Tình hình nghiên cứu và đóng góp của đề tài Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là một tư tưởng lớn, nó có tác động sâu sắc đến truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam, xuyên suốt và ăn s
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
Giáo viên hướng dẫn : ThS Cao Đức Dũng Sinh viên thực hiện : Lê Văn Chùy
Đà Nẵng, 05/2014
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Đạo đức là một trong những truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam được truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác Nhờ đó ta mới xác định được hành vi, thái độ ứng xử của mình, biết phân biệt được phải trái, đúng sai để sống tốt và chiến thắng mọi cái xấu Và đến thời đại Hồ Chí Minh, tư tưởng đạo đức của Người là hòn ngọc quý làm rạng rỡ hơn những giá trị đạo đức truyền thống vốn có của con người Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ thiên tài, người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà tư tưởng, danh nhân văn hoá của thế giới Đạo đức cách mạng của Người luôn
là tấm gương sáng cho toàn Đảng, toàn dân, và toàn quân, đặc biệt là đội ngũ tri thức phấn đấu học tập và noi theo Người đã từng dạy chúng ta rằng, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần phải có những con người xã hội chủ nghĩa Đó
là một con người phát triển toàn diện, có tư tưởng và tình cảm đẹp, có tri thức và năng lực làm chủ xã hội, làm chủ bản thân, có cuộc sống tập thể và cuộc sống cá nhân hài hòa, có sự phát triển đầy đủ về các mặt: tri thức, đạo đức, thể chất và thẩm
mỹ
Thanh niên - sinh viên là một lực lượng đông đảo trong xã hội, là nguồn lực quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước và là đội quân dự bị then chốt của Đảng Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Một năm khởi đầu
từ mùa xuân Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội" Nếu không có thế hệ trẻ, sẽ không có sự phát triển nối tiếp lịch sử của mỗi quốc gia, dân tộc, cũng như không có sự phát triển của nhân loại Chính vì vậy, trong các thời kỳ cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ, đặc biệt là sinh viên cả về trình độ học vấn, chuyên môn đến lý tưởng
Trang 3tộc vừa “hồng” vừa “chuyên”, là lớp người xứng đáng kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc vì mục tiêu “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, nên hơn ai hết, sinh viên phải có đủ năng lực, trình độ, phẩm chất của một con người mới xã hội chủ nghĩa để xây dựng đất nước và phục vụ nhân dân
Từ năm 1986, Việt Nam chính thức bước vào thời kỳ đổi mới, xoá bỏ chế độ bao cấp và chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước tham gia vào quá trình toàn cầu hoá và hội nhập với thế giới và khu vực Đây vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với quá trình phát triển của đất nước Việt Nam Bên cạnh mặt tích cực, quá trình toàn cầu hoá và hội nhập cũng bộc lộ không
ít hạn chế, mâu thuẫn với bản chất của chủ nghĩa xã hội, tác động tiêu cực đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, nhất là lĩnh vực đạo đức và lối sống Sinh viên là một tầng lớp xã hội “đặc thù”, năng động, sáng tạo trong học tập, có
ý chí vươn lên, thích tìm tòi cái mới và dễ thích nghi với cái mới nhưng do kinh nghiệm và vốn sống còn hạn chế, sự trải nghiệm chưa nhiều… nên sinh viên cũng dễ bị ảnh hưởng từ mặt tiêu cực và phức tạp của xu thế toàn cầu hoá và hội nhập Thực tế cho thấy, bên cạnh đại bộ phận sinh viên say mê trong học tập, chịu khó trong trau dồi, rèn luyện đạo đức, phẩm chất nhân cách để trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước, vẫn còn một bộ phận không nhỏ sinh viên sống thực dụng, xa hoa, lãng phí, thậm chí có lối sống “thác loạn”, xa rời truyền thống đạo lý của dân tộc Tại Đại hội X, Đảng ta chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái, xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm đáng lo ngại, nhất là trong lớp trẻ”
Để khắc phục sự suy thoái về đạo đức, lối sống trong một bộ phận sinh viên,
để không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, bồi dưỡng thế giới quan, nhân sinh quan cách mạng cho sinh viên, đào tạo các thế hệ sinh viên Việt Nam kế tục và phát huy nguyên khí quốc gia, lực lượng bổ sung quan trọng cho đội ngũ trí
Trang 4công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hòa nhập vào xu thế toàn cầu hóa và hội nhập với thế giới để phát triển đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa Đó là lí do tôi
chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí minh về đạo đức và vận dụng vào xây dựng đạo đức, lối sống cho sinh viên trong thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay” làm
đề tài khóa luận của mình
2 Tình hình nghiên cứu và đóng góp của đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là một tư tưởng lớn, nó có tác động sâu sắc đến truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam, xuyên suốt và ăn sâu vào trong mỗi con người Việt; là đề tài lớn có tầm quan trọng thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu
Mặt thứ nhất, các công trình nghiên cứu về đạo đức và tư tưởng đạo đức Hồ
Chí Minh được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm như:
- Phạm Ngọc Uyển, đạo đức Hồ Chí Minh tư tưởng nhân đạo, dân chủ, Nxb
Đà Nẵng, 1990
- Đinh Xuân Lâm – Bùi Đình Phong, giá trị trường tồn của tư tưởng đạo đức
Hồ Chí Minh trong lòng nhân loại tiến bộ, Tạp chí Thông tin lý luận, 1995
- Lâm Quốc Tuấn – Trần Văn Toàn, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức vừa “hồng” vừa “chuyên” cho thanh niên trí thức, Tạp chí Lý luận chính trị,
Mặt thứ hai, vấn đề giáo đạo đức, lối sống cho thanh niên, sinh viên được
nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu theo những khía cạnh, cách tiếp cận khác nhau như :
Trang 5- Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Phúc, mấy vấn đề về đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống quan điểm Hồ Chí Minh
về đạo đức và vận dụng vào xây dựng đạo đức, lối sống cho sinh viên trong thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập Những tài liệu trên của các tác giả là nguồn tư liệu quý giúp tôi tiếp thu tham khảo, làm định hướng cho đề tài nghiên cứu của mình Vì vậy, tôi mạnh dạn nghiên cứu vấn đề này làm khóa luận của mình với lòng mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn đã và đang đặt ra hiện nay
Trong quá trình hoàn thành khóa luận, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do hạn chế về trình độ, thời gian, tài liệu nên không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn sinh viên để khóa luận của tôi ngày càng hoàn thiện hơn
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trang 6Mục đích: Nghiên cứu những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh
về đạo đức và vận dụng vào xây dựng đạo đức, lối sống cho sinh viên trong thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập
Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, khóa luận giải quyết các nhiệm vụ
sau:
- Làm rõ nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
- Làm rõ tác động của xu thế toàn cầu hóa và hội nhập đối với sinh viên hiện nay; từ đó nêu ra thực trạng đạo đức, lối sống của sinh viên trong thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu để xây dựng đạo đức, lối sống cho sinh viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận : Khóa luận được triển khai trên nền tảng các quan điểm của
chủ nghĩa Mác–Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng về đạo đức, sinh viên và giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên, đồng thời sử dụng các tài liệu liên quan
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau: Ngoài phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, khóa luận còn sử dụng các phương pháp lôgíc, phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, nghiên cứu thực tiễn
5 Ý nghĩa của khóa luận
Nghiên cứu đề tài góp phần tìm hiểu, kế thừa những giá trị đạo đức của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức Nhận định đúng đắn, khách quan về đạo đức, lối sống của sinh viên trong thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập, từ
đó vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức vào xây dựng đạo đức, lối sống cho sinh viên trong thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập nhằm hình thành một thế hệ đội
Trang 7ngũ tri thức có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ để xây dưng đất nước trong thời
kỳ mới hiện nay
Giúp tôi làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học Khóa luận này có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên trong việc nghiên cứu học tập các bộ môn Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong các nhà trường
6 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luận gồm 02 chương, 05 tiết
Trang 8PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I
CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ ĐẠO ĐỨC 1.1 Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh
Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (tháng 2-1951) đến nay, Đảng ta luôn luôn khẳng định vai trò, ý nghĩa, tác dụng của đường lối chính trị, tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6 - 1991), Đảng Cộng Sản Việt Nam
đã trân trọng ghi vào Cương lĩnh và Điều lệ của mình: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động” Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4 – 2001) một lần nữa khẳng định lại điều này Đây là một sự tổng kết sâu sắc, bước phát triển mới trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta và là một quyết định quan trọng có ý nghĩa lịch sử, đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp cách mạng nước ta, tình cảm nguyện vọng của toàn Đảng toàn quân, toàn dân ta
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh” là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của Cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị
truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại [20]
Định nghĩa về tư tưởng Hồ Chí Minh như trên thể hiện bốn nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa
Trang 9Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta
Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết hợp tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người
Thứ tư, tư tưởng Hồ Chí Minh là ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong suốt hơn 70 năm qua và tiếp tục soi sáng con đường chúng ta tiến lên xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng là hệ thống những quan điểm toàn diện và sâu sắc của Người về những chuẩn mực và những nguyên tắc chuẩn mực của nền đạo đức mới Tổng hợp những chuẩn mực đó thành phẩm chất đạo đức của mỗi cá nhân, tập thể xây dựng những nguyên tắc trong việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức mới Hai nội dung này nhằm mục đích phát triển con người một cách toàn diện, hướng tới các giá trị cao đẹp Chân - Thiện - Mỹ
1.2 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
1.2.1 Truyền thống đạo đức cách mạng Việt Nam
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hòa những quy tắc, chuẩn mực xã hội nhờ đó con người tự điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội trong quan hệ giữa người với con người, giữa cá nhân với xã hôi
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự phản ánh của đời sống xã hội, của thực tiễn cách mạng Việt Nam, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam thông qua nhận thức và hành động của Hồ Chí Minh Không thể hiểu được tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh nếu như không tìm hiểu nó trong mối quan hệ với truyền thống đạo đức dân tộc Dân tộc Việt Nam là một dân tộc tôn trộng đạo đức Nhân dân ta luôn luôn đòi hỏi mỗi người phải tu dưỡng đạo đức để giữ làng, giữ
Trang 10nước Trong quá trình đó đã hình thành nên đạo lý làm người của dân tộc Việt Nam
Việt Nam là một dân tộc có một truyền thống đạo đức sâu sắc Đạo đức của con người Việt Nam thể hiện đầy đủ các quan hệ của con người với con người, với
sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc Nhờ phát huy truyền thống đó của dân tộc mà thế hệ này nối tiếp thế hệ khác đã vượt qua muôn vàn khó khăn nhưng vẫn giữ được bản sắc dân tộc, xây dựng đất nước như ngày nay Quá trình ra đời và hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng về đạo đức của Người nói riêng
có nền tảng từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam mà chủ nghĩa yêu nước
là sợi chỉ xuyên suốt của truyền thống ấy Yêu nước là một truyền thống ăn sâu vào từng con người Việt Nam qua nhiều thế hệ, nó chi phối đến tất cả các vấn đề quan trọng của dân tộc Truyền thống yêu nước Việt Nam như đồng nghĩa với “chủ nghĩa yêu nước”, “tinh thần yêu nước”, “tư tưởng yêu nước”…và “chủ nghĩa anh hung cách mạng” trong thời đại Hồ Chí Minh
Truyền thống yêu nước ra đời và được củng cố phát huy cùng với sự ra đời, phát triển, tồn vong của dân tộc suốt hàng ngàn năm Ngay từ thời chưa có chử viết trong các truyền thuyết đã nói về truyền thống đánh giặc giữ nước như “Thánh Gióng”, “Mỵ Châu, Trộng Thủy, “ Hồ Hoàn Kiếm”…những truyền thống ấy sống mãi với dân tộc, nó vừa là sản phẩm của chủ nghĩa yêu nước vừa góp phần hun đúc lòng yêu nước, ý chí đoàn kết triệu người như một “thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”[36,480]
Nét nổi bật trong truyền thống đạo đức Việt Nam là tinh thần gắn kết cộng đồng Trong họ, ngoài làng, việc nước, việc làng, thống nhất lòng yêu gia đình, yêu quê hương với lòng yêu nước Ở Hồ Chí Minh yêu nước đã trở thành khát vọng cứu nước, cứu dân cháy bỏng Cả cuộc đời Người “chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân tộc ta hoàn toàn tự do,
Trang 11Chí Minh khơi nguồn , kế thừa xuất sắc truyền thống yêu nước ấy, từ đó thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu nước để giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân
Bên cạnh truyền thống yêu nước, dân tộc ta còn có truyền thống yêu quý con người, thể hiện truyền thống nhân nghĩa Tình thương yêu con người đã đi vào ca dao, tục ngữ và trở thành quan niệm sống của con người Việt như: “Thương người như thể thương thân”, “ máu chảy ruột mềm”, “môi hở răng lạnh”, lá lành đùm lá rách”…Nét đặc trưng nổi bật thể hiện truyền thống nhân nghĩa của dân tộc chính là
ở chổ các thế hệ đi sau luôn luôn ghi lòng tạc dạ công lao cống hiến của thế hệ cha anh đi trước trong sự nghiệp dựng nước, giữ nước, khai sáng nền văn hóa của dân tộc Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: Chúng ta có quyền tự hào về những trang lịch sử vẽ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hung dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng
Nhân dân ta có truyền thống đề cao đức tính cần cù, giản dị, tiết kiệm,…đồng thời cũng phê phán gay gắt các thói xấu trong xã hội như tham ăn, lười biếng, khoác lác…Trong khi nêu cao những phẩm chất đạo đức cần có, nhân dân ta cũng đòi hỏi nó phải được thể hiện cụ thể trong hành vi hàng ngày, tức là trong thực hành đạo đức: “Nói đi đôi với làm, ngôn hành phải hợp nhất”
Hồ Chí Minh đánh giá cao đạo đức truyền thống của dân tộc, đã kế thừa, tiếp thu, khai sáng những tư tưởng đạo đức truyền thống của dân tộc cùng với nhiều giá trị đạo đức của nhân loại và nâng nó lên một tầm cao mới dưới ánh sáng tư tưởng đạo đức Mác – Lênin
1.2.2 Tư tưởng đạo đức phương Đông, phương Tây
Hồ Chí Minh xuất thân trong gia đình khoa bảng, từ nhỏ Người đã được hấp thụ môt nền Quốc học và Hán học khá vững vàng Khi ra nước ngoài, Người có thể viết văn Anh, văn Pháp sắc sảo như một nhà báo phương Tây thực thụ, nhưng khi
Trang 12cho Người tiếp thu được tinh hoa văn hóa nhân loại và làm nên nét đặc sắc ở Hồ Chí Minh, một con người biểu tượng cho sự kết hợp hài hòa văn hóa Đông – Tây
Những giá trị đạo đức phương Đông ảnh hưởng đến Hồ Chí Minh trước hết
và cơ bản là Nho giáo Nho giáo là một học thuyết chính trị - đạo đức Giai cấp phong kiến lấy nho giáo là hệ tư tưởng của mình, nhưng không nên đồng nhất Nho giáo với hệ tư tưởng phong kiến Hồ Chí Minh đã tìm thấy những tư tưởng tiến bộ, tích cực trong Nho giáo Thái độ của Hồ chí Minh đối với Nho giáo là một mẫu mực về phương pháp luận Theo Nguời, cái gì gắn với ý thức hệ phong kiến, phục
vụ lợi ích của giai cấp thống trị thì phê phán triệt để như tư tưởng đẳng cấp, khinh lao động chân tay, coi thường phụ nữ, cái gì có giá trị tích cực, có sức sống thì cần phải được kế thừa, cải tạo để sử dụng
Nho giáo vốn coi trọng tu dưỡng đạo đức, đề cao sức mạnh đạo đức, Nho giáo chủ trương từ thiên tử cho đến thứ dân ai cũng phải lấy tu thân làm đầu, bởi trách nhiệm của kẻ sĩ thì nặng, đi được xa Nói đến đạo đức Nho giáo Người thường nhắc đến như : “Dân là gốc”, “ dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm”, thuyết “đại đồng” Hồ Chí Minh coi đạo đức của Khổng Tử là hoàn hảo
Hồ Chí Minh đã kế thừa những yếu tố tích cực nói trên của đạo đức Nho giáo Tuy nhiên, giữa tư tưởng đạo đức Nho giáo và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
có sự khác biệt về bản chất , một bên là nhằm cũng cố trật tự, đẳng cấp phong kiến, phục vụ lợi ích giai cấp thống trị còn một bên để phục vụ sự nghiệp cách mạng, giải phóng người lao động Như Hồ Chí Minh đã nói: “Đạo đức cũ và đạo đức mới khác nhau nhiều, đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất, chân chổng lên trời”[41,320] Và chính Người đã lật ngược nó lại, đưa vào nội dung mới để phục
vụ cho sự nghiệp cách mạng
Hồ Chí Minh tiếp thu Nho giáo từ những người yêu nước qua bổn phận trung
Trang 13thuận lợi cho sự du nhập của chủ nghĩa Mác Mặt khác Hồ Chí Minh hiểu rõ xã hội Việt Nam đã chịu ảnh hưởng sâu đậm của Nho giáo Chính vì vậy Hồ Chí Minh đã khai thác, chắt lọc, phát triển một cách sáng tạo những nội dung của Nho giáo, nhất
là những mệnh đề đạo đức cho phù hợp với yêu cầu của cách mạng Người hiểu Nho giáo rất sâu sắc nên đã xem Khổng giáo như một thứ đạo đức học sử dụng nó
để giáo dục một nền đạo đức mới Hồ Chí Minh đã nói: “Đạo Khổng không phải là một tôn giáo, nói cho đúng hơn thì đó là một môn dạy đạo đức và phép xử thế”[35,114]
Cũng như Nho giáo, Phật giáo cũng ảnh hưởng đến tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Phật giáo vào Việt Nam từ rất sớm và ảnh hưởng rất mạnh đối với Việt Nam Hồ Chí Minh ảnh hưởng đạo phật bởi tư tưởng “ từ bi cứu khổ, cứu nạn”, “tư tưởng vị tha, bác ái, tư tưởng bình đẳng dân chủ” Phật giáo cũng đề cao nếp sống đạo đức, chăm làm điều thiện, coi trọng lao động, góp phần vào việc chống kẻ thù chung của dân tộc là chủ nghĩa thực dân
Đạo đức Hồ Chí Minh còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng tiến bộ như chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn Hồ Chí Minh là nhà mác xít tỉnh táo và sáng suốt, biết khai thác những yếu tố tích cực của tư tưởng văn hóa phương Đông để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam
Hồ Chí Minh có hàng chục năm sống ở phương Tây, chủ yếu là ở Anh và Pháp nên chịu ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức phương Tây Ảnh hưởng bao trùm lên đời sống văn hóa – đạo đức của xã hội phương Tây là tư tưởng Cơ đốc giáo, do
đó nói đến tư tưởng đạo đức phương Tây , trước hết là nói đến ảnh hưởng của đạo
Cơ đốc giáo Nét nổi bật của đạo Cơ đốc giáo là lòng nhân ái, thương người, tinh thần khoan dung, không cố chấp Chúa Giêxu răn dạy con chiên của mình hãy sống cho trong sạch, thủy chung, không tham lam, không trộm cắp, không dối trá,…phải
an ủi, cứu người hoạn nạn, bệnh tật, đói khát… Hồ Chí Minh thấy được mặt tích
Trang 14cực đó của đạo đức Cơ đốc giáo nên đã viết: “ Tôn giáo đều có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả”
Nói đến đạo đức phương Tây còn phải nói đến ảnh hưởng của truyền thống nhân văn phương Tây đối với đạo đức con người Người tiếp nhận tinh hoa văn hóa phương Tây thể hiện trong Tuyên ngôn độc lâp của Hoa Kỳ năm 1776, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1791; đó là những khẩu hiệu về tự do, bình đẳng, bác ái Tất nhiên, Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện được mặt trái của lá cờ
tự do, bình đẳng, bác ái qua sự đối lập giữa đạo đức giả dối mà giai cấp tư sản rêu rao với thực trạng đầy rẫy áp bức bất công trong xã hội tư sản Người thấy đó là những cuộc cách mạng chưa đến nơi, nó chưa thỏa mản được lý tưởng chính trị và đạo đức của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp giải phóng triệt để con người, nâng con người lên tầm một đạo đức mới
1.2.3 Quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin về đạo đức
Chủ nghĩa Mác – Lênin phản ánh tính liên tục và tính cách mạng trong lĩnh vực đạo đức Lênin khẳng định có một nền đạo đức cộng sản, một luân lý cộng sản
mà cốt lõi là một chủ nghĩa nhân đạo hiện thực Đạo đức mác xít vì hạnh phúc, tự
do, bình đẳng, bác ái thật sự của con người từ trong quá trình lao động sản xuất Quan niệm đạo đức học Mác – Lênin lấy chủ nghĩa lịch sử làm cơ sở, xem xét đạo đức như một quá trình sáng tạo ra những giá trị mới trong những mối quan hệ giữa người với người Dựa trên quan niệm trước đây về đạo đức chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định: Đạo đức với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, là “toàn bộ những quan niệm về thiện, ác, tốt, xấu, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng…
và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với cá nhân trong xã hội” Như vậy chủ nghĩa Mác – Lênin luôn định đạo đức là bắt nguồn từ trong đời sống của xã hội
Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác – Lênin là tìm con đường giải phóng
Trang 15ảnh hưởng đến tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đó là tư tưởng đạo đức hành động Khi nói đến đạo đức Hồ Chí Minh luôn coi phẩm chất con người trong hoạt động là điều kiện tinh thần cần thiết để đạt được kết quả cuối cùng Hồ Chí Minh nói: “ Sức
có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa Người cách mạng phải có đạo đức làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ vẽ vang”’[33,100] Hồ Chí Minh đã học tập, rèn luyện theo gương đạo đức Lênin, đó là một tấm gương đạo đức trong sáng, cao đẹp về lòng tin yêu quần chúng lao động, tin vào sức mạnh đoàn kết của nhân dân
Chủ nghĩa Mác – Lênin là gốc lí luận trực tiếp, quyết định bản chất tư tưởng
Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh khẳng định: “Chủ nghĩa Mác – Lênin đến với chúng ta,
…là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới những thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản” [39, 125 ]
Trước hết, Hồ Chí Minh đã tìm thấy ở chủ nghĩa Mác – Lênin con đường, cách thức để thực hiện được tư tưởng đạo đức lớn của mình là sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người Chủ nghĩa Mác – Lênin trở thành con đường duy nhất mà Người lựa chọn, như Người đã khẳng định “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất
là chủ nghĩa Mác- Lênin” [39, 268] Hồ Chí Minh đã tiếp nhận những luận điểm về đạo đức của Mác – Ăngghen, Lênin Đó là tư tưởng xây dựng một nền đạo đức thuộc về nhân dân lao động, giải phóng con người trước những bất công, đau khổ
Trên cơ sở tư tưởng đạo đức của Mác - Ăngghen, Lênin đã phát triển thành đạo đức cộng sản: “Là những gì góp phần phá huỷ xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản” [48, 369] Như vậy, Lênin đã chỉ rõ nội dung của giá trị đạo đức cộng sản là do thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân mang lại, được tạo nên bằng giáo dục và rèn luyện thường xuyên Thắng lợi
Trang 16của cuộc cách mạng vô sản do giai cấp công nhân thực hiện là tất yếu Do vậy, đạo đức cộng sản tất yếu hoàn thiện, tồn tại một cách phổ biến trong đời sống đạo đức của loài người Mặt khác, Hồ Chí Minh còn học hỏi được những tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng của Mác, Ăngghen, Lênin Đặc biệt, Người chịu ảnh hưởng rất lớn tấm gương Lênin, một tấm gương đạo đức trong sáng, giản dị, cao thượng, khiêm tốn…
Như vậy, học thuyết chủ nghĩa Mác Lênin luôn là ánh sáng soi rọi cho con đường cách mạng nước ta Từ một người Việt Nam yêu nước thương dân, Hồ Chí Minh với tài trí tuyệt vời đã tìm thấy ở chủ nghĩa Mác Lênin con đường giải phóng cho dân tộc, cho mọi tầng lớp người đau khổ Đó là tư tưởng cốt lõi của nền đạo đức cách mạng mà Hồ Chí Minh đã dày công xây dựng cho chúng ta
Tóm lại, chính nhờ có tư tưởng và tấm gương đạo đức của Mác – Ăngghen – Lênin, Hồ chí Minh đã hoàn thiện được tư tưởng đạo đức của mình Cần nói rõ thêm: Tư tưởng đạo đức Hồ chí Minh không phải chỉ là sự kế thừa, chắt lọc tinh hoa của đạo đức nhân loại Hồ Chí Minh thu hái tinh hoa đạo đức cổ - kim, đông – tây rồi vấn đề phép biện chứng duy vật mác xít làm thăng hoa toàn bộ giá trị đạo đức nhân loại đó, phù hợp với thực tiễn đấu tranh cách mạng của nhân dân ta, từ đó sáng tạo ra một hệ thống tư tưởng đạo đức mới, tư tưởng đạo đức Hồ chí Minh
1.2.4 Thực tiễn hoạt động của Người
Trước hết, Hồ Chí Minh có tâm hồn của một nhà yêu nước, một chiến sĩ cộng sản nhiệt thành cách mạng Người có một trái tim nóng bỏng tình yêu nước, thương dân, những người cùng khổ sẵn sàng chịu đựng những hi sinh cao nhất vì độc lập của Tổ quốc, vì tự do, hạnh phúc của đồng bào Người mang trong mình một trái tim lớn, một khát vọng cháy bỏng về độc lập tự do cho nhân dân, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho từng mái nhà Người luôn tận tuỵ hi sinh thầm lặng, chiến đấu hết mình cho sự nghiệp của dân tộc Người đã từng nói: “Một ngày
Trang 17mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên” [44, 419] Chính nét nhân cách này tác động rất lớn tạo nên đức lớn Hồ Chí Minh Đức này là đức của vĩ nhân kiệt xuất, tâm này là tâm của con người chân chính
Thêm vào đó, ở Người toát lên xuyên suốt một lối tư duy tự chủ, độc lập, sáng tạo cộng với đầu óc phê phán tinh tường, sáng suốt trong việc nghiên cứu, tìm hiểu các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc và nhân loại Đặc biệt, chủ tịch
Hồ Chí Minh đã vượt lên trước những người cùng thời để đến với chủ nghĩa Mác Lênin và coi đó là vũ khí tinh thần để giải phóng dân tộc Việt Nam Về vấn đề đạo đức, nhận thấy con đường cách mạng còn lâu dài, gian khổ nếu người cách mạng không bền gan, vững chí, giữ vững tinh thần thì sự nghiệp cách mạng sẽ đổ vỡ Người luôn đặt đạo đức cách mạng lên hàng đầu, lấy đạo đức làm chữ tâm trong giáo dục mọi người
Như thế, Hồ Chí Minh đã chuẩn bị cái “gốc” đạo đức cho mỗi chúng ta Đó
là một nền đạo đức mới, đối lập với đạo đức thủ cựu Nó mang nét độc đáo được toát lên từ chính phẩm chất, năng lực cá nhân Hồ Chí Minh Như đã nói, truyền thống đạo đức dân tộc, đạo đức nhân loại và những phẩm chất năng lực của Người
đã kết quyện nên hệ thống tư tưởng của Người về đạo đức Sẽ không thuộc về bất
cứ riêng một tư tưởng nào, Phật giáo, Nho giáo hay đạo đức tư sản… mà đó chính
là tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh đã làm một cuộc cách mạng trên lĩnh vực đạo đức ở Việt Nam Nó không phải là đạo đức phong kiến gò bó, trói buộc con người, đạo đức cá nhân chủ nghĩa, ích kỷ, cực đoan của giai cấp tư sản, càng không phải là đạo đức tôn giáo khắc kỷ, cam chịu Nó là nền đạo đức mang bản chất mới, đạo đức cách mạng
1.3 Nội dung tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
Trang 18Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của người cách mạng, Người khẳng định đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển của con người,
là cái gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang vì
sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” Người quan niệm đạo đức tạo ra sức mạnh, nhân tố quyết định sự thắng lợi của mọi công việc: “Công việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém” Quan niệm lấy đức làm gốc của Hồ Chí Minh không có nghĩa là tuyệt đối hoá mặt đức, coi nhẹ mặt tài Người cho rằng có tài mà không có đức là người vô dụng nhưng có đức mà không có tài thì làm việc
gì cũng khó Cho nên, đức là gốc nhưng đức và tài phải kết hợp với nhau để hoàn
thành nhiệm vụ cách mạng
Quan điểm “đức là gốc” của con người đã xuất hiện từ xa xưa trong học thuyết “đức trị” của Nho giáo Rõ ràng, quan điểm “đức là gốc” của Nho giáo chứa đựng những yếu tố hợp lý nhất định, nhưng trói buộc con người vào những lễ giáo
hủ bại, phục vụ cho chế độ đẳng cấp, tôn ti trật tự hết sức hà khắc của giai cấp phong kiến “Đức là gốc” trong tư tưởng Hồ Chí Minh là đạo đức mới, đạo đức cách mạng mang bản chất giai cấp công nhân, kết hợp truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc và những tinh hoa của đạo đức nhân loại Sự khác biệt giữa đạo đức cũ
và đạo đức mới đã được Hồ Chí Minh chỉ rõ “Đạo đức cũ và đạo đức mới khác nhau nhiều Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất, chân chổng lên trời Đạo đức mới như người hai chân đứng vững dưới đất, đầu ngẩng lên trời” [34, 252] Đó quyết không phải là đạo đức thủ cựu “Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài
Trang 19dung phong phú, bao trùm và xuyên suốt toàn bộ tư tưởng đạo đức cách mạng của Người Theo chúng tôi, bước đầu, có thể hiểu quan điểm “đức là gốc” của Hồ Chí Minh gồm những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, đạo đức là gốc, là nền tảng của người cách mạng Giống như cây phải có gốc, sông suối phải có nguồn, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới hoàn thành được sự nghiệp cách mạng cực kỳ gian khổ, khó khăn Chăm lo cái gốc, cái nguồn, cái nền tảng ấy phải là công việc thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, của mỗi gia đình và mỗi người trong xã hội ta Người căn dặn: “Mọi việc thành hay bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay là không”
Là người kiến tạo nhà nước của dân, do dân , vì dân ở Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức đúng đắn rằng: “dân là gốc của nước”, “quần chúng nhân dân
là gốc của sự nghiệp cách mạng” Trong công việc chung của đất nước có muôn vàn công việc khác nhau, thì “cán bộ là cái gốc của mọi công việc” Người cán bộ công chức muốn hoàn thành nhiệm vụ phải có đủ đức, đủ tài trong đó “đức là gốc” Tấm gương sáng về đạo đức của cán bộ, công chức có ảnh hưởng sâu sắc đến uy tín của bộ máy nhà nước, đồng thời là nhân tố quan trọng góp phần cổ vũ, lôi cuốn mạnh mẽ đối với nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu chung của cách mạng
Đối với người cán bộ công chức nhà nước, nếu không có quan điểm, thái độ đúng dễ “vác mặt làm quan cách mạng” Người căn dặn: “Trước mặt quần chúng không phải ta cứ viết lên trán chữ cộng sản mà ta được họ yêu mến Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước” Ngay từ khi Nhà nước cách mạng mới ra đời, Hồ chủ tịch đã sớm nhắc nhở: các cơ quan chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác công việc chung cho dân
Trang 20chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ thống trị của Pháp, Nhật Người cũng chỉ ra nguồn gốc nguyên nhân của những sai phạm như hủ hoá, tư túi, chia rẽ, cục bộ, kiêu ngạo… là do sớm mắc vào chứng bệnh khinh dân, xa dân
Ngay trong “Đường cách mệnh”, Hồ Chí Minh đã giành chương đầu tiên để bàn về tư cách người cách mệnh, sau đó mới nói về lý luận và đường lối cách mạng Với Người, để chuẩn bị dung nạp sự hiểu biết về cơ đồ của dân tộc, trách nhiệm, những việc phải làm cho vận mệnh của dân tộc, người cách mệnh trước hết phải có tư cách người cách mệnh, đạo đức cách mạng Với Hồ Chí Minh, “đức là gốc” cho nên, đạo đức cách mạng không chỉ giúp cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới mà còn giúp người cách mạng không ngừng cầu tiến bộ và hoàn thiện bản thân mình Người có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại tạm thời cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước Có đạo đức cách mạng thì khi gặp thuận lợi
và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phát, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” Vì “đức là gốc” cho nên đạo đức cách mạng là thước đo lòng cao thượng của con người
Thứ hai, trong mối quan hệ giữa đức và tài thì “đức là gốc” nhưng “đức” và
“tài” phải đi đôi với nhau, không thể có mặt này mà thiếu mặt kia được Người nói:
“Có tài phải có đức Có tài không có đức tham ô, hủ hoá, có hại cho nước Có đức không có tài như ông Bụt ngồi trong chùa không giúp ích gì được ai” Có “tài” mà thiếu cái “đức”, thì “tài” không có ý nghĩa, “có tài mà không có đức là người vô dụng” Hồ Chí Minh yêu cầu: tài lớn thì đức càng phải cao Đó là cái đảm bảo sự phát triển bền vững, là nguồn nuôi dưỡng và phát triển của mỗi con người Coi trọng đức nhưng Hồ Chí Minh không coi nhẹ tài Công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới phát triển, văn minh không thể là công việc của những người mù chữ, mù thông tin, thiếu khả năng làm việc sáng tạo Người thường nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có học thức”, “chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học chắc
Trang 21chắn sẽ đưa loài người đến hạnh phúc vô tận” Người đưa ra yêu cầu cao cho lớp thanh niên: “Vượt qua mọi khó khăn để mà chiến thắng, để hưởng thụ tất cả những khoa học, những hiểu biết của thời đại” Như thế, trong quan điểm nhất quán của mình, Hồ Chí Minh luôn coi trọng cả “đức” lẫn “tài”, năng lực và phẩm chất, “vừa hồng” ‘vừa chuyên” Tuy vậy, quan điểm coi “đức là gốc” vẫn là nhất quán trong
tư tưởng của Người Bởi lẽ, Người thực sự có đức thì bao giờ cũng cố gắng học tập, nâng cao trình độ, nâng cao năng lực, tài năng để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao Như thế, cái “Đức” trở thành động lực để hoàn thiện cái “Tài” Đức ở đây phải là đức lớn - đức tận tâm, tận lực phấn đấu hi sinh vì cách mạng, vì nước,
vì dân, nó không đồng nhất với những phẩm chất đạo đức thông thường cụ thể như hiền lành, ngoan ngoãn, tốt bụng… trong đời sống hàng ngày
Thứ ba, “Đức là gốc” trong xây dựng Đảng là Đảng phải “là đạo đức, là văn minh” Đảng lãnh đạo thì trước hết Đảng phải tiêu biểu cho đạo đức cách mạng, tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân Do đó, muốn làm tròn vai trò lãnh đạo, theo Hồ chủ tịch, Đảng phải luôn luôn tự chỉnh đốn và xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là “người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” Người viết: “Việc cần làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn dân, toàn ý, phục vụ nhân dân” Đó là cái đức của người cách mạng chân chính, một đảng viên chân chính Chính bản thân Người là tấm gương sáng về đạo đức của người cách mạng Người là tấm gương trung thành, tận tuỵ với lý tưởng của Đảng, suốt đời hi sinh phấn đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội,
vì hạnh phúc của nhân dân Luôn tu dưỡng đạo đức, ham học hỏi, không ngừng phấn đấu, Người là hiện thân toàn vẹn nhất “đạo đức” “văn minh” của Đảng ta
Tất nhiên, một đảng tiên phong cách mạng nếu chỉ có đạo đức cách mạng thì chưa đủ mà Đảng còn phải “là văn minh”, phải tiêu biểu cho trí tuệ, có năng lực
Trang 22nhận thức quy luật và hành động cách mạng đúng đắn, biết phân tích chính xác tình hình, đề ra đường lối, chủ trương sát đúng, đưa cách mạng tiến lên từng bước
“Đức là gốc” là quan điểm cơ bản xuyên suốt trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Với những nội dung sâu sắc, chứa đựng chiều sâu tư tưởng lớn, quan điểm “đức là gốc” không chỉ tiếp nối và nâng cao quan điểm đạo đức truyền thống của phương Đông và Việt Nam mà còn là một cống hiến quan trọng của Người đối với kho tàng
lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin
1.3.2 Những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người Việt Nam
1.3.2.1 Trung với nước hiếu với dân
Đây là phẩm chất quan trọng nhất, bao trùm nhất và chi phối các phẩm chất khác.Trong Nho giáo, khái niệm “trung - hiếu” là trung với vua, hiếu với cha mẹ Đây là một nguyên tắc cơ bản trong chế độ phong kiến ở Việt Nam Thái độ ứng xử văn hoá trong xã hội phong kiến phải tuân theo cái trục cơ bản đó, nếu không, sẽ bị
vi phạm tư cách, đạo đức làm người Từ đó Hồ Chí Minh đưa vào đó một nội dung mới, phản ánh đạo đức ngày nay cao rộng hơn là “Trung với nước hiếu với dân”
Đó là một cuộc cách mạng trong quan niệm đạo đức “Trung với nước hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” Câu nói đó của Người vừa là lời kêu gọi hành động, vừa là định hướng chính trị-đạo đức cho mỗi người Việt Nam không phải chỉ trong cuộc đấu tranh cách mạng trước mắt, mà còn lâu dài về sau
Về quan hệ đạo đức thì mối quan hệ của mỗi người với đất nước mình, với nhân dân, dân tộc mình là mối quan hệ lớn nhất Lịch sử dân tộc ta là lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, xây đắp Tổ quốc Việt Nam thống nhất, hùng cường Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc, tạo nên sức mạnh quật khởi cho nhân dân chiến đấu vì hạnh phúc thật sự của mỗi nhà, xây
Trang 23dưng đất nước “đàng hoàng”, “to đẹp” hơn Nó là cội nguồn của sức sống mãnh liệt của dân tộc ta, nhân dân ta Vì vậy, Trung với nước, hiếu với dân, quyết tâm phấn đấu, hi sinh vì độc lập của dân tộc, của nhân dân và tự do cho nhân dân là nội dung
cơ bản nhất, là nhân tố hàng đầu trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh “Trung”,
“Hiếu” là đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam và phương Đông, được chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển trong điều kiện mới
Theo quan niệm cũ, chữ “Trung” là đạo thờ vua, chữ “Hiếu” là đạo thờ cha
mẹ Trước hết, “Trung” là một khái niệm chính trị đạo đức, xuất hiện trong các tác phẩm kinh điển của Nho giáo và thường được dùng để chỉ hành động hết lòng với vua Khái niệm “trung quân” ( trung với vua ) cũng xuất hiện từ ý nghĩa “Trung” Đạo đức Nho giáo ràng buộc cá nhân theo lợi ích duy nhất của một ông vua, một dòng họ Khổng Tử nói : “Quân xử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung” Khổng Tử giải chích rằng: Vua khiến bề tôi thì phải giữ lễ phép, bầy tôi thờ vua thì phải hết lòng Đó là đạo quân thần Trong mối quan hệ quân thần (vua – tôi), Khổng Tử đã nhận thấy ở đó mỗi bên đều phải có trách nhiệm với nhau, đều có cách đối xử cần thiết, và cách đối xử của bên này là điều kiện để bên kia có cách đối xử tương ứng
Khái niệm trung quân từ lâu đã được truyền bá sang nước ta và có một vị trí quan trọng trong các triều đại phong kiến Việt Nam trước đây Trong khuôn khổ của chế độ phong kiến, trung là tiêu chuẩn đặc biệt để đánh giá đạo đức của con người Sự trung thành tuyệt đối với vua, với triều đại đã tạo ra một sức mạnh to lớn, nhưng nó cũng chứa đựng nội dung bảo thủ, tiêu cực và nhiều khi đối lập với lợi ích cơ bản của quần chúng nhân dân Khái niệm “Trung” được mở rộng theo sự phát triển của lịch sử, phá bỏ dần những yếu tố chật hẹp, phù hợp hơn với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
Trên nền tảng truyền thống yêu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng ý nghĩa, phẩm chất của khái niệm “Trung” ở đây là Trung với nước, hiếu với dân
Trang 24Cũng phải nói thêm rằng, với Người, “Trung” và “Hiếu” không tách rời nhau, mà
có mối quan hệ hữu cơ với nhau Bởi vì nước ngày nay không phải thuộc quyền sở hữu của ông vua nào, mà là của nhân dân, do nhân dân làm chủ Yêu nước phải gắn liền với thương dân Người nói: “Đạo đức cách mạng là triệt để trung thành với cách mạng, một lòng một dạ phục vụ nhân dân” [39, 329] “đạo đức ngày nay cao rộng hơn: không phải chỉ có hiếu với bố mẹ, mà trung với nước, hiếu với dân” [40,
554 - 558] “Hiếu” là một phạm trù đạo đức – chính trị quan trọng trong lịch sử tư tưởng phương Đông Song, trước tiên, nó hình thành trong gia đình, ở mối quan hệ con cháu đối với ông bà cha mẹ Trước hết, đó là con cái phải phụng dưỡng bố mẹ khi già và tế tự khi mất Khổng Tử nói: “sống thì phải phụng dưỡng thân thể, chết thì an táng theo lễ ” Chữ “Hiếu” chia ra làm đại hiếu và tiểu hiếu, nuôi dưỡng được cha mẹ là tiểu hiếu, kính trọng cha mẹ mới làm được đại hiếu Tuy đường đạo này
có ưu điểm là răn dạy con người luôn biết “ tu dưỡng đạo đức cá nhân”, nhưng đối với Hồ Chí Minh, chữ “Hiếu” lớn là hiếu với dân Người nói: “Người kiên quyết cách mạng nhất lại là người đa tình chí hiếu nhất" Người cách mạng “không những cứu bố mẹ mình mà còn cứu bố mẹ người khác, bố mẹ của cả nước nữa” [36, 60] Chính với ý nghĩa rộng lớn ấy , “hiếu thảo” vẫn gắn liền với “hiếu trung”, như trong bức điện gởi họ Nguyễn Sinh sau khi nghe tin anh ruột qua đời, Hồ Chí Minh
đã viết: “Một người con đã hy sinh tình nhà vì phải lo việc nước”[35, 114]
Tư tưởng hiếu với dân không còn dừng lại ở chỗ thương dân với tính chất là đối tượng cần phải dạy dỗ, ban ơn mà là đối tượng phải phục vụ hết lòng Vì vậy, phải gần dân, kính trọng và học tập dân, dựa hẳn vào dân, lấy dân làm gốc Theo
Hồ Chí Minh lãnh đạo phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, lại phải thường xuyên quan tâm đến việc cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, để nhân dân hiểu được quyền và trách nhiệm của người chủ đất nước Tư tưởng “lấy dân làm gốc” đã từng được đề cập trong Nho giáo, nhưng Hồ Chí Minh đã có những quan niệm mới
Trang 25trong tư tưởng này Về khái niệm “dân”, Mạnh Tử không kể đến những người lao động nghèo khổ trong dân cư mà chỉ gồm giới quý tộc và các tầng lớp bình dân
“Dân” trong quan niệm Hồ Chí Minh có biên độ rộng lớn hơn nhiều, bao gồm: tất
cả những người yêu nước của dân tộc, không phân biệt già, trẻ, gái, trai thuộc giai cấp nào, tầng lớp hay tôn giáo nào, dân là số đông gồm sĩ, nông, công, thương Hồ Chí Minh rất coi trọng dân, quý dân, từ đó Người rút ra bài học có giá trị vượt thời gian, đúng cho cả hôm nay và mai sau: “Nhân dân ta có hàng chục triệu người, có hàng triệu tai, mắt, tay, chân Nếu biết dựa vào dân thì việc gì cũng xong” Quan điểm này của Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng với quan điểm của các nhà kinh điển mác- xít về vai trò của quần chúng nhân dân đối với sự phát triển lịch sử
Tư tưởng hiếu với dân, phải coi nhân dân là đối tượng được phục vụ, Đảng, Nhà nước và cán bộ là đầy tớ của dân Đây được coi là đóng góp quan trọng nhất trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Hiếu với nhân dân và quan niệm cán bộ là
“đày tớ của dân” có nghĩa là người cán bộ cách mạng được nhân dân tín nhiệm phải suốt đời phục vụ nhân dân, cần mẫn với công việc, “Tận trung”, “tận hiếu” Khi Đảng ta được thành lập Bác còn nhấn mạnh đối với cán bộ Đảng viên: Làm đày tớ nhân dân chứ không phải là “quan” nhân dân Người cách mạng phải luôn chăm lo đến lợi ích cho nhân dân, “việc gì lợi cho nhân dân phải hết sức làm, việc
gì hại đến dân phải hết sức tránh”
Cùng với tư tưởng của mình, Hồ Chí Minh đã nêu một tấm gương mẫu mực trong thực hành chuẩn mực “trung với nước, hiếu với dân” Người ra đi tìm đường cứu nước, không phải để vinh thân, phì gia mà là để cứu nước, cứu dân Cuộc đời hoạt động cách mạng của Người là cả quá trình đấu tranh, cống hiến cho Đảng, cho cách mạng, vì hạnh phúc của nhân dân, nên “hy sinh” không lập gia đình riêng Người nói : “tôi không có gia đình, cũng không có con cái, nước Việt Nam là gia đình của tôi" Trong chế độ Việt Nam dân chủ cộng hoà, làm chủ tịch nước cho đến
Trang 26coi đó là trọng trách mà nhân dân giao phó Khi xác định nội dung “Trung” “Hiếu” cho mỗi đối tượng, bao giờ chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặt nội dung ấy trong sự phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng
Đối với lực lượng vũ trang, chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do cho Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng… Cán bộ và chiến sĩ thương yêu nhau như ruột thịt, chia sẽ ngọt bùi Quân với dân như cá với nước, đoàn kết một lòng, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau” [40, 320]
Đối với cán bộ cấp cao trong quân đội, Người dạy: “Tướng là kẻ giúp nước Tướng giỏi thì nước mạnh Tướng xoàng thì nước hèn… Biết sức ta, biết sức địch thì trăm trận trăm thắng…” [33, 479] Trong quân đội nhiệm vụ của người tướng là phải: “trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung… Trung là trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với nhân dân, với cách mạng, với Đảng” [33, 480] Sáu chuẩn mực đạo đức
đó theo Người, mọi cán bộ quân sự đều phải có Mỗi chuẩn mực ấy có nội dung riêng, nhưng tất cả đều liên hệ với nhau, trong đó chữ “trung” là nền tảng “Trung với nước, hiếu với dân” đã tạo nên sức mạnh vô địch của quân đội ta, giúp quân đội
ta vượt qua mọi khó khăn và đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược
Đối với công an nhân dân, ngay trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh đã khẳng định rõ bản chất của công an nhân dân: “công an của ta là công
an nhân dân, vì dân mà phục vụ và dựa vào dân mà làm việc” [33, 365] Và Người khẳng định: “Làm công tác chính quyền, ở công an hay ở quân đội, đều là đầy tớ cho nhân dân cả, vì chính quyền dân chủ, tức là chính quyền do người dân làm chủ” [33, 366] Muốn hoàn thành nhiệm vụ của mình công an nhân dân phải dựa vào dân, không được xa rời dân Hồ Chí Minh còn nêu lên sáu điều đạo đức, tư cách mà người công an cách mạng cần phải có và phải giữ cho đúng
Trang 27Đối với thanh niên, Bác Hồ yêu cầu “Thanh niên phải luôn luôn rèn luyện đạo đức cách mạng… Trọn đời trung thành với sự nghiệp cách mạng, với Tổ quốc, với Đảng, với giai cấp” Trong thư gởi thanh niên ngày 2/ 9/ 1965, Người căn dặn thanh niên: “phải luôn nâng cao chí khí cách mạng “trung với nước, hiếu với dân”, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”, không sợ gian khổ, hy sinh, hăng hái thi đua tăng gia sản xuất và anh dũng chiến đấu, xung phong đi đầu trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước”
Đối với Đảng, Hồ Chí Minh cho rằng, để xứng đáng là người lãnh đạo, nhất
là từ khi Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền thì “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là ngưòi đày tớ thật trung thành của nhân dân”
Lãnh đạo nhân dân và làm người đầy tớ trung thành của nhân dân có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trên cơ sở thống nhất để thực hiện được đường lối, nhiệm vụ của Đảng Lãnh đạo tốt mới làm được người đầy tớ tốt Cho nên Đảng vừa phải lo tính công việc lớn như phát triển kinh tế, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đồng thời lại phải luôn quan tâm đến đời sống hàng ngày của nhân dân “Nếu dân đói, Đảng và chính phủ có lỗi; nếu dân rét Đảng và chính phủ có lỗi; nếu dân dốt thì Đảng và chính phủ có lỗi” Trong Di chúc Người còn căn dặn đảng ta “cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống nhân dân”
Nói tóm lại, phạm trù “Trung với nước, hiếu với dân” là hạt nhân cơ bản nhất của tư tưởng đạo đức Hồ Chí minh, là “điều chủ chốt nhất” của đạo đức người cách mạng
1.3.2.2 Yêu thương con người
Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người rất toàn diện và độc đáo Hồ Chí Minh đã xác định tình yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo
Trang 28một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”
Xuyên suốt hệ tư tưỏng Hồ Chí Minh cũng như toàn bộ đời hoạt động của Người đều có xuất phát điểm đầu tiên là lòng yêu thương con người, đặc biệt yêu thương con người nghèo khổ, lầm than, nô lệ, gắn liền với sự tủi nhục trước cảnh
“nước mất, nhà tan” Khi ra đi tìm đường cứu dân, cứu nước, với đôi bàn tay sẵn sàng làm đủ nghề “miễn là lương thiện” để sống và hoạt động, hành trang của người chỉ là lòng yêu nước và lòng yêu thương con người sâu sắc
Nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin, Người đã tìm thấy ở đây con đường giải phóng dân tộc, tìm thấy cái cẩm nang giải phóng triệt để con người Đó là độc lập gắn liền với chủ nghĩa xã hội Bởi theo Người, tình yêu thương con người không thể chung chung, trừu tượng mà thiết thực, cụ thể, trước hết dành cho người mất nước, người cùng khổ Chính vì vậy, Người dành cả cuộc đời người để lo giải phóng cho dân tộc, đấu tranh cho con người thoát khỏi áp bức, bất công Người tâm sự: “ Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân” Với Người, tình yêu thương dành cho những người cùng khổ, những người lao động bị áp bức bóc lột không chỉ trong nước mà dành cho cả thế giới Người lo cho cả những kiếp người trên hành tinh còn bị đoạ đày, đau khổ, bởi vì: “Họ là thân thích ruột rà, công nông thế giới đều là anh em”
Lòng yêu thương con người thấm đẫm trong tư tưởng của Người, rất cụ thể
Từ việc chăm lo “giáo dục thế hệ cách mạng cho đời sau”, làm cho ai cũng thành người tốt và hữu ích, ai cũng biết làm người Và cả cuộc đời của Người, từ hành vi đối xử thường ngày với người chung quanh cho đến công việc lãnh đạo Nhà nước, các hoạt động quốc tế, mọi nơi mọi lúc đều toát lên tinh thần nhân văn, nhân đạo, nhân ái vô cùng sâu xa và hết sức bình dị, cảm hoá được cả dân tộc và thế giới
Trang 29toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng”, và “gởi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên và nhi đồng quốc tế” Người vẫn ân cần nhắc nhở toàn Đảng phải tiếp tục chăm lo cho con người Trước hết là những người đã hy sinh một phần xương máu cho công cuộc kháng chiến, là cha mẹ vợ con thương binh, liệt sĩ, là bà con nông dân, là thanh niên, phụ nữ… lo cho hiện tại, lo đào tạo cho tương lai; Ngay cả “ những nạn nhân của chế độ cũ như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu… thì Nhà nước phải vừa giáo dục, vừa dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện” Như thế, tình thương yêu của Bác còn thể hiện đối với những người
có sai lầm khuyết điểm, nhưng đã nhận rõ được sai lầm khuyết điểm và cố gắng sửa chữa, kể cả đối với những người lầm đường lạc lối đã hối cải, kể cả đối với những kẻ thù đã bị thương, bị bắt hoặc chịu quy hàng Với Bác, yêu người là phải biết khuyến khích: “phần tốt ở mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân, và phần xấu bị mất dần đi” Và những việc làm rất cụ thể, gần gũi như: Lụa tặng cụ già, sữa tặng bà mẹ sinh ba, từng bát cơm manh áo, từ chổ ở, việc làm để an cư, lập nghiệp, chăm lo cho từng chiến sĩ bảo vệ, phục vụ quanh Người Yêu người còn phải đi đôi với quý trọng con người, đánh giá cao vai trò của nhân dân, Bác tôn trọng các nhà khoa học, các bậc hiền tài cho tới những người lao động quét rác, bởi nếu ai hoàn thành nhiệm vụ đều được coi vẻ vang như nhau
Trong tình đồng chí, bạn bè, phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, sống với nhau có tình, có nghĩa Năm 1968, khi làm việc với cán bộ Ban tuyên huấn Trung ương về việc xuất bản sách “Người tốt, việc tốt”, Người đã nhắc nhỡ: “Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là sống với nhau có tình, có nghĩa” Vận dụng vào trong Đảng, Bác yêu cầu nghiêm khắc về tinh thần tự phê bình và phê bình nhưng phải
có “tình đồng chí yêu thương lẫn nhau” Đây chính là đòi hỏi xác định động cơ, hay nói chính xác hơn là cái tâm của người phê bình, văn hoá phê bình
Trang 30Cũng cần nói thêm rằng, tình yêu thương con người của Bác không giống với tinh thần “từ bi hỷ xả” của nhà Phật hay sự cứu rỗi của đức Chúa trời Lòng vị tha, nhân ái ấy chỉ khiến con người cam chịu, tu tâm dưỡng tính và mong đợi sự đền trả ở kiếp sau Tư tưởng yêu thương con người của Bác là tư tưởng hành động gắn liền với sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp của thời đại ngày nay Đứng trước lầm than, đau khổ của người dân Việt Nam mất nước, từ thiện chí cứu vãn hoà bình quyết tâm phát động kháng chiến, Người nói: Chúng tôi không muốn chiến tranh… Nước Việt Nam không muốn là nơi chôn vùi hàng bao nhiêu sinh mạng…, nhưng dân tộc Việt Nam sẵn sàng chịu đựng tất
cả, chứ không chịu mất tự do” [43, 473] Đó là ý nghĩa cao đẹp trong tư tưởng của Người
1.3.2.3 Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là nền tảng của đời sống mới, là phẩm chất trung tâm của đạo đức cách mạng trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, là mối quan hệ “với tự mình” “Cần, kiệm, liêm, chính là nền tảng của đời sống mới, nền tảng của Thi đua ái quốc” Người còn quan niệm cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức tính của con người, như trời có bốn mùa, đất có bốn phương và Người giải thích cặn kẽ, cụ thể nội dung từng khái niệm:
Cần là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai Cần thì việc gì khó khăn đến mấy, cũng làm được Chữ cần chẳng những có ý nghĩa hẹp như: tay siêng làm, hàm siêng nhai Nó còn có nghĩa rộng là mọi người đều phải cần, cả nước đều phải cần Muốn cho chữ cần có nhiều kết quả hơn thì phải có kế hoạch cho mọi công việc, kế hoạch lại phải đi đôi với phân công Cần và chuyên phải đi đôi với nhau Cần không phải là làm xỗi Cần là luôn luôn cố gắng, luôn chăm chỉ, cả năm cả đời Nhưng không phải làm quá trớn Phải biết nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng của mình, để làm việc cho lâu dài “Trong 20 triệu đồng bào ta, cho 10 triệu là thanh
Trang 31đồng hồ thì: Mỗi tháng sẽ thêm 300 triệu giờ… Cứ tính giờ làm đáng giá một đồng bạc, thì mỗi năm nước ta đã có thêm được 3600 triệu đồng Đưa số tiền đó vào kháng chiến thì kháng chiến ắt mau thắng lợi, thêm vào kiến quốc thì kiến quốc ắt mau thành công” Cùng với quan điểm về cần, Bác phê phán các thái độ như chủ nghĩa cá nhân, việc dễ làm thì dành lấy dành để, việc khó thì né tránh; hay những
kẻ lười biếng chỉ biết ngồi chỉ tay năm ngón, miệng thì nói suông Những thái độ như vậy là kẻ thù vô hình nguy hiểm nhất đối với đức cần cù Chỉ cần một cá nhân lười biếng sẽ làm ảnh hưởng đến công việc của nhiều người khác Khác nào toàn chuyến xe chạy mà một bánh xe bị trật ra ngoài đường rây Họ làm trễ cả chuyến
Liêm, tức là “luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân” “không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân” Phải “trong sạch, không tham lam” “không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung
Trang 32bao giờ hủ hoá”, chỉ có một thứ là ham học, ham làm, ham tiến bộ Nếu ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, liêm khiết là từ dùng để chỉ những vị quan không đục khoét của dân thì đến hôm nay, được sống trong một đất nước độc lập thì liêm chính còn có ý nghĩa rằng tất thảy mọi người, từ trẻ tới già đều phải trong sạch, thanh liêm Cũng như kiệm phải đi đôi với cần, thì liêm phải đi đôi với kiệm Chỉ
có kiệm mới có thể liêm được Vì xa xĩ sẽ sinh ra tham lam
Về chữ “liêm”, Bác Hồ bàn rất kỹ, nhất là trong việc lựa chọn cán bộ, viên chức trong Đảng và Nhà nước Sự thanh liêm của mỗi cán bộ, viên chức sẽ tạo nên
sự thanh liêm của cả bộ máy nhà nước Giáo sư Song Thành cũng đã nghiên cứu về vấn đề này: “Khi họ đã chà đạp chữ Liêm thì khẩu hiệu “trung với nước hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì Tổ quốc, vì lý tưởng cộng sản… chỉ còn là điều giả dối, đúng hơn là sự phản bội” [18] Bởi lẽ, đánh mất chữ liêm thì lòng tham lam trỗi dậy, đó là nguồn gốc của quan liêu, tham nhũng, lãng phí, hủ hoá Về điều này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu rất sớm, Người viết: “chính phủ phải thi hành một nền chính trị liêm khiết Có như thế, dân chúng mới đoàn kết chung quanh chính phủ, mới vì quyền lợi thiết tha của mình mà hy sinh giết giặc Có như thế thì tình thế nguy khốn đến bực nào, dân chúng không sợ hãi gì hết mà cố sức quyết chiến, quyết thắng”
Chính, nghĩa là không tà, thẳng thắng, đứng đắn Điều gì không đứng đắn, thẳng thắng, tức là tà Cần, Kiệm, Liêm là gốc rễ của Chính Nhưng một cây cần
có gốc rễ, lại cần nhành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn, như lời Bác từng nói:
“Thiếu một đức thì không thể thành người” Một người Cần, Kiệm, Liêm nhưng cần phải Chính mới là người hoàn toàn Chính thì đối với mình là không tự cao, tự đại, luôn luôn chịu khó học tập, cầu tiến bộ, phát triển điều hay và sửa chữa khuyết điểm của mình Đối với người, phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ, không nịnh hót người trên, xem khinh người dưới Phải để việc nước, việc công lên trên việc tư,
Trang 33việc nhà Công việc dù to hay nhỏ đều phải cố gắng hoàn thành Phải luôn nhớ
“việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm Việc ác thì nhỏ mấy cũng tránh”
Chí công vô tư là phẩm chất đạo đức tiếp nối, Cần, Kiệm, Liêm, Chính ắt sẽ dẫn đến chí công vô tư, ngược lại đã chí công vô tư, một lòng vì nước, vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ thực hiện được Cần, Kiệm, Líêm, Chính Theo Người, “khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”, “phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc” Đối với người cách mạng, phải rèn luyện sao để tiến đến chỗ quên mình trong lợi ích chung của Đảng, của Tổ quốc, của nhân dân Có như vậy,
sẽ ngày càng phát huy vững mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực, Người đã nói: “Mình đã Chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ ngày càng ít, mà những tính tốt ngày càng thêm”
Những lời nói của Bác về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị Đặc biệt là tấm gương của Bác về thực hành việc cần, kiêm, liêm, chính, chí công vô tư vẫn mãi mãi để cán bộ , đảng viên và nhân dân noi theo Thực hành tốt những lời dạy của Bác là chúng ta đã góp phần làm giàu cho đất nước, tăng lòng tin của nhân dân vào Đảng và chính quyền Đây là những phẩm chất cụ thể, và mang tính rộng lớn về phạm vi, mỗi người đều có thể thực hiện được từ việc nhỏ đến việc lớn trong cuộc sống hằng ngày
1.3.2.4 Tinh thần quốc tế trong sáng
Tinh thần quốc tế trong sáng là phẩm chất, là yêu cầu đạo đức của mỗi người Việt Nam trong mối quan hệ rộng lớn, vượt qua phạm vi quốc gia, dân tộc Nội dung chủ nghĩa quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện ở các điểm sau: Đó chính là tinh thần đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước trong cuộc đấu tranh giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột mà Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp bằng hoạt động cách mạng thực tiễn của bản thân
Trang 34Trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đến nhiều nước trên thế giới, các nước tư bản cũng như thuộc địa Người đã chứng kiến cảnh cùng cực của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đồng thời cũng thấy rõ cảnh sống xa hoa của bọn tư sản Thực tế sinh động đã giúp Người đi tới kết luận: "Dù màu da
có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột Mà cũng chỉ có một mối tính hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản" [41] Kết luận này cho thấy nhận thức của Hồ Chí Minh về ý thức dân tộc và ý thức giai cấp đã từ tầm nhìn quốc gia tới tầm nhìn quốc tế Kết luận trên cũng là sự khởi đầu của tư tưởng đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh - đoàn kết với những người lao khổ, cần lao trên thế giới, luôn gắn liền lợi ích dân tộc với lợi ích giai cấp, lợi ích quốc gia với lợi ích quốc tế Người thấy được khả năng, sức mạnh đoàn kết của các dân tộc thuộc địa và tin tưởng vào thắng lợi trong cuộc đấu tranh của họ
Tinh thần quốc tế trong sáng còn là vì mục tiêu chung "Bốn phương vô sản đều là anh em" Hành trình qua các nước vào những năm đầu của thế kỷ XX giúp
Hồ Chí Minh nhận thấy rằng phải có được quan hệ hợp tác giúp đỡ giữa cách mạng chính quốc và cách mạng thuộc địa Ngay từ năm 1921, Người khẳng định thực dân
đế quốc là kẻ thù của nhân dân thuộc địa và cũng là kẻ thù của nhân dân lao động chính quốc Người đã chứng minh được bọn đế quốc không chỉ áp bức bóc lột nhân dân các nước thuộc địa, mà còn thống trị nhân dân lao động và giai cấp vô sản chính quốc Vì thế, nhiệm vụ chống chủ nghĩa tư bản, đánh đổ chúng là nhiệm vụ của cả nhân dân lao động chính quốc và thuộc địa Nhiệm vụ đó đòi hỏi phải đoàn kết cả hai lực lượng nói trên
Trong suốt những năm hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn cố gắng liên kết cách mạng trong nước và phong trào cách mạng thế giới Từ năm 1924, Người
đã trở thành một trong những cán bộ châu Á đầu tiên thực thi nhiệm vụ liên kết giữa các dân tộc châu Á với phong trào cách mạng vô sản thế giới Trong những
Trang 35mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm chăm lo phát triển tình hữu nghị giữa Việt Nam với các nước ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh để mở rộng quan
hệ quốc tế của Việt Nam và tranh thủ, khẳng định sự ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội
Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa quốc tế vô sản gắn liền với chủ nghĩa yêu nước "Vì lẽ đó, ta vừa ra sức kháng chiến, vừa tham gia phong trào ủng hộ hoà bình thế giới" Nếu tinh thần yêu nước không chân chính và tinh thần quốc tế không trong sáng thì có thể dẫn đến chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, hoặc chủ nghĩa bành trướng bá quyền, kỳ thị chủng tộc… Trong thời kỳ mới của cách mạng, nguồn lực quan trọng để xây dựng và phát triển đất nước chính là mở rộng tình đoàn kết quốc tế, quan hệ hợp tác cùng có lợi, chủ động, tích cực hội nhập, như Đảng ta đã khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế… Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực" [21, 112]
Nói tóm lại, Hồ Chí Minh đã thực sự tạo nên một cuộc cách mạng lớn trong lĩnh vực đạo đức ở nước ta Hệ thống tư tưởng của Người đã góp phần làm giàu thêm kho tàng đạo đức học Mác – Lênin Qua đó, chúng ta thấy rõ được tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, bản chất tiên tiến của giai cấp vô sản, những tinh hoa văn hoá nhân loại và truyền thống tốt đẹp của dân tộc Cuộc sống đang đòi hỏi phải xây dựng nền đạo đức Việt Nam ngang tầm với những yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới Muốn như vậy, những tư tưởng đạo đức của Người phải được quán triệt, giáo dục trong mọi tầng lớp nhân dân Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vẫn mãi soi sáng cho Đảng và nhân dân ta hoàn thành sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
1.3.3 Những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới
Trang 36Nói đi đôi với làm, Hồ Chủ tịch coi đây là nguyên tắc quan trọng bậc nhất trong xây dựng một nền đạo đức mới Điều này được Hồ Chí Minh khẳng định từ giữa những năm 20 của thế kỷ XX trong tác phẩm đường cách mệnh Bản thân Hồ Chí Minh là tấm gương trong sáng tuyệt vời về lời nói đi đôi với việc làm Nói đi đôi với làm là đặc trưng bản chất của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh – đạo đức cách mạng Nói đi đôi với làm đối lập hoàn toàn với thói đạo đức giả của giai cấp bóc lột, nói một đằng làm một nẻo, thậm chí nói mà không làm Ngay sau thắng lợi của cách mạng tháng tám, Hồ Chí Minh đã chỉ ra những biểu hiện của thói đạo đức giả ở một số cán bộ, “vác mặt làm quan cách mạng”, nói mà không làm Sau này Người đã nhiều lần bàn đến việc tẩy sạch căn bệnh quan liêu, coi thường quần chúng của một số cán bộ, đảng viên “miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối “quan” chủ “Miệng thì nói “sự quần chúng”, nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng, trái ngược với phương châm, chính sách của đảng và Chính phủ, làm tổn hại uy tín của đảng và chính phủ trước nhân dân
Nêu gương về đạo đức là một nét đẹp của truyền thống văn hóa phương Đông Nói đi đôi với làm phải gắn liền với nêu gương về đạo đức Hồ Chí Minh đã
có lần chỉ rõ: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có gí trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” Với ý nghĩa đó, Hồ Chí Minh đã đào tạo các thế hệ cán bộ cách mạng tiền phong,
mà còn bằng chính tấm gương đạo đức cao cả của mình
Hồ Chí Minh cho rằng, hơn bất cứ một lĩnh vực nào khác, trong việc xây dựng một nền đạo đức mới, đạo đức cách mạng phải đặc biệt chú trọng “đạo làm gương” Người nói: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau
là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới” Để làm được như thế, phải chú ý phát hiện, xây dựng những điển hình người tốt, việc tốt rất gần gũi trong đời
Trang 37thường, trong các lĩnh vực lao động sản xuất, trong chiến đấu, trong học tập… bởi theo Người, từng giọt nước chảy về một hướng mới thành suối, thành sông, thành biển cả, không nhận thức được điều này là “chỉ nhìn thấy ngọn mà quên mất gốc” Người nói: “người tốt, việc tốt nhiều lắm Ở đâu cũng có Ngành, giới nào, địa phường nào, lứa tuổi nào cũng có”
Như vậy, một nền đạo đức mới chỉ có thể được xây dựng trên một cái nền rộng lớn, vững chắc, khi những chuẩn mực đạo đức trở thành hành vi đạo đức hằng ngày của toàn xã hội
1.3.3.2 Xây đi đôi với chống
Để xây dựng một nền đạo đức mới, cần phải kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống Trong đời sống hằng ngày, những hiện tượng tốt - xấu, đúng – sai, cái đạo đức và cái vô đạo thường đan xen nhau, đối chọi nhau thông qua hành vi của những con người khác nhau, thậm chí trong mỗi con người Chính vì vậy việc xây và chống trong lĩnh vực đạo đức rõ ràng không đơn giãn, muốn xây phải chống, chống nhằm mục đích xây
Xây dựng đạo đức mới, đạo đức cách mạng trước hết phải được tiến hành bằng công việc giáo dục những phẩm chất, những chuẩn mực đạo đức mới Việc giáo dục đạo đức phải được tiến hành phù hợp với từng giai đoạn cách mạng; phù hợp với từng lứa tuổi, ngành nghề, giai cấp, từng lớp và trong từng môi trường khác nhau; phải khơi dậy được ý đạo đức lành mạnh ở mỗi người Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng, “mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong lòng mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng” Bản thân người tự giác cũng có một phẩm chất đạo đức cao quý đối với mỗi người, mỗi tổ chức, trước hết là Đảng
Xây phải đi đôi với chống, với việc loại bỏ cái sai, cai xấu, cái vô đạo đức trong đời sống hằng ngày Hồ Chí Minh cho rằng, trên con đường đi tới tiến bộ và
Trang 38chống mục tiêu chủ nghĩa đế quốc, chống những thói quen, tập quán lạc hậu và loại trừ chủ nghĩa cá nhân Đây thực sự là “ một cuộc chiến đấu khổng lồ’ giữa tiến bộ
và lạc hậu, giữa cách mạng và phản cách mạng Để giành được thắng lợi trong cuộc chiến đấu này, điều quan trọng là phải phát hiện sớm, phải tuyên truyền, vận động hình thành phong trào quần chúng rộng rãi đấu tranh cho sự lành mạnh, trong sạch
về đạo đức
1.3.3.3 Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời
Đạo đức cách mạng là đạo đức dấn thân, đạo đức trong hành động vì độc lập
tự do của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân Chỉ có trong hành động, đạo đức cách mạng mới bộc lộ rõ những giá trị của mình Do vậy, đạo đức cách mạng đòi hỏi mỗi người phải tự giác rèn luyện thông qua hoạt động thực tiễn, trong công việc, trong các mối quan hệ của mình, phải nhìn thẳng vào mình, không tự lừa dối, huyễn hoặc; phải thấy rõ cái hay, cái tốt, cái thiện của mình để phát huy và thấy rõ cái dở, cái xấu, cái ác của mình để khắc phục; phải kiên trì rèn luyện, tu dưỡng suốt đời như công việc rửa mặt hằng ngày
Hồ Chí Minh khẳng định đạo đức không phải là thứ có sẵn trong mỗi người
mà đạo đức là do con người tiếp thu được qua giáo dục và tạo thành nhờ bản thân tích cực tu dưỡng bền bỉ rèn luyện trong môi trường sống và trong cuộc đấu tranh cách mạng Người đưa ra lời khuyên rất dễ hiểu: "Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển, củng
cố Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong"
Nâng cao đạo đức trong tình hình mới, Đảng và nhân dân ta quán triệt tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, ra sức bồi dưỡng các phẩm chất đạo đức, vận dụng các nguyên tắc xây dựng đạo đức mà Người đã nêu ra
Theo Hồ Chí Minh, đạo đức luôn luôn gắn liền với kinh tế Trung với nước, hiếu với dân, suốt đời hy sinh cho cách mạng để giành lấy độc lập và tự do là nhằm
Trang 39xoá bỏ áp bức, bóc lột, phát triển kinh tế đem lại đời sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, cho mỗi con người Hồ Chí Minh luôn luôn chủ trương tăng trưởng kinh
tế phải đi đôi với phát triển mọi mặt của xã hội; phát triển kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hoá, đạo đức, con người Tinh thần này đã được thể hiện trong câu nói bất hủ của Hồ Chí Minh "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa"
Học tập tư tưởng trong đạo đức Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước tiếp tục cổ động phong trào thi đua yêu nước trong thời kỳ đổi mới, biểu dương các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc, dấy lên phong trào “người tốt việc tốt”, nêu gương sáng đạo đức cách mạng để mọi người tôn vinh và noi theo
CHƯƠNG II
Trang 40VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC VÀO XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CHO SINH VIÊN TRONG THỜI KỲ TOÀN CẦU
HÓA VÀ HỘI NHẬP HIỆN NAY 2.1 Vài nét chung về xu thế toàn cầu hóa và hội nhập
2.1.1 Các khái niệm liên quan
Ngày nay, toàn cầu hoá (Globalization) và hội nhập đang là xu thế khách quan diễn ra mạnh mẽ và phức tạp, nó tác động tới hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó Việt Nam không là ngoại lệ Xu thế toàn cầu hoá đã diễn ra từ lâu, nhưng thuật ngữ “toàn cầu hoá” chỉ mới xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1961,
và cho đến nay, khi mà toàn cầu hoá đã trở thành một xu thế khách quan, tác động tới mọi quốc gia trên thế giới thì số lượng các khái niệm về toàn cầu hoá và tần suất
sử dụng khái niệm này ngày càng lớn
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về toàn cầu hoá
Có quan niệm cho rằng, toàn cầu hoá là biểu hiện và là kết quả của sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất dẫn đến phá vỡ sự biệt lập của các quốc gia, tạo ra mối liên hệ gắn kết, tương tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc trên quy mô toàn cầu trong sự vận động và phát triển
Quan niệm khác lại cho là, toàn cầu hoá là giai đoạn cao của quá trình phát triển lực lượng sản xuất thế giới, là kết quả phát triển tất yếu của kinh tế thị trường
và khoa học - công nghệ Cũng ở góc độ kinh tế, có quan niệm nhìn nhận, toàn cầu hoá là xu hướng bắt nguồn từ bản chất của hệ thống kinh tế thị trường; là hệ thống mở, không bị giới hạn bởi các đường biên giới và ranh giới dân tộc, chủng tộc và tôn giáo Uỷ ban châu Âu cho rằng: Toàn cầu hoá có thể được định nghĩa như một quá trình mà thông qua đó thị trường và sản xuất ở nhiều nước khác nhau đang ngày càng trở nên phụ thuộc lẫn nhau do sự năng động của việc buôn bán hàng hóa và dịch vụ cũng như do có sự lưu thông vốn tư bản và công nghệ Đây