Môn Địa lí lớp 4 có các bài học về các hoạt động của các vùng miền trên đất nước Việt Nam như trung du Bắc Bộ, đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ, duyên hải miền Trung…Từ những nội dung
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
sinh Tiểu học qua môn Địa lí lớp 4
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SƯ PHẠM TIỂU HỌC
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Văn hóa vốn gắn liền với toàn bộ cuộc sống và với sự phát triển của xã hội Con người ra đời cùng văn hóa, trưởng thành cùng văn hóa, hướng tới tương lai cũng từ văn hóa Văn hóa của mỗi dân tộc trước hết thể hiện ở bản sắc của dân tộc ấy Bản sắc dân tộc thể hiện trọng hệ giá trị văn hóa dân tộc, nó biểu hiện và định hướng cho sự lựa chọn trong hành động của con người Những giá trị văn hóa là thước đo trình độ phát triển và đặc tính riêng của mỗi dân tộc “Một dân tộc thiếu văn hóa chưa phải là một dân tộc thật sự hình thành, một nền văn hóa không có bản sắc dân tộc thì nền văn hóa ấy không có sức sống thật sự của nó” [5.16]
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc cùng chung sống lâu đời, 54 dân tộc là 54 màu sắc văn hóa tạo nên nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam, được phân bố
ở các vùng miền của Tổ Quốc Do đặc điểm về điều kiện kinh tế- xã hội và nhiều nhân
tố ảnh hưởng khác nhau, đã hình thành nên nhiều vùng văn hóa khác nhau, từ đó văn hóa của các dân tộc cũng có những khác biệt và mang tính đặc thù Giữa các dân tộc
có sự giao thoa văn hoá với nhau vì các dân tộc sống xen kẽ nhau
Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang hòa mình vào dòng chảy của xu thế toàn cầu hóa, xu thế hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, chúng như một cơn lốc cuốn hút tất cả các nước trên thế giới Bên cạnh những cơ hội, những tác động tích cực
mà nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa mang lại thì nền kinh tế thị trường
và quá trình toàn cầu hóa còn có những tác động tiêu cực đó là lối sống thực dụng, tôn thờ đồng tiền, xa hoa lãng phí trong giới trẻ, hơn nửa nó ảnh hưởng không nhỏ đến nền văn hóa truyền thống của các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Đặc biệt
là trong giới trẻ, một bộ phận thanh thiếu niên chạy theo cái mới mà quên đi các giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc Sự du nhập văn hóa, lối sống ngoại lai thông qua nhiều kênh như sách, báo, mạng Internet…trên toàn cầu ảnh hưởng không nhỏ, chứa đựng nguy cơ đe dọa các giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc vốn có từ bao đời nay của người dân Việt Nam
Một thực trạng nữa là nền giáo dục của nước ta hiện nay chưa có những biểu hiện chưa coi trọng đúng mức việc giáo dục ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh Dẫn đến học sinh dần xa rời các giá trị bản sắc văn hóa dân tộc, ít hiểu biết về bản sắc văn hóa dân tộc
Trang 3Đứng trước thực trạng đó, việc giáo dục ý thức cho học sinh biết giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là rất cần thiết Điều này đặt ra nhiệm vụ cho nền giáo dục, trọng trách to lớn này đặt lên vai của đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy các môn học trong đó phải kể đến môn Địa lí lớp 4
Bậc Tiểu học là bậc học nền móng của hệ thống giáo dục, góp phần tạo nên những công nhân tương lai của đất nước Vì thế việc giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh Tiểu học là một việc làm hết sức ý nghĩa và cần thiết Bỡi lẽ các em học sinh Tiểu học còn nhỏ tuổi, rất biết nghe lời thầy cô giáo
vì thế những việc làm để giáo dục các em ngày hôm nay sẽ ảnh hưởng đến các em mai sau Lớn lên các em sẽ biết được tầm quan trọng của việc phải giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Môn Địa lí lớp 4 có các bài học về các hoạt động của các vùng miền trên đất nước Việt Nam như trung du Bắc Bộ, đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ, duyên hải miền Trung…Từ những nội dung này là đặc điểm thuận lợi để giáo viên có thể tích hợp giáo dục cho học sinh ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của một
số vùng miền trên đất nước Việt Nam
Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của những vấn đề trên, để góp phần công sức nhỏ bé vào mục tiêu giữ gìn và phát bản sắc văn hóa dân tộc tôi chọn
đề tài “Tìm hiểu việc giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho học sinh Tiểu học qua môn Địa lí lớp 4" làm đề tài cho bài nghiên cứu
của mình
2 Lịch sử nghiên cứu
Vấn đề này được nhiều người nghiên cứu ở những phạm vi và góc độ khác nhau Nghiên cứu dưới góc độ bản sắc văn hoá có những tác phẩm tiêu biểu sau:
“Suy nghĩ về bản sắc văn hoá dân tộc”, Huy Cận, Nxb Chính trị Quốc gia,
1994 “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam”, PGS Viện sĩ Trần Ngọc Thêm, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2001 “Bản sắc văn hoá Việt Nam”, Phan Ngọc, Nxb Văn học,
2002
Nghiên cứu về văn hoá các dân tộc thiểu số có:
“Tìm hiểu văn hoá vùng các dân tộc thiểu số”, của Lò Giàng Páo, NXb Giáo dục, Hà Nội, 1997 “Văn hoá các dân tộc thiểu số ở Việt Nam”, Ngô Văn Lệ, Nxb giáo dục, Hà Nội, 1998
Trang 4Nhìn chung, các công trình, tác phẩm đều đã đi vào khai thác những đặc điểm chung về bản sắc văn hóa dõn tộc, văn hóa các dân tộc thiểu số, việc giữ gỡn và phỏt huy bản sắc văn húa dõn tộc Việt Nam Tuy nhiên, những cụng trỡnh nghiên cứu này chưa cú cụng trỡnh nào nghiờn cứu về vấn
đề giỏo dục ý thức giữ gỡn và phỏt huy bản sắc văn húa dõn tộc Việt Nam cho HS Tiểu học qua mụn Địa lớ lớp 4
Tuy nhiờn, cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu trờn là tài liệu tham khảo quý giỏ, bổ ớch cho tụi trong quỏ trỡnh làm đề tài này
3 Mục đớch nghiờn cứu
Chỳng tụi tiến hành nghiờn cứu đề tài này với mục đớch sau:
- Tỡm hiểu việc giỏo dục ý thức giữ gỡn và phỏt huy bản sắc văn húa dõn tộc Việt Nam cho HS Tiểu học qua mụn Địa lớ lớp 4 nhằm nõng cao ý thức của HS để giữ gỡn
và phỏt huy bản sắc văn hoỏ dõn tộc
- Tỡm hiểu việc sử dụng hỡnh thức và phương phỏp dạy học nhằm phỏt huy hiệu quả giỏo dục ý thức giữ gỡn và phỏt huy bản sắc văn húa dõn tộc Việt Nam cho HS Tiểu học qua mụn Địa lớ lớp 4
4 Đối tượng nghiờn cứu
- Cỏc bài học cú nội dung tớch hợp giỏo dục ý thức giữ gỡn và phỏt huy bản sắc văn húa dõn tộc Việt Nam cho HS Tiểu học qua mụn Địa lớ lớp 4
- Cỏc phương phỏp và hỡnh thức dạy học để sử dụng giỏo dục ý thức giữ gỡn và phỏt huy bản sắc văn húa dõn tộc Việt Nam cho HS Tiểu học qua mụn Địa lớ lớp 4
5 Nhiệm vụ nghiờn cứu
- Tỡm hiểu vấn đề lớ luận liờn quahn đến đề tài
- Tỡm hiểu, phõn tớch ý nghĩa, tỏc dụng của việc giỏo dục ý thức giữ gỡn và phỏt huy bản sắc văn húa dõn tộc Việt Nam cho HS Tiểu học qua mụn Địa lớ lớp 4
- Thiết kế bài giảng cú sử dụng hỡnh thức và phương phỏp dạy học nhằm tăng hiệu quả giỏo dục ý thức giữ gỡn và phỏt huy bản sắc văn húa dõn tộc Việt Nam cho
HS Tiểu học qua mụn Địa lớ lớp 4
6 Phương phỏp nghiờn cứu
a Phương phỏp nghiờn cứu lớ thuyết
Trang 5Đọc sách báo có liên quan đến đề tài, sau đó phân tích tổng hợp, hệ thống hoá các tri thức đã học để làm sáng tỏ những khái niệm công cụ của đề tài
b Phương pháp thống kê
Thống kê các cơ hội giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho HS Tiểu học qua môn Địa lí lớp 4
c Phương pháp quan sát
Quan sát các giờ dạy mẫu môn Địa lí ở trường Tiểu học
d Phương pháp đều tra bằng Anket
Dùng hệ thống câu hỏi để thu thập thông tin, cơ sở lí luận cho đề tài
e Phương pháp thực nghiệm
Đề xuất giáo án và thực nghiệm sư phạm giảng dạy các bài dạy có nội dung về bản sắc văn hoá dân tộc để giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho HS Tiểu học
f Phương pháp phân tích - tổng hợp
Phân tích và tổng hợp các kết quả thu được sau khi thực nghiệm sư phạm và đưa ra các kết luận cần thiết
7 Giả thiết khoa học
Trên cơ sở tìm hiểu việc giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho HS Tiểu học qua môn Địa lí lớp 4 sẽ giúp cho GV Tiểu học nói chung và sinh viên ngành giáo dục Tiểu học nói riêng có cái nhìn tổng quát về thực tế việc giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong trường Tiểu học Từ đó, mỗi người sẽ tìm ra được hướng đi đúng đắn trong việc vận dụng nội dung này vào việc dạy học thực tế
Chương 2: Tìm hiểu việc giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho HS Tiểu học qua môn Địa lí lớp 4
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 6PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÌM HIỂU VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC VIỆT NAM CHO HỌC SINH TIỂU HỌC QUA MÔN ĐỊA LÍ LỚP 4 1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Khái quát về văn hóa
1.1.1.1 Khái niệm về văn hóa
Văn hóa có rất nhiều định nghĩa khác nhau Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức trình độ văn hóa, lối sống (nếp sống văn hóa), theo nghĩa chuyên biệt để chỉ các trình độ phát triển của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn)…
Theo Edward Burnelt Tylor, người sáng lập ra khoa học nhân loại học của nước Anh, trong tác phẩm Primitive Culture (Văn hóa nguyên thủy), lần đầu tiên đưa ra định
nghĩa văn hóa: “Văn hóa là một tổng thể phức tạp bao gồm tri thức tín ngưỡng, nghệ
thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục tập quán và cả những khả năng thói quen khác
mà con người đạt được với tư cách là một thành viên của xã hội” [16.13]
W.summer và A.keller định nghĩa: “Tổng thể những sự thích nghi của con
người với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hóa Những sự thích nghi này được bảo đảm bằng con đường kết hợp những thủ thuật như biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng kế thừa” [3.16]
W.Thomas coi “ Văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của bất kì nhóm
người nào (gồm các thiết chế, tập tục, tâm thế, phản ứng cư xử” [3.16]
Định nghĩa văn hóa của UNESCO: “ Văn hóa là tổng thể sống động của các
hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại… hình thành một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu - văn hóa giúp xác định đặc tính riêng biệt của từng dân tộc”[3.17]
Theo P.giáo sư, viện sĩ Trần Ngọc Thêm thì “Văn hóa là một hệ thống hữa cơ
các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình
Trang 7hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.” [13.10]
Theo Tiến sĩ sử học Huỳnh Ngọc Bá “Văn hóa là tổng thể các giá trị vật chất,
tinh thần và ứng xử mang tính biểu trưng, do một cộng đồng người sáng tạo ra và tích lũy được qua các quá trình sinh tồn trong sự tương tác giữa con người với môi trường
tự nhiên và lịch sử - xã hội của mình, cũng như sự hoàn thiện bản thân mình” [3.21]
Các định nghĩa trên ở mỗi tác giả khác nhau vì văn hóa là là một hiện tượng bao trùm lên tất cả các mặt của của đời sống con người, khiến cho bất kì một định nghĩa nào cũng đều khó có thể bao quát hết các nội dung của nó Mỗi một định nghĩa của một nhà nghiên cứu nào đó nêu ra cũng chỉ có thể thâu tóm được một phương diện nào
đó của khái niệm văn hóa mà thôi
Trên cơ sở các định nghĩa trên, tôi xin chọn định nghĩa của Tiến sĩ sử học
Huỳnh Ngọc Bá làm cơ sở lí luận cho đề tài của mình “Văn hóa là tổng thể các giá trị
vật chất, tinh thần và ứng xử mang tính biểu trưng, do một cộng đồng người sáng tạo
ra và tích lũy được qua các quá trình sinh tồn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và lịch sử - xã hội của mình, cũng như sự hoàn thiện bản thân mình” [3.21]
1.1.1.2 Các đặc trưng và chức năng của văn hóa
a Các đặc trưng của văn hóa
Từ định nghĩa của văn hóa trên đây có thể nêu ra 4 đặc trưng của văn hóa như sau:
- Văn hóa có tính hệ thống: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị về văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần của một cộng đồng người Từ những thành tố căn bản đó lại gồm những tập hợp con nhiều tầng bậc tạo thành một tổng thể khá phức tạp
- Đặc trưng thứ 2 của văn hóa là tính giá trị Văn hóa bao gồm các giá trị (giá trị thuộc về đời sống vật chất, giá trị thuộc về đời sống xã hội và giá trị thuộc về đời sống tinh thần) trở thành thước đo về mức độ nhân bản của xã hội con người
- Đặc trưng thứ 3 của văn hóa là tính nhân sinh Văn hóa là một hiện tượng thuộc về xã hội loài người, gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người, là những giá trị do một cộng đồng người sáng tạo ra, thuộc về con người, ở trong con người mang dấu ấn người
Trang 8- Văn hóa có tính lịch sử: Văn hóa bao giờ cũng được hình thành qua một quá trình được tích lũy qua nhiều thế hệ, là những thành tựu do một cộng đồng người trong quá trình tương tác với môi trường mà được sáng tạo ra và hoàn thiện dần để đạt đến giá trị [12.31]
b Các chức năng của văn hóa
Hiện nay việc xác định chức năng văn hóa của các nhà nghiên cứu khác nhau Theo Tạ Văn Tải (Về khái niệm văn hóa - 1986), văn hóa có các chức năng giáo dục, nhận thức, định hướng đánh giá, giao tiếp và đảm bảo tính kế tục lịch sử Theo Trần Ngọc Thêm (cơ sở văn hóa Việt Nam - 1991), văn hóa có 4 chức năng quan trọng là tổ chức xã hội, điều chỉnh xã hội, giao tiếp, giáo dục và một chức năng phái sinh là đảm bảo tính kế tục lịch sử Theo Trần Văn Bính (Văn hóa xã hội chủ nghĩa - 1991), văn hóa có chức năng là nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ, dự báo và giải trí Theo Trần Quốc Vượng (Cơ sở Văn hóa Việt Nam - 1997), văn hóa có 4 chức năng là giáo dục, nhận thức, thẩm mĩ và giải trí Các chức năng được tác giả nêu ra trên đây đều có thể xem là chức năng của văn hóa, nhưng để xác định là chức năng cơ bản của văn hóa, chúng ta
có thể nêu ra ở đây 4 chức năng của văn hóa như sau:
Chức năng nhận thức thế giới: Văn hóa chính là kết tinh của quá trình nhận thức và biến đổi thế giới của con người Ngay cả sự nhận thức cũng là một thành tố của văn hóa Điều đó đã qui định chức năng nhận thức của văn hóa
Chức năng động lực xã hội: Nhờ chức năng nhận thức đã khiến cho văn hóa trở thành động lực phát triển của xã hội, chỉ đạo sự nghiệp chinh phục và thích ứng với tự nhiên, tổ chức xã hội, xây dựng cuộc sống Theo ý nghĩa đó, văn hóa chính là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội
Chức năng dự báo phát triển: Cùng với chức năng nhận thức, văn hóa chính là năng lực trí tuệ giúp con người khám phá dần dần những quy luật của tự nhiên, của xã hội và của chính bản thân Với ý nghĩa đó, văn hóa có thể đưa ra những dự báo cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người, làm căn cứ cho các chiến lược về kinh tế, xã hội
và con người Cũng theo ý nghĩa đó, “văn hóa được xem là hệ điều tiết xã hội” (UNESCO)
Chức năng giáo dục nhân cách: Văn hóa là tổng thể các hoạt động của con người nhằm hướng đến chân, thiện, mĩ Mục tiêu cao nhất của văn hóa là vì con người,
vì sự phát triển và hoàn thiện của con người Do đó, một chức năng cơ bản của văn
Trang 9hóa là giáo dục con người theo những chuẩn mực xã hội quy định Với chức năng giáo dục, văn hóa tạo ra sự phát triển liên tục của lịch sử [3.32]
1.1.1.3 Các vùng văn hóa ở Việt Nam
1.1.1.3.1 Vùng văn hóa Tây Bắc
Vùng văn hóa Tây Bắc là khu vực bao gồm hệ thống núi non trùng điệp bên hữu ngạn sông Hồng (lưu vực sông Đà) kéo dài tới Bắc Thanh Nghệ Ở đây có trên 20 tộc người cư trú, trong đó có các tộc Thái, Mường có thể xem là đại diện Biểu tượng vùng văn hóa này là hệ thống mương phái ngăn suối dẫn nước vào đồng và nghệ thuật trang trí tinh tế trên chiếc khăn piêu Thái, chiếc cạp váy Mường, bộ trang phục H’Mông, âm nhạc với các nhạc cụ bộ hơi (khèn, sáo…) và những điệu múa xòe
[13.34]
1.1.1.3.2 Vùng văn hóa Việt Bắc
Vùng văn hóa Việt Bắc là khu vực bao gồm hệ thống núi non hiểm trở ở tả
ngạn sông Hồng Cư dân vùng này chủ yếu là người Tày, Nùng với trang phục tương đối giản dị, với lễ hội lồng tồng (xuống đồng) nổi tiếng; với hệ thống chữ Nôm Tày
được xây dựng trong giai đoạn cận đại [13.34]
1.1.1.3.3 Vùng văn hóa Bắc Bộ
Vùng văn hóa Bắc Bộ có hình một tam giác bao gồm vùng núi đồng bằng châu thổ sông Hồng, sông Thái Bình và sông Mã với cư dân Việt (kinh) sống ở đây quần tụ thành làng xã Đây là vùng đất đai trù phú, bởi vậy nó từng là cái nôi của văn hóa Đông Sơn thời thượng cổ, văn hóa Đại Việt thời trung cổ…với những thành tựu rất phong phú về mọi mặt Nó cũng là cội nguồn của văn hóa Việt ở Nam Trung Bộ và Trung Bộ sau này [13.34]
1.1.1.3.4 Vùng văn hóa Trung Bộ
Vùng văn hóa Trung Bộ ở trên dải đất hẹp, chạy dài theo ven biển từ Quảng Bình đến Bình Thuận Do khí hậu khắc nhiệt đất đai khô cằn, nên con người ở đây đặc biệt cần cù, hiếu học Họ thạo nghề đi biển, bữa ăn của con người cũng giàu chất biển; dân vùng này thích ăn cay (để bù cho cá lạnh ) Trước khi người Việt tới sinh sống, trong một thời gian dài nơi đây từng là địa bàn cư trú của người chăm với với một nền văn hóa đặc sắc, đến nay vẫn còn để lại sừng sững những tháp Chăm [13.35]
Trang 101.1.1.3.5 Vùng văn hóa Tây Nguyên
Vùng văn hóa Tây Nguyên nằm trên sườn đông của dải trường Sơn, bắt đầu từ vùng núi Bình - Trị - Thiên với trung tâm là bốn tỉnh Gia Lai, Komtum, Đăk Lăk, Lâm Đồng Ở đây có trên 20 tộc người nói các ngôn ngữ Môn- Khơ me và Nam Đao cư trú Đây là vùng văn hóa đặc sắc với những trường ca, những lễ hội đâm trâu, với các loại nhạc cụ không thể thiếu được là những đàn cồng chiêng phát ra những phức hợp âm thanh hùng vĩ đặc thù cho núi rừng Tây Nguyên [13.35]
1.1.1.3.6 Vùng văn hóa Nam Bộ
Vùng văn hóa Nam Bộ nằm trong lưu vực sông Đồng Nai và hệ thống sông Cửu Long, với khí hậu hai mùa (Khô - mưa), với mênh mông sông nước và kênh rạch Các cư dân Việt, Chăm, Hoa tới khai phá đã nhanh chóng hòa nhập với thiên nhiên và cuộc sống của cư dân bản địa (Khơmer, Ma, Xtiêng, Chơro, Mnông) Nhà ở có khuynh hướng trải dài ven kênh, ven lộ, bữa ăn giàu thủy sản, tính cách con người ưa phóng khoáng Tín ngưỡng tôn giáo hết sức đa dạng và phóng khoáng, sớm tiếp cận và đi sâu trong quá trình giao lưu và hội nhập của Việt Nam với phương Tây…đó là vài nét phát thảo những đặc trưng văn hóa của vùng này [13.36]
1.1.2 Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
1.1.2.1 Khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc
Bản là cái gốc, cái căn bản, cái lõi, cái hạt nhân của một sự vật Sắc là thể hiện
ra ngoài Nói bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam tức là nói những giá trị gốc, căn bản, cốt lõi, những giá trị hạt nhân của dân tộc Việt Nam Nói những hạt nhân giá trị hạt nhân tức là không phải nói tất cả mọi giá trị, mà chỉ là nói những giá trị tiêu biểu nhất, bản chất nhất, chúng mang tính dân tộc sâu sắc đến nỗi chúng biểu hiện trong mọi lĩnh vực của nền văn hoá Việt Nam, trong các lĩnh vực văn học nghệ thuật, sân khấu, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, trong sinh hoạt, giao tiếp, ứng xử hằng ngày của
người Việt Nam
Những giá trị hạt nhân đó không phải tự nhiên mà có, mà được tạo thành dần dần và được khẳng định trong quá trình lịch sử xây dựng, củng cố và phát triển của dân tộc Việt Nam Những giá trị đó không phải là không thay đổi trong quá trình lịch
sử Có những giá trị cũ, lỗi thời bị xóa bỏ, và có những giá trị mới, tiến bộ được bổ sung vào Có những giá trị tiếp tục phát huy tác dụng, dưới những hình thức mới Dân tộc Việt Nam, với tư cách là chủ thể sáng tạo, thường xuyên kiểm nghiệm những giá
Trang 11tri hạt nhân đó, quyết định những thay đổi và bổ sung cần thiết, tái tạo những giá trị đó
Có người hỏi có thể có những giá trị bản sắc là tiêu cực, hay là đã nói bản sắc là nói cái gì tiến bộ, tích cực, xứng đáng được trao truyền và thừa kế
Như trên vừa nói, không nên có cái nhìn tĩnh tại và siêu hình đối với bản sắc dân tộc Cái gì sống đều thay đổi và phải thay đổi Bản sắc dân tộc cũng vậy Giai cấp lãnh đạo phải sáng suốt và chủ động đối với quá trình diễn biến của bản sắc dân tộc Những giá trị nào lỗi thời phải xóa bỏ, những giá trị mới nào cần bổ sung thêm vào, những giá trị nào cần kế thừa, nhưng dưới một hình thức mới, và hình thức mới đó thêm ra sao? Trong những bước chuyển cách mạng, những sự kiện đổi đời của dân tộc
ta như cuộc cách mạng Tháng tám, chiến thắng của Ngô Quyền kết thúc đêm dài mười thế kỷ Bắc thuộc, sự kiện Tây Sơn v.v , bộ phận lãnh đạo của dân tộc thời bấy giờ phải nghiêm túc kiểm nghiệm lại những giá trị bản sắc đương thời của dân tộc Không phải không có lý do mà sau 10 thế kỷ Bắc thuộc, bộ phận lãnh đạo của dân tộc thời bấy giờ đã gạt bỏ Nho giáo và chấp nhận tư tưởng Phật giáo Cũng với những lý do xác đáng, dân tộc ta kinh qua cuộc cách mạng tháng Tám đã chấp nhận hệ tư tưởng Mác-Lênin như là dòng tư tưởng chủ lưu hiện nay của mình
Những cuộc kiểm nghiệm như thế cũng cần được tiến hành khi xảy ra giao tiếp văn hóa rộng rãi giữa các nền văn hóa khác nhau, thí dụ giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Xô Viết, văn hóa Việt Nam và văn hóa Ấn Độ, Trung Hoa, văn hóa Việt Nam và văn hóa Âu, Mỹ không có biên giới Thời đại hiện nay là thời đại của kỹ thuật giao thông liên lạc và thông tin cực kỳ phát triển Trái đất như bị thu nhỏ lại hàng mấy trăm lần, so với chục năm về trước Do đó sự tiếp xúc văn hóa giữa các dân tộc sống cách
Trang 12xa nhau là tất nhiên và tất yếu Qua những cuộc tiếp xúc đó, bản sắc văn hóa của các dân tộc đều có sự thay đổi, bên cạnh những cái khẳng định Thật là vô lý nếu chúng ta gạt bỏ mọi yếu tố tiến bộ và hay đẹp của văn hóa nước khác chỉ vì chúng là ngoại lai Nhưng cũng sẽ là vô lý hơn, nếu chúng ta tiếp thu hàng loạt không có phê phán mọi yếu tố của văn hóa nước ngoài chỉ vì chúng là mới lạ, tân kỳ
Những yếu tố tiến bộ của văn hóa nước ngoài, một khi đã được dân tộc ta chấp nhận và biến thành sở hữu của mình rồi, thì chúng có thể trở thành một bộ phận của giá trị bản sắc văn hóa Việt Nam, của dân tộc Việt Nam Không ai có thể phủ nhận rằng nhiều yếu tố Phật giáo, Nho giáo cũng như Mác-Lênin, mặc dù bắt nguồn từ nước ngoài nhưng đã trở thành bộ phận khăng khít của bản sắc dân tộc và văn hóa Việt Nam, đã được dân tộc Việt Nam biến thành sở hữu thật sự của mình Nói tóm lại, cái lỗi thời nhưng không được cải tiến, cái tốt nhưng lại bị cường điệu, cái tốt ngoại lai nhưng không được bản địa hóa nhuần nhuyễn đều có thể biến thành tiêu cực và tạo trở ngại cho sự phát triển bình thường của nền văn hóa dân tộc Vì vậy, chúng tôi khẳng định: những giá trị bản sắc của dân tộc Việt Nam, của nền văn hóa Việt Nam cần phải được bộ phận lãnh đạo của dân tộc thường xuyên kiểm nghiệm, theo dõi, gìn giữ, cải tiến, bổ sung, gạt bỏ những cái lỗi thời, đổi mới những hình thức không còn thích hợp, tiếp thu và bản địa hóa mọi tinh hoa của văn hóa nước ngoài khiến cho những giá trị gọi là bản sắc văn hóa của dân tộc ta phát huy tới mức cao nhất của hai tác dụng xúc tác và hội tụ đối với sự phát triển toàn diện và mọi mặt của dân tộc Việt Nam chúng ta Tác dụng xúc tác là tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển Tác dụng hội tụ là tác dụng gắn bó, kết hợp với các mặt, các yếu tố thành một hệ thống thống nhất [3.265]
1.1.2.2 Vị trí của bản sắc văn hóa dân tộc
Bản sắc văn hóa dân tộc có vị trí rất quan trọng Chính bản sắc văn hóa dân tộc đảm bảo cho dân tộc tồn tại, đứng vững và phát triển qua các biến động lịch sử
Nhờ bản sắc văn hóa dân tộc chúng ta biểu lộ được trọn vẹn sự hiện diện của một bản sắc trong giao lưu với quốc tế Mục tiêu của giao lưu là thông qua giao lưu với nền văn hóa mới ta hội nhập vào văn hóa thế giới Còn sao chép trở thành “cái bóng”, “cái đuôi” của người ta thì không còn có gì mà hội nhập bình đẳng
Trước yêu cầu của thời kì phát triển mới trước nguy cơ “đồng nhất” về văn hóa thực chất là sự thống trị của văn hóa nước lớn, nước giàu thì bản sắc văn hóa dân tộc
có ý nghĩa cực kì lớn
Trang 131.1.2.3 Các khía cạnh của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
Việt nam là một quốc gia trải dài qua hàng ngàn năm xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Qua lịch sử của một dân tộc giàu truyền thống như vậy thì đi cùng với
đó là một nền văn hóa đặc sắc và đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc
a Dân tộc
Việt Nam - ngôi nhà chung của nhiều dân tộc Các dân tộc cùng chung sống với
bề dày văn hóa và truyền thống của mình đã tạo nên một dân tộc Việt Nam phong phú,
đa dạng và có bề dày văn hóa Mỗi dân tộc đều là anh em, cùng mở mang gây dựng non sông “Tam sơn, tứ hải, nhất phân điền”, với rừng núi trùng điệp, đồng bằng sải cánh cò bay và biển Đông bốn mùa sóng vỗ; bờ cõi liền một dãi từ chỏm Lũng Cú (Bắc) đến xóm Rạch Tàu (Nam), từ đỉnh Trường Sơn (Tây) cho đến quần đảo Trường
Phong tục sinh đẻ: Một đứa trẻ ra đời không chỉ là niềm vui của gia đình mà còn là niềm vui của cả cộng đồng, một thành viên mới đã gia nhập vào xã hội Đối với người Việt Nam việc dạy con không phải chỉ từ lúc “còn thơ” mà ngay cả lúc đứa trẻ còn trong bào thai Người mẹ khi mang thai phải kiêng cử nhiều điều, từ ăn uống đến nói năng, đi đứng, hành động, cử chỉ, nghe nhìn Sau khi sinh người mẹ phải ở trong
Trang 14một gian buồng kính gió và yên tĩnh, bên cạnh chậu than hồng cho ấm áp Đến ngày
đủ cử phải làm lễ đầy cử cho con để tạ ơn những bà mụ, đầy tháng làm lễ “đầy tháng”
và đặt tên cho con, đầy năm làm lễ đầy tuổi tôi và có lệ thử nghề nghiệp cho con, lễ xin cho con vào tộc bạ…
Phong tục hôn nhân: Vượt qua lứa tuổi niên thiếu, đến tuổi cập kê nam nữ thanh niên bắt đầu tìm hiểu nhau, hoặc có cha mẹ thông qua mô chước tìm ý chung nhân cho con và chọn ngày “chạm ngõ” xin hỏi cưới Theo phong tục lễ cưới ngày xưa thì phải trải qua lục lễ (nạp thái, vấn danh, nạp cát, thỉnh kỳ, nạp tệ và thân nghinh), nếu giản tiện thì ít nhất phải có 3 lễ (dạm, hỏi, cưới)
Phong tục tang ma: Sau khi người chết thì chúng ta phải lấy khăn đỏ che mặt, lập chủ tang, lên chương trình tang lễ, ra cáo phó, chuẩn bị áo quan, định giờ khâm liệm Sau khi làm lễ khâm liệm con cháu cởi bỏ áo thường, mặc đồ tang, lập bàn thờ
cử ai, cử nhạc hiếu và làm lễ truy điệu Trước khi hạ huyệt phải làm lễ tạ huyệt Hằng ngày phải làm lễ cúng cơm cho đến hết 100 ngày hoặc 3 năm, đủ 50 ngày làm lễ chung tất,100 ngày làm lễ tốt khốc, được 1 năm thì làm giỗ
c Lễ hội
Lễ hội Việt Nam là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng "Lễ" là
hệ thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân
họ chưa có khả năng thực hiện "Hội" là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống Tiêu biểu như: hội Gióng (xứ Kinh Bắc),
lễ hội đền Hùng (Xứ Đoài), lễ hội chùa Bái Đính, lễ hội Yên Tử, lễ hội bà chúa Xứ (An Giang), lễ hội pháo hoa Quốc tế Đà Nẵng (thành phố Đà Nẵng)
Cũng giống như nhiều nước khác, Việt Nam là một nước có nhiều lễ hội dân gian
là hình thức sinh hoạt của cộng đồng Trong lễ hội, các lễ nghi tín ngưỡng, các phong tục tập quán, các thể lệ và hình thức sinh hoạt của một cộng đồng đã được tái hiện một cách rất sinh động Lễ hội được tổ chức vào những thời điểm khác nhau trong một năm, tuỳ thuộc vào phong tục tập quán của từng dân tộc, nhưng lễ hội vẫn tập trung nhiều nhất vào mùa Xuân
Việt Nam có nhiều loại lễ hội lớn và long trọng như lễ tế các thần linh, các lễ hội nhằm tưởng nhớ tới công ơn tổ tiên, nòi giống như hội Đền Hùng, có những lễ hội tưởng nhớ tới các anh hùng như hội Đền Mẫu Đợi, hội Gióng, hội Đền Kiếp Bạc, hội
Trang 15Đống Đa, có những lễ hội tưởng nhớ người có công mở mang bờ cõi, các ông tổ các ngành nghề, của người Việt Bên cạnh các lễ hội lớn của người Việt, các dân tộc khác cũng có những lễ hội lớn như lễ hội Katê của người Chăm, lễ cúng Trăng của người Khmer, lễ hội xuống Đồng của người Tày, người Nùng, lễ hội hoa ban của người Thái, Hội đua voi của người Mnông,
Ngoài các lễ hội lớn và long trọng tại Việt Nam từ bắc đến nam còn có hàng nghìn lễ hội lớn nhỏ khác nhau của các dân tộc Việt Nam Các lễ hội ở Việt Nam rất
đa dạng, những lễ hội về nông nghiệp, hội văn nghệ vui chơi, thi tài, hội giao duyên, hội lịch sử, Đặc biệt là hội mừng năm mới (Tết Nguyên Đán) của người Việt và một
số dân tộc khác
Cùng với các lễ hội dân gian, các lễ hội của các tôn giáo ban đầu chỉ mang ý nghĩa nội bộ nhưng theo thời gian các lễ hội đó lan sang các tầng lớp xã hội khác và thành những lễ hội mang tính cộng đồng như lễ Phật đản của Phật giáo và lễ Noel của Công giáo
- Giao tiếp ngoài xã hội: Người Việt Nam có tính hiếu khách Có khách đến nhà, dù quen hay lạ, thân hay sơ, dù nghèo khó đến đâu cũng đón tiếp một cách chu đáo và tiếp đãi một cách thịnh tình Mặt khác, người Việt Nam cũng rất thích sự đi lại thăm viếng nhau Việc thăm hỏi là biểu hiện của tình cảm, sự quan tâm nhau và tác
Trang 16dụng thắt chặt quan hệ Cùng việc thăm viếng, để biểu lộ tình cảm, người Việt Nam rất thích hỏi han Do đó, trong gặp gỡ, câu chào thường đi liền với lời hỏi và nhiều khi câu hỏi thường dùng thay cho lời chào Người được hỏi đôi khi không cần phải trả lời câu hỏi, mà chỉ đáp “vâng ạ” là xong, hoặc chỉ nởi một nụ cười để đáp lễ là đủ Đối với người hỏi cũng chẳng cần muốn biết về thông tin mà mình đã hỏi
e Tín ngưỡng, tôn giáo
Như mọi nơi trên thế giới, các dân tộc ta cũng tôn thờ rất nhiều thần linh Người xưa cho rằng bất cứ gì cũng có linh hồn, nên người ta thờ rất nhiều thần, nguyên thủy
họ thờ thần mặt Trời, thần Mặt Trăng, thần đất, thần Sông, thần Biển, Thần Sống,…những vị thần gắn liền với những ước mơ thiết thực của cuộc sống người dân nông nghiệp Bên cạnh việc thờ cúng các vị thần linh, với truyền thống uống nước nhớ nguồn của từ thời xa xưa người dân Việt Nam coi trọng việc thờ cúng tổ tên và cúng giỗ người đã mất là một tục lệ lâu đời của người Việt và một số dân tộc khác
Về tôn giáo, người Việt Nam cũng có những sự sùng bái vào những vị thần linh khác nhau như: Nho giáo, phật giáo, đạo giáo, Balamon giáo, hồi giáo… Phần đông đa
số người dân Việt Nam xem họ là nhưng người không có tín ngưỡng, mặc dù họ cũng
có đi đến các địa điểm tôn giáo vài lần trong một năm Người Việt Nam được cho là ít
có tinh thần tôn giáo, các tôn giáo thường được tập trung ở mặt thờ cúng, mặt giáo lý ít được quan tâm
f Ngôn ngữ
Về mặt ngôn ngữ, các nhà dân tộc học đã chia nước ta thành 8 nhóm ngôn ngữ học:
Nhóm1 Việt – Mường: Gồm người Việt, người Mường
Nhóm2 Tày – Thái: Gồm người Tày, Thái, Nùng, Bố Y, Sán chay, Lào,
Nhóm3 Dao – Hmông: Gồm người Hmong, Dao, Pả Then…
Nhóm4 Tạng – Miếng: Gồm người Hả nhỉ, Lô Lô, Si La, La Hủ…
Nhóm5 Hán: Gồm có người Hoa, Sán Dùi, Ngải…
Nhóm6 Môn-Khơme: Gồm người Khơmer, Kháng, Hre, Xơ Đăng, Ba Na, Cơ
Ho, Mạ…
Nhóm7 La Mã – Đa đảo:Gồm người Chăm, Gia Rai, Chu Ru,…
Nhóm8 hỗn hợp Nam Á: Gồm la Chỉ, La Ha, Pu Chéo, Cơ lao…
Mặc dù tiếng nói của các dân tộc thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau, song
do các dân tộc sống rất xen kẽ với nhau nên một dân tộc thường biết đến tiếng các dân
Trang 17tộc có quan hệ họ hàng này, dù sống xen kẽ với nhau, giao lưu văn hóa với nhau, nhưng các dân tộc vẫn lưu giữ được bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình
Tiếng Việt thuộc về ngôn ngữ Việt – Mường, hiện nay là ngôn ngữ chính của nước Việt Nam, là tiếng mẹ đẻ của người dân tộc Kinh và là ngôn ngữ hành chính chung của 54 dân tộc sống trên đất nước Việt Nam
g Văn học nghệ thuật
Cũng như nền văn học của cả nước trên thế giới, văn học Việt Nam bao gồm hai bộ phận đó là văn học dân gian và văn học viết Văn học dân gian là văn học tuyền miệng của người dân và văn học viết gồm có văn học chữ Hán, văn học chữ Nôm và văn học chữ Quốc ngữ
Văn học dân gian thường ca ngợi tài năng và lòng dũng cảm của con người trước thiên nhiên khắc nghiệt, trước kẻ thù độc ác, ca ngợi lòng nhân hậu, độ lượng giúp đỡ nhau, ca ngợi tình yêu trai gái, tình chung thủy của vợ chồng, yêu con người, yêu thiên nhiên, yêu làng xóm, yêu quê hương
Trong văn học viết, với chữ Hán và chữ Nôm được sử dụng trong một thời gian dài Các tác phẩm văn học cổ nhất còn lưu lại được sáng tác vào thế kỉ 11 và chủ yếu liên quan đến Đạo Phật khi đó đang thịnh hành tại Việt Nam Đó là những bài thơ của các vị sư giáo về cơ sở căn bản của đạo Phật cũng như bình luận về các biến cố lịch sử hay các đề tài ca ngợi vẽ đẹp thiên nhiên, từ thế kỉ 13 nhiều công trình về lịch sử, địa lí bằng chữ Hán đã xuất hiện
Từ thế kỉ 20, chữ quốc ngữ được phổ biến rộng rãi, với sự phát triển của công nghệ in ấn cùng với những tiếp xúc của văn học phương Tây, văn học Việt Nam xuất hiện các thể loại văn học mới, văn xuôi chiếm vị trí quan trọng trong văn đàn cùng với thơ ngự trị trước đó Các thay đổi trong đới sống văn học đã xuất hiện với sự ra đời của phong trào thơ Mới
Trang 18+ Mỹ thuật Việt Nam phát triển rực rỡ vào các thời kì Lí, Trần, Lê qua các công trình tôn giáo và cung điện các vương triều
+ Hội họa xuất hiện muộn hơn với dòng tranh dân gian Việt Nam, gồm các tranh lụa, tranh tết, tranh Đông Hồ Đề tài tranh dân gian thường rất giản dị và gần gũi với đời sống dân dã, mỗi bức tranh đều có ý nghĩa tượng trưng và đều được cách diệu hóa
+ Sân khấu dân gian Việt Nam gắn liền với đời sống nông nghiệp, múa rối nước
là nghệ thuật dân gian của người dân làm lúa nước ở đồng bằng Bắc Bộ Cùng với múa rối nước và nghệ thuật chèo, tuồng, cải lương…góp phần làm phong phú nền sân khấu Vịêt Nam
i Ẩm thực
Nền ẩm thực Việt Nam rất đa dạng và phong phú bao gồm nền ẩm thực của các dân tộc, các vùng kết hợp với nền ẩm thực du nhập từ các nước bạn bè Các tỉnh và thành phố có những món ăn được xem là đặc sản như phở Hà Nội, chả cá Lã Vọng, bánh gai Ninh Giang…
Ẩm thực Việt Nam chú trọng ăn ngon tuy đôi khi không đặt mục tiêu hàng đầu
là ăn bổ Bởi vậy trong hệ thống ẩm thực người Việt ít có những món hết sức cầu kỳ, hầm nhừ ninh kỹ như ẩm thực Trung Hoa, cũng không thiên về bày biện có tính thẩm
mỹ cao độ như ẩm thực của Nhật Bản, mà thiên về phối trộn gia vị một cách tinh tế để món ăn được ngon, hoặc sử dụng những nguyên liệu dai, giòn thưởng thức rất thú vị
dù không thực sự bổ béo
Trong thực tế nhiều người nhận thấy, một cách cảm tính, đặc trưng ẩm thực Việt Nam là sự trung dung trong cách pha trộn nguyên liệu không quá cay, quá ngọt hay quá béo Các nguyên liệu phụ (gia vị) để chế biến món ăn Việt Nam rất phong phú, bao gồm nhiều loại rau thơm, gia vị thực vật, quả hoặc lá non; các gia vị lên men và các gia vị đặc trưng của các dân tộc Đông Nam Á nhiệt đới nói trên được
sử dụng một cách tương sinh hài hòa với nhau và thường thuận theo nguyên lý "âm dương phối triển"
Số lượng món ăn và cách thức kết hợp thực phẩm trong món ăn Việt Nam là vô cùng đa dạng do có sự kết hợp Đông Tây, ẩm thực Trung Hoa và ẩm thực các nước Đông Nam Á, đặc biệt là sự sáng tạo của người Việt để bản địa hóa và tìm ra những
Trang 19phương thức thích hợp nhất Có những món ăn không hề thay đổi trong hàng nghìn năm qua
k Trang phục
Trang phục Việt Nam rất đa dạng Ở thời phong kiến, người ta có những quy định rất khắt khe về cách ăn mặc Dân thường không được phép mặc đồ nhuộm bất kì màu nào khác ngoài những màu đen, nâu hay trắng Quần áo của người dân hầu hết là tầm thường và đơn sơ, để hợp với thân phận của mình trong xã hội (ngoài những dịp lễ quan trọng hoặc lễ cúng tế, đám cưới )
Một trong những y phục cổ xưa nhất được người phụ nữ bình dân mặc cho đến đầu thế kỉ XX là bộ "Áo tứ thân" Có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng là "Áo tứ thân"
có thể đã ra đời từ thế kỷ 12.Trong đời sống thường nhật ngày nay, trang phục đã theo phong cách phương Tây Những bộ quần áo truyền thống chỉ được mặc trong những dịp đặc biệt Ngoài ra, áo dài cho cả nam lẫn nữ được coi như quốc phục của Việt Nam
1.1.3 Giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho
HS Tiểu học qua môn Địa lí lớp 4
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường cùng với nhu cầu toàn cầu hóa đã làm cho nền văn hóa nước ta có nguy cơ bị mai một và du nhập vào các nền văn hóa khác
Sự thiếu hiểu biết về cách giữ gìn và phát huy các bản sắc văn hóa dân tộc của con người là một trong những các nguyên nhân chính gây nên việc dần dần mất đi bản sắc văn hóa dân tộc Do vậy, cần phải giáo dục cho mọi người biết và hiểu về sự cần thiết của việc giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho mọi người nói chung và cho HS Tiểu học nói riêng
1.1.3.1 Ý nghĩa của việc giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho HS Tiểu học
Việc giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam qua môn Địa lí lớp 4 có ý nghĩa rất lớn đối với HS Tiểu học
+ Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình hình thành nhân cách, các em coi trọng và dễ nghe lời người lớn, nhất là thầy cô giáo Chính vì vậy, việc giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là hữu hiệu nhất, bền vững nhất
Trang 20+ Các em đang sống trong nền kinh tế thị trường và toàn cầu hóa vì thế có những ảnh hưởng lớn đến việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Chính vì thế việc giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong dạy học môn Địa lí lớp 4 là những cơ sở thực tiễn hết sức giá trị của việc giáo dục ý thức trách nhiệm, hành vi cho các em đối với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
1.1.3.2 Tác dụng của việc giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho HS Tiểu học qua môn Địa lí lớp 4
Việc giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong dạy học môn Địa lí lớp 4 nhằm:
Giáo dục cho các em những việc làm nhỏ nhất để góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc như: có hiểu biết về bản sắc văn hóa dân tộc ở nơi mình đang sinh sống và các vùng miền trên lãnh thổ việt Nam, không chạy đòi theo các trang phục của các nước khác trên thế giới và các diễn viên, ca sĩ Biết vận động mọi người biết giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Đó là những nền tảng rất quan trọng để sau này các em trở thành những người công dân tốt, biết giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập với các dân tộc khác trên thế giới
1.1.4 Đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học
1.1.4.1 Đặc điểm nhận thức
a Tri giác
Tri giác của HS Tiểu học mang tính đại thể, ít di sâu vào chi tiết và mang tính không chủ định do các em phân biệt các đối tượng còn chưa chính xác Những gì phù hợp với nhu cầu các em, những gì các em thường gặp trong cuộc sống và gắn với hoạt động thực tiễn của các em, những gì giáo viên hướng dẫn thì các em mới tri giác được
Ở các lớp cuối cấp, tri giác các em mang tính mục đích và có phương hướng rõ ràng hơn [12.31]
Tính cảm xúc thể hiện rõ trong tri giác Những đặc điểm, dấu hiệu nào gây cho các em nhiều cảm xúc thì các em tri giác trước hết Vì vậy, những vật trực quan, màu sắc rực rỡ, bắt mắt, sinh động, đẹp thì các em tri giác tốt hơn, gây ấn tượng mạnh cho các em Ở lứa tuổi này các em tri giác về thời gian và không gian còn hạn chế
Trang 21b Chú ý
Các em học sinh Tiểu học thường chú ý đến những gì mới lạ và thấy hấp dẫn thông qua các trực quan nổi bật rực rỡ Nắm được đặc điểm này, giáo viên thường sử dụng đồ dùng dạy học rất phong phú như tranh ảnh, biểu đồ, mô hình, vật thật… [12.32]
Đối các em học sinh lớp 4 thì xuất hiện những chú ý có chủ đích nhưng còn đang
ở mức độ thấp và ngày càng hoàn thiện hơn để đáp ứng nhu cầu học tập đề ra Sự tập trung của các em phụ thuộc vào nhiều yếu tố Vì vậy, giáo viên phải hiểu, quan tâm và nhất là khéo léo đưa các em vào học tập một cách nhẹ nhàng, thoải mái Sự khen ngợi, khuyến khích, tuyên dương cũng là một động lực, một tác động khiến các em chú ý hơn Đặc biệt, cường độ học tập quá chậm hoặc quá nhanh cũng ảnh hưởng xấu đến khả năng tập trung chú ý của các em
c.Tư duy
Tư duy của học sinh Tiểu học có sự phát triển theo lứa tuổi và trình độ nhận thức
Tư duy của các em là tư duy cụ thể mang tính hình thức bằng cách dựa vào đặc điểm trực quan của những đối tượng và hiện tượng cụ thể [12.32]
Đặc điểm tư duy của lứa tuổi này không mang tính tuyệt đối mà chỉ mang tính tương đối Đặc điểm nhận thức là kết quả của quá trình dạy học ở tiểu học Những đặc điểm tư duy và cả những đặc điểm nhận thức là kết quả của quá trình giảng dạy ở tiểu học Trong quá trình học, tư duy của học sinh thay đổi và phát triển hơn rất nhiều Do
đó, giáo viên cần tổ chức dạy học hợp lí để phát triển tư duy cho các em
Do đó, muốn giáo dục tình cảm cho học sinh phải đi từ những đặc điểm trực quan, rực rỡ, sinh động Chỉ những hình ảnh trực quan, rực rỡ sinh động, giàu hình ảnh mới dễ gây xúc cảm Vì thế, trong dạy học, sử dụng phương pháp trực quan đúng quy cách, hấp dẫn giúp các em nắm vững tri thức mà còn tác động đến xúc cảm đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ của học sinh
Trang 22e Tưởng tượng
Tưởng tượng của học sinh Tiểu học được hình thành và phát triển trong hoạt động học vào các giai đoạn khác nhau của các em Tuy nhiên, tưởng tượng của các em còn tản mạn, ít có tổ chức Hình ảnh trong tưởng tượng còn rất đơn giản, hay thay đổi
và chưa bền vững Vì vậy, việc sử dụng phương pháp trực quan sẽ giúp các em có trí tưởng tượng phong phú hơn, đạt mức độ cao hơn và chính xác hơn [12.39]
f Trí nhớ
Đối với học sinh lớp 4 trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển hơn trí nhớ từ ngữ, lôgic Các em ghi nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn định nghĩa, những lời giải thích dài dòng [12.32]
Với những học sinh ở lứa tuổi này có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần, có những mối liên hệ, ý nghĩa của tài liệu học tập mà các
em chưa hiểu hết nên việc nhớ vẹt là rất phổ biến ở lứa tuổi này
1.1.4.2 Nhân cách của học sinh Tiểu học
sờ, nắm các sự vật riêng lẽ, khám phá các hiện tượng riêng biệt [12.39]
Chính nhu cầu nhận thức thôi thúc các em vươn lên nắm kiến thức, phát triển trí tuệ Việc thỏa mãn các nhu cầu nhận thức sẽ giúp các em hứng thú trong học tập và tiếp tục tìm hiểu sự đa dạng đầy màu sắc của thế giới xung quanh
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Quan điểm xây dựng chương trình, mục tiêu, cách trình bày sách giáo khoa
và nội dung chương trình sách giáo khoa Địa lí lớp 4
1.2.1.1 Quan điểm xây dựng chương trình môn Địa lí lớp 4
Trang 23Sách giáo khoa Địa lí lớp 4 được biên soạn theo quan điểm: Sách giáo khoa không chỉ là nguồn cung cấp tri thức cho HS mà còn là phương tiện để GV đổi mới cách dạy và HS đổi mới cách học Nói cách khác, sách giáo khoa là không chỉ trình bày các kiến thức có sẵn mà trở thành tài liệu định hướng và hỗ trợ cho HS tự học, tự phát hiện, tự chiếm lĩnh tri thức mới và thực hành theo năng lực của người học
Chương trình được xây dựng theo quan điểm tích hợp Cụ thể là ở Tiểu học Địa
lí không dạy thành một môn học riêng mà dạy tích hợp trong mối quan hệ với nội dung khác
Nội dung phần Địa lí đề cập tới đặc điểm tiêu biểu về không gian với điều kiện
và hoạt động chủ yếu của con người hiện nay, những hiểu biết ban đầu về dân cư, điều kiện sống, các hoạt động cơ bản của địa phương
Chương trình được xây dựng trên quan điểm gắn với địa phương, chương trình dành 10-15% tổng số thời lượng cho nội dung tìm hiểu địa phượng, nội dung này có thể thực hiện như sau: với những bài Địa lí có nội dung về đặc điểm đặc trưng của địa phương, nên dành thời gian cho HS liên hệ với thực tế kĩ hơn so với HS nơi khác Tạo điều kiện cho HS tham quan 1 đến 2 địa điểm ở địa phương để HS có thể thu được những kiến thức cần thiết cho bài học Trường hợp GV không thể đưa HS đi tham quan nên mời người có kiến thức liên quan để trò chuyện với học HS
Ngoài ra chương trình còn xây dựng trên quan điểm đổi mới phương pháp dạy học Các phương pháp dạy học được cụ thể hóa trong sách giáo viên cũng như sách giáo khoa và được GV thực hiện thông qua quá trình dạy học trên lớp
Kênh chữ trong sách giáo khoa được thể hiện các kiến thức cung cấp cho học sinh, nội dung trọng tâm của bài học trong phần ghi nhớ ở cuối bài
Kênh hình được tăng lên không chỉ về mặt số lượng mà còn cả về chất lượng Bảng số liệu được dạy học ngay từ lớp 4 và có những hình vẽ mang tính chất liên hoàn giúp học sinh hình dung được quy trình sản xuất nào đó Ví dụ chế biến chè, sản xuất gốm, , sách giáo khoa còn thể hiện sự kết nối giữa tranh ảnh và bản đồ Điều này tạo điều kiện cho HS hình thành những biểu tượng Địa lí
1.2.1.2 Mục tiêu của môn Địa lí lớp 4
- Về kiến thức: Nhận biết được một số đặc điểm về tự nhiên, dân cư và hoạt
động của con người ở các miền địa hình của nước ta
Trang 24- Về kỹ năng: Bước đầu biết vận dụng và xác định các kĩ năng cơ bản, đơn giản
về bản đồ (hiểu về bản đồ, đọc tên các vùng miền, địa danh và một số đối tượng), các tranh ảnh Địa lí, sơ đồ…
- Về thái độ: Quan tâm đến một số vấn đề về tự nhiên, con người, hoạt động kinh tế và môi trường ở từng vùng, miền và đất nước ta Qua các kiến thức được học các em thêm yêu môn học Địa lí
1.2.1.3 Nội dung chương trình sách giáo khoa Địa lí lớp 4
Nội dung các bài học địa lí lớp 4 trình bày các vấn đề: Thiên nhiên và hoạt động của con người ở miền núi và trung du, thiên nhiên và hoạt động của con người ở miền đồng bằng, vùng biển Việt Nam Bao gồm các bài học cụ thể sau:
- Bản đồ và cách sử dụng bản đồ Bản đồ địa hình Việt Nam
- Thiên nhiên và hoạt động của con người ở miền núi và trung du
+ Đặc điểm tiêu biểu của thiên nhiên (địa hình, khí hậu, sông ngòi)
+ Cư dân (mật độ dân số không lớn, ba dân tộc tiêu biểu với nét đặc trưng về trang phục, lễ hội)
+ Hoạt động sản xuất gắn với tài nguyên rừng, sức nước, đất, khoáng sản (khai thác chế biến gỗ, quặng, trồng trọt, chăn nuôi gia súc, thủy điện,…) Hoạt động dịch vụ (giao thông miền núi, chợ phiên)
+ Thành phố vùng cao (Đà Lạt)
- Thiên nhiên và hoạt động của con người ở miền đồng bằng (đồng bằng Bắc Bộ, đồng
bằng Nam Bộ)
+ Đặc điểm tiêu biểu của thiên nhiên (Địa hình, khí hậu, sông ngòi)
+ Cư dân (mật độ dân số lớn, ba dân tộc tiêu biểu với nét đặc trưng về trang phục, lễ hội)
+ Hoạt động sản xuất gắn với tài nguyên đất, nước, khí hậu, sinh vật (trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông, thủy sản Hoạt động dịch vụ (giao thông…)
+Thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Cần Thơ
- Thiên nhiên và hoạt động của con người ở miền duyên hải (dải đồng bằng duyên hải
miền Trung)
+ Đặc điểm tiêu biểu của thiên nhiên (địa hình, khí hậu, đất, nước, sinh vật)
+ Cư dân (dân cư khá đông đúc, hai dân tộc tiêu biểu với nét đặc trưng về trang phục
và lễ hội)
Trang 25+Hoạt động sản xuất gắn với tài nguyên (trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt và chế biến hải sản)
+ Thành phố: Huế, Đà Nẵng
- Biển đông, các đảo, quần đảo
+ Sơ lược về thiên nhiên, giá trị kinh tế của biển, đảo
+ Khai thác dầu khí và đánh bắt, chế biến hải sản
1.2.1.4 Cách trình bày sách giáo khoa Địa lí lớp 4
Sách được trình bày với khổ 17cm x 24cm, cỡ chữ to, số lượng kênh hình nhiều
và kích thước các hình phù hợp với học sinh Tiểu học
Có sự kết hợp chặt chẽ giữa kênh hình và kênh chữ trong từng bài học và trong toàn bộ cuốn sách Sách giáo khoa Địa lí lớp 4 kênh chữ đóng vai trò chủ yếu trong việc cung cấp kiến thức Kênh chữ trong sách giáo khoa bao gồm: các đoạn văn ngắn
có vai trò cung cấp tri thức, thông tin, nội dung trọng tâm của bài trong phần đóng khung và hệ thống câu hỏi cuối bài Ngoài ra sách giáo khoa còn có câu hỏi và lệnh ở giữa được in nghiêng để học sinh nhận biết và được dùng để hướng dẫn các em làm việc với những thông tin được cug cấp trong sách giáo khoa, với đồ dùng dạy học và liên hệ thực tế để tìm ra kiến thức mới
Kênh hình được tăng lên không chỉ về số lượng mà còn cả về thể loại, cụ thể: bảng số liệu được dạy học ngay từ khi học lớp 4 và có những hình vẽ hoặc tranh ảnh mang tính chất liên hoàn Giúp học sinh hình dung ra được quy trình sản xuất ra một mặt hàng nào đó Ví dụ: sản xuất chè, sản xuất đồ gốm
Cách trình bày một bài học:
Mỗi bài gồm 4 phần: Tên bài, phần cung cấp kiến thức bằng kênh chữ và kênh hình, phần câu hỏi hoặc yêu cầu các hoạt động học tập và phần tóm tắt trọng tâm của bài được dóng khung
Cách trình bày một chủ đề: Mỗi chủ đề có một trang riêng để giới thiệu tên chủ
đề, hình vẽ minh hoạ, xác định trọng tâm và cách tiếp cận
1.2.2 Tìm hiểu tình hình thực tế của việc giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho HS Tiểu học qua môn Địa lí lớp 4 ở trường Tiểu học
1.2.2.1 Đối tượng điều tra
Trang 26Đối tượng điều tra là GV đang giảng dạy lớp 4 và HS lớp 4 tại trường Tiểu học Chúng tôi chỉ tiến hành điều tra tại trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi , quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng và trường Huỳnh Ngọc Huệ, quận Thanh Khê thành phố
Đà Nẵng, trường Tiểu học Hải Vân, quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng
1.2.2.2 Nội dung điều tra
- Nhận thức của GV về việc giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho HS Tiểu học qua môn Địa lí lớp 4
- Nhận thức của GV về mức độ hứng thú của HS đối với việc học một số bài học
có nội dung lòng ghép giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
- Nhận thức của GV về việc sử dụng một số hình thức và phương pháp dạy học trong việc lòng ghép giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho HS
- Thái độ của HS khi học môn Địa lí
- Những khó khăn của HS khi học môn Địa lí lớp 4
1.1.2.3 Phương pháp điều tra
a Phương pháp điều tra bằng Anket (phiếu điều tra): Tôi đã soạn ra hệ thống các câu
hỏi điều tra để làm rõ những nội dung trên
b Phương pháp xử lí, thống kê: Việc tiến hành xử lí, thống kê những phiếu thăm dò ý
kiến của GV và HS thu lại được là cơ sở để tôi nhận xét vấn đề cần điều tra
c Phương pháp đàm thoại: Thông qua trao đổi, trò chuyện với GV để biết rõ hơn về
những khó khăn của GV khi lồng ghép việc giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam qua môn Địa lí lớp 4
1.2.2.4 Kết quả điều tra
a Kết quả điều tra GV
Tổng số phiếu phát ra điều tra là 21, tổng số phiếu thu là 20
Câu 1: Theo thầy (cô), việc giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc Việt Nam cho HS Tiểu học qua môn Địa lí lớp 4 có cần thiết không?
Bảng 1.1 Kết quả thể hiện mức độ nhân thức sự cần thiết của GV về việc giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho HS
Tiểu học
Trang 27Biểu đồ 1.1: Mức độ nhận thức của GV về sự cần thiết của việc giáo dục ý thức
giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam Nhận xét: Qua khảo sát, chúng tôi thấy rằng phần lớn GV cho rằng việc giáo dục ý
thức giữ gìn và phá huy bản sắc văn hoá dân Việt Nam cho HS Tiểu học là một việc làm cần thiết (chiếm75%) Bên cạnh đó có một số ít cho rằng việc giáo dục giáo dục ý thức giữ gìn và phá huy bản sắc văn hoá dân Việt Nam cho HS Tiểu học là rất cần thiết (chiếm 25%) Từ kết quả khảo sát này cho chúng ta thấy được đa số GV đã nhận thức được tầm quan trọng của việc đưa nội dung giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân Việt Nam vào trong dạy học môn Địa lí nói riêng và trong dạy
học nói chung
Câu 2: Theo thầy (cô), nên vận dụng những phương pháp nào để giáo dục ý thức giữ
gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho HS?
Bảng 1.2 Kết quả thể hiện mức độ vận dụng các phương pháp dạy học trong môn Địa lí lớp 4 có lồng ghép việc giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc Việt Nam
Trang 286 Phương pháp quan sát 20 100%
Biểu đồ 1.2: Nhận thức của GV về mức độ vận dụng các phương pháp trong học nội dung giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam Nhận xét: Qua khảo sát GV, chúng tôi nhận thấy rằng khi dạy các bài học trong môn
Địa lí có lồng ghép nội dung giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, GV đã sử dụng rất nhiểu phương pháp dạy học Trong đó có 3 phương pháp được
sử dụng nhiều nhất là phương pháp quan sát, phương pháp hỏi đáp và phương pháp thảo luận nhóm (chiếm 100%) Phương pháp điều tra, khảo sát cũng được đa số giáo viên sử dụng (chiếm 76%) trong một số bài học Phương pháp thực hành là một phương pháp thường được sử dụng trong dạy học môn Địa lí, tuy nhiên qua khảo sát thì phương pháp này không được GV sử dụng trong dạy học nội dung giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc vì đây là phương pháp được GV sử dụng
chủ yếu khi dạy các bài học có sử dụng bản đồ
Câu 3: Theo thầy (cô), nên vận dụng những hình thức nào nào để giáo dục ý thức giữ
gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho HS?
Bảng 1.3 Kết quả thể hiện mức độ vận dụng các hình thức dạy học trong môn Địa lí có lồng ghép việc giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc Việt Nam
Trang 29TT Trả lời Số lượng Tỉ lệ phần trăm(%)
Câu 4: Trong quá trình dạy học các bài học có nội dung lồng ghép lồng ghép giáo dục
ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, có những bài học liên quan đến địa phương mình thầy (cô) có kết hợp liên hệ thực tế để cung cấp các đặc điểm về bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam tại địa phương cho học sinh không? Mức
độ của nó như thế nào ?
Bảng 1.4 Mức độ liên hệ thực tế trong việc lồng ghép nội dung giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
Trang 3060%
0%
Biểu đồ 1.4: Mức độ liên hệ thực tế Nhận xét: Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam gồm nhiều vùng miền tạo nên, vì thế ở
mỗi địa phương có một bản sắc văn hóa dân tộc riêng Bên cạnh việc cung cấp cho HS những kiến thức về bản sắc văn hóa ở các vùng miền khác thì GV nên chú trọng cung
cấp kiến thức văn hóa địa phương cho các em hiểu rõ
Qua khảo sát chúng tôi nhận ra rằng, GV có liên hệ và cung cấp các kiến thức văn hóa thực tế ở địa phương cho các em Mức độ thường xuyên chiếm (40%), mức độ thỉnh thoảng chiếm (60%) Qua trò chuyện với GV, tôi được biết, một số GV cho rằng việc liên hệ thực tế khi dạy các bài học có nội dung ở vùng miền nơi địa phương các
em sinh sống mới dễ liên hệ thực tế, vì thế nên thỉnh thoảng có bài học về nội dung thực tế ở địa phương thì họ mới liên hệ thực tế cho HS
Câu 5: Trong quá trình dạy học các bài học có lồng ghép nội dung giáo dục ý thức giữ
gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, thầy (cô) đã sử dụng phương pháp
dạy học nào với mức độ như thế nào?
Bảng 1.5 Các phương pháp dạy học khi dạy học lồng ghép nội dung giáo dục ý
thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
Trang 31Biểu đồ 1.5: Mức độ vận dụng các phương pháp dạy học Nhận xét: Qua khảo sát cho thấy hầu hết các phương pháp mà tôi đưa ra đều được GV
sử dụng trong quá trình dạy học nội dung lòng ghép giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho HS Tiểu học Trong đó có 3 phương pháp
mà GV sử dụng một cách thường xuyên và chiếm số lượng tuyệt đối 100% là phương pháp quan sát, phương pháp hỏi đáp, phương pháp thảo luận nhóm Ba phương pháp này hầu như được sử dụng kết hợp với nhau trong dạy học nói chung và trong dạy học các bài học có nội dung lồng ghép giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, GV đưa ra tranh rồi cho HS quan sát (phương pháp quan sát), sau đó đưa ra câu hỏi để HS trả lời (phương pháp hỏi đáp), HS thảo luận với nhau để đưa ra câu trả lời đúng nhất (phương pháp thảo luận nhóm) Phương pháp thực hành không được GV
sử dụng trong dạy các bài học có nội dung giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Phương pháp điều tra, khảo sát cũng được một số giáo viên sử dụng
thường xuyên (chiếm 80%) và một số giáo viên sử dụng thỉnh thoảng (20%)
Trang 32Câu 6: Trong quá trình dạy học các bài học có lồng ghép nội dung giáo dục ý thức giữ
gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, thầy (cô) đã sử dụng hình thức dạy
học nào với mức độ như thế nào?
Bảng 1.6 Các hình thức dạy học khi lồng ghép nội dung giáo dục ý thức giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
vận dụng trong dạy học các bài học có nội dung giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Hình thức dạy học trong lớp được GV sử dụng một cách thường xuyên và hầu hết GV đều sử dụng chiếm 100%, hình thức trò chơi học tập sử dụng thường xuyên (20%), sử dụng thỉnh thoảng (80%) Trong quá trình dạy học, việc chính là cung cấp kiến thức cho các em, trò chơi chỉ có thể áp dung khi đảm bảo việc cung cấp kiến thức cho các em Vì thế hình thức trò chơi chỉ có một số giáo viên sử dụng một cách thường xuyên Dạy học ngoài thiên nhiên là một hình thức dạy học khiến học sinh rất hứng thú tuy nhiên với đặc tính hiếu động của các em HS Tiểu học thì GV khó bao quát lớp nên chỉ có 10% GV tổ chức thường xuyên và 80% GV tổ chức một cách thỉnh thoảng, có 10% GV không tổ chức
Trang 33Từ đó chúng ta nhận thấy rằng qua tìm hiểu kết quả điều tra thực tế thì hầu như các GV đều cho rằng việc giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là cần thiết và rất cần thiết Bên cạnh đó thầy cô cũng đã lựa chọn ra được một số hình thức và phương pháp để tích hợp nội dung giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho HS Từ thực tế trên cho thấy rằng, việc lồng ghép nội dung giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho HS Tiểu học là một điều cần thiết
b Kết quả điều tra HS
Tổng số phiếu phát ra điều tra là 260, tổng số phiếu thu là 250
Câu 1: Em có thích học môn Địa lí không ?
Bảng 1.7 Kết quả thể hiện mức độ hứng thú của HS khi học môn học Địa lí
HS có thái độ bình thường với môn học Địa lí (chiếm 80.8%), và cũng có một số em tỏ
ra không thích học môn Địa lí chiếm (2,4%) Tìm hiểu về cảm nhận của HS đối với môn học Địa lí, hầu hết các em cho rằng: Kiến thức môn Địa lí rất trừu tượng, khó nhớ Bên cạnh đó có một số HS thích môn học Địa lí (chiếm 16.8%), vì qua môn học
Trang 34này các em cũng học được những hiểu biết về thế giới xung quanh các em như: đặc
điểm tự nhiên, con người, xã hội, góp phần làm tăng thêm vốn hiểu biết của các em Câu 2: Trong giờ học một số bài học trong môn Địa lí, GV có lồng ghép việc giáo dục
ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho các em không?
Bảng 1.8: Kết quả thể hiện việc GV có lồng ghép nội dung giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam qua môn Địa lí
Biểu đồ 1.8: Nhận thức của học sinh về việc lồng ghép của giáo viên
Nhận xét: Qua khảo sát HS chúng ta nhận thấy rằng đa số GV có lồng ghép nội dung
giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc cho HS Tiểu học trong dạy học môn Địa lí lớp 4 (chiếm 100%) Điều này cho thấy được các GV đã nhận thức
được tầm quan trọng của vấn đề này và vận dụng nó vào trong dạy học
Câu 3: Các em có thích lồng ghép nội dung giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hóa dân tộc Việt Nam qua môn Địa lí không ?
Bảng 1.9 Kết quả thể hiện mức độ thích thú của HS khi học môn học Địa lí
có lồng ghép nội dung giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Trang 35TT Trả lời Số lượng Tỉ lệ phần trăm(%)
dạy các bài học có nội dung này
Câu 4: Khó khăn của em khi học môn Địa lí là gì ?
Nhận xét: Ở câu hỏi này tôi nhận thấy các em có rất nhiều khó khăn trong khi học
môn Địa lí Các em đã đưa ra rất nhiều khó khăn khác nhau Dưới đây là một số khó khăn mà các em đã nêu ra:
-Môn Địa lí có rất nhiều câu hỏi khó em không thể trả lời được
-Không thích kiểm tra bài
-Khó khăn của em khi học môn Địa lí là dò bài
-Có rất nhiều bài khó em không học được
Trang 36-Khó khăn của em khi học môn Địa lí là tối nào em cũng phải học bài cũ khó thuộc
- Có những bài khó em không hiểu được
-Có những bài em không hiểu lắm
- Khó khăn của em là em không thích học môn Địa lí cho lắm
- Lúc em gặp bài khó em rất bối rối, không biết làm gì chỉ biết hỏi bạn
- Em thường không thuộc bài
-Môn Địa lí phải học thuộc bài nhiều, còn em học rất khó thuộc
Nhìn chung, từ kết quả khảo sát trên chúng tôi nhận thấy rằng hầu hết HS cho rằng Địa lí là môn học bình thường Và hầu hết các em đều thích việc lồng ghép nội dung giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc quan môn Địa lí
Từ đó cho chúng ta thấy việc lồng ghép giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho các em là rất cần thiết, các em cũng rất hứng thú và yêu thích Tuy nhiên, bên cạnh một số em còn chưa hứng thú và không yêu thích môn học này thì giáo viên cần xây dựng những hình thức và phương pháp dạy học kích thích sự hứng thú của các em để các em có thể học tập một cách hiệu quả
Trang 37TIỂU KẾT
Ở chương 1, chúng tôi đã đưa ra một số vấn đề lí luận liên quan đến đề tài: Khái niệm về văn hoá, đặc trưng và chức năng của văn hoá, bản sắc văn hoá dân tộc, ý nghĩa và tác dụng của việc giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc cho học sinh Tiểu học qua môn Địa lí Bên cạnh đó chúng tôi đã tiến hành điều tra tình hình thực tiễn ở trường Tiểu học về việc giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam qua môn Địa lí lớp 4, chúng tôi đã thu được một kết quả và
đã nhận thấy rằng việc lồng ghép nội dung giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam ở các trường Tiểu học là một việc làm hết sức quan trọng
và cần thiết
Trang 38CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC VIỆT NAM CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
QUA MÔN ĐỊA LÍ LỚP 4 2.1 MỤC TIÊU, MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC CHO HS TIỂU HỌC QUA MÔN ĐỊA LÍ LỚP 4
2.1.1.Mục tiêu của việc giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho HS Tiểu học qua môn Địa lí lớp 4
Giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho HS Tiểu học nhằm:
+ Có ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
+ Có thái độ trân trọng những giá trị bản sắc văn hóa dân tộc
+ Trân trọng những giá trị bản sắc văn hóa dân tộc và mong muốn được tham gia đóng góp một số việc làm thể hiện việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
+ Có thái độ tích cực đối với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
- Về kĩ năng và hành vi:
+ Phát hiện ra những hành vi tiêu cực đối với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
Trang 39+ Tham gia các hoạt động để góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
+ Thuyết phục mọi người cùng nhau giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, cùng chung tay xây dựng một đất nước Việt Nam đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc
2.1.2 Mục đích của việc giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho HS Tiểu học qua môn Địa lí lớp 4
Giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là một quá trình (thông qua các hoạt động giáo dục) hình thành, phát triển ở người học sự hiểu biết, kĩ năng, giá trị và quan tâm tới những vấn đề về ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, tạo điều kiện cho các em tham gia vào phát triển xã hội bền vững
Giáo dục nhằm giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng có sự hiểu biết về bản sắc văn hóa dân tộc cùng với các vấn đề của nó (nhận thức); những khái niệm cơ bản về bản sắc văn hóa dân tộc (kiến thức); những tình cảm, mối quan tâm trong việc giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam (thái độ); những kĩ năng giải quyết cũng như thuyết phục các thành viên cùng tham gia (kĩ năng); tinh thần trách nhiệm trước những vấn về bản sắc văn hóa dân tộc và có những hành động thích hợp giải quyết vấn đề (hành vi tích cực)
Mục đích của giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là làm cho các cá nhân và cộng đồng hiểu được tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam; đem lại cho họ kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ
và kĩ năng thực hành để họ tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường cùng với nhu cầu toàn cầu hóa đã làm cho nền văn hóa có nguy cơ bị mai một và du nhập vào các nền văn hóa khác Sự thiếu hiểu biết về cách giữ gìn các bản sắc văn hóa dân tộc của con người là một trong những các nguyên nhân chính gây nên việc dần dần mất di bản sắc văn hóa dân tộc
Do vậy, cần phải giáo dục cho mọi người biết và hiểu về sự cần thiết của việc giáo dục
ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam