1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong các tác phẩm viết cho thiếu nhi của tô hoài

114 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lí do chọn đề tài (6)
  • 2. Lịch sử vấn đề (8)
  • 3. Mục đích nghiên cứu (10)
  • 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu (10)
    • 4.1 Đối tượng nghiên cứu (10)
    • 4.2 Phạm vi nghiên cứu (10)
  • 5. Giả thuyết khoa học (11)
  • 6. Nhiệm vụ nghiên cứu (11)
  • 7. Phương pháp nghiên cứu (11)
  • 8. Cấu trúc của đề tài (12)
  • Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN (13)
    • 1.1 Giới thiệu về nhà văn Tô Hoài và các tác phẩm viết cho thiếu nhi (13)
      • 1.1.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài (13)
        • 1.1.1.1 Cuộc đời (13)
        • 1.1.1.2 Sự nghiệp sáng tác (14)
      • 1.1.2 Những tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài (16)
    • 1.2 Những vấn đề chung về thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt (17)
      • 1.2.1 Khái niệm về thành ngữ, tục ngữ (17)
      • 1.2.2 Phân biệt thành ngữ và tục ngữ (20)
      • 1.2.3 Đặc điểm của tục ngữ (22)
        • 1.2.3.1 Tục ngữ có tính ngắn gọn, hàm súc (22)
        • 1.2.3.2 Tính đối xứng (23)
        • 1.2.3.3 Tính vần điệu (24)
      • 1.2.4 Đặc điểm của thành ngữ (25)
        • 1.2.4.1. Tính hình tượng (25)
        • 1.2.4.2 Tính chặt chẽ, hàm súc (25)
        • 1.2.4.3 Tính cân đối (25)
        • 1.2.4.4 Tính phong phú và đa dạng (26)
        • 1.2.4.5 Tính quy luật (26)
    • 1.3 Văn miêu tả (27)
      • 1.3.1 Khái niệm về văn miêu tả (27)
      • 1.3.2 Đặc điểm của văn miêu tả (27)
      • 1.3.3 Nội dung dạy học văn miêu tả trong phân môn Tập làm văn lớp 4, lớp 5 (28)
  • Chương 2: THỐNG KÊ, PHÂN LOẠI THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TRONG CÁC TÁC PHẨM VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA TÔ HOÀI (30)
    • 2.1 Thống kê, phân loại thành ngữ, tục ngữ được sử dụng trong các tác phẩm viết cho thiếu (31)
      • 2.1.1 Tiêu chí phân loại thành ngữ (31)
        • 2.1.1.1 Dựa vào kết cấu ngữ pháp (31)
        • 2.1.1.2 Dựa vào nguồn gốc (32)
        • 2.1.1.3 Dựa vào tính biểu trưng (33)
      • 2.1.2 Tiêu chí phân loại tục ngữ (35)
      • 3.2.2 Bài tập tạo lập (66)
        • 2.1.2.1 Dựa vào nội dung phản ánh (35)
        • 2.1.2.2 Dựa vào quan hệ Đề - Thuyết (37)
      • 2.1.3 Bảng thống kê thành ngữ, tục ngữ trong các tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài (39)
    • 2.2 Nhận xét về việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong các tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài (40)
      • 2.2.1 Nhận xét về việc sử dụng thành ngữ (40)
      • 2.2.2 Nhận xét về việc sử dụng tục ngữ (43)
  • Chương 3: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP BỔ TRỢ LUYỆN VIẾT VĂN MIÊU TẢ CÓ SỬ DỤNG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ CHO (46)
    • 3.1 Mục đích xây dựng hệ thống bài tập (46)
    • 3.2 Nội dung xây dựng bài tập (46)
      • 3.2.1 Bài tập nhận diện thành ngữ, tục ngữ (47)
        • 3.2.2.1 Bài tập tạo lập câu văn miêu tả có sử dụng thành ngữ, tục ngữ (66)
        • 3.2.2.2 Bài tập tạo lập đoạn văn miêu tả có sử dụng thành ngữ, tục ngữ (76)
        • 3.2.2.3 Bài tập viết bài văn miêu tả có sử dụng thành ngữ, tục ngữ (81)
    • 1. Một số kết luận (88)
    • 2. Đề xuất kiến nghị (89)
      • 2.1 Đối với giáo viên (90)
      • 2.2 Đối với học sinh (90)

Nội dung

Vì thế, việc phát hiện và tìm hiểu việc sử dụng những thành ngữ, tục ngữ trong các tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài sẽ giúp các em... Giả thuyết khoa học phẩm viết cho thiếu nhi c

Lịch sử vấn đề

Vấn đề nghiên cứu sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong các sáng tác văn chương đã được các nhà nghiên cứu quan tâm từ rất lâu thông qua các bài báo, diễn văn, nghiên cứu khoa học và gần đây nhất là trong các bài viết nhỏ, bài báo cáo khoa học, luận văn tốt nghiệp trong trường đại học Chúng tôi xin điểm qua một số công trình nghiên cứu về thành ngữ, tục ngữ sau:

Nguyễn Lực, Lương Văn Đang, Thành ngữ Tiếng Việt (NXB Khoa học xã hội, 1978) với nội dung chính tìm hiểu về một số đặc điểm của thành ngữ và giải nghĩa thành ngữ Tập sách này tuy còn chưa bao quát hết được tất cả các thành ngữ Tiếng Việt nhưng nó đã cung cấp cho các nhà ngôn ngữ học những ai quan tâm đến thành ngữ, tục ngữ một tài liệu bổ ích, có giá trị to lớn

Nhóm tác giả Hoàng Văn Hành, Nguyễn Văn Khang, Nguyễn Thị Như Ý, Nguyễn Khắc Hùng, Lê Văn Trường, Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ (NXB Khoa học xã hội,1991) đã giới thiệu khoảng 650 câu chuyện thành ngữ và tục ngữ Tiếng Việt

Nhà ngôn ngữ học Hoàng Văn Hành, Thành ngữ học Tiếng Việt (NXB Khoa học xã hội, 2004) đề cập đến việc phân biệt giữa thành ngữ và tục ngữ, cấu tạo và phân loại thành ngữ, nghiên cứu hai thể loại của thành ngữ (thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng và thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng)

Nhà phê bình văn học Thái Hòa, Tìm hiểu cách dùng tục ngữ trong những bài viết và bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên tạp chí Ngôn ngữ ( số 1/1980) Trong bài viết, tác giả đã đề cập đến khả năng sử dụng tục ngữ hết sức linh hoạt của Bác trên hai lĩnh vực nói và viết Có thể nói đây là một bài viết khá sâu sắc và tỉ mỉ đã phân tích được giá trị sử dụng tục ngữ trong những bài văn, bài viết của Bác nhằm cổ động quần chúng tin và làm theo cách mạng

Tác giả Đặng Thái Hòa, Thành ngữ, tục ngữ trong thơ Nôm của Hồ Xuân

Hương đăng trên tạp chí Ngôn ngữ và đời sống ( số 4/2001), sau khi đã khảo sát ba mươi chín bài thơ trong tập Thơ Hồ Xuân Hương tác giả đã nhận thấy rằng

Hồ Xuân Hương khi đưa thành ngữ, tục ngữ vào trong sáng tác thường chủ yếu thông qua hai phương thức đó là sự vận dụng nguyên dạng thành ngữ, tục ngữ và chỉ lấy ý thành ngữ, tục ngữ vào trong sáng tác thơ của mình Bài viết đã làm nổi bật lên biệt tài sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong thơ Nôm của Hồ Xuân Hương

Nhà phê bình Lê Nhật Kí, Thành ngữ, tục ngữ trong truyện đồng thoại của Tô Hoài đăng trên Tạp chí nguồn sáng (số 1/2011) bàn về vai trò của việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong truyện đồng thoại của nhà văn Tô Hoài: “Việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ khiến cho truyện đồng thoại trở nên gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày Trước hết, nó tạo nên sự đồng cảm của độc giả đối với nhà văn khi tìm thấy bóng dáng kinh nghiệm, tri thức của mình được vận dụng trong tác phẩm Người đọc cũng cảm thấy thú vị khi Tô Hoài không chỉ vay mượn mà còn biết làm mới, biết sáng tạo nên những giá trị mới trên nền tảng dân gian Nhờ tài năng của ông, nhiều yếu tố văn hóa dân gian, cụ thể ở đây là thành ngữ, tục ngữ đã có thêm cơ hội để tỏa sáng…”

Tác giả Nguyễn Đăng Diệp, Tô Hoài, người sinh ra để viết đăng trên Tạp chí nhà văn (2011) bàn về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong các tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài Những ngôn ngữ dân tộc giản dị, gần gũi, đời thường nhưng khi đưa vào trong tác phẩm của mình nhà văn lại làm cho những ngôn ngữ ấy trở thành chất liệu văn học độc đáo: “Nói đến Tô Hoài không thể không nói đến tài năng sử dụng ngôn ngữ của ông Tô Hoài rất ít khi dùng thứ ngôn ngữ óng ả, sặc mùi sách vở Chữ nghĩa của ông cất lên từ đời sống Nhưng đó là thứ ngôn ngữ được chắt lọc, kỹ lưỡng Các chi tiết nghệ thuật trong văn Tô Hoài thường là kết quả của một quá trình quan sát tinh tế và sâu sắc Muốn thế, chữ nghĩa phải giàu khả năng tạo hình và có khả năng biểu đạt các tình huống, các sự kiện một cách chính xác nhất”

Nhìn chung, việc nghiên cứu về giá trị vận dụng của thành ngữ, tục ngữ trên các ấn phẩm báo chí cũng như trong các tác phẩm văn chương từ trước đến nay cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, họ mới chỉ đề cập đến chứ chưa thực sự đi sâu vào khai thác, tìm hiểu việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong các tác phẩm dành cho thiếu nhi của Tô Hoài Những công trình, đề tài nghiên cứu trên là tài liệu tham khảo quý giá, bổ ích cho chúng tôi thực hiện đề tài của mình.

Mục đích nghiên cứu

Chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích thống kê, phân loại thành ngữ, tục ngữ trong các tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài và tìm hiểu cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong các sáng tác dành cho thiếu nhi của nhà văn Trên cơ sở đó chúng tôi xây dựng một số bài tập bổ trợ luyện viết văn miêu tả có sử dụng thành ngữ, tục ngữ cho học sinh khá, giỏi lớp 4, lớp 5 nhằm giúp các em rèn luyện và nâng cao kĩ năng vận dụng thành ngữ, tục ngữ.

Giả thuyết khoa học

Nghiên cứu đề tài Tìm hiểu việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong các tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài, chúng tôi hi vọng sẽ tập hợp được hệ thống thành ngữ, tục ngữ trong các tác phẩm viết cho thiếu nhi của nhà văn, nhằm giúp giáo viên và học sinh Tiểu học có cái nhìn tổng thể về thành ngữ và tục ngữ

Ngoài ra việc xây dựng hệ thống bài tập bổ trợ luyện viết văn miêu tả có sử dụng thành ngữ, tục ngữ cho học sinh khá, giỏi lớp 4, lớp 5 còn góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Tiếng Việt, bồi dưỡng kĩ năng nhận diện, luyện viết văn miêu tả có sử dụng thành ngữ, tục ngữ cho học sinh.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến thành ngữ, tục ngữ

- Thống kê, phân loại thành ngữ, tục ngữ trong các tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài

- Phân tích ý nghĩa, nghệ thuật sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong các tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài

- Xây dựng hệ thống bài tập bổ trợ luyện viết văn miêu tả có sử dụng thành ngữ, tục ngữ cho học sinh khá, giỏi lớp 4, lớp 5.

Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: tìm hiểu các vấn đề liên quan đến thành ngữ, tục ngữ

- Phương pháp thống kê: thống kê, phân loại thành ngữ, tục ngữ được sử dụng trong các tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài Từ đó đưa ra nhận xét về cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ của nhà văn

- Phương pháp phân tích: phân tích các tài liệu nghiên cứu về thành ngữ, tục ngữ để làm rõ hiệu quả, tác dụng của việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ Từ đó rút ra những kết luận cần thiết

- Phương pháp tổng hợp: tổng hợp lại các kết quả đã phân tích để xây dựng các bài tập rèn luyện phù hợp.

Cấu trúc của đề tài

Phần mở đầu gồm các tiểu mục sau:

- Lí do chọn đề tài

- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Phần nội dung gồm ba chương:

Chương 1 : Cơ sở lí luận

Chương 2: Thống kê, phân loại thành ngữ, tục ngữ trong các tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài

Chương 3 : Xây dựng hệ thống bài tập bổ trợ luyện viết văn miêu tả có sử dụng thành ngữ, tục ngữ cho học sinh khá giỏi lớp 4, lớp 5

CƠ SỞ LÍ LUẬN

Giới thiệu về nhà văn Tô Hoài và các tác phẩm viết cho thiếu nhi

1.1.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài

Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, sinh ngày 07- 09 - 1920 tại làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay là phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội) Ông có nhiều bút danh khác như: Mai Trang, Duy Phương, Mắt Biển, Hồng Hoa Quê nội ông ở thị trấn Kim Bài huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây nhưng nhà văn sinh ra và lớn lên rất gắn bó với quê ngoại ở làng Nghĩa Đô Là con của một gia đình nghèo làm nghề dệt lụa thủ công, Tô Hoài chỉ học hết bậc Tiểu học, sau đó phải làm nhiều nghề khác để kiếm sống như dạy học tư, thợ thủ công, bán hàng, làm kế toán tiệm buôn…

Năm 1938, ông chịu ảnh hưởng của Mặt trận Bình dân và tham gia hoạt động trong tổ chức Hội ái hữu thợ dệt và Thanh niên dân chủ Hà Nội Năm

1943, Tô Hoài gia nhập Hội văn hóa cứu quốc đầu tiên ở Hà Nội và bắt đầu viết bài cho báo Cứu quốc và Cờ giải phóng Sau Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài tham gia phong trào Nam tiến rồi lên Việt Bắc làm Chủ nhiệm báo Cứu quốc

Năm 1946, nhà văn được kết nạp vào Đảng Từ năm 1951, ông về công tác ở Hội văn nghệ Việt Nam nhưng vẫn tham gia chiến dịch biên giới, theo bộ đội chủ lực tiến vào giải phóng Tây Bắc Sau khi hòa bình lặp lại, trong Đại hội nhà văn lần thứ nhất năm 1957, ông được bầu làm Tổng thư kí của Hội Từ năm

1958 đến năm 1980, Tô Hoài tiếp tục tham gia Ban chấp hành, rồi Phó Tổng thư kí của Hội nhà văn Việt Nam Từ năm 1966 đến năm 1996 ông đảm nhiệm chức Chủ tịch Hội văn nghệ Hà Nội

Tô Hoài đã tự học để trở thành nhà văn Ông là một nhà văn có nghề nghiệp vững vàng với sức sáng tạo công phu dẻo dai, bền bỉ Bằng sức lao động cần cù hiếm thấy, cây bút này đã có những đóng góp đặc sắc cho nền văn học

Việt Nam trước và cả sau Cách mạng tháng Tám Với những đóng góp to lớn cho nền văn học nước nhà, vào năm 1996 ông được nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh Phần thưởng cao quý này khẳng định tài năng, sức sáng tạo dồi dào phong phú, mang bản sắc dân tộc đậm đà, phong cách riêng rõ nét của Tô Hoài

Trên hành trình sáng tạo nghệ thuật hơn 70 năm, Tô Hoài đã trải qua những mốc lịch sử đặc biệt quan trọng: trong chiến tranh và sau chiến tranh, trước và sau cách mạng, trước và sau thời kỳ đổi mới văn học Thành tựu xuất sắc và độc đáo của Tô Hoài là những đóng góp quan trọng cho nền văn học hiện đại Việt Nam Đóng góp ấy thể hiện trên nhiều thể loại và đề tài, từ đề tài miền xuôi đến đề tài miền núi, từ truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện thiếu nhi đến kịch, ký Hầu như ở thể loại và đề tài nào Tô Hoài cũng để lại dấu ấn rõ nét, đúng như Giáo sư Hà Minh Đức đã nhận xét: “Tô Hoài là một cây bút văn xuôi sắc sảo và đa dạng”

Tô Hoài đến với nghề văn ở tuổi mười bảy, mười tám Những sáng tác đầu tay của ông được đăng trên Hà Nội tân văn và Tiểu thuyết thứ bảy Tuy xuất hiện ở giai đoạn cuối của thời kì 1930 - 1945 nhưng Tô Hoài đã sớm khẳng định được vị trí của mình trong đội ngũ nhà văn thời kì này bằng một loạt tác phẩm độc đáo, đặc sắc như : Dế mèn phiêu lưu kí (1941), Quê người (1941), O chuột

(1942), Trăng thề (1943), Nhà nghèo (1944 ) Ở đề tài nào và đối tượng khám phá nào thì thế giới nghệ thuật của Tô Hoài trước cách mạng đều thấm đượm tính nhân văn và mang dấu ấn khá sâu đậm về một quãng đời của ông

Sau Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài có sự chuyển biến mạnh mẽ về tư tưởng và sáng tác Ông đã nhanh chóng chiếm lĩnh hiện thực cuộc sống và sáng tạo thành công nhiều tác phẩm có giá trị ở các thể loại loại khác nhau Tiểu thuyết Miền Tây của ông đạt giải thưởng Bông sen vàng của Hội Nhà văn Á Phi vào năm 1970 Bước chuyển trong sáng tác của Tô Hoài được thể hiện rõ ở cả chủ đề và đề tài Tô Hoài không bó hẹp nội dung và đối tượng phản ảnh trong phạm vi của một vùng dân nghèo ngoại thành Hà Nội nơi ông từng gắn bó, mà ông còn hướng đến một không gian rộng lớn, đến với cuộc sống của nhiều lớp người, nhiều vùng đất khác nhau, nổi bật nhất là miền núi Tây Bắc Ông viết về Tây Bắc không chỉ bằng tài năng nghệ thuật, vốn sống phong phú, mà còn bằng cả tình yêu sâu đậm, thiết tha như chính quê hương mình

Tác phẩm đầu tiên của Tô Hoài viết về miền núi là tập truyện Núi Cứu quốc (1948) Ở tác phẩm này ông đã thể hiện được cảnh sống vất vả, thiếu thốn, nhưng giàu nghĩa tình đối với cách mạng, cũng như ý chí quyết tâm chiến đấu của đồng bào miền núi Với tập truyện Tây Bắc gồm ba truyện: Mường Giơn, Cứu đất cứu mường, Vợ chồng A Phủ, có thể nói Tô Hoài đã thực sự thành công ở mảng đề tài về miền núi Tây Bắc Bằng tài năng nghệ thuật và vốn sống phong phú về Tây Bắc, ông đã thể hiện được một cách chân thật, sinh động những nỗi đau thương, khổ nhục của họ dưới ách áp bức của kẻ thù thực dân phong kiến Ở tiểu thuyết Mười năm, với tầm nhận thức mới về cuộc sống hiện tại nhiều thay đổi mang ý nghĩa lớn trong đời sống dân tộc, Tô Hoài đã phản ảnh chân thật và sinh động hơn cảnh sống bi thảm, cùng quẫn ở một vùng quê ven đô, nơi mà nhà văn đã chứng kiến và trải qua cùng với bao số phận khác

Sau tiểu thuyết Mười năm, Tô Hoài còn viết nhiều tác phẩm khác về ngoại thành Hà Nội như : Quê người, Quê nhà, Những ngõ phố, và gần đây là Chuyện cũ Hà Nội (hai tập) Điều đó cho thấy vốn sống, nguồn tư liệu, cũng như nguồn cảm hứng sáng tác của Tô Hoài về Hà Nội vô cùng phong phú đa dạng Không chỉ thành công ở thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết, Tô Hoài còn đạt được thành tựu đặc sắc ở thể loại kí Nhiều tác phẩm kí của ông xuất hiện sau những chuyến đi lên Tây Bắc như Nhật kí vùng cao, Lên Sùng Đô, Thành phố Lênin, Hoa hồng vàng song cửa, Đặc biệt, Tô Hoài có các tập hồi kí gắn liền với bao nỗi vui buồn và mơ ước của tuổi thơ, bao kỉ niệm về những bạn văn, đời văn của ông như Tự truyện, Cát bụi chân ai, Chiều chiều Cách viết hồi kí của Tô Hoài rất linh hoạt biến hóa, các sự kiện được khai thác theo mạch liên tưởng và đan xen lẫn nhau nên luôn tạo được sức hấp dẫn đối với người đọc Những sáng tác của

Tô Hoài sau Cách mạng tháng Tám đã khẳng định được vị trí và tài năng nghệ thuật của ông trước hiện thực của cuộc đời mới Ông xứng đáng là một tấm gương tiêu biểu trong lao động nghệ thuật để góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

1.1.2 Những tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài

Tô Hoài là một trong những nhà văn rất quan tâm đến đối tượng thiếu nhi Nhà văn Tô Hoài viết khoảng 60 đầu sách dành cho trẻ em, bao gồm: truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim, bút ký, hồi ký, tiểu luận, kinh nghiệm sáng tác v.v… Nhìn chung, ở thể loại nào, đề tài nào, ông cũng có những đóng góp đáng chú ý Các sáng tác của ông chủ yếu viết về ba đối tượng: loài vật, những tấm gương thiếu nhi yêu nước và những câu chuyện trong truyền thuyết, dã sử Ngay cả khi tuổi tác không còn trẻ, Tô Hoài vẫn có được cách cảm nhận và thể hiện đời sống qua những trang văn phù hợp với tâm hồn, nhận thức của tuổi thơ, đưa các em đến với một thế giới biết bao điều kì thú, góp phần bồi đắp vẻ đẹp và sự trong sáng, cao cả cho tâm hồn trẻ thơ

Những vấn đề chung về thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt

1.2.1 Khái niệm về thành ngữ, tục ngữ

Từ xưa đến nay, thành ngữ và tục ngữ luôn được xem là loại hình ngôn ngữ đặc sắc, gắn liền với lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân Đã có rất nhiều bài nghiên cứu, nhiều cuộc tranh luận xung quanh vấn đề xác định khái niệm thành ngữ, tục ngữ nhưng vẫn chưa có thể đưa ra được kết luận thỏa đáng Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, mỗi một lĩnh vực nghiên cứu, mỗi một nhà nghiên cứu sẽ có những cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau về cùng một vấn đề Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu một số quan niệm khác nhau về thành ngữ và tục ngữ

1 Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu văn học thì giữa thành ngữ và tục ngữ thì chỉ tục ngữ được coi là một thể loại của văn học dân gian Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu thì các tác giả văn học luôn đề cập đến bộ đôi song hành thành ngữ, tục ngữ trong sự so sánh, đối chiếu và có thể nói cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm chính xác nào về thành ngữ, tục ngữ Trong số các nhà nghiên cứu văn học đã từng đề cập đến thành ngữ, tục ngữ thì có lẽ Dương Quảng Hàm là người đầu tiên đưa ra tiêu chí để xác định và phân loại thành ngữ, tục ngữ Việt Nam Trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu, ông đã viết: Tục ngữ là những câu nói gọn ghẽ và có ý nghĩa lưu hành từ đời xưa, rồi do cửa miệng người đời truyền đi [4, tr 6], còn Thành ngữ là những lời nói do nhiều tiếng ghép lại đã lập thành sẵn, ta có thể mượn để diễn đạt một ý tưởng của ta khi nói chuyện hoặc viết văn [4, tr 9]

Tác giả Vũ Ngọc Phan trong Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam đã nêu lên khái niệm về thành ngữ, tục ngữ sau khi nhìn nhận và đánh giá một số mặt còn thiếu sót trong cách nhìn nhận của tác giả Dương Quảng Hàm về thành ngữ, tục ngữ Ông đã xác định rằng: Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý, một phán xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán [11, tr 39] còn Thành ngữ là một phần câu đã có sẵn, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự nó không diễn đạt được một ý trọn vẹn [11, tr 39] Quan điểm của Vũ Ngọc Phan đưa ra nhận được sự đồng tình của nhiều người

Tác giả Hoàng Tiến Tựu trong Văn học dân gian Việt Nam cũng đưa ra một số nhận định về thành ngữ và tục ngữ như sau: Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian có chức năng chủ yếu là đúc kết kinh nghiệm, tri thức, nêu lên những nhận xét dưới những câu nói ngắn gọn, súc tích, giàu vần điệu, hình ảnh dễ nhớ, dễ truyền [13, tr.129] Bên cạnh đó, ông cũng đưa ra tiêu chí để phân biệt giữa thành ngữ, tục ngữ theo chức năng ngữ pháp và nội dung ý nghĩa: Mỗi câu tục ngữ đều diễn đạt trọn một ý, một phán đoán còn thành ngữ chỉ diễn đạt một khái niệm tương đương với một từ, hoặc một cụm từ [13, tr 130]

Nhìn chung, vấn đề khái niệm về thành ngữ, tục ngữ vẫn chưa có sự thống nhất giữa các tác giả nghiên cứu văn học Mỗi tác giả đều cố gắng đưa ra những khái niệm để làm rõ hơn về thành ngữ, tục ngữ nhưng hầu như vẫn chưa lí giải được hết giá trị của thành ngữ, tục ngữ Tuy nhiên, cũng cần phải ghi nhận những đóng góp của các nhà nghiên cứu văn học trong việc tìm tòi, khám phá giá trị của thành ngữ, tục ngữ Nó đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng, tạo cơ sở tiền đề cho việc nghiên cứu thành ngữ, tục ngữ sau này

2 Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, khi nhìn nhận về thành ngữ, tục ngữ các nhà ngôn ngữ cũng có rất nhiều ý kiến đánh giá khác nhau Nếu các nhà nghiên cứu văn học chủ yếu dựa trên tiêu chí nội dung để xác định ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ, rồi trên cơ sở đó đưa ra quan điểm của mình về khái niệm thành ngữ, tục ngữ thì các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học lại chủ yếu dựa vào tiêu chí hình thức hay tiêu chí kết cấu ngữ pháp để xác định ranh giới thành ngữ, tục ngữ sau đó nêu lên khái niệm về thành ngữ, tục ngữ Tác giả Đái Xuân Ninh trong cuốn Hoạt động của từ Tiếng Việt đã cho rằng tục ngữ là đối tượng của văn học dân gian có chức năng thông báo là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt một ý trọn vẹn còn thành ngữ là đối tượng của từ vựng học có chức năng định danh, là tên gọi của những khái niệm Qua đó tác giả đã đưa ra những điểm chung của thành ngữ, tục ngữ như: đều là đơn vị có sẵn trong tiếng nói, chúng được sáng tạo trong quá trình sinh hoạt của xã hội và được lưu truyền lại về sau, đúc kết kinh nghiệm, trí tuệ của quần chúng v.v… Tác giả Nguyễn Đức Dân trong bài viết Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ-

Sự vận dụng đăng trên Tạp chí ngôn ngữ số 3/1986 cũng đưa ra quan điểm về khái niệm thành ngữ và tục ngữ như sau: Thành ngữ, tục ngữ là những đơn vị ngôn ngữ ổn định về hình thức phản ánh những lối nói, lối suy nghĩ đặc thù của một dân tộc Thành ngữ phản ánh các khái niệm và hiện tượng; tục ngữ phản ánh các quan niệm, suy nghĩ những tri thức và cách tư duy của một dân tộc về các hiện tượng, các quy luật tự nhiên và xã hội [1, tr 1]

Cũng bàn về vấn đề thành ngữ, tục ngữ tác giả Hoàng Văn Hành trong Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ cũng đưa ra một số nhận định sau: Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái- cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày đặc biệt là trong khẩu ngữ [5, tr 25], còn Tục ngữ là những câu - ngôn bản đặc biệt, biểu thị những phán đoán một cách nghệ thuật [5, tr 29] Qua việc đưa ra khái niệm, những quan điểm về sự khác biệt giữa thành ngữ và tục ngữ, Hoàng Văn Hành đã đóng góp một phần không nhỏ trong việc định nghĩa và phân biệt thành ngữ, tục ngữ. Trên cơ sở tổng hợp các quan niệm và cách lập luận khác nhau về thành ngữ, tục ngữ của các nhà nghiên cứu văn học và ngôn ngữ, có thể hiểu: Thành ngữ là những cụm từ cố định, biểu thị một ý nghĩa hoàn chỉnh, được dùng để định danh cho các sự vật, hiện tượng, tính chất, hành động Nghĩa của thành ngữ có thể bắt nguồn trực tiếp từ nghĩa đen của các từ tạo nên nhưng thường thông qua một số phép chuyển nghĩa như ẩn dụ, so sánh Còn tục ngữ là những câu nói hoàn chỉnh, đúc kết kinh nghiệm của nhân dân về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội

Tuy có nhiều quan niệm khác nhau nhưng các nhà nghiên cứu đều đã đưa ra được những định nghĩa cơ bản nhất về thành ngữ, tục ngữ Đây chính là những căn cứ quan trọng để chúng tôi xác định thành ngữ, tục ngữ trong những tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài

1.2.2 Phân biệt thành ngữ và tục ngữ

Ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ đến nay vẫn còn là vấn đề bàn luận của nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ Xét về mặt lịch sử các công trình nghiên cứu về thành ngữ, tục ngữ, người đầu tiên đưa ra sự phân định giữa tục ngữ và thành ngữ là nhà nghiên cứu Dương Quảng Hàm Trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu, xuất bản năm 1943, ông chỉ ra rằng: Một câu tục ngữ tự nó có mộtý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì, còn thành ngữ chỉ là lời nói có sẵn để ta tiện dùng nhằm diễn đạt một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè [4, tr 9] Cùng chia sẻ với quan điểm này nhưng Vũ Ngọc Phan cho rằng định nghĩa như vậy chưa được rõ ràng, vì thế chưa thấy được tác dụng tác dụng khác nhau giữa thành ngữ và tục ngữ Ông đã đưa ra quan điểm: Tục ngữ là một câu tự nó đã diễn đạt một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lí, một công lí, có khi là một sự phê phán [11, tr 39] Còn thành ngữ là một phần câu có sẵn, nó là một bộ phận câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn đạt được một ý trọn vẹn [11, tr 39] Điểm khác nhau giữa thành ngữ và tục ngữ mà tác giả chỉ ra là, tục ngữ tự thân nó là một câu, còn thành ngữ là bộ phận của câu Những kiến giải của ông được nhiều người đồng tình nhưng cũng không ít người còn băn khoăn, bởi thực tế có thành ngữ có kết cấu là một câu, còn tục ngữ lại có kết cấu chỉ là một cụm từ, nhóm từ (ví dụ: Mèo mù vớ cá rán hay Lươn ngắn chê trạch dài có kết cấu chủ - vị nhưng lại là thành ngữ)

Vào khoảng những năm 70 của thế kỉ XX, các nhà Việt ngữ học đã tranh luận khá sôi nổi về vấn đề này và đã đưa ra những tiêu chí phân định giữa thành ngữ và tục ngữ khá cụ thể và rõ ràng hơn Nguyễn Văn Mệnh cho rằng về nội dụng thì tục ngữ mang tính quy luật còn thành ngữ mang tính hiện tượng, về hình thức ngữ pháp tục ngữ tối thiểu là một câu, còn thành ngữ chỉ là một cụm từ Nhưng tác giả Cù Đình Tú ở bài báo Góp ý kiến phân biệt tục ngữ với thành ngữ đăng trên tạp chí Ngôn ngữ số 2, xuất bản năm 1970 lại không hoàn toàn thống nhất với những tiêu chí phân định trên của Nguyễn Văn Mệnh vì ông cho rằng: Nội dung của tục ngữ và thành ngữ đều là đúc kết kinh nghiệm, là kết tinh trí tuệ của quần chúng, đều từ sự khái quát hóa hiện thực để rút ra bản chất quy luật mà có [12, tr 2] Tác giả Cù Đình Tú cho rằng khác nhau cơ bản giữa tục ngữ và thành ngữ là về mặt chức năng: tục ngữ có chức năng thông báo nào đó (nhận định, kết luận) về hiện thực khách quan, còn thành ngữ có chức năng định danh, vì thế thành ngữ tương đương với từ còn tục ngữ là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý tưởng Xét về mặt kết cấu, tục ngữ có kết cấu hai trung tâm, có thể chêm xen các yếu tố khác vào như hư từ, còn thành ngữ có kết cấu một trung tâm, không thể chêm xen các yếu tố nào khác vào như tục ngữ

Còn theo tác giả Hoàng Văn Hành trong cuốn Thành ngữ học tiếng Việt, xuất bản năm 2004 lại đưa ra một tiêu chí nữa về sự khác nhau giữa tục ngữ, thành ngữ, ông cho rằng: Thành ngữ là những tổ hợp từ đặc biệt, biểu thị những khái niệm một cách bóng bẩy, còn tục ngữ là những câu - ngôn bản đặc biệt, biểu thị những phán đoán một cách nghệ thuật [6, tr 31], có nghĩa là xét về mặt nội dung và cách diễn đạt của những đơn vị thành ngữ và tục ngữ, ta thấy nội dung của thành ngữ là nội dung của những khái niệm, còn nội dung của tục ngữ là nội dung của những phán đoán Ví dụ như để diễn đạt khái niệm về sự uổng công, phí công vô ích, được khái quát qua hàng loạt các hiện tượng trong các câu thành ngữ như Công dã tràng, Nước đổ đầu vịt… đây là những hiện tượng riêng rẽ được nhận thức bằng những tri giác của giác quan Sự nhận thức ấy nhằm khẳng định một đặc điểm, một thuộc tính của các hiện tượng đó, sự khẳng định ấy được thể hiện ra bằng những phán đoán mang tính quy luật (Ví dụ: Dã tràng xe cát biển đông, nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì, Nước đổ đầu vịt thì nước lại trôi đi hết…)

Tuy nhiên trong thực tế sử dụng, ta thấy giữa tục ngữ và thành ngữ vẫn có hiện tượng trung gian Chẳng hạn có những câu có thể dùng làm thành ngữ hay tục ngữ đều được bằng cách thêm vào một số từ nào như: thì, mà, lại, mà lại…Ví dụ:

- Giòn cười tươi khóc (thành ngữ) thành Giòn cười thì tươi khóc (tục ngữ)

- Trứng chọi đá (thành ngữ) thành Trứng mà lại chọi với đá (tục ngữ)

- Khôn nhà dại chợ (thành ngữ) thành Khôn nhà mà dại chợ (tục ngữ)

Từ những điểm trên ta thấy thành ngữ và tục ngữ có những điểm giống nhau và khác nhau về hình thái cấu trúc và ngữ nghĩa biểu hiện Điểm giống nhau giữa thành ngữ và tục ngữ là cả hai đều là những sản phẩm của sự nhận thức của nhân dân về các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan, đều chứa đựng và phản ánh tri thức của nhân dân Điểm khác nhau ở đây có thể nhận thấy là nội dung thành ngữ thường mang tính hiện tượng còn tục ngữ lại mang tính quy luật Những tiêu chí phân biệt giữa thành ngữ và tục ngữ của các nhà nghiên cứu, có thể khái quát như sau:

Những đặc trưng dùng làm tiêu chí nhận diện

1 Về hình thức cấu tạo

Cụm từ, tổ hợp từ, có kết cấu một trung tâm không thể thêm bớt các yếu tố khác

Tối thiểu là một câu hoàn chỉnh, có kết cấu hai trung tâm, có thể thêm bớt các yếu tố (hư từ)

2 Về nội dung Biểu thị khái niệm mang tính hiện tượng

Biểu thị phán đoán mang tính chất quy luật

3 Về chức năng Định danh sự vật, hiện tượng, tính chất, hành động

Thông báo (nhận định, kết luận) về một phương diện của hiện thực khách quan

1.2.3 Đặc điểm của tục ngữ

1.2.3.1 Tục ngữ có tính ngắn gọn, hàm súc

Tục ngữ ra đời bắt nguồn từ những nhận xét, phán đoán, suy luận của con người về các hiện tượng của tự nhiên và xã hội Những nhận xét, phán đoán này cần phải được đúc rút lại thành những kinh nghiệm, chân lý và hơn nữa cần phải được lưu giữ, phổ biến từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác Sự lưu giữ và phổ biến này chủ yếu bằng con đường truyền miệng, do đó tục ngữ cần phải thật ngắn gọn để tiện lợi cho trí nhớ Vì vậy câu càng ngắn gọn, hàm súc càng gần với đặc trưng của tục ngữ, ngược lại càng dài, càng xa tục ngữ

Văn miêu tả

1.3.1 Khái niệm về văn miêu tả

Văn miêu tả là thể loại văn dùng ngôn ngữ để tả sự vật, hiện tượng, con người,…một cách sinh động, cụ thể Đây là loại văn giàu cảm xúc, giàu trí tưởng tượng và sự đánh giá của người viết Bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào trong cuộc sống cũng có thể trở thành đối tượng của văn miêu tả nhưng không phải bất kỳ một sự miêu tả nào cũng trở thành văn miêu tả Miêu tả theo Từ điển

Tiếng Việt (NXB KHXH, Hà Nội, 1997) có nghĩa là: “Thể hiện sự vật bằng lời hay nét vẽ” Còn khái niệm về văn miêu tả theo sách Tiếng Việt 4: “Văn miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của người, của vật giúp người đọc, người nghe có thể hình dung được các đối tượng ấy”

Văn miêu tả là loại văn nhằm giúp người đọc, người nghe hình dung những đặc điểm, tính chất nổi bật của sự vật, sự việc, con người làm cho những cái đó như hiện lên trước mắt người đọc, người nghe Khi miêu tả khoa học cần khách quan nhằm mục đích thông báo đơn thuần không phải là miêu tả văn học

Miêu tả văn học khác miêu tả khoa học ở sự bộc lộ cảm xúc của người viết đối với đối tượng miêu tả, nó đòi hỏi người viết phải có sự quan sát tỉ mỉ, có tình cảm, có ấn tượng thì mới miêu tả được đối tượng

1.3.2 Đặc điểm của văn miêu tả

Trong cuốn Văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu tả, tác giả Nguyễn Trớ đã nêu rõ ba đặc điểm của văn miêu tả:

- Văn miêu tả mang tính thông báo thẩm mĩ, chứa đựng tình cảm của người viết:

Dù đối tượng của bài văn miêu tả là gì đi chăng nữa thì bao giờ người viết cũng đánh giá chúng theo một quan điểm thẩm mĩ, cũng gửi gắm vào trong đó những suy nghĩ, tình cảm hay ý kiến nhận xét, đánh giá, bình luận của bản thân mình Chính vì vậy mà trong từng chi tiết của bài văn miêu tả đều mang đậm dấu ấn chủ quan của người viết

- Văn miêu tả mang tính sinh động, tạo hình:

Tính sinh động, tạo hình của văn miêu tả thể hiện ở con người, phong cảnh, sự vật, đồ vật được miêu tả hiện lên qua từng câu văn, đoạn văn như trong cuộc sống thực khiến người đọc, người nghe như được ngắm nhìn, được sờ, được nghe, được ngửi thấy những gì mà tác giả đang cảm nhận Muốn bài văn miêu tả được sinh động thì người viết phải tạo nên được những câu văn, những đoạn, bài văn sống động, gây ấn tượng Điều quan trọng để có thể làm được điều đó, trước hết người viết phải có sự quan sát tỉ mỉ, ghi nhớ được những điều quan sát được kết hợp với khả năng sử dụng ngôn từ một cách khéo léo

- Ngôn ngữ miêu tả giàu cảm xúc, hình ảnh: Đặc điểm nổi bật của văn miêu tả là ngôn ngữ giàu cảm xúc, hình ảnh Đây là đặc điểm làm nên sự khác biệt, giúp ta phân biệt được văn miêu tả với các thể loại văn khác như văn bản tự sự, văn bản trữ tình hay văn nghị luận Ngôn ngữ văn miêu tả giàu cảm xúc bởi trong bài viết bao giờ người viết cũng bộc lộ tình cảm, cảm xúc hay ý kiến nhận xét, đánh giá, bình luận của người viết với đối tượng miêu tả Tình cảm đó có thể là sự yêu mến, yêu quý, thán phục hay sự gắn bó với đối tượng được miêu tả Ngôn ngữ văn miêu tả giàu hình ảnh bởi trong bài viết thường được sử dụng nhiều từ ngữ gợi hình như: tính từ, động từ, từ láy hay các biện pháp tu từ như: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ Ngoài ra, việc vận dụng thành ngữ, tục ngữ để miêu tả ngoại hình, tâm lý, tính cách nhân vật còn có tác dụng khắc họa bức tranh miêu tả sinh động như trong cuộc sống thực, giúp ngôn ngữ trong văn miêu tả có sự uyển chuyển, nhịp nhàng, diễn tả tốt cảm xúc của người viết Hai yếu tố giàu cảm xúc và giàu hình ảnh gắn bó khăng khít với nhau làm nên đặc điểm riêng biệt và làm cho những trang văn miêu tả trở nên có hồn, gây ấn tượng mạnh mẽ và tác động sâu sắc vào trí tưởng tượng cũng như cảm nghĩ của người đọc

1.3.3 Nội dung dạy học văn miêu tả trong phân môn Tập làm văn lớp 4, lớp 5

Có thể nói chương trình phân môn Tập làm văn lớp 4, lớp 5 hiện hành đã có nhiều biến đổi so với chương trình Sách giáo khoa Tiếng Việt trước đây Số tiết dạy của phân môn Tập làm văn nhiều hơn, mức độ yêu cầu được giảm tải, nhưng không phải vì thế mà học sinh được học ít dạng bài hơn Ngược lại, chương trình có thêm những dạng bài khác như: tóm tắt tin tức, viết thư, trao đổi ý kiến với người thân, giới thiệu địa phương, điền vào giấy tờ in sẵn Như vậy, chương trình mới này giúp cho học sinh lĩnh hội thêm nhiều kiến thức thực tiễn hơn, đáp ứng được định hướng đổi mới chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo Hiện nay, văn miêu tả được đưa vào dạy trong chương trình phổ thông ngay từ các lớp đầu bậc Tiểu học Ở lớp 2, lớp 3 các em đã bắt đầu làm quen với văn miêu tả Ví dụ:

Lớp 2: Tập làm văn – Tuần 28 Đọc và trả lời các câu hỏi sau: a Nói về hình dáng bên ngoài của quả măng cụt:

- Quả to bằng chừng nào?

- Cuống nó như thế nào? b Nói về ruột và mùi vị của quả măng cụt:

- Ruột quả măng cụt màu gì?

- Các múi như thế nào?

- Mùi vị măng cụt ra sao?

Lớp 3: Tập làm văn – Tuần 21

Hãy kể về người lao động trí óc mà em biết

Gợi ý: a Người đó là ai, làm nghề gì? b Người đó hàng ngày làm những công việc gì? c Người đó làm việc như thế nào?

Viết những điều em vừa kể thành một đoạn văn (từ 7 đến 10 câu)

Văn miêu tả chiếm vị trí quan trọng trong phân môn Tập làm văn ở lớp 4, lớp 5 Ở lớp 4, số tiết học văn miêu tả là 30/62 tiết Tập làm văn chiếm 48,38% (chưa kể số tiết ôn tập và kiểm tra giữa kỳ, cuối kỳ) Học sinh chính thức được học thể loại văn miêu tả, cụ thể là 3 kiểu bài: tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật Mỗi kiểu bài đều được dành khá nhiều số tiết (10 tiết) nhằm giúp luyện tập và làm bài tốt hơn, có đầy đủ kiến thức và kỹ năng làm được một bài văn miêu tả hay, sinh động, sáng tạo, giàu hình ảnh, cảm xúc Ở lớp 5, văn miêu tả chiếm nhiều thời lượng trong các thể loại Tập làm văn (chiếm 65% thời lượng toàn bộ chương trình tập làm văn) Các kiểu bài miêu tả ở lớp 5 bao gồm: tả cảnh, tả đồ vật, tả con vật, tả cây cối, tả người Khi làm bài đòi hỏi các em phải biết quan sát, phải có sự tinh tế, biết chọn lọc để miêu tả đối tượng một cách sinh động, gợi cảm hơn

Phương pháp dạy học văn miêu tả ở phân môn Tập làm văn ở lớp 4, lớp 5 coi việc rèn luyện bộ óc, phương pháp suy nghĩ, tìm tòi, vận dụng kiến thức cho học sinh là điều cơ bản nhất Quá trình thực hiện các kỹ năng phân tích đề, quan sát, tìm ý, viết đoạn là những cơ hội huy động vốn từ, góp phần làm phong phú hoá vốn từ để vẽ lại được cảnh vật, loài vật, con người đồng thời giúp các em hiểu biết thêm về cuộc sống theo các chủ điểm đã học Việc phân tích đề, lập dàn ý, chia đoạn văn miêu tả góp phần phát triển khả năng phân tích, tổng hợp, phân loại của học sinh Ngoài ra, nếu các em biết vận dụng một cách khéo léo thành ngữ, tục ngữ vào viết văn miêu tả sẽ giúp cho bài viết thêm sinh động, giàu hình ảnh, tư duy hình tượng của các em cũng được rèn luyện và nâng cao

Phần lý luận chung chúng tôi tìm hiểu về tác giả Tô Hoài, sự nghiệp sáng tác với những tác phẩm có giá trị của ông, đặc biệt là những sáng tác dành cho thiếu nhi Chúng tôi còn tìm hiểu những đặc trưng cơ bản của thành ngữ, tục ngữ trong Tiếng Việt Việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ như thế nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố Vì giới hạn của đề tài không cho phép nên chúng tôi chỉ tiến hành tìm hiểu những đặc điểm cơ bản nhất của thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt nhằm mục đích phục vụ cho nghiên cứu đề tài Nếu có thời gian và điều kiện nghiên cứu, chúng tôi hi vọng sẽ tìm hiểu sâu hơn Những vấn đề chung về lí luận trên là những cơ sở khoa học để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu chương 2 và chương 3.

THỐNG KÊ, PHÂN LOẠI THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TRONG CÁC TÁC PHẨM VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA TÔ HOÀI

Thống kê, phân loại thành ngữ, tục ngữ được sử dụng trong các tác phẩm viết cho thiếu

2.1.1 Tiêu chí phân loại thành ngữ

Tác giả Hoàng Văn Hành trong cuốn Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ (NXB Khoa học và xã hội, Hà Nội, 2002) đã đưa ra những tiêu chí để phân loại thành ngữ như sau:

2.1.1.1 Dựa vào kết cấu ngữ pháp

Dựa vào kết cấu ngữ pháp, thành ngữ được chia thành các loại sau: a Thành ngữ có cấu trúc là một cụm từ

Thành ngữ có kết cấu là một cụm từ được chia làm 3 loại, đó là: thành ngữ có kết cấu cụm danh từ, thành ngữ có kết cấu là cụm tính từ và thành ngữ có kết cấu là cụm động từ

- Thành ngữ có kết cấu cụm danh từ : Chạch trong giỏ cua, cá mè một lứa, bạn nối khố, mắt bồ câu, một nắng hai sương, chăn đơn gối chiếc…

- Thành ngữ có kết cấu là cụm tính từ : Thẳng ruột ngựa, tím mày tím ruột, chậm như rùa, dai như đĩa, lúng túng như gà mắc tóc, hiền như bụt…

- Thành ngữ có kết cấu là cụm động từ : Đánh trống lảng, đợi thỏ ôm cây, cầm cương nẩy mực, buôn thúng bán bưng, bán cá mũi thuyền… b Thành ngữ có cấu trúc là một cụm chủ vị

Nhóm thành ngữ có kết cấu là một cụm chủ vị được phân ra thành hai loại nhỏ đó là: thành ngữ có cấu trúc là một câu đơn và thành ngữ có cấu trúc là một câu ghép

- Thành ngữ có kết cấu câu đơn : Lời nói gió bay, lươn ngắn chê trạch dài, mèo nhỏ bắt chuột lớn, lợn lành thành lợn què …

- Thành ngữ có kết cấu câu ghép : Chùa rách phật vàng, đâm bị thóc chọc bị gạo, chúa vắng nhà gà mọc đuôi tôm, chân yếu tay mềm…

Dựa vào nguồn gốc, thành ngữ được chia thành: a Thành ngữ thuần Việt

Thành ngữ thuần Việt là thành ngữ cơ bản, cốt lõi, lâu đời nhất của thành ngữ tiếng Việt Chữ “thuần” trong từ “thuần Việt” có nghĩa là bản ngữ (ngôn ngữ bản địa), không pha tạp Thành ngữ thuần Việt được sử dụng nhiều trong sinh hoạt hằng ngày và cùng với thành ngữ Hán Việt góp phần làm phong phú thêm kho tàng thành ngữ Việt Nam

- Miệng ăn núi lở v.v… b Thành ngữ Hán Việt

Trong tiếng Việt, bên cạnh thành ngữ thuần Việt thì còn có một lớp thành ngữ gốc Hán rất phong phú về số lượng, có giá trị về nhiều mặt thường được gọi dưới cái tên chung là thành ngữ Hán Việt Thành ngữ Hán Việt dùng để chỉ những kết cấu ngôn ngữ rất ổn định, cô đọng về mặt ngữ nghĩa thịnh hành trong tiếng Hán, được du nhập vào Việt Nam và được sử dụng rộng rãi từ xưa đến nay Đặc điểm của thành ngữ Hán Việt rất đa dạng, thường gồm bốn chữ, năm chữ hoặc tám chữ, trong đó tỷ lệ các thành ngữ bốn chữ chiếm số lượng lớn đến 75-80% Kết cấu thành ngữ loại này dễ dàng nhận thấy trong các thành ngữ bốn chữ hoặc tám chữ theo dạng đăng đối

- Công thành danh toại - Công thành Danh toại

- Đại sự hóa tiểu, tiểu sự hóa vô - Đại sự Tiểu sự

Bên cạnh đó còn có rất nhiều thành ngữ sử dụng các điển cố văn học, các tích truyện xưa có giá trị giáo dục và ý nghĩa lịch sử sâu sắc Chẳng hạn như thành ngữ Lục lâm hảo hán là chỉ người anh hùng trong dân gian, nó xuất phát từ truyện xưa thời Vương Mãng, những kẻ nổi dậy chống lại triều đình tụ họp nhau ở núi Lục Lâm Hay thành ngữ Bạt miêu trợ trưởng- nhấc mạ lên giúp lúa mau lớn, chỉ sự nóng vội làm hỏng việc Thành ngữ này bắt nguồn từ chuyện xưa ở nước Tống có người thấy lúa quá chậm lớn, bèn lấy tay nhấc cho mạ cao lên, về nhà khoe rằng hôm nay đã giúp cho thân mạ lớn lên Đứa con nghe vậy, chạy ra ruộng xem thì mạ đã khô héo cả…

2.1.1.3 Dựa vào tính biểu trưng

Dựa vào tính biểu trưng, thành ngữ được chia thành : a Thành ngữ so sánh

Loại thành ngữ này bao gồm những thành ngữ có cấu trúc là một cấu trúc so sánh Ví dụ: Lạnh như tiền; Rách như tổ đỉa; Nhanh như cắt; Đỏ như son….Mô hình tổng quát của thành ngữ so sánh giống như cấu trúc so sánh thông thường khác:

+ A so sánh với B: Ở đây A là vế được so sánh, B là vế đưa ra để so sánh, ở giữa là từ so sánh: như, bằng, tựa, hệt, Đây là dạng đầy đủ của thành ngữ so sánh

Ví dụ: Đắt như tôm tươi; Nhẹ tựa lông hồng; Lạnh như tiền; Dai như đỉa đói; Đủng đỉnh như chĩnh trôi sông; Lừ đừ như ông từ vào đền,

Tuy vậy, sự hiện diện của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt khá đa dạng, không phải lúc nào ba thành phần trong cấu trúc cũng đầy đủ Chúng còn có các kiểu thành ngữ so sánh ở các dạng khác nhau :

+ (A) so sánh B: Ở kiểu này, thành phần (A) của thành ngữ không nhất thiết phải có mặt, nhưng người ta vẫn lĩnh hội ý nghĩa của thành ngữ ở dạng toàn vẹn Ví dụ: (Rẻ) như bèo; (Chắc) như đinh đóng cột; (Vui) như mở cờ trong bụn; (To) như bồ tuột cạp; (Khinh) như rác; (Chậm) như rùa,

+ So sánh B: Trường hợp này, thành phần (A) không có mặt trong thành ngữ Khi đi vào hoạt động trong câu nói, tùy trường hợp cụ thể mà thành ngữ kiểu này sẽ được nối thêm với thành phần (A) Có thể kể ra một số thành ngữ kiểu này như: Như tằm ăn rỗi, Như vịt nghe sấm, Như con chó ba tiền, Như gà mắc tóc, Như đỉa phải vôi, Như ngậm hột thị, b Thành ngữ ẩn dụ

Nhận xét về việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong các tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài

Qua bảng thống kê, phân loại thành ngữ, tục ngữ trên, chúng tôi nhận thấy rằng số lượng thành ngữ và tục ngữ được sử dụng trong các tác phẩm viết cho thiếu nhi của nhà văn Tô Hoài rất phong phú đa dạng với 262 thành ngữ và 52 tục ngữ Từ kết quả trên đây, chúng tôi xin đưa ra một số nhận xét cụ thể như sau

2.2.1 Nhận xét về việc sử dụng thành ngữ

Trong bài viết “Tô Hoài sinh ra để viết”, tác giả Nguyễn Đăng Diệp cho rằng: Nói đến Tô Hoài không thể không nói đến tài năng sử dụng ngôn ngữ của ông, Tô Hoài ít khi dùng thứ ngôn ngữ óng ả, sặc mùi sách vở Chữ nghĩa của ông cất lên từ đời sống nhưng đó là thứ ngôn ngữ chắt lọc [3, tr 121]; ngôn ngữ của ông mềm mại, tung tẩy, mang đậm chất dân gian Đó là sự tinh tế của

TỤC NGỮ (52) Dạng câu đơn Dạng câu ghép

1 Dế Mèn phiêu lưu kí 9 17,3% 2 3,9%

9 Chú Cuội ngồi gốc cây đa 3 5,8% 0 0%

Tổng số 46 88,5% 6 11,5% một cây bút cao tay, là ý thức đạt tới sự giản dị của một sự khéo léo lớn Chính vì thế mà văn Tô Hoài không mòn cũ theo thời gian [3, tr 115] Nhà văn đã thực sự thành công và để lại dấu ấn riêng của mình đối với độc giả thiếu nhi khi sử dụng một cách sáng tạo và linh hoạt những thành ngữ quen thuộc để làm nên chất liệu văn học trong các tác phẩm dành cho các em

Trong cuộc sống, người ta thường quy ước dùng một sự vật nào đó để biểu trưng cho một ý nghĩa cụ thể Nhà văn Tô Hoài đã vận dụng những thành ngữ có tính biểu trưng cao hay thấp vào trong tác phẩm của mình để biểu trưng cho sự vât, sự việc, hiện tượng muốn nói đến, qua đó góp phần làm nổi bật nội dung tác phẩm Nhìn vào bảng thống kê thành ngữ ta có thể thấy Tô Hoài sử dụng tương đối nhiều thành ngữ so sánh và thành ngữ ẩn dụ Cụ thể khảo sát 9 tác phẩm viết cho thiếu nhi, trong tổng số 262 thành ngữ thì có đến 85 thành ngữ so sánh (chiếm tỉ lệ 32,4%) và có 121 thành ngữ ẩn dụ (chiếm tỉ lệ 46,2%) Thành ngữ so sánh thường mang tính biểu trưng thấp, có cấu trúc là một cấu trúc so sánh, việc sử dụng thành ngữ so sánh khi miêu tả một sự vật, sự việc nào đó có tác dụng làm tăng sự gợi hình, gợi tả đối với đối tượng được so sánh và mang lại sự thú vị cho người đọc Ví dụ như trong tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu kí, nhà văn sử dụng thành ngữ so sánh “Đau như cắt” (tr 23) để diễn tả tâm trạng của chú Dế Mèn khi bị hai đứa trẻ nhỏ bắt vào lồng “Đau như cắt” là sự đau đớn mang tính trừu tượng nhưng được nhà văn cụ thể hóa thành nỗi đau của một nhân vật trong truyện, làm cho loài vật cũng mang tâm trạng như con người Ngoài ra cũng trong tác phẩm này, nhà văn cũng không ít lần sử dụng những thành ngữ so sánh để miêu tả ngoại hình, tích cách cũng như tâm trạng của các nhân vật như: thành ngữ “Mỏng như cánh bướm” (tr 41) để miêu tả đôi cánh của chị Nhà Trò; “Đen như cột nhà cháy” (tr 49) miêu tả ngoại hình của Dế Mèn; “Nhanh như gió” (tr 144) biểu trưng cho sự nhanh nhẹn loài Kiến Gió v.v…Còn trong tác phẩm Đám cưới chuột nhà văn sử dụng thành ngữ so sánh

“Bẩn như cú” (tr 72) để biểu trưng cho đặc điểm dơ dáy, hôi hám của loài chuột Nhắt Tất cả những thành ngữ so sánh mà tác giả sử dụng góp phần khắc họa rõ nét từng nhân vật cụ thể trong các sáng tác của mình, điều này giúp độc giả mà ở đây phần lớn là các em thiếu nhi dễ dàng nhớ được những nét ngộ nghĩnh, đáng yêu của những loài vật nhỏ bé trong cuộc sống

Bên cạnh thành ngữ so sánh thì nhà văn cũng sử dụng nhiều thành ngữ ẩn dụ Trong 9 tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài mà chúng tôi khảo sát thì có đến 121 thành ngữ ẩn dụ, chiếm tỉ lệ 46,2% Xét về bản chất, ẩn dụ cũng là so sánh, nhưng đây là so sánh ngầm, từ so sánh không hề hiện diện Cùng với thành ngữ hoán dụ và khoa trương, thành ngữ ẩn dụ có tính biểu trưng cao

+ Thành ngữ Tối lửa tắt đèn (Dế Mèn phiêu lưu kí - tr.12) biểu trưng cho tình nghĩa hàng xóm giúp đỡ nhau khi hoạn nạn

+ Thành ngữ Cá chậu, chim lồng (Dế Mèn phiêu lưu kí - tr.21) biểu trưng cho tình cảnh sống phụ thuộc, mất tự do

+ Thành ngữ Tính mệnh treo đầu sợi tóc được nhà văn sử dụng cải biến để phù hợp với nhân vật Dế Mèn là Tính mệnh treo đầu sợi râu (Dế Mèn phiêu lưu kí - tr 53)

+ Thành ngữ Đất lành chim đậu (Đảo hoang - tr.74) là thành ngữ ẩn dụ biểu trưng cho vùng đất tốt, ai cũng muốn đến thăm hoặc di cư đến v.v…

Ngoài hai nhóm thành ngữ so sánh và ẩn dụ thì Tô Hoài còn sử dụng thành ngữ hoán dụ và thành ngữ khoa trương nhằm tạo nên sự phong phú về ngôn ngữ, cũng như nét đặc sắc trong nghệ thuật miêu tả của mình Nhóm thành ngữ này có số lượng và tỉ lệ thấp hơn so với thành ngữ so sánh và ẩn dụ Cụ thể trong 9 tác phẩm viết cho thiếu nhi mà chúng tôi khảo sát, thành ngữ hoán dụ chiếm tỉ lệ 13,4% và thành ngữ khoa trương chiếm tỉ lệ 8, 0%

+ Thành ngữ hoán dụ Đầu trâu mặt ngựa (Mực tàu giấy bản - tr.126) chỉ những kẻ vô lại, hung hãn

+ Thành ngữ hoán dụ Chân yếu tay mềm (Đám cưới chuột - tr.45) chỉ những người yếu đuối không thể làm được việc gì nặng

+ Thành ngữ khoa trương Một tấc đến trời (Dế Mèn phiêu lưu kí - tr.84) có ý chê kẻ khoác lác, ba hoa về khả năng của mình

+ Thành ngữ khoa trương Nhanh như chớp (Đảo hoang - tr.67) biểu trưng cho việc làm xảy ra rất nhanh

Việc sử dụng thành ngữ có tính biểu trưng trong những tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài cho thấy ở nhà văn có một phong cách miêu tả rất độc đáo, các nhân vật trong những tác phẩm của ông mang những nét ngoại hình, tính cách và bộc lộ những suy nghĩ riêng của chúng Đó cũng chính là điểm thành công ở nghệ thuật miêu tả của nhà văn

2.2.2 Nhận xét về việc sử dụng tục ngữ

Qua bảng thống kê tục ngữ theo quan hệ Đề - Thuyết, có thể thấy rằng số lượng, tỉ lệ tục ngữ dạng câu đơn nhiều hơn so với ở dạng câu ghép Cụ thể qua

9 tác phẩm khảo sát, trong tổng số 52 câu tục ngữ thì có đến 46 câu tục ngữ dạng câu đơn chiếm tỉ lệ 88,5% Ví dụ: Nhát như cáy; Nhát như Gián ống; Có chí thì nên; Ếch ngồi đáy giếng, Ăn xổi ở thì; Cá lớn nuốt cá bé; To gan lớn mật, Xanh vỏ đỏ lòng v.v…

Trong văn nghệ thuật, miêu tả thường đi liền với nhận xét, Tô Hoài đã sử dụng tục ngữ như một phương tiện ngôn ngữ hữu hiệu nhằm xây dựng những nhân vật với những nét tính cách riêng biệt Đó là lí do giải thích vì sao các câu tục ngữ thường hay xuất hiện cuối các đoạn văn miêu tả nhân vật của nhà văn

- Cái lão đại vương Ếch Cốm này chẳng biết cóc gì nhưng cái gì cũng nói trước, mình chưa nói hết câu nó đã nói nốt câu mình nói, cái gì cũng tỏ vẻ ta đã biết, ngày trước thì cái gì ta cũng giỏi Bây giờ mới rõ câu tục ngữ “ếch ngồi đáy giếng” thế mà thâm và ý nghĩa sâu

(Dế Mèn phiêu lưu ký - tr 80)

- Nó là Gián Ống Nó nhát nhất trần gian Suốt ngày chỉ vẩn vơ to hó trước cửa, ngẩn ngơ nhìn xung quanh, hơi có tiếng động mạnh ở đâu là cuống cuồng tụt thoắt vào trong ống tổ Bởi vậy, mới thành biệt hiệu là Gián Ống và mới thành câu tục ngữ: Nhát như Gián Ống

(Võ sĩ Bọ Ngựa – tr.26)

Bên cạnh những câu tục ngữ dạng câu đơn thì nhà văn Tô Hoài còn khéo léo sử dụng những câu tục ngữ ở dạng câu ghép để thể hiện suy nghĩ của nhân vật trong truyện Chẳng hạn như câu tục ngữ Đi một ngày đàng, học một sàng khôn (Dế Mèn phiêu lưu kí - tr.55) Câu tục ngữ này có nghĩa khuyên người ta nên đi đây đi đó để mở rộng hiểu biết của mình, đó cũng chính là lời khuyên mà

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP BỔ TRỢ LUYỆN VIẾT VĂN MIÊU TẢ CÓ SỬ DỤNG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ CHO

Ngày đăng: 09/05/2021, 17:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w