1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Từ ngữ chỉ thân phận người phụ nữ trong ca dao người việt

72 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 898,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong ca dao, hệ thống từ ngữ chỉ thân phận người phụ nữ vừa mang ý nghĩa tường minh lại vừa mang tính ước lệ, tượng trưng đã thể hiện một cách đầy đủ về thân phận làm con, làm dâu, làm

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Đề tài:

TỪ NGỮ CHỈ THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG CA

DAO NGƯỜI VIỆT

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ca dao là khúc hát tâm tình của người dân Việt Nam được lưu truyền qua bao năm tháng Nó là tiếng lòng của người dân lao động trong cuộc sống thường nhật, là nỗi niềm tâm sự của những thân phận nhỏ bé trong xã hội xưa Qua ca dao ta thấy bà, thấy mẹ, thấy chị,… những người phụ nữ “một nắng hai sương”, tần tảo nuôi ta khôn lớn và sự hi sinh của họ là vô cùng lớn lao Nhưng cuộc đời vẫn còn đó tiếng khóc của những người làm phận nữ nhi, họ khóc trong đau đớn, buồn tủi, với cảnh đời ngang trái, bạc bẽo Và tiếng khóc

ấy, nỗi buồn ấy, được gửi gắm vào những câu hát than thân với những từ ngữ chỉ thân phận người phụ nữ

Trong ca dao, hệ thống từ ngữ chỉ thân phận người phụ nữ vừa mang ý nghĩa tường minh lại vừa mang tính ước lệ, tượng trưng đã thể hiện một cách đầy đủ về thân phận làm con, làm dâu, làm vợ của người phụ nữ Ý thức thân phận có khi là tự hào về vẻ đẹp ngoại hình cũng như tâm hồn của người phụ

nữ Nhưng đa phần vẫn là dòng ý thức thân phận nhỏ bé, hèn mọn của phận

má đào

Chính vì thế, khi nghiên cứu về Từ ngữ chỉ thân phận người phụ nữ

trong ca dao người Việt giúp chúng ta hiểu sâu hơn về đặc điểm cũng như

những giá trị biểu đạt mà các từ ngữ đó mang lại Đồng thời, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về thân phận bé mọn của người phụ nữ và có niềm cảm thông với những thân phận như đóa phù dung sớm nở tối tàn của một kiếp người

Thế giới ngôn từ ca dao càng đi sâu khám phá càng tìm đến những thế

giới nghệ thuật riêng Và việc nghiên cứu đề tài Từ ngữ chỉ thân phận người

phụ nữ trong ca dao người Việt cũng mở ra một trong những thế giới nghệ

thuật riêng ấy Vì vậy, chúng tôi lựa chọn tìm hiểu đề tài trên với mong muốn

Trang 3

tìm hiểu thêm về nét đẹp ngôn ngữ của thể loại văn học dân gian Đồng thời, góp phần tìm hiểu thêm những điểm đặc sắc riêng của ngôn ngữ ca dao

Trong cuốn Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam Vũ Ngọc Phan đã đi sâu

vào nghiên cứu các biểu tượng và tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao để thể hiện những đặc sắc của những hình ảnh và biểu tượng

Trong cuốn Thi pháp ca dao của Nguyễn Xuân Kính lại đi sâu nghiên

cứu cách sử dụng và tổ chức ngôn ngữ trên các phương diện tạo hình và chuyển nghĩa Từ đó, cho chúng ta cái nhìn chi tiết về việc khảo cứu những vấn đề nghiên cứu đến ca dao

Hoàng Kim Ngọc trong cuốn So sánh và ẩn dụ trong ca dao trữ tình đã

nghiên cứu một cách tỉ mỉ, có hệ thống về phép so sánh và ẩn dụ được sử dụng trong ca dao trữ tình người Việt, đặc biệt là nghiên cứu ẩn dụ ở cấp độ phát ngôn câu

Trong cuốn Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Phan Cảnh đã nghiên cứu về

phương thức biểu hiện, tổ chức từ ngữ và phương thức chuyển nghĩa của ca dao để làm sáng rõ ngôn ngữ ca dao

Cũng khai thác trên phương diện ngôn ngữ, tác giả Phạm Thu Yến

trong cuốn Những thế giới nghệ thuật ca dao (1998) khi nghiên cứu về ngôn

ngữ và kết cấu tác giả đã phân tích kĩ đặc điểm sử dụng tính ngữ trong ca dao truyền thống dân gian

Trang 4

Lê Đức Luận trong cuốn Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt đã xem

xét ca dao dưới nhiều góc độ về cấu trúc Đặc biệt trong cuốn sách này khi tác giả đề cập tới kiểu nhân vật con gái một kiểu nhân vật “thể hiện vai trò của người con gái trong gia đình phụ quyền, vị thế của người con gái trong xã hội phong kiến Các đặc tính con gái và thân phận của họ trong xã hội” Tác giả

đã đi sâu làm rõ vấn đề này qua Hình tượng người phụ nữ được thể hiện tập

trung nhấn mạnh nhất trong bộ phận ca dao có hình thức mở đầu bằng “thân

em, em như, em là” [19, tr 294]

Hoàng Tiến Tựu trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam (1999) lại đề cập đến những phương diện cấu tứ trong ca dao Ông cho rằng: Trong mỗi bài

ca dao không chỉ có ý mà còn có tứ, đó là hai cái khác nhau cần phân biệt rõ

Ý là nội dung tương đối độc lập với hình thức, còn tứ là nội dung là được tổ chức, thể hiện một hình thức nghệ thuật nhất định, tạo ra hiệu quả thẩm mĩ riêng của mỗi bài ca dao [30, tr.177]

Trong cuốn Từ kí hiệu học đến thi pháp học, Hoàng Trinh đã nghiên

cứu việc tiếp cận ca dao theo hướng cấu trúc như: Tính mô thức, tính biến thể, tính liên văn bản, về hệ thống các đơn vị từ, cụm từ, ngữ đoạn có khả năng tạo nghĩa và chuyển nghĩa

Khi đứng trên góc độ văn học, theo Hoàng Tiến Tựu trong cuốn Bình

giảng ca dao (2001) cho rằng: “trong kho tàng ca dao truyền thống của chúng

ta, bộ phận nói về chủ đề than thân của người phụ nữ chiếm một tỉ lệ rất lớn

Đó là một trong những mảng ca dao hay nhất, giàu ý nghĩa xã hội và cũng giàu chất ca dao nhất” [31, tr.39] Vì thế, ông đã đi sâu vào phân tích hình ảnh

người phụ nữ qua những câu ca dao than thân Đồng thời, trong bài viết Cảm

hứng về thân phận người phụ nữ trong ca dao truyền thống và trong thơ hiện đại (1996), tác giả Phạm Thu Yến cũng đã phân tích và làm rõ số phận của

người phụ nữ trong ca dao, họ ý thức được thân phận nhỏ bé, mỏng manh của mình

Trang 5

Cũng đứng trên góc độ này, trong bài viết Hình ảnh “thân em”…trong

ca dao trữ tình đồng bằng sông Cửu Long (2000), Nguyễn Văn Nở cho rằng: Trong ca dao trữ tình đồng bằng sông Cửu Long cấu trúc so sánh “thân em”… không nhiều nhưng cũng góp thêm vào kho tàng ca dao dân tộc những hình ảnh so sánh mang đậm nét địa phương [25, tr.17] và đã nghiên cứu khá

cụ thể về những hình ảnh người phụ nữ Ngoài ra, trong bài viết Nghĩ về thân

phận người phụ nữ xưa qua một bài ca dao cũ (2002), Nguyễn Văn Nở cũng

đã thể hiện rõ thân phận của người phụ nữ trong vai trò là một người vợ

Như vậy, việc nghiên cứu ca dao trên nhiều phương diện đã khai thác hiệu quả những giá trị nghệ thuật của thể loại văn học dân gian này Nhưng khi đi sâu vào khám phá hình tượng người phụ nữ hầu hết các tác giả đều khai thác dưới góc độ văn học, còn phát triển dưới góc độ ngôn ngữ thì ít có một công trình nghiên cứu cụ thể Chính vì thế, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài

Từ ngữ chỉ thân phận người phụ nữ trong ca dao người Việt để có cái nhìn

tổng thể hơn khi khai thác về mảng ca dao than thân, một mảng ca dao đặc sắc giàu ý nghĩa và giàu chất ca dao Trên cơ sở kế thừa và tiếp thu những ý kiến, nhận xét, đánh giá của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi xem đó là những định hướng cần thiết để thực hiện đề tài khóa luận của mình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Từ ngữ chỉ thân phận người phụ nữ trong ca dao

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, phạm vi khảo sát của chúng tôi cũng được xác

định gói gọn trong ba tập Kho tàng ca dao người Việt (Tập I, II, III) do

Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (chủ biên), NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1995

Trang 6

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp như

sau:

- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại: Đó là việc đưa ra những

số liệu cụ thể về từ ngữ chỉ thân phận người phụ nữ trên nhiều phương diện như về từ vựng và ngữ pháp

- Phương pháp phân tích, chứng minh, tổng hợp: Được thể hiện ở việc làm rõ đặc điểm và ý nghĩa của những từ ngữ chỉ thân phận người phụ nữ

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Sử dụng phương pháp này nhằm thấy được cách thức biểu đạt với những sắc thái khác nhau của từ ngữ chỉ thân phận người phụ nữ

5 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của chúng tôi khi nghiên cứu đề tài này là nhằm tìm hiểu một cách cụ thể và rõ nét hơn về đặc điểm của từ ngữ chỉ thân phận người phụ nữ trong ca dao người Việt Từ đó, xem xét cách sử dụng từ ngữ chỉ thân phận người phụ nữ của tác giả dân gian để hiểu hơn ý thức thân phận của người phụ nữ và cái nhìn của xã hội đối với họ Mặt khác, nghiên cứu đề tài này còn góp phần hữu ích cho việc nghiên cứu, học tập và giảng dạy của chúng tôi sau

này

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn trình bày trong 3 chương sau:

- Chương Một: Những cơ sở lí luận chung

- Chương Hai: Đặc điểm từ ngữ chỉ thân phận người phụ nữ trong ca dao người Việt

- Chương Ba: Ý nghĩa biểu đạt của từ ngữ chỉ thân phận người phụ nữ trong ca dao người Việt

Trang 7

NỘI DUNG CHƯƠNG MỘT: NHỮNG CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG 1.1 Khái quát từ ngữ tiếng Việt

1.1.1 Khái niệm về từ

Từ là đơn vị của ngôn ngữ, nó có vai trò quan trọng để cấu thành nên những đơn vị lớn hơn như cụm từ, câu, văn bản Trong suốt quá trình lịch sử của ngôn ngữ học khái niệm về từ đã được các nhà nghiên cứu bàn luận Hiện nay có hơn 300 định nghĩa về từ nói chung, bởi lẽ có nhiều ngôn ngữ khác nhau thì hình thức ngữ âm, ngữ pháp của từ có thể khác nhau Chính vì thế, nhiều khái niệm về từ đã được hình thành, song vẫn có sự thống nhất trên cơ

sở từ là đơn vị trung tâm, cơ bản của ngôn ngữ Chúng ta có thể thấy các định nghĩa về từ của một số tác giả tiêu biểu như sau:

A.Mây-Yê: Từ là sự kết hợp giữa một ý nghĩa nhất định với một tổ hợp

âm nhất định Có khả năng đảm nhận một chức năng ngữ pháp nhất định [17,

tr.36] V.M.Solneev: Từ là đơn vị ngôn ngữ có tính hai mặt: âm và nghĩa Có

khả năng độc lập về cú pháp khi sử dụng trong lời nói [17, tr.13]

Hồ Lê: Từ là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh phi liên kết hiện

thực hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính

vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa [17, tr.104]

Nguyễn Kim Thản: Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách

khỏi các đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa và chức năng ngữ pháp [17, tr.38]

Theo Hoàng Phê cùng nhóm tác giả cuốn Từ điển tiếng Việt cho

rằng: “Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định dùng để đặt câu” [28, tr.1326]

Trang 8

Nguyễn Thiện Giáp: Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý

nghĩa dùng để cấu tạo câu nói: nó có hình thức của một âm tiết, một “chữ” viết rời [18, tr.17]

Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến: “Từ là đơn vị

nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu” [3, tr.142]

Đỗ Hữu Châu: Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định,

bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định lớn nhất trong Tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu [2, tr.139]

Đỗ Thị Kim Liên: Từ là một đơn vị của ngôn ngữ, gồm một hoặc một

số âm tiết, có nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh và được vận dụng tự do

để cấu tạo nên câu [18, tr.18]

Như vậy, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những định nghĩa về từ tiếng Việt xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau Song cơ bản các định nghĩa đã đưa

ra được những đặc điểm cụ thể của từ, đó là những căn cứ quan trọng cho việc khảo sát về từ ngữ chỉ thân phận người phụ nữ của chúng tôi trong các chương tiếp theo

1.1.2 Khái niệm về ngữ

Khi nói, viết, chúng ta thường sử dụng đơn vị thông báo ở cấp độ câu

Để tạo nên câu cần có từ Các từ thường sắp xếp theo những quan hệ nào đó

để tạo nên đơn vị lớn hơn từ, đó là ngữ

Ngữ được gọi bằng một số tên gọi khác nhau, xuất phát từ những quan niệm và mục đích nghiên cứu không giống nhau: đoản ngữ (Nguyễn Tài Cẩn), cụm từ (Lê Xuân Thại), ngữ đoạn (Lưu Vân Lăng)

Trang 9

Ngữ (hay cụm từ) là những cấu trúc gồm hai từ trở lên, chúng kết hợp

tự do với nhau theo những kiểu quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp nhất định [18,

tr.75]

Như vậy, ngữ là đơn vị ngữ pháp ở bậc trung gian giữa từ và câu Loại ngữ do danh từ làm chính tố gọi là ngữ danh từ, loại ngữ do động từ, tính từ làm chính tố gọi là ngữ động từ, ngữ tính từ

Xét về mặt nghĩa, ngữ là một cấu tạo có tác dụng làm cho nghĩa của chính tố được thực tại hóa, tức là có liên hệ với thực tại Trong ngữ danh từ, nghĩa thực tại hóa là nghĩa về tính xác định Trong ngữ động từ, ngữ tính từ, nghĩa thực tại hóa là nghĩa về tính hoạt động và tình thái

Xét về mặt ngữ pháp, ngữ là một cấu tạo theo quan hệ cú pháp chính phụ Phương tiện để biểu thị quan hệ chính phụ là trật tự, kết từ và ngữ điệu

Theo Đỗ Thị Kim Liên, ngữ cũng là một dạng cụm từ và tác giả cho rằng có các loại cụm từ sau:

- Cụm từ đẳng lập: có hai thành phần không phụ thuộc vào nhau, cùng

giữ một chức vụ ngữ pháp,…Ví dụ: Tôi và em/ cùng đi chơi: Cụm từ “tôi và

em” cùng làm chức năng chủ ngữ

- Cụm từ chủ vị: có hai thành phần c - v tác động qua lại lẫn nhau và

cùng mang ý nghĩa tường thuật Ví dụ: Em đi /làm anh nhớ Câu này có 2

cụm từ: em - đi, anh – nhớ

- Cụm chính phụ: gồm một thực từ làm hạt nhân và những thành tố phụ bao quanh hạt nhân [18, tr.77-98]

Theo chúng tôi, thực ra thì cụm danh từ, cụm động từ và cụm tính từ đều là cụm chính phụ Cụm danh từ thì danh từ là từ hạt nhân, cụm động từ thì động từ làm hạt nhân và cụm tính từ thì tính từ làm hạt nhân

Tuy nhiên, theo chúng tôi, cụm từ và ngữ có cấu tạo khác nhau, cụm từ thường chỉ có một tổ hợp từ ba từ đến sáu từ còn ngữ có thể có cấu trúc nhiều

Trang 10

yếu tố phụ trước và sau Thành ngữ là một loại cụm từ cố định nhưng chức năng ngữ nghĩa như từ

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi nghiên cứu chủ yếu trên phương diện ngữ danh từ, ngữ động từ Đồng thời khai thác trong cấu trúc ngữ so sánh để làm nổi bật ý nghĩa của đề tài

1.1.3 Các kiểu từ tiếng Việt

Trong quá trình khảo sát, xét về mặt từ vựng, chúng tôi phân loại hai dạng từ chỉ thân phận người phụ nữ trong ca dao: từ xưng hô và từ chỉ giới tính

Từ xưng hô trong tiếng Việt rất đa dạng về chủng loại, linh hoạt và giàu màu sắc biểu cảm trong sử dụng Theo Lê Thanh Kim: nếu xét từ góc độ hệ thống chức năng, có thể phân chia từ xưng hô trong tiếng Việt thành hai loại:

từ xưng hô thực thụ và từ xưng hô lâm thời Từ xưng hô lâm thời bao gồm: danh từ thân thuộc, các từ chỉ nơi chốn, chức danh nghề nghiệp, tên riêng của người,…

Từ chỉ giới là những từ chỉ sự khác biệt nam, nữ về mặt sinh học Theo

từ điển tiếng Việt của viện ngôn ngữ do Hoàng Phê chủ biên (2009) “Giới tính là những đặc điểm chung phân biệt nam và nữ, giống đực và giống cái (nói tổng quát)” [28, tr.524]

Xét về mặt cấu tạo ngữ pháp, chúng tôi căn cứ theo nguyên tắc phân loại của Đỗ Thị Kim Liên Dựa vào số lượng hình vị, có thể chia từ tiếng Việt thành từ đơn và từ phức:

Từ đơn là những từ do một hình vị tạo nên: thiếp, nàng, em,…

Từ phức là những từ bao gồm hai hình vị trở lên: trái bần, cánh bèo, cái bống,…

Dựa vào phương thức cấu tạo từ, có thể chia từ phức thành từ ghép và

từ láy:

Trang 11

Từ ghép là những từ được tạo thành bằng cách ghép hai hoặc hơn hai hình vị theo một kiểu quan hệ từ pháp nhất định: cái chổi, hạc đầu đình,…

Từ ghép gồm hai loại: từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ Từ ghép đẳng lập thường gồm hai hình vị (loại ba hình vị có số lượng hạn chế), có vai trò tương đương nhau, không phụ thuộc nhau, cùng tạo thành một kết hợp mang nghĩa khái quát, khác nghĩa từng thành tố Từ ghép chính phụ gồm một hình vị mang nghĩa tổng loại chung (về sự vật, hoạt động, thuộc tính) và một hoặc một số hình vị đứng sau có tác dụng phân hóa nghĩa: thân thiếp, phận thiếp,…

Từ láy là những từ được cấu tạo dựa trên phương thức láy ngữ âm: nung núc, mũm mĩm,…

Khi xét về từ ngữ chỉ thân phận người phụ nữ chúng tôi không xét trên phương diện từ láy mà chỉ đi sâu khảo sát về mặt từ đơn và từ ghép để khảo sát

1.1.4 Từ loại tiếng Việt

“Từ loại là lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp, được phân chia dựa theo

ý nghĩa phạm trù, theo khả năng kết hợp trong một cụm từ và trong câu, thực hiện chức vụ ngữ pháp khác nhau” [18, tr.44]

Việc phân định từ tiếng Việt dựa vào ba tiêu chí sau:

Trước hết, dựa vào ý nghĩa khái quát Đó là ý nghĩa khái quát của hàng loạt từ trên cơ sở khái quát hóa từ vựng thành khái quát hóa phạm trù ngữ pháp chung

Ví dụ: - Hoa, tranh, ngôi nhà,… mang ý nghĩa sự vật

- Đi, đứng, ngồi, chạy,… mang ý nghĩa hoạt động

Thứ hai, dựa vào khả năng kết hợp Với ý nghĩa khái quát, các từ có khả năng tham gia vào một kết hợp có nghĩa Ở mỗi vị trí của kết hợp có thể xuất hiện những từ có khả năng lần lượt thay thế nhau Trong khi đó, ở các vị

Trang 12

trí khác trong kết hợp, các từ còn lại tạo ra bối cảnh cho sự xuất hiện khả năng thay thế của những từ nói trên Những từ cùng xuất hiện trong một bối cảnh

có khả năng thay thế cho nhau ở cùng một vị trí, có tính chất thường xuyên, được tập hợp thành một lớp từ loại Các từ tạo ra bối cảnh thường xuyên cho những từ có thể thay thế nhau ở vị trí nhất định được gọi là từ chứng Khả năng kết hợp của từ trong các ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập là sự phân bố trật tự và việc sử dụng các phụ từ để biểu hiện các ý nghĩa ngữ pháp ra bên ngoài

Thứ ba, dựa vào chức năng ngữ pháp Tham gia vào cấu tạo câu, từ có thể đứng ở một hay một số vị trí nhất định trong câu, hoặc có thể thay thế nhau ở vị trí nào đó và cùng biểu thị một mối quan hệ về chức năng ngữ pháp với các thành phần khác trong cấu tạo câu thì xếp vào một từ loại Tuy nhiên,

vì thường một từ có thể giữ nhiều chức năng cú pháp trong câu nên cần phải xem xét chức năng cú pháp nào của từ là chủ yếu để làm căn cứ phân loại

Trong câu, danh từ thường làm chủ ngữ, động từ, tính từ thường làm vị ngữ Căn cứ vào khả năng phản ánh hiện thực của từ và chức năng ngữ pháp,

từ tiếng Việt được chia thành hai lớp loại từ: thực từ và hư từ

- Thực từ là những từ có ý nghĩa từ vựng cụ thể, chân thực; có khả năng làm trung tâm trong cấu trúc cụm từ và đảm nhận những chức vụ ngữ pháp trong câu Các từ loại thuộc nhóm thực từ: danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số

từ

- Hư từ là những từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, chỉ biểu thị ý nghĩa ngữ pháp hay ý nghĩa tình thái nào đó; không có khả năng làm trung tâm trong cấu trúc cụm từ, chỉ dùng để đi kèm với thực từ, làm chức năng nối kết để biểu thị ý nghĩa ngữ pháp nào đó; không có khả năng đảm nhận các chức vụ ngữ pháp trong câu Các từ loại thuộc nhóm hư từ: phụ từ, kết từ, trợ

từ, tình thái từ

Trang 13

1.2 Đặc trưng ngôn ngữ ca dao

1.2.1 Khái niệm về ca dao

Ca dao là một thể loại trữ tình dân gian Nói đến ca dao người ta thường nghĩ tới những lời thơ dân gian, đó “là lời của các bài hát dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy,… hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể bẻ thành những làn điệu dân ca” (Chu Xuân Diên)

Trong quá trình nghiên cứu và khảo sát các thể loại trữ tình dân gian, khái niệm ca dao đã có nhiều người đề cập đến với nhiều cách lí giải khác nhau Theo Vũ Ngọc Phan nói về ca dao nội dung của ca dao: “Ca dao Việt Nam là những bài thơ tình tứ, là khuôn thước cho lối thơ trữ tình Tình yêu của người lao động Việt Nam trong ca dao được thể hiện nhiều mặt: tình yêu nam nữ, yêu đất nước làng xóm, yêu lao động, yêu giai cấp yêu thiên nhiên, yêu hoà bình Không những thế, ca dao còn biểu hiện tư tưởng đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong cuộc sống xã hội trong những tiếp xúc với thiên nhiên và ca dao còn biểu hiện sự trưởng thành của tư tưởng ấy qua các thời kỳ lịch sử” [27, tr.67]

Bên cạnh đó, Nguyễn Xuân Kính cũng khẳng định rằng: Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách Ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian có nội dung trữ tình và trào phúng

Theo Lê Đức Luận, “Ca dao là lời của câu hát dân gian và những sáng tác ngâm vịnh được lưu truyền trong dân gian và gọi chung là lời ca dân gian” [19, tr.26]

Có thể nói, ca dao đã đi sâu vào lòng người với tất cả những phong vị của nó Và cho đến ngày nay, sức sống của ca dao vẫn phát triển mạnh mẽ trong đời sống tinh thần của người Việt

Trang 14

1.2.2 Đặc trưng ngôn ngữ ca dao

Theo Mai Ngọc Chừ “ngôn ngữ ca dao đã kết tụ những đặc điểm nghệ thuật tuyệt vời của tiếng Việt Nó có cả những đặc điểm tinh túy của ngôn ngữ văn học (cụ thể là ngôn ngữ thơ), đồng thời nó còn là sự vận dụng linh hoạt tài tình, có hiệu quả cao của ngôn ngữ chung, ngôn ngữ hội thoại và một loạt ngôn ngữ truyền miệng đặc biệt: truyền miệng bằng thơ”

Như vậy, chúng ta có thể thấy ngôn ngữ ca dao là sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời thường Đó là những câu sử dụng ngôn ngữ điêu luyện với biện pháp tu từ mẫu mực, đặc sắc:

- Họa may thiếp bén duyên chàng

Như chuông có chế nước vàng, kêu xa [H159, tr.1100]

- Trời xanh dưới nước cũng xanh

Trên non gió thổi dưới giành sóng xao [TR676, tr.2278]

Ngôn ngữ ca dao trữ tình mang tính khẩu ngữ đời thường:

Đêm qua bà chả ngủ đâu

Nó khênh nó bỏ vườn dâu bao giờ [Đ414, tr.788]

Ngôn ngữ ca dao trữ tình mang tính địa phương: nó thân thuộc với nhân dân mỗi vùng miền nhất định

Ví dụ: từ “nỏ” nghĩa là “không” ở Nghệ An đã xuất hiện rất nhiều trong các câu ca dao:

Không thương nỏ nói khi đầu Làm chi dan díu giữa cầu mà buông [KH234, tr.1211]

Hay ở miền nam người ta gọi bạn bè là “qua” với “bậu”:

Không thương nhau nữa thì thôi Bậu gieo tiếng giữ cho rồi bậu ra Bậu ra cho khỏi tay qua Cái xương bậu nát, cái da bậu mềm [KH236, tr.1211]

Trang 15

Đặc biệt khi nói đến ca dao, về hình thức phải chú ý đến nhịp điệu Nhịp điệu giữ một vai trò hết sức quan trọng Chính nhịp điệu đã tạo nên tính nhạc cho ca dao:

Nghĩ xa / thôi lại / nghĩ gần Làm thân / con nhện / mấy lần / chăng tơ [NG134, tr.1557]

Với nhịp thơ chẵn 2/2, cách gieo vần tiếng thứ sáu câu lục với tiếng thứ sáu của câu bát Vần và nhịp tạo ra sự hài hòa, biểu hiện được cảm xúc của người nói, người nghe Ca dao ngắt nhịp 2/2 là chính, nhưng nhiều trường hợp trong ca dao ngắt nhịp rất sáng tạo, nhịp điệu phù hợp với tâm trạng khác nhau:

Mặc ai lưới / mặc ai te

Ta cứ thủng thỉnh / kéo bè nghênh ngang [M59, tr.1316]

Ca dao với cách nói bóng bẩy, đầy ẩn ý, mang tính đa nghĩa đã thể hiện được những tâm tư, tình cảm của người dân lao động xưa Chính sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời thường đã tạo nên cái hay, cái đẹp cho thể loại ca dao Nó vừa là những ca từ mượt mà lại vừa giản dị mang đậm dấu ấn người Việt

Qua đây, một lần nữa chúng ta có thể khẳng định rằng: Ca dao trữ tình

là loại lời nói có vần điệu, có cảm xúc, có hình ảnh Bằng việc đan kết các hình thức kết cấu đối đáp, ngôn ngữ vừa mang tính nghệ thuật vừa đậm chất đời thường, đã tạo nên điểm nhấn cho ca dao Chính vì thế, ca dao đã trở thành điệu hồn của dân tộc, một nét đẹp văn hóa từ ngàn đời nay của người Việt

1.2.3 Từ ngữ chỉ thân phận người phụ nữ trong ca dao

Theo Hoàng Phê “Thân phận là địa vị xã hội thấp hèn hoặc cảnh ngộ không may mắn mà con người không sao thoát khỏi được, do số phận định đoạt” [28, tr.1190] Và theo chúng tôi thân phận đó còn là số phận của mỗi

Trang 16

con người Mỗi thân con người đều có một số phận Khi xét về từ ngữ chỉ thân phận người phụ nữ trong ca dao, chúng tôi cũng dựa trên khái niệm này

để khảo sát Đó là những lớp từ ngữ chỉ thân phận thấp hèn của người phụ nữ:

Thiếp than phận thiếp còn thơ

Lấy chồng xa xứ, bơ vơ một mình [TH341, tr.2063]

Song bên cạnh đó, chúng tôi cũng xin làm rõ ý thức thân phận cao quý của người phụ nữ trong xã hội xưa qua hệ thống từ ngữ chỉ thân phận Ví như:

Thân em như thể hoa hường

Anh xem cho có ý, kẻo mắc đường chông gai [TH168 Tr2030]

Xét về từ, đứng trên phương diện từ vựng, chúng ta có từ xưng hô chỉ thân phận người phụ nữ như: thiếp, nàng, cô kia,… Từ chỉ giới tính xét theo nghĩa hàm ngôn trong cách nói của ca dao: cái bống, hoa sen, hoa nhài, hoa hồng,… Chính hệ thống từ ngữ này, đã làm nổi bật thân phận “ba chìm, bảy nổi, chín lênh đênh” của những người phụ nữ

Cũng xét về từ, đứng trên phương diện cấu tạo, hệ thống từ ngữ chỉ thân phận được thể hiện qua hai hình thức: từ đơn và từ ghép Nhưng phần đa là từ ghép vì nó thể hiện được rõ nét ý nghĩa thân phận của người phụ nữ như: hạc đầu đình, chổi rơm, trái bần,…

Đặc biệt, khi xét về ngữ chỉ thân phận người phụ nữ, chúng ta lại thấy rõ hơn ý thức thân phận “nữ nhi” trong xã hội xưa Với tổ hợp từ như: cái bung xung, chổi đâu hè,… Đây là ngữ danh từ, và cụ thể hơn trong ngữ danh từ luôn có sự kết hợp giữa danh từ chỉ loại với danh từ (cái bung xung) Danh từ chỉ loại là những từ “mang ý nghĩa mờ nhạt, không biểu thị một sự vật, hiện tượng nào: con, cây, cục, cái, chiếc, bức, hòn, tấm, mảnh,… Những từ này thường dùng để xác định ý nghĩa cá thể, ý nghĩa chủng loại Chúng thường đứng trước những danh từ chung để có tác dụng loại biệt hóa những danh từ chung đó” [18, tr.46] Danh từ kết hợp với định ngữ lâm thời (tức là những

Trang 17

định ngữ không chỉ bản chất của sự vật) ví như: chổi đầu hè, trái bần trôi,…

để chỉ rõ thân phận bọt bèo của người phụ nữ

Cũng xét về ngữ, trong cấu trúc so sánh thể hiện rất rõ thân phận người phụ nữ Chính hệ thống từ ngữ mang tính ước lệ tượng trưng này, đã phần nào phản ánh cuộc sống tủi cực của những con người mang thân phận làm con, làm vợ, làm lẽ của người phụ nữ:

Thân em như lá đài bi

Ngày thì dài nắng đêm thì dầm sương [TH153, tr.2027]

Có thể nói rằng, từ ngữ chỉ thân phận người phụ nữ thể hiện trên nhiều phương diện như trong cách xưng hô hay cách chỉ giới; trong từ đơn hay từ ghép; trong ngữ danh từ hay ngữ động từ,… Song tựu chung, hệ thống từ ngữ chỉ thân phận người phụ nữ trong ca dao đa phần mang tính ước lệ tượng trưng Bởi lẽ trong xã hội xưa, người phụ nữ với thân phận thấp hèn, họ chỉ có thể gửi gắm nỗi niềm qua ca dao để giãi bày tâm trạng, giãi bày cho số phận

éo le của mình

1.3 Diễn ngôn và hội thoại

1.3.1 Khái niệm về diễn ngôn

Khi nghiên cứu về diễn ngôn, đặc biệt là phân tích diễn ngôn đã được nhiều người đề cập đến dưới nhiều góc độ khác nhau: ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ học tâm lí, ngôn ngữ học triết học, ngôn ngữ học văn bản,… Ở Việt Nam, Trần Ngọc Thêm đã đề cập tới phân tích diễn ngôn khi nghiên cứu Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, Nguyễn Đức Dân, Đỗ Hữu Châu, Hoàng Phê,… nghiên cứu phân tích diễn ngôn dưới góc độ ngữ dụng học

Trên thế giới có nhiều quan niệm về diễn ngôn như: Theo Cook diễn ngôn như là “Các chuỗi ngôn ngữ được cảm nhận như có ý nghĩa, thống nhất

và có mục đích” [9, tr.31]

Trang 18

Numan lại cho rằng “Diễn ngôn chỉ việc hiểu một sự kiện giao tiếp trong ngữ cảnh” [9, tr.31] Còn Winddowson lại phát biểu như sau: “Diễn ngôn là một quá trình giao tiếp Kết quả về mặt tình huống của quá trình này

là sự thay đổi trong sự thể: thông tin được chuyển tải, các ý định được làm rõ,

và sản phẩm của quá trình này là văn bản” [9, tr.32]

Qua khái niệm này, chúng ta thấy được khái niệm diễn ngôn rộng hơn văn bản Và đôi khi việc xác định ranh giới giữa diễn ngôn và văn bản vẫn đang có sự nhầm lẫn trong một số trường hợp nhất định

Theo Nguyễn Hòa quan niệm về diễn ngôn là “Sự kiện hay quá trình giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất có mục đích không có giới hạn được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể” [6, tr.33]

Như vậy, chúng ta có thể thấy để có được một sự kiện giao tiếp hoàn chỉnh, diễn ngôn phải có tính chủ đề từ chủ đề bộ phận đến chủ đề chung, có mạch lạc Và để tạo nên mạch lạc, diễn ngôn không những phải thể hiện sự liên kết trên nhiều phương diện mà còn là sự tổ chức một cách hợp lí của các yếu tố quan yếu (có giá trị giao tiếp) tuân theo các quy tắc cần và đủ

1.3.2 Khái niệm về hội thoại

Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người Và hoạt động giao tiếp là hoạt động cần thiết trong cuộc sống thường ngày Đó có thể

là giao tiếp một chiều: một bên nói và một bên nghe Đây gọi là độc thoại Ví dụ: diễn văn khai mạc cuộc thi văn hóa, báo cáo về quá trình học tập của sinh viên,

Giao tiếp có thể hai chiều Đó là sự tương tác giữa hai đối tượng có sự thay đổi luân phiên lượt lời trong giao tiếp Đây chính là hội thoại Mà theo

Đỗ Hữu Châu “Hội thoại là hoạt động giao tiếp cơ bản, thường xuyên, phổ biến của sự hành chức của ngôn ngữ” [2, tr.41]

Trang 19

Hội thoại thường gồm ba vận động: Sự trao lời, sự trao đáp và sự tương tác Nếu thiếu một trong ba vận động trên thì không thể đảm bảo nguyên tắc hội thoại Trong hội thoại, ngoài ngôn ngữ còn có các yếu tố đi kèm như: điệu

bộ, cử chỉ,… Các yếu tố đi kèm ngôn ngữ rất phong phú gồm: yếu tố kèm lời tĩnh và yếu tố kèm lời động Với yếu tố kèm lời tĩnh như: diện mạo, trang phục,… Cung cấp thông tin về giới tính, tuổi tác, dân tộc, thành phần xã hội

và có thể là tính cách Đặc biệt yếu tố kèm lời tĩnh tạo thiện cảm hoặc ác cảm với người đối thoại, từ đó họ có thể chấp nhận hoặc chối bỏ cuộc thoại

Còn với yếu tố kèm lời động, đó là các hoạt động như nụ cười, tư thế ngồi, khoảng cách ngồi, cử chỉ, điệu bộ khác,… và các yếu tố này có thể thay đổi theo cuộc thoại Các yếu tố này rất quan trọng, thiếu chúng hội thoại sẽ nhạt, thậm chí sẽ chấm dứt

Xét trên phương diện nhiều mặt thì hội thoại là hoạt động giao tiếp quan trọng của con người nên được các nhà ngôn ngữ nghiên cứu rất kĩ Xét trong cấu trúc hội thoại có ba dạng chính: song thoại, tam thoại và đa thoại Trong

đó song thoại là dạng cơ bản của hội thoại và là dạng phổ biến trong ca dao trữ tình

Trong quá trình khảo sát, chúng tôi căn cứ vào khái niệm hội thoại để xác định điểm nhìn của người phụ nữ khi ý thức về thân phận của mình Và xác định điểm nhìn của xã hội đối với người phụ nữ trong xã hội xưa

1.3.3 Đặc điểm hội thoại trong ca dao

Trong ca dao cuộc vận động hội thoại chủ yếu là trao đáp Chủ thể tham gia vào các cuộc trao đáp là những đôi nam nữ đang yêu Lời trao đáp chỉ diễn ra với dung lượng ngắn, đa số là: hai câu đầu của chủ thể giao tiếp ở ngôi xưng thứ nhất và hai câu của đối tượng giao tiếp ở ngôi thứ hai

Trang 20

Một điều dễ nhận thấy trong ca dao trữ tình xuất hiện giao tiếp một phía Chỉ có xưng mà không có hô hoặc ngược lại chỉ có hô mà không có xưng Và khi nói về thân phận của mình, người phụ nữ tự xưng:

Thiếp như mía tiến vừa tơ

Chàng như chuối ngự, còn chờ đợi ai?

Núi cao sông hãy còn dài Thương nhau đã dễ mấy ngày gặp nhau [TH335, tr.2062]

Đứng trên điểm nhìn của nam giới, người con trai tự xưng:

Nước chảy riu riu, lục bình trôi ríu ríu Anh thấy em nhỏ xíu anh thương [N283, tr.1511]

Ngoài ra trong ca dao trữ tình xuất hiện hội thoại không tuân theo nguyên tắc lượt lời Ví như chàng trai hỏi cô gái:

Làm thơ gửi đến tận tay Anh hỏi em rằng có lấy anh không

Nhưng không chờ cô gái trả lời, chàng trai nói tiếp:

Phải chăng số phận long đong

Để cho hoa nở về đông trái mùa Hay là phận đẹp duyên ưa Chọn ngày đại cát anh đưa em về [L88, tr.1234]

Trong giao tiếp một phía hay luân phiên lượt lời thì hiệu quả giao tiếp vẫn không thay đổi Đó chính là đặc điểm nổi bật của hội thoại trong ca dao

Và khi xét về từ ngữ chỉ thân phận người phụ nữ, đứng trên phương diện của từng vai giao tiếp (nam hay nữ) thì chúng ta mới thấy được cái đặc sắc của hệ thống từ ngữ chỉ thân phận

Tiểu kết:

Từ ngữ chỉ thân phận người phụ nữ trong ca dao trữ tình người Việt là

hệ thống từ ngữ mạng tính nội hàm, nó phù hợp với hoàn cảnh trong xã hội xưa Ở đó, người phụ nữ không được coi trọng vì những hà khắc của lễ giáo

Trang 21

phong kiến Chính vì thế, họ ý thức được thân phận của mình, đồng thời ý thức được cái nhìn của xã hội đối với họ Và để đi sâu vào khảo sát, nghiên cứu lớp từ ngữ này, chúng tôi đã xác lập những vấn đề lí luận cơ bản về đề tài

để làm tiền đề cho việc phân tích ở các chương sau

Trang 22

CHƯƠNG HAI: ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ CHỈ THÂN PHẬN NGƯỜI

PHỤ NỮ TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT

Trong quá trình khảo sát, từ chỉ thân phận người phụ nữ trong ca dao chúng tôi tập trung khảo sát trên hai dạng: Từ ngữ mang ý nghĩa tường minh

và từ ngữ mang ý nghĩa hàm ẩn.Trong đó, từ ngữ mang ý nghĩa tường minh bao gồm: từ xưng hô và ngữ động từ; Từ ngữ mang tính hàm ẩn bao gồm: từ chỉ giới tính, ngữ danh từ Đặc biệt lớp từ đơn, từ ghép và ngữ so sánh thuộc

cả hai dạng trên Cụ thể được sơ đồ hóa như sau:

so sánh

Từ ngữ mang ý nghĩa hàm ẩn

Từ ngữ mang

ý nghĩa tường minh

Từ xưng hô

Từ chỉ giới tính

Ngữ danh từ Ngữ động từ

Trang 23

Để đi vào khảo sát và phân tích cụ thể về đặc điểm của từ và ngữ chỉ

thân phận người phụ nữ, chúng tôi xin trình bày ở các phần dưới đây:

2.1 Đặc điểm về từ chỉ thân phận người phụ nữ

Khi nghiên cứu về đề tài “Từ ngữ chỉ thân phận người phụ nữ trong ca

dao ca dao người Việt” chúng tôi tiến hành khảo sát trên tổng số 11825 đơn vị

ca dao (tương ứng với bài ca dao) trong 3 tập kho tàng ca dao người Việt Trong đó có 1506 đơn vị ca dao có chứa từ chỉ thân phận người phụ nữ Và khi xét về phương diện từ vựng chúng tôi xét hai dạng từ: từ xưng hô và từ chỉ giới tính Về từ xưng hô có 734 từ /1506 đơn vị ca dao, chiếm 48,74 (%)

Về từ chỉ giới tính có 84 từ /1506 đơn vị ca dao, chiếm 5,58 (%) Còn khi xét trên phương diện cấu tạo, chúng tôi xét trên hai dạng từ: từ đơn và từ ghép

Về từ đơn có 393 từ /1506 đơn vị ca dao, chiếm 26,09 (%) Về từ ghép có 295

từ /1506 đơn vị ca dao, chiếm 19,59 (%)

Trên đây, là những kết quả khảo sát ban đầu về từ chỉ thân phận người phụ nữ Để đi sâu vào chi tiết chúng tôi xin trình bày cụ thể ở những phần dưới đây:

Qua đây, chúng ta nhận thấy rõ sự chênh lệch rõ ràng giữa hai dạng từ

Từ xưng hô chiếm tỉ lệ lớn hơn với (89,73%), từ chỉ giới tính chiếm tỉ lệ ít

Trang 24

hơn (lưu ý chỉ xét những từ mang ý nghĩa hàm ẩn chỉ giới tính) Để hiểu rõ thêm giá trị sử dụng của hai dạng từ này, chúng ta sẽ cùng nhau phân tích về

từ xưng hô và từ chỉ giới tính:

2.1.1.1 Từ xưng hô thể hiện thân phận người phụ nữ

Khi nói về thân phận người phụ nữ, đặc biệt là những người phụ nữ trong xã hội xưa, từ xưng hô đã phần nào thể hiện được thân phận của họ Trong quá trình khảo sát, chúng tôi đã thống kê được số lượng và tần số xuất hiện của các từ xưng hô chỉ thân phận người phụ nữ qua bảng thống kê sau:

Bảng 2: Bảng thống kê từ xưng hô chỉ thân phận người phụ nữ

Em là con gái nhà nghèo

Cơm khoai rau cháo bữa chiều lại thiếu bữa mai [E111, tr.951]

Trang 25

Người con gái cực khổ trăm đường với số phận:

Khổ chi phận em cha chả là cam phận khổ

Lên non đốn củi đụng chỗ đốn rồi Xuống sông gánh nước Đụng chỗ cát bồi khe khô [KH169, tr.1200]

Người phụ nữ ý thức được thân phận thấp hèn, bé mọn của mình, thể hiện trong lời than thân, trách phận Nhưng hơn hết, họ phần nào đã khẳng định giá trị của mình trong những lời than trách ấy:

Em như cây quế trong rừng

Thơm cay ai biết ngát lừng ai hay [E175, tr.966]

Nếu như khi xưng “em” người phụ nữ thể hiện sự chủ động và có phần quyết liệt trong cách giao tiếp với nam giới Thì khi xưng “thiếp” người phụ

nữ lại thể hiện sự nhún nhường, e ngại hơn trong cách giao tiếp với nam giới

“Thiếp” là “từ chỉ người phụ nữ ngày trước dùng để xưng một cách khiêm nhường khi nói với chồng hoặc với người đàn ông nói chung” [28, tr.1213] Với tần số xuất hiện là 260 lần, chiếm 35,42(%), đứng ở vị trí thứ hai, điều này thể hiện ý thức thân phận của người phụ nữ Chính vì thế, nên khi nói về bản thân hay trong đối thoại với người khác, người phụ nữ vẫn luôn nhún nhường, dè dặt trong cách nói:

- Mẹ mong gả thiếp về gồng

Thiếp than phận thiếp gánh gồng chẳng kham [M219, tr.1345]

- Vì chàng thiếp phải bắt cua

Ví như mình thiếp thì mua mấy đồng [V150, tr.2324]

Khi xưng hô với nam giới trong giao tiếp:

Đêm năm canh, ngày sáu khắc, chàng ơi

Chàng cười nửa miệng thiếp tôi đây vui nỗi gì [Đ360, tr.780]

Trang 26

“Thiếp” trong nhóm yếu tố từ xưng hô mang đặc tính đại từ, kết quả của quá trình vay mượn Nó mang dấu ấn của thân “lẽ mọn”, nên “thiếp” không thể chủ động quyết liệt như em:

Em mà không lấy được anh Thì em tự vẫn gốc chanh nhà chàng [E127, tr.958]

Khi xưng hô với chồng ý thức thân phận được hiện lên rõ rệt:

Khi xưa thiếp sáng ràng rạng như gương

Thiếp liều mình thiếp trao thương cho chàng

Nay chừ huệ héo lan tàn Thầy mẹ đánh mắng dạ chàng khiến vong [KH126, tr.1192]

Như vậy, trong ca dao khi người phụ nữ xưng “thiếp” thường là nói với chồng thể hiện thân phận làm vợ (mang tính khiêm nhường), của người phụ

nữ trong xã hội xưa

Đứng trên điểm nhìn của xã hội đối với người phụ nữ, chúng ta có hai dạng: người con trai nói về người phụ nữ và cả xã hội nói về người phụ nữ Khi nam giới nói về nữ giới, đặc biệt là trong quan hệ tình yêu nam nữ Họ thường gọi người con gái là “nàng” Đây là “từ dùng để gọi hoặc chỉ người phụ nữ trẻ tuổi được yêu quý” [28, tr.843] Nó chiếm 11,17(%) trong tổng số các từ xưng hô chỉ thân phận người phụ nữ Nhìn chung, trong con mắt của người con trai họ vẫn trân trọng những người phụ nữ (người mà họ yêu thương) Trong khi yêu là như vậy, nhưng khi thành chính thất thì không biết

sẽ như thế nào? Vậy nên:

Gió đưa trăng con muỗi mòng xao xuyến

Anh xa nàng vì tiếng thị phi [Gi163, tr.1057]

Trên điểm nhìn của xã hội đối với người phụ nữ chúng ta bắt gặp từ “cô kia” với tần số xuất hiện là 26 lần, chiếm 3,54(%) Tất cả đã phần nào phản

Trang 27

ánh thân phận thấp hèn của người phụ nữ qua cách nói, cách cảm nhận của người xưa

Qua từ ngữ xưng hô, người phụ nữ luôn ý thức được thân phận thấp hèn,

bé nhỏ của mình trong con mắt của thế gian Mặc dù, có đôi lúc những thân phận nữ nhi ấy trong con mắt của nam giới được trân trọng, được nâng niu Nhưng tựu chung, họ vẫn mang thân phận hèn mòn và ý thức thân phận ấy, đã

ăn sâu trong tâm tưởng của người phụ nữ khi sống trong xã hội phong kiến đầy những hủ tục hà khắc

2.1.1.2 Từ chỉ giới tính thể hiện thân phận người phụ nữ

Thông thường từ chỉ giới tính đơn thuần chỉ là nam hay nữ mà thôi Nhưng trong ngôn ngữ nghệ thuật ca dao, tác giả dân gian đã sử dụng những

từ nghệ thuật qua một số biện pháp tu từ để thể hiện giới tính trong ca dao Ở đây, chúng tôi chỉ xét về giới tính nữ mang tính hàm ngôn

Bảng 3: Từ chỉ giới tính nữ mang tính hàm ngôn chỉ thân phận người

Trang 28

Trên phương diện ý thức thân phận thấp hèn, bé mọn, tác giả dân gian

sử dụng từ ngữ như “bến”, “cái bống” Hình ảnh “bến” xuất hiện 13 lần (15,48%), đặt trong điểm nhìn phát ngôn của người phụ nữ, chúng ta thấy thân phận của người phụ nữ hiện lên:

- Thuyền ơi có nhớ bến chăng

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền [TH496, tr.2093]

- Thuyền đi để bến đợi chờ

Tình đi nghĩa ở bao giờ quên nhau Chẳng nên tình trước nghĩa sau Bến này dãi bóng trăng thâu đợi thuyền [TH481, tr.2090]

“Bến” thể hiện sự cố định, thân phận của người phụ nữ cũng bị bó buộc bởi chế độ phong kiến như vậy Họ không thể di chuyển, vào nam ra bắc, ngang dọc bốn phương như thuyền (người đàn ông), họ chỉ biết đứng yên một chỗ mà thôi Ở đây “bến” còn thể hiện lòng thủy chung, sắt son một lòng của người phụ nữ trong tình yêu Quả đúng là, trong thân có phận, trong ý thức thân phận thấp hèn lại đồng hiện giá trị cao quý của người phụ nữ

Nhưng để thể hiện thân phận thấp hèn, bé mọn đa phần từ “cái bống” được sử dụng nhiều hơn cả, với tần số xuất hiện (15 lần), chiếm 17,86% trong

tổ số từ chỉ giới tính “Cái bống”, xét theo nghĩa thực ở đây “bống” là loài cá

Trang 29

nước ngọt, thân tròn dài, mắt bé và ở sát nhau, hàm dưới nhô ra [28, tr.136] Đây là loại cá có thân hình bé nhỏ và khi kết hợp với danh từ chỉ loại tạo nên tính đơn lẻ, nhỏ bé của sự vật Trong những bài ca dao “cái bống” gắn liền với thân phận nhỏ bé của người phụ nữ trong xã hội xưa:

Cái bống cõng chồng đi chơi

Đi đến chỗ lội đánh rơi mất chồng [C54, tr.323]

Ở đây, “cái bống” chỉ người phụ nữ nhỏ bé tội nghiệp, lại đi kèm với việc lấy chồng sớm (nạn tảo hôn trong xã hội xưa) Nó phản ánh thân phận cùng cực trăm đường của người phụ nữ

Trên phương diện ý thức thân phận cao quý thì lượng từ dùng đa dạng hơn Ví như khi sử dụng những từ về các loại hoa như: hoa sen (8,33%), hoa đào, hoa hồng (cùng chiếm 5,95%), hoa nhài (4,76%), hoa hường (2,38%):

- Hoa hồng trông thật mỹ miều

Khoe hương buổi sáng buổi chiều còn đâu [H119, tr.1093]

- Em như cái búp hoa hồng

Anh giơ tay muốn bẻ về bồng nâng niu [E170, tr.965]

Bên cạnh, sử dụng những từ ngữ về loài hoa để hàm ẩn cho thân phận người phụ nữ thì còn có các từ như: phượng (14,29%), mai (11,91%), mây (5,95%), má hồng (4,76%), má đào (2,38%):

Em đây là gái má đào

Hỏi anh đã có chốn nào hay chưa [E52, tr.935]

Đặc biệt, khi nói về thân phận cao quý, hình ảnh “chim phượng” được

sử dụng nhiều nhất, với tần số xuất hiện là 12 lần, chiếm 14,29 (%) Chim phượng, hay còn gọi là chim phượng hoàng là “loài chim tưởng tượng có hình thù giống chim trĩ, được gọi là chúa của loài chim” [28, tr.1023] Ở đây, khi ý thức mình là “chim phượng”, người phụ nữ đã khẳng định giá trị cao quý của mình:

Trang 30

Phượng hoàng vỗ cánh bay cao

Quyết tìm cho thấy được cây ngô đồng [PH107, tr.1737]

Cách dùng từ như vậy để thể hiện cho những giá trị của người phụ nữ trong xã hội Người phụ nữ dẫu thân phận có thấp hèn, dẫu có bé mọn nhưng

họ vẫn mang những vẻ đẹp cao quý mà tạo hóa ban tặng

Qua đây, chúng ta phần nào thấy được khi sử dụng từ ngữ chỉ giới tính mang tính hàm ngôn chỉ thân phận người phụ nữ thiên về ý thức thân phận cao quý, (66,66%) Nếu như từ xưng hô chỉ thân phận người phụ nữ với ý thức thân phận thấp hèn bao nhiêu, thì từ ngữ chỉ giới tính lại khẳng định giá trị của người phụ nữ bấy nhiêu

2.1.2 Trên bình diện cấu tạo

Trên bình diện cấu tạo, chúng tôi xét trên hai dạng từ: từ đơn và từ ghép, thể hiện qua bảng thống kê sau:

Bảng 4: Từ trên bình diện cấu tạo

Qua bảng thống kê trên, chúng ta nhận thấy tỉ lệ chênh lệch giữa từ đơn

và từ ghép là không nhiều (14,24%) Chính vì thế, mỗi dạng từ có biểu đạt riêng về thân phận người phụ nữ, cụ thể như sau:

2.1.2.1 Từ chỉ thân phận người phụ nữ là từ đơn

Trong quá trình khảo sát, chúng tôi đã hệ thống được những từ đơn chỉ thân phận người phụ nữ như sau:

Trang 31

Bảng 5: Từ đơn chỉ thân phận người phụ nữ

Với tần số xuất hiện là 393 (lần), từ đơn chiếm 57,12% so với từ ghép

Cụ thể ở đây, với các từ và số lần xuất hiện như sau: thiếp (260 lần), nàng (82 lần), bến (13 lần), phượng (12 lần), mai (10 lần), bèo (5 lần), mây (5 lần), lụa (4 lần), giành (2 lần), Trong đó từ “nàng”, “thiếp” đã xét trong từ xưng hô, và

từ “bến”, “phượng” đã xét trong từ chỉ giới tính nên chúng tôi chủ yếu phân tích các yếu tố từ còn lại

Mai, lụa, là những từ mang ý nghĩa hàm ẩn thể hiện thân phận cao quý

của người phụ nữ trong xã hội xưa Trong cách nói giao duyên người con gái thường được biểu trưng như cây mai – vẻ đẹp thanh cao, mộc mạc:

Trúc xa mai thì hoài lứa trúc

Anh hỏi mai rằng đã có nơi mô nương tựa hay chưa? [TR685, tr.2280]

Lụa – vẻ đẹp vừa thướt tha vừa mượt mà lại thanh thoát:

Thân em như tấm lụa đào

Còn duyên hay đã xé vuông nào cho ai?[TH159, tr.2029]

Trang 32

Mây – vẻ đẹp thanh tao mà mỏng manh:

Mây bay xao xác gặp rồng

Tình cờ gặp bạn tơ hồng ta xe [M110, tr.1324]

Khi nói về từ đơn chỉ thân phận nhỏ bé, thấp hèn của người phụ nữ (bèo, giành) trong đó chúng ta thấy số lần xuất hiện của từ “bèo” là 5 lần Vì vậy chúng tôi chỉ xin phân tích rõ hình ảnh “bèo” để làm nổi bật thân bơ vơ, trắc trở của người phụ nữ “Bèo” là một loại cây sống nổi trên mặt nước, có nhiều loại khác nhau, thường làm thức ăn cho lợn hoặc phân xanh Khi là tính

từ “bèo” chỉ giá cả ở mức rẻ [28, tr.76] Chính vì thế, khi ý thức thân phận như bèo của người phụ nữ, nó xót xa, chua chát biết chừng nào:

Thân em như thể cánh bèo

Ngược xuôi, xuôi ngược theo chiều nước trôi [TH165, tr.2030]

Đó là thân phận hẩm hiu, rẻ rúng, chua xót, cô đơn đến tội nghiệp Và thân phận ấy, có mấy ai đoái hoài, vì nó không có giá trị hoặc có giá trị thấp hơn mức bình thường: giá bèo, rẻ như bèo,… Những người phụ nữ đáng thương, những số phận bị vùi dập, những cuộc đời hẩm hiu không nơi nương tựa Với thân phận như cánh bèo trôi lại thêm “ngược xuôi, xuôi ngược”, người phụ nữ dường như đã rơi vào sự tuyệt vọng, cùng đường và không còn

gì, không có gì để lựa chọn

Đặc biệt khi hai danh từ “bèo”, “bọt” kết hợp với nhau tạo nên cụm từ

“bèo bọt” chúng ta thấy rõ thân phận nhỏ bé của người phụ nữ có sự khắc họa sâu sắc về hình ảnh biểu thị Trong ngữ “bọt bèo” (Ví thân phận người phụ nữ hèn mọn, không nơi nương tựa) Đó là “chút thân bèo bọt” trong xã hội cũ, người con gái dường như không có giá trị gì Cuộc đời của họ nổi trôi, không biết nương náu nơi nào, không biết gửi gắm số kiếp vào ai?

Trang 33

Không phải ngẫu nhiên mà khi nói về thân phận người phụ nữ hình ảnh

“bèo” lại xuất hiện nhiều như vậy Đến thời trung đại trong sáng tác của Nguyễn Du, chúng ta lại bắt gặp:

- Rộng thương nội cỏ hoa hèn

Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau

[Truyện Kiều]

- Từ con lưu lạc quê người

Bèo trôi sóng vỗ chốc mười lăm năm

2.1.2.2 Từ chỉ thân phận người phụ nữ là từ ghép

Trong quá trình khảo sát từ ngữ chỉ thân phận người phụ nữ, chúng tôi thống kê được 295 từ ghép, chiếm 19,59% trong tổng số từ chỉ thân phận người phụ nữ, song từ ghép đa dạng từ hơn Sự đa dạng đó được thể hiện như sau: cũng nói về thân phận người phụ nữ được thể hiện qua lớp từ duyên phận như: còn duyên (25 lần), vô duyên (11 lần):

Còn duyên kẻ đón người đưa

Hết duyên đi sớm về trưa một mình [C778, tr.474]

Nói về thân phận người phụ nữ được thể hiện qua những từ chỉ bổn phận của họ: lấy chồng (20 lần), có con (13 lần), có chồng (20 lần):

Có con phải khổ vì con

Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay [C386, tr.396]

Trang 34

Quả thật, sinh ra kiếp đàn bà là bị trời đày đoạ Vì rằng, đàn bà thời nào cũng có bổn phận đối với gia đình nặng nề gấp bội đàn ông Nào phải mang nặng đẻ đau, nào phải nuôi con vất vả, nào lo quán xuyến việc gia đình,… Ngay từ lúc lên năm, lên bảy người con gái đã phải giữ em giúp mẹ,… và mãi đến lúc lưng còng chống gậy cũng phải chăm chút đàn cháu giúp con! Cái thân đàn bà là thân phận vất vả triền miên, trải dài suốt cả cuộc đời

Từ ghép chỉ thân phận người phụ nữ không có từ ghép đẳng lập, mà chỉ xuất hiện từ ghép chính phụ Đây là loại từ ghép có quan hệ giữa các hình vị

là quan hệ chính phụ, trật tự của các hình vị trong từ thường là trật tự cố định

Trái chanh Trái Chanh 1

Trái mãng cầu Trái Mãng cầu 1

Cây sầu đâu Cây Sầu đâu 1

Trang 35

Cây cải Cây Cải 1

Cá rô thia Cá Rô thia 3

Những từ ghép chính phụ chỉ thân phận người phụ nữ thường là hoa (hoa sen, hoa hồng, hoa đào, hoa nhài, hoa hường, hoa gạo), là trái (trái bòng, trái bần, trái chanh, trái mãng cầu, trái dừa), là cây (cây quế, cây sầu đâu, cây thông, cây cải), là cá (cá rô thia, cá vô lờ, cá rô mề) Qua đây, chúng ta thấy thân phận của người phụ nữ được hiện lên một cách khái quát Đó là thân phận vừa cao quý vừa thấp hèn, nhỏ bé của người phụ nữ Ở đây, chúng tôi xin làm rõ ý thức thân phận thấp hèn ấy qua những từ ngữ chỉ sự vật gần gũi với người phụ nữ Nó là những sự vật cũng nhỏ bé, cũng mang thân phận thấp hèn như người phụ nữ

Đặc biệt trong những từ ngữ chỉ thân phận thấp hèn, bé mọn của người

phụ nữ, đắt giá nhất phải kể đến hình ảnh “trái bần” Bần là một loại cây to

mọc dọc theo bờ sông, quả tròn, dẹt, ăn chua và chát, có rễ mọc ngược lên khỏi mặt bùn, nhọn và xốp [25, tr.19] Có thể nói, đây là loại cây có giá trị kinh tế thấp so với các cây vùng nước lợ mọc ở ven sông như: mắm, tràm, đước,… cây bần thua xa về giá trị sử dụng Cây bần có trái ăn được nhưng chua và chát Dù “mang tiếng” là trái nhưng nó không bao giờ được nằm cùng mâm, sánh ngang vai ngay cả với những loại trái bình dân, rẻ tiền như: cóc,

ổi, mận, bình bát,… chứ đừng nói chi đến những loại trái cây đắt tiền khác Trái bần chín lúc lắc trên cành như trêu ngươi cũng chưa chắc có người để mắt huống chi lại trôi dạt, bấp bênh, dập dềnh trên dòng nước Thân phận ấy chỉ chờ ngày thối rữa, mục nát để rồi phân hủy, hóa thân theo dòng nước, bãi sình nơi nó sinh ra “Bần” trong từ “trái bần” ở đây đồng âm với từ bần (có

Trang 36

nghĩa là nghèo khó) tạo nên sự cộng hưởng về nét nghĩa biểu hiện Chính vì thế, “trái bần” là hình ảnh cụ thể hóa cho thân phận bèo bọt của người phụ nữ trong xã hội đương thời

Mặc dù, chiếm tỉ lệ thấp hơn từ đơn, nhưng khi sử từ ghép chỉ thân phận người phụ nữ, hiệu quả trong sự diễn đạt vẫn đạt ở mức cao Nó thể hiện việc

sử dụng ngôn từ phong phú trong sự diễn đạt của tác giả dân gian

2.2 Đặc điểm về ngữ chỉ thân phận người phụ nữ

2.2.1 Ngữ chỉ thân phận người phụ nữ xét về cấu trúc ngữ pháp

Khi khảo sát về ngữ chỉ thân phận người phụ nữ chúng tôi xin tổng hợp qua bảng khái quát sau:

2.2.1.1 Ngữ danh từ

Ngữ danh từ là ngữ trong đó có danh từ làm thành tố trung tâm và có một hoặc nhiều thành tố phụ xung quanh để bổ sung ý nghĩa ngữ pháp cho danh từ trung tâm đó Khi xét về ngữ chỉ thân phận người phụ nữ, chúng tôi xét trên 3 cấu trúc như sau:

- Danh từ chỉ loại + Danh từ

- Định từ chỉ lượng + Danh từ

- Danh từ + Định ngữ lâm thời

Ngày đăng: 09/05/2021, 17:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w