Tuy nhiên, cho đến nay, theo khảo sát và tìm hiểu của chúng tôi thì chưa có công trình nào tìm hiểu về cách sử dụng các đơn vị từ hội thoại, từ thông tục cũng như kiểu câu khẩu ngữ trong
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN -
KHÓA LUÂ ̣N TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
M.Gorki đã từng nói: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” Thật vậy, một tác phẩm văn học có giá trị và trường tồn theo năm tháng không phải chỉ nhờ nội dung hay mà còn do ngôn từ tác phẩm truyền đạt làm người đọc dễ nghe, dễ hiểu, từ đó để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả
Vì thế, để khám phá được hết những gì chủ thể sáng tạo muốn chuyển tải cũng như tìm ra được giá trị nghệ thuật của một tác phẩm, phải bắt đầu từ việc phân tích ngôn từ của tác phẩm đó
Thực tế cho thấy, các đơn vị từ hội thoại, từ thông tục, kiểu câu khẩu ngữ là những đơn vị được sử dụng rất phổ biến, nhất là trong đời sống hàng ngày cũng như trong tác phẩm văn học Ta có thể thấy tài năng, phong cách của người nghệ sĩ bộc lộ chủ yếu qua cách vận dụng vốn từ vựng vào tác phẩm đúng cách, đúng chỗ, đúng mục đích Tuy nhiên, cho đến nay, theo khảo sát và tìm hiểu của chúng tôi thì chưa có công trình nào tìm hiểu về cách sử dụng các đơn vị từ hội thoại, từ thông tục cũng như kiểu câu khẩu ngữ trong các tác phẩm văn học một cách hệ thống, sâu sắc và kĩ lưỡng, đặc biệt là trong các sáng tác văn học Cho nên, đây vẫn là đối tượng nghiên cứu khá mới mẻ và cần được đi sâu tìm hiểu kĩ càng
Bước sang thời kì đổi mới 1986 – 1900 lịch sử dân tộc chuyển sang trang mới, văn học cũng chuyển mình một cách mạnh mẽ với một diện mạo mới Văn học thời kì này đã đi sâu vào mổ xẻ những vấn đề thế sự đời tư với hàng loạt các tác phẩm của các nhà văn xuất sắc như: Nguyễn Minh Châu,
Hồ Anh Thái, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu, Dương Hướng, Nguyễn Quang Lập, Tạ Duy Anh,… Đặc biệt trong số đó ta phải kể đến Nguyễn Huy Thiệp – “xuất hiện trong trào lưu đổi mới của văn
Trang 3học Việt Nam, là một hiện tượng tiêu biểu nhất của trào lưu đó” [9, tr.184] Lâu nay, nếu như truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là một miền đất màu mỡ
để ngòi bút của giới nghiên cứu, phê bình văn học cày xới thì vấn đề về ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp lại là mảnh đất “giàu có” nhưng còn quá hoang vu và ít ai chạm đến Đặc biệt là các đơn vị từ hội thoại, từ thông tục, các kiểu câu khẩu ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp còn là một vấn đề mới mẻ và chưa được ai quan tâm nghiên cứu Xuất
phát từ những lẽ đó, chúng tôi chọn đề tài từ hội thoại, từ thông tục, kiểu câu
khẩu ngữ trong một số truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp làm khóa luận tốt
nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những nhà văn trưởng thành sau chiến tranh, Nguyễn Huy Thiệp nổi lên như một hiện tượng đặc biệt trên văn đàn Việt Nam thời kì đổi mới Với chủ trương hướng đến một thứ chủ nghĩa hiện thực như đời sống vốn có, trong các tác phẩm của mình, Nguyễn Huy Thiệp không hề kiêng dè bất cứ thứ từ ngữ nào Vì thế ông trở thành người có cách viết lạnh lùng
nhất, đến nỗi hiện thực trong các tác phẩm của ông được gọi là “hiện thực
sắc lạnh” Cũng bởi lẽ đó mà các sáng tác của ông ngay từ khi mới xuất
hiện trên văn đàn đã tạo nên những cuộc tranh luận, thậm chí cả tranh cãi trong đội ngũ phê bình và công chúng thưởng thức Nhà nghiên cứu Phạm
Xuân Nguyên - người sưu tầm và biên soạn cuốn sách Đi tìm Nguyễn Huy
Thiệp đã nhận định: “Nguyễn Huy Thiệp có lẽ là người đầu tiên trong văn
học Việt Nam lập kỷ lục có được nhiều bài viết nhất về sáng tác của mình, chỉ trong một thời gian ngắn, và không có độ lùi thời gian Phê bình tức thời theo sáng tác, liên tục, lâu dài Không chỉ trong nước, cả ngoài nước; không chỉ người Việt, cả người ngoại quốc” [13, tr.7] Thế mới thấy sức viết của Nguyễn Huy Thiệp và sự ảnh hưởng của ông đến giới nghiên cứu, phê bình
Trang 4văn học lớn đến mức nào Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp do Phạm Xuân Nguyên
sưu tầm và biên soạn là cuốn sách tập hợp được hầu hết những bài tiểu luận, phê bình, trao đổi, tranh luận, giới thiệu về những điểm cơ bản nhất liên quan đến các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp Tuy nhiên, trong giới hạn liên quan đến đề tài, chúng tôi chỉ nêu ra một số bài viết tiêu biểu về đặc sắc truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp cũng như về cách sử dụng ngôn ngữ trong truyện ngắn của ông
Xét về góc độ nội dung, có thể kể đến Hoàng Ngọc Hiến với bài viết
Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió đã khẳng định: “Dẫu là kể chuyện
cổ tích, Nguyễn Huy Thiệp trước sau viết về cuộc sống ngày hôm nay Và tác giả đã nhìn thẳng vào sự thật của đời sống hiện tại Tác giả đã không ngần ngại nêu lên những sự bê tha, nhếch nhác trong cuộc sống, kể cả những
sự thật rùng rợn, khủng khiếp” [13, tr.10]; Đỗ Đức Hiểu với bài viết Đi tìm
Nguyễn Huy Thiệp đã tự nhận rằng: “trong hành trình “Đi tìm Nguyễn Huy
Thiệp”, tôi thấy một giọt vàng rơi vào lòng mình, giọt vàng ròng ngời sáng
Đó là truyện ngắn của anh” [13, tr.472]; Ngọc Oanh với bài viết “Để đánh
giá đầy đủ sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp…” cũng đã nhận định: “Nguyễn
Huy Thiệp có một bút pháp sắc sảo, độc đáo, anh có thể dao động từ giới
hạn lung linh huyền ảo của Con gái thủy thần đến giới hạn nghiệt ngã của
Phẩm tiết…” [13, tr.429]
Xét về góc độ ngôn ngữ, có các tác giả như: Nguyễn Thái Hòa với bài
viết Có nghệ thuật Ba-rốc trong các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp hay
không? đã nhấn mạnh rằng tất cả nội dung mà tác giả thể hiện đều “thấm
đượm trong kết cấu, trong từng chi tiết cho đến lời nói, từ ngữ mà Nguyễn Huy Thiệp vận dụng trong các sáng tác của mình” [13, tr.107]; Nguyễn Thị
Hương với bài viết Lời thoại trong truyện ngắn Tướng về hưu của Nguyễn
Huy Thiệp đã làm rõ lối sử dụng lời thoại của nhân vật trong tác phẩm, qua
Trang 5lời thoại, “nhân vật lột mặt người khác và tự lột mặt mình”, từ đó tác giả
nhấn mạnh hình thức đối thoại trong Tướng về hưu là “một nét quan trọng trong phong cách ngôn ngữ Nguyễn Huy Thiệp” [13, tr.58]; Nhà phê bình văn học Đông La trong Về cái “ma lực” trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp nhấn mạnh một số cách sử dụng ngôn ngữ của các nhân vật trong tác
phẩm của Nguyễn Huy Thiệp; Trần Đạo trong “Tướng về hưu”- một tác
phẩm có tính nghệ thuật cũng đã nhấn mạnh “điểm nổi bật trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp là ngôn ngữ ngắn ngủi, đơn sơ, có khi thô lỗ…” [13, tr.42] cùng rất nhiều bài viết, nhận xét của các nhà nghiên cứu, cho người đọc cái nhìn khá toàn diện về con người cũng như sáng tác Nguyễn Huy Thiệp
Bên cạnh một số bài viết đã nêu còn có những bài nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp được đăng trên các trang báo mạng, tạp chí Nhưng trên thực tế xét thấy các công trình này nghiêng hẳn về phương diện nội dung, chủ đề, tư tưởng… mà rất ít đề cập tới phương diện ngôn ngữ Trong khi đó vấn đề về từ, câu, đặc biệt về từ hội thoại, từ thông tục, kiểu câu khẩu ngữ trong các sáng tác của ông xét thấy vẫn là đề tài còn khá mới
mẻ, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chính thức
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này, đối tượng được tập trung nghiên cứu là: từ hội thoại,
từ thông tục, kiểu câu khẩu ngữ trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là 10 truyện ngắn của Nguyễn Huy
Thiệp được in trong các tập Không có vua (2011), Truyện ngắn (2003)
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp như:
Trang 6- Phương pháp khảo sát, thống kê: Được sử dụng để xác định số lượng, tần suất các đơn vị từ hội thoại, từ thông tục, kiểu câu khẩu ngữ trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
- Phương pháp miêu tả - phân tích: Được sử dụng để miêu tả và phân tích cụ thể các đơn vị từ hội thoại, từ thông tục, kiểu câu khẩu ngữ xuất hiện trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
- Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng khi đưa ra những nhận định tổng hợp ở cuối mỗi phần và kết luận đề tài
5 Đóng góp của đề tài
- Từ việc nhận diện, phân tích, tổng hợp một số truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi chỉ ra những đặc sắc về cách sử dụng từ và câu khẩu ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
- Chỉ ra những vai trò của các đơn vị từ hội thoại, từ thông tục, kiểu câu khẩu ngữ trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
6 Bố cục đề tài
Trong đề tài này, ngoài phần Mở đầu và Kết luận, chúng tôi tập trung làm rõ phần Nội dung bao gồm các chương:
Chương 1 Những vấn đề lí luận chung
Chương 2 Khảo sát và miêu tả từ hội thoại, từ thông tục, kiểu câu khẩu ngữ trong một số truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
Chương 3 Vai trò của các yếu tố từ hội thoại, từ thông tục, kiểu câu khẩu ngữ trong một số truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
Trang 7NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG
1.1 Khái niệm về từ hội thoại, từ thông tục, kiểu câu khẩu ngữ
Nghiên cứu về các đơn vị từ hội thoại, từ thông tục, kiểu câu khẩu ngữ cũng là nghiên cứu về một bộ phận nhỏ nằm trong PCNN (phong cách ngôn ngữ) hàng ngày, cụ thể là xét về 3 đặc trưng cơ bản của phong cách này gồm tính cá thể, tính cụ thể và tính cảm xúc
Theo Đinh Trọng Lạc [5, tr.113] tính cá thể của PCNN hàng ngày thể
hiện ở “vẻ riêng của ngôn ngữ mỗi người khi giao tiếp, trao đổi, chuyện trò…” Người này thường nói từ tốn, khoan thai, nhã nhặn, người kia thường nói vội vàng, hấp tấp, qua loa; có người thích kiểu “diễn đạt” chính xác, rõ ràng, có người chuộng cách nói bóng bẩy, đưa đẩy, tế nhị Trong thực tế, không ai nói giống ai, mỗi người có một đặc điểm riêng trong lời nói giao
tiếp hàng ngày của mình Thứ hai là tính cụ thể - đặc điểm nổi bật của
PCNN hàng ngày Phong cách này thường “tránh lối nói trừu tượng, ưa lối nói cụ thể, nổi bật, làm cho sự vật không chỉ được gọi tên mà còn hiện lên với những âm thanh rõ rệt” [5, tr.113] Một đặc trưng nữa của phong cách
này là tính cảm xúc Theo Đinh Trọng Lạc [5, tr.114], trong PCNN hàng
ngày tính cảm xúc gắn chặt với tính cụ thể PCNN hàng ngày được sử dụng trong đời sống vô cùng cụ thể, sinh động, truyền đạt những tư tưởng, tình cảm rất phong phú, đa dạng của con người Vì vậy, lời nói trong phong cách này cũng mang đến tính cảm xúc tự nhiên
Trên đây chúng tôi đã trình bày giản lược về các đặc trưng cơ bản của PCNN hàng ngày Các đặc trưng của phong cách này là cơ sở giúp chúng ta nhận biết các đơn vị từ hội thoại, từ thông tục, kiểu câu khẩu ngữ dưới ánh
sáng Phong cách học
Trang 81.1.1 Khái niệm từ hội thoại
Nhóm tác giả Võ Bình - Lê Anh Hiền - Cù Đình Tú - Nguyễn Thái Hòa cho rằng: “từ hội thoại là những từ ngữ chỉ được dùng trong phong cách khẩu ngữ tự nhiên” [1, tr.37]
Đinh Trọng Lạc quan niệm rằng: “Từ hội thoại là những từ được dùng đặc biệt trong lời nói miệng trong sinh hoạt hàng ngày, nhất là trong đối
thoại” [6, tr.22]
Cù Đình Tú cho rằng: “Từ hội thoại hay từ khẩu ngữ là những từ có tính chất miêu tả chi tiết, cụ thể Đó còn là vốn từ giàu hình ảnh, giàu sắc thái biểu cảm Nó vừa đa dạng, vừa tinh tế và nhiều khi chỉ có thể cảm thấy
chứ thật khó khăn để phân tích rạch ròi” [17, tr.195 - 213]
TS.Bùi Trọng Ngoãn có quan niệm rằng:
“Từ hội thoại còn được gọi là từ khẩu ngữ, là những từ được dùng chủ yếu trong lời nói miệng trong giao tiếp hàng ngày Từ hội thoại được coi là
một dấu hiệu đặc trưng của PCNN hàng ngày” [12, tr.28]
Các tác giả trên tuy có khác nhau đôi chỗ trong cách diễn đạt nhưng tựu chung đều thống nhất một quan niệm rằng: các đơn vị từ hội thoại đều nằm trong phạm vi là ngôn ngữ hội thoại Trong đề tài nghiên cứu của mình, chúng tôi chọn khái niệm về từ hội thoại do TS.Bùi Trọng Ngoãn đưa ra làm
cơ sở và tiêu chí để nghiên cứu đề tài này
Theo TS.Bùi Trọng Ngoãn, từ hội thoại được coi là một dấu hiệu đặc trưng của PCNN hàng ngày, nó rất đa dạng nhưng cũng có thể nhận biết dựa trên một số dấu hiệu:
Ví dụ 1 (từ): à uôm (không phân biệt rõ ràng), ả (người đàn bà-coi thường), ba láp (sai trái), ăn đứt (hơn hẳn), ăn gian (cố ý tính sai)…
Trang 9Ví dụ 2 (tổ hợp): ai bảo (giải thích và quy lỗi cho chủ thể hành động),
ai lại (nhận xét về hành vi vô lí), ba hoa chích chòe, ba hoa thiên địa, ba hoa xích đế (nói nhiều mà toàn những chuyện không đâu)…
Về cấu tạo của từ hội thoại, TS.Bùi Trọng Ngoãn cũng đồng quan điểm với Cù Đình Tú trong cách chia từ hội thoại thành 4 kiểu: Thêm yếu tố, Bớt yếu tố, Biến yếu tố, Không lí do, ngẫu nhiên Cụ thể như sau:
(1) Thêm yếu tố: Từ đa phong cách + yếu tố không mang nghĩa
- Về mặt phạm vi sử dụng: thường chỉ được sử dụng trong giao tiếp hội thoại hay trong giao tiếp khẩu ngữ
Trang 10- Về mặt ngữ nghĩa: nghĩa các đơn vị từ vựng này là nghĩa ngữ cảnh
1.1.2 Khái niệm từ thông tục
Theo Đinh Trọng Lạc,“từ thông tục là những từ chỉ được dùng trong
lời nói miệng thoải mái, thậm chí thô lỗ, tục tằn” [6, tr.24]
Theo TS.Bùi Trọng Ngoãn,“từ thông tục là những từ chỉ được dùng trong lời nói miệng của giao tiếp khẩu ngữ, mang tính suồng sã, có khi thô
thiển” [12, tr.30]
Trong đề tài, chúng tôi chọn khái niệm của TS.Bùi Trọng Ngoãn làm
cơ sở để nghiên cứu các đơn vị từ thông tục Cần lưu ý rằng sự tách biệt từ thông tục với từ hội thoại là một việc làm cần thiết Mặc dù phạm vi sử dụng của từ thông tục là ngôn ngữ hội thoại nhưng nó không nằm trong từ vựng của ngôn ngữ văn hóa Những từ thông tục chỉ được dùng trong phong cách sinh hoạt hàng ngày tự nhiên thông tục (còn gọi là phong cách hội thoại tự nhiên thông tục) giữa những cá nhân có quan hệ tự do, thoải mái, suồng sã
Ví dụ: ra phết (ra trò, cũng được), sợ cái đếch gì (không phải sợ gì cả ), đồ chó đểu (chỉ hạng người vô cùng đểu giả - thường dùng để chửi), há
mồm (hành động bắt đầu một phát ngôn), đĩ (câu dùng để chửi, mang nghĩa
tục tằn), mẹ kiếp (câu chửi tục, tỏ thái độ căm ghét, tức giận), chặn họng
(chặn lời nói của người đang nói nhằm không cho nói tiếp), hay những từ
như bỏ bố, bỏ mẹ, vứt mẹ, con mẹ,… đều là những từ thông tục được dùng
nhiều trong giao tiếp hàng ngày mang tính suồng sã, thậm chí thô lỗ, cục cằn
Vì là một đơn vị từ đặc trưng của phong cách khẩu ngữ nên từ thông tục cần cho văn tự sự khi khắc họa tính cách nhân vật, hoặc cũng có thể được dùng trong các văn bản báo (phóng sự, tiểu phẩm,… đặc biệt là trong văn xuôi nghệ thuật) để làm phương tiện tu từ nêu đặc trưng lời nói của nhân vật
Trang 111.1.3 Khái niệm kiểu câu khẩu ngữ
Xung quanh kiểu câu khẩu ngữ có rất nhiều ý kiến nhưng lại chưa có một khái niệm cụ thể Tuy nhiên, ta có thể hiểu kiểu câu khẩu ngữ là kiểu câu có chứa các từ khẩu ngữ, chỉ dùng trong ngôn ngữ sinh hoạt, không sử dụng trong văn bản gọt dũa hay văn bản văn hóa Nguyên lí của văn học là phản ánh đời sống và phải phản ánh một cách chân thực nhất, thông qua tất
cả ngôn ngữ trong đời sống Cho nên trong ngôn ngữ văn chương đều có từ hội thoại, từ thông tục và đa phần các câu văn được sử dụng đều là các kiểu câu khẩu ngữ
Ví dụ: (1): - Cái Hương lấy chồng rồi à?
- Có trời mà biết! (tức là không ai biết)
(2): - Đã đi muộn lại còn lắm điều!
(3): - Cái con bé ấy cũng đẹp chứ nhỉ?
- Đẹp gì mà đẹp!
Kiểu câu khẩu ngữ mang đầy đủ đặc điểm, tính chất của phong cách ngôn ngữ khẩu ngữ tự nhiên, xét theo các đặc trưng của PCNN hàng ngày
mà chúng tôi đã nêu ở phần trên
Bên cạnh đó, theo tác giả Nguyễn Việt Hương, chúng ta có thể dựa vào một số từ ngữ mang phong cách khẩu ngữ đời thường để nhận diện kiểu
câu khẩu ngữ như: lắm, quá Trong đó, “lắm: đứng sau tính từ, thường dùng
trong khẩu ngữ Còn quá: đứng sau tính từ, thường dùng trong khẩu ngữ
biểu thị sự cảm thán” [4, tr.29] Hay những từ như: đâu: “trợ từ, đứng cuối câu để nhấn mạnh ý phủ định (thường dùng trong khẩu ngữ), từ lâu: dùng để
diễn tả khoảng thời gian dài, dùng nhiều trong khẩu ngữ” [4, tr.29]
Hay theo tác giả Đoàn Thiện Thuật, “kết cấu “đã… lại…” có ý nghĩa
như “không những…mà còn…” nhưng được dùng nhiều trong khẩu ngữ và
đó cũng như là dấu hiệu để nhận biết kiểu câu khẩu ngữ” [15, tr.147] Các
Trang 12kết cấu như: “Nghe nói…” dùng để giảm nhẹ trách nhiệm của người nói đối với mình, mang đậm sắc thái khẩu ngữ; kiểu câu với kết cấu “…càng ngày
càng…/… ngày càng…” biểu thị sự tăng tiến theo thời gian của sự việc và
dùng nhiều trong khẩu ngữ…” [15, tr.119]
Nói tóm lại, để xác định kiểu câu khẩu ngữ, chung quy cần phải hội tụ đầy đủ các điều kiện:
- Về mặt cấu tạo: phải là một cấu trúc câu, một thành ngữ, quán ngữ hay cụm từ cố định
- Về phạm vi sử dụng: thường chỉ được sử dụng trong giao tiếp hội thoại, giao tiếp khẩu ngữ
- Về mặt ngữ nghĩa: nghĩa của nó không còn là nghĩa gốc của từng đơn vị từ vựng có mặt trong đó kết hợp lại mà đã được chuyển sang nghĩa mới mang tính khái quát hơn, và nghĩa sử dụng thường gắn chặt với ngữ cảnh
Như vậy, có rất nhiều những dấu hiệu về từ ngữ cũng như kết cấu từ trong câu để chúng ta nhận biết được kiểu câu khẩu ngữ Trên đây là một số dấu hiệu đặc trưng mà chúng tôi khảo sát được, góp phần làm cơ sở nhận diện cũng như giúp ích cho việc khảo sát và miêu tả kiểu câu khẩu ngữ trong các truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
1.1.4 Từ hội thoại, từ thông tục, kiểu câu khẩu ngữ trong ngôn ngữ nghệ thuật
Như đã nói ở trên, khi nghiên cứu các đơn vị từ hội thoại, từ thông tục, kiểu câu khẩu ngữ cũng tức là đi nghiên cứu một bộ phận nhỏ của PCNN hàng ngày Vì thế, khi nói đến các đơn vị này trong ngôn ngữ văn chương cũng là đi sâu vào xét mối quan hệ, sự dung hợp giữa PCNN hàng ngày và PCNN nghệ thuật Theo Hữu Đạt, tiếng Việt bao gồm hai PCNN lớn là “phong cách ngôn ngữ nói và phong cách ngôn ngữ viết Mỗi PCNN
Trang 13lớn lại bao gồm trong nó các PCNN nhỏ hơn Giữa các PCNN đều có mối quan hệ nhất định, thậm chí có một số PCNN có thể chuyển hóa (hoặc dung hợp) lẫn nhau Và đặc biệt là giữa PCNN hàng ngày và PCNN nghệ thuật thường có sự chuyển hóa lẫn nhau” [2, tr.84] Đặc trưng dung hợp phong cách điển hình của ngôn ngữ nghệ thuật và tính chất “xuyên phong cách” của khẩu ngữ tự nhiên, khiến cho hai PCNN này dễ dàng chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình sử dụng Chẳng hạn một mẩu đối thoại qua lại giữa hai người trong giao tiếp thuộc PCNN hàng ngày qua ngòi bút của người nghệ sĩ
có thể trở thành mẩu một đối thoại văn học Ngược lại, một đối thoại giữa các nhân vật trong tác phẩm văn chương không khác gì đối thoại trong sinh hoạt hàng ngày của con người khi giao tiếp với nhau
Có thể nói, ngôn ngữ trong sinh hoạt đời thường (PCNN hàng ngày) chỉ khác ngôn ngữ nghệ thuật (PCNN nghệ thuật) ở phương diện ngữ cảnh (bối cảnh) giao tiếp cụ thể Đối với ngôn ngữ sinh hoạt đời thường là ngữ cảnh trực tiếp thì ngôn ngữ nghệ thuật là ngữ cảnh gián tiếp Bởi thế, khi ranh giới giữa ngữ cảnh trực tiếp và ngữ cảnh gián tiếp bị xóa bỏ (hoặc cố tình làm mất) thì sự phân biệt về phong cách chức năng của ngôn ngữ sinh hoạt và ngôn ngữ nghệ thuật là rất mờ nhạt Như Trần Đình Sử đã từng nói thì trong sáng tác văn chương, các nhà văn đã “thủ tiêu đặc trưng của ngữ
cảnh” [14, tr.200] để có thể dung nạp thật nhiều ngôn ngữ sinh hoạt vào
trong các tác phẩm văn học - nghệ thuật Quả đúng như vậy, các đơn vị từ hội thoại, từ thông tục, kiểu câu khẩu ngữ nằm trong PCNN hàng ngày được dung nạp vào trong các tác phẩm văn học - nghệ thuật với tần số cao nhằm thể hiện ý đồ của tác giả Bên cạnh đó, sự xuất hiện của những đơn vị từ hội thoại, từ thông tục và kiểu câu khẩu ngữ không những làm phong phú thêm vốn từ vựng - cú pháp nghệ thuật mà còn “làm mới” những cách diễn đạt
Trang 14văn chương vốn đã quá nhàm chán, cũ kĩ, làm cho tác phẩm nghệ thuật gần gũi, xích gần với công chúng bạn đọc
Việc dung nạp ngôn ngữ sinh hoạt với các đơn vị từ hội thoại, từ thông tục, kiểu câu khẩu ngữ vào trong ngôn ngữ nghệ thuật cũng giống như việc sáng tạo một thứ ngôn ngữ mới vào văn chương Điều này có thể thấy phổ biến ở các nền văn học thế giới cũng như ở Việt Nam Trên nền văn học thế giới, chúng ta có thể kể đến những bậc thầy về sáng tạo ngôn ngữ như A.Puskin, E.Hemingway, M.Gorki… Đặc biệt là A.Puskin - người có công đầu tiên trong việc làm cho nền văn học Nga “thoát khỏi hoàn toàn sự vay mượn của nước ngoài” (Bêlinxki) và trở thành nền văn học dân tộc thuần khiết
Trong nền văn học Việt Nam, sự chuyển hóa của ngôn ngữ sinh hoạt đời thường, đặc biệt là các đơn vị từ hội thoại, kiểu câu khẩu ngữ vào các tác phẩm văn học là một hiện tượng khá phổ biến Tùy vào từng thời kì lịch sử, đặc điểm xã hội - văn học nghệ thuật nên mức độ của sự chuyển hóa các đơn
vị từ hội thoại vào các tác phẩm văn chương cũng khác nhau
Trước thế kỉ XX, các nhà văn, nhà thơ thường chú trọng đến yếu tố ngôn ngữ nghệ thuật Đối với họ, ngôn ngữ trong văn chương phải trải qua
sự chọn lọc, gọt giũa kĩ càng của người nghệ sĩ Ngôn ngữ phải được trau chuốt và mang tính ước lệ cao thì lời văn mới càng trang trọng đài các Trong xu hướng đó, vẫn có một số tác giả chú trọng đến ngôn ngữ sinh hoạt đời thường, phải kể đến nữ sĩ Hồ Xuân Hương với những bài thơ mang hơi thở ngôn ngữ sinh hoạt đậm nét Đọc thơ Hồ Xuân Hương, ta dễ dàng bắt gặp sự xuất hiện của những từ ngữ đời thường, đôi khi là thông tục Điều đó làm cho thơ bà gần gũi hơn với cuộc sống, khiến cho người đọc qua bao thế
hệ vẫn yêu mến và thuộc lòng những câu thơ của bà Hồ Xuân Hương vừa tiếp thu nếp văn hóa giao tiếp thường ngày của dân tộc, đưa những từ hội
Trang 15thoại trong giao tiếp hàng ngày vào thơ của mình, và hơn thế, bà biến nó lên một cách nhìn mới mẻ và đầy sáng tạo Chẳng hạn:
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
(Lấy chồng chung – Hồ Xuân Hương)
Chính những cách diễn đạt mới mẻ và sử dụng vốn từ trong giao tiếp hàng ngày vào văn chương đã tạo cho thơ bà dễ dàng thấm sâu và in đậm trong tâm thức của rất nhiều thế hệ người Việt
Thời kì cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, nền văn học Việt Nam có sự chuyển biến theo hướng hiện đại Nhưng nhìn chung phần lớn các tác giả thời kì này như Hoàng Ngọc Phách, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học,… vẫn giữ nguyên cung cách gọt giũa cẩn thận từng câu chữ Vì thế họ chưa tạo được nét mới về ngôn ngữ trong sáng tác văn chương Ngôn ngữ của họ có điểm chung là xa lạ với tiếng nói hàng ngày của quần chúng, rất kiểu cách, cầu kì Tuy nhiên trong số đó vẫn nổi lên những tác giả có ý thức “làm mới” ngôn ngữ văn chương bằng cách đưa ngôn ngữ sinh hoạt đời thường vào trong sáng tác của mình mà phải kể đến là tác giả Hồ Biểu Chánh Hồ Biểu Chánh đã không đi theo con đường mòn như những nhà văn cùng thời mà ông đã đưa vào trong tác phẩm của mình rất nhiều những từ khẩu ngữ có sự gần gũi, quen thuộc với nhân dân Ông là “một trong những cây bút tiên phong của tiểu thuyết Quốc ngữ trong bước đi đầu tiên của thể loại này (…) Tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh tuy còn chịu ảnh hưởng của thi pháp tiểu thuyết cổ nhưng cũng đã có nhiều tìm tòi, đổi mới, đặc biệt là về mặt xây dựng nhân vật, kết cấu tác phẩm và ngôn ngữ” [10, tr.195] Chính điều đó đã làm cho tác phẩm của ông gần hơn với công chúng và được đón nhận như chính lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân
Trang 16Thời kì 1945 – 1975 nền văn học Việt Nam chủ yếu hướng tới đối tượng quần chúng, người nghệ sĩ phải nói tiếng nói của quần chúng cách mạng Chính điều đó làm cho sự dung hợp rất lớn giữa ngôn ngữ sinh hoạt đời thường vào trong văn chương thời kì này Phải kể đến những tên tuổi nhà văn nhà thơ thời kì này như Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Nam Cao, Ngô Tất
Tố, Vũ Trọng Phụng… Việc sử dụng rất nhiều những từ ngữ bình dân vào trong thơ văn của mình làm cho sáng tác của các tác giả thời kì này được công chúng hưởng ứng nhiệt liệt và cũng vì thế mà những bài thơ, bài văn của họ đã nhanh chóng đi vào tất cả mọi tầng đơn vị nhân dân lao động, tác động mạnh mẽ, cổ vũ tinh thần đấu tranh của con người
Thời kì sau 1975 tới nay, văn học Việt Nam đã có nhiều những sự chuyển biến mạnh mẽ và tiến sát đến hiện thực của đời sống Quá trình dung nạp ngôn ngữ sinh hoạt đời thường vào trong ngôn ngữ văn chương nghệ thuật dường như đã bị xóa bỏ ranh giới để đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của bạn đọc Bởi thế, các tác giả thời kì này đã kịp thời mở rộng biên độ ngôn ngữ văn chương để dung nạp đủ thứ ngôn ngữ bình dân, khẩu ngữ, ngôn ngữ vỉa hè, đường phố,… và được công chúng đón nhận nhiệt liệt Phải nói đến
là Nguyễn Huy Thiệp - một hiện tượng của văn học Việt Nam thời kì đổi mới Ông đã có những sự cách tân táo bạo về ngôn ngữ và đặc biệt là một trong số những nhà văn điển hình trong việc đưa ngôn ngữ sinh hoạt đời thường vào trong văn chương của mình Nguyễn Huy Thiệp đã vận dụng những lớp từ hội thoại liên tiếp xuất hiện trong tác phẩm với tần suất cao, cùng với đó là những đơn vị từ thông tục, các kiểu câu khẩu ngữ đã tạo cho văn phong của ông đa dạng hơn và gây không ít tranh cãi trong dư luận Trong giới hạn của đề tài, chúng tôi sẽ làm sáng tỏ đặc điểm nổi bật này của văn xuôi Nguyễn Huy Thiệp thông qua một số truyện ngắn đặc sắc của ông
Trang 171.2 Nguyễn Huy Thiệp – hiện tượng văn học thời kì đổi mới
1.2.1 Giới thiệu chung về Nguyễn Huy Thiệp
Nguyễn Huy Thiệp sinh ngày 29 tháng 4 năm 1950 tại huyện Thanh Trì, Hà Nội Nguyễn Huy Thiệp thuộc thế hệ các nhà văn xuất hiện muộn trên văn đàn Việt Nam Vài truyện ngắn của ông xuất hiện lần đầu tiên trên báo Văn Nghệ của Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1986 Nông thôn và những người lao động đã để lại nhiều dấu ấn khá đậm nét trong nhiều sáng tác của
ông: “Mẹ tôi là nông dân, còn tôi sinh ra ở nông thôn” (Những bài học nông
thôn) Điều đó cho thấy ông có vốn kiến thức phong phú về nông thôn, về
các vùng miền Gia đình cũng là môi trường có ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần của ông Chịu ảnh hưởng giáo dục chủ yếu của ông ngoại, vốn là người am hiểu Nho học và mẹ - vốn là người sùng đạo Phật Chính điều đó làm cho các sáng tác của ông trở nên có nhiều phong vị truyền thuyết, tín ngưỡng rất độc đáo Điều đó được xem là một trong những phong cách trong toàn bộ sáng tác Nguyễn Huy Thiệp
Trong sáng tác văn chương, Nguyễn Huy Thiệp luôn ý thức được thiên chức của người cầm bút Với ông, tính chuyên nghiệp đối với một nhà văn phải được thực hiện trước hết là trong cái được viết ra Một tác phẩm văn học trước hết phải chứa đựng một nội dung nhân văn, tiếp đến phải “lạ hóa” trong cách viết, và cuối cùng là cung cấp cho độc giả một cái nhìn mới Tất cả những điều đó đều được ông chuyển tải trong những trang viết của mình Trong cuộc đời cầm bút, ông luôn luôn theo đuổi, kiếm tìm nghĩa lí của văn chương, bởi theo ông “văn chương phải bất chấp hết Ngập trong
bùn, sục tung lên, thoát thành bướm và hoa Đó là chí thánh” (Giọt máu)
Với Nguyễn Huy Thiệp, giải thiêng huyền thoại về con người, về văn hóa và văn học Việt Nam là quan điểm nhất quán của ông Trên cơ sở sự nhất quán này, Nguyễn Huy Thiệp bộc lộ một quan niệm nghệ thuật mới về
Trang 18con người Theo ông, con người trước hết phải là con người trần tục Vì thế,
hiện thực đời sống trong văn ông được nhìn với muôn mặt mà nó vốn có,
được mổ xẻ đến tận hang cùng ngõ hẻm và phơi bày lên trang giấy để bạn
đọc tiếp nhận Ông cũng nêu lên quan niệm rõ ràng của mình về văn chương
nghệ thuật và ông đặc biệt chú trọng đến sự trung thực trong tư cách của một
nhà văn Theo ông, tất cả mọi sự lừa dối trong văn chương đều không thể
chấp nhận, bởi người cầm bút phải trung thực với tất cả mọi cái mình viết ra,
phải “trung thực với mình, với người, với xã hội, với chữ nghĩa” Ông cũng
thẳng thắn bày tỏ quan điểm thông qua những tác phẩm của mình: “Nghĩa
tình chuộc lại nghĩa, Vô sự với tạo hóa, trung thực đến đáy, dù có sống giữa
bùn, chẳng sợ không xứng là người” (Những người thợ xẻ) Bằng tất cả
những tâm niệm của mình, Nguyễn Huy Thiệp dẫn dắt văn chương của mình
đi được và đi xa trên con đường hiện đại hóa văn học, mang luồng gió mới
đến nền văn học Việt và trở thành một hiện tượng của văn học Việt Nam thế
kỉ XX
1.2.2 Tác phẩm văn học của Nguyễn Huy Thiệp
Xuất hiện muộn trên văn đàn văn học Việt Nam sau 1975, nhưng
những tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp ngay khi mới vừa ra đời đã được
bạn đọc đón nhận một cách nồng nhiệt, khen cũng nhiều mà chê cũng lắm
Với hơn 50 truyện ngắn, 10 vở kịch, 4 tiểu thuyết và nhiều bút kí, phê bình
văn học, Nguyễn Huy Thiệp trở thành một tên tuổi được nhiều bạn đọc yêu
thích của nền văn học đương đại, đặc biệt là sở trường về truyện ngắn Về cơ
bản có thể tạm thời phân truyện ngắn của ông theo các mảng đề tài như sau:
- Về đồng quê và những người dân lao động: Những người thợ xẻ, Những
bài học nông thôn, Thương nhớ đồng quê,…
Trang 19- Truyện ngắn mang hơi hướng huyền thoại hoặc “cổ tích” lịch sử gồm các
truyện: Những ngọn gió Hua Tát, Chút thoáng Xuân Hương, Con gái thủy thần,
Trương Chi, Giọt máu, Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết,…
- Mảng truyện viết về xã hội đương đại và thành thị: Tướng về hưu, Không
có vua, Sang sông, Tội ác và trừng phạt,…
Ngoài ra còn một số tác phẩm kịch tiêu biểu như: Còn lại tình yêu,
Gia đình,…
Về tạp văn, tiểu luận, phê bình của ông thì chủ yếu là tập Giăng lưới
bắt chim (1988) Cuốn sách tập hợp những bài tạp văn, phê bình, tiểu luận,
giới thiệu và ghi chú của Nguyễn Huy Thiệp đã đăng trên các báo và tạp chí trong nước từ 1989 – 2005 Năm 2006, cuốn sách được Hội Nhà văn Hà Nội trao tặng giải thưởng về thể loại sách phê bình, tiểu luận
Tiếp đó, với sức viết dồi dào, ông cũng cho ra đời một số tiểu thuyết
mới, đáng ghi nhận phải nói đến là Tuổi hai mươi yêu dấu (2002), cuốn tiểu
thuyết đầu tay của Nguyễn Huy Thiệp và từng gây nhiều xôn xao dư luận
Sau Tuổi hai mươi yêu dấu là cuốn Võ lâm ngoại sử (2005), tác phẩm tựa
như tiểu thuyết võ hiệp chương hồi nhưng viết về tình hình văn học nước
nhà trong thế kỉ vừa qua Gần đây nhất ông cho ra mắt bạn đọc là cuốn Gạ
tình lấy điểm (2007), phản ánh thực trạng tiêu cực trong giáo dục nước nhà
đang ngày càng phải lên án gay gắt
Không chỉ gây xôn xao trên văn đàn văn học nước nhà mà Nguyễn Huy Thiệp còn là người có công lớn trong việc quảng bá văn học và văn hóa
Việt Nam tại Pháp Năm 1990, bản dịch Tướng về hưu được xuất bản tại Pháp, Italia, sau đó là Trái tim hổ, Vàng lửa, Chuyện tình kể trong đêm
mưa,…
Bằng những nỗ lực không mệt mỏi trong việc tìm tòi, cách tân và sáng tác, Nguyễn Huy Thiệp xứng đáng nhận được những danh hiệu cao quý:
Trang 20Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, giải thưởng của Pháp, Italia, Phải nói rằng, Nguyễn Huy Thiệp sáng tác rất nhiều tác phẩm ở nhiều thể loại khác nhau nhưng ở thể loại nào, lĩnh vực nào cũng đều nhận được những thành công trong sự cách tân và đổi mới Hơn hết là trong lĩnh vực truyện ngắn – lĩnh vực ông đạt được nhiều đỉnh cao nghệ thuật Chính vì thế, nghiên cứu truyện ngắn của ông cũng là tìm hiểu rõ hơn phong cách của một nhà văn lớn
Trang 21CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT VÀ MIÊU TẢ TỪ HỘI THOẠI, TỪ THÔNG TỤC, KIỂU CÂU KHẨU NGỮ TRONG MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN HUY THIỆP
Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi đã chọn ra 10 truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp để tiến hành khảo sát Bao gồm:
Dưới đây là kết quả tổng quát:
10 Huyền thoại phố phường 47 15.7 2 2.1 23 6.3
Trang 222.1 Khảo sát và miêu tả từ hội thoại trong một số truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu thêm yếu tố
Sau khi tiến hành khảo sát 10 truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi đã tìm ra 67 từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu thêm yếu tố Tất
cả những từ chúng tôi khảo sát đều được tra trong Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê Dưới đây là bản số liệu cụ thể:
suất
Từ điển (tr.) STT Từ HT
Tần suất
Từ điển (tr.)
Trang 2318 tiền nong 1 1221 52 kiện cáo 2 649
Bảng 2.1 Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu thêm yếu tố
Từ hội thoại cấu tạo theo kiểu thêm yếu tố được dùng rất phổ biến trong giao tiếp hàng ngày của người dân Việt Nam Đó là những từ được mỗi người thêm vào câu văn nói của mình trong những cuộc nói chuyện với bạn bè, người thân quen, tạo sự gần gũi và thân thiện cũng như hấp dẫn khi giao tiếp Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu này góp phần làm cho cuộc đối thoại trở nên thú vị và tạo được dấu ấn rõ nét hơn đối với mỗi phát ngôn của từng nhân vật Đinh Trọng Lạc [6, tr.22] đã khái quát các kiểu cấu tạo từ hội thoại, trong đó có từ hội thoại cấu tạo theo kiểu thêm yếu tố có 4 tiểu
Trang 24loại nhỏ, cụ thể như sau: (1) Yếu tố đa phong cách + yếu tố không có nghĩa, khi đứng riêng = từ hội thoại mang tính miêu tả cụ thể và sắc thái bình giá
âm tính Ví dụ: mốc thếch, trắng dã; (2) Yếu tố đa phong cách + yếu tố đa
phong cách có nghĩa không tương hợp với nghĩa của yếu tố 1 = từ hội thoại
mang tính miêu tả cụ thể, có sắc thái bình giá âm tính Ví dụ: cân kẹo, đánh
đấm; (3) Yếu tố đa phong cách hai âm tiết + yếu tố lặp lại một bộ phận của
yếu tố 1 = từ hội thoại mang sắc thái bình giá âm tính, có ý nhấn mạnh Ví
dụ: con gái con đứa, học trò học vè; (4) Yếu tố đa phong cách + yếu tố định
ngữ có tính ẩn dụ = từ hội thoại có tính miêu tả cụ thể, khoa trương, có sắc
thái bình giá âm tính Ví dụ: ngay cán tàn, ngẩn tò te,… Dựa trên 4 tiểu loại
nhỏ đó để nhận biết các lớp từ hội thoại theo kiểu thêm yếu tố được tác giả
sử dụng trong các tác phẩm nhằm chuyển tải dụng ý nghệ thuật của mình
Trong văn chương, từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu thêm yếu tố được các nhà văn dùng rất nhiều, nhất là trong thể loại truyện ngắn Trong truyện ngắn của mình, Nguyễn Huy Thiệp đã vận dụng thành công lớp từ này trong từng câu văn, lời nói của mỗi nhân vật, làm cho câu văn của ông càng thêm lôi cuốn người đọc, khiến cho nhân vật trong tác phẩm của ông luôn để lại những dấu ấn đậm nét, khó trộn lẫn Xuất phát từ thực tế giao tiếp hàng ngày mà số lượng từ hội thoại xuất hiện trong các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp là điều tất yếu, cộng với vốn từ vựng phong phú của mình, Nguyễn Huy Thiệp đã sáng tạo nên những cách nói, cách diễn đạt khá mới mẻ, khiến cho người đọc khi đọc những trang truyện của ông vừa như được tự trải nghiệm cuộc đối thoại và đồng thời như được mở mang thêm vốn từ của mình
+ Những từ trên đây đã được chúng tôi tra theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê Chúng đã được dùng trong các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp theo đúng nghĩa mà Từ điển đã giải thích Xét ví dụ:
Trang 25- đắng ngắt (tt) đắng đến mức cảm thấy vị đắng còn đọng mãi ở
miệng [18, tr.376]
Trong câu: Anh thấy cổ mình đắng ngắt [20, tr.118]
- nhạt thếch (tt) [kng] 1.rất nhạt, thiếu hẳn cái vị tối thiểu cần có
2.hoàn toàn vô vị [18, tr.874]
Trong câu: Tôi ăn cơm mà thấy miếng cơm nhạt thếch [20, tr.283]
- trắng nhởn (tt) rất trắng, gây cảm giác ghê sợ [18, tr.1273]
Trong câu: Chỗ khớp ở đầu ngón chân trái của tôi trồi ra một đoạn đầu
xương trắng nhởn [20, tr.291]
- xa lắc (t) [kng] rất xa, đến mức tưởng chừng như không thể hình
dung ra được, không thể đến được [18, tr.1402]
Trong câu: Hiện giờ, Hạnh ở nhờ nhà một ông chú họ xa lắc tận mãi ven
thành [20, tr.60]
- cao ngất (t) rất cao, quá tầm mắt [18, tr.147]
Trong câu: Những dãy núi đá vôi trập trùng cao ngất [20, tr.278]
+ Bên cạnh những từ xuất hiện ở trên được giải nghĩa trong Từ điển của Hoàng Phê thì vẫn có một số từ được Nguyễn Huy Thiệp sử dụng rất sáng tạo mà trong Từ điển chưa nhắc tới Xét ví dụ:
- Đàn lợn của chị cũng đều chết ráo! [20, tr.118]
Từ chết ráo trong câu trên có nghĩa là chết hết không còn lại một con nào
- Lâm lấy cát đánh bóng bộ sáo diều bằng đồng cho nó sáng tinh lên
Trang 26Từ quên biến trong câu trên có nghĩa là quên hẳn đi không còn nhớ một chút
gì về điều lẽ ra phải nhớ
Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu bớt yếu tố
Sau khi tiến hành khảo sát 10 truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi đã tìm ra 28 từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu bớt yếu tố Dưới đây là bản số liệu cụ thể:
STT Từ HT Từ nguyên
mẫu
Tần suất STT Từ HT
mẫu
Tần suất
Bảng 2.2 Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu bớt yếu tố
Theo Đinh Trọng Lạc [6, tr.23], “từ hội thoại cấu tạo theo kiểu bớt yếu tố được cấu tạo theo nguyên tắc rút bớt yếu tố ở đơn vị nguyên là từ đa phong cách = từ hội thoại mang sắc thái ý nghĩa có phần cụ thể, không được
Trang 27dùng trong các phong cách ngôn ngữ gọt giũa Ví dụ: khẩu (nhân khẩu), phê
(phê bình),…” Từ hội thoại cấu tạo theo kiểu này xuất hiện khá ít và phụ
thuộc vào từng ngữ cảnh khác nhau trong hoạt động nói của nhân vật Một
từ hội thoại cấu tạo theo kiểu bớt yếu tố khi ở trong ngữ cảnh này thì mang nghĩa hiện có nhưng khi tách ra khỏi ngữ cảnh và đặt vào một trường hợp khác thì lại mang nghĩa khác Vì thế nếu không xét từng ngữ cảnh cụ thể thì
nó dễ làm người nghe khó hiểu hoặc hiểu sai nội dung mà nó truyền tải Chính vì thế, khi đưa vào trong tác phẩm của mình, Nguyễn Huy Thiệp cũng hạn chế dùng kiểu cấu tạo từ hội thoại theo kiểu bớt yếu tố, bởi sẽ dễ làm cho người đọc nhầm lẫn Cho nên, mật độ từ hội thoại cấu tạo theo kiểu bớt yếu tố xuất hiện ít trong truyện ngắn của ông Mặc dù vậy, nó vẫn được Nguyễn Huy Thiệp dùng khá thành thục và tinh tế, khiến người đọc nhiều chỗ thấy lạ lẫm và như được mở rộng vốn hiểu biết của mình về các đơn vị
từ Nhất là khi đặt vào từng ngữ cảnh cụ thể ở trong mỗi câu nói, lời đối thoại của các nhân vật thì việc hiểu các từ hội thoại cấu tạo theo kiểu này không phải là quá khó Xét ví dụ:
- nghi ngờ – nghi → ngờ
Trong câu: Ủy ban xã ngờ Bường là thủ phạm các vụ trộm này nhưng không
có bằng chứng nên anh vẫn vô can [20, tr.275]
Trang 28 Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu biến âm
Sau khi tiến hành khảo sát 10 truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi đã tìm ra 17 từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu biến âm Dưới đây
là bản số liệu cụ thể:
STT Từ HT Từ nguyên
mẫu
Tần suất STT Từ HT
Từ nguyên mẫu
Tần suất
Bảng 2.3 Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu biến âm
Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu này xuất hiện khá nhiều ở các phương ngữ Tùy vào những ngữ cảnh khác nhau, những đơn vị từ đó sẽ có nghĩa khác nhau Tuy nhiên đa số đơn vị từ được cấu tạo theo kiểu này thường được hình thành trong quá trình giao tiếp hàng ngày giữa các cá nhân cho nên rất gần với đời sống con người Thoạt đầu, hầu hết chúng thuộc phạm vi của từ ngữ toàn dân (từ nguyên mẫu), nhưng qua biến đổi về mặt ngữ âm, chúng dần chuyển sang phương ngữ Sự biến đổi về mặt ngữ âm, một mặt do chịu ảnh hưởng từ cách phát âm của cá nhân trong quá trình giao
Trang 29tiếp, nhưng mặt khác chúng lại tạo nên “dấu ấn” địa phương rất đậm nét trong các tác phẩm văn chương Đọc truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp ta cũng thấy rõ điều đó qua những câu từ mà các nhân vật trong truyện giao tiếp với nhau Với mật độ xuất hiện tuy không nhiều nhưng những từ hội thoại cấu tạo theo kiểu biến âm được Nguyễn Huy Thiệp sử dụng với mật độ cao trong tác phẩm tạo cho văn phong của ông mang đậm nét địa phương Nghe nhân vật của ông phát ngôn ta có thể đoán được ông đang viết về mảnh đất nào, vùng quê nào Chính điều đó cũng chứng tỏ sự am hiểu vốn văn hóa các vùng miền trên đất nước của tác giả Về cơ bản, các đơn vị từ được cấu tạo theo kiểu biến âm mà Nguyễn Huy Thiệp sử dụng trong tác phẩm của mình đều giữ nguyên nghĩa từ vựng so với từ nguyên mẫu Ví dụ:
- lỡ → nhỡ (kt): biểu thị điều sắp nêu là một giả thuyết cần tính đến
về điều không hay có thể xảy ra [18, tr.724]
Trong câu: Thưa bác, nhỡ chúng em bị chó sói ăn thịt thì sao? [20, tr.281]
- trả → giả (đg): đưa lại cho người khác cái đã lấy đi hoặc đã nhận
được từ người ấy [18, tr.1262]
Trong câu: Mấy quan trên xuống mà bọn khóc thuê và bọn mặc áo xô gai
đòi giả thêm tiền [20, tr.111]
- nhé → nhá (tr) [kng]: biểu thị ý nhấn mạnh một cách thân mật để
người đối thoại chú ý đến lời nói của mình [18, tr.886]
Trong câu: Ông làm cốc rượu “cuốc lủi” cho nó thơm râu, ông nhá! [19,
tr.564]
- ba mươi hai → băm hai: Từ này không được giải thích trong Từ
điển Tiếng Việt của Hoàng Phê nhưng có thể hiểu ba mươi hai là một con số chỉ số lượng (trong trường hợp này là chỉ số tuổi của một người) nằm trong
hệ thống số đếm các số tự nhiên Việc dùng băm hai thay cho ba mươi hai
làm cho câu văn mang đậm nét phương ngữ của người dân nông thôn miền
Trang 30Bắc Qua đó làm cho người đọc dễ hình dung về nhân vật trong tác phẩm cũng như hiểu thêm về ngôn ngữ, văn hóa của mỗi vùng miền trên đất nước
Việt Nam Từ băm hai được dùng trong câu: Tết này tôi băm hai đấy” [20,
tr.116] mang nghĩa là chỉ số tuổi của nhân vật đã được ba mươi hai tuổi, tuổi ngoài thập tam của đời người Nhân vật người thiếu phụ trong câu chuyện dùng từ băm hai để nói về tuổi tác của mình, đồng thời khẳng định cho chàng trai hiểu mình đã lớn tuổi rồi chứ không ít như chàng trai nghĩ Như vậy, trong câu trên, dùng từ biến âm băm hai vào câu sẽ hay hơn việc dùng
từ ba mươi hai Đồng thời, với việc dùng từ biến âm sẽ tăng tính khẩu ngữ cho câu văn, giúp người đọc, người nghe hiểu rõ hơn và làm cho câu văn giàu sắc thái biểu cảm
Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu biến nghĩa
Sau khi tiến hành khảo sát 10 truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi đã tìm ra 28 từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu biến nghĩa Dưới đây là bản số liệu cụ thể:
Trang 3111 cặp thuyền 1 25 cạn tiền 1
Bảng 2.4 Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu biến nghĩa
Theo Đinh Trọng Lạc [6, tr.23], từ hội thoại cấu tạo theo kiểu biến nghĩa nằm trong từ hội thoại theo kiểu biến yếu tố Theo đó, từ hội thoại cấu tạo theo kiểu này được “tạo thành từ hội thoại nhờ ẩn dụ hoặc hoán dụ mang tính miêu tả cụ thể, có sắc thái bình giá âm tính Ví dụ: bê vào tác phẩm (so với bê một thúng gạo), bôi việc (so với bôi phấn),…” Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu biến nghĩa xuất hiện khá nhiều trong các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, nhằm diễn đạt dụng ý nghệ thuật của tác giả Trong giao tiếp hàng ngày nó xuất hiện khá phổ biến tùy vào những ngữ cảnh giao tiếp cụ thể Xuất phát từ nhận thức chủ quan, cộng thêm thói quen ưa hài hước trong giao tiếp người Việt mà có nhiều những cách diễn đạt khác nhau Từ đó tạo nên hứng thú và sự mới lạ cho người đọc, góp phần làm cho câu chuyện thêm sinh động Trong sáng tác của mình, Nguyễn Huy Thiệp đã sử dụng nhiều những từ hội thoại cấu tạo theo kiểu biến nghĩa và sử dụng một cách
vô cùng linh hoạt, tự nhiên, mang lại sức hấp dẫn của câu chuyện Chính việc vận dụng linh hoạt những từ hội thoại theo kiểu biến nghĩa đã giúp cho ông chuyển tải dễ dàng dụng ý nghệ thuật của mình tới người đọc Đồng thời qua cách sử dụng vốn từ này sẽ giúp cho người đọc được tự do mở rộng sự sáng tạo trong cách hiểu của mỗi người, không xét nét vào một khuôn mẫu hay cách hiểu nào, từ đó làm cho câu văn mang nhiều nghĩa, mang sắc thái bình giá âm tính Xét ví dụ:
- Này, cái ông khách hôm nọ trú mưa ở đây ngoẻo rồi đấy
- Sao biết?
Trang 32- Lão ấy bị bọn ở bãi vàng thịt [19, tr.450]
Theo Từ điển, thịt (dt) phần mềm có thớ, bọc quanh xương trong cơ thể
người và động vật; (đg) giết gia cầm gia súc làm thực phẩm [18, tr.1183] Trong câu trên, từ thịt được dùng với nghĩa khác hẳn, người phát tin muốn người nhận tin biết thông tin là “lão ấy đã chết vì bị bọn ở bãi vàng giết”
Việc dùng từ thịt đã làm tăng thêm tính lưu manh của bọn người ở bãi vàng, xem mạng người như mạng muỗi Như vậy, nghĩa của từ thịt đã được biến
đổi và dùng với nghĩa mới đầy sáng tạo, làm cho câu văn mang ý nghĩa mới
lạ và hấp dẫn người đọc
- Sao lại thế? Cậu quen cái thói rẻ người từ bao giờ thế? Bạn bè của cậu cũng là bạn bè của chị [20, tr.57]
Theo Từ điển, rẻ (dt) vật có hình giống như một nan trong tập hợp các
nan quạt được xòe rộng ra; (tt) có giá trị thấp hơn bình thường [18, tr.1024]
Trong câu trên, từ rẻ được dùng với nghĩa đã được biến đổi, không phải là
một vật có giá trị thấp mà ở đây là rẻ người, tức là thói xem thường người
khác Ở đây, người phát tin muốn nói với người nhận tin là không được có thói xem thường người khác, phải nhanh chóng mời khách vào nhà và lần sau không được như vậy nữa
- Tỏ ra bất cần, họ tấn công vào những món nộm mực một cách điềm
đạm [20, tr.59]
Theo Từ điển, tấn công (đg) 1.tiến đánh một cách dữ dội, mạnh mẽ và
thường trên diện rộng 2.dùng sức mạnh hoặc lợi thế để lấn át đối phương một cách mạnh mẽ nhằm giành thắng lợi để chiếm ưu thế trong một cuộc đua tranh có tính được thua nào đó [18, tr.1116] Trong câu trên, tác giả đã
sử dụng từ tấn công theo nghĩa thứ 2, tức là đã biến nghĩa Ở đây, người
phát tin muốn cho người nhận tin biết rằng, họ giành nhau để ăn những món nộm mực với cả hàm ý mỉa mai, chế giễu Chính bởi ghen tị và khó chịu
Trang 33trước cảnh ông Phúc cho Thoa và Hạnh hai người hai chiếc vé xổ số và làm trò đùa giỡn trước mặt các vị khách trong buổi tiệc sinh nhật Thoa Có thể nói, với sự sáng tạo trong việc dùng từ, Nguyễn Huy Thiệp đã tạo hứng thú cho người đọc muốn tìm tòi và đọc tiếp diễn biến câu chuyện để hiểu được
vì sao lại có việc tấn công món nộm mực Từ tấn công được dùng rất nhiều
và cũng được Từ điển giải thích rõ ràng nhưng dùng từ tấn công món nộm mực như trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp thì quả thật là rất hiếm Điều
đó chứng tỏ khả năng am hiểu cũng như sáng tạo từ của tác giả là rất lớn, tạo
sự hấp dẫn cho người đọc cũng như người nghe
Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu dùng yếu tố không có lí do
Sau khi tiến hành khảo sát 10 truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi đã tìm ra 61 từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu dùng yếu tố không
có lí do Dưới đây là bản số liệu cụ thể:
Trang 35có một số từ ngữ chỉ được dùng trong phong cách khẩu ngữ tự nhiên Thí dụ: Ô hay! Hoài của! Này, Phải gió (…) Đó là những từ mang sắc thái khẩu ngữ tự nhiên, gọi tắt là từ khẩu ngữ” [1, tr.61] Từ khẩu ngữ dùng nhiều trong giao tiếp đời sống, trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của con người Trong tác phẩm của mình, Nguyễn Huy Thiệp đã để cho nhân vật được nói chính tiếng nói đời thường của mình một cách tự nhiên, không trau chuốt câu từ Vì thế, số lượng từ khẩu ngữ là công cụ đắc lực trong việc cá tính hóa nhân vật của nhà văn Cũng chính việc sử dụng dày đặc các đơn vị từ khẩu ngữ đã giúp cho câu văn trong các sáng tác của ông mang vẻ tự nhiên, thậm chí suồng sã của cuộc sống đời thường Điều đó giúp cho người đọc khi đọc các tác phẩm của ông như được hòa vào câu chuyện, chứng kiến trực tiếp diễn biến của câu chuyện và sống cùng nhân vật Có thể nói, việc vận dụng rất nhiều những từ khẩu ngữ trong đời sống hàng ngày vào trong các lời đối thoại của các nhân vật với nhau đã làm cho văn phong của Nguyễn Huy Thiệp gần với văn nói hơn là văn viết Người đọc đọc câu chuyện mà
có cảm tưởng như mình vừa chứng kiến câu chuyện đó hôm qua, hôm kia chứ không phải là được nghe người khác kể lại Qua đó tạo nên sự hấp dẫn,
sự khác biệt trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và làm nên một phong cách Nguyễn Huy Thiệp thật gần gũi mà lôi cuốn Phần lớn các từ khẩu ngữ được Nguyễn Huy Thiệp dùng trong sáng tác của mình đều được Từ điển giải thích Xét ví dụ:
Theo Từ điển, lỡm (đg) [kng] xỏ ngầm, làm cho người ta mắc lừa để đùa cợt hoặc chế giễu [18, tr.726] Trong câu trên, từ lỡm được tác giả dùng
đúng với nghĩa của từ điển giải thích, ý muốn nói là nhân vật Chương trong
tác phẩm Con gái thủy thần bị mắc lừa vì con bé (mà sau này Chương mới
Trang 36biết đó chính là Mẹ Cả - người mà Chương đi tìm kiếm suốt đời) đùa cợt để bạn của nó trốn thoát khi đi ăn trộm mía
- Lão Ba Đình lại phởn [20, tr.164]
Theo Từ điển, từ phởn (t) [kng] ở trạng thái vui sướng, hả hê quá mức
thường không kìm nén được và biểu lộ ra bằng những hành động, lời nói
ngộ nghĩnh [18, tr.976] Trong câu trên tác giả đã dùng từ phởn đúng nghĩa
với từ điển giải thích, nhằm ý diễn tả niềm vui sướng của ông Ba Đình khi
đã lâu mới được vui sướng đi thả diều cùng bọn trẻ đến mức có những hành động rất ngộ nghĩnh như trẻ con mà không thể kìm nén được
- Ông cụ không viết di chúc mới gay, sau này tài sản biết chia thế nào? [20, tr.157]
Theo Từ điển, gay (đg) vặn vòng dây để xoắn chặt mái chèo vào cọc
chèo, (t) [kng] có khó khăn rất khó khắc phục [18, 469] Trong câu trên, từ
gay được tác giả dùng với nghĩa thứ 2, tức là dùng với nghĩa là từ khẩu ngữ
trong giao tiếp giữa hai nhân vật với nhau, ý muốn nói là trước khi mất lão Kiền không viết di chúc nên sẽ gây khó khăn cho con cháu trong việc phân chia tài sản sau khi lão Kiền mất
- Một mái nhà gianh với ba bốn trái tim vàng là hết nước [20, tr.216]
Theo Từ điển, hết nước (p) [kng] 1.đủ hết mọi cách, mọi khả năng,
không thể có cách nào khác nữa; 2.quá lắm, không còn có thể hơn được nữa
[18, tr.542] Trong câu trên, từ hết nước được tác giả dùng đúng với nghĩa
mà trong Từ điển đã giải thích và là từ khẩu ngữ trong giao tiếp hàng ngày
của con người Từ hết nước được dùng để ý chỉ một việc làm chỉ có thể đến
chừng mực nào đó mà không thể hơn được nữa Nó thường dùng theo cụm
hết cái (hết nước hết cái) ý muốn nói rằng khả năng chỉ có chừng đó chứ
không còn gì để có thể cố thêm chút nào Trong ngữ cảnh của câu đang xét ở
trên, từ hết nước là lời của nhân vật Chương khi nói đến việc vẫn xảy ra
Trang 37hàng ngày, hàng tháng, hàng năm của những con người ở quê hương anh mãi mãi chỉ có biết sống cuộc sống lặp đi lặp lại, một đời sống chật vật mà chỉ có tình nghĩa vợ chồng tồn tại Dụng ý của nhà văn là muốn chuyển tải tới người đọc việc nhân vật Chương nhận ra cuộc sống nghèo nàn mà tù túng của người dân quê anh và anh muốn mình sẽ sống một cuộc sống khác, thoát khỏi cảnh sống chỉ biết yêu thương nhau nhưng luôn trong nghèo túng Bằng việc dùng từ khẩu ngữ trong câu nói của nhân vật, làm cho câu văn mang màu sắc rõ nét của cuộc sống đời thường và gần gũi hơn với người đọc Xét ví dụ:
- Gì thì gì, anh là sếp trực tiếp, anh quay lưng lại thì em rồi đời [20,
tr.144]
Theo Từ điển, rồi đời (đg) [kng] như hết đời, nghĩa là chết một cách
đáng đời [18, tr.1031] Trong câu trên, tác giả để cho nhân vật Đoài dùng từ
rồi đời cũng có nghĩa tương tự như trong Từ điển đã giải thích Bằng câu nói
tự nhiên, mang màu sắc khẩu ngữ đã giúp nhân vật Đoài nâng tầm quan trọng của sếp anh ta lên (coi sếp quan trọng như là mạng sống của mình), qua đó để tiện bề nhờ vả trong con đường thăng tiến công danh Chính việc dùng từ khẩu ngữ mang màu sắc tự nhiên, đời thường vào trong câu nói giúp cho nhà văn lột tả được bản chất nội tâm của nhân vật và góp phần khắc họa nhân vật điển hình trong tác phẩm
2.2 Khảo sát và miêu tả từ thông tục trong một số truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Sau khi tiến hành khảo sát 10 truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi đã tìm ra 42 từ thông tục Dưới đây là bảng số liệu cụ thể: