niên – trong đó dựng lên không ít những chân dung lịch sử đặc sắc –

sẽ trở thành nguồn cũng cấp chất liệu cho sáng tác văn học và sân khấu về đề tài lịch sử cả các tác giả thời sau Nhưng chỉ đến thế kỷ XVIII mới xuất hiện

những truyện ký lịch sử viết theo lối truyện chương hồi như Nam triều công nghiệp diễn chí (1719), Hoàng Lê nhất thống chí…Những sách này đều viết

bằng văn xuôi chữ Hán và về mặt thể tài, giữa tư duy tiểu thuyết và tư duy lịch sử đôi khi còn lẫn lộn với nhau, thế nhưng cũng có được một đôi cuốn

thật nổi trội như Hoàng Lê nhất thống chí

Bước sang thế kỷ XX, ý thức viết truyện lịch sử có hư cấu đã rõ ràng

hơn nhiều Về văn xuôi chữ Hán có Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu

là một dấu mốc đáng kể Lịch sử trong tác phẩm không phải là lịch sử được tái hiện đúng như nó có mà lịch sử được dựng lên theo ý tưởng lãng mạn cách mạng và theo tinh thần dân chủ của thời đại tác giả Cho nên nhân vật tuy được mang tên lịch sử nhưng hồn cốt lại là người sĩ phu duy tân chống Pháp buổi đầu thế kỷ trước Mặc dầu tính cách nhân vật đã được chú ý, nhưng kết cấu của tiểu thuyết thời kỳ này còn nửa cũ nửa mới, chưa thoát khỏi ý thức tiểu thuyết chương hồi Tới những năm 30 thế kỷ XX, cùng với

sự nở rộ của các trào lưu văn học lãng mạn và hiện thực, các nhà văn đã chuyển sang khai thác những mối tình éo le và những câu chuyện đời tư, giàu chất bi kịch trong đề tài lịch sử và đồng thời dứt khoát hẳn với lối viết

chương hồi Có thể kể tới như: Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng, Bóng nước hồ gươm của Chu Thiên, Người Thăng Long của Hà Ân, Núi rừng Yên Thế của Nguyên Hồng…thời gian gần đây cũng xuất hiện khá nhiều tiểu thuyết lịch sử có giá trị nghệ thuật cao như: Gió lửa của Nam Dao của Lê Duyệt, Bi kịch muôn đời của Hoàng Lại Giang, Hội thề của Nguyễn Quang

Trang 18

18

Thân Đặc biệt là 8 tập tiểu thuyết lịch sử Bão táp triều Trần của Hoàng Quốc Hải, bộ 3 tiểu thuyết lịch sử Hồ Quý Ly (2000), Mẫu Thượng Ngàn (2006), Đội Gạo lên chùa (2011) của Nguyễn Xuân Khánh đã để lại ấn tượng

sâu sắc trong lòng người đọc, đóng góp giá trị to lớn cho nền văn học nước nhà

1.1.2.2.Tiểu thuyết lịch sử – văn hóa

Tiểu thuyết lịch sử được hiểu là tiểu thuyết được viết dựa trên những yếu tố lịch sử có thật nhưng dưới ngòi bút của các nhà văn, lịch sử đó được

hư cấu, được tô điểm, mài giũa, nhấn mạnh ở những cột mốc lịch sử, con người Nhìn chung, cảm hứng chủ đạo của nó vẫn là sự thật của lịch sử Còn tiểu thuyết lịch sử – văn hóa có thể hiểu là thể tài tiểu thuyết coi lịch sử gắn

liền với lịch sử văn hóa của dân tộc, cảm hứng của nó dựa trên sự thật văn

hóa trong quan niệm: lịch sử dân tộc là lịch sử văn hóa của một dân tộc, mọi

lý giải lịch sử đều bắt nguồn từ lý giải văn hóa của từng thời đại cụ thể trong chiều dài lịch sử của dân tộc ấy Điều này sẽ liên quan đến vấn đề mẫu gốc và văn hóa tính mẫu sẽ nói sau đây

1.1.3 Mẫu gốc và văn hóa tính mẫu

Mẫu gốc (archetyp) hay còn được dịch là siêu mẫu, là khái niệm dùng

để chỉ những hình tượng hoặc ý niệm đầu tiên, nguyên khởi Khái niệm này vốn có trong triết học cổ đại và trung đại, đến thế kỷ XX nó chỉ được sử dụng trong trường phái “tâm lý học phân tích” của C.G.Giung (Jung) Theo Giung, những mẫu gốc này là những motif và liên kết motif có đặc tính bản chất phổ quát, là những sơ đồ tâm lý bền vững, được tái hiện lại một cách vô thức và tìm thấy nội dung trong các nghi lễ, thần thoại tượng trưng, tín ngưỡng cổ xưa, trong những hành vi tâm lý (ví dụ: giấc mơ), và cả trong những sáng tác nghệ thuật ngay đến thời nay Ý nghĩa phổ quát của mẫu gốc trong lịch sử văn hóa được thế hiện qua các motif : tội loạn luân, tuổi ấu thơ, tuổi già hiền

Trang 19

Văn hóa tính Mẫu trước hết được dựa trên nguyên lý tính Mẫu, đó là

sự ca tụng về người mẹ, ngợi ca những đức tính tốt đẹp, huyền diệu của người mẹ Trở về với bụng mẹ như một ngưỡng vọng bất kỳ con người nào là tìm về “sự nghỉ ngơi, “sự an toàn” và “sự tái sinh” Đây cũng chính là sự biểu hiện của Cổ Mẫu Meh khi có một thế giới với những giá trị được chứa hoặc

là tất cả những gì to lớn, bao bọc, nương náu, bảo tồn, nuôi dưỡng, chở che

và sưởi ấm cho những gì là nhỏ bé, bất hạnh Chiều sâu, vực thẳm, giếng, hang động, túi, bình, hầm trú ẩn, nhà…và “tất cả những gì làm nên cõi ẩn náu

vĩ đại của loài người đó chính là Mẹ vĩ đại” (Chevalier) Các vị thánh Mẫu là các vị nữ thần của khả năng sinh sản: Gaia, Héra (Hi Lạp); Isis (Ai Cập); Kâli (Ấn Độ);…Giá trị kép của nguyên bản Thánh Mẫu vừa là người mẹ, vừa là trinh nữ Huyền thoại Việt đã ươm mầm vào tâm thức cộng đồng mình nhiều trang diễm ảo về mẹ Âu Cơ (Mẹ khởi thủy), về Mỵ Nương, Mỵ Châu, Man Nương…Nó lại được nuôi dưỡng trong bầu sinh khí của lễ hội ước cầu phồn thực, sinh sôi (lễ hội ông Đùng – bà Đà, lễ hội rước Nõ Nường…) Có thể nói văn hóa tính Mẫu hay Cổ Mẫu luôn là những mơ ước, khát vọng cháy bỏng nhất trong sáng tạo nghệ thuật

Mỗi dân tộc trên thế giới đều có những nét văn hóa riêng biệt làm đặc trưng cho nền văn hóa dân tộc ấy Ở Việt Nam cũng vậy, nền văn hóa dân tộc

ta được coi là nền văn hóa có những nét đặc sắc nổi bâ ̣t riêng, khác biê ̣t với

các nền văn hóa khác trên thế giới Một điểm riêng biệt làm nên đặc trưng

Trang 20

và Tây phương mà còn có thể hiểu được cơ cấu, cách thức sống, cũng như thế giới cảm quan của họ Và như vậy, lối suy tư tính mẫu đòi buộc

ta phải phản tỉnh lại tất cả hệ thống, tổ chức, trật tự của xã hội hiện hành, những tổ chức dựa trên “phụ tính” tức dựa trên sức mạnh, duy lý, duy trí, và quyền lực Sự xung khắc giữa mẫu tính và phụ tính có lẽ là nguyên do chính giải thích sự xung đột giữa người phương Nam và người phương Bắc (các huyền thoại Lạc Long Quân – Âu Cơ, Sơn Tinh – Thủy Tinh, Trọng Thủy – Mỵ Châu), giữa yếu tính “cứng” và yếu tính

“mềm”, “đặc” và “rỗng”như thường thấy trong trống đồng Ðông Sơn

Về nguồn gốc của văn hóa tính Mẫu trong văn hóa Việt, có thể thấy, trên toàn lãnh thổ, người Việt đã tôn vinh rất nhiều tấm gương liệt nữ trở thành những nữ thần của mình như: Mẫu Âu Cơ, Mẫu Ỷ Lan, Thánh Mẫu Thiên Yana của người Chăm…Những Mẫu này còn được bắt nguồn từ trước

đó với những phong tục thờ Mẹ Chim, Mẹ Mặt Trời…Tuy nhiên chỉ đến khi xuất hiện thờ Thánh Mẫu ở thế kỷ XV thì tín ngưỡng thờ cúng Thánh Mẫu mới thực sự phát triển và ngày càng có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống tâm linh của người Việt Trong các nơi thờ Thánh Mẫu bao giờ cũng có sự sắp xếp: Mẫu Liễu Hạnh – áo đỏ ngồi giữa, Mẫu Thượng Ngàn – áo xanh và Mẫu Thoải – áo trắng ngồi hai bên, được gọi chung là Tam Tòa Thánh Mẫu) Riêng nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, khi trả lời những thắc mắc về tên gọi

Trang 21

21

của cuốn tiểu thuyết đã cho rằng dù nơi nào trên khắp đất nước cũng thờ Tam Tòa Thánh Mẫu, nhưng Mẫu Thượng Ngàn với chức năng cai quản là Đất, là Rừng thì gần gũi với người dân hơn cả Cho nên, dù nói đến Đạo Mẫu nói

chung, nhưng tác phẩm của ông lại mang tên Mẫu Thượng Ngàn là vì như

vậy

1.2 Tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân

Khánh với đề xuất về vấn đề thể tài tác phẩm

1.2.1 Về thể tài bộ ba tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh

Nguyễn Xuân Khánh viết văn và được giải thưởng từ thời kháng chiến chống Pháp, nhưng ông được biết tới nhiều hơn cả ở bộ ba tiểu thuyết

lịch sử – văn hóa tầm cỡ của mình: Hồ Quý Ly (2000), Mẫu Thượng Ngàn (2005) và gần đây nhất là tiểu thuyết Đội gạo lên chùa (2011) Với bộ ba tiểu

thuyết này ông đã thổi mội luồng gió lạ vào tiểu thuyết lịch sử nước nhà Sở

dĩ nói như vậy bởi vì ở ba cuốn sách đồ sộ đó, Nguyễn Xuân Khánh đã chọn cho mình lối trần thuật mới với thể tài tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết lịch sử xen lẫn văn hóa – một thể tài tương đối la ̣ lẫm đối với nền văn ho ̣c nước nhà

Ở Hồ Quý Ly, thể tài tiểu thuyết li ̣ch sử đã được công nhâ ̣n khi ngay bìa tác

phẩm có in kèm “tiểu thuyết li ̣ch sử” Còn hai tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn

và Đội gạo lên chùa vấn đề thể tài còn là mô ̣t nố t ẩn bởi bên ngoài bìa chỉ

đươ ̣c in kèm với hai chữ “tiểu thuyết” chứ không phải là “tiểu thuyết li ̣ch sử”

nữa, nhưng có lẽ nô ̣i dung của hai bô ̣ tiểu thuyết này là minh chứng rõ nhất cho thể tài của nó, thể tài tiểu thuyết li ̣ch sử – văn hóa Trong Hồ Quý Ly ta

thấy xuất hiện một ông vua có thật nhưng lại được thổi vào những yếu tố lạ, đươ ̣c hư cấu Tác giả dường như mượn lịch sử để viết về văn học bằng viê ̣c

hư cấu các tình tiết trong li ̣ch sử Trong Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chu ̀ a la ̣i xuất hiê ̣n li ̣ch sử văn hóa đi kèm với li ̣ch sử thời đa ̣i Việc đưa lịch

sử vào trong tác phẩm văn học để thành bộ tiểu thuyết lịch sử xưa nay có

Trang 22

22

nhiều nhưng ở Nguyễn Xuân Khánh, chất lịch sử ấy lại chỉ như những vỏ bọc bên ngoài, còn cái cốt lõi là ở bên trong đó chứa đựng những nét văn hóa, truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc Việt Dường như tác giả đang muốn tự mình dựng lên bức tranh xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với bao biến cố, thăng trầm nhưng vẫn giữ trong mình nét văn hóa truyền thống, cái bản sắc, phong cách sinh hoạt của người dân Việt Đọc và suy ngẫm tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh ta cảm nhận đâu đó hình bóng của sự hoài niệm về vốn văn hóa xưa, hoài niệm về hình ảnh có thật cũng như cái gì đó

vô hình, chỉ có trong tiềm thức, hay chỉ trong tinh thần của mỗi con người Ông hoài niệm về một cái gì đó xa lắm nhưng lại gần lắm, gần lắm mà lại xa lắm Nhà văn như một họa sĩ tài ba đang vẽ những mảnh ghép của cuộc đời, mảnh ghép của xã hội rồi xáo trộn những mảnh ghép đó lại với nhau nhưng cuối cùng bức tranh đó vẫn hiện ra một cách rõ nét, vẫn rất thật, rất có hồn tới mức ai nhìn vào nó cũng nhận thấy một phần của mình hiện hữu ở đó, một phần gia đình, làng xóm mình là ở đó Đấy chính là điểm thành công của tác giả Thể tài tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết lịch sử – văn hóa đã giúp ông hoàn thành ước mơ “hoài cổ” của mình Vẫn những nhân vật tiểu thuyết, vẫn những khung cảnh lịch sử, vẫn những tình tiết có sẵn trong li ̣ch sử ấy, nhưng cái cốt yếu nội dung của tác phẩm lại khác hẳn Những nét văn hóa, thói quen sinh hoạt bao đời ấy đã được nhà văn soi qua ống kính văn học, cái ở mặt kia của ống kính chính là những điều viết trong tác phẩm Bằng giọng văn trần thuật nhẹ nhàng những lại không kém phần gay gắt đã tạo được những điểm nhấn quan trọng, tạo nên không ít những xung đột lên tới đỉnh điểm Càng đi sâu vào tác phẩm ta càng không có cảm giác nhàm chán hay mệt mỏi mà thay vào đó là sự cuốn hút, say mê Có lẽ bởi vì giọng văn, vì yếu tố nghệ thuật độc đáo đã làm lên một nội dung đặc sắc, lôi cuốn người đọc Tác giả chỉ muốn mượn cái vỏ lịch sử để viết văn nhiều hơn là mượn lịch sử để viết lịch

Trang 23

23

sử Ở hai cuốn tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa ta nhận ra rất

rõ điều đó – một mảng thể tài – thể tài tiểu thuyết li ̣ch sử – văn hóa có lẽ sẽ là một mảnh đất mới, màu mỡ cho các nhà văn trong nền văn học Việt Nam đương đại

1.2.2 Về thể tài của hai tiểu thuyết “Mẫu Thượng Ngàn” và “Đội gạo lên

chùa”

Nếu ở Hồ Quý Ly là thể tài lịch sử được khẳng định khi nhan đề tiểu

thuyết ghi là “tiểu thuyết lịch sử”, được thổi hồn văn học vào li ̣ch sử thì ở hai

tiểu thuyết sau này của Nguyễn Xuân Khánh đã có sự khác biệt Ở Hồ Quý

Đội Gạo lên chùa la ̣i có khác biê ̣t lớn, dường như chất văn hóa lại lấn át chất

lịch sử, hay đúng hơn, lịch sử dân tộc chính là lịch sử văn hóa của dân tộc đó

Vì vậy thể tài trong hai tiểu thuyết này còn là một vấn đề cần soi xét, bàn bạc Một mảng thể tài mới đã được phát hiện, được dày công mày mò và cuối cùng đã được tác giả cho ra lò ứng vào sản phẩm là hai cuốn tiểu thuyết lớn

Cả Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa ta đều nhận thấy một điều rằng,

đây là những cuốn tiểu thuyết viết về lịch sử kéo dài trong hai cuộc kháng

chiến Mẫu Thượng Ngàn viết về thời kỳ đầu giặc Pháp xâm lược nước ta và

những khó khăn dân ta đã phải chịu đựng trong suốt thời gian kháng chiến chống Pháp Thế nhưng tác giả lại không phải là nhà sử học, không phải là nhà văn viết lịch sử, mà cũng không hoàn toàn lấy lịch sử để viết văn Bởi thể

tài mà ông sử dụng ở hai tác phẩm này lại là tiểu thuyết lịch sử – văn hóa, cái

chất “lịch sử văn hóa” hiện diện rõ ràng hơn bao giờ hết Sở dĩ nói như vậy vì

ở Mẫu Thượng Ngàn, tác giả đã chọn mô ̣t khía cạnh văn hóa được cho là

thuần Việt để khai thác, văn hóa thờ Mẫu (mẫu ở đây cụ thể là Mẫu Thượng Ngàn – mẹ của núi rừng) làm nô ̣i dung xuyên suốt tác phẩm Việt Nam là một nước thuần nông, đại bộ phận là nông dân canh tác trên khắp mọi vùng

Trang 24

24

đất nước Từ đồng bằng lên vùng núi cao, nơi đâu cũng thấy có mặt sự canh tác nông nghiệp Chính vì thế người Việt coi trọng Mẫu, coi trọng người mẹ – biểu tượng cho sự sinh sôi, trường tồn, sự phát triển Bao đời nay người Việt đã coi văn hóa thờ Mẫu: mẹ đất, mẹ nước, mẹ rừng, mẹ trời như một

phần không thể thiếu trong đời sống của mình Nếu ở Mẫu Thượng Ngàn tác giả chọn văn hóa thờ mẫu làm cốt lõi cho câu chuyện lịch sử thì ở Đội gạo lên chùa, tác giả lại chọn Phật giáo làm chất liệu cho tác phẩm của mình

Phật giáo là một tôn giáo chính (có thể coi là quốc giáo) của người Việt Từ bao đời nay, người Việt cũng coi Phật giáo như một phần không thể thiếu trong văn hóa của mình Những hình tượng đẹp đẽ, cao cả của đất Phật đã được ngòi bút sắc sảo của nhà văn mổ xẻ, chiêm nghiệm mô ̣t cách sâu xa nhất, ý vi ̣ nhất Tất cả dường như đã làm không khí Phật giáo sôi sục hơn bao giờ hết trong lòng bạn đọc, không phải chỉ là những lời lẽ sáo rỗng mà ở đó tác giả còn thổi vào nó cái hồn cốt của dân tộc, hồn cốt hình hài văn hóa Việt

Thể tài tiểu thuyết lịch sử – văn hóa thực sự là một thể tài khó, phải là người thực sự am hiểu một cách thật sâu sắc, ngọn ngành về văn hóa Việt

Trang 25

25

mới có thể làm đươ ̣c Nguyễn Xuân Khánh đã thực sự sống hòa mình vào tác phẩm, bằng những vốn kiến thức tuyệt vời ở mọi khía cạnh văn hóa của

mình, ông đã chứng minh một điều, không có xã hội nào tồn tại được mà chỉ

có lịch sử, không có văn hóa Chính thể tài này đã góp phần tạo nên sự thành công ấy Qua tác phẩm Mẫu Thượng Ngàn ta được chiêm ngưỡng một vẻ đẹp

ngàn đời của người phụ nữ Việt, thấy được cái nét nguyên sơ, bản thể của

con người, tới Đội gạo lên chùa ta lại thấy hiện lên hình ảnh đẹp đẽ của

những ông Phật sống, thấy cái chất đời thường và sự hòa quyện giữa tôn giáo với con người Một sự gắn kết bền vững, con người dựa vào tôn giáo để mà sống, để mà làm những điều theo chuẩn mực đạo đức, ngược lại, tôn giáo lại tồn tại được nhờ con người Đó là một cái vòng tưởng như là luẩn quẩn nhưng lại vô cùng rõ ràng, lý trí Có lẽ chỉ bằng cách chọn thể tài này tác giả mới lột tả được hết những thứ cần nhắc tới một cách vừa hài hòa lại không ít

dữ dội Văn hóa – lịch sử được hiện đều trên trang giấy, nói văn hóa là trong văn hóa có chứa lịch sử, mă ̣t khác miêu tả lịch sử nhưng lại dựa trên nền tảng văn hóa Điều này làm nên sự thành công cho tác giả cũng như khẳng đi ̣nh giá tri ̣ to lớn của tác phẩm trong nền văn ho ̣c Viê ̣t Nam đương đa ̣i

Trang 26

26

Chương 2

TIỂU THUYẾT MẪU THƯỢNG NGÀN VÀ ĐỘI GẠO LÊN CHÙA

TỪ GÓC NHÌN THỂ TÀI LỊCH SỬ – VĂN HÓA

2.1 Nguyễn Xuân Khánh với hai tiểu thuyết mang đậm nét văn hóa

2.1.1 Nguyễn Xuân Khánh – hiện tượng “lạ” của văn học Việt Nam

đương đại nói chung, thể loại tiểu thuyết lịch sử nói riêng

Nguyễn Xuân Khánh sinh năm 1932 tại quê ngoại – phố Huế, Hà Nội Nhìn lại chặng đường viết văn của ông, ta thấy ông thuộc lớp nhà văn trong cuộc sống thường nhật có nhiều gian truân, lận đận Từng là sinh viên đại học Y khoa, sau thời gian trong quân ngũ, ông về làm việc tại các tạp chí Văn nghệ quân đội, Thiếu niên Tiền Phong Do một tai nạn nghề nghiệp, nhà văn phải nghỉ hưu sớm Tuy nhiên, ông vẫn đắm say với nghề viết của mình thông qua việc dịch sách, dù những cuốn sách ấy đều phải ký bằng tên khác Không chỉ đam mê dịch sách, nghiên cứu sách, mà những ý thức viết, muốn viết trong ông không bao giờ ngơi nghỉ Sản phẩm đặc biệt sau những chuỗi

ngày dài ấy là những đứa con tinh thần của ông mang tên Trư cuồng, Miền hoang tưởng từng gây sóng gió trên thi đàn văn ho ̣c Tuy nhiên, phải đến khi

ông thì tên tuổi Nguyễn Xuân Khánh mới được đông đảo độc giả biết tới, tầm

̃ cầm bút của ông mới đươ ̣c khẳng đi ̣nh Tiếp sau sự ra đời của Hồ Quý Ly

là sự xuất hiện nối tiếp nhau của hai cuốn tiểu thuyết đồ sộ: Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa Hai tác phẩm này một lần nữa đã đưa tên tuổi của

nhà văn lên một tầm cao mới, nó góp phần khai sáng và tô đậm thêm cho mảnh đất màu mỡ củ a tiểu thuyết lịch sử và một mảng thể tài mới là tiêu thuyết lịch sử – văn hóa Với ý định tái hiện văn hóa “làng” của Việt Nam,

ông đã viết Mẫu Thượng Ngàn Tác phẩm này ông đã dồn hết tất cả những

tâm huyết của cuộc đời mình, những tâm huyết xuất phát từ chính tấm lòng

Trang 27

27

của tác giả đối với làng quê Việt xưa Đó dường như không chỉ là nơi chứa đựng hồn cốt trong mỗi người dân Việt mà nó còn giống như một mặc định

có sẵn trong đầu, ai cũng có nhưng không phải ai cũng có thể nói ra, nói về

nó một cách rõ ràng và sâu sắc Nguyễn Xuân Khánh đã làm được, làm tốt, thậm chí là làm xuất sắc điều đó Hình ảnh một ngôi làng của miền nông thôn Việt Nam cùng với những con người dân dã mà thân thiết đã hiện ra bằng tất

cả những gì linh thiêng nhất, những gì được cho là đặc trưng vốn có nhất Dựa vào lịch sử trong cuộc kháng chiến chống thực dân, tác phẩm đã được đẩy đến cao trào là những năm đầu của thế kỷ XX khi thực dân Pháp tiến hành những bước đi đầu tiên trong quá trình bình định xứ Đông Dương, sự gặp gỡ của hai nền văn hóa phương Đông và phương Tây (dù nền văn hóa phương Tây đã đến Việt Nam bằng con đường bạo lực) Người phương Tây sang xâm chiếm chúng ta cũng có nghĩa họ mang cái văn hóa bản xứ sang cai trị dân tộc ta Nhưng dù thế nào thì nét văn hóa truyền thống của người Việt mãi không thay đổi mà nó là sự giao hòa, hòa nhập mà không hề hòa tan với

nền văn hóa ngoại lai Trong bối cảnh ấy, Mẫu Thượng Ngàn viết về một

làng quê ở trung du miền núi phía Bắc được hư cấu lại, được văn học hóa rất nhiều nhưng nó lại không mất đi cái hồn của làng quê Việt đã và đang hiện hữu trong xã hội Việt Bạn đọc nhiều tầng lớp đều có thể bắt gặp những nhân vật trong truyện như vừa đi qua, như là những người mà ta từng quen lắm, biết lắm Hình ảnh những người phụ nữ như những người bà, người mẹ, người chị của chúng ta ở nhà vậy Người phụ nữ trong xã hội Việt đương thời hay trước đó cũng đều có một vị thế rất quan trọng trong gia đình, xã hội Cái

tư tưởng văn hóa ấy đã ăn sâu vào tâm tưởng của người Việt Trong tác phẩm của mình, tác giả đã chọn hình tượng người phụ nữ để tôn lên, làm trung tâm cho sự chuyển động của cốt truyện Đó là câu chuyện liên quan tới tất cả

những gì có trong Mẫu Thượng Ngàn, ở đó người phụ nữ đã được nhà văn

Trang 28

28

“tôn giáo hóa”, gắn liền với hình tượng Cổ Mẫu và ngược lại, Thánh Mẫu dường như đã được “thế tục hóa”, đời thường hóa thông qua những nhân vật phụ nữ như cô Mùi, Nhụ, bà ba Lý Cỏn, cô Hoa, thím Pháo Đây chính là điểm độc đáo làm nên sức hấp dẫn của cuốn tiểu thuyết – lấy văn hóa hòa trộn với lịch sử để làm nên văn học hay dùng văn học để viết, để tái hiê ̣n văn hóa lịch sử

Đến với Đội gạo lên chùa ta lại thấy một mặt khác của lịch sử văn

hóa hiện ra Không còn là hình tượng người mẹ, hình tượng những người phụ

nữ được văn học hóa mà ở đây nét văn hóa được tác giả khám phá qua một mảnh đất tương đối cũ nhưng lại được gia công, cày xới bằng những biện pháp, bằng những ngôn ngữ, nghệ thuật mới lạ, đó chính là việc viết về đạo

Phật Nếu ở Mẫu Thượng Ngàn là bối cảnh cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp vào những năm đầu của cao trào thì Đội gạo lên chùa là sự tiếp bước,

có thể coi là tập hai đươ ̣c viết tiếp của Mẫu Thượng Ngàn Bối cảnh trong Đội gạo lên chùa vào những năm cuối cuộc chiến chống thực dân Pháp, tiếp

đó, cuộc kháng chiến chống Mỹ cho đến ngày giải phóng thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Điều đặc biê ̣t ở đây là tác giả la ̣i chọn đạo Phật làm đất diễn cho mình chứ không phải là những câu chuyê ̣n trong chiến trường như ta thường

gặp trong văn ho ̣c cách ma ̣ng Đạo Phật là tôn giáo lớn nhất, là quốc giáo của Việt Nam Chính vì thế, trong tâm hồn mỗi người dân Việt đều vương vấn ít nhiều ý niệm của đạo Phật, triết lý nhà Phâ ̣t Văn hóa của người Viê ̣t chính vì thế mà chi ̣u ảnh hưởng sâu sắc chất Phâ ̣t giáo

Hai cuốn tiểu thuyết là minh chứng cho nhiệt huyết như dòng máu

nóng mải miết chảy trong huyết quản của tác giả Nhà văn đã khám phá, mổ

xẻ, lưu giữ tất cả những cái gì được coi là hồn cốt dân tộc chứa trong con người mình, trong cô ̣ng đồng dân tô ̣c mình Đồng thời nó còn là một sức mạnh siêu nhiêu thổi bùng ngọn lửa văn hóa trong mỗi người dân Việt

Trang 29

sử dựa theo văn hóa vẫn còn là điều mới mẻ trong thể loại tiểu thuyết lịch sử

Vì vậy, ngay sau khi ra đời, hai cuốn tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa đã dội lên một làn sóng nổi đình nổi đám, đã làm mọi con mắt

đổ dồn vào mổ xẻ, bình luận, nhận xét Hàng loạt cuộc họp báo đã diễn ra, hàng loạt bài viết nghiên cứu về hai cuốn tiểu thuyết này xuất hiện Cùng với

đó là một loạt những giải thưởng danh giá về văn ho ̣c đã được trao tới tác giả

để công nhận những đóng góp của ông cho sự nghiệp văn chương nước nhà

Cả hai cuốn tiểu thuyết trên đều cho ta thấy chất lịch sử – văn hóa khá đậm nét Có thể nói trong cả hai cuốn tiểu thuyết của mình, tác giả đã sử dụng lối trần thuật nhẹ nhàng, sâu sắc và không ít gay gắt để viết về lịch sử – văn hóa của dân tộc Sử dụng lối viết này, tác giả không những lột tả được bức chân dung lịch sử – văn hóa dân tộc mà còn làm cho bức họa ấy bội phần chi tiết hơn, sâu sắc hơn

Trong Mẫu Thượng Ngàn, hình tượng thánh Mẫu được tác giả khắc

họa thông qua nhân vật là những người phụ nữ Việt Những con người ấy đươ ̣c coi như là Mẫu “sống” trong đời sống sinh hoa ̣t của dân tô ̣c Viê ̣t Cái đặc biệt trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh là ở đó, ông không nói một cách sáo rỗng về vẻ đẹp của thần thánh, không thần thánh hóa hình ảnh các vị thần theo lối viết truyền thống, ông chỉ làm cho người ta hiểu được rằng thánh thần, Phật là ở trong tâm, là hiện hữu ở mỗi con người, là có thật

trong đời sống Chính vì thế dường như người phụ nữ nào hiện lên trong Mẫu

Trang 30

30

Thượng Ngàn cũng đều mang vẻ đẹp phồn thực, vẻ đẹp riêng trong chuẩn

mực của người Việt như nhân vật Nhụ, bà ba của Lý cỏn, cô Mùi, cô Hoa, thím Pháo…Họ đều đươ ̣c khắc ho ̣a là những người đàn bà có bầu ngực lớn, những cặp mông tròn lẳn…Đó là dấu hiệu của sự mắn đẻ, của sự sinh sôi, nảy nở…trong tín ngưỡng phồn thực của người dân lúa nước

Khảo sát cụ thể ở Mẫu Thượng Ngàn ta thấy, ngay những trang đầu

của tác phẩm tác giả đã nói về những nét văn hóa lịch sử vốn có của dân tộc, bản sắc của người dân Việt liên quan tớ i Đa ̣o Mẫu Tác giả đã để cho nhân vật Nhụ hát lên những khúc hát chầu văn cổ xưa trong tín ngưỡng thờ Mẫu như: “Cô đi chơi mười tám cửa ngàn/ Ba mươi sáu động sơn trang các tòa” Những “cô” vị hầu cận của Mẫu cô Chín, cô Bơ, cô Bé…các ông Hoàng Ba, quan Hoàng Mười, quan Hoàng Bảy Bảo Hà…Mỗi vị ấy đều có những câu hát thể hiện bề ngoài cũng như tính cách riêng biệt của mình Mỗi câu hát về mỗi nhân vật trong chầu văn phải được hát bằng những thứ giọng thích hợp mới hay được, các cô thì hát bằng giọng “kim” thanh cao, lanh lảnh; các cậu thì phải hát bằng giọng “thổ” trầm ấm

Muốn qua đền Mẫu phải vượt ngược dòng một con sông, leo lên núi Mẫu Đó có phải tố chất tạo nên sự linh thiêng, không vương bụi của đạo Mẫu Nhưng không chỉ có thế, dường như đền Mẫu còn được khoác trên mình kiểu kiến trúc sắc sảo, cổ kính Mẫu được tái hiện bằng những câu miêu

tả, bằng những hình ảnh sinh động: “Mẫu đang ngự trên chiếc võng điều được chăng giữa cây táo và cây sung Chim họa mi đặt trên vai Mẫu Trên cành sung phía bên phải, con vượn nhỏ nghịch ngợm đánh đu Mười hai cô nàng đứng hầu (…) Phía dưới bức tranh là cảnh núi rừng bao la Và trên rừng là một đôi hài đang bay” [23, tr 420]

Nguyễn Xuân Khánh không chỉ tái hiện lại vẻ đẹp của Mẫu Thượng Ngàn mà còn lý giải về văn hóa đạo thờ Mẫu của người Việt, đạo Mẫu thờ tứ

Trang 31

31

phủ: Mẹ Trời (Mẫu Thượng Thiên), Mẹ Đất (Mẫu Thượng Ngàn), Mẹ Nước (Mẫu Thoải), Mẹ Người (Mẫu Liễu Hạnh) Thứ tôn giáo đạo Mẫu thực sự đươ ̣c coi là chỗ dựa tinh thần cho những người dân lao động, đồng thời nó còn là nơi gửi gắm bao hi vọng, ước mong về một tương lại tốt đẹp: Mẹ sẽ che trở cho tất mọi sự số ng và các con của Mẹ phải biết kính trọng, làm vừa lòng Mẹ, phải dâng Mẹ những thứ tinh khiết, giá trị nhất của mình Nhưng có

lẽ ngoài sự thể hiện tín ngưỡng văn hóa, thờ Mẫu, cú ng Mẫu còn thể hiện những cách thức giải trí của người nông dân sau những ngày lao động mệt nhọc, ho ̣ muốn gửi tâm hồn của mình vào những điệu hát chầu văn vang lảnh, sâu xa…

Trong Mẫu Thượng Ngàn, tác giả không chỉ tái hiện lại tín ngưỡng

thờ đạo Mẫu mà còn tái hiê ̣n la ̣i hàng loạt những nét văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam Dường như Nguyễn Xuân Khánh muốn dựng lại những nét văn hóa từ lâu đã phần nào bị hao mòn, những câu chuyện, tục lệ tưởng đã mất đi từ rất lâu rồi nay lại có cơ hội được thấy lại, chỉ trên trang giấy thôi mà những nét văn hóa ấy như đang sống cùng với thời đại này Một trong số đó là tục lệ “trải ổ” của người dân làng Cổ Đình trong lễ hội ông Đùng, bà Đà: sau sự giao hoan của hai hình nhân ông Đùng, bà Đà là tục “trải ổ” Đôi trai gái nào yêu nhau, họ sẽ cùng nhau chuẩn bị một chiếc ổ sạch sẽ ở trong hang đá hoặc một gốc cây nào đó trong rừng rồi sau đó chia nhau đi thành hai hướng Họ hẹn gặp nhau một chỗ (chiếc ổ sạch sẽ, chiếc giường tình đã cùng nhau chuẩn bị trước đó) và giao hoan với nhau trong rừng, đứa con họ sinh ra sẽ là đứa con của trời Những tục lệ này nằm trong tín ngưỡng phồn thực, cầu mong sự sinh sôi nảy nở, con đàn cháu đống theo văn hóa của người Việt, văn hóa lúa nước

Ngoài tục lệ “trải ổ”, tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn còn có nhiều tục

lệ khác về văn hóa ma chay với những nghi lễ cúng tế độc đáo Hai từ “trùng

Trang 32

32

tang” cũng đã được lý giải ở đây (cái chết của thằng con trai cả nhà Lý Cỏn

và cái chết của bà mẹ nó), hay cái tục lệ mõ làng, đặc biệt là nét văn hóa tôn

sư trọng đạo của người dân làng Cổ Đình – một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy

Ở Đội gạo lên chùa ta lại thấy hình ảnh đẹp đẽ của đức Phật được

hiện lên qua hình ảnh những nhân vật là những nhà sư: sư cụ, sư Vô Úy, con

hổ của sư cụ…Ở họ toát ra vẻ đẹp của đức Phật, sự từ bi hỉ xả, sự khoan dung

độ lượng…Nhưng ở họ còn toát ra được cái đẹp trần tục, đó là kiếp người, kiếp luân hồi hay sinh, lão, bệnh, tử Nguyễn Xuân Khánh viết về văn hóa Phật giáo nhưng ông không hề muốn thanh minh, lý giải những điều xấu mà người ta gán cho tôn giáo đạo Phật là “ba cô đội gạo lên chùa, một cô yếm

thắm bỏ bùa cho sư” Ở ngay nhan đề tác phẩm (Đội gạo lên chùa) đã làm

cho người đọc thấy cái không bình thường, càng đi sâu vào tác phẩm, những lời lẽ không bình thường lại hiện ra: sư hổ mang… Nhưng nó lại không làm chúng ta cảm thấy ghê tởm mà đó chính là cái thật nhất của con người, sự linh thiêng của đất Phật, ánh hào quang Phật là nằm ở trong tâm của mỗi người Tôn giáo là một lĩnh vực nhạy cảm mà bấy lâu nay các nhà văn đều có

ý lẩn tránh, không động tới nhiều Nhưng ở đây, tác giả không những chỉ nhắc tới mà còn đào sâu, mổ xẻ, phanh trần hết để ta thấy được cái hay, cái đẹp, cái lý do mà tại sao Phật giáo lại tồn tại lâu như thế trong đời sống, trong tâm khảm mỗi người dân Việt

2.2 Lịch sử – văn hóa trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo

lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh

2.2.1 Tính Mẫu và văn hóa tính Mẫu trong “Mẫu Thượng Ngàn”

Nguyên lý tính Mẫu trước hết là sự ca tụng những phẩm tính huyền diệu của người mẹ Nguyên lý tính Mẫu còn là sự biểu hiện của Cổ Mẫu –

Mẹ khi có một thế giới với những giá trị được chứa hoặc là tất cả những gì to

Trang 33

33

lớn, bao bọc, chở che, nương náu, bảo tồn, nuôi dưỡng và sưởi ấm cho những

gì được coi là nhỏ bé, bất hạnh Có thể nói, Mẫu tính hay Cổ Mẫu luôn là những ước mơ khát vọng cháy bỏng nhất trong các sáng tạo nghệ thuật từ điêu khắc, hội họa, âm nhạc, kiến trúc tới văn học…Đó là sự trở về với cội nguồn, là ước vọng cần một bàn tay quê hương chở che cho số phận con người Trong tiểu thuyết của mình, Nguyễn Xuân Khánh cũng chọn tính Mẫu làm sợi dây xâu chuỗi mạch cảm xúc của mình để tạo ra tác phẩm lịch sử –

văn hóa đặc sắc này Sự cố kết cộng đồng trong Mẫu Thượng Ngàn được thể

hiện rõ nhất trong niềm tin về Mẫu Trong khoảng không gian nhỏ ngôi làng

Cổ Đình, tác giả đã thu nhỏ xã hội Việt Nam vào đó Hơn thế, ngôi làng miền núi này còn là yếu tố khẳng định sự lan truyền yếu tố tín ngưỡng thờ Mẫu, được coi là sản sinh từ xã hội nông nghiệp của vùng đồng bằng Bắc Bộ Khi

đã lên tới vùng sơn cước này thì thực sự sức lan tỏa mạnh mẽ của Mẫu, thậm chí còn lấn át cả tín ngưỡng thờ đa thần cổ xưa

Bằng cách tập trung thể hiện các tín lý trong thế lưỡng hợp: hang động, cây đa, cây đề, cây gạo, sương, nước, sông, mưa, lửa, trăng, dịch tả, rừng núi, đàn bà, ao hồ, vườn ruộng… bức tranh làng Cổ Đình cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX không còn là cố định nữa mà nó còn tồn tại trong mình một “siêu tồn tại” trong tính phi lịch sử của nó Bởi ở đây, tác giả đã chạm đến những hệ lụy của ngôi đền thiêng liêng vốn ẩn náu bấy lâu trong tiềm thức cộng đồng – ngôi đền thờ Mẫu Tính Mẫu trong tác phẩm trước hết là quyền uy của Đạo Mẫu, nó thể hiện niềm tin tuyệt đối của con người trong cuộc chứng kiến có cả sông, núi, cỏ hoa, lá cành lại thêm tâm hồn thành kính của con người vào đó Ngôi đền thờ Mẫu là nơi dung chứa những khát vọng

và nỗi niềm của mọi người dân quê nghèo khổ, nơi ấy dường như thành chốn

linh địa…“Cái tôn giáo dân gian ấy đã an ủi bao tâm hồn cay cực của nông

dân” [23, tr 421] Trong con mắt của cụ phó bảng Vũ Huy Tân, Đạo Mẫu

Trang 34

34

được coi như là một nơi giải thoát: “Ngồi đồng là gì? Là làm cho con người

ta đạt tới chỗ tâm hư, để hòa đồ ng cùng thế gian Thần thánh cũng ở trong ta

Phàm tục cũng ở trong ta Tất cả thế gian đều là một” [23, tr 695] Sự sùng

kính Đạo Mẫu còn thể hiện qua sự ngưỡng vọng ngây thơ, hồn nhiên, chân thật nhất của nhân vật Nhụ – một thôn nữ chân chất, non nớt, tin vào kinh nghiệm của người khác, qua sự linh nghiệm về việc cầu từ của bà Lý Cỏn cả, qua sự mê đắm của những tâm thức hướng Mẫu, qua vẻ đẹp của bà Tổ Cô, vẻ đẹp của đền Mẫu…Còn trong con mắt cả các nhà chinh phục “đó là đạo thờ khí thiêng của thiên nhiên, thờ người mẹ đã sinh thế gian này Thờ như vậy tức là thờ những điều cao quý nhất” [23, tr 427] Như vậy, cuộc sống của mỗi con người là hướng về Mẹ, là tâm thức hướng Mẫu Đó là ngưỡng vọng đòi hỏi con người ta cần: “Ta càng sạch sẽ bao nhiêu, càng thánh thiện bao nhiêu, ta càng rũ bỏ tục lụy bao nhiêu thì Mẫu càng gần ta bấy nhiêu” [23, tr 606] Tầm quan trọng của Đạo Mẫu trong việc thanh lọc những bụi bẩn được thể hiện tập trung qua nhân vật bà Tổ Cô Là một người mang trong mình hai thứ tôn giáo, bà đã cải từ đạo Thiên Chúa để về với Đạo Mẫu hay nói cách khác là qua những thăng trầm, biến cố của cuộc đời (chứng kiến cuộc chém giết vì đạo Thiên Chúa, người chồng chết, niềm cứu rỗi duy nhất là đứa con cầu tự), bà đã thực sự nhận thấy sự kỳ diệu, thiêng liêng của đạo Mẫu và cùng mọi người hòa chung vào Mẫu: “Họ đã mang sẵn căn địa của lòng sù ng tín Họ sẵn sàng đến để nhập thế cuộc, mê đắm, sẵn sàng rũ bỏ những lụy tục thường nhật để dấn thân vào những cõi trời siêu nghiệm xa lạ, ở đó ta trở về với ta, tức là trở về với mẹ, ở đó là sự yên bình, niềm an ủi, cái diệu kỳ thánh thiện…” [23, tr 705] Vì thế, bà coi Đạo Mẫu đồng đẳng với các tôn giáo lớn như Thiên Chúa giáo: “Đạo nào cũng thế cả thôi Đạo Giê-su cũng như Đạo Mẫu Tất cả đều chỉ là khuyến thiện Người theo đạo Gia-tô chăm chú sửa mình sao cho gày càng gần với Chúa hơn Còn chúng ta thì làm sao cho mình

Trang 35

35

hòa với Mẫu…” [23, tr 696] Cái đẹp của Đạo Mẫu cũng được thể hiện qua nhân vật Mùi, người đàn bà cao lớn hơn người nhưng là một người đàn bà đẹp, có sức quyến rũ, nhất là cái vẻ đẹp khi bà hầu đồng: “Bà Mùi chợt nhìn thấy trong tâm tưởng mình một điểm hồng (…) Cửa huyền vi đã mở Bà tung khăn phủ điện Lúc này, bà đã ở trạng thái hoàn toàn ngất ngây, hoàn toàn siêu thoát Thánh đã nhập đồng” [23, tr 706] Vẻ đẹp đó còn ở nhân vật Nhụ Nhụ là một người con gái có nước da trắng hồng, mái tóc dài đen láy, con mắt trong veo…Cô còn là một người con gái thông minh, ngoan ngoãn, nhanh nhẹn, hồn nhiên và mang trong mình một tâm tính an nhiên Đặc biệt, Nhụ mang trong mình giọng hát hay như chim họa mi, một năng khiếu bẩm sinh được truyền từ người mẹ đã khuất của mình Cô thuộc và hát hay tất cả những bài hát chầu văn, giọng hát của Nhụ đi vào lòng người, làm vừa lòng

cả những bậc khó tính nhất như bà Tổ Cô ở đền Mẫu…Vậy nhưng cuộc đời của cô lại gặp những điều đau khổ, cái đêm “trải ổ” lại bị cưỡng hiếp bởi tay

người Tây độc ác để rồi sinh ra bé Nhị

Có thể nói trong tác phẩm của mình, Nguyễn Xuân Khánh đã “thiên vị” người phụ nữ Tiểu thuyết có khoảng 40 nhân vật nữ thì tất cả họ đều mang trong mình những vẻ đẹp phồn thực, vẻ đẹp của người đàn bà Việt Đó

là cô Ngơ, bà Ba Váy, cô Mùi, Nhụ, Hoa…mỗi nhân vật đều được nhà văn biểu tả trong cái nhìn lãng mạn vừa để lộ các vẻ đẹp nhằm ngợi ca, đồng thời như vừa cất giấu sợ làm rơi mất nó Tất cả họ đều mang bản năng của người phụ nữ, tình yêu mãnh liệt tràn ngập tâm hồn Họ yêu hết mình, yêu cuồng nhiệt, yêu vô bờ bến, lòng tận tâm sâu sắc và đặc biệt hơn cả là khả năng tái sinh, ban tặng sự sống cho những người đang tàn lụi: bà Ba Váy kéo chồng mình là ông Lý Cỏn từ cõi chết trở về, Nhụ kéo chồng mình – anh Điều cũng

từ cõi chết trở về… cái bản năng đó có người phụ nữ Việt khiến kẻ ngoại lai xâm lược không thể nào lý giải được Nó đâu chỉ là những hình tượng mang

Ngày đăng: 09/05/2021, 17:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w