Việc tìm hiểu tình hình ruộng đất và đời sống nông dân Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của Pháp, không chỉ giúp tôi có thể đi sâu tìm hiểu nội dung và hệ quả của những chính sá
Trang 1Sinh viên thực hiện : Lê Thị Loan
Người hướng dẫn : Nguyễn Hữu Giang
Đà Nẵng, tháng 5/ 2013
Trang 2PHẦN MỞ ẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một đất nước có truyền thống sản xuất nông nghiệp từ lâu đời Chính
vì vậy, ruộng đất là tư liệu sản xuất không thể thiếu và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp nước ta Bên cạnh đó, ruộng đất còn là cơ sở để nhà nước thu thuế và quản lý nông dân trong các làng xã, tăng cường vai trò quản lý thống nhất của nhà nước từ Trung ương đến địa phương
Với vai trò và vị trí quan trọng như vậy, ruộng đất luôn được nhà nước quan tâm
và đặt lên hàng đầu Trong quá trình tồn tại của mình, nhà nước luôn ban hành những chính sách để quản lý ruộng đất Dưới thời phong kiến, đã có nhiều văn bản quản lý đất đai như địa bạ Những địa bạ của các thôn xã thường là loại văn bản có giá trị pháp lý cao nhất vì được lập theo sự chỉ đạo của Nhà nước Việc khám đạc cũng được thực hiện dưới sự tổ chức và giám sát trực tiếp của Nhà nước Năm 1092, Nhà Lý lập
sổ địa bạ, bấy giờ gọi là điền tịch Đến nhà Nguyễn, sau khi bình định xong cả nước (1802) đã ý thức ngay được tầm quan trọng của việc lập địa bạ Năm 1803, vua Gia Long sai lập địa bạ ở các trấn thuộc Bắc Hà và hoàn thành vào năm 1805 Đến hết thời Minh Mạng, về cơ bản nhà Nguyễn đã lập xong sổ địa bạ trên toàn quốc
Tuy nhiên, dưới các triều đại phong kiến, với những hạn chế còn tồn tại trong chính sách ruộng đất đã có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người nông dân, một bộ phận không nhỏ nông dân trong các làng xã vẫn không có ruộng đất canh tác, đời sống khó khăn Thêm vào đó còn bị quan lại, địa chủ ra sức bóc lột, tình trạng dân lưu vong, phiêu tán ngày càng tăng Đó chính là điều kiện nổ ra các phong trào đấu tranh của nông dân, tiêu biểu là các phong trào đấu tranh của nông dân trong thế kỷ XVIII
Đến thời Pháp thuộc, nhận thức được vai trò và vị trí quan trọng của ruộng đất đối với kinh tế Việt Nam Sau khi hoàn thành quá trình xâm lược và bình định, trong quá trình khai thác thuộc địa, thực dân Pháp đã thi hành nhiều chính sách ruộng đất nhằm phục vụ cho lợi ích kinh tế Pháp Trong đó, Pháp quan tâm nhất là vấn đề cướp đoạt ruộng đất lập đồn điền Thực dân Pháp đã hợp pháp hóa chính sách cướp đoạt ruộng đất của mình bằng các nghị định và văn bản pháp luật Bên cạnh ý đồ phục vụ cho mục đích kinh tế, việc cướp đoạt ruộng đất của Pháp còn phục vụ cho mục đích chính
Trang 3trị Thực dân Pháp ra sức cướp đoạt ruộng đất của nông dân để ban, tặng cho Hội giáo, bọn quan lại, địa chủ để lôi kéo và biến những bộ phận này thành tay sai đắc lực cho Pháp trong quá trình thống trị và khai thác thuộc địa Với sự cướp đoạt đó, phần lớn ruộng đất nước ta tập trung vào tay tư bản Pháp, bọn quan lại, địa chủ tay sai Trong khi đó, người nông dân lại không có hoặc có rất ít ruộng đất, phần lớn phải làm thuê cho tư bản Pháp trong các đồn điền và cày thuê cho bọn quan lại, địa chủ, đời sống vô cùng khó khăn Thêm vào đó là nạn sưu dịch, thuế khóa nặng nề đã đẩy nhân dân ta nói chung và người nông dân nói riêng vào bước đường cùng, khó khăn chồng chất khó khăn
Việc tìm hiểu tình hình ruộng đất và đời sống nông dân Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của Pháp, không chỉ giúp tôi có thể đi sâu tìm hiểu nội dung và hệ quả của những chính sách ruộng đất thực dân Pháp thực hiện đối với nước ta Mà qua
đó, còn giúp tôi thấy rõ hơn sự áp bức, bóc lột của thực dân Pháp đối với nhân dân ta, đặc biệt là người nông dân họ bị dồn ép đến cùng cực với hàng loạt các thứ thuế, cho vay nặng lãi, lao dịch nặng nề
Mặc dù vậy, nhìn chung những tài liệu nói về tình hình ruộng đất và đời sống người nông dân qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp vẫn chưa nhiều Nhiều tài liệu phần lớn đề cập đến vấn đề này còn mang tính chất chung, chưa đi sâu, phân tích kỹ để cho bạn đọc nắm được những những chính sách thâm độc và tội ác mà thực dân Pháp thực hiện đối với nhân dân ta dưới sự thống trị của thực dân Pháp, đặc biệt là qua hai cuộc khai thác
Với những lý do trên tôi chọn đề tài “Tình hình ruộng đất và đời sống nông dân
Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp” làm đề tài khóa luận
tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong lịch sử Việt Nam, tình hình ruộng đất và đời sống nông dân dưới thời Pháp thuộc là vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm và đã có một số tác phẩm sau:
Trong tác phẩm “Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam” của Lê Quang Huyên, Nxb
KHXH, Hà Nội, 2002.Tác giả đã trình bày sơ lược về tình hình ruộng đất của nước ta
từ thời phong kiến đến thời kỳ Pháp thuộc, đặc biệt là vấn đề sở hữu ruộng đất qua các
Trang 4thời kỳ.Từ đó, tác giả cũng trình bày cho ta thấy rõ sự bóc lột của địa chủ phong kiến
và tư bản Pháp đối với nông dân Việt Nam dưới sự thống trị của thực dân Pháp
Trong tác phẩm “Tư tưởng của Hồ Chí Minh về vấn đề nông dân” của Nguyễn
Khánh Bật, Nxb Nông nghiệp, 2001 Tác phẩm đã đề cập về vấn đề cướp ruộng đất lập đồn điền của thực dân Pháp và những ảnh hưởng của chính sách đó đến đời sống của nông dân Việt Nam dưới thời kỳ thực dân Pháp đô hộ
Trong “Tình hình ruộng đất và đời sống nông dân Việt Nam dưới triều Nguyễn”
của Trương Hữu Quýnh (chủ biên), Nxb Thuận Hóa, 1997 Ngoài việc đi sâu vào nghiên cứu tình hình ruộng đất và đời sống nông dân dưới triều Nguyễn tác giả đã trình bày tình hình ruộng đất và đời sống của nhân dân ta nói chung và nông dân nói riêng trong thời kỳ Pháp thuộc đó là những chính sách cướp đoạt ruộng đất lập đồn điền của thực dân Pháp
“Thực trạng của giới nông dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc” của Phạm Cao
Dương, Nxb Khai Trí, 1967 Tác phẩm đã nêu lên chính sách phát triển nông nghiệp của thực dân Pháp đặc biệt là vấn đề ruộng đất trong 80 năm cai trị và đời sống khốn khổ của người nông dân Việt Nam
“Bản án chế độ thực dân Pháp” của Hồ Chí Minh, Nxb giáo dục, 1985 Trong tác
phẩm này tác giả không chỉ lên án chính sách cướp đoạt ruộng đất trắng trợn của thực dân Pháp mà còn lên án sâu sắc chính sách bọc lột thậm tệ đối với nhân dân ta đó là tình trạng sưu cao, thuế nặng, đã dồn nhân dân ta đặc biệt là những người nông dân đến bước đường cùng
“Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ”, của Nguyễn Thế Anh, Nxb Văn học,
1974.Trong tác phẩm này tác giả cũng đã phần nào đề cập đến chính sách khai thác và bóc lột của thực dân Pháp đối với nhân dân ta đặc biệt là vấn đề ruộng đất và thuế khóa Những chính sách đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống kinh tế của nhân dân
ta, hơn hết là những người nông dân
Bên cạnh đó, còn có các tạp chí “Xưa và nay”, tạp chí “Nghiên cứu lịch sử”, các trang Web cúng đã đề cập ít nhiều đến vấn đề ruộng đất và đời sống nông dân dưới thời Pháp thuộc
Tuy nhiên, nhìn chung các tác phẩm trên chỉ mang tính chất riêng lẽ, trình bày còn
sơ lược, chung chung về vấn đề ruộng đất và đời sống nông dân dưới thời Pháp thuộc
Trang 5Chưa đi sâu vào nghiên cứu những chuyển biến về tình hình ruộng đất và đời sống người nông dân Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Những tác phẩm này là những nguồn tư liệu quý báu, giúp tôi có thể hoàn thành tốt đề tài này
3 ối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong phạm vi khóa luận của mình, tôi xem vấn đề “Tình hình ruộng đất và đời
sống nông dân Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp” là đối
tượng chính cần được làm sáng tỏ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn thời gian nghiên cứu: Đề tài đi sâu tìm hiểu về tình hình ruộng đất và đời
sống nông dân Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa
Giới hạn không gian nghiên cứu: Do hạn chế về mặt tài liệu nên với đề tài “Tình hình ruộng đất và đời sống nông dân Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp” tôi chỉ tập trung tìm hiểu các vấn đề: những chính sách ruộng đất của
thực dân Pháp qua hai cuộc khai thác; sự cướp đoạt ruộng đất, sự bóc lột về thuế khóa, lao dịch của thực dân Pháp đối với nhân dân ta đặc biệt là người nông dân qua hai cuộc khai thác và ảnh hưởng của những chính sách đó đến đời sống nông dân
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích chính của đề tài là nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống về tình hình ruộng đất và đời sống nông dân Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Đó là những chính sách ruộng đất của thực dân Pháp, sự bóc lột của của tư bản Pháp, địa chủ Việt Nam về thuế khóa, lao dịch,… đối với nhân dân ta đặc biệt là người nông dân Qua đó, thấy được đời sống cực khổ của nhân dân ta đặc biệt
là người nông và những chuyển biến sâu sắc trong kinh tế và xã hội Việt Nam qua hai cuộc khai thác
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích của bài khóa luận nêu trên, tôi hướng vào thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Tìm hiểu khái quát quá trình xâm lược, bình định Việt Nam của thực dân Pháp
Trang 6- Tìm hiểu mục đích, những chính sách cai trị, bóc lột của thực dân Pháp đối với Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa
- Phân tích nội dung và hệ quả của những chính sách ruộng đất của thực dân Pháp đối với Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa
- Phân tích nội dung và hệ quả những chính sách bóc lột của tư bản, địa chủ Pháp, địa chủ Việt Nam đối với người nông dân qua đó làm rõ đời sống nông dân Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Để thực hiện đề tài này tôi sử dụng các nguồn tư liệu có liên quan, hiện đang lưu trữ tại phòng Học liệu khoa Lịch sử, thư viện trường Đại học Sư phạm, thư viện Tổng hợp Đà Nẵng, thư viện Tổng hợp Huế, thư viện Quân khu V
Ngoài ra, tôi còn sử dụng các tài liệu tham khảo có liên quan như: Tạp chí nghiên cứu Lịch sử, Tạp chí xưa và nay, Tạp chí xây dựng Đảng, Tạp chí kinh tế,… của các nhà Sử học, các ngành nghiên cứu và một số trang web…
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận: Trong quá trình thực hiện khóa luận, tôi dựa trên quan điểm
sử học Mácxit, quan điểm, đường lối của Đảng và nhà nước để đánh giá, nhận xét các
sự kiện
Về phương pháp nghiên cứu: Sử dụng và kết hợp chặt chẽ hai phương pháp
nghiên cứu của chuyên ngành lịch sử là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Đồng thời tôi áp dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, thống
kê, mô tả,…để triển khai tốt đề tài của mình
6 óng góp của đề tài
Nghiên cứu đề tài này tôi muốn tìm hiểu sâu hơn về tình hình ruộng đất và đời sống nông dân qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Để từ đó giúp tôi hiểu hơn về những chính sách áp bức, bóc lột và những hệ quả của những chính sách
đó của thực dân Pháp đối với nhân dân ta
Thành công của đề tài tài còn đóng góp nguồn tài liệu quan trọng bổ sung cho phần kiến thức cho học phần lịch sử Việt Nam cận đại, đặc biệt là bổ sung kiến thức
Trang 7cho những chuyên đề liên quan đến vấn đề ruộng đất và đời sống của nông dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc
Tuy nhiên, đề tài này không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Nhưng tôi
hy vọng đề tài này sẽ là nguồn tư quý giá cho những ai muốn đi sâu tìm hiểu hơn về vấn đề này
7 Cấu trúc đề tài
Cấu trúc đề tài bao gồm các phần mở đầu, nội dung, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo
Phần nội dung gồm có 3 chương:
Chương 1: Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp
Chương 2: Tình hình ruộng đất Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp
Chương 3: Nông dân Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp
Trang 8PHẦN NỘI DUNG hương 1: Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp 1.1 Công cuộc xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp
1.1.1 Quá trình xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp
Cuối thế kỉ XIX, khi chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, nhu cầu tìm kiếm thị trường và nguồn nguyên liệu ngày càng lớn đã thúc đẩy các nước
tư bản phương Tây tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa, đặc biệt là các nước phương Đông, trong đó có Việt Nam
Cũng như các nước tư bản phương Tây khác, thực hiện âm mưu của mình, ngày 1/9/1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã tấn công Đà Nẵng chính thức xâm lược nước ta Nhưng kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” của chúng nhanh chóng bị thất bại ở Đà Nẵng và Gia Định, chúng chuyển sang đánh lâu dài theo cách nói của thực dân là “chinh phục từng gói nhỏ” toàn bộ đất nước ta bắt đầu từ Sài Gòn – Gia Định Rạng sáng ngày 1/9/1858, Giơnuiy đã gửi Trần Hoàng bức thư, nhưng không đợi ta trả lời, Pháp đã bắn đạn xối xả vào Đà Nẵng Sau 5 tháng bị giam chân tại Đà Nẵng, thực dân Pháp gặp rất nhiều khó khăn và buộc phải rút khỏi Đà Nẵng, kế hoạch
“đánh nhanh thắng nhanh” tại Đà Nẵng bị thất bại Sau khi nhận thất bại tại Đà Nẵng, Giơnuiy đã cho quân tiến đánh Gia Định vì Gia Định là nơi lắm của nhiều người, chiếm được Gia Định sẽ đạt được nhiều mục đích Cắt con đường lương thảo của Huế,
hỗ trợ người Campuchia nổi dậy tách khỏi người Việt, đặt nền bảo hộ trên đất chùa tháp, nhanh tay chiếm lấy Vũng Tàu một địa điểm thương mại mà người Anh đang nhòm ngó Hơn nữa đi vào Gia Định thuận gió, hành quân nhanh, dễ dàng hơn
Sau khi nghiên cứu kỹ, ngày 2/2/1859, Giơnuiy kéo quân vào Gia Định Ngày 10/2/1859, tàu chiến Pháp – Tây Ban Nha bắn vào pháo đài của ta, trước sự chống đỡ của nhân dân ta mãi đến ngày 17/2/1859 chúng mới chiếm được thành Gia Định Nguyễn Tri Phương được điều vào mặt trận Gia Định (3/1860), ông huy động quan quân xây dựng một hệ thống phòng ngự kiên cố lấy đại đồn Chí Hòa làm đại bản doanh tập trung binh sĩ, vũ khí và lương thực Tuy vậy, trước hỏa lực của địch, Nguyễn Tri Phương phải cho quân lính bỏ đại đồn Chí Hòa rút chạy về sau cố thủ Thừa thắng từ mặt trận Gia Định, quân Pháp tấn công nhiều nơi và lần lượt ba tỉnh miền Đông (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa) đã rơi vào tay Pháp Trước sự xâm
Trang 9lược của thực dân Pháp, nhân dân Nam Kì không lúc nào ngừng phong trào đấu tranh Chính lúc phong trào đấu tranh của nhân dân hai tỉnh Gia Định và Định Tường phát triển làm địch hoảng sợ thì triều đình nhà Nguyễn lại ký Hiệp ước Nhâm Tuất 5/6/1862, cắt ba tỉnh miền Đông và đảo Côn Lôn cho Pháp cùng với những nhượng bộ nặng nề như: mở cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên cho tư bản Pháp, bồi thường
4 triệu đôla chiến phí Mục đích của triều đình Huế là bắt tay với tư bản Pháp tranh thủ rãnh tay đối phó với phong trào nông dân Bắc Kì đang trên đà phát triển
Sau khi chiếm ba tỉnh miền Đông chúng lại tiếp tục thực hiện dã tâm chiếm gọn ba tỉnh miền Tây Chúng nhiều lần đưa thư đòi triều đình nộp ba tỉnh này cho chúng Ngày 20/6/1867, lấy cớ triều đình Huế đang ủng hộ nghĩa quân miền Đông chống Pháp, thực dân Pháp kéo quân tới dàn trận tại thành Vĩnh Long, đưa thư yêu cầu trấn thủ nộp thành Phan Thanh Giãn đại diện triều đình nộp thành Vĩnh Long và lần lần các quan đứng đầu hai tỉnh An Giang và Hà Tiên làm theo Chỉ trong vòng năm ngày (20-24/6/1867) thực dân Pháp chiếm gọn ba tỉnh miền Tây mà không mất một viên đạn nào Trước hành động đầu hàng của triều đình Huế, phong trào nông dân kháng chiến chống Pháp nổi lên mạnh mẽ ở ba tỉnh miền Đông, sau đó lan tràn toàn Nam Bộ Phong trào có lúc tạm lắng xuống do sự đàn áp dã man của kẻ địch, nhưng lại vùng lên mạnh mẽ khi có thời cơ đúng như lời Nguyễn Trung Trực dõng dạc tuyên
bố trước kẻ thù: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”
Chiếm gọn Lục tỉnh Nam Kì, Pháp nghĩ ngay đến việc “thanh toán” Bắc Kì, tiến tới chiếm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Tuy nhiên, số lượng quân hiện có ở Nam Kì
và phong trào đấu tranh của nhân dân miền Bắc thì tiến ra Bắc Kì là chuyện mạo hiểm không chỉ đám chính khách tư sản Pari mà lũ thực dân ở Sài Gòn chúng rất rỏ điều đó Giữa lúc đang gặp khó khăn thì triều đình Huế mở đường rước Pháp ra Bắc Kì một cách hợp Pháp Chớp thời cơ triều đình Huế yêu cầu Pháp giải quyết vụ Đuy-puy ngày 11/10/1873, Thống đốc Nam Kì Duypere phái thiếu tá hải quân Gacnie mang hơn 200 lính Pháp và Ngụy ra Bắc, bề ngoài là dàn xếp nhưng bên trong là kiếm cớ can thiệp sâu vào Bắc Kì
Đầu tháng 11/1873, ngay khi vừa đặt chân tới Hà Nội hội quân với Đuypuy, Gacnie cho quân nổ súng thị uy đòi khai phóng sông Hồng Sáng ngày 19/11 sau khi
Trang 10đưa tối hậu thư đòi nộp thành Hà Nội, nhưng Nguyễn Tri Phương một mực cự tuyệt, chúng nổ súng phá thành Nguyễn Tri Phương cùng nghĩa quân chiến đấu anh dũng bị trọng thương và tuyệt thực đến chết Con trai ông cũng hy sinh trong trận này Sau khi chiếm thành Hà Nội, thừa cơ triều đình Huế đang bị động giam mình trong thương thuyết, quân Pháp tiến hành đánh chiếm tỉnh Hưng Yên, Phủ Lý, Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định
Quân dân Hà Nội nổi lên mạnh mẽ có sự phối hợp của quân ta ở nhiều nơi trên miền Bắc, tiêu biểu là trận Cầu Giấy do Hoàng Tá Viêm phối hợp với đội quân cờ đen thiện chiến của Lưu Vĩnh Phúc chặn đánh ngày 21/12/1873 Cuộc giao chiến diễn ra
ác liệt Gacnie và nhiều binh sĩ Pháp bị giết tại trận, số còn lại tháo chạy về thành Trận Cầu Giấy lần thứ nhất làm cho bè lũ cướp nước ở Pari cũng như Sài Gòn lúc ấy hết sức bối rối Tình thế của giặc ở Bắc Kì cuối năm 1873 còn khốn quẫn hơn tình thế của chúng đầu năm 1862 ở Lục tỉnh, nhưng cũng giống như 12 năm trước, lần này cũng chính triều đình Tự Đức đã cứu chúng thoát khỏi trạng thái hiểm nghèo nói trên bằng Điều ước ký kết năm 1874 Triều đình chính thức thừa nhận chủ quyền của Pháp ở cả 6 tỉnh Nam Kì, nền ngoại giao Việt Nam lệ thuộc vào Pháp, cam kết mở cửa sông Hồng, thành phố Hà Nội, mở cửa biển Thị Nại (Quy Nhơn), Ninh Hải (Hải Phòng) Tại các nơi đó người Pháp được phép mua bán, mở mang công nghiệp, Pháp
có quyền đặt lãnh sự, có quân lính bảo vệ Triều đình Tự Đức đã xoay chuyển tình thế cho Pháp, giúp giặc chuyển thế thua thành thắng và đặt Đại Nam thành đất bảo hộ của người Pháp mặc dù trong điều ước không ghi rõ điều ấy
Nuôi dã tâm xâm lược Việt Nam, sau khi chiếm được Nam Kì với điều ước
1874 chúng tiến hành xâm lược toàn bộ Việt Nam Tháng 3/1882, viện cớ triều đình Huế vi phạm hiệp ước năm 1874, Thống đốc Nam Kì phái Rivie mang 400 quân cùng hai pháo thuyền ra Bắc Đầu tháng 4, vừa tới Hà Nội bọn chúng đã khiêu khích, lúc này Tổng đốc thành Hà Nội là Hoàng Diệu xin triều đình tăng thêm viện binh, nhưng
bị triều đình từ chối Ngày 25/4/1882, Rivie gửi tối hậu thư đòi nộp thành, nhưng quân dân chiến đấu anh dũng, trận đấu diễn ra quyết liệt thì kho đạn bóc cháy làm cho quân
ta hoảng loạn Quân giặc chiếm được thành, Hoàng Diệu đã tự vẫn để bảo toàn khí tiết Đứng trước hành động xâm lược của thực dân Pháp, nhân dân Hà Nội và các tỉnh Bắc Kì đã đứng lên chiến đấu quyết liệt và đã làm nên trận Cầu Giấy lần thứ hai vang
Trang 11dội, giết chết Rivie và một bộ phận lớn quân Pháp Giữa tháng 3/1883, lợi dụng lúc triều đình Huế đang lục đục, thực dân Pháp đã tấn công thẳng vào Huế buộc triều đình Huế đầu hàng Trước tình hình đó, triều đình Huế đã ký với Pháp hai Hiệp ước Hắcmăng (1883) và Patơnốt (1884) chấp nhận sự bảo hộ của Pháp Từ đây, nước ta từ một nước phong kiến độc lập đã trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến
1.1.2 Hoàn thành quá trình xâm lược và bình định Việt Nam của thực dân Pháp
Mặc dù phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân ta diễn ra mạnh mẽ và gây cho Pháp nhiều khó khăn Nhưng với sự nhu nhược của mình, triều đình Huế đã lần lượt ký với thực dân Pháp các Hiệp ước 1862, 1874, 1883, 1884 từ từ đầu hàng và chấp nhận sự bảo hộ của thực dân pháp trên toàn cõi nước ta
Đối với thực dân Pháp, hai điều ước Hácmăng (1883) và Patơnốt (1884) đã chấm dứt giai đoạn xâm lược ngót 30 năm Tuy nhiên, lúc này thực dân Pháp mới chỉ xác lập quyền lực ở trung ương còn lại phần lớn ở các địa phương xứ Bắc và Trung Kì chúng chưa thể nắm được Hơn nữa, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta vẫn còn âm ỉ, vì vậy khi chiếu Cần Vương được ban ra, nhằm kêu gọi văn thân, sĩ phu
và nhân dân cả nước đứng lên giúp vua cứu nước thì đã thổi bùng lên ngọn lửa yêu nước trong nhân dân ta và đã tạo nên một phong trào kháng chiến chống Pháp mạnh
mẽ trong giai đoạn mới, tạo nên lực cản, ngăn Pháp chưa thể tiến hành khai thác thuộc địa ở nước ta, buộc Pháp phải nhanh chóng đàn áp các phong trào đấu tranh của nhân dân ta, đặc biệt là các phong trào theo chiếu Cần Vương
Sau khi chiếu Cần vương được ban ra, các phong trào đấu tranh hưởng ứng chiếu Cần Vương đã diễn ra mạnh mẽ khắp các tỉnh Bắc Trung Kì tiêu biểu có các cuộc khởi nghĩa lớn như: Khởi nghĩa Bãi Sậy, khởi nghĩa Hương Khê, Ba Đình… Phong trào Cần Vương dưới sự lãnh đạo trực tiếp của vua Hàm Nghi và Tôn thất Thuyết đã nổ ra mạnh mẽ và kéo dài từ năm 1885 đến năm 1896 Đứng trước tình hình đó, thực dân pháp đã mở các cuộc càn quét nhằm dập tắt các phong trào và bắt sống vua Hàm Nghi Tháng 11/1888, dưới sự chỉ điểm của Trương Quang Ngọc, thực dân Pháp đã bắt được vua Hàm Nghi và đày sang Angiêri Sau khi vua Hàm Nghi bị bắt, phong trào đấu tranh của nhân dân ta vẫn tiếp tục diễn ra dưới sự lãnh đạo của các văn thân, sĩ phu yêu nước như: Nguyễn Thiện Thuật, Phan Đình Phùng, Cao Thắng,
Trang 12Phạm Bành… Tuy nhiên, do các cuộc khởi nghĩa diễn ra còn lẻ tẻ, chưa được chuẩn bị đầy đủ, vũ khí thô sơ… hơn nữa lúc này thực dân pháp với vũ khí hiện đại, lực lượng lớn và đặc biệt là có đội quân tinh nhuệ nên đã lần lượt dập tắt các cuộc khởi nghĩa của ta Đến năm 1896, trước sự tấn công mạnh mẽ của quân Pháp, phong trào đấu tranh theo chiếu Cần Vương đã kết thúc khi tiếng súng lặng im trên núi Vụ Quang (Hương Khê – Hà Tĩnh)
Song song với phong trào Cần Vương, trong thời kì này, còn còn các phong trào đấu tranh của nông dân ta đã nổ ra một cách tự phát, phong trào đấu tranh của đồng bào miền núi, phong trào yêu nước theo màu sắc tôn giáo… Trong đó tiêu biểu nhất là phong trào đấu tranh của nông dân Yên Thế dưới sự lãnh đạo của Hoàng Hoa Thám Đây là phong trào đấu tranh vũ trang lớn và kéo dài nhất trong phong trào chống Pháp cuối thế kỉ XIX, sang hơn 10 năm đầu thế kỉ XX Nhưng với lực lượng vô cùng lớn mạnh và vũ khí hiện đại, thực dân Pháp đã mở các cuộc tấn công và lần lượt dập tắt các cuộc khởi nghĩa Nhưng dù Pháp có mạnh đến bao nhiêu, vũ khí hiện đại đến nhường nào thì lòng yêu nước của nhân dân ta cũng không thay đổi Minh chứng cho lòng yêu nước đó là sự bùng nổ liên tục các phong trào yêu nước của nhân dân ta trong suốt thời kì thống trị của Pháp Sang đến thế kỉ XX, đã diễn ra mạnh mẽ các phong trào đấu tranh theo con đường dân chủ tư sản của các văn thân, sĩ phu yêu nước đương thời tiêu biểu là Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh Tuy nhiên, các phong trào cũng nhanh chóng bị thất bại, do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân của thời đại
Mặc dù, thực dân Pháp phải đối phó với sự bùng nổ mạnh mẽ các phong trào đấu tranh của nhân dân ta trong suốt thời kì thống trị của mình, nhưng từ sau khi dập tắt được các cuộc khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương, về cơ bản Pháp đã hoàn thành xong công cuộc bình định nước ta và bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa của mình
1.2 Công cuộc khai thác thuộc địa Việt Nam của thực dân Pháp
1.2.1 Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp
1.2.1.1 Mục đích khai thác thuộc địa của thực dân Pháp
Cũng như các nước tư bản phương Tây khác, để mang lại nguồn lợi cho mình trong những thập niên của thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp luôn ra sức
Trang 13xâm lược thuộc địa, tìm kiếm thị trường và nguồn nguyên liệu để phục vụ cho chính quốc Hơn nữa, lúc này nước Pháp đang ở trong hoàn cảnh rất khó khăn Năm 1870, hai tỉnh giàu nhiên liệu nhất của Pháp là Andát và Loren đã rơi vào tay nước Đức Vì vậy, nhu cầu về nguồn nguyên liệu ngày càng trở nên cấp thiết đối với Pháp, để phục
vụ cho việc sản xuất công nghiệp thì nguồn nguyên liệu, khoáng sản là không thể thiếu Trong khi đó, Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng là những nước giàu nguyên, nhiên liệu nhưng còn đang chìm đắm trong “đêm trường trung cổ”, ngày càng suy yếu Đây được coi là cơ hội thuận lợi để Pháp xâm lược các nước Đông Dương làm thuộc địa và đồng thời giải quyết khó khăn của mình Không chỉ thế, sau chiến tranh thế giới thứ nhất, tình hình của nước Pháp càng gặp nhiều khó khăn hơn Mặc dù là nước thắng trận, nhưng nước Pháp ra khỏi chiến tranh với những tổn thất nặng nề về kinh tế và tài chính Chiến tranh đã tàn phá hàng loạt các nhà máy, cầu cống, đường sá và làng mạc trên khắp cả nước Nhiều ngành sản xuất công nghiệp bị
đình trệ, hoạt động thương mại bị sa sút nghiêm trọng “Sau chiến tranh, Pháp đã trở
thành một con nợ lớn, trước hết là của Mĩ Số nợ quốc gia vào năm 1920 đã lên tới
300 tỉ phơrăng” [20; tr 211]
Chiến tranh thế giới thứ nhất cũng đã tiêu hủy hàng triệu phơrăng đầu tư của Pháp ở nước ngoài Với thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga (1917), thị trường đầu tư lớn nhất của Pháp tại châu Âu cũng không còn nữa Thêm vào đó là nạn lạm phát, sự leo thang của giá cả và đời sống khó khăn đã làm trỗi dậy các phong trào đấu tranh của các tầng lớp lao động Pháp chống lại Chính phủ Trước tình hình đó, để nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh và khôi phục nền kinh tế, chính quyền Pháp ra sức tìm các biện pháp thúc đẩy sản xuất ở trong nước, mặt khác tăng cường đầu tư khai thác thuộc địa, trước hết và chủ yếu là các nước Đông Dương và châu Phi trong đó có Việt Nam
Vì vậy, sau khi hoàn thành xong công cuộc bình định và dập tắt các phong trào đấu tranh yêu nước của Việt Nam, thực dân Pháp đã nhanh chóng bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa của mình, với mục đích cao nhất là:
Thứ nhất, nhằm tạo ra nguồn kinh phí tại chỗ, thực hiện “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”, nhằm giảm gánh nặng tài chính cho chính quốc Đây là một trong những việc làm cần thiết nhất, bởi vì kinh phí bỏ ra cho một cuộc chiến tranh là rất lớn và
Trang 14trong hoàn cảnh khó khăn lúc bấy giờ thì việc chi phí cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam là điều mà Chính phủ Pháp lo ngại nhất và không có khả năng chi trả Trong hoàn cảnh xấu, việc đưa gánh nặng chiến tranh lên cuộc sống nhân dân sẻ gây nên sự phản ứng gay gắt và tạo điều kiện cho phong trào đấu tranh của nhân dân ở Pháp có điều kiện bùng nổ Vì vậy mà việc khai thác thuộc địa nhằm tạo ra kinh phí tại chỗ với mục đích “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” có thể giúp thực dân Pháp dễ dàng hơn trong việc thực hiện chiến tranh ở Việt Nam
Thứ hai, thu lại nguồn lợi xuất khẩu và tiêu thụ sản phẩm, làm giàu cho chính quốc Đây cũng là một trong những mục tiêu quan trọng và hàng đầu của Pháp Việc khai thác nguồn nguyên liệu dồi dào và bóc lột một nguồn lao động đông và rẻ giúp cho thực dân Pháp dễ dàng thu lại được nguồn lợi nhuận khổng lồ
Thứ ba, vơ vét tài nguyên, nguyên nhiên liệu, bóc lột sức người sức của của thuộc địa, làm cho thuộc địa suy yếu, không có khả năng chống lại sự thống trị của Pháp Là một nước thống trị, quan điểm của chính quyền thực dân Pháp là phải buộc thuộc địa lệ thuộc vào mình về kinh tế, chính trị Đặc biệt về kinh tế, Pháp luôn chủ trương phát triển kinh tế thuộc địa phải nằm trong khuôn khổ của kinh tế nước Pháp, nền kinh tế thuộc địa phải phục vụ cho kinh tế chính quốc Vì vậy mà thực dân Pháp
đã ra sức khai thác và bóc lột nước ta trên tất cả các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp… ra sức tăng cường các loại thuế má nhằm vắt đến cùng kiệt sức lực của nhân dân ta Cùng với chính sách bóc lột về kinh tế, thực dân Pháp còn tiến hành nô dịch về văn hóa để làm cho dân ta suy yếu và giảm đi khả năng đấu tranh của nhân dân ta
Thứ tư, sau khi ra khỏi cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, trên danh nghĩa là một nước thắng trận, nhưng thực tế Pháp lại bị thiệt hại nặng nề Kinh tế đất nước ngày càng suy yếu, cơ sở vật chất bị tàn phá nặng nề, nợ nước ngoài… Và hơn thế nữa
vị thế cường quốc của Pháp trên trường quốc tế ngày càng giảm sút Nhận thức được điều đó, để bù đắp những thiệt hại sau chiến tranh thế giới thứ nhất, phục hồi kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển, lấy lại vị thế của mình trên trường quốc tế, Pháp đã ra sức khai thác và bóc lột thuộc địa, thúc đẩy nhanh vốn đầu tư ở thuộc địa Đông Dương nói chung và Việt Nam nói Chỉ tính riêng trong 6 năm (1924-1929), tổng số vốn đầu tư của tư bản Pháp vào Đông Dương đã tăng gấp 6 lần so với 20 năm trước chiến tranh
Trang 151.2.1.2 Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp
Với các nguồn tài nguyên phong phú, cả trên rừng, dưới biển, trong lòng đất, sức lao động lại đông và rẻ, Việt Nam có đủ điều kiện cho thực dân Pháp đẩy mạnh việc khai thác, bóc lột kinh tế tại chỗ để kiếm lợi nhuận
Thực dân Pháp đã thấy rằng: “Không một xứ sở nào trên thế giới này… lại có
nhiều nguồn lợi như cái xứ Bắc Kì… Biết bao ngành kĩ nghệ cần được sáng lập… Biết bao chiến dịch xán lạn cần phải vạch ra… Xứ Bắc Kì giàu có… Từ đây, chính quốc tha hồ mà bòn rút đầy tay của cải đưa về nước Ngành xuất cảng của nước Pháp cũng thấy nơi đây là một nguồn tiêu thụ hàng hóa rất có lợi cho mình Vậy thì hãy tiến lên! Tiến lên!” [20; tr 112]
Từ những nhận định trên, ngày 22/3/1897, Toàn quyền Đông Dương Pôn Đume (Paul Doumer) gửi cho Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp dự án chương trình hoạt động Đume rất am hiểu tình hình Đông Dương vì đã từng là nghị sĩ giữ chức Thượng thư tài chính trong Chính phủ Pháp và là báo cáo viên những dự luật thanh toán tạm thời và tổng thanh toán tài chính Bắc và Trung Kì Chương trình khai thác do Đume vạch ra để thi hành ở Đông Dương (chủ yếu ở Việt Nam) từ những năm đầu thế kỉ XX
có mục đích tối thượng là biến gấp Đông Dương thành một thuộc địa bậc nhất, bảo đảm siêu lợi nhuận cao nhất cho đế quốc Pháp Qua nhiều cuộc thăm dò, giới cầm quyền thực dân đã quyết định chính sách khai thác thuộc địa Đông Dương với tinh
thần cơ bản là: “Thuộc địa Đông Dương phải được dành riêng cho thị trường Pháp
Nền sản xuất ở thuộc địa này chỉ được thu gọn cho việc cung cấp cho chính quốc nguyên liệu hay những vật phẩm gì mà nước Pháp không có Công nghiệp nếu cần được khuyến khích thì cũng chỉ trong giới hạn nhằm bổ sung cho công nghiệp chính quốc không làm hại đến nền công nghiệp chính quốc” [20; tr 112]
Với chính sách trên cho ta thấy rằng, thực dân Pháp không hề chú ý gì đến sự phát triển của nền kinh tế thuộc địa, mà mục đích cao nhất của công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp là bòn rút tất cả tài nguyên, của cải của thuộc địa để làm giàu cho
Pháp Như Đume đã tự đắc báo cáo về Pháp rằng: “Đông Dương ngày nay là một
thuộc địa lớn, hoàn toàn bình định và tổ chức, có một nền tài chính rực rỡ, một nền thương mại quan trọng, một nền công nghiệp phát triển nhanh chóng, số thực dân ngày một tăng và có những phương tiện hoạt động cao đẳng, một thiết bị kinh tế hùng
Trang 16hậu đang được xây dựng… Có thể nói rằng thuộc địa Đông Dương của chúng ta đã làm rạng rỡ văn minh nước Pháp” [20; tr 112]
1.2.2 Tổ chức bộ máy thống trị, bóc lột của thực dân Pháp qua hai cuộc khai thác thuộc địa
1.2.2.1 Tổ chức bộ máy thống trị
Để thuận tiện cho việc cai trị, khai thác và bóc lột thuộc địa Sau khi bình định xong nước ta và các nước Đông Dương, thực dân Pháp đã nhanh chóng thiết lập bộ máy cai trị trên toàn Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng Việc cai trị khối Đông Dương hoàn toàn trong tay tổ chức hành chính Theo sắc lệnh ngày 17/10/1887, thực dân Pháp thành lập Liên bang Đông Dương, năm đó mới bao gồm có Bắc Kì, Trung Kì, Nam Kì và Campuchia, trực thuộc Bộ Hải quân và Thuộc địa Ngày 19/4/1889, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh sáp nhập thêm Lào vào Liên bang Đông Dương Việt Nam bị chia cắt làm ba kì: Bắc Kì, Trung Kì và Nam Kì với ba chế độ cai trị khác nhau Bắc Kì và Trung Kì là hai xứ bảo hộ vẫn còn giữ lại chính quyền phong kiến về hình thức; Nam Kì là đất thuộc địa hoàn toàn do Pháp nắm cùng Lào và Campuchia cũng là đất bảo hộ của Pháp, hợp thành Liên bang Đông Dương Với thủ đoạn này, chúng nhằm xóa bỏ tên Việt Nam, Lào, Campuchia trên bản đồ thế giới
Ngày 13/2/1897, Pôn Đume được cử làm Toàn quyền Đông Dương Cơ quan cai trị cao nhất ở Đông Dương Cơ quan cai trị cao nhất ở Đông Dương là phủ Toàn quyền có Toàn quyền đứng đầu Toàn quyền là người đại diện trực tiếp của chính phủ Pháp ở Đông Dương
Năm 1907, chỉ riêng sở đoàn có 3.541 nhân viên Tỉ lệ nhân viên sở đoàn cho
5000 dân Số nhân viên người chính quốc ở Đông Dương chiếm tỉ lệ cao nhất so với thuộc địa các nước khác Việc cũng cố chính quyền Liên bang gắn chặt với việc cũng
cố chính quyền các xứ
Nam Kì là xứ thuộc địa, đứng đầu là Thống đốc người Pháp, chịu trách nhiệm trước Toàn quyền Đông Dương Thống đốc chỉ đạo từ cấp tỉnh trở xuống và có quyền lập nội quy, quyền hành pháp và tư pháp ở Nam Kì Phụ tá cho Thống đốc Nam Kì gồm nhiều tổ chức như sở Thương mại, sở Canh nông… Đứng đầu cấp tỉnh ở Nam Kì
là phủ, huyện, xã trên lãnh thổ Việt Nam đều do người Việt quản lý, với các chức tri
Trang 17phủ, tri huyện (có nơi goi là Đốc phủ sứ), tri châu (ở cấp phủ, huyện), chánh tổng (ở cấp Tổng) và lý trưởng, xã trưởng (ở cấp xã)
Bắc Kì là xứ nửa bảo hộ do Phủ Thống sứ, đứng đầu là viên Thống sứ quản lý Còn hệ thống quan lại người Việt do triều đình Huế điều hành Giúp việc cho viên Thống sứ và Phủ Thống sứ Bắc Kì là phòng Thương mại, phòng Canh nông, hội đồng bảo hộ Bắc Kì
Dưới “Kì” là cấp tỉnh do viên công sứ người Pháp đứng đầu Điều đáng chú ý ở Bắc Kì là bên cạnh hệ thống chính quyền dân sự (chủ yếu miền Trung và miền núi) còn tồn tại một hình thức cai trị song hành của quân đội gọi là đạo quan binh Nguyên nhân của việc lập các đạo quan binh đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của quân đội
Ở Trung Kì là xứ bảo hộ, sau khi thực dân Pháp thực hiện chế độ Toàn quyền ở Đông Dương, bộ máy cai trị mang tính chất song hành hay lưỡng thể tức có sự đồng thời hai hệ thống chính quyền của Pháp và của Nam Triều Tuy nhiên, trên thực tế, toàn bộ chính quyền triều Nguyễn đã bị thực dân Pháp chi phối Ở Trung ương (triều đình), trên cùng có vua, dưới là các tổ chức quan lại phụ tá như hội đồng phụ chính hay tứ trụ triều đình, viện cơ mật, các bộ, viện đô sát, phủ tôn nhân
Triều đình chỉ đạo các tỉnh trở xuống Đứng đầu tỉnh đó là Tổng đốc và hai phụ
tá là Bố Chánh và Án sát, đứng đầu tỉnh vừa và nhỏ là Tuần phủ hoặc Bố chánh phụ trách chung Bên cạnh đó, còn có từ một đến hai người phụ tá đặc trách về thuế khóa
và tư pháp Bên cạnh chính phủ Nam triều, thực dân Pháp đặt hệ thống cai trị riêng của mình Đứng đầu Trung Kì là viên Khâm sứ Giúp việc cho Khâm sứ và tòa Khâm
sứ là các cơ sở có chức năng phụ trách các ngành chuyên môn như thương mại, canh nông, giáo dục…
Song song với việc tăng cường và củng cố bộ máy hành chính, thực dân Pháp còn tăng cường bộ máy quân sự, cảnh sát, tòa án và nhà tù, nhanh chóng hoàn thành triệt để công cuộc bình định để “phòng thủ Đông Dương” mở rộng quyền lợi của nước Pháp ở vùng Viễn Đông, nhất là các nước lân cận với Đông Dương và phục vụ cho công cuộc khai thác, bóc lột
Ngày 7/1/1890, Hội đồng phòng thủ Đông Dương được thiết lập với quyền hạn: huy động quân đội, tổ chức các đội quan binh, tuyển mộ binh lính, phân bổ lực lượng Lực lượng quân đội thuộc địa đặt dưới quyền chỉ huy của viên tổng chỉ huy
Trang 18người Pháp Ngày 1/11/1904, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh bắt thanh niên từ 22-25 tuổi ở Bắc Trung Kì làm nghĩa vụ quân dịch
Cùng quân đội chính quy, Toàn quyền Đông Dương còn ra Nghị định thành lập lực lượng khố xanh để làm nhiệm vụ đàn áp các cuộc khởi nghĩa, canh giữ nhà tù và phục vụ các đạo quân lính, thành lập lực lượng cảnh sát đặc biệt Đi đôi với bộ máy quân sự, cảnh sát to lớn là hệ thống pháp luật khắc nghiệt với riêng cho từng xứ cùng
hệ thống tòa án nhà tù dày đặc ở Việt Nam
Với bộ máy cai trị chặt chẽ như vậy, thực dân Pháp đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hơn, phục vụ đắc lực cho công cuộc cai trị và khai thác thuộc địa của pháp hiệu quả hơn
1.2.2.2 Chính sách bóc lột của thực dân Pháp qua hai cuộc khai thác thuộc địa
Sau khi thiết lập và hoàn chỉnh bộ máy cai trị, thực dân Pháp nhanh chóng bắt tay thực hiện bóc lột thuộc địa Với mục đích cao nhất là làm giàu cho chính quốc, Pháp đã thực hiện nhiều chính sách để tiến hành bóc lột, bòn rút thuộc địa ở mức cao nhất
Để thực hiện khai thác và bóc lột thuộc địa, Đume trước hết đã thống nhất tài chính toàn Đông Dương, lập ra ngân sách chung cho 5 xứ Nguồn thu chủ yếu của ngân sách này do nguồn lợi của các loại thuế Mọi thứ thuế cũ thời phong kiến đều
tăng vọt, cộng thêm rất nhiều thuế mới được đặt ra “Trên chiếc lưng cao su của
người An Nam, nhà nước tha hồ kéo mức thuế co dãn”
Với ngân sách chung cho 5 xứ đó, trong tập 1 của tác phẩm Hồ Chí Minh toàn
tập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra cho ta thấy rằng: Tổng ngân sách toàn Đông
Dương do những người bản xứ đóng góp đã tăng lên như sau:
1913: 57.370.000 đồng
1915: 62.230.000
1917: 63.860.000
1920: 70.170.000 1921: 84.760.000 1922: 87.120.000 1923: 88.120.000 1924: 89.830.000
Trang 19Hơn nữa, người An Nam phải đóng đầy đủ cho những ngân quỹ địa phương nữa: 17.800.000 đồng cho ngân quỹ Nam Kì, 18.200.000 cho ngân quỹ Bắc Kì… Ngoài ra họ còn đóng góp cho những khoản chi tiêu của các cơ quan thuộc địa ở chính quốc Năm 1927, số tiền đống góp ấy là:
Chi tiêu quân sự : 130.000.000 đồng Hàng không quân sự : 700.000 Trường học thuộc địa : 225.000
Cơ quan kinh tế : 880.000 Viện nghiên cứu thuộc địa : 302.000
Cơ quan thanh tra thuộc địa: 240.000 Hội đồng tối cao thuộc địa : 20.000 [39; tr 358]
Qua những khoản đã nêu trên, ta thấy nhân dân Đông Dương nói chung, Việt Nam nói riêng đã phải “cắn răng” chịu đựng để đóng góp cho những khoản chi tiêu của chính quyền thực dân
Bên cạnh đó, chính quyền thực dân còn tìm cách bắt buộc nhân dân mua các loại công trái, quốc trái để lấy tiền xây dựng các công trình công cộng hoặc phục vụ nhu cầu quân sự Nhiều người không mua cũng bị “gán” cho Ngoài thuế khóa, mua công trái, thực dân Pháp còn thực hiện cho vay nặng lãi đã bóc lột cùng kiệt sức lực của nhân dân ta
Với chính sách bóc lột tàn bạo đó của thực dân Pháp, đã đẩy nhân dân ta lâm vào bước đường cùng, đời sống hết sức khó khăn, kinh tế ngày càng yếu ớt và què quặt
1.2.3 Đầu tư khai thác, vơ vét tài nguyên của thực dân Pháp qua hai cuộc khai thác thuộc địa
1.2.3.1 Đầu tư của thực dân Pháp qua hai cuộc khai thác thuộc địa
Đối với chủ nghĩa thực dân, việc chiếm thuộc địa để khai thác bóc lột về kinh
tế là mục tiêu hàng đầu Đông Dương là đất nước chưa được khai thác lại có rất nhiều điều kiện để phát triển kinh tế, nhưng lại là nơi thiếu vốn Ngay khi mới đặt chân đến, thực dân Pháp đã rất chú ý đến việc đầu tư vốn vào Đông Dương để khai thác Song
do nhiều điều kiện chính trị cũng như sự không ổn định về tiền tệ cho nên trước năm
1897 số lượng vốn đầu tư vào Đông Dương và Việt Nam chưa nhiều Sau năm 1897,
Trang 20khi công cuộc bình định bằng quân sự ở Việt Nam đã hoàn thành, thực dân Pháp bắt đầu tập trung vào khai thác Đông Dương Lúc này vốn đầu tư được đưa vào ngày càng gia tăng chủ yếu là ở Việt Nam
Tất cả những chính sách trong các lĩnh vực chính trị, văn hoá, xã hội… cũng chỉ nhằm mục đích phục vụ cho mục tiêu bóc lột về kinh tế Một trong những khía cạnh đầu tiên của công cuộc khai thác thuộc địa trong lĩnh vực kinh tế là chính sách đầu tư vốn Việc đầu tư tư bản này không phải vì mục đích phát triển kinh tế, cải thiện đời sống của nhân dân thuộc địa mà nhằm mục tiêu khai thác và bóc lột nhiều nhất, lâu dài nhất nền kinh tế thuộc địa Mặt khác, với đặc điểm là chủ nghĩa đế quốc cho vay nặng lãi thì chính sách đầu tư của thực dân Pháp càng được đẩy mạnh
Trong công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, tư bản nước ngoài đầu tư vào Việt Nam chủ yếu là của Pháp Việc đầu tư nhằm vào việc thiết kế cơ sở hạ tầng, từng bước mở mang đầu tư công thương nghiệp Từ năm 1896 đến năm 1914 có 514 triệu phơrăng vàng được đầu tư dưới hình thức tiền vốn của nhà nước, đó là theo số liệu của nhà kinh tế học Mĩ Callis Cũng theo nguồn tư liệu chính thức của Pháp thì đó
là 425 triệu Từ năm 1888 đến 1920 có 500 triệu phơrăng vàng Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, số vốn đầu tư của tư bản Pháp tập trung chủ yếu vào các ngành khai mỏ và giao thông vận tải
Bước cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, thực dân Pháp đã đầu tư ồ ạt vào các ngành kinh tế Việt Nam với một tốc độ nhanh hơn và quy mô rộng lớn hơn đợt khai thác lần thứ nhất Số vốn đầu tư tăng rất nhanh qua các năm và trong đợt này thì vốn đầu tư của tư bản tư nhân chiếm ưu thế hơn cả Riêng năm 1920, khối lượng vốn đầu tư vào Việt Nam của tư bản Pháp đã đạt đến con số 255 triệu phơrăng Nếu trong vòng 30 năm từ năm 1888 đến năm 1918 Pháp đã đầu tư vào Đông Dương (chủ yếu là Việt Nam) khoảng 1 tỉ phơrăng thì chỉ tính riêng trong 6 năm từ năm 1924 đến năm
1929 khối lượng đó đã lên tới 4000 triệu phơrăng
Về hướng đầu tư, trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai đã khác hơn so với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất Nếu trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, Pháp tập trung đầu tư chủ yếu vào ngành khai thác mỏ và giao thông vận tải, thì thời kì này tư bản Pháp lại đổ xô vào kinh doanh nông nghiệp song song với việc tiếp tục đẩy mạnh khai thác khoáng sản Chính sách tăng cường đầu tư trên đây của tư
Trang 21Pháp đã và đang làm biến đổi mạnh mẽ cơ cấu và trình độ phát triển của các ngành kinh tế Việt Nam sau chiến tranh
Để làm giàu cho chính quốc, thực dân Pháp đã ồ ạt đầu tư vào nước ta Nhưng trên thực tế, việc đầu tư của thực dân Pháp đã quy định và hạn chế sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, lái nền kinh tế nước ta đi theo hướng định sẵn của tư bản Pháp Tức là chỉ cho phép Việt Nam phát triển những ngành nghề có lợi và không cạnh tranh với chính quốc, hạn chế sự phát triển của các ngành công nghiệp nặng Chính vì vậy mà thực dân Pháp thống trị Việt Nam hơn 80 năm, nền kinh tế Việt nam vẫn không có điều kiện để có một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa trọn vẹn
1.2.3.2 Khai thác, vơ vét tài nguyên của thực dân Pháp qua hai cuộc khai thác thuộc dịa
Với mục đích khai thác thuộc địa để làm giàu cho chính quốc, thực dân Pháp
đã ra sức khai thác, vơ vét nguồn tài nguyên của Việt Nam để xuất khẩu, phục vụ cho nền kinh tế Pháp Qua hai cuộc khai thác thuộc địa, Pháp đã ra sức khai thác các mỏ khoáng sản, mở mang giao thông Đặc biệt trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, khi thấy được tiềm năng đất đai ở nước ta, đối với một đất nước nước làm nông nghiệp, có hơn 90% dân số là nông dân, có cuộc sống gắn liền với ruộng đất nên việc chiếm đoạt được nhiều ruộng đất sẽ mang lại nhiều cái lợi cho Pháp, chính vì lẻ đó mà Pháp không dễ gì bỏ qua nguồn tài nguyên quý giá này Và để thực hiện vơ vét các nguồn tài nguyên, thực dân Pháp đã tạo mọi điều kiện để thu hút mọi nguồn vốn tư, nhà đầu tư và đổ xô đầu tư vào các ngành này
Như ta thấy, trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, số vốn mà thực dân Pháp đầu tư như sau:
Đầu tư khai mỏ: 249 triệu Đầu tư vào giao thông: 128 triệu Đầu tư vào nông nghiệp: 40 triệu
Ngành khai thác mỏ được thực dân Pháp tập trung đầu tư vì nhanh chóng thu được lợi nhuận Trong đó, khai thác than nhanh chóng có vị trí quan trọng nhất Từ năm 1883, Công ty than Hồng Gai được lập ra, tư bản Pháp đã lấn lướt các tư bản Đức, Hoa Kiều, người Việt thu được lợi lớn: năm 1913 công ty này đã thu lãi 2,5 triệu phơrăng Ngoài ra tư bản Pháp còn chiếm mỏ Đông Triều, Phấn Mễ (Thái Nguyên),
Trang 22Nông Sơn (Quảng Nam) Ngoài than, từ năm 1904, tư bản Pháp cũng đã khai thác các
mỏ thiếc ở Tĩnh Túc (Cao Bằng), kẽm ở Bắc Kạn, vàng ở Cao Bằng, Tuyên Quang…
“Tổng sản lượng khai thác than tăng nhanh qua các năm, năm 1903 khai thác được
285.915 tấn, năm 1912 tăng lên 415.000 tấn và đến năm 1913 sản lượng khai thác đã lên đến 500.000 tấn [20; tr.118]”
Việc đầu tư vào giao thông và xây dựng đô thị cũng rất lớn Tính đến năm
1919, đường sắt xuyên Đông Dương đã xong một số loại quan trọng, đã hoàn tất 21 tuyến đường thuộc địa, trong đó có con đường xuyên Việt và đặc biệt là hệ thống cảng
và các cây cầu quan trọng
Ngoài khai mỏ và giao thông vận tải là hai ngành được Pháp chú ý đầu tư và khai thác, trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, thực dân Pháp cũng đã tiến hành khai thác trong ngành nông nghiệp, chủ trương cướp đoạt ruộng đất của nhân dân ta Tuy nhiên, trong đợt khai thác này, nông nghiệp vẫn chưa được Pháp chú ý đầu tư và khai thác nhiều Mãi đến cuộc khai thác lần hai, nông nghiệp mới được Pháp chú trọng Số vốn mà Pháp đầu tư vào nông nghiệp trong đợt này là 900,2 triệu phơrăng, tiếp theo là khai thác mỏ đầu tư với 546,4 triệu
So với các ngành kinh tế khác, nông nghiệp là ngành được thực dân Pháp chú trọng đầu tư khai thác nhiều hơn cả Năm 1924, số vốn bỏ vào nông nghiệp là 52 triệu phơrăng, đến năm 1927 lên tới 400 triệu phơrăng Với số vốn đó, thực dân Pháp đã ra sức cướp đoạt ruộng đất của nhân dân ta để lập đồn điền Tính đến năm 1930, tổng số ruộng bị thực dân Pháp chiếm đoạt lên đến 1,2 triệu ha Số ruộng đất này được khai thác và lập hàng trăm đồn điền, có đồn điền rộng tới vài nghìn ha Hầu hết các đồn điền đều được sử dụng để trồng lúa và các cây công nghiệp như chè, cao su, cà phê… Tại các đồn điền trồng lúa, các chủ người Pháp cũng như người Việt vẫn thực hiện phương thức canh tác, bóc lột theo kiểu phong kiến, nghĩa là vẫn giao ruộng đất về các gia đình nông dân sản xuất rồi thu tô Các biện pháp kỉ thuật trong các khâu làm đất, tưới nước, chăm bón, thu hoạch… hầu như không được áp dụng
Như vậy, chúng ta cũng đã thấy rõ rằng, thực dân Pháp ngoài miệng thì luôn hô hào khai hóa văn minh nhưng thực chất sau cái màn kịch ấy là một tham vọng to lớn, bòn rút, khai thác và vơ vét tài nguyên, của cải của thuộc địa, làm cho nền kinh tế
Trang 23thuộc địa ngày càng què quặt và “oằn lưng” dưới ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc, đời sống của nhân dân ta đặc biệt là nông dân ngày càng cơ cực
Tuy nhiên, cũng phải nói rằng, cái gì cũng có hai mặt của nó Việc khai thác, bóc lột thuộc địa của thực dân Pháp một phần đã kìm hãm sự phát triển của nền kinh
tế nước ta Nhưng mặt khác, để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa của mình, buộc Pháp phải chú ý đến việc xây dựng hệ thống đường sá, bến cảng, cầu cống và với việc xây dựng mạng lưới giao thông đó, Pháp đã giúp cho nước thuộc địa mở mang được hệ thống giao thông của mình Không chỉ thế, qua hai cuộc khai thác thuộc địa, nền kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa cũng đã nhen nhóm và dần dần xâm nhập vào nước ta, nước ta cũng tiếp thu được nhiều lối kinh doanh, sản xuất tiên bộ, cùng với đó là sự mọc lên của nhiều nhà máy, xí nghiệp sản xuất Chính vì vậy, qua hai cuộc khai thác này, một số giai cấp, tầng lớp, trước kia không có trong xã hội Việt Nam giờ đây đã xuất hiện như giai cấp công nhân, tầng lớp tư sản, tiểu tư sản
Trang 24hương 2: Tình hình ruộng đất Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của
thực dân Pháp 2.1 Tình hình ruộng đất Việt Nam qua các triều đại phong kiến
2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến ruộng đất
Ruộng: Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, ruộng là khoảng đất để trồng trọt,
mặt phẳng, xung quanh có bờ giữ Ruộng dùng để trồng lúa nước (ruộng lúa), trồng cây công nghiệp ngắn ngày (ruộng mía, ruộng đay…) [11; tr 968]
Ruộng đất công: Theo Từ điển thuật ngữ Lịch sử phổ thông ruộng đất công là
ruộng, đất ở làng xã thuộc quyền sở hữu tối cao của triều đình phong kiến trung ương, nông dân không được phép mua bán, chuyển nhượng, chỉ được sử dụng và nộp tô thuế
cho Nhà nước [22; tr 358]
Ruộng tư: Theo Từ điển thuật ngữ Lịch sử phổ thông ruộng tư là ruộng thuộc
sở hữu cá nhân, được quyền thừa kế, chuyển nhượng, mua bán [22; tr 361]
2.1.2 Vai trò, vị trí của ruộng đất trong kinh tế nông nghiệp nước ta
Các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp có mục đích chủ yếu là sản xuất nông sản phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, vì vậy đối với nền kinh tế nông nghiệp ở nước ta đất đai có vai trò hết sức quan trọng:
Thứ nhất, đất đai hoạt động với vai trò là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt, tham gia vào việc tạo ra các nông sản, trước hết là sản phẩm của các ngành trồng trọt
Thứ hai, đất đai là chỗ dựa, địa điểm cho các công trình phục vụ sản xuất nông nghiệp (các công trình giao thông, thủy lợi…) hoặc các hoạt động kế tiếp phục vụ quá trình sản xuất nông nghiệp như: các xưởng chế biến, kho bãi, cửa hàng… Trong trường hợp này vai trò của đất đai trong các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp cũng giống như các ngành khác trong nền kinh tế
2.1.3 Khái quát về ruộng đất Việt Nam qua các triều đại phong kiến
Các quan hệ về đất đai vào lúc nào cũng mang tính lịch sử - xã hội một cách sâu sắc Suốt thời gian lịch sử lâu dài xây dựng đất nước, từ đời Vua Hùng lấy tên nước là Văn Lang đặt kinh đô ở miền núi Phong Châu (Phú Thọ), đến thời An Dương Vương đổi tên nước là Âu Lạc, dời đô về miền đồng bằng Cổ Loa (Hà Nội) người Việt cổ vẫn không dời bỏ việc khai thác sản phẩm tự nhiên bằng săn bắt, hái lượm Tuy vậy, đã dần dần tập trung sức nhiều hơn vào việc làm ruộng, làm vườn, chăn nuôi
Trang 25và làm ra các sản phẩm thủ công mỹ nghệ đơn sơ Con người lúc đó đã có ý thức tư hữu về nơi ở, về vật dụng sinh hoạt, về công cụ lao động, đồ trang sức và nông phẩm thu hoạch Dân số thì ít ỏi và ruộng đất chưa phải là quý hiếm đối với mọi người, ý thức về chiếm hữu ruộng đất riêng tư chưa xuất hiện trong cộng đồng các bộ lạc
Trãi qua ngàn năm Bắc thuộc, trong thời kỳ có nhà nước phong kiến (thế kỉ X –
XI đời Tiền Lê, Lý), đất nước ta vượt đèo Ngang vươn dài thêm vào phía Nam, với dân số khoảng 3 triệu người Chế độ sở hữu ruộng đất ở nước ta dần dần được hình thành và được coi như bắt đầu thực hiện dần có quy củ theo pháp luật, cùng với thiết chế làng xã có hệ thống hoàn chỉnh Theo lịch sử, chính vua Lê Đại Hành (980-1005)
là vị vua đầu tiên tổ chức lễ Tịch điền, hô hào khai phá đất hoang, làm thủy lợi, đào kênh mương, mở mang giao thông, cổ súy thâm canh nông nghiệp, quý trọng đất đai
Dưới thời phong kiến, chế độ sở hữu ruộng đất theo ba hình thức sau đây: Chế
độ ruộng đất Nhà nước, chế độ ruộng đất công làng xã và chế độ ruộng đất tư Tùy theo luật pháp quy định và tùy theo quy ước của cộng đồng xác minh mà có những quy định khác nhau về ba hình thức sở hữu này và hoàn toàn không giống nhau qua các thời kỳ lịch sử
Chế độ ruộng đất Nhà nước: bao gồm phần ruộng đất do nhà nước trung ương
sở hữu và quản lý trực tiếp gồm các loại ruộng như ruộng sơn lăng, ruộng tịch điền, ruộng quốc khố, ruộng quan điền quan trại, ruộng đồn điền Ruộng sơn lăng thường chọn nơi ruộng đất công tốt giao cho dân địa phương cày cấy theo nghĩa vụ lao dịch Ruộng sơn lăng lấy từ ruộng công cả một phần ruộng tư, được nhà nước đền tiền và miễn thuế, khi thu hoạch được dùng vào việc thờ cúng nơi tôn miếu Nhà vua Ruộng quốc khố, quan điền, quan trại đó là những phần ruộng đất do Nhà nước quản lý và sở hữu, có định mức thuế, lấy quy hoạch trữ vào công khố nhà nước, sử dụng vào việc công Ruộng đồn điền thuộc sở hữu nhà nước nhưng quan hệ sử dụng khác nhau Triều đình cho lính và tuyển mộ dân khai khẩn đồn điền Dưới thời Nguyễn, phần thu hoạch được trong đồn điền được dùng để nuôi quân đội, giảm bớt một phần chi phí trong ngân sách nhà nước Nhìn chung, ruộng đất thuộc sở hữu của Nhà nước có nhiều loại từ nhiều nguồn sung công, nhưng chung quy là các vùng đất hoặc những nơi dành, tạo nên quốc khố tức ngân sách của Nhà nước và của Nhà vua, chỉ dùng vào việc công như ban thưởng, lễ hội, công trình xây dựng, quốc phòng an ninh, dân sinh,
Trang 26xã hội… Tuy nhiên, trong thực tế, quyền sở hữu đất đai của nhà nước phong kiến nói chung là lỏng lẻo, bởi hàng ngũ hoàng tộc, quần thần, quan lại, cường hào, địa chủ bao giờ cũng tham lam, lạm quyền, ra sức chiếm công vi tư, tìm mọi cách biến ruộng công của Nhà nước và ruộng công của làng xã thành ruộng đất thuộc sở hữu cá nhân, tộc họ
Chế độ ruộng đất công làng xã: chế độ ruộng đất này ở nước ta xuất hiện từ rất lâu, là cơ sở vật chất cho các quan hệ có tính cộng đồng các làng xã mà đậm nét lịch
sử nhất là đồng bằng Sông Hồng, nơi kiến tạo dày đặc của các làng xã với nghề trồng lúa nước có từ lâu đời nhất Tuy cũng thuộc sở hữu nhà nước nhưng do làng xã quản
lý và sử dụng Dưới thời Lý – Trần, nó mang tên “quan điền bản xã”, dưới thời Lê nó mang tên “xã dân công điền” Nhà nước giao phần lớn ruộng đất cho làng xã quản lý, phân bổ nộp thuế Nhà nước cấm cầm, bán ruộng đất công Cách quản lý và phân chia ruộng đất công rất đa dạng Ruộng đất của làng nào tự làng ấy quản lý và cày cấy (trừ trường hợp làng nào ít người nhiều ruộng thì được đem chia bớt cho dân làng khác cày cấy) Chia ruộng đất công là một việc làm rất phức tạp Số người được chia gồm nhiều loại khác nhau, số ruộng đem chia cũng thuộc nhiều đẳng hạng khác nhau Khi chia thường dành ưu tiên cho quan lại và binh lính, tuy Nhà nước có định ra nguyên tắc chung: “cứ ba năm một lần (nhà Lê sơ là 6 năm), tính tất cả số người trong xã là bao nhiêu, cứ theo ruộng đất ba hạng (nhất đẳng, nhị đẳng, tam đẳng) mà liệu đem phân cấp, cốt phải có chỗ tốt, chỗ xấu cùng san sẻ, không được lấy ngôi trên để chiếm ruộng đất” Trước khi đem chia, hầu như làng nào cũng dành một phần ruộng đất công
để chi tiêu vào việc công của làng xã, do đó đã hình thành loại ruộng như bút điền, nhạc điền, học điền, thần tự điền, phật tự điền, ruộng tuần, ruộng giáo thụ… Nhà nước chủ trương mở rộng diện tích công điền công thổ ở các làng xã làm cơ sở kinh tế cho chế độ phong kiến chuyên chế quan liêu Từ năm 1837, chế độ công điền công thổ được áp đặt vào Nam Kì
Chế độ ruộng tư: Trong lịch sử nước ta, có hai thời kì ruộng đất tư được phát triển tự do là trước thế kỉ 14 và trong thế kỉ 17 Trước thế kỉ 14, sự phát triển đó phù hợp với việc mở rộng thế lực của tầng lớp quý tộc phong kiến đang hình thành Còn trong thế kỉ 17, chiến tranh liên tiếp xảy ra giữa các phe phái làm cho chính quyền trung ương suy yếu đến mức không kiểm soát được sự phát triển của sở hữu tư nhân
Trang 27về ruộng đất Ngoài hai thời kì đó, sở hữu tư nhân về ruộng đất thường xuyên bị khống chế, kiểm soát Ruộng đất tư ở nước ta gồm nhiều loại, gồm sở hữu lớn của địa chủ, sở hữu vừa của địa chủ nhỏ và phú nông, sở hữu nhỏ của nông dân tự canh Lúc đầu sở hữu của địa chủ phát triển với xu thế mạnh gây nên sự bần cùng hóa hàng loạt của nông dân nghèo Cho đến thế kỉ 18, phần đông nông dân yêu cầu sở hữu nhỏ về ruộng đất Đến thế kỉ 19, ruộng đất tư ở nước ta gồm nhiều loại Trước hết loại “bản thân điền thổ” là loại ruộng tư của thôn xã từ nhiều hình thức chuyển nhượng mà hình thành, được toàn quyền mua bán, sử dụng Một loại ruộng tương tự như ruộng hậu, ruộng hương hỏa, ruộng giỗ… là ruộng tư nhân giao cho một hộ hay một hội sử dụng Ruộng tư còn có ruộng chùa hay còn gọi là ruộng “tam bảo” thuộc quyền sở hữu của nhà chùa Bộ phận chính của ruộng đất tư nói chung là ruộng tư điền trong tay các cá nhân chịu thuế theo lệ ruộng đất tư Đối với ruộng khai hoang, người có công khai hoang có thể được từ một nữa đến toàn bộ diện tích khai phá nhận làm ruộng đất tư hữu Từ đầu thế kỉ 19, dưới triều Nguyễn, chế độ sở hữu lớn của nhà vua giảm, trong khi đó chế độ sở hữu vừa và nhỏ của điền chủ tiếp tục được mở rộng Chế độ tự canh nhỏ của nông dân chỉ được khuyến khích trong trường hợp để bảo vệ quyền lợi của dòng họ, còn nói chung bị hạn chế về thiết chế pháp lý cũng như điều kiện thực tế Ở Nam Kì, xu hướng tập trung sở hữu tư nhân về ruộng đất mạnh hơn và sớm hơn
Như đã nêu trên thì ruộng đất ở nước ta qua các triều đại phong kiến đã có sự xác lập chế độ sở hữu rất rõ ràng và nhà nước trung ương đã dựa vào hoàn cảnh cụ thể của triều đại mình để đưa ra các chính sách cụ thể về ruộng đất nhằm bảo vệ quyền sở hữu ruộng đất của nhà nước cũng như của mọi tầng lớp nhân dân Nhưng từ sau khi Pháp xâm lược và bình định được nước ta, đặc biệt kể từ sau hai Hiệp ước Nhâm Tuất
1862 và Giáp Tuất 1874, khi Pháp đã đặt được sự thống trị của Pháp ở miền Nam biến miền Nam thành thuộc địa của Pháp thì việc làm đầu tiên của Pháp là chiếm đoạt ruộng đất của nhân dân Nam Kì, đưa ra nhiều chính sách ruộng đất như duy trì chế độ
sở hữu lớn, cướp ruộng đất lập đồn điền, tiến hành đo đạc ruộng đất… nhằm thu lại lợi nhuận và cũng cố quyền sở hữu của Pháp về ruộng đất Và những chính sách đó vẫn được thực dân Pháp duy trì qua hai cuộc khai thác thuộc địa
Trang 282.2 Ruộng đất Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp
2.2.1 Chế độ sở hữu ruộng đất ở nước ta qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp
Cũng như dưới thời kì phong kiến, chế độ sở hữu ruộng đất nước ta dưới thời Pháp thuộc, kể cả qua hai cuộc khai thác thuộc địa bao gồm hai hình thức sở hữu đó là ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước và ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân Tuy nhiên, với sự xuất hiện của người chủ mới là thực dân Pháp, chế độ sở hữu ruộng đất ở nước ta qua hai cuộc khai thác thuộc địa về cơ bản vẫn có một số khác biệt so với thời kì phong kiến
2.2.1.1 Ruộng đất sở hữu của nhà nước thực dân
Như chúng ta biết, dưới chế độ phong kiến, vua là người sở hữu tối cao về ruộng đất và về mọi tài sản khác của đất nước Song, sau khi thực dân Pháp chiếm được toàn bộ đất nước ta, nhất là từ khi chúng thiết lập được bộ máy cai trị trải dọc từ trung ương trở xuống thì quyền lực của nhà vua bị sụp đổ về mọi mặt Ngày 15/1/1903, Toàn quyền Đông Dương đã đơn phương ra một bản Nghị định mà tinh thần của nó là bác bỏ hoàn toàn quyền sở hữu tối cao của nhà vua đối với toàn bộ tài sản quốc gia, trong đó có ruộng đất Toàn bộ tài sản của quốc gia phong kiến đã bị thực dân Pháp phân loại và phân cấp cho từng cấp chính quyền nắm quyền sở hữu, quyền quản lý và quyền sử dụng Trong đó, ruộng đất là loại tài sản mà chính quyền thực dân Pháp dành sự quan tâm đặc biệt nhất Tuy nhiên, không như dưới thời phong kiến, bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước được chia làm hai loại đó là bộ phận ruộng đất do nhà nước trực tiếp quản lý và bộ phận ruộng đất công làng xã (là bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước nhưng giao cho làng xã quản lý, nhà nước chỉ quản
lý một cách gián tiếp) Mà trong hai cuộc khai thác thuộc địa của mình, toàn bộ ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước, chính quyền thực dân Pháp đã không trực tiếp quản lý mà giao cho chính quyền cấp xứ và cấp xã quản lý
Ruộng đất do cấp xứ quản lý
Theo điều 31 của bản nghị định ngày 15/1/1903 đã xếp hai loại sau đây vào phần tài sản thuộc quyền sở hữu của cấp Xứ: đất hoang và đất vô chủ; bãi sa bồi vùng ven biển, các đảo lớn nhỏ, các dãi đất nổi giữa lòng sông lớn, sông nhỏ mà thuyền bè
có thể qua lại được Việc quản lý phần tài sản thuộc quyền sở hữu của chính quyền
Trang 29cấp Xứ được đặt vào tay những tên thực dân đứng đầu các xứ: Thống sứ Bắc Kì, Khâm sứ Trung Kì và Thống đốc Nam Kì Dưới quyền các tên thực dân đứng đầu các
xứ này là mạng lưới các viên quan cai trị chủ tỉnh ở Nam Kì và các viên công sứ ở Bắc Kì và Trung Kì Từ đây ruộng đất nông nghiệp được chúng khoác cho tên gọi là
“đất hoang và đất vô chủ” trên phạm vi toàn quốc đã bị chúng đem cấp không hoặc bán đấu giá cho bọn thực dân lập đồn điền Diện tích ruộng đất có thể xin cấp không
của địa chủ ngày một tăng: “từ 50 hécta (ha) trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ
nhất (năm 1913-1914) tăng lên thành 300 ha trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai (năm 1918)” [37; tr 38] Đơn vị diện tích để bán đấu giá đã có thể lên tới trên
4.000 ha (năm 1929) Với việc giao quyền quản lý bộ phận ruộng đất này cho chính quyền cấp xứ, những tên đứng đầu chính quyền cấp xứ đã ngang nhiên biến một số bộ phận ruộng đất của người nông dân thành đất hoang và đất vô chủ Không chỉ thế, để nhằm thu hút đầu tư của bọn tư bản Pháp vào Việt Nam, chính quyền thực dân đã chỉ thị cho chính quyền cấp xứ tạo mọi điều kiện cho tư bản Pháp có thể có nhiều ruộng đất thông qua việc ban hành các Nghị định cấp không ruộng đất hoặc phải trả tiền nhưng số tiền đó rất nhỏ, không đáng bao nhiêu
Ruộng đất do cấp xã quản lý
Bộ phận ruộng đất mà chính quyền thực dân giao cho cấp xã quản lý được chia làm hai loại đó là bộ phận ruộng công điền công thổ và ruộng bản xã công điền công thổ (hay bổn thôn điền, bổn thôn thổ)
Bộ phận ruộng công điền công thổ là bộ phận ruộng đất công làng xã, bộ phận ruộng đất này vẫn được duy trì qua hai cuộc khai thác thuộc địa của Pháp và xuyên suốt cả thời kì Pháp thống trị ở nước ta Ruộng đất công làng xã nằm trong bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu của nhà nước thực dân và được giao cho cấp xã quản lý
Dưới thời phong kiến, việc khai hoang với sự hỗ trợ về nhân lực của chính quyền đã tạo điều kiện cho diện tích công điền công thổ hình thành và phát triển Toàn
bộ loại hình ruộng đất công này đều thuộc quyền sở hữu tuyệt đối của nhà vua: nhà vua có quyền ra lệnh cho trích công điền công thổ của bất kỳ làng xã nào để cấp làm Lộc điền hoặc Tự điền cho các công thần, có quyền ra lệnh cho bán ruộng đất công Nhưng từ khi Pháp thống trị nước ta, quyền sở hữu tuyệt đối đó đã bị chuyển sang tay chính quyền thực dân Pháp
Trang 30Sang thế kỉ XX, khi bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa, cùng với việc duy trì chế độ sở hữu nhỏ ở Bắc Kì và Trung Kì chính quyền thực dân Pháp vẫn bảo lưu loại hình ruộng đất công làng xã, đôi khi còn tạo điều kiện cho bộ phận ruộng đất này phát triển, ruộng đất công làng xã vẫn đem chia cho nông dân cày cấy theo định
kỳ Việc phân chia ruộng đất công điền thời kỳ này càng có nhiều bất công, nông dân
là những người chịu nhiều thiệt thòi hơn cả Trong cuốn sách nổi tiếng “Vấn đề dân
cày”, Qua Ninh và Vân Đình đã nhận xét: “công điền, công thổ bị bọn kỳ hào lũng đoạn và chiếm đoạt, hoặc có chia nhưng phần nhiều chia một cách bất công” Ngay
một học giả Pháp P.Guru cũng viết: “Việc phân chia ruộng công dĩ nhiên đã đưa lại
cho các nhà chức trách trong làng một dịp để thi hành sự độc đoán của họ Ai nắm quyền hành thì gia đình, bạn bè người đó nhận được phần tốt nhất Có nhà nuôi thêm con nuôi để nhận thêm phần ruộng Có làng chia suất ruộng công qua số dân đinh,
những đất thừa ra rơi vào tay hương lý” [37; tr 16]
Bên cạnh đó, trong thời kỳ diễn ra hai cuộc khai thác thuộc địa của Pháp, diện tích ruộng đất công làng xã ngày càng bị giảm sút, còn lại rất ít, trong khi đó dân số lại đông nên phần lớn người nông dân chỉ có diện tích công điền rất nhỏ, cày cấy vẫn không đủ sống mà phải làm thuê hoặc lĩnh canh ruộng đất của địa chủ để kiếm thêm nguồn thu nhập, đó là chưa kể việc cướp đoạt ruộng đất ngày càng trắng trợn của bọn địa chủ Tuy bộ phận ruộng đất công làng xã thời kỳ này không còn nhiều, nhưng chính quyền thực dân Pháp vẫn chủ trương duy trì nhằm trói buộc người nông dân vào làng xã, nông thôn và trở thành đối tượng bóc lột của địa chủ
Cũng như dưới các triều đại phong kiến, dưới sự thống trị của mình, chính quyền thực dân Pháp cũng đã dựa vào những quy định trong bộ luật Gia Long ban hành vào đầu thế kỉ XIX để ra các Nghị định về việc cấm bán ruộng đất công làng xã Các Nghị định được ban hành cũng có sự khác nhau giữa làng xã Nam Kì và làng xã ở Bắc và Trung Kì
Đối với các làng xã ở Nam Kì, bản Nghị định ngày 27/8/1904 của Toàn quyền Đông Dương quy định:
Điều 14: Cấm Hội đồng Kỳ mục không được cho thuê trên ba năm tất cả các loại tài sản của xã Điều cấm này cũng áp dụng cả đối với công điền, công thổ và đối với loại tài sản mà trước kia được ghi dưới tên gọi là bổn thôn điền và bổn thôn thổ
Trang 31Điều 15: Các văn tự cho thuê được lập theo đúng thể thức của điều khoản trên chỉ có giá trị sau khi được quan cai trị chủ tỉnh phê duyệt
Điều 16: Bất kỳ một sự di nhượng nào về tài sản ruộng đất mọi loại của làng
xã, dù là dưới hình thức được chuộc lại, chỉ có thể được tiến hành sau khi đã được phép của quan Thống đốc dựa trên báo cáo của quan cai trị chủ tỉnh trong đó nêu rõ lý
do của việc di nhượng Văn bản di nhượng theo cách thỏa thuận của đôi bên hay theo cách bán đấu giá chỉ trở thành chính thức sau khi đã được quan Thống đốc phê duyệt
Năm 1916, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định ngày 31/10 để sửa lại hai điều khoản 14 và 15 của Nghị định năm 1904 kể trên như sau:
Điều 14: Đối với tất cả các loại tài sản của làng xã và nhất là công điền, công thổ và tài sản mà trước đây được ghi dưới tên gọi là bổn thôn điền và bổn thôn thổ thì Hội đồng Kỳ mục đều được phép cho thuê trong thời hạn 3 năm hoặc 6 năm hoặc 9 năm
Điều 15: Các văn tự cho thuê được lập theo đúng thể thức của điều khoản trên chỉ có giá trị… sau khi đã được quan cai trị chủ tỉnh phê duyệt Song, với thời hạn cho thuê là trên 3 năm, văn tự cho thuê phải được phép của quan Thống đốc sau khi đã thông qua Hội đồng tư mật Nam Kì
Còn đối với các làng xã Bắc Kì, Toàn quyền Đông Dương cũng đã ra Nghị định ngày 8/3/1906 trong đó đề cập đến việc quản lý tài sản ruộng đất công của làng xã:
Điều 1: Cấm Kỳ mục làng xã Bắc Kì không được vay mượn, bán hoặc cho thuê tài sản của làng xã để lấy tiền chi dùng vào việc làng… nếu không được phép của quan Công sứ và khi số tiền vượt quá 500 thì phải được phép của quan Thống sứ…
Điều 2: Những điều cấm có liên quan đến việc bán, cho thuê tài sản công như công điền và công thổ, đã được nêu trong luật bản xứ, đặc biệt là trong đạo dụ của Gia Long năm thứ 2… đều được giữ nguyên Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt, quan Thống sứ có thể cho phép bán các tài sản đó…
Qua các Nghị định mà thực dân Pháp ban hành có liên quan đến việc bán và cho thuê ruộng đất công làng xã đối với Bắc Kì, Trung Kì và Nam Kì Việc làm này của thực dân Pháp ít nhất cũng đã hạn chế một phần nào nạn bao chiếm ruộng đất công làng xã Qua các Nghị định cũng cho ta thấy rằng, việc quản lý ruộng đất công
Trang 32làng xã như đã trình bày ở trên chính quyền thực dân đã giao hết cho cấp xã quản lý
và trên nữa là các quan chức đứng đầu các xứ Với các Nghị định này, chính quyền thực dân cũng đã có những quyết định cụ thể về việc cho thuê ruộng đất công làng xã Thế nhưng trên thực tế, mặc dù chính quyền thực dân Pháp hay triều đình phong kiến
đã ra các Nghị định cấm bán, cho thuê loại hình ruộng đất công làng xã Song, trong thực tế, những đạo dụ, những nghị định của cả phong kiến lẫn thực dân cũng không thể nào ngăn cản được việc “chiếm công vi tư” ruộng đất công của làng xã cả từ phía bên bán lẫn bên mua, khiến cho loại hình công điền công thổ quân cấp này có chiều
hướng ngày càng giảm sút “Theo thống kê của Yvơ Hăngri, năm 1930 ruộng công ở
các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc Kì là 233.745 ha, bằng 20% diện tích, ở các tỉnh Trung Kì (chưa kể Tây Nguyên) là 194.448 ha, bằng 25% diện tích, ở Nam Kì là 60.862 ha, bằng 3% diện tích” [39; tr 16]
Qua đây cho ta thấy rằng, bộ phận ruộng đất công làng xã dưới thời Pháp thống trị, kể cả qua hai cuộc khai thác thuộc địa đã bị xâm phạm nghiêm trọng Nhà nước thực dân ngày càng can thiệp sâu vào bộ phận ruộng đất này, số lượng ruộng đất công đem chia cho dân đinh còn rất ít và nhiều bất công Đặc biệt, trong thời kì này, nhà nước thực dân còn đưa ra những Nghị định cho thuê ruộng đất công với thời hạn cho thuê ngày càng được kéo dài hơn Với những việc làm đó, bộ phận ruộng đất công làng xã dần dần bị bao chiếm bởi một số bộ phận tay sai phong kiến như bọn kỳ hào, hương lý và bộ phận ruộng đất này nằm trong sự quản lý chặt chẽ của nhà nước thực dân, làng xã không có bất kì quyền lực gì
Bộ phận ruộng đất thứ hai do cấp xã quản lý nữa đó là bộ phận ruộng đất thuộc
sở hữu riêng của làng xã (hay còn gọi là bản xã công điền công thổ) Bản xã công điền công thổ đúng như tên gọi của nó là tài sản riêng của tập thể làng xã Cũng như trước kia, bộ phận ruộng đất này được hình thành chủ yếu từ hai nguồn: do các cá nhân hiến, biếu cho làng xã; do tập thể làng xã trích tiền công quỹ ra mua Theo nguyên tắc,
đã là vật sở hữu riêng của làng xã sở hữu do được tặng hay sở hữu do mua mà có thì tập thể làng xã cũng có quyền bán, quyền nhượng lại và quyền sử dụng tùy theo ý mình Dưới các triều đại phong kiến, bộ phận ruộng đất này không nằm trong sự quản
lý của nhà nước mà là tài sản riêng của làng xã, làng xã có quyền cho thuê hay bán tùy làng xã quyết định, nhà nước không can thiệp vào Nhưng dưới thời kỳ thực dân Pháp
Trang 33thực hiện khai thác thuộc địa, chính quyền thực dân Pháp đã từng bước can thiệp vào loại hình bản xã công điền công thổ, thông qua chính sách “cải lương hương chính” của chúng trên bình diện toàn đất nước ta Vì vậy mà dưới thời thuộc địa, số tài sản này của làng xã do Hội đồng Kỳ mục quản lý
Theo chính sách cải lương hương chính thì Hội đồng Kỳ mục chỉ có quyền quản lý trực tiếp cấp xã về mọi mặt, dưới sự chỉ đạo, giám sát và kiểm sát chặt chẽ của chính quyền cấp tỉnh mà kẻ đại diện tối cao ở cấp này là các tên công sứ ở Bắc Kì và Trung Kì, các tên quan cai trị chủ tỉnh ở Nam Kì
Trong khối tài sản làng xã, chính quyền thực dân Pháp đã gộp hai loại hình công điền công thổ (quân cấp) và bản xã công điền công thổ vào một danh mục gọi chung là “Tài sản các loại” của làng xã và chỉ giao cho Hội đồng Kỳ mục có quyền quản lý số tài sản này mà thôi Còn quyền cho thuê, cho lãnh canh hoặc bán (dù là dưới hình thức nào: bán đứt, bán đợ hay bán đấu giá) tài sản ruộng đất của làng xã kể
cả công điền công thổ quân cấp và bản xã công điền công thổ đều do chính quyền thực dân cấp tỉnh hoặc cấp xứ (dựa theo báo cáo của cấp tỉnh) quyết định tùy từng trường hợp cụ thể Một khi được phép cho thuê, cho lãnh canh hoặc cho bán dưới mọi hình thức số ruộng đất công của làng xã (kể cả công điền công thổ quân cấp và bản xã công điền công thổ) làng xã cũng không được quyền tự động chi tiêu theo ý muốn Mọi khoản thu, chi của làng xã phải do Hội đồng Kỳ mục xã lập thành chương, mục hẳn hoi, trước khi trình lên chính quyền cấp tỉnh phê duyệt Có một số quy định sau về việc cho thuê, bán loại hình ruộng đất này:
Các khoản thu về việc cho thầu ao, hồ và cho thuê ruộng đất của làng xã, chủ yếu là loại hình bản xã công điền công thổ, loại bút điền, lương điền, hậu điền và cũng
có thể là số công điền công thổ để quân cấp quá ít, không đủ để chia cho dân đinh để góp vào việc chi các khoản thường xuyên phải chi của làng xã, trong đó có các khoản chi ngày tết, ngày lễ, ngày hội hè, đình đám Trong bản chỉ thị, Thống sứ Bắc Kì đã có nhận xét là phần chi về các hội hè, đình đám là phần chi quan trọng nhất của làng xã
Các khoản thu về việc bán tài sản riêng của làng xã nằm trong mục “thu đặc biệt” Chỉ được phép tiến hành các khoản “thu đặc biệt” một khi các khoản thu thường xuyên không đủ chi Trong trường hợp này, phải được phép của công sứ hay Thống
Trang 34sứ Các khoản “thu đặc biệt” chỉ có thể được dùng để chi cho các khoản “chi đặc biệt”
Qua các Nghị định trên cho ta thấy, quyền sở hữu với ý nghĩa đầy đủ của nó của tập thể làng xã đối với loại hình bản xã công điền công thổ đã bị xâm phạm trầm trọng, nếu không nói là đã bị thủ tiêu mọi việc mua bán, thậm chí là cho thuê loại hình ruộng đất sở hữu riêng của làng xã đều phải được chính quyền thực dân cho phép Dưới tác động của chính quyền thực dân, khái niệm bản xã công điền công thổ đã mất
đi cái nội dung vốn có của nó Làng xã chỉ còn quyền sở hữu trên danh nghĩa đối với loại hình ruộng đất này, cho dù loại hình ruộng đất này có được mở rộng do mua hoặc được hiến, biếu
2.2.1.2 Ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân
Để phục vụ cho công cuộc khai thác và bóc lột thuộc địa, thực dân Pháp đã tạo mọi điều kiện cho cha đạo, nhà thờ, địa chủ tư bản Pháp và địa chủ bản xứ chiếm đoạt ruộng đất trong cả nước Vì vậy mà ruộng đất tập trung trong tay giai cấp địa chủ và
nhà thờ rất lớn “… Bên cạnh cái thế lực phần đời ấy còn có những đấng cứu thế phần
hồn nữa, các đấng này trong khi truyền bá đức nghèo cho người An Nam, cũng không quên tìm cách làm giàu bằng mồ hôi và máu của người bản xứ Ở Nam Kì, chỉ riêng Hội thành truyền giáo cũng đã chiếm 1/5 ruộng đất trong vùng Mặc dù trong kinh thánh không có dạy, song thủ đoạn chiếm đoạt đất đai này cũng thật rất giãn đơn: đó
là thủ đoạn hối lộ và cho vay nặng lãi… Người nông dân An Nam bị hành hình vừa bằng lưỡi lê của nền văn minh tư bản chủ nghĩa vừa bằng cây thánh giá của Hội Thánh dĩ bợm” [39; 229], trong khi đó thì ruộng đất thuộc sở hữu của nông dân thì hết
sức lẻ tẻ, manh mún Với những chính sách ruộng đất đó, thực dân Pháp đã tạo điều kiện cho bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân phát triển và chiếm ưu thế trong cả nước Dưới thời thuộc địa thì ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân phải kể đến đó là ruộng đất sở hữu lớn của địa chủ, ruộng đất thuộc sở hữu của nhà thờ, ruộng đất thuộc sở hữu nhỏ của nông dân Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn tài liệu nên sau đây tôi chỉ xin trình bày hai loại hình sở hữu chính của bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân đó là
sở hữu lớn của địa chủ và sở hữu nhỏ của nông dân