1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tín ngưỡng thờ thần thánh của người việt ở quảng nam

78 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quảng Nam từ lâu được xem là vùng đất địa linh nhân kiệt ,mang đậm nhiều yếu tố văn hóa tâm linh với nhiều tín ngưỡng thờ cúng có từ xa xưa .Tín ngưỡng thờ cúng thần thánh nơi đây cúng đ

Trang 2

MỞ ẦU

1 Lý do họn đề tài

Việt Nam tự hào là một đất nước có bề dày nghìn năm văn hiến đậm đà bản sắc phương Đông với những phong tục tín ngưỡng thú vị trong đó có tín ngưỡng thờ cúng Nhắc đến tín ngưỡng là nói đến quá trình thiêng liêng hoá một nhân vật một lực lượng siêu nhiên nào đó và được gửi gắm vào trong đó một niềm tin tưởng của con người Quá trình ấy có thể là quá trình huyền thoại hoá, lịch sử hoá nhân vật phụng thờ Mặt khác, giữa các tín ngưỡng đều có những nét văn hoá đan xen và trong từng tín ngưỡng đều có nhiều lớp văn hoá lắng đọng

Một trong những loại tín ngưỡng thường thấy ở người Việt là “Tín ngưỡng thờ cúng thần thánh” Đây là một loại hình tín ngưỡng có từ lâu đời, đã và đang ảnh hưởng không nhỏ trong tâm thức người Việt và đặc biệt là trong công cuộc xây dựng

và phát huy những nét văn hoá truyền thống Hoạt động tín ngưỡng thờ cúng Thần thánh khá phổ biến đối với mỗi người dân Việt Nam nói chung và người Quảng Nam nói riêng

Quảng Nam từ lâu được xem là vùng đất địa linh nhân kiệt ,mang đậm nhiều yếu tố văn hóa tâm linh với nhiều tín ngưỡng thờ cúng có từ xa xưa Tín ngưỡng thờ cúng thần thánh nơi đây cúng đã cũng đã trở thành một bản sắc ,một đặc trưng văn hóa của người dân Việt ở nơi đây Trong tiến trình phát triển liên tục của lịch sử, nền văn hóa nơi đây có sự giao thoa, tiếp biến sâu sắc giữa Việt - Chăm đã tạo cho nơi đây có những nét văn hóa độc đáo, vừa có sự kế thừa truyền thống văn hóa người Việt, vừa không ngần ngại dung nạp, biến đổi các yếu tố văn hóa bản địa Tín ngưỡng thờ cúng thần thánh của người Việt ở Quảng Nam cũng vậy

Trước sự phát triển và đô thị hóa của xã hội, những hoạt động tín ngưỡng hơn bao giờ hết cần được bảo tồn và gìn giữ đặc biệt là tín ngưỡng thờ cúng thần thánh Với mong muốn đem lại sự hiểu biết đầy đủ, cụ thế và khoa học hơn về tín ngưỡng độc đáo này để duy trì, phát huy những giá trị vốn có của nó Ngoài ra, nghiên cứu tín ngưỡng độc đáo này còn phục vụ cho nhu cầu tìm hiểu, học tập trong thời gian học tại

trường Đó là lí do tôi chọn đề tài “Tín ngưỡng thờ thần thánh người i t ở

Quảng N m”làm khóa luận tốt nghiệp

Trang 3

2 Lị h sử nghiên ứu vấn đề

Thờ cúng thần thánh là một tín ngưỡng có từ lâu đời và in đậm trong tâm thức của mỗi người Việt Đó là một tín ngưỡng mang đâm bản sắc và đặc thù trong đời sống cá nhân và sinh hoạt cộng đồng từ xa xưa đến nay

Với sự sùng bái của người Việt từ thời tiền sử vào những hiện tượng tự nhiên ,con vật đến con người thì tín ngưỡng thờ cúng thần thánh cũng dần xuất hiện từ đó Tín ngưỡng thờ cúng thần thánh có vai trò rất quan trọng trong đời sống tâm linh của người việt.Đó là việc thờ cúng các vị thần thánh trong gia đình như thần tài ,thổ công cho đến thờ tự những người có công, có tài năng với địa phương và đất nước như các vị thành hoàng hay Thánh Gióng ,Tứ bất tử

Nghi lễ thờ thần thánh trở thành một hoạt động, một sinh hoạt văn hóa không thể thiếu của người Việt, nó thể hiện niềm tin giúp con người thêm ý chí nghị lực vượt qua mọi gian khổ, hạn chế điều ác mà thực hành điều thiện

Đã có nhiều cuốn sách,tác phẩm của các học giả, nhà nghiên cứu đề cập đến

về tín ngưỡng độc đáo này.Tác giả Toan Ánh trong “ Phong tục thờ cúng trong gia

đình và làng xã Việt Nam” đã trình bày những vị thần được cúng cũng như nghi thức

thờ cúng trong gia đình và làng xã Việt nhưng chủ yếu mang màu sắc Bắc bộ chứ chưa nêu những nét khác biệt, đặc trưng của mỗi vùng miền

Mai Thanh Hải trong „„Tìm hiểu tín ngưỡng truyền thống Việt Nam‟‟cũng đã

nói đến một số tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng truyền thống của người Việt song vẫn mang tính khái quát chung chứ chưa đi vào tìm hiểu sâu tín ngưỡng của mỗi vùng miền cũng như những đặc điểm, vai trò cụ thể của tín ngưỡng thờ thần thánh

Hầu hết các tác phẩm viết về tín ngưỡng thờ thần thánh của Việt Nam của tác giả Toan Ánh ,Bùi Xuân Mỹ, Mai Thanh Hải Chỉ trình bày một số thần thánh phổ biến ở Bắc bộ nhưng chỉ mang tính sơ lược

Cuốn sách „„Thần ,người và đất Việt’’của Tạ Chí Đại Trường”(in lần đầu năm

1990, tái bản 2006) là một công trình nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian cũng như diện mạo xưa của các vị thần linh, thành Hoàng được tôn vinh từ xưa đến nay ở Việt Nam…

Trang 4

“Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam”(Ngô Đức Thịnh chủ biên,

2001) cho thấy mối quan hệ giữa tín ngưỡng dân gian và văn hóa dân gian,tác phẩm củng đã đề cập đến việc thờ cúng thần thánh và một số tín ngưỡng khác trong tín ngưỡng của người Việt

Tại Quảng Nam - Đà Nẵng, có một số nhà nghiên cứu đã có những tác phẩm,

bài viết trên tạp chí nói về tín ngưỡng thờ cúng thần thánh như “Tín ngưỡng thờ

thần” của Nguyễn Xuân Hương in trong Tạp chí văn hóa – Du lịch Đà Nẵng dã đề

cập đến một số vị thần được thờ cúng ở xứ Quảng, trong cuốn “Tập tục lễ hội đất

Quảng” của Hội văn nghệ dân gian thành phố Đà Nẵng hay cuốn “Tập tục xứ Quảng theo một vòng đời” của Võ Văn Hòe cũng đã trình bày vài nét về thờ cúng thần thánh

nhưng mang tính chung chung chưa cụ thể, rõ ràng và thuyết phục, chưa mang tính chất khoa học, hệ thống.Trên cơ sở những tài liệu đã có, tôi đã tổng hợp và mô tả khái quát về tín ngưỡng thờ cúng thần thánh của người Việt ở Quảng Nam

3 Mụ đí h nghiên ứu

Nghiên cứu đề tài “Tín ngưỡng thờ cúng thần thánh của người Việt ở Quảng

Nam” nhằm xây dựng bức tranh tổng thể về tín ngưỡng thờ cúng thần thánh truyền

thống của người dân Quảng Nam, từ quan niệm đến cơ sở, điều kiện hình thành tín

ngưỡng thờ thần thánh thờ tự, các vị thần thánh được thờ cúng và nghi lễ thờ cúng…

Tìm hiểu những đặc điểm,vai trò và tác động trong tín ngưỡng thờ cúng thần thánh của người dân Quảng Nam từ đó thấy được những điểm tích cực, hạn chế của

tín ngưỡng đặc sắc này

4 ối tượng và phạm vi nghiên ứu

4.1 Đối tượng nghiên ứu

Đối tượng chính mà đề tài hướng đến là tín ngưỡng thờ cúng thần thánh của người Việt trên địa bàn Quảng Nam Mặc dù nguồn tư liệu tương đối hạn chế, nhưng trong phạm vi đề tài này tôi đã cố gắng tìm hiểu và trình bày một cách toàn diện, hệ thống về tín ngưỡng thờ cúng thần thánh bao gồm: quan niệm ,điều kiện hình thành ,một số thần thánh được thờ cúng ở gia đình và tại nơi sinh hoạt cộng đồng, đặc điểm, vai trò và tác động của việc thờ cúng thần thánh của người Quảng Nam cũng như những điểm hạn chế, tích cực của tín ngưỡng thờ cúng thần thánh ở địa phương này

4.2 Phạm vi nghiên ứu

Trang 5

- Tư liệu thành văn: Đây là nguồn tư liệu quan trọng, cung cấp hệ thống kiến

thức cơ bản làm cơ sở nền tảng lý thuyết cho đề tài

+ Tài liệu cung cấp tổng quát về vùng đất, con người và đời sống văn hóa cư

dân Quảng Nam yếu tố tác động đến tín ngưỡng thờ thần thánh: Quảng Nam xưa và

nay (NXB Đà Nẵng), Quảng Nam Đà Nẵng (NXB Văn Hóa),Địa chí Quảng Nam Đà Nẵng (NXB Khoa Học Xã Hội Hà Nội)

+ Tín ngưỡng thờ cúng thần thánh của người Việt ở Quảng Nam trong một số

sách như :Tập tục lễ hội đất Quảng (NXB Đà Nẵng) ; Nghi lễ thờ cúng tổ tiên, đền

chùa, miếu phủ của Trương Thìn (NXB Hà Nội) hayPhong tục thờ cúng trong gia đình ,nơi công cộng Việt Nam(NXB Thanh niên)…

Ngoài ra, các luận văn tốt nghiệp, các công trình nghiên cứu khoa học của khóa trước, các bài viết trên các website tạo nền tảng, định hướng cho việc hình thành

cấu trúc đề tài, phương pháp trình bày đề tài

- Tài liệu thực địa: Là nguồn tư liệu sẽ thu thập được trong các chuyến đi thực

tế ở địa phương

5.2 Phương pháp nghiên ứu

Trong bài nghiên cứu chúng tôi sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau:

- Phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tích tư liệu

+ Thứ nhất: Tìm kiếm, sưu tầm, tập hợp tư liệu cần thiết, phù hợp với nội dung nghiên cứu của đề tài.Tôi đã sử dụng các nguồn tư liệu đang được lưu trữ tại các thư

Trang 6

viện ở Đà Nẵng… Ngoài ra, tôi còn tìm kiếm tư liệu thông qua bạn bè, thầy cô, giáo viên hướng dẫn…

+Thứ hai: Sau khi thu thập đầy đủ tư liệu, tôi tiến hành phân tích, thống kê các nguồn tư liệu để rút ra những kết luận cần thiết liên quan đến nội dung của đề tài nghiên cứu

- Phương pháp so sánh đối chiếu

Để rút ra được những đặc điểm nổi bật của tín ngưỡng thờ cúng thần thánh ở Quảng Nam, tôi đã sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu về các thần thánh được

thờ tự, truyền thuyết, cơ sở thờ tự và vấn đề liên quan giữa các vùng miền

- Phương pháp thực địa

Bên cạnh việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu thực địa, khảo sát thực tế ở các địa phương cụ thể ở Quảng Nam Đây là phương pháp dùng để kiểm tra – đối chứng sự chính xác của các thông tin tránh được

sự chủ quan áp đặt Qua đó, tìm được những thông tin chính xác, đầy đủ phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài

6 óng góp ủ đề tài

Thông qua việc nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng thần thánh của người Việt ở Quảng Nam, tôi hi vọng sẽ giúp mọi người có cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về tín ngưỡng thờ cúng thần thánh của người Việt nói chung và người dân Quảng Nam nói riêng

Mong rằng với những kết quả đạt được sẽ có đóng góp nhất định giúp mọi người có cái nhìn sâu sắc, đúng đắn hơn về việc thờ cúng thần thánh, đồng thời góp phần nâng cao nhận thức của mọi người trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp trong tín ngưỡng thờ cúng thần thánh của người Việt

7 Cấu trú ủ đề tài

Ngoài phần mở đầu ,kết luận,phụ lục và tài liệu tham khảo thì đề tài có kết cấu gồm 2 chương:

Chương 1: Vài nét về vùng đất, con người và đời sống văn hóa Quảng Nam

Chương 2: Thờ cúng thần thánh của người Việt ở Quảng Nam

Trang 7

Quảng Nam nằm ở miền Trung của Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội 860 km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 865 km về phía Nam Phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng; phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Kon Tum, phía tây giáp các tỉnh Sekong (Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào); phía Đông giáp biển Đông

Quảng Nam còn nằm ở trung tâm của khu vực Đông Nam Á, với bán kính 3.200 km bao phủ khu vực Nam Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan về phía Bắc; Singapore, Malaisia về phía Nam; Philippine, Brunei về phía Đông; Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia về phía Tây Với vị trí địa lý của mình, Quảng Nam có điều kiện tương đối thuận lợi trong quan hệ và giao lưu kinh tế với các địa phương trong

cả nước và nước bạn láng giềng

- Đị hình

Địa hình tỉnh Quảng Nam tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông, hình thành ba vùng sinh thái: vùng núi cao, vùng trung du, vùng đồng bằng và ven biển; bị chia cắt theo các lưu vực sông Vu Gia, Thu Bồn, Tam Kỳ, có mối quan hệ bền chặt về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái đa dạng với các hệ sinh thái đồi núi, đồng bằng, ven biển

Vùng đồi núi chiếm 72% diện tích tự nhiên với nhiều ngọn cao trên 2.000m như núi Lum Heo cao 2.045m, núi Tion cao 2.032m, núi Gole - Lang cao 1.855m

Trang 8

(huyện Phước Sơn) Núi Ngọc Linh cao 2.598m nằm giữa ranh giới Quảng Nam, Kon Tum là đỉnh núi cao nhất của dãy Trường Sơn. Ngoài ra, vùng ven biển phía đông sông Trường Giang là dài cồn cát chạy dài từ Điện Ngọc, Điện Bàn đến Tam Quan, Núi Thành Bề mặt địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi khá phát triển gồm sông Thu Bồn, sông Tam Kỳ và sông Trường Giang

Vùng trung du: địa hình đồi bát úp xen kẽ các dải đồng bằng

Vùng đồng bằng có hai dạng địa hình khác nhau là vùng đồng bằng nhỏ hẹp được phù sa bồi đắp và vùng ven biển chủ yếu là đất cát

- Khí hậu

Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, chỉ có 2 mùa là mùa mưa và mùa khô, chịu ảnh hưởng của mùa đông lạnh miền Bắc Quảng Nam có 2 loại khí hậu khá rõ rệt: khí hậu của vùng nhiệt đới ven biển và khí hậu ôn đới vùng cao Khí hậu nóng và khô từ tháng 2 đến tháng 4, nhiều mưa từ tháng 9 đến tháng 12

Nhiệt độ trung bình năm 25,4oC, Mùa đông nhiệt độ vùng đồng bằng có thể xuống dưới 20oC Độ ẩm trung bình trong không khí đạt 84%

Số giờ nắng bình quân trong năm là 2.156,2 giờ; nhiều nhất là vào tháng 5, 6, trung bình từ 234 đến 277 giờ/tháng; ít nhất là vào tháng 11, 12, trung bình từ 69 đến

165 giờ/tháng

Lượng mưa trung bình 2000-2500mm, nhưng phấn bố không đều theo thời gian

và không gian, mưa ở miền núi nhiều hơn đồng bằng, mưa tập trung vào các tháng 9 -

12, chiếm 80% lượng mưa cả năm; mùa mưa trùng với mùa bão, nên các cơn bão đổ vào miền Trung thường gây ra lở đất, lũ quét ở các huyện trung du miền núi và gây ngập lũ ở các vùng ven sông

1.2 Lị h sử hình thành và phát triển

Quảng là rộng rãi, Nam là phương Nam, đối diện phương Bắc Vậy Quảng Nam nghĩa là mở rộng về phương Nam Ðịa danh Quảng Nam biểu dương một chiến

lược quyết định vô cùng quan yếu của dân tộc Việt Nam

Quảng Nam phản ánh trung thực tiến trình lịch sử Nam tiến không ngừng suốt mấy mươi thế kỷ, phát xuất từ Ðộng Ðình hồ, phía nam sông Dương Tử cho đến ngày nay, của dân tộc Việt Nam đã phát triển, tiến hóa và sinh tồn, hầu góp mặt xứng đáng

Trang 9

và chính danh cùng những dân tộc anh em vùng Ðông Nam Á nói riêng và những dân tộc bạn bè trên thế giới nói chung

Lần giở lại những trang lịch sử đầu tiên, thật không khó để nhận ra một bề dày lịch sử xuyên suốt qua các thời đại của Quảng Nam Những phát hiện khảo cổ học đã chứng minh tại Quảng Nam có dấu vết của một sự diễn tiến lịch sử từ cuối thời kì đồ

đá mới đến văn hoá Sa Huỳnh và văn hoá Chăm Pa Căn cứ vào tư liệu thành văn của Trung Quốc lẫn Việt Nam, có thể xác định vùng đất Quảng Nam hiện nay, vào thời kì Bắc thuộc nằm trong quận Nhật Nam Năm 137, Khu Liên lãnh đạo nhân dân Tượng Lâm (Nhật Nam) nổi dậy, sau đó thành lập nước Lâm Ấp Thời kì này, Quảng Nam nằm trong châu Lý (Rí) của Lâm Ấp

Lịch sử hình thành và phát triển của Quảng Nam gắn liền với quá trình mở rộng lãnh thổ của Đại Việt

Năm 1307, sau nghi lễ tiễn đưa Công Chúa Huyền Trân về Chiêm Quốc, vuaTrần Nhân Tông tiếp thu hai châu Ô và Rí, di dân khẩn hoang và đổi tên là Thuận Châu (bắc Hải Vân quan) và Hóa Châu (nam Hải Vân quan) Dân Chiêm Thành bỏ đất lui về phía Nam

Năm 1402, sau khi tiếm ngôi nhà Trần, Hồ quý Ly chia Hóa châu, gồm đất Chiêm Ðộng, Cổ Lũy, lập thành 4 châu là Thăng Châu (Thăng Bình và phía Bắc), Hóa Châu, Tư Châu và Nghi Châu (Quảng Ngãi và phía Nam), di dân canh tác và đặt quan An Phủ Sứ cai trị Dân Chiêm Thành lại bỏ đất lui dần về phía Nam

Năm 1470, Hồng Ðức nguyên niên, Vua Lê Thánh Tông sau trận đại thắng bắt được Vua Chiêm Thành là Trà Toàn, triệt để khai thác sự chia rẽ của hoàng tộc Chiêm Thành, chia Chiêm Thành ra làm ba nước nhỏ, phong ba vua: Chiêm Thành, Hóa Anh và Nam Phan, chủ đích làm suy yếu đối phương Lại lấy Hóa Châu gồm đất Chiêm Ðộng, Ðồ Bàn, Ðại Chiêm và Cổ Lũy lập thành đạo Quảng Nam (địa danh Quảng Nam bắt đầu xuất hiện trên lịch sử Việt Nam từ đây) Ðạo Quảng Nam gồm

có 3 phủ và 9 huyện (tiền thân của Nam, Ngải, Bình, Phú sau này) và đặt quan cai trị Đến năm 1570, Chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Ðạo Quảng Nam, truyền nối con cháu (Nguyễn Phúc Tần, Nguyễn Phúc Chu, ) lấn dần vào Nam, xâm chiếm trọn vẹn nước Chiêm Thành, lập phủ Diên Khánh (Khánh Hoà), phủ Bình Thuận, huyện Yên Phúc và huyện Hòa Ða (Bình Thuận)

Trang 10

Năm 1744, Chúa Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát, sau khi chiếm được Hà Tiên, Rạch Giá, chia nước ra làm 12 dinh: Chính dinh (Thừa Thiên), Cựu dinh (Ái Tử), Quảng Bình dinh, Vũ Xá dinh, Bố Chính dinh, Quảng Nam dinh (Quảng Ngãi phủ và Qui Nhơn phủ), Phú Yên dinh, Bình Khang dinh, Bình Thuận dinh (đất Chiêm Thành), Trấn Biên dinh, Phiên Trấn dinh, Long Hồ dinh (đất Chân Lạp) Ðồng thờì lấy Hội An làm cửa biển duy nhất buôn bán với nước ngoài, nên người ngoại quốc thường gọi là Quảng Nam Quốc

Đến giữa thế kỷ XVII, chính quyền đàng Trong nhanh chóng suy yếu, nạn chiếm đoạt và tập trung ruộng đất diễn ra gay gắt, thuế khóa ngày càng tăng… Quan lại lợi dụng hành hạ, ẩu lậu, cố tình tăng giảm, sinh sự làm khổ dân Trước hoàn cảnh

đó, khi phong trào Tây Sơn bùng nổ, nhân dân Quảng Nam đã hưởng ứng mạnh mẽ Mùa thu năm 1773, khi quân Tây Sơn kéo ra Quảng Nam, nhân dân Quảng Nam đã phối hợp cùng nghĩa quân phục kích ở Bến Đá (Thạch Tân, Thăng Bình, Quảng Nam) đánh bại quân của chúa Nguyễn do các tướng Nguyễn Cửu Thống, Nguyễn Hữu Sách… chỉ huy Chiến thắng của phong trào Tây Sơn trong sự nghiệp đánh đổ tập đoàn phong kiến Trịnh-Nguyễn, mở đầu sự nghiệp thống nhất đất nước có phần đóng góp rất lớn của nhân dân Quảng Nam

Năm 1806 Vua Gia Long, sau khi thống nhất được đất nước, chia nước ra làm

23 trấn Bắc Thành có 11 trấn, Gia Ðịnh thành có 5 trấn, miền trung có 7 trấn, trong

đó có Quảng Ngải trấn, Bình Ðịnh trấn và Phú Yên trấn; và 4 doanh, thuộc đất kinh kỳ: Trực Lệ, Quảng Ðức doanh (Thừa Thiên), Quảng Trị doanh, Quảng Bình doanh

và Quảng Nam doanh Như thế Ðạo Quảng Nam hay Quảng Nam doanh bắt đầu từ đây chính thức chia thành 3 trấn: Quảng Ngãi trấn, Bình Ðịnh trấn, Phú Yên trấn và 1 doanh là Quảng Nam doanh

Năm 1831,Vua Minh Mạng đổi trấn và doanh thành tỉnh và đặt chức Tổng Ðốc, Tuần Phủ, Bố Chánh Sứ, Án Sát, Lãnh Binh trông coi việc cai trị Và địa danh Tỉnh Quảng Nam có từ đây

Trong sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhân dân Quảng Nam đã đi đầu, lập công ngay từ khi thực dân Pháp đặt chân đến vùng đất Quảng Nam-Đà Nẵng Đáng chú ý khi phong trào Cần Vương được phát động, đây là địa phương hưởng ứng mạnh mẽ và có tổ chức, đó là Nghĩa hội Quảng Nam được thành lập vào tháng 9 năm 1885 Dưới sự lãnh đạo của các chí sỹ yêu nước Trần Văn Dư,

Trang 11

Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến… quân và dân Quảng Nam đã lập nên những chiến công hiển hách, gây tổn thất cho quân Pháp và triều đình Huế, mở rộng liên kết với phong trào Cần Vương ở Quảng Ngãi và Bình Định Quảng Nam tự hào là nơi phát tích phong trào và là quê hương của những nhà lãnh đạo tâm huyết trước vận mệnh của dân tộc như: Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Cao Vân, Thái Phiên

Năm 1888, Thành Thái nguyên niên, triều đình Huế ký nhượng Ðà Nẵng cho Pháp làm nhượng điạ

Sau Hiệp định Giơnevơ, dưới thời chế độ Việt Nam Cộng Hòa tỉnh Quảng Nam (1956) bị chia thành hai tỉnh mới là Quảng Nam ở phía Bắc gồm các quận Hòa Vang, Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Đức Dục, Hiếu Nhơn, Quế Sơn, Hiếu Đức, và Thường Tín và Quảng Tín ở phía Nam gồm Thăng Bình, Tiên Phước, Hậu Đức, Lý Tín, Hiệp Đức và Tam Kỳ

Năm 1962,chính phủ VNCH Ngô Ðình Diệm chia tỉnh Quảng Nam ra thành 2 tỉnh: Quảng Nam (phiá bắc) gồm các quận HoàVang, Ðiện Bàn, Duy Xuyên, Ðại Lộc, Quế Sơn, Hiếu Ðức, Thường Ðức Ðức Dục và Hiếu Nhơn (gồm thị xã Hội An);

và Quảng Tín (phía nam) gồm các quận Thăng- Bình, Tiên Phước, Hậu

Sau khi thống nhất đất nước, chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam quyết định sáp nhập hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín và Thành phố Đà Nẵng thành lập tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng với Đà Nẵng là tỉnh lị Tỉnh Quảng Nam-

Đà Nẵng gồm Thành phố Đà Nẵng và các huyện Hoà Vang, Ðiện Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình, Tam Kỳ, Ðại Lộc, Quế Sơn, Tiên Phước, Tiên Giang, Phước

Năm 1997, tại kỳ họp thứ X của Quốc Hội, tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng được chia thành hai đơn vị thành chính độc lập gồm Thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam Tỉnh Quảng Nam mới có 14 huyện gồm Giằng (nay là huyện Nam Giang), Hiên (nay là Đông Giang và Tây Giang), Đại Lộc, Phước Sơn, Duy Xuyên, Điện Bàn, Quế Sơn (nay là Quế Sơn và Nông Sơn), Thăng Bình, Hiệp Đức, Tiên Phước, Trà My (nay là Bắc Trà My và Nam Trà My, Núi Thành và 2 thị xã: thị xã Tam Kỳ

(nay là thành phố tỉnh lị Tam Kỳ và huyện Phú Ninh) và thị xã Hội An )

1.3 iều kiện kinh tế xã hội

Trang 12

Ngày 01 tháng 01 năm 1997, tỉnh Quảng Nam chính thức được tái lập Với vị

trí địa lý của mình, Quảng Nam có điều kiện tương đối thuận lợi trong quan hệ và

giao lưu kinh tế với các địa phương trong cả nước và nước bạn láng giềng

Cơ cấu kinh tế của tỉnh trong những năm qua chuyển dịch theo hướng tăng tỉ

trọng của ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, giảm dần tỉ trọng ngành nông

lâm thủy sản Tốc độ tăng trưởng GDP tỉnh Quảng Nam tăng từ 12.918,9 tỉ đồng năm

2006 lên 23.644,5 năm 2010 với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 16,3%

Trong đó, khu vực nông lâm thủy sản tăng 3%; dịch vụ tăng 15,6%; công nghiệp -

xây dựng tăng 21,1% Quy mô nền kinh tế GDP tính theo giá so sánh năm 2010 gấp

hơn 1,8 lần so với năm 2005

Bảng 1 : Tăng trưởng GDP của tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2006 - 2010

& xây dựng 6.006.226 7.545.060 8.993.638 10.510.481 12.937.620

Dị h vụ 4.427.594 5.224.561 6.093.202 6.885.500 7.918.325

“Nguồn: Cục Thống kê Quảng Nam Niên giám thống kê 2010 Nxb

Thống kê,2011”

Tổng kim ngạch xuất khẩu từ năm 2006 đến 2010 là 1.048 triệu USD, tăng

bình quân 16,1% Nhập khẩu hàng hóa cơ bản đáp ứng cho yêu cầu phát triển sản

xuất và đổi mới công nghệ

Bảng 2: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của tỉnh Quảng Nam

Trang 13

Quảng Nam hiện có nhiều khu kinh tế và khu công nghiệp đã và đang hoạt động, thu hút nhiều nhà đầu tư, đồng thời phần nào giải quyết công ăn việc làm cho phần lớn cư dân địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Trên cơ

sở những lợi thế của mình, Quảng Nam đã có những kế hoạch và chính sách phù hợp

để tạo cho mình một nền tảng vững chắc nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh

Trong những năm qua, ngành công nghiệp của tỉnh bước đầu đã khai thác được thế mạnh về nguồn nguyên liệu trên địa bàn, góp phần thúc đẩy một số ngành kinh tế mũi nhọn; phục vụ định hướng phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm như công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản, vật liệu xây dựng, công nghiệp nhẹ, sản xuất hàng tiêu dùng, công nghiệp điện năng, đồng thời chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho sự phát triển của ngành công nghiệp công nghệ cao

Kinh tế tăng trưởng liên tục và ổn định trong nhiều năm, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn đạt mức cao hơn bình quân cả nước, trong đó năm 2012 đạt 11,2% Cơ cấu tổng sản phẩm từng bước chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, năm 2012 giá trị ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ chiếm 79,8% GDP, nông nghiệp chiếm 20,2% GDP

Sở Kế hoạch - Đầu tư Quảng Nam công bố danh sách 16 dự án lớn được tỉnh kêu gọi đầu tư từ nước ngoài với tổng vốn dự kiến khoảng 5,7 tỉ USD Trong 16 dự

án trên, có 9 dự án thuộc Khu kinh tế mở Chu Lai Bên cạnh khu kinh tế mở Chu Lai, Quảng Nam còn có các khu công nghiệp: Nam Điện Ngọc, Thuận Yên, Trảng Nhật, Đại Hiệp, Đông Quế Sơn, Đông Thanh Bình, Tây An, Bắc Chu Lai, Nông Sơn

Bên cạnh đó, ngành du lịch cũng rất phát triển với những lợi thế về di tích lịch

sử -văn hóa, về danh thắng, những sản phẩm thủ công và món ăn cổ truyền

Quảng Nam hiện nay có 2 di sản được công nhận là di sản văn hóa thế giới là thành địa Mỹ Sơn và Khu phố cổ Hội An, cùng khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm Với những thế mạnh đó, Quảng Nam xác định du lịch là ngành mũi nhọn, nên trong nhiều năm qua tỉnh đã đề ra nhiều chính sách phù hợp khuyến khích các ngành và các thành phần kinh tế tham gia phát triển ngành du lịch Cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như nguồn nhân lực làm việc trong ngành du lịch đã tăng lên đáng kể

Trang 14

Đến năm 2010, toàn tỉnh Quảng Nam có 195 dự án đầu tư du lịch với tổng số vốn đăng ký trên 91.000 tỉ đồng Trong đó, 174 dự án trong nước, 21 dự án đầu tư nước ngoài, đã có 110 dự án đi vào hoạt động Đa số các dự án có quy mô lớn đều tập trung đầu tư vào các khu vực ven biển thuộc huyện Điện Bàn và thành phố Hội An Các bãi biển: Cửa Đại, Hà My, Bình Minh, Tam Thanh, Biển Rạng đang được chú trọng đầu tư Bên cạnh đó, đã hoàn thành 9 tuyến đường quan trọng để phục vụ phát triển du lịch và dân sinh với tổng nguồn vốn giải ngân gần 300 tỉ đồng

Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của tỉnh có khả năng đón hàng triệu lượt khách nội địa và quốc tế Toàn tỉnh có hơn 110 cơ sở du lịch đi vào hoạt động với hơn 3.900 phòng, trong đó có 1.500 phòng đạt tiêu chuẩn từ 3 sao đến 5 sao Từ năm

2006 đến 2010, có 33 khách sạn được xây dựng mới và đưa vào hoạt động với gần 1.100 phòng Lượng khách du lịch bình quân tăng trên 12%, riêng năm 2010 thu hút 1.764.350 lượt khách, trong đó khách quốc tế 1.062.982 lượt Thu nhập xã hội từ du lịch năm 2010 khoảng 2.100 tỉ đồng, gấp hơn 2,3 lần so với năm 2005

Quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Quảng Nam với các đối tác quốc tế không ngừng được mở rộng Trong những năm qua, Quảng Nam đã kết nghĩa với tỉnh Sê Kông (Lào), thành phố Osan (Hàn Quốc) và có sự hợp tác với vùng Nord-Pas de Calais (Pháp), qua đó đã có nhiều thỏa thuận thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa xã hội và thu hút đầu tư Các tổ chức quốc tế lớn như UN-Habitat, UNESCO, Tầm nhìn thế giới, Ngân hàng thế giới WB, Ngân hàng Phát triển châu Á ADB đã có nhiều hoạt động hợp tác với Quảng Nam trong việc lập quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và giao lưu văn hóa, nghệ thuật

Kinh tế phát triển đã giúp cho đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được ổn định và có phần được nâng lên

Công tác đảm bảo an sinh xã hội được thực hiện đồng bộ theo các chương trình dự án kế hoạch đã được phê duyệt, công tác cứu trợ được theo dõi kịp thời, không để xảy ra tình trạng đói nghèo trong nhân dân, nhất là các khu vực miền núi cao và vùng sâu vùng xa

Tỉnh Quảng Nam đã tiến hành xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa, vận động mọi người quyên góp được 389 triệu đồng, đã góp phần tích cực trong việc sửa chữa, xây dựng nhà mới cho các đối tượng chính sách và người có công Công tác vận động quỹ

Trang 15

vì người nghèo được sự hưởng ứng của đông đảo tầng lớp nhân dân (vận động được 4,6 tỷ đồng) thông qua đó hỗ trợ xây dựng nhà ở cho những hộ nghèo

Theo kết quả điều tra hộ nghèo năm 2011 của sở LĐ, Tb & XH tỉnh Quảng Nam, hiện nay, toàn tỉnh còn 57 xã còn khó khăn thuộc diện vùng xa vùng sâu vùng biên giới, còn 21 xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo Tỷ lệ hộ nghèo năm 2011 là 20,9% giảm 3,3% so với năm 2011; tỷ lệ hộ cận nghèo là 14.06% Kết quả này đã phản ánh thực trạng cũng như những cố gắng của chính quyền địa phương

và quần chúng nhân dân trongh thời gian qua trong việc thực hiện tốt những chính sách đối với các hộ nghèo và các hộ vùng sâu vùng xa

Cơ sở hạ tầng nông thôn tiếp tục được đầu tư phát triển, mạng lưới điện liên tục được mở rộng, tính đến nay trên địa bàn tỉnh có 233/244 xã có điện sinh hoạt với 97,8% số hộ dân có điện sinh hoạt Hệ thống giao thông nông thôn tiếp tục được hoàn thiện và bê tong hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, giao lưu buôn bán giữa các khu vực để thúc đẩy sản xuất

Tỉnh Quảng Nam còn có các dự án chương trình xây dựng để tiếp tục đầu tư xây dựng, nâng cấp các trường học, trạm y tế phục vụ tốt nhu cầu học tập cũng như chăm sóc sức khỏe của người dân trên toàn tỉnh và đặc biệt là đối với khu vực nông thôn, khu vực khó khăn, vùng sâu, vùng xa…

Các cơ sở khám chữa bệnh tăng về số lượng từ cấp tỉnh đến cơ sở Số gường bệnh từ 2.500 giường năm 1997 lên hơn 4.000 giường vào năm 2011, tăng gấp 1,6 lần Trang thiết bị khám chữa bệnh hiện đại ngày càng được đầu tư ở các cơ sở y tế Song song với hệ thống y tế công, các cơ sở y tế ngoài nhà nước tăng nhanh, đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh của nhân dân Bên cạnh đó, công tác giáo dục – đào tạo ở miền núi có nhiều tiến bộ, nhất là đầu tư cơ sở vật chất, kiên cố hóa trường lớp và nhà công vụ giáo viên Đến nay, đã có 100% huyện miền núi của tỉnh đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS Các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số được nghiên cứu bảo tồn và từng bước phát huy

Trong thời gian đến, Quảng Nam sẽ tiếp tục nỗ lực vươn lên và phát triển đồng đều về kinh tế xã hội, tiến tới xây dựng một tỉnh Quảng Nam cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 như Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XX đã đề ra Mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, tỉnh sẽ đạt tốc độ

Trang 16

tăng trưởng GDP bình quân hằng năm hơn 13,5%; đến năm 2015, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng chiếm hơn 44%, dịch vụ chiếm hơn 44% trong cơ cấu GDP; tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng bình quân hàng năm 14%; thu ngân sách phát sinh kinh tế bình quân hằng năm 25%; kim ngạch xuất khẩu tăng 22%/năm… Ðể đạt được mục tiêu đề ra, tỉnh sẽ tiếp tục huy động các nguồn lực để tập trung ưu tiên thực hiện ba đột phá Ðó là xây dựng kết cấu hạ tầng; phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư

Như vậy, với những gì đã và đang làm được Quảng Nam ngày càng khẳng định được vị trí và tầm quan trọng của mình trong sự phát triển của khu vực miền Trung nói riêng và đất nước nói chung, góp phần đưa lại cuộc sống và môi trường sinh hoạt thuận lợi hơn cho nhân dân địa phương

1.4 ặ điểm văn hó , dân ư

Phần lớn dân cư Quảng Nam là người Việt có nguồn gốc từ miền Bắc và Bắc Trung bộ Ðó cũng là những con người nhận trách nhiệm lịch sử, đội quân tiên

phong của Chúa Nguyễn vào Nam trấn thủ và mở mang bờ cõi

Được tôi luyện trong gian khổ và trưởng thành trong chiến đấu khắc phục những khó khăn từ thiên nhiên và do lịch sử đem lại nên người Quảng Nam rất bản

lĩnh, tràn đầy khát vọng, giàu tinh thần đấu tranh, nhưng cũng rất chân thành, cởi mở

Hiên nay dân số của Quảng Nam gần 1,5 triệu người ,và có sự đa dạng về thành phần dân tộc, cụ thể có khoảng 20 dân tộc sinh sống trong đó có 93,6% là dân tộc kinh, gần 6,4% dân số là các dân tộc ít người (trong đó chủ yếu là dân tộc Cơ-Tu,

Xơ đăng, Mnông, Co, Gié-Triêng, ); dân số thành thị chiếm 17,51%; dân số 15 tuổi trở lên hơn 1,09 triệu người chiếm tỷ lệ 72,94% trong tổng dân số

Không chỉ vậy người dân Quảng Nam còn được biết đến bởi tinh thần hiếu học, tìm tòi học hỏi Những danh hiệu Ngũ Phụng Tứ Phi hay Tứ Kiệt nói lên tài học và sự vinh hiển đậu đạt của các danh sĩ Quảng Nam, con cháu người Quảng Nam nói chung và Tộc Trần nói riêng lấy đó làm vinh dự và noi gương

Quảng Nam đã sản sinh ra nhiều danh nhân khoa bảng Tiêu biểu là Khoa thi năm Mậu Tuất (1898), toàn quốc có 18 vị Tân Khoa, thì Quảng Nam có 5 vị, 3 Tiến Sĩ và

2 Phó Bảng Ðó là một điều hy hữu trong lịch sử thi cử của nước nhà Kể từ các triều

Trang 17

Lý , Trần, Lê, Nguyễn có tất cả 187 khoa thi Tiên Sĩ với 2971 người đậu Tiến Sĩ nhưng chưa có khoa nào 5 người đồng hương cùng đậu

Vùng văn hóa Quảng Nam được hình thành trong tổng thể vùng văn hóa miền Trung Địa hình nằm ở chính trung điểm đất nước theo trục Bắc - Nam, đây là nơi giao hòa của những sắc thái văn hóa giữa hai miền và giao lưu văn hóa với bên ngoài, điều này góp phần làm cho Quảng Nam giàu truyền thống và độc đáo về bản sắc văn hóa …

Đến với Quảng Nam, chúng ta được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những công trình kiến trúc cổ đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật

Đó là 2 di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận, phố cổ Hội An và khu Di tích Mỹ Sơn với những giá trị văn hóa tiêu biểu của nhân loại Khu Di tích

Mỹ Sơn là cả một quần thể kiến trúc độc đáo của những ngôi đền tháp uy nghiêm, hùng tráng lưu dấu một thời huy hoàng của các vị vua Chăm Có thể nói, đền tháp Mỹ Sơn là một hình ảnh điển hình của lịch sử kiến trúc cổ Chămpa Cho đến nay, qua rất nhiều nghiên cứu của các chuyên gia trong và ngoài nước, kỹ thuật nung gạch, kỹ thuật xây dựng đền tháp Chàm vẫn còn là một ẩn số Điều này góp phần tăng thêm vẻ huyền bí cho những ngôi tháp cổ Mỹ Sơn khi du khách đến thăm

Đô thị cổ Hội An - nơi “Hội thủy, hội nhân và hội tụ văn hóa”, nơi tụ cư, hỗ

cư và hợp cư của nhiều sắc thái văn hóa của người Việt, người Hoa, người Nhật Bản

và người châu Âu … từ thế kỷ XVI Hội An là một trong số rất ít những đô thị được bảo tồn tương đối nguyên vẹn với một tổng thể kiến trúc phong phú, đa dạng

Quảng Nam cũng là nơi lưu giữ hàng trăm công trình kiến trúc Việt cổ như đình, chùa, văn miếu, lăng miếu, nhà ở,… có niên đại cách đây 300 -500 năm Các di tích này không chỉ có giá trị về mặt văn hóa, nghệ thuật là còn có ý nghĩa lịch sử quan trọng, thể hiện sự phát triển lâu đời của một vùng văn hóa đàng Trong Những kinh

đô cổ Trà Kiệu, các tháp chàm Khương Mỹ, Chiên Đàn, Bàng An, Phật viện Đồng Dương là những nơi ghi lại dấu ấn rực rỡ của nền văn hóa Sa Huỳnh, Champa, Đại Việt

Bên cạnh đó, trên 260 di tích văn hóa, lịch sử cách mạng, trong đó có 15 di tích xếp hạng quốc gia sẽ mãi mãi là niềm tự hào, là những trang sử hào hùng minh

Trang 18

chứng cho truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường của người xứ Quảng trong lịch sử giữ nước, dựng nước của dân tộc

Giá trị văn hóa của Quảng Nam không chỉ tỏa sáng từ những công trình kiến trúc cổ mà còn được tạo nên bởi những sắc màu văn hóa độc đáo ẩn chứa trong các phong tục, tập quán, lễ hội của các dân tộc sinh sống trên quê hương nặng nghĩa tình này Đây chính là tài sản vô giá, là niềm tự hào của cộng đồng các dân tộc Quảng Nam

Lễ hội ở Quảng Nam hết sức phong phú và đa dạng Các lễ hội của người dân miền núi, miền biển, lễ hội nông nghiệp, lễ hội tôn giáo, tất cả đều mang yếu tố tín ngưỡng, tâm linh, được tổ chức đều đặn hàng năm để cầu mong cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an; để ngợi ca những bậc tiền nhân; hướng về cội nguồn, truyền thống của dân tộc và thể hiện khát vọng vươn tới chân - thiện - mỹ của con người nơi đây…Tiêu biểu như lễ hội Bà Thu Bồn (12 tháng 2 âm lịch): Bà vốn là một nữ thần Chăm mà người Việt vẫn thờ cúng và kính cẩn gọi là Bồ Bồ phu nhân; lễ tế cá Ông tại những làng có đền, miếu thờ "Ông": Người Chăm và người Việt ở miền Trung từ lâu đã xem "Ông" (cá voi) là ân nhân của dân chài và những tàu thuyền gặp nạn trên biển ; sau phần tế lễ luôn luôn có hát bả trạo, hát bội, hát hò khoan…

Quảng Nam còn là nơi có nhiều làng nghề truyền thống được hình thành và phát triển từ nhiều đời nay Trải qua hàng trăm, hàng ngàn năm, nghề và làng nghề đã tồn tại và phát triển ở đây như một phần không thể tách rời lịch sử mỗi làng quê, thôn xóm của vùng đất này

Bên cạnh đó, văn hoá ẩm thức với mì Quảng, cao lầu Hội An, bò tái Cầu Mống, bánh tráng cuốn thịt heo, giò ốc, ốc vú nàng, bánh vạc, bánh bao,bánh tổ,…đã làm nên nét riêng của vùng đất này Các món ăn đất Quảng đi vào đời sống, vào câu

ca dao dân ca, vào tâm linh - tâm hồn người Quảng Nam Những món ăn từ dân dã đến cầu kỳ mà từ cách ăn đến cách chế biến cũng như tính cách người Quảng: cần kiệm, dè sẻn mà lại phóng khoáng,vui tươi Mộc mạc mà đậm chất Từ con cá nục cuốn bánh tráng, rau muống chấm nước mấm “gin” (nguyên chất), cái bánh bèo con con, đến món mì Quảng sợi vàng óng ánh, con bò thui bên trong nhét lá ổi, lá sả thơm phức Mì Quảng bây giờ đã là món ngon thân quen của người Việt ở nhiều nơi, không thua gì phở Bắc, bún bò Huế, hủ tiếu Mỹ Tho…

Trang 19

Nói đến văn hóa Quảng Nam thì cũng phải nhắc tới kho tàng văn nghệ dân gian của nó với vè Quảng, hò đi cấy, hò xay lúa, hò tát nước, hò giã gạo, hò giã vôi,

hò đạp xe nước, hò khoan, hò ba lý, hát bã trạo, hát nhân ngãi, hô bài chòi… với thổ ngữ và cái giọng Quảng chắc nịch, đậm đà:

Ví dầu tình bậu muốn thôi Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra Bậu ra cho khỏi tay qua Cái xương bậu nát cái da bậu mòn!

Với những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể quí báu còn được lưu giữ, Quảng Nam hôm nay thực sự là một vùng văn hóa giàu bản sắc trong tổng thể các vùng văn hóa của Việt Nam

Trang 20

C ƯƠN 2: T Ờ CÚN T ẦN T ÁN CỦA N ƯỜ V ỆT

Ở QU N NAM 2.1 Khái quát về tín ngưỡng thờ úng thần thánh ủ người Việt

Như mọi nơi trên thế giới, người Việt Nam đã thờ rất nhiều thần thánh Họ thờ tất cả các thế lực vô hình và hữu hình mà thực chất là các hiện tượng thiên nhiên và

xã hội chưa thể giải thích được Thờ Thần thánh là tín ngưỡng như là một “đạo thuần Việt”, khởi nguồn từ người Việt cổ và luôn đồng hành cùng dân tộc

Từ thưở sơ khai, người Việt tin là có thần linh ở khắp mọi nơi, mọi chốn và họ thờ phụng tất cả các sức mạnh ấy Do vậy mới có Thần Núi, Thần Sông, Thần Đất, Thần Bếp…Thờ Thần thánh không có giáo chủ, không có giáo điều cũng tương tự như đạo thờ cúng tổ tiên về ngôi vị thờ và nghi lễ cúng bái

Tục thờ thần, thờ thánh của người Việt đã thể hiện rõ bản chất tín ngưỡng đa thần bản địa Trong lịch sử, ông cha ta đã bảo lưu rất nhiều hình thái tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau Sẽ thấy sự hiện diện của những hình thái sơ khai từ thời nguyên thủy như tín ngưỡng vạn vật hữu linh, các tín ngưỡng thờ sinh thực khí với hành vi giao phối, các tín ngưỡng thờ thần thiên nhiên như Tứ pháp (mây, mưa, sấm, chớp), tín ngưỡng Tứ phủ, tín ngưỡng thờ động vật, thờ nhân thần, thờ cúng tổ tiên Với hệ thống nhân thần, trong tín ngưỡng người Việt, những nhân vật được thờ phụng thường là các vị anh hùng có công với nước, giúp dân khai hoang lập ấp, hay những nhân vật có công dựng nghề khởi nghiệp

Bên cạnh đó, các vị thần nhiều khi cũng chỉ là những nhân vật hết sức bình thường, thậm chí tầm thường như một người chết bất đắc kỳ tử, một tay ăn trộm, tướng cướp hay kẻ ăn mày, người hót phân Những nhân thần này hầu hết giống nhau ở chỗ đều chết vào “giờ thiêng” nên linh ứng với cộng đồng, khiến cho người dân khiếp sợ mà lập đền thờ phụng Về sau, người Việt du nhập thêm những tôn giáo bên ngoài như Phật giáo, Lão giáo, Khổng giáo, Ấn Độ giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo , bên cạnh đó, cũng tiếp tục sáng tạo thêm những tôn giáo mới dựa trên sự dung hợp hay cải biên các tôn giáo du nhập như đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo Với những tín ngưỡng dân gian bản địa, hành vi cúng lễ bao giờ cũng mang tính thực dụng cao Người ta cúng cho thần thánh con trâu, con lợn, con gà, vật phẩm này nọ có nghĩa mong muốn đấng siêu nhiên phải phù trợ cho cộng đồng mùa màng bội thu, tài lộc

Trang 21

may mắn Trần Ngọc Thêm cho rằng, tín ngưỡng được đặt trong văn hóa tổ chức đời sống cá nhân: “Tổ chức đời sống cá nhân là bộ phận thứ hai trong văn hóa tổ chức cộng đồng Đời sống mỗi cá nhân trong cộng đồng được tổ chức theo những tập tục được lan truyền từ đời này sang đời khác (phong tục) Khi đời sống và trình độ hiểu biết còn thấp, họ tin tưởng và ngưỡng mộ vào những thần thánh do họ tưởng tượng ra (tín ngưỡng)”

Hình ảnh khởi đầu của thần thánh Việt là các thần cây, thần đá, sau đó là các thần song nước, thần rắn là lực lượng mà sau này được gọi là các nhiên thần Với

quan niệm “ sinh vi tư ng, t vi thần” với những người chết được tôn thờ là thần thì

thoạt kỳ thủy, người Việt chỉ mới tôn nghiêm những người trước khi chết, ở trên trần gian họ là người có sức mạnh hoặc có tài Với việc thờ cúng các vị thần như thế, người dân biểu lộ sự nhớ ơn và tôn thờ sức mạnh, cầu ban sức khỏe cho người và mùa màng Dưới con mắt của người dân , không có sự phân biệt thứ bậc , chủng loại,

mà mọi vị thần đều linh thiêng , đều có phẩm chất là lực lượng siêu nhiên quyền năng

vô hạn.[ Tục thờ cúng của người Việt, Bùi Xuân Mỹ, NXb Văn hóa Thông tin Hà Nội, tr.15]

Người Việt thờ tất cả các vị thần thánh trong nhà, trong làng và các vị thần

mà họ tôn kính ở mọi nơi Trong nhà thì có các vị thần được thờ như :thần tài, thổ địa, Thánh sư, tiền chủ Trong phạm vi làng xã thì người Việt thờ các vị thần Thành hoàng, thờ Mẫu hay thờ các vị thần có công với địa phương Không chỉ bó hẹp trong phạm vi gia đình, làng xã người Việt còn thờ các vị thần mang tính chất quốc gia như thờ Tứ bất tử

Cũng như các tôn giá khác ,tín ngưỡng thờ thần thánh của người Việt, ngoài mục đích thỏa mãn nhu cầu tâm linh còn hướng con người đến những lí tưởng tốt đẹp Niềm tin vào thần thánh giúp con người có ý chí và nghị lực vượt qua những gian khổ của cuộc đời cũng như hạn chế những điều ác mà thực hành điều thiện

Tín ngưỡng thờ cúng thần thánh đã có từ xa xưa đến nay đã trở thành một tập tục truyền thống, có vị trí hết sức đặc biệt trong đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam, là một trong các thành tố tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam

Trang 22

2.2 Qu n niệm ủ người Việt ở Quảng N m về thờ úng thần thánh

Tín ngưỡng thờ thần thánh, một trong những thành tố văn hóa tinh thần phổ biến của người Việt Nam nói chung và người Quảng Nam nói riêng, là một trong các yếu tố tạo nên nét đặc biệt trong sinh hoạt văn hóa của người dân Quảng Nam, vậy thì khái niệm thần thánh được người Quảng Nam hiểu như thế nào?

Quan niệm về thần thánh của người Quảng Nam cũng chịu ảnh hưởng của người Việt nói chung nên về cơ bản nó có những nét tương đồng với nhau và nhiều khi được hiểu như nhau Tuy nhiên, hiên nay vẫn chưa có một khái niệm thật sự cụ thể về tín ngưỡng thờ cúng thần thánh Nó chỉ mới được biết đến với một số cái tên như: đạo thờ thần, phong tục thờ cúng thần thánh Theo đó, Người ta quan niệm thần thánh là một biểu tượng mang tính ảo tưởng, siêu thực, nhưng lại có giá trị thực

Từ thần thánh của làng xã đến thần thánh của một nước đều phản ánh tâm thức, khát vọng tâm linh của cộng đồng trong quá khứ, hiện tại và tương lai

Người Việt nhận định Thần, bao gồm tính khí của con người (còn gọi là qủy , khuẩn ) cũng như quyền lực siêu việt khỏi con người Chính vì thế mà bất cứ ai khi còn sống hay qua đời mà có một bản lãnh thông thiên, vượt khỏi con người đều được nâng lên hàng thần ( thí dụ: Thần Siêu Thánh Quát, Quỷ xuất nhập thần), bất cứ lực lượng nào vượt khỏi con người (thần bếp, thần lửa, thổ địa), lực lượng ngoại tại có quyền lực tuyệt đối (Thiên, Thượng Ðế )

Tương tự, chúng ta nhận định Thánh như một con người trổi vượt về các phương diện đạo đức, học vấn, chính trị v.v (Các vua thích được đệm chữ thánh vào giữa: Lê Thánh Tông, Trần Thánh Tông v.v ; hay Thánh thượng hoàng, Thánh Khổng, Thánh Trần Hưng Ðạo, Thánh Dóng ) Chữ Thánh cũng có nghĩa như người thông hiểu tâm tư của người dân, nghe được tiếng của trời đất, thấu hiểu được thiên mệnh (Chữ Thánh gồm các bộ: khẩu , nhĩ , vương - ) Chính vì thế mà, bất cứ ai, nếu

có đức độ hơn người, có học thức hơn người, có tài lực hơn người, có quyền hành hơn người, đều được tôn làm thánh

Trong tâm tưởng người dân, thần thánh là toàn vẹn, là không khuyết điêm, tất

cả những gì tốt đẹp đều hội tụ trong thánh thần Họ nhắc đến thần thánh với toàn tâm kính trọng

Trang 23

Hiểu như vậy, con người tự thân không thể trở thành thần, cũng không có thể thành thánh Con người có thể trở thành thánh được (quan niệm từ thời Trung cổ) phải qua nhiệm tích (rửa tội, sức dầu), được hồng ân của Thiên Chúa, hiệp thông với Ngài (nhiệm tích Thánh Thể, Thêm Sức) và hoàn toàn thoát khỏi tội lỗi (tức được Thượng Ðế cho cộng thông vào bản tính của Ngài)

Thần là thần tiên : tức chỉ những thể linh có cấp độ tiến hóa hơn loài ngừoi ý nghĩa của cụm từ ghép này tức chỉ những ngừoi sau khi chết làm thần thánh

Thờ cúng thần thánh nghĩa là lập bàn thờ tại nhà hoặc mọi người cùng tổ chức thờ cúng tại những nơi sinh hoạt cộng đồng Qua việc cúng bái thể hiện sự ngưỡng

mộ, biết ơn, tỏ lòng thành kính của người dân trước bậc thánh thần nhằm cầu mong những điều tốt đẹp và những mong muốn của cá nhân sẽ trở thành hiện thực

“Thờ” là yếu tố thuộc ý thức về bày tỏ sự tôn kính với các bậc thần thánh ,cầu xin sự phù hộ “Cúng” là yếu tố mang tính nghi lễ,là dâng lễ vật lên thần thánh, là sự thực hành một loạt động tác (khấn, vái, quì, lạy) của người đứng ra thờ cúng Đó là hoạt động dưới dạng hành lễ và được qui định bởi quan niệm, phong tục, tập quán của mỗi cộng đồng, dân tộc Thờ và cúng là hai yếu tố có tác động qua lại và tạo nên chỉnh thể riêng biệt

Hiên nay,vẫn chưa có chứng cớ xác thực nào về sự xuất hiện cả tín ngưỡng thờ cúng thần thánh của người Việt vùng đất Trung Trung Bộ nói chung và Quảng Nam nói riêng

Từ thế kỉ XV, khi người phần nhiều là lưu dân từ Thanh Hoá - Nghệ An xuống còn xa lạ với xứ sở một thời là đất Chăm Pa vốn có khí hậu khắc nghiêt,một vùng đất đầy sóng gió một xứ sở lạ lùng, con chim kêu cũng phải sợ, con cá vùng cũng phải kinh, sự đấu tranh sinh tồn giữa con người và tự nhiên diễn ra quyết liệt và nhiều khi

sự thắng thế thuộc về thiên nhiên, do đó thờ cúng thần thánh còn được xem như là một chỗ dựa về tinh thần, nơi họ nhận được sự chở che, phù trợ của các bậc bề trên, những lực lượng có sức mạnh siêu nhiên Từ hoàn cảnh đó người dân nơi đây nảy sinh những hình thức cúng bái Đây là cơ sở và điều kiện để hình thành quan niệm thờ cúng thần thánh với sự đa dạng và nhiều lễ nghi được hình thành từ xa xưa cho đến nay Đó là những vị thần được thờ trong gia đình như thần tài, thổ địa, thánh

Trang 24

sư hay những thần thánh được thờ cúng tại nơi sinh hoạt cộng đồng như thần thành hoàng, Nam Hải Ngọc Lân

Quan niệm về thờ cúng thần thánh của người Việt ở Quảng Nam cũng như nhiều phong tục tín ngưỡng khác vốn chịu ảnh hưởng không nhỏ của văn hóa Chăm-pa.Trải qua thời gian, sự ảnh hưởng đó đã dần phai nhạt nhưng nhiều nét Chăm-pa vẫn tồn tại trong quan niệm về thờ cúng thần thánh của người Việt ở Quảng Nam Đó

là tín ngưỡng thờ nữ thần, điển hình là thờ cúng bà chúa Ngọc-bà mẹ xứ sở của người Chăm

Quan niệm về thờ cúng thần thánh của Quảng Nam không thoát li khỏi những quan niệm truyền thống của người Việt nhưng cũng có những nét riêng do được hình thành ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố đặc trưng từ vùng đất

2.3 iều kiện hình thành tín ngưỡng thờ úng thần thánh ở Quảng N m

2.3.1 Điều ki n về tự nhiên

Ngay từ khi mới quy dân lập làng, lập ấp, cuộc sống của người Quảng còn hết sức khó khăn Muốn tồn tại, người dân nơi đây phải khắc phục những khó khăn do môi trường nơi sinh sống đặt ra, tiến lên thiết lập một vùng đất có các đơn vị hành chính quy cũ Cơ sở thực tiễn luôn là trực quan sinh động tác động vào nhận thức của con người, cho nên đầu tiên là nhận thức thế giới quan tự nhiên quanh mình và nhận thức chính mình trong hoàn cảnh hiện thực đó

Nói đến thế giới tự nhiên là lực lượng thiên nhiên như : mưa nắng, gió bão,sấm sét, lụt lội hạn hán, những vụ cháy rừng , các dã thú luôn là lực lượng đáng

sợ Tất cả có thể làm chết người mà việc hạn chế và nhận thức được lực lượng này ngay từ thuở ban đầu ấy là vô cùng bí hiểm Bởi thế, ngay từ thuở ấy, người dân xứ Quảng ngập chìm trong màn sương dày đặt của thần quyền Cứ không nhận thức được thế giới chung quanh thì đó là lực lượng thần linh

Vì quan niệm có thần nên trong nhận thức cưa người dân nơi đây con người khi mất đi cũng là một thần thánh, một lực lượng siêu nhiên để bảo vệ con cháu sinh tồn mãi mãi Do từ thực tiễn hoàn cảnh hay cụ thể hơn là điều kiên tự nhiên mà hình thành nên quan niệm :đương nhiên con người là một thần linh trong muôn nghìn thần linh,còn có khả năng mạnh hơn những lực lượng siêu nhiên khác

Trang 25

Người dân xứ Quảng đa phần sống chủ yếu dựa vào kinh tế nông nghiệp mà nông nghiệp thì phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tự nhiên nên có thể nói tự nhiên là điều kiên đầu tiên ,tất yếu để hình thành nên các quan niệm về thờ cúng thần thánh Nền văn hóa nông nghiệp nơi đây kết hợp với quan niêm về thần linh để từ đó hình thành nên cách nhìn, cách nghĩ mới về thế giới tự nhiên Người dân còn vận dụng yếu

tố thần linh để lý giải “thiên nhiên và con người nơi đây bằng các yếu tố thần thoại

như thần thoại về núi Non Nư c, sự tích về đất Gò Nổi, về sông Hà Sấu, về chùa Bồng Lai, hoặc truyền thuyết về Tháp Chàm” (Văn nghệ dân gian Quảng Nam-Đà

Nẵng.tập 1.NXB Đà Nẵng)

Như vậy, điều kiên tự nhiên là một trong những yếu tố hình thành tín ngưỡng thờ cúng thần thánh ở Quảng Nam Thần thánh là chỗ dựa tinh thần giúp họ vượt qua những khó khăn ban đầu và đến nay tín ngưỡng đó vẫn được duy trì trở thành một thành tố không thể thiếu khi nhắc đến văn hóa Quảng Nam

2.3.2 Điều ki n về lị h sử

Quảng Nam được hình thành từ thế kỉ thứ XV, một vùng đất mà các lưu dân

từ Thanh- Nghệ - Tĩnh vượt đèo Hải Vân đến nơi đây an cư lạc nghiệp Khi di cư vào Nam họ mang theo tinh thần Đại Việt, hào khí Đông A vẫn chưa phai nhạt Do đó việc mang theo một số phong tục, tín ngưỡng từ quê hương xứ sở đến vùng đất mới là điều kiên tất yếu Khi vượt đèo Hải Vân, tiếp xúc với thiên nhiên còn đang khắc nghiệt ,người dân xứ Quảng phải bỏ sức lao động, ra công ngày đêm khai phá, bạt núi, ngăn song lập nên cơ nghiệp ngày nay Điều kiện như vậy quả thật là bất biến không thể chọn lựa được mà phải chấp nhận thực tế, trực tiếp và sẵn sang đối phó với mọi tình huống an nguy đến tính mạng có thể xảy ra Những năm (1471), khi nhà Lê

mở đợt khai phá phương Nam, con người nơi đây có ít, cư trú rải rác và chen kẽ với người Chăm Thiên nhiên lại đa dạng, những khó khăn tác động thường xuyên vào hoạt động sinh tồn của con người Từ đó làm nảy sinh một số tín ngưỡng hoặc một số hình thức cầu khấn để mong chế ngự thiên nhiên ,lâu dần trở thành thói quen, bám sâu vào đời sống người dân đất Quảng [ Tập tục xứ Quảng theo vòng đời, Võ Văn Hòe, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.237]

Những năm đầu (1470 ,1471) khi mới lập làng, xứ Quảng nằm sát Chăm-pa, đây là một nhà nước phong kiến phát triển tương đối sớm (thế kỉ XV), ảnh hưởng sâu

Trang 26

đậm của văn hóa Ấn Độ Xã hội Chăm-pa tổ chức không chặt chẽ, chế độ phong kiến không tập quyền nên có cơ hội chia thành nhiều vương quốc (kể cả Chân Lạp và Khơ Me) Xứ Quảng nằm sát Chăm-pa nên có quan hệ tự nhiên, do vậy giao lưu tinh thần

là tất yếu xảy ra Có thể người Quảng Nam du nhập vào Chăm-pa nhiều phong tục tập quán, đồng thời Chăm-pa cũng để lại Quảng Nam nhiều phong tục Từ đó người Quảng Nam cải biến, chọn lọc cho phù hợp với thói quen của mình, biến những yếu

tố ngoại lai thành những thành tố trong một số phong tục và tín ngưỡng để không làm mất đi bản sắc của người Quảng Quá trình tiếp thu, biến đổi đó diễn ra một cách tự giác,quá trình đó cùng với những phong tục tín ngưỡng gốc tạo nên giá trị phổ biến, phù hợp mà vẫn giữ được bản sắc độc đáo của mình

Những biến động của lịch sử dân tộc cũng đã ít nhiều tác động đến văn hóa và tín ngưỡng của vùng đất Quảng Nam.Từ thời các chúa Trịnh –Nguyễn phân tranh, nơi đây là hậu phương cho chúa Nguyễn cho đến phong trào Tây sơn đem lại sự ổn định về mọi mặt tạm thời thì tiếp đó hàng loạt biến cố lịch sử xảy ra mà vùng đất này phải gánh chịu Khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta cho đến 1965 khi đế

quốc Mĩ đưa quân sang Việt Nam Quảng Nam là nơi “đầu sóng ngọn gió” chịu sự

tàn phá của kẻ thù nhưng dù gặp những điều kiên ác liệt đến đâu người dân nơi đây vẫn chiến thắng được kẻ thù xâm lược Mặt dù, trải qua nhiều khó khăn và khắc nghiêt của lịch sử sự phá hoại của chiến tranh nhưng những giá trị về văn hóa và tín ngưỡng vẫn in sâu trong đời sống của người dân và được lưu giữ cho đến bây giờ Những thử thách của lịch sử dường như đã giúp cho văn hóa nói chung và các tín ngưỡng ở Quảng Nam nói riêng được duy trì và phát huy sâu rộng hơn trở thành một nét văn hóa độc đáo của vùng đất này

2.3.3 Điều ki n nhận thứ và á yếu tố khá

- Về nhận thức

Trong buổi bình minh của loài người, khi loài người bắt đầu nhận thức và lý giải các hiện tượng xảy ra xung quanh, họ thường gắn chúng với tư duy sơ khai của mình, họ cho rằng mọi vật đều có linh hồn Cư dân địa phương cho rằng con người có

3 hồn 7 vía (nam) hoặc 3 hồn 9 vía (nữ).Giữa hồn và vía không có sự phân biệt cụ thể Khi còn sống, hồn của người thường ở đỉnh đầu, gáy, 2 vai Khi chết, linh hồn không mất đi, mà chỉ thoát khỏi thể xác để sang thế giới khác Những kẻ bất đắc kỳ

Trang 27

tử, chết đường, chết sông, linh hồn vất vưởng, do đó phải lập miếu âm linh để thờ hoặc lập đàn cúng tế Các con vật nuôi trong nhà cũng có hồn, sau khi chết thường có

ma Hiện tượng ma heo, ma trâu, ma gà, ma chó vẫn được dân gian truyền miệng Một số loài cây sống lâu năm cũng có ma, có hồn Các vật vô tri như: Sắt, đá, gỗ được xem là không có hồn, nhưng nếu tồn tại lâu năm và gặp các biến cố đặc biệt nào

đó có thể trở thành tinh quấy phá con người Sự phân biệt này thể hiện sự phát triển

về nhận thức và xã hội nói chung.Từ những nhận thức này người dân nơi đây hình

thành tín ngướng thờ cúng

Tín ngưỡng thờ cúng thần thánh hình thành từ tâm lý khiếp sợ, từ sự bất lực của con người trước các hiện tượng tự nhiên và xã hội, nhất là các hiện tượng chi phối trực tiếp đến đời sống con người Biểu hiện của tín ngưỡng này là sự linh thiêng hóa tự nhiên thành các thần thánh- Lực lượng siêu nhiên khống chế đời sống con người Dấu vết tín ngưỡng thần thánh được bảo lưu trong đời sống tinh thần của cư dân bản địa dưới nhiều hình thức khác nhau Trong nhà có hình thức thờ ngũ tự, thần giếng, thần bếp, thần đất, ông bình vôi Ngoài làng xã, cư dân địa phương thờ nhiều

vị thần như thành hoàng, Bà Chúa Ngọc, thờ Nam Hải Ngọc Lân, thờ cúng cô hồn

,âm binh

Theo nghiên cứu người ta đếm được 45 tên thần trong một bản văn tế cá Ông tại làng Câu - xã Cẩm An, trong đó có các thần gắn với tín ngưỡng dân gian như thần sấm, thần gió, thần sóng, thần cửa biển, thần trống chầu, thần thủy đạo sự giao lưu, chuyển hóa qua các thời kỳ thể hiện ở sự phân đẳng cấp giữa các thần, việc phong danh hiệu, mỹ tự, việc thay đổi tên gọi dân gian thành Hán tự Thần Đất được chuyển thành Khai hoàng hậu thổ vạn phước nguyên quân; rái cá là Đông Nam soát hải lang, lại nhị đại tướng quân; Thần Bếp là Đông trù Tư mạng Táo phủ thần quan; cá Ông là Nam Hải Cự tộc Ngọc lân tôn thần, nữ thần Ponagar của Chàm thành Thiên Y-a-na diễn phi Chúa Ngọc Tách bóc lớp vỏ giao lưu chuyển hóa này, chúng ta bắt gặp ở đây hình thức tín ngưỡng đa thần thời kỳ sơ khai của cư dân bản địa

Như vậy, ngay từ buổi ban đầu cho đến nay người dân ở vùng đất Quảng Nam

đã nhận thức được có rất nhiều vị thần xung quanh cuộc sống của mình, đó cũng là chỗ dụa tinh thần giúp họ vượt qua những khó khăn trong cuộc sống mưu sinh

Trang 28

- Các yếu tố khác

Việc hình thành tín ngưỡng thờ cúng thần thánh ở Quảng Nam còn chịu ảnh hưởng từ những tư tưởng ngoại lai Đó là hệ tư tưởng của Nho giáo, Đạo giáo, Phật

giáo

Người Việt nói chung và người Quảng Nam nói riêng chịu ảnh hưởng của các

tư tưởng Nho giáo từ rất sớm, họ tin vào lực lượng thần linh mà thờ cúng thần linh tồn tại song song với thờ cúng ông bà đã có truyền thống từ trước

Cư dân Quảng Nam quan niệm về ba thế giới, ba cõi: Trời, Người, và Cõi âm Trời là thế giới linh thiêng ở trên cao, là nơi ngự trị của Ngọc Hoàng Thượng đế (dân gian quen gọi là Ông Trời) và các vị thần, phật, chỉ những người đức độ, hiền lành sau khi chết mới được dự vào.Thế giới người sống là cõi dương, dương thế Sau khi chết, con người vào thế giới khác là cõi âm hay âm phủ, ở sâu dưới lòng đất Âm phủ

là thế giới tối tăm, lạnh lẽo, nơi đó diễn ra sự phán xử, sự trừng phạt những hành vi tội lỗi của con người lúc còn trên dương thế Quan niệm này chịu ảnh hưởng nặng nề của giáo thuyết Phật, Đạo ảnh hưởng này còn thể hiện ở sự lưu truyền rộng rãi của thuyết định mệnh, thuyết nhân quả, thuyết âm dương - ngũ hành trong đời sống tinh thần của cư dân

2.4 Cá thần thánh tiêu iểu đượ thờ úng

2.4.1 Thần thánh đượ thờ úng tại gi

2.4.1.1 Thờ cúng thần tài, thổ địa

- Quan niệm, đặc điểm

Theo khảo sát tại Hội An thì có 81% hộ gia đình tại trung tâm thành phố Hội

An thờ thần tài, thổ địa và từ đó cũng có nhiều quan niệm khác nhau về thần tài, thổ địa Có nhiều quan niệm cũng như những sự tích khác nhau về sự xuất hiện của thần tài, thổ địa, theo lời kể của cụ bà Trần Thị Hoa, 78 tuổi, tại huyện Duy Xuyên kể lại,

bà thường được nghe kể lại như sau: Ngày xưa, có một người lái buôn tên là Âu Minh khi đi qua hồ Thanh Thảo được Thủy Thần cho một con hầu tên là Như Nguyệt Âu Minh đem Như Nguyệt về nuôi, trong nhà làm ăn phát đạt, chỉ vài năm là giàu to Về sau, đúng vào một hôm ngày tết, Âu Minh giận, bèn đánh Như Nguyệt Sợ hãi, Như Nguyệt chui vào đống rác rồi biến mất Từ đó, nhà Âu Minh sa sút dần, chẳng mấy lúc nghèo kiết

Trang 29

Người ta bảo Như Nguyệt là Thần Tài và người ta lập bàn thờ Như Nguyệt Từ

đó, ngày tết ta có tục kiêng hốt rác ba ngày đầu năm vì sợ hốt mất Thần Tài ẩn trong đống rác đổ đi, sự làm ăn sẽ không phát đạt, tiến tới được

Đồng thời, sự kết hợp thần tài và thổ địa trong cùng một khám là sự kết hợp giữa thần tài, thổ địa

Cũng có quan niệm cho rằng sự kết hợp giữa Thổ Địa (Thần Đất) và Thần Tài trong cùng một khám và tục đặt khám thờ dưới đất có thể là dấu vết xa xưa của tín ngưỡng phồn thực khi mà đất đai được xem là bà mẹ vĩ đại sinh sôi ra mọi nguồn của cải vật chất cho cuộc sống con người

Thần Tài là một phiên bản của Thần Đất (Thổ Địa) – vị thần hộ mệnh của xóm làng, cai quản vùng trời, đất đai, phù hộ con người và gia súc trong xóm làng, mùa màng bội thu Khi những cư dân từ miền bắc vào khai khẩn vùng đất Quảng Nam, họ gặp phải rất nhiều khó khăn (thiên nhiên khắc nghiệt, thời tiết thất thường, thú dữ hoành hành…) và ý niệm trông mong vào các vị thần bắt đầu hình thành để giúp họ trấn an trên con đường mưu sinh

Thần Đất cũng là một trong các vị thần bản địa được họ mang vào phương Nam để thờ phụng, cầu mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu Dần dà về sau, thương nghiệp phát triển, kinh tế hàng hóa phổ biến, nhu cầu mua bán, trao đổi phát triển, người ta cần vàng và tiền bạc hơn Lúc đó, vàng, tiền bạc là thước đo của cuộc sống sung túc và nghèo hèn nên Thần Tài xuất hiện Thần Tài chẳng qua là một dạng thức khác của Thần Đất Nếu Thần Đất là vị thần bảo hộ cây trái, hoa màu, thể hiện tính lý nông nghiệp thì Thần Tài là vị thần trông coi tiền tài, vàng bạc, là dấu ấn của thời kỳ kinh tế thương nghiệp

Qua các thời kỳ, hình tượng của Thần Tài có ít nhiều thay đổi Có lúc tượng Thần Tài đầu đội mũ cánh chuồn, hai tay để trên gối, mặc áo thụng, chân đi hài đảo sen, tay cầm túi vải để đựng tiền Lại có lúc tượng Thần Tài ngồi với tư thế chân co, chân xếp, tay cầm bó lúa và đầu để trần Sau này có loại tượng Thần Tài cầm xâu tiền hoặc cầm một thoi vàng xuồng

Mặc dù Thần Tài được xem là một hình tượng khác của Thần Đất, nhưng tựu trung, cả hai vị thần vẫn có quyền uy giúp cho con người làm ăn phát đạt, tài lai lộc tấn Vì vậy, cư dân Quảng Nam hiếm khi thờ cúng Thần Tài một mình, mà thường

Trang 30

thờ cúng chung với Thổ Địa – vị thần cai quản đất đai, nhà cửa Người ta không chỉ cúng Thần Tài, thổ địa vào ngày tết, mà cúng quanh năm, nhất là những gia đình chuyên nghề buôn bán Người ta tin rằng chỉ khi nào lo cho vị thần này chu đáo thì ông mới phù hộ

Vào ngày tết, vai trò của Thần Tài càng được xem trọng hơn Người ta lo trang hoàng nhà cửa, sửa soạn cho ông sạch sẽ, nếu vị thần này đã quá cũ hay bị hư thì sẽ thỉnh vị mới về Họ tin rằng năm mới, mọi thứ đều ngăn nắp và Thần Tài có sạch sẽ thì làm ăn mới phát tài

- Bàn thờ, bài vị và cách bố trí việc thờ cúng

Theo khảo sát tại 20 hộ gia đình buôn bán tại huyện Thăng Bình thì có đến 98% số hộ đặt bàn thờ thần tài thổ địa ở góc phòng khách dưới nền để nhìn thẳng ra đường Sở dĩ như vậy vì theo khảo sát tại một số gia đình gốc Hoa tại Hội An, thì vị trí đặt bàn thờ thần tài thổ địa cũng được lý giải bằng câu chuyện liên quan đến vua Càn Long: Tương truyền, trong một chuyến vi hành vua Càn Long ghé lại một quán

ăn Tại đây, do thiếu chỗ ngồi nên vua Càn Long đã sai người khiêng khám thần tài đặt xuống đất để lấy chỗ ngồi, khi Càn Long rời khỏi, chủ quán đã đặc khám thờ về

vị trí cũ Đêm ấy chủ quán nằm mơ thấy thần tài về bảo rằng: Hãy đặt khám thờ xuống đất vì nhà vua muốn như vậy Chủ quán đã làm theo giấc mộng và tục đặt khám thần tài dưới đất bắt đầu từ đó [ Di sản Văn hóa Văn nghệ dân gian Hội An, Trần Văn An, tr 213]

Bàn thờ Ông Địa Thần Tài là tín ngưỡng dân gian mọi nhà giống nhau, đặt gần cửa với ý nghĩ để nghinh tiếp tài lộc.Trên trang thờ có tượng Thần tài bên trái và Thổ địa bên phải, đôi chân đèn nhỏ, lư hương, bình bông, mâm dĩa trái cây, chung rượu, tách nước, có bài vị phía trong cùng màu đỏ ghi 2 vị thần: Ngũ phương ngũ thổ long thần và tiền hậu địa chủ tài thần Trên nóc bàn thờ Thần Tài , người ta thường đặt tượng của Di Lặc Phật Vương hay các câu chú Phạn tự để tăng thêm phần bảo vệ cho gia chủ tránh khỏi tai ách Ngoài ra một số gia đình còn để một Ông Cóc ngâm tiền ở bên trái và đặt trên bàn thờ một chùm tỏi Họ cho rằng : ông địa thích tỏi nên ta đặt trước mặt ổng là đúng cách, cho ổng có phương tiện để bài trừ ” các đạo chích vong binh ” ám muội , thực ra họ dùng bó tỏi đó để phòng chống các Tà sư làm ác, phá hoại bàn thờ nhà người ta bằng Bùa, Ngải

Trang 31

- Thời gian và nghi thức thờ cúng

Thông thường lễ cúng thần tài thường được tổ chức vào ngày 16 hoặc mùng 2

âm lịch hàng tháng Và các lễ vật thường có 1 bình bông thọ, trái cây, nhang, nước, thịt heo luộc, bánh chưng mặn

Với lời khấn như sau :

Hôm nay là ngày ….tháng năm Con tên .tuổi .hộ khẩu thường trú đường phường quận Con xin đại diện cho gia đình dâng lễ …… Con xin cung thỉnh Thổ Địa Thần Tài, Long Hổ thần quan, đất đai viên trạch chứng giám cho con và toàn gia trong năm ( ) được bình yên, làm ăn phát đạt, lộc tài dồi dào

Trong các dịp lễ tết, ở mỗi gia đình cũng đều đặt lễ vật để cúng Thần tài, Thổ địa Các nhà làm ăn buôn bán vào sáng sớm, khi mở cửa bán hàng người ta thắp hương cầu khẩn bàn thờ Thần tài “độ” cho họ mua may bán đắt, cúng cho Ông Địa một ly cà phê đen kèm theo một điếu thuốc để ông “độ” cho trong ấm ngoài êm Đây là hình thức tín ngưỡng phổ biến của những người buôn bán được lưu truyền từ xa xưa đến nay đã trở thành một thành tố trong tín ngưỡng của người dân

Quảng Nam

2.4.1.2 Thờ cúng ngũ tự gia đường

- Quan niệm, đặc điểm

Ngoài việc thờ cúng tổ tiên trong gia đình, cư dân Quảng Nam còn có hình thức ngũ tự Đây là hình thức mới của tín ngưỡng thờ đa thần

Tục cúng ngũ tự có nguồn gốc từ xã hôi sơ khai, được phổ biến nhiều ở khu vực Phương Đông Trong kinh Lễ, thiên Nguyệt lệnh có ghi ngũ tự là hình thức cúng các vị thần trong gia đình là: Môn thần, Hộ thần, Tào thần, Hành thần, Trung lưu thần Tục này gia nhập vào nước ta từ khá sớm, được cư dân Quảng Nam bảo lưu từ đời này sang đời khác Quá trình bảo lưu đồng thời cũng là quá trình giao lưu, chuyển hóa do đó đã có sự thay đổi so với nguyên gốc Cư đân người Việt ở Quảng Nam rất sùng tín hình thức này

Theo quan niệm dân gian, ngũ tự là vị thần tối cao trong phạm vị gia đình

“Nhứt gia chi chủ, ngũ tự chi thần”, vì thế,án thờ ngũ tự được thiết kế trên cao

Do có sự giao lưu, chuyển hóa qua nhiều thời kì nên tại đây hiện nay vẫn lưu truyền nhiều hình thức thờ ngũ tự khác nhau

Trang 32

Bảng 3: Một số hình thức thờ ngũ tự gia đường tại thành phố

Hội An – Quảng Nam

ình thứ ngũ tự ị phương Ngành nghề Người ung ấp -Ông Táo

Thôn Thanh Tây,

xã Cẩm Châu Nông nghiệp

Ông Đinh Thừa,

81 tuổi, đội 9, thôn Thanh Tây, xã Cẩm Châu

-Cửu Thiên uyền

Nữ Phường Cẩm Phô

Buôn bán Nông nghiệp

Bài vị ở nhà ông Trần Văn Nhân,

Trang 33

“Nguồn: Sách Di sản Văn hóa Văn nghệ dân gian Hội An, Trần Văn An”

Tuy có nhiều quan niệm và hình thức thờ ngũ tự gia đường nhưng người dân Quảng Nam quan niệm thờ ngũ tự là thờ năm yếu tố :kim, mộc ,thủy, hỏa, thổ Đó

là năm yếu tố cấu thành nên vũ trụ theo quan niệm ảnh hưởng từ phái âm dương gia Năm yếu tố đó tượng trưng cho năm vị thần trông coi cai quản và sắp đặt vận mệnh cho một gia đình, gồm thần Bếp, thần Giếng, thần Cổng, Tiên sư bổn mạng và Cửu thiên huyền nữ Thần Bếp hay Táo Quân được xem là thần quan trọng nhất trong ngũ tự( nhưng đối với nhứng gia đình làm nghề thì Tiên sư bổn mạn là vị thần đóng vai trò quan trọng nhất đối với gia chủ)

Trong mỗi gia đình người Quảng Nam, ta dễ nhận thấy đây là bàn thờ mà bất

cứ gia đình nào cũng phải có

- Bàn thờ và cách bố trí việc thờ cúng

Trong thờ cúng thần thánh, bàn thờ là biểu hiện sinh động nhất, thiết thực nhất, gần gũi nhất của tín ngưỡng trong đời sống con người và bàn thờ ngũ tự cũng vậy

Mỗi gia đình ở Quảng Nam dù giàu dù nghèo đều có một không gian nhất định dành cho việc thờ cúng, tế tự Bàn thờ ngũ tự thường được đặt trang trọng, ngay giữa nhà, trên bàn thờ gia tiên nếu có Đây là nơi thể hiện tập trung quan niệm của cư dân trong sinh hoạt tín ngưỡng tinh thần Về tính chất, nơi đây là nơi trang nghiêm nhất trong mỗi gia đình Theo quan niệm của người dân đây cũng là nơi xảy ra sự giao lưu, tiếp xúc giữa bậc thần thánh và những người đang sống ở dân gian

Một số gia đình ở Quảng Nam, trong nhà thường có các hình thức thờ Phật, thờ Bà, thờ tổ tiên Nếu có bàn thờ Phật thì người ta không có bàn thờ ngũ tự gia đường

Trang 34

Với việc thờ ngũ tự thì người Quảng Nam không thờ bằng tủ thờ mà chủ yếu làm một giá thờ trên cao hay còn goi là trang thờ Trang thờ thường được làm bằng xi măng hay gỗ là chủ yếu

Trên trang thờ được bố trí cũng khá đơn giản bao gồm một lư hương cho năm

vị gia thần, hai bên là hai chân đèn dùng để đốt nến trong lễ cúng và một bình hoa ( thường thì người dân nơi đây thường hay thờ cây thần tài để cầu mong tài lộc) Vào những ngày thờ cúng nhất định thì người dân mới đăt lễ vật lên trang thờ

Ngoài việc bố trí một bàn thờ chung cho các vị thần trên một bàn thờ thì mỗi

vị thần trong Ngũ tự gia đường lại có một nơi thắp nhang riêng, như thần Táo thì thờ nơi bếp, thần Cổng thì thắp nhang nơi cổng, thần Giếng thì có bàn thờ nơi giếng

Với người Việt ở Quảng Nam, việc bố trí bàn thờ ngũ tự không quá cầu kì, nặng về hình thức nhưng những ý nghĩa sâu xa vẫn được bảo tồn; những nét riêng vốn có của hình thức thờ tự này vẫn được lưu truyền ở nơi đây qua nhiều thế hệ và nó

đã trở thành một phần không thể thiếu trong tín ngưỡng của người dân

- Thời gian và nghi thức thờ cúng

Việc thờ cúng Ngũ tự gia đường đối với mỗi gia đình người Việt ở Quảng Nam là rất quan trọng và thiêng liêng, thể hiên sự thành kính với các bậc thần linh , cầu xin phù hộ cho các thành viên trong gia đình

Các vị thần Ngũ tự gia đường thường được cúng tế vào các ngày sóc vọng và

lễ tết trong năm Ngoài ra việc thờ cúng Ngũ tự còn diễn ra vào các dịp quan trọng như tang ma, giỗ chạp, cưới xin, của gia đình, điều này được thể hiện qua bảng sau: Bảng 4: Thời gian diễn ra thờ cúng

iỗ , tết

Trướ á sự kiện trong nhà (đám ưới, đám

t ng, xây nhà, đi thi…)

Trang 35

Nhận xét: Qua bảng ta thấy được thời gian diễn ra lễ thờ cúng Ngũ tự gia đường tai mỗi nơi là khác nhau.Ở Hội an, ngày giỗ tết là 21.5%, trước các sự kiên trong nhà là 16.5% và các ngày rằm, mùng 1 là 62%.Tại Duy xuyên, ngày giỗ tết là 19.3%, trước các sự kiên trong nhà là 7.7%, các ngày rằm, mùng 1là 73% Tại huyện Thăng Bình ngày giỗ tết là 28%, trước các sự kiên trong nhà là 15%, các ngày rằm, mùng 1là 57% Và tại thành phố Tam Kì, ngày giỗ tết là 23%, trước các sự kiên trong nhà là 7%, các ngày rằm, mùng 1là 70%

Như vậy, việc thờ cúng diễn ra chủ yếu là vào các ngày rằm và mùng 1 âm lịch hàng tháng, cũng có một số gia đình cúng vào 14 và 30 âm lịch tùy theo thói quen truyền thống của gia đình quy định

Riêng thần Táo quân mỗi năm có ngày cúng riêng đó là ngày Tết ông Táo 23 tháng Chạp âm lịch

Vì các vị thần trong Ngũ tự gia đường được xem là các vị thần chủ nhà, cai quảng trông coi và sắp đặt vân mệnh cho một gia đình nên khi gia đình có lễ cúng bái gì thì cũng phải đặt lễ vật và thắp hương trên bàn thờ Ngũ tự trước

Lễ vật thờ cúng Ngũ tự gia đường cũng rất đơn giản, không có quy định bắt buộc, tùy tâm nhưng điều cơ bản phải là nhữn thứ thanh khiết và được dành riêng cho việc thờ cúng Thông thường lễ vật cúng thường là hoa, trái cây, đèn nến, hương, chén nước Đặc biệt, trên bàn thờ Ngũ tự chỉ cúng đồ ngọt hoặc chay như chè, xôi hay bánh kẹo chứ không cúng đồ mặn như cúng các vị thần khác Vào các dịp như tết Nguyên đán, ngày giỗ của tổ tiên mỗi gia đình có thể cúng nhiều lễ vật hơn các dịp khác

Khi cúng thì chủ gia đình phải bày đồ lễ vật lên trang thờ, sau đó đốt nén, thắp nhang và cầu khấn mong muốn của gia chủ

Ở mỗi gia đình người Quảng bàn thờ ngũ tự gia đường bao giờ cũng được thắp hàng ngày vào mỗi buổi tối Thường theo quy định từ xa xưa người ta chỉ thắp trên trang hàng ngày một nén hương đại diên cho năm vị thần trong một còn những ngày đặt biệt như các ngày sóc vọng hàng tháng hoặc các dịp tết, cúng giỗ thì người ta thắp năm nén hương cho mỗi vị thần Tại các nơi thờ tự riêng của mỗi vị thần như Táo quân, thần Ngỏ, thần Giếng thì thắp một nén hương ở mỗi nơi Việc thắp hương

Trang 36

trên bàn thờ bao giờ cũng phải thắp theo số lẻ , tránh thắp số chẵn như 2, 4, 6 Vì người ta quan niệm rằng, số lẻ là âm nên nó phù hợp với cõi âm và thánh thần

Khi cúng thì phải chắp tay ngang trán khấn Khấn là lời của gia chủ bày tỏ lòng biết ơn và cầu nguyện của gia đình

Lời văn khấn Ngũ tự thường rất đơn giản mà không có một quy định cụ thể Ví

dụ một bài khấn của gia đình ông Nguyễn Thà ở Tam kì:

Kính thưa Ngũ tự gia đường năm vị tư ng quân (Kim, Mộc, Thủy ,Hỏa, Thổ)

Độ trì cầu phư c đức ban lành cho gia chủ

Trong một năm mọi việc tai qua nạn khỏi, con cháu an lành

Thường thì mỗi gia đình có một cách cầu khấn riêng tùy theo tâm Sau khi khấn, gia chủ vái hay lạy trước trang thờ với lòng thành kính

Vái thường được áp dụng ở thế đứng, vái là chắp hai bàn tay lại để trước ngực rồi đưa lên ngang đầu, hơi cúi đầu và khom lưng xuống rồi sau đó ngẩng lên, đưa hai bàn tay xuống lên theo nhịp lúc cúi xuống khi ngẩng lên

Lạy là hành động bày tỏ lòng tôn kính chân thành với tất cả tâm hồn và thể xác đối với thần thánh hay người quá cố vào bậc trên của mình

Sau đó, đợi các ba tuần hương thì gia chủ lễ tạ,rót nước xúc miệng rồi xin lộc

hạ lễ

2.4.1.3 Thờ cúng Thánh sư (nghệ sư)

- Quan niệm, đặc điểm

Quảng Nam là nơi có nhiều làng nghề truyền thống được hình thành và phát triển từ nhiều đời nay Trải qua hàng trăm, hàng ngàn năm, nghề và làng nghề đã tồn tại và phát triển ở đây như một phần không thể tách rời lịch sử mỗi làng quê, thôn xóm của vùng đất này Để tưởng nhớ đến công đức của cha ông, những người đã có công khai sinh, truyền nghề cho dân làng người dân tại mỗi làng nghề đều tổ chức thờ

cùng Thánh sư hay tổ nghề của mình

Thánh Sư còn gọi là Tiên sư,Tổ nghề hay Nghệ Sư Tức là ông tổ một nghề

nào đó, người đã khai phá ra nghề đó và truyền lại cho các thế hệ sau

Mỗi nghề ở làng quê Việt nam nói chung và Quảng Nam nói riêng đều có một

vị Thánh Sư Họ chỉ là con người bình thường nhưng được nhân dân tôn thờ vì họ đã

Trang 37

tao ra nghề và truyền dạy cho dân chúng Vị tổ sư một nghề, hoặc là người thủy tổ có thể là người phát minh ra nghề ấy, hoặc là người thứ nhất đem nghề ấy ở nơi khác truyền lại cho dân chúng Thường người ta không biết vị tổ sư ấy là ai, và người ta

cứ coi vị tổ sư như một vị thần bảo hộ cho nghề nghiệp của mình [ Phong tục thờ cúng trong gia đình, nơi công cộng Việt Nam, Toan Ánh, Nxb Thanh niên, tr.35]

Tại Quảng Nam, một số nơi có làng nghề thủ công truyền thống người dân thường thờ Thánh Sư (Tổ nghề) để tưởng nhớ công ơn các bậc đi trước có ơn khai sinh ra nghề Tổ nghề thường không có tên cụ thể Ví dụ nghề mộc Kim Bồng cúng Tiên sư là Cửu Thiên Huyền Nữ và Lỗ Ban, Lỗ Bốc Nghề gốm cũng cúng Cửu Thiên Huyền Nữ và hai bà Phước, Tích, tương truyền rằng đó là hai người đầu tiên truyền bá nghề gốm ở Nam Diêu, Thanh Hà hay tại làng đúc đồng Phước Kiều thờ Cụ Dương Ngọc Chúc, còn có tên Dương Không Lộ là một trong những tiền hiền khai cư

ra làng đúc đồng Phước Kiều tính đến nay đã trên 400 năm

Người Quảng Nam rất quý trọng Thánh Sư nên ngòai việc thờ Thánh Sư tại miếu chung của phường, làng nào theo nghề nào thường có miếu thờ vị tổ sư của

nghề đó, và riêng những người hành nghề, trong nhà đều có bàn thờ Thánh sư còn gọi

là Nghệ sư và chủ yếu là thờ tại nhà thợ cả hay thợ chủ

- Bàn thờ và cách bố trí việc thờ cúng

Tại Quảng Nam hiên vẫn còn nhiều làng nghề truyền thống Đối với các làng hoặc các cụm dân cư hay nhóm nghề thủ công thì đều có hình thức thờ tổ nghề đó là lập miếu hoặc thờ tổ nghề tại nhà thợ cả hay thợ chủ

Tại các nhà thợ cả hay thợ chủ bàn thờ được đặt ở nơi trang trọng, có khi được thờ tự ở một gian nhà riêng Như ở làng mộc Kim Bồng thuộc xà Cẩm Kim, Hội An

Tổ nghề được thờ tại nhà Ông Huỳnh Ri là thợ cả của làng nghề

Bàn thờ Thánh sư cũng đơn giản như bàn thờ Thổ công, nhưng cần nhất là phải có bài vị, bức chân dung vẽ hoặc pho tượng Thánh sư, bên ngoài cũng treo y môn phủ kín

Bàn thờ Thánh sư là một hương án kê sát tường hậu của gian nhà Trong cùng chính giữa hương án đặt một chiếc bệ, trên bàn kê bài vị của Thánh sư gồm tên họ, nghề nghiệp sáng tạo của Thánh sư Có khi bài vị được thay bằng bức vẽ chân dung hoặc tượng của Thánh sư

Trang 38

- Thời gian và nghi thức thờ cúng

Thờ Thánh sư tại nhà gặp những ngày tuần tiết sóc vọng, giỗ tết, ngoài lễ cúng gia tiên và Thổ công, gia chủ còn cúng cả Thánh sư

Trong một năm, lễ cúng Thánh sư quan trọng nhất nhằm vào ngày kỵ nhật của Thánh sư, đối với những vị mọi người đều biết, hoặc là một ngày nhất định mà mọi người trong phường hoặc trong làng cùng theo một nghề kể là ngày kỵ nhật của ông

Tổ nghề mình Ngày kỵ nhật của vị Thánh sư tại các phường còn được gọi là

ngày giỗ phường Các phường có lập miếu riêng, trong trường hợp cả làng đều theo

một nghề, thì cả làng chỉ có một miếu, và có khi vị Thánh sư lại chính là vị Thành

hoàng làng

Nghề mộc Kim Bồng (nay thuộc xã Cẩm Kim) thờ tổ nghề vào ngáy 6 tháng giêng âm lịch Nghề gốm Thanh Hà cúng vào ngày mùng mười tháng giêng âm lịch.Tại các lò thợ rèn thì cúng ông tổ vào ngày đầu năm vào ngày 18/2, các hiệu may thì cúng tạ tổ vào dịp 12/12 âm lịch cuối năm tại gia đình

Các nghi lễ thờ cúng Thánh sư cũng đơn giản, vào ngày Kị nhật của Thánh sư hay các ngay sóc vọng trong tháng, ngày lễ tết trong gia đình gia chủ dặt lễ vật trên bàn thờ Thánh sư và làm lễ cúng như nghi thức các thần linh khác trong nhà

Vào ngày kỵ nhật của Thánh sư nghi lễ thường tổ chức trang trọng hơn Các thành viên trong cùng một làng nghề tới nhà thợ chủ để thắp hương và dâng lễ

Văn khấn Thánh Sư :

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

- Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương

- Kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần

- Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ thần quân

- Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quan trong xứ này

Tín chủ con là Ngụ tại

Hôm nay là ngày tháng năm

Tín chủ con thành tâm sắm lễ, hương hoa trà quả, đốt nén tâm hương dâng lên trư c

Trang 39

án, thành tâm kính mời: Đức Hoàng thiên hậu Thổ Chư vị Tôn Thần, ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ Địa, ngài Bản gia Táo Quân cùng Chư vị Tôn thần Con kính mời ngài Thánh sư nghề

Cúi xin Chư vị Tôn thần Thánh sư nghề thương xót tín chủ, giáng lâm trư c án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù Trì tín chủ chúng con toàn gia an lạc, công việc hanh thông Người vượng, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm

Chúng con lễ bạc tâm thành, trư c án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Ngoài ra, mỗi khi bắt đầu kinh dinh một việc quan trọng cùng khi hoàn thành

công việc người ta đều phải làm lễ tổ sư Có nhiều nghề, ở một vài nơi, ngoài hai lễ bắt đầu và hoàn tất nói trên, trong khi đương làm công việc còn phải làm nhiều các lễ khác để cầu xin Thánh sư che chở cho

Thờ cúng Thánh sư hay tổ nghề được coi là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam nói chung và người dân Quảng Nam nói riêng, nó thể hiện sự biết ơn những vị sáng lập, mở mang tri thức ngành nghề cho nhân dân, di dưỡng đạo lý

“uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

2.4.2 Cá thần thánh đượ thờ úng tại nơi sinh hoạt ộng đồng

2.4.2.1 Thờ cúng Thành hoàng

- Quan niệm, đặc điểm

Theo các nhà nghiên cứu, Thành hoàng là từ Hán Việt : “Thành” là tường thành, hào lũy, “Hoàng” là con hào có nước ở ngoài tường thành Thần Thành hoàng

là vị thần của Thành và hoàng Trong quá trình du nhập vào Việt Nam ý nghĩa của

“Thần Thành Hoàng” đã có sự thay đổi là vị thần trấn giữ và phù hộ cho dân của một làng, có quyền năng siêu việt có mối quan hệ siêu nhiên với dân làng Qua nhiều mối quan hệ ấy trở thành linh thiên trong đời sống tinh thần của mỗi người dân: thờ cúng Thành Hoàng cũng như thờ cúng tổ tiên [ Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam, Nguyễn Duy Hinh, Nxb Khoa học xã hội, tr.43]

Ngày đăng: 09/05/2021, 17:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w