1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu văn hóa truyền thông qua các chương trình truyền hình trên đài phát thanh – truyền hình đà nẵng – kênh DRT

88 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình sản xuất, biên tập và phát sóng chương trình, Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng còn gặp khá nhiều vấn đề khó khăn, nhất là trong việc chọn lọc các chương trình truyền

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HÓA HỌC

Đề tài:

TÌM HIỂU VĂN HÓA TRUYỀN THÔNG QUA CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TRÊN ĐÀI PHÁT THANH – TRUYỀN HÌNH ĐÀ NẴNG – KÊNH DRT

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu khoa học do tôi thực hiện dưới

sự hướng dẫn của ThS Lương Vĩnh An Những tài liệu sử dụng trong khóa luận là

trung thực, khách quan, được trích nguồn rõ ràng

Nếu không đúng sự thật, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2013

Tác giả khóa luận

Nguyễn Thị Mùi

Trang 3

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến ThS Lương Vĩnh An, là người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp này

Tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng đã giảng dạy tôi trong suốt thời gian học tập tại trường và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này

Xin cảm ơn các cô chú, anh chi ̣ Đài Phát thanh – Truyền hình Đà Nẵng đã cung cấp tài liê ̣u và ta ̣o điều kiê ̣n giúp tôi hoàn thành khóa luâ ̣n này

Cảm ơn gia đình, bạn bè đã cổ vũ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập tại trường

Tuy đã có những cố gắng nhất định, nhưng do thời gian và trình độ có hạn nên chắc chắn luận văn này còn nhiều thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2013

Ta ́ c giả khóa luận

Nguyễn Thị Mùi

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Ý nghĩa đề tài 5

6 Bố cục đề tài 6

NỘI DUNG 7

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HÓA VÀ TRUYỀN THÔNG 7

1.1 Các khái niệm liên quan 7

1.1.1 Khái niệm văn hóa 7

1.1.2 Khái niệm truyền thông - truyền thông đại chúng 10

1.1.2.1 Khái niệm truyền thông 10

1.1.2.2 Truyền thông đại chúng 11

1.1.3 Khái niệm truyền hình 14

1.2 Giới thiệu về thành phố Đà Nẵng 16

1.2.1 Điều kiện tự nhiên 16

1.2.1.1 Vị trí địa lí 17

1.2.1.2 Khí hậu 17

1.2.1.3 Đặc điểm địa hình 18

1.2.2 Con người Đà Nẵng 18

1.2.3 Hiện trạng kinh tế - xã hội 19

1.3 Đôi nét về Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng 20

Chương 2 ẢNH HƯỞNG CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CỦA ĐÀI PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH ĐÀ NẴNG ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CÔNG CHÚNG XEM ĐÀI 23

2.1 Tình hình hoạt động Đài Truyền hình Đà Nẵng trong những năm gần đây 23

Trang 5

2.2.2 Chức năng tư tưởng 27

2.2.3 Chức năng tổ chức - quản lý xã hội 30

2.2.4 Chức năng xây dựng, phát triển môi trường văn hóa 32

2.2.5 Chức năng chỉ đạo, giám sát xã hội 37

2.3 Vấn đề tiếp biến văn hóa trong các chương trình truyền hình 40

2.3.1 Khái niệm tiếp biến văn hóa 40

2.3.2 Nội dung tiếp biến văn hóa trong mô ̣t số chương trình truyền hình 42

2.3.3 Kỹ thuật sử du ̣ng trong các chương trình truyền hình 44

2.4 Ta ́ c đô ̣ng các chương trình truyền hình đến đời sống văn hóa nhân dân thành phố Đà Nẵng 45

2.4.1 Tác đô ̣ng đến đời sống vật chất 45

2.4.2 Tác đô ̣ng đến đời sống tinh thần 47

2.5 So sánh truyền hình với các phương tiện truyền thông đại chúng khác 48

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY HIỆU QUẢ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH ĐÀI PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH ĐÀ NẴNG 53

3.1 Định hướng phát triển của Đài trong tương lai 53

3.1.1 Về cơ sở vật chất, kỹ thuật - công nghệ và nguồn nhân lực 53

3.1.2 Về nội dung chương trình 53

3.1.3 Về sản xuất chương trình 54

3.1.4 Về phát triển dịch vụ truyền hình 54

3.2 Giải pháp phát huy hiệu quả nâng cao chất lượng các chương trình truyền hình 54

3.2.1 Giải pháp về cơ chế chính sách 54

3.2.1.1 Xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách về phát thanh, truyền hình 54

3.2.1.2 Đảm bảo cung cấp dịch vụ truyền hình cho các cơ quan Đảng và Nhà nước 55

3.2.1.3 Tăng cường quản lí chất lượng thiết bị, dịch vụ và quyền lợi công chúng 55

Trang 6

3.2.4 Giải pháp về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 58

3.2.5 Các giải pháp khác 60

3.2.5.1 Xây dựng thương hiệu 60

3.2.5.2 Tăng cường hợp tác trong khu vực và quốc tế 61

KẾT LUẬN 63 THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHU ̣ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Từ thế kỉ thứ V trước Công nguyên, nhà triết học Hy Lạp cổ đại Democrite đã xác định văn hóa như là “thiên nhiên thứ hai” Đúng thế, thiên nhiên sáng tạo ra con người, con người lao động không biết mệt mỏi sáng tạo ra thiên nhiên thứ hai - không gian văn hóa Một tạo phẩm của con người - văn hóa là tự nhiên được con người tái sáng tạo nhờ sự tự khẳng định mình với tư cách con người

Trong thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập như hiện nay, bằng cách này hay cách khác, giá trị văn hóa của các quốc gia trên thế giới có điều kiện giao lưu với nhau nhanh nhất nhờ có phương tiện kỹ thuâ ̣t truyền thông đại chúng Truyền thông kết nối chúng ta với thế giới, giúp chúng ta liên hệ được với thực tế xã hội rộng rãi, đa chiều nằm ở môi trường xung quanh bên cạnh ta hàng ngày Truyền thông, một phần quan trọng cho sự phát triển xã hội, sự phát triển nhân cách con người, xây dựng sự hiểu biết của chúng ta về chính bản thân và thế giới Nhiều nhà nghiên cứu truyền thông nhấn mạnh vai trò của truyền thông đại chúng trong đời sống xã hội, không chỉ đơn thuần là hoạt động truyền đạt thông tin, mà còn có nhiệm vụ xây dựng, duy trì xã hội và phát triển văn hóa Đây là phương tiện lớn tuy có tuổi đời non trẻ nhưng lại là phương tiện hữu hiệu nhất để truyền tải, quảng bá văn hóa Truyền hình ra đời như một lẽ tất nhiên của quá trình phát triển, đây là cơ sở ngôn luận có tác động đến đông đảo công chúng trên phạm vi rộng khắp Truyền hình vừa làm nhiệm vụ truyền bá văn hóa vừa là nơi tiếp nhận có chọn lọc các giá trị văn hóa

từ bên ngoài sao cho phù hợp với văn hóa bản địa

Truyền hình ngày càng có vai trò không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của mọi tầng lớp nhân dân Trên thế giới truyền hình vô tuyến gần như đã phủ sóng mọi nơi, mọi gia đình, mọi người Truyền hình chính là chiếc cầu nối giữa các nền văn hóa với nhau, đó không chỉ là phương tiện truyền tải thông tin, là nơi giao lưu văn hóa mà còn là một hình thức giải trí tuyệt vời Văn hóa truyền thông đang ngày càng chứng tỏ vị thế của mình với những ưu việt không thể chối cãi Truyền thông được thể hiện ở sự phát triển nhanh chóng về sức mạnh của các loại hình phương

Trang 8

tiện và các chủ thể chi phối nó

Cùng vớ i các kênh truyền hình trên cả nước, Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng đã không ngừng đổi mới và phát triển Trong những năm gần đây, Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng đang tự làm mới mình, thu hút được đông đảo người xem hơn với chất lượng chương trình ngày càng tốt, và đặc biệt hơn Đài Phát thanh

- Truyền hình Đà Nẵng còn chú trọng nâng cao các chương trình giải trí truyền hình Các chương trình truyền hình ngày càng đa dạng, không chỉ mang đậm sắc màu của vùng đất duyên hải miền Trung mà còn hòa vào dòng chảy chung văn hóa hiện đa ̣i của dân tộc Tầm ảnh hưởng của kênh truyền hình địa phương không chỉ cung cấp thông tin mà nó còn đang góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa của con người nơi đó, cũng như chung tay, góp sức xây dựng quê hương ngày thêm giàu đẹp

Trong quá trình sản xuất, biên tập và phát sóng chương trình, Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng còn gặp khá nhiều vấn đề khó khăn, nhất là trong việc chọn lọc các chương trình truyền hình sao cho phù hợp với văn hóa đại chúng của nước nhà, cũng như có nhiều chương trình còn “nhạt” văn hóa truyền thông hay mô ̣t số chương trình còn ảnh hưởng xấu đến đời sống văn hóa nhân dân thành phố Những vấn đề thực tiễn đặt ra về văn hóa truyền thông đại chúng không chỉ là tâm điểm quan tâm của đội ngũ cán bộ nhà Đài mà còn được Đảng bộ nhân dân thành phố chú

ý, coi trọng để có các giải pháp nâng cao giá tri ̣ văn hóa của các chương trình truyền hình trong bối cảnh toàn cầu hóa truyền thông đại chúng

Là sinh viên chuyên ngành Văn hóa ho ̣c ta ̣i thành phố Đà Nẵng, yêu vùng đất

cũng như văn hóa và con người nơi đây, thích các chương trình truyền hình nên tác

giả xin được đề xuất nghiên cứu đề tài:“Tìm hiểu văn hóa truyền thông qua các chương trình truyền hình trên Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng - Kênh DRT”

làm khóa luâ ̣n tốt nghiê ̣p

2 Lịch sử vấn đề

Trên thế giới, nghiên cứu về văn hóa truyền thông và công chúng truyền hình

đã được quan tâm từ lâu Ở nhiều cơ quan truyền thông, báo chí lớn trên thế giới

Trang 9

đều có trung tâm nghiên cứu của riêng mình Nhiều ho ̣c giả đã có các công trình nghiên cứ u về truyền thông và truyền thông đa ̣i chúng cũng như tác đô ̣ng ảnh hưởng của truyền thông đến công chúng

Bernard R.Berelson đã có nhiều công trình nghiên cứu riêng của mình về mức

độ tác động xã hội của truyền thông đại chúng Đặc biệt là cuốn “Communication

de mase” của Alphons Silbermann do nhà xuất bản Hachette ấn hành tại Paris năm

1981 là tài liệu khá quan trọng đã đề cập đến lĩnh vực truyền thông

Công trình nghiên cứu của Michael Schudson về sức mạnh của tin tức truyền

thông được hai dịch giả Thế Hùng và Trà My dịch từ cuốn “The Power of news”,

nhà xuất bản Harvard University Press năm 1995

Cuốn sách “Truyền thông đại chúng - Những kiến thức cơ bản” được chọn

dịch và biên soạn lại từ cuốn “ABC báo chí" của tác giả người Đức Claudia Mast do Nhà xuất bản UVK Medien năm 1998 Nội dung cuốn sách đề cập đến vấn đề hết sức cơ bản đối với những người làm công tác truyền thông đại chúng Đó là những khái niệm về thông tin, các phương tiện thông tin; hoạt động thông tin; đối tượng thông tin; trách nhiệm, nghĩa vụ đạo đức của nhà báo; nghề nghiệp báo chí và hoạt động truyền thông trong cơ chế thị trường…

Ở Việt Nam trong nhiều năm qua có khá nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa đại chúng cũng như công chúng với báo chí như:

“Văn hóa đại chúng và văn hóa gia đình” của PGS.TS Mai Quỳnh Nam được

in trên tạp chí Xã hội học số 4, năm 2000 Công trình nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Văn Dũng in trên tạp chí Xã hội học với tiêu đề “Đối tượng tác động của báo chí và ý nghĩa của nó đối với hoạt động của nhà báo”

Tại hội thảo khoa học “Văn hóa truyền thông trong thời kì hội nhập”, diễn ra

ngày 22/2/2012 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), do Hội Nhà báo Việt Nam và Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn phối hợp tổ chức, các đại biểu đã tập trung thảo luận về vấn đề làm sao để báo chí phát triển lành mạnh và có ảnh hưởng tích cực đến đời sống xã hội trong bối

cảnh toàn cầu hóa truyền thông đại chúng hiện nay Trong tham luận“Văn hóa

Trang 10

truyền thông và truyền thông có văn hóa”, GS Hà Minh Đức cho rằng, văn hóa là

cái nôi ấp ủ và phát triển của giá trị nhân văn, chuẩn mực cao nhất của tâm linh, đạo đức, tình cảm của con người Dù ở lĩnh vực nào, phạm vi nào cũng cần đến vai trò của văn hóa, nhân tố nâng cao giá trị của các hoạt động vật chất, tinh thần Nhà báo

Phan Quang với tham luận “Báo chí và văn hóa” Đặc biệt trong tham luận “Một số vấn đề truyền thông đại chúng, văn hóa đại chúng và văn hóa truyền thông trong kỷ nguyên kỹ thuật số”, TS Đặng Thị Thu Hương đã phân tích mối quan hệ nội tại và

tác động qua lại giữa truyền thông đại chúng, văn hóa đại chúng và văn hóa truyền thông Từ đó, tham luận đề cập đến vai trò và trách nhiệm của truyền thông đại chúng Việt Nam trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt trong thời kỳ

hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa của kỷ nguyên kỹ thuật số Tham luận “Báo chí và văn hóa”, nhà báo lão thành Phan Quang cho rằng: báo chí mới ra đời bốn, năm

trăm năm trở lại đây, nhưng lớn mạnh nhanh, cống hiến nhiều cho sự phát triển, từ

đó nghiễm nhiên trở thành một bộ phận cấu thành văn hóa, đồng thời là phương tiện thực thi, quảng bá văn hóa

Ngoài ra còn có một số luận án Tiến sĩ chuyên ngành Xã hội học đã nghiên

cứu vấn đề “Truyền thông đại chúng và công chúng, trường hợp Thành phố Hồ Chí Minh” của nhà báo Trần Hữu Quang, năm 2000

Năm 2005, tác giả Vũ Phương Dung, Khoa Báo chí, Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn cũng đã bảo vệ thành công luận văn Thạc sĩ với đề tài “Nghiên cứu nhu cầu tiếp nhận chương trình truyền hình của sinh viên Hà Nội (khảo sát các chương trình truyền hình trên sóng VTV1, VTV2, VTV3 - Đài Truyền hình Việt Nam)”

Ở thành phố Đà Nẵng cho đến thời điểm này chưa có một đề tài nào nghiên cứu về tầm ảnh hưởng của Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng đến đời sống công chú ng xem Đài Chính vì vậy, đề tài “Tìm hiểu văn hóa truyền thông qua các chương trình truyền hình trên Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng - Kênh DRT”

là một đề tài mới

Trang 11

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Sự tác động của Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng (kênh DRT) đến đời sống văn hóa của nhân dân thành phố Đà Nẵng và các địa phương lân cận khác

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Một số chương trình thời sự, chuyên mu ̣c, phim, ca nhạc, thiếu nhi, trò chơi truyền hình trên Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng (kênh DRT1 và DRT2) từ năm 2001 đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện khóa luận này, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp luận: dựa trên các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng

và Nhà nước ta, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

- Phương pháp điền dã: xem và tham gia trực tiếp thực hiện một số chương trình truyền hình được phát sóng trên Đài Phát thanh - Truyền Hình Đà Nẵng

- Phương pháp đọc, tra cứu và sưu tầm tài liệu, sách báo, hồ sơ, văn bản, có liên quan đến đề tài

- Phương pháp xã hội học chủ yếu là: điều tra phỏng vấn sâu đối với một số cán bộ, nhân viên Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng

- Phương pháp phân tích, đối chiếu, so sánh

5 Ý nghĩa đề tài

- Góp phần làm rõ thực trạng văn hóa truyền thông đại chúng, đặc biệt là nhân dân thành phố Đà Nẵng và các tỉnh lân cận trong các chương trình truyền hình được phát trên Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng

- Làm rõ những ảnh hưởng tích cực và ảnh hưởng tiêu cực của các chương trình truyền hình đối với văn hóa đại chúng, từ đó có những điều chỉnh thích hợp trong quá trình phát sóng truyền hình

Từ những ý nghĩa khoa học trên, khóa luận sẽ có những ý nghĩa thực tiễn sau:

Trang 12

- Khóa luận đưa ra khuyến nghi ̣ để Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng xem xét, điều chỉnh xu hướng phát triển hiện tại và tương lai cho phù hợp với tâm lý, thị hiếu của công chúng truyền hình

- Góp phần làm sáng tỏ và ngăn chặn những yếu tố thiếu văn hóa và mang yếu

tố xấu không phù hợp với văn hóa dân tộc có ảnh hưởng không tốt đến công chúng truyền hình ngay từ khâu sản xuất chương trình, từ đó giúp Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng có những cái nhìn mới hơn về những chương trình truyền hình phù hợp, thiết thực hơn và tạo được hiệu ứng xã hội và hiệu quả tác động tốt hơn trên bình diện đang bàn tới

- Góp phần để Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng sản xuất những chương trình hấp dẫn hơn, thiết thực hơn và tạo được nhiều thiện cảm hơn với công chúng truyền hình không chỉ trong khu vực thành phố mà con là một kênh truyền hình được đông đảo khán giả trên cả nước đón chờ

6 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luận gồm 3 chương

Chương 1: Một số vấn đề chung về văn hóa và truyền thông

Chương 2: Ảnh hưởng của các chương trình truyền hình của Đài Phát thanh -

Truyền hình Đà Nẵng đến đời sống văn hóa công chúng xem đài

Chương 3: Định hướng phát triển và giải pháp phát huy hiệu quả nâng cao

chất lượng các chương trình Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng

Trang 13

NỘI DUNGChương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HÓA VÀ TRUYỀN THÔNG

1.1 Các khái niệm liên quan

1.1.1 Khái niệm văn hóa

Có rất nhiều định nghĩa về văn hóa, ở mỗi góc độ khác nhau người ta lại có cái nhìn khác nhau về văn hóa Chính trong từ “văn hóa” có rất nhiều nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (như: trình độ văn hóa), lối sống (như: nếp sống văn hóa) hoặc theo định nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ văn minh của 1 giai đoạn (như: văn hóa Đông Sơn)

Trong Đề cương Văn ho ́ a Viê ̣t Nam của Đảng Cô ̣ng sản Đông Dương năm

1943, văn hóa đã xếp bên cạnh kinh tế, chính trị và xem nó bao gồm cả tư tưởng, học thuật (bằng khoa học và giáo dục) nhưng UNESCO thì xếp văn hóa bên cạnh khoa học và giáo dục, tức là đặt 2 lĩnh vực này ra ngoài khái niệm văn hóa (Phân tích tên gọi UNESCO bằng United Nations Educational Scientific and Cultural Organisation: Tổ chức Liên Hợp Quốc về văn hóa, khoa ho ̣c, giáo du ̣c)

Trong tiếng Trung Quốc trước đây không có chữ văn hóa riêng biệt mà nó là một phần của câu văn trị giáo hóa (文 治 教 化), nghĩa là “dùng cái đẹp (hay văn

tự) mà giáo hóa cho con người” Theo sách Thuyết văn giải tự của nhà ngôn ngữ

Hứa Thận, đời Hán của Trung Quốc: Chữ Văn (文) và giải thích: “Văn, thác hoạch dã” (文 錯 畫 也), nghĩa là: “Văn là những đường nét khác nhau nhưng giao nhau”

Sách Hệ từ hạ truyện giải thích rõ hơn: “vật tương tạp cố viết văn” (勿 相 雜 故 曰

文) nghĩa là “sự vật cùng tạp vào nhau gọi là Văn” Chữ Tạp ở đây ý nói nhiều vật không đứng riêng lẻ mà cùng quyện vào nhau, dưới một dạng nào đó Như vậy ý nghĩa ban đầu của chữ Văn trong nền văn hóa, văn minh Trung Hoa là “sự hài hòa toàn diện giữa vạn vật với nhau” [19, tr.6]

Trang 14

Trong các ngôn ngữ phương Tây, từ văn hóa bắt nguồn từ chữ cultus trong tiếng Latinh có nghĩa là trồng trọt Từ trồng trọt phát triển ra nghĩa chăm sóc (cây cối), từ chăm sóc (cây cối) dẫn đến chăm sóc (con người) = giáo dục Từ chữ này dẫn đến các chữ culture, cultura

Văn hóa là một định nghĩa gây nhiều tranh cãi nhất từ trước tới nay Từ năm

1952, hai nhà dân tộc học người Mỹ là A.L Kroeber và C.L Kluckhohn đã sưu tầm được hơn 300 đi ̣nh nghĩa về văn hóa Đến nay con số đó đã vượt qua 500 Sau đây

là một số định nghĩa tiêu biểu:

- “Văn hóa là thiên nhiên thứ hai của con người” Thiên nhiên thứ nhất là những cái gì con người chứ a đựng vào Còn thiên nhiên thứ hai là những gì con người tác động vào

- “Văn hóa là tổng thể những kết quả lao động, là toàn bộ những giá trị mà con người tạo nên để thỏa mãn nhu cầu của chính mình”

- “Văn hóa, hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những khả năng, tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội”[45, tr.4]

- UNESCO định nghĩa về văn hóa: “là một tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và sự giao tiếp trong một cộng đồng, khiến cộng đồng ấy có đặc thù riêng” [31, tr.6]

- Phan Ngọc định nghĩa: “Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu chọn lựa riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu chọn lựa của cá nhân hay tộc người khác” [32, tr.17]

- Trong bài viết của mình in trong cuốn Văn hóa học đại cương và cơ sở văn hóa Việt Nam, PGS Từ Chi có nhắc lại một định nghĩa rất thú vị của một nhà dân

tộc ho ̣c nào đó: “Tất cả những gì không phải thiên nhiên đều là văn hóa” [48, tr 54]

Trang 15

- Ông Federico Mayor, nguyên Tổng Giám đốc UNESCO, (nay là Matsuura Koichiro) cho biết: “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp năm 1970 tại Venise” [51, tr.5]

- Định nghĩa của Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người và môi trường và xã hội của mình”[42,

tr 27]

- Chủ ti ̣ch Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ các sáng tạo và phát minh

đó tức là văn hóa Văn hóa là tổng hợp toàn bô ̣ mo ̣i phương thức sinh hoa ̣t cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu đòi hỏi của

sự sinh tồn” [22, tr 431]

Đảng ta xác định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” Các quan điểm về văn hóa của Đảng ta nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là mục tiêu cao cả của chủ nghĩa xã hội trong thời đại ngày nay

Theo chú ng tôi có thể hiểu văn hóa như sau: xét theo nghĩa hẹp, văn hóa thường được hiểu như một lĩnh vực của hoạt động về sinh hoạt xã hội gồm các hoạt động văn hóa nghệ thuật, truyền thông đại chúng (báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình ), thư viện, câu lạc bộ, bảo tồn bảo tàng v.v ; còn nếu theo nghĩa rộng, nói một cách giản đơn, văn hóa là tất cả những gì không phải là thiên nhiên Tức là

Trang 16

bao gồm những sáng tạo có giá trị do con người làm ra trong quá trình li ̣ch sử, ở trong chính đời sống xã hội con người và liên quan trực tiếp nhất đến con người, chứa đựng chân, thiện, mỹ, tiến bộ, phát triển bền vững

Khái niệm “văn hóa” được đề cập đến trong khóa luận này mang một ý nghĩa rất rộng, nghĩa là bất cứ cái gì do con người sáng tạo ra đều hàm chứa thuộc tính văn hóa, nó gồm tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra nhằm phục vụ cho sự tiến bộ của con người mà sản phẩm sáng tạo cụ thể trong khóa luận chính là các chương trình truyền hình - sản phẩm nhu cầu giải trí hiện đại

1.1.2 Khái niệm truyền thông - truyền thông đại chúng

1.1.2.1 Khái niệm truyền thông

Truyền thông (communication), có thể hiểu một cách ngắn gọn đó là quá trình chia sẻ thông tin Truyền thông là một dạng hoạt động căn bản của bất cứ một tổ chức nào mang tính chất xã hội Đó chính là kiểu tương tác xã hội trong đó ít nhất

có hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ các qui tắc và tín hiệu chung Ở dạng đơn giản, thông tin được truyền từ người gửi tới người nhận Ở dạng phức tạp hơn, các thông tin trao đổi liên kết người gửi và người nhận Phát triển truyền thông là phát triển các quá trình tạo khả năng để một người hiểu những gì người khác nói (ra hiệu, hay viết), nắm bắt ý nghĩa của các thanh âm, biểu tượng, và học được cú pháp của ngôn ngữ

Truyền thông thường gồm ba phần chính:

Có nhiều cách định nghĩa lĩnh vực truyền thông, trong đó truyền thông không

Trang 17

bằng lời, truyền thông bằng lời và truyền thông biểu tượng Truyền thông không lời thực hiện thông qua biểu hiện trên nét mặt và điệu bộ Khoảng 93% “ý nghĩa biểu cảm” mà chúng ta cảm nhận được từ người khác là qua nét mặt và giọng điệu; 7% còn lại là từ những lời nói mà chúng ta nghe được Truyền thông bằng lời được thực hiện khi chúng ta truyền đạt thông điệp bằng ngôn từ tới người khác Truyền thông biểu tượng là những thứ chúng ta đã định sẵn một ý nghĩa và thể hiện một ý tưởng nhất định ví dụ như quốc huy của một quốc gia

Hội thoại giữa các cá nhân thường xuất hiện theo cặp hoặc từng nhóm với quy

mô khác nhau Quy mô của nhóm tham gia thường tác động tới bản chất của cuộc hội thoại Truyền thông trong nhóm nhỏ thường diễn ra giữa mô ̣t số ít cá nhân hoă ̣c

là trao đổi qua lại giữa các nhóm lớn hơn như công ty hay cộng đồng Hình thức truyền thông này được hình thành từ một cặp hay nhiều hơn, thông thường được đề cập tới như một mô hình tâm lý học trong đó thông điệp được truyền từ người gửi đến người nhận qua một kênh thông tin Ở cấp độ lớn nhất, truyền thông đại chúng chuyển các thông điệp tới một lượng rất lớn các cá nhân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng

Quá trình truyền thông diễn ra liên tục Khi bạn ngồi yên lặng trong góc phòng, mặc cho mọi người xung quanh nói hay làm gì thì cũng đang gửi những tín hiệu truyền thông không bằng lời cho những người xung quanh (cho dù vô tình hay cố ý) Vì thế, có thể có 2 cách truyền thông: truyền thông bằng lời nói (verbal) và truyền thông không bằng lời nói (non-verbal)

Người ta thường phân biệt ba loại truyền thông như sau:

- Truyền thông liên cá nhân (giữa người này với người kia)

- Truyền thông tập thể tức là truyền thông nội bộ một cơ quan, một công ty, một tổ chức đoàn thể, hay một nhóm xã hội nào đó)

- Truyền thông đại chúng

Ở khóa luận này, chúng tôi xin trình bày khái niệm truyền thông đại chúng

1.1.2.2 Truyền thông đại chúng

Truyền thông đại chúng (mass communication), là quá trình truyền đạt thông

Trang 18

tin một cách rộng rãi đến mọi người trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí, phát thanh, truyền hình

Như vậy, một quá trình truyền thông chỉ được gọi là quá trình truyền thông đại chúng nếu nó được phát ra thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng Các phương tiện truyền thông đại chúng (hay cũng còn gọi là “các phương tiện thông tin đại chúng”) - (mass media) là những công cụ kỹ thuật hay những kênh mà phải nhờ vào đó người ta mới có thể thực hiện quá trình truyền thông đại chúng, nghĩa là tiến hành việc phổ biến, loan truyền thông tin ra mọi người dân trong cô ̣ng đồng xã hội

Ở đây, cần phân biệt rõ ràng giữa hai thuật ngữ “truyền thông đại chúng” và

“phương tiện truyền thông đại chúng” mà người ta thường sử dụng lẫn lộn một cách không chính xác Nói tới các “phương tiện truyền thông đại chúng” (mass media) như báo chí, phát thanh, truyền hình là nói tới những công cụ kỹ thuật (hay những cái kênh) để nhờ đó người ta có thể thực hiện quá trình truyền thông đại chúng Còn khi nói tới “truyền thông đại chúng” là nói tới một quá trình xã hội: quá trình truyền tải thông tin ra công chúng thông qua các phương tiện ấy

Có thể liệt kê các hoạt động sau đây nằm trong lĩnh vực truyền thông đại chúng: báo chí, phát thanh, truyền hình, điện ảnh, xuất bản, sản xuất băng đĩa (âm nhạc chẳng hạn), internet Tuy nhiên, cần lưu ý rằng phương tiện internet có đặc điểm là có thể được sử dụng cho cả ba loại truyền thông: truyền thông liên cá nhân, truyền thông tập thể và truyền thông đại chúng

Truyền thông đại chúng là một quá trình xã hội đặc thù bao gồm ba thành tố sau đây:

- Hoạt động truyền thông (chẳng hạn như đi săn tin, quay phim, chụp hình, viết bài, biên tập, cuối cùng là xuất bản, hoặc phát sóng),

- Các nhà truyền thông (bao gồm các tổ chức truyền thông như báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình và những người làm công tác truyền thông như nhà báo, phóng viên, biên tập viên, phát thanh viên ),

- Đại chúng (các tầng lớp công chúng rộng rãi)

Trong thuật ngữ “truyền thông đại chúng” được dùng để chỉ đối tượng công

Trang 19

chúng độc giả hay khán thính giả của các phương tiện truyền thông đại chúng Thực

ra, “đại chúng” (mass) là một khái niệm khá mơ hồ và khó mà có một định nghĩa thật chính xác Kể cả về mặt số lượng lẫn về mặt tính chất Chẳng hạn, người ta không thể xác định được là phải đông đến số lượng bao nhiêu thì mới gọi là đại chúng Một tờ báo chuyên ngành khoa học chẳng hạn có thể chỉ có vài trăm độc giả, nhưng đây vẫn là một “phương tiện truyền thông đại chúng” vì nó được bán công khai ra công chúng Còn tờ nội san của một đại công ty chẳng hạn có thể có số ấn bản lên tới vài chục ngàn tờ, nhưng nó vẫn không phải là một “phương tiện truyền thông đại chúng” vì nó chỉ lưu hành trong nội bộ công ty và không được bán rộng rãi ra thị trường Herbert Blumer đã phân biệt bốn đặc điểm sau đây để nhận dạng khái niệm đại chúng:

- Đại chúng bao gồm những người thuộc mọi thành phần xã hội, bất kể nghề nghiệp, trình độ học vấn hay tầng lớp xã hội nào (nghĩa là có những đặc trưng rất dị biệt nhau)

- Nói đến đại chúng là nói đến những cá nhân nặc danh, nghĩa là: vì nhắm đến một công chúng đông đảo, nên nhà truyền thông không thể biết ai là ai, và khi truyền thông thì họ cũng ý thức rằng thông tin của họ có thể đến với bất cứ ai, chứ không chỉ riêng một ai hay một nhóm người nào mà thôi

- Các thành viên của đại chúng thường là độc lập nhau, không ai biết ai, không

có những sự tương tác hay những mối quan hệ gì gắn bó với nhau (khác với những khái niệm như “cộng đồng” hay “hiệp hội” chẳng hạn)

- Đặc điểm thứ tư của đại chúng là hầu như không có hình thức tổ chức gì, hoặc nếu có thì cũng rất lỏng lẻo [1, tr.15]

Nếu cứ hiểu văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất và tinh thần, luôn tiếp biến

và quá trình này diễn ra nhanh chóng do các nguyên nhân chủ yếu gồm phát minh, khám phá, phổ biến và khuyếch tán thì với sự ra đời của báo in, radio, truyền hình

và internet, thế kỷ XX là thế kỷ mà các phương tiện truyền thông đại chúng có những bước phát triển mạnh mẽ, tạo tiền đề cho sự phát triển của xã hô ̣i thông tin trong nền kinh tế tri thức ở thế kỷ XXI

Trang 20

Các phương tiện truyền thông đại chúng là tác nhân cơ bản tạo nên văn hóa đại chúng, và nói như K.Tumner (1984), thì văn hóa đại chúng và truyền thông đại chúng có mối quan hệ cộng sinh phụ thuộc lẫn nhau một cách mật thiết và chính sự liên kết chặt chẽ này đã làm xuất hiện văn hóa truyền thông (media culture) - hình thức văn hóa hình thành và chịu sự chế định bởi đặc trưng của chính bản thân các

“phương tiện truyền thông đại chúng” Dưới ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông đại chúng, biến đổi mạnh mẽ nhất của văn hóa hiện nay được nhiều nhà nghiên cứu lên tiếng cảnh báo là sự tiếp biến từ văn hóa đọc sang văn hóa nghe nhìn, từ văn hóa bút mực sang văn hóa mạng, từ văn hóa tinh hoa sang văn hóa tiêu dùng, vận hành theo quy luật thị trường với xu thế chủ yếu là nghệ thuật hóa hàng hóa và hàng hóa hóa nghệ thuật Nói cách khác, các phương tiện truyền thông đại chúng không chỉ là kênh chuyên chở những vấn đề văn hóa nghệ thuật, phát tán các sản phẩm của ngành công nghiệp văn hóa, mà bản thân nó là môi trường văn hóa sống động, tác động hàng ngày, hàng giờ lên từng thành viên trong cộng đồng xã hội

Chính vì vậy, văn hóa truyền thông cần phải được xây dựng trên nền tảng giá trị và tính liên tục lịch sử, khơi dậy khả năng sáng tạo của công chúng và phục vụ

công chúng Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đã khẳng định:“Đổi mới tư duy về phát triển văn hóa, coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”

1.1.3 Khái niệm truyền hình

Truyền hình là một loại hình phương tiện truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh Truyền hình, hay còn được gọi

là TV (Tivi) hay vô tuyến truyền hình (truyền hình không dây), máy thu hình, máy phát hình là hệ thống điện tử viễn thông có khả năng thu nhận tín hiệu sóng và tín hiệu qua đường cáp để chuyển thành hình ảnh và âm thanh (truyền thanh truyền hình) và là một loại máy phát hình truyền tải nội dung chủ yếu bằng hình ảnh sống động và âm thanh kèm theo Máy truyền hình là máy nhận những tín hiệu đó (qua ăng-ten) và phát bằng hình ảnh

Trang 21

Thực chất, cội nguồn trực tiếp của truyền hình là điện ảnh Chính điện ảnh đã cung cấp cho truyền hình những ý tưởng, gợi ý đầu tiên về một phương thức truyền thông cũng như một kho tàng những phương tiện biểu hiện phong phú, có sức thuyết phục mạnh mẽ, làm cơ sở cho truyền hình có thể thích ứng nhanh chóng với những đặc trưng kỹ thuật riêng của mình Cho dù có những khác biệt về nhiều phương diện thì điện ảnh và truyền hình vẫn có chung một cơ sở ngôn ngữ, cũng như một phương pháp tiếp nhận thông tin

Về kỹ thuật, truyền hình được hoạt động theo nguyên lý cơ bản sau: hình ảnh

về sự vật được máy ghi hình biến đổi thành tín hiệu điện trong đó mang thông tin về

độ sáng tối, màu sắc Đó là tín hiệu hình (tín hiệu video) Sau khi được xử lý, khuyếch đại, tín hiệu hình được truyền đi trên sóng truyền hình nhờ máy phát sóng hoặc hệ thống dây dẫn Tại nơi nhận, máy thu hình tiếp nhận tín hiệu rồi đưa đến đèn hình để biến đổi ngược từ tín hiệu hình thành hình ảnh trên màn hình Phần âm thanh cũng được thực hiện theo một nguyên lý tương tự như thế để rồi đưa ra loa

Hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng (Mass Communication), hay Mass Media gồm có báo in, báo phát thanh, báo truyền hình, báo điện tử phát trên mạng internet, sản phẩm thông tin của chúng có tính định kỳ hết sức đa dạng và phong phú Bên cạnh đó còn có những sản phẩm không định kỳ của truyền thông như các ấn phẩm của ngành xuất bản, các phương pháp truyền thông trực tiếp như: tuyên truyền miệng, quảng cáo,… Nội dung và tính chất thông tin đều mang tính phổ cập và có phạm vi tác động rộng lớn trên toàn xã hội

Thuật ngữ truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp Theo tiếng Hy Lạp, từ “Tele” có nghĩa là “ở xa” còn “videre” là “thấy được”, còn tiếng Latinh có nghĩa là xem được từ xa Ghép hai từ đó lại “Televidere” có nghĩa là xem được ở xa Tiếng Anh là “Television”, tiếng Pháp là “Television”, tiếng Nga gọi là “Tелевидение” Như vậy, dù có phát triển bất cứ ở đâu, ở quốc gia nào thì tên gọi truyền hình cũng có chung một nghĩa

Truyền hình xuất hiện vào những năm đầu của thế kỉ XX và phát triển với tốc

độ như vũ bão nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo ra một kênh

Trang 22

thông tin quan trọng trong đời sống xã hội Ngày nay, truyền hình là phương tiện thiết yếu cho mỗi gia đình, mỗi quốc gia, dân tộc Truyền hình trở thành công cụ sắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hóa cũng như các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng

Ở thập kỉ 50 của thế kỉ XX, truyền hình chỉ được sử dụng như là công cụ giải trí, rồi thêm chức năng thông tin Dần dần truyền hình đã trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý và giám sát xã hội, tạo lập và định hướng dư luận, giáo dục và phổ biến kiến thức, phát triển văn hóa, quảng cáo và các dịch vụ khác

Sự ra đời của truyền hình đã góp phần làm cho hệ thống truyền thông đại chúng càng thêm hùng mạnh, không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng về chất lượng Công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo trên khắp hành tinh Với những ưu thế về kỹ thuật và công nghệ truyền hình đã làm cho cuộc sống như được

cô đọng lại làm giàu thêm ý nghĩa, sáng tỏ hơn về hình thức và phong phú hơn về nội dung

Xét theo góc độ kỹ thuật truyền tải có truyền hình sóng (wireless TV) và truyền hình cáp (CATV) Xét dưới góc độ thương mại có truyền hình công cộng (public TV) và truyền hình thương mại (commercial TV) Xét theo tiêu chí mục đích nội dung, người ta chia truyền hình thành truyền hình giáo dục, truyền hình giải trí, Xét theo góc độ kỹ thuật có truyền hình tương tự (Analog TV) và truyền hình số (Digital TV)

Xét một phần nào đó chúng ta thấy truyền hình cũng là một loại hình báo chí mang tính đặc thù riêng Nó vẫn nằm trong hệ thống báo chí như các phương tiện truyền thông đại chúng khác như báo in, báo phát thanh và báo internet Nó cũng có vai trò như mô ̣t tiểu hệ thống trong hê ̣ thống báo chí nói chung, đó là các chức năng

cơ bản sau: chức năng thông tin, chức năng tư tưởng, chức năng tổ chức - quản lí xã hội, chức năng xây dựng, phát triển văn hóa và giải trí, chức năng chỉ đạo - giám sát

xã hội

1.2 Giới thiệu về thành phố Đà Nẵng

1.2.1 Điều kiện tự nhiên

Trang 23

1.2.1.1 Vị trí địa lí

Thành phố Đà Nẵng gồm vùng đất liền và vùng quần đảo trên biển Đông Vùng đất liền nằm ở 15055'20” đến 16014'10” vĩ độ Bắc, 107018'30” đến 108020'00” kinh độ Đông, là một thành phố cảng biển lớn nhất miền Trung Phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, Đông giáp Biển Đông Vùng biển gồm quần đảo Hoàng Sa nằm ở 15045' đến 17015' vĩ độ Bắc, 1110 đến 1130kinh độ Đông, cách đảo Lý Sơn (thuộc tỉnh Quảng Ngãi) khoảng 120 hải lý về phía Nam

Thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên là 1.283,42 km2; trong đó, các quận nội thành chiếm diện tích 241,51 km2, các huyện ngoại thành chiếm diện tích 1.041,91 km2

Nằm vào trung độ của đất nước, trên trục giao thông Bắc - Nam về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, cách Thủ đô Hà Nội 764km về phía Bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 964 km về phía Nam Ngoài ra, Đà Nẵng còn là trung điểm của 4 di sản văn hóa thế giới nổi tiếng là Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn và Rừng quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng

Trong phạm vi khu vực và quốc tế, thành phố Đà Nẵng là một trong những cửa ngõ quan trọng ra biển của Tây Nguyên và các nước Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma đến các nước vùng Đông Bắc Á thông qua Hành lang kinh tế Đông - Tây với điểm kết thúc là Cảng biển Tiên Sa Nằm ngay trên một trong những tuyến đường biển và đường hàng không quốc tế, thành phố Đà Nẵng có một vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững

Độ ẩm không khí trung bình là 83,4%, cao nhất là tháng 10, 11 trung bình

Trang 24

85,67% - 87,67%, thấp nhất vào các tháng 6, 7 trung bình từ 76,67% - 77,33%

1.2.1.3 Đặc điểm địa hình

Địa hình thành phố Đà Nẵng khá đa dạng, vừa có đồng bằng ven biển vừa có núi, một bên là đèo Hải Vân với những dãy núi cao, một bên là bán đảo Sơn Trà hoang sơ Vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạy dài ra biển, một số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp Địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn, độ cao khoảng từ 700 - 1.500m, độ dốc lớn (>400),

là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành phố Hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, bắt nguồn từ phía Tây, Tây Bắc và tỉnh Quảng Nam Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn, là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân

sự, đất ở và các khu chức năng của thành phố

1.2.2 Con người Đà Nẵng

Theo số liệu của UBND thành phố Đà Nẵng, năm 2008, dân số thành phố Đà Nẵng là 876.545 người Với diện tích tự nhiên 1.283,42 km2, mật độ dân số là 628,58 người/km2 Trên địa bàn thành phố có trên 10 dân tộc anh em cùng chung sống Ðông nhất là dân tộc Kinh có 680.919 người, chiếm 99,43 % dân số Các dân tộc thiểu số như dân tộc Hoa có 2.229 người, chiếm 0,336 %; dân tộc Cơ Tu có 767 người, chiếm 0,112%; dân tộc Tày có 139 người, chiếm 0,02%; dân tộc Mường có

116 người, chiếm 0,017%; dân tộc Nùng có 73 người, chiếm 0,011%; dân tộc Thái

Trang 25

thị

Ngày nay, người Đà Nẵng đang có mặt trên các vùng miền của đất nước và cả nước ngoài Quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế trong quá khứ cũng như hiện tại chắc chắn sẽ tạo nên cơ hội quý để người Đà Nẵng thêm tự tin hướng tới tương lai

1.2.3 Hiện trạng kinh tế - xã hội

Qua 15 năm thành lập, được sự quan tâm của Đảng và Chính phủ cùng với sự

nổ lực, phấn đấu không ngừng của cán bộ nhân dân toàn thành phố, Đà Nẵng đã đạt được những thành tựu đáng kể trong tăng trưởng kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng đều qua các năm, giai đoạn sau tăng trưởng cao hơn giai đoạn trước và đều đạt được mu ̣c tiêu quy hoạch

Giao đoạn từ năm 1997 - 2010, thu nhập bình quân đầu người được nâng lên rõ rệt, năm sau cao hơn năm trước GDP bình quân đầu người (giá hiện hành) năm

1997 là 3,6 triệu đồng, năm 2000 là 6,9 triệu đồng, năm 2005 là 15,0 triệu đồng (tương đương 1.010USD), tăng gấp 2,17 lần so với năm 2000 và năm 2010 là 26,9 triệu đồng, tương đương 1.523 USD (tăng 4,3 lần so với năm 2000)

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ tro ̣ng ngành dịch vụ và công nghiệp giảm tỷ tro ̣ng ngành nông nghiệp Tỷ trọng nhóm ngành dịch vụ trong GDP năm 2009 đạt 50,5%; công nghiệp - xây dựng đạt 46,5% và nông nghiệp đạt 3% Cơ cấu lao động chuyển biến tích cực, đến năm 2010, tỷ lệ lao động nông nghiệp (thủy sản - nông - lâm) ước còn 9,6%, lao động công nghiệp - xây dựng là 35,1% và dịch vụ 55,3%

Với vị thế là trung tâm kinh tế của khu vực miền Trung - Tây Nguyên, Đà Nẵng là nơi hội tụ các công ty lớn của các ngành dệt may, da giày, nước uống giải khát, điện tử, sản xuất hàng tiêu dùng, công nghiệp chế biến thủy sản, công nghiệp

cơ khí, công nghiệp phần mềm, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng Ngành công nghiệp của thành phố Đà Nẵng đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 20%/năm Hiện nay, hạ tầng các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố được đầu tư xây dựng tương đối hoàn chỉnh, diện tích hơn 2.158 ha, thu hút trên 360 dự án trong và ngoài nước, vốn đăng ký của các dự án đầu tư nước ngoài trong các khu công nghiệp ước

Trang 26

đạt 618 triệu USD và vốn trong nước đạt hơn 10.000 tỷ đồng Đến năm 2010, các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp đã có tổng doanh thu 2.609 tỷ đồng và 188 triệu USD, nộp ngân sách khoảng 365 tỷ đồng, giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng từ

21 triệu USD năm 1998 lên trên 200 triệu USD vào năm 2010, chiếm trên 30% giá trị kim ngạch xuất khẩu của thành phố Trên toàn thành phố Đà Nẵng hiện có hơn 240.000 công nhân đang làm việc trong hơn 10.000 công ty, doanh nghiệp

Đà Nẵng đã có chủ trương ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp sạch, vừa phục vụ mục tiêu “Xây dựng Đà Nẵng - Thành phố môi trường”, vừa góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, thu hút lao động chất lượng cao đến với thành phố

1.3 Đôi nét về Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng

Thành lập ngày 31/3/1975 với tên gọi Đài Phát thanh Đà Nẵng Năm 1976 đổi tên thành Đài Phát thanh Quảng Nam - Đà Nẵng Năm 1997, hình thành Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng sau khi chia tách Đài Phát thanh Quảng Nam - Đà Nẵng Đây là đơn vị trực thuộc UBND thành phố Đà Nẵng Đến nay, sau 38 năm qua từng giai đoạn phát triển, Đài không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng cơ sở vật chất, trang thiết bị chuyên dùng, chất lượng các chương trình phát sóng cũng từng ngày được cải tiến nhằm từng bước đáp ứng nhu cầu bạn nghe đài và bạn xem truyền hình

Từ năm 2002, đài được UBND thành phố cấp 10.389m2 đất tại đường Trần Hưng Đạo, phường An Hải Tây, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng để xây dựng Trung tâm Phát thanh - Truyền hình thành phố và là nơi làm việc, sản xuất chương trình và truyền dẫn của Đài Trong những năm gần đây, Đài đã tăng cường đầu tư mô ̣t

số trang thiết bi ̣ phu ̣c vu ̣ cho công tác sản xuất và phát sóng chương trình Bao gồm nhiều máy móc trang thiết bi ̣ truyền dẫn phát sóng như: thiết bi ̣ truyền sóng, thiết bi ̣ truyền dẫn bằng cáp quang và Viba; thiết bi ̣ phát sóng chương trình gồm camera, Vcr,

hệ thống dựng,… và hê ̣ thống hát chương trình kỹ thuâ ̣t số (sever onair),…

Hiện nay, cơ cấu tổ chức bô ̣ máy của Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng ngoài ban giám đốc gồm 01 giám đốc và 03 phó giám đốc còn có 153 cán bô ̣, nhân

Trang 27

viên kỹ thuâ ̣t chia làm 10 phòng ban và 02 đơn vi ̣ trực thuô ̣c, cu ̣ thể như sau:

- Phòng Tổ chức - Nghiê ̣p vu ̣ - Tổng hợp có 12 người

- Phòng Kế hoa ̣ch - Tài vu ̣ có 7 người

- Phòng Thời sự có 25 người

- Phòng Biên tâ ̣p gồm 20 người

- Phòng Chuyên đề có 14 nguời

- Phòng Văn hóa - Thể thao có 13 người

- Phòng Văn nghê ̣ có 12 người

- Phòng Phát thanh và Trang Thông tin điê ̣n tử có 6 nguời

- Phòng Kỹ thuâ ̣t - Công nghê ̣ có 34 người

- Trung tâm Quảng cáo và Di ̣ch vu ̣ Phát thanh - Truyền hình có 7 người

- Trung tâm Truyền hình cáp Đà Nẵng gồm 3 cán bô ̣

+ Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng đang phát các chương trình phát

thanh và truyền hình trên các kênh sau:

Hòa Bắc

+ Tiếp phát sóng:

1 Đài tiếng nói Việt Nam:

Trang 28

2 Đài truyền hình Việt Nam: Thời sự VTV1

+ Truyền hình cáp: Truyền hình cáp Đà Nẵng có 70 kênh truyền hình, trong

đó 46 kênh tiếng Việt và 24 kênh nước ngoài

Qua từng chặng đường phát triển, Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, thực sự là một trong những công cụ tuyên truyền, giáo dục hiệu quả của Đảng bộ, Chính quyền và là cầu nối gắn kết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước

Ngoài nhiệm vụ và quyền hạn được quy đinh tại Điều 6, Chương III, Luật Báo chí; Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng có nhiệm vụ xây dựng quy hoạch, kế hoạch dài hạn, hàng năm để phát triển hệ thống phát thanh, truyền hình trong toàn thành phố trình UBND thành phố phê duyệt và tổ chức thực hiện; hướng dẫn về nội dung và tổ chức viê ̣c phân công phối hợp giữa các Đài truyền thanh, phát lại truyền hình, chỉ đạo các đài địa phương về nghiệp vụ kỹ thuật phát thanh, truyền hình; quản lý trực tiếp hệ thống kỹ thuật chuyên du ̣ng về truyền dẫn tín hiệu và phát sóng, phát thanh, phát lại truyền hình trên toàn thành phố; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ

Ghi nhận và đánh giá cống hiến của cán bộ, nhân viên Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng qua các thời kỳ, Đảng và Nhà nước đã trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương lao động hạng Ba, nhiều Cờ thi đua luân lưu của Chính phủ, Bằng khen của Hội đồng Bộ trưởng, Cờ thi đua xuất sắc ngành Phát thanh - Truyền hình Việt Nam, Bằng khen của UBND thành phố Đà Nẵng…

Trang 29

Chương 2 ẢNH HƯỞNG CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CỦA ĐÀI PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH ĐÀ NẴNG ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CÔNG

CHÚNG XEM ĐÀI

2.1 Tình hình hoạt động Đài Truyền hình Đà Nẵng trong những năm gần đây

Chính thức phát sóng truyền hình từ năm 1997 với một bản tin thời sự 15 phút/ngày trên tổng lượng phát sóng là 2h/ngày, đến nay Đài Truyền hình Đà Nẵng

đã có 2 kênh truyền hình: DRT1 và DRT2 Kênh DRT1 phát sóng 17h/ngày, kênh DRT2 chính thức ra mắt từ tháng 12 năm 2009 với 7h phát sóng/ngày đến nay 12h/ngày và được lựa chọn làm kênh Thời sự, Chính trị - Tổng hợp của Đài

Mặc dù trang thiết bị còn thiếu thốn, lạc hậu, chưa đồng bộ nhưng tập thể cán

bộ, phóng viên, kỹ thuật viên và nhân viên của Đài đã cố gắng khắc phục mọi khó khăn hoàn thành nhiệm vụ chính trị đó là: tuyên truyền kịp thời các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật nhà nước đến nhân dân Đồng thời phản ánh tâm tư nguyện vọng chính đáng của nhân dân lên các cấp có thẩm quyền

Đài đã thực hiện liên kết khai thác chương trình phim truyện, giải trí để phục

vụ nhu cầu của nhân dân thành phố và các khu vực lân cận Thực hiện khai thác phát sóng phim truyện Việt Nam vào giờ “vàng” theo đúng quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông

Điểm nổi bật là từ năm 2010, Đài đã được lãnh đạo thành phố tin cậy giao truyền hình trực tiếp nhiều sự kiện chính trị quan trọng của thành phố Tổ chức thực hiện nhiều chương trình trực tiếp giao lưu, tọa đàm, các hoạt động văn hóa văn nghệ diễn ra trên địa bàn trên kênh DRT2 - kênh Thời sự - Chính trị - Tổng hợp của Đài Việc tổng hợp phát sóng 2 kênh truyền hình theo 2 tiêu chí khác nhau sẽ tạo điều kiện cho khán giả có nhiều sự lựa chọn phù hợp

Trong những năm gần đây, Đài DRT đã được tăng cường đầu tư một số trang thiết bị phục vụ cho công việc sản xuất và phát sóng chương trình truyền hình như: thiết bị dẫn phát sóng, thiết bị sản xuất chương trình, thiết bị phát chương trình, …

Trang 30

Hiện nay, hòa chung vào xu thế phát triển của đài truyền hình trên cả nước Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng đã ứng dụng công nghệ số trong việc sản xuất và phát chương trình phát thanh, truyền hình Từ năm 2009, chương trình truyền hình

đã được phát sóng tự động bằng Sever trên cả 2 kênh DRT1, DRT2 Từ tháng 1/2010, 100% chương trình phát thanh truyền hình của Đài đã được sản xuất bằng công nghệ số

Nhờ những cải tiến đó nên trong thời gian những năm gần đây Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng đã đạt được những thành tựu đáng kể:

Về công tác tuyên truyền, đây là một nhiệm vụ trọng tâm, phản ánh kịp thời

những sự kiện quan trọng của thành phố trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế,văn hóa

- xã hội, quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội trên hệ thống các sóng Phát thanh - Truyền hình thành phố

Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng luôn chú trọng đổi mới hình thức, nội dung và kết cấu chương trình cho phù hợp từng bước đáp ứng nhu cầu của khán, thính giả được nhiều người hoan nghênh, lãnh đạo thành phố đánh giá cao, cơ cấu chương trình được sắp xếp hợp lí hơn với hàm lượng thông tin cao Các chuyên mục của Đài đã có nhiều cải tiến trong phong cách thể hiện được đông đảo khán giả khen ngợi

Về công tác kỹ thuật, Đài luôn sản xuất và truyền dẫn phát sóng các chương

trình đảm bảo đúng quy định, quy phạm kỹ thuật

Về giải trí truyền thông, được đẩy mạnh xã hội hóa, hiện đã có nhiều đơn vị

như truyền hình cáp Sông Thu, truyền hình cáp Sài Gòn Tourist, MyTV, Sông Hàn TV,… tham gia cung cấp hàng trăm kênh truyền hình thuộc đủ các lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch, giải trí, phim ảnh, ở trong nước và trên thế giới, tạo điều kiện cho người dân thành phố có nhiều điều kiện chọn lựa thỏa mãn được nhu cầu của cá nhân mình

Cho đến nay, các chương trình truyền hình của Đài trên 2 kênh DRT đã đáp ứng nhu cầu thông tin của khán giả gần xa Các chuyên mục ngày càng được cải tiến, nâng cao chất lượng, gần gũi hơn với cuộc sống và phù hợp với nhịp điệu sôi

Trang 31

động của một thành phố trẻ, năng động

2.2 Chức năng truyền thông của Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng

2.2.1 Chức năng thông tin

Nhiệm vụ hàng đầu và cũng là lý do ra đời của phương tiện truyền thông đại chúng là thông tin Có thể nói, thông tin là chức năng khởi nguồn, chức năng cơ bản nhất của báo chí nói chung và của truyền hình nói riêng Thông tin là nhu cầu sống của con người và xã hội Xã hội càng phát triển thì nhu cầu thông tin càng cao và do

đó, báo chí nói chung và truyền hình nói riêng càng phải nỗ lực hơn nữa trong việc đáp ứng nhu cầu thông tin cho xã hội Truyền hình có những lợi thế nhất định so với các loại hình báo chí khác trong việc phản ánh thông tin Trước hết, truyền hình cũng như báo chí nói chung đều phải thông tin một cách nhanh chóng, kịp thời, đúng lúc nhất, đảm bảo tính cập nhật, tính thời sự của thông tin Trong thời đại bùng

nổ thông tin như ngày nay, cuộc cạnh tranh trong việc đưa tin của các loại hình báo chí ngày càng trở nên quyết liệt Trên thực tế, cơ quan báo chí nào đưa tin nhanh nhất về một sự kiện mới nhất, thu hút được sự quan tâm của công chúng, thì cơ quan báo chí đó giành được thắng lợi trong cuộc cạnh tranh độc giả và bán báo Truyền hình cũng tương tự, sự thành công và phát triển của truyền hình phụ thuộc vào số lượng người xem và số tiền mà họ bỏ ra để mua các kênh truyền hình Truyền hình Việt Nam là một cơ quan truyền thông đại chúng, phục vụ đắc lực cho công tác tuyên truyền của Đảng và Nhà nước, nhưng chức năng trên hết là thông tin, và yêu cầu của công chúng đòi hỏi thông tin phải nhanh chóng, chính xác, đảm bảo tính thời sự Nhanh chóng và hợp thời là hai yếu tố làm nên giá trị thông tin báo chí Nếu thông tinh nhanh và đảm bảo tính hợp thời sẽ đem lại khả năng tạo ra hiệu quả tác động của thông tin từ đó mà tăng hiệu quả của công tác tuyên truyền

Truyền hình có những lợi thế đặc biệt trong việc đưa tin nhanh chóng và hợp thời Không giống như báo in, thông tin được phóng viên thu thập về cho dù có

“nóng hổi” đến đâu đi chăng nữa thì có thể vẫn phải dành cho số báo ngày hôm sau, phải qua khâu in ấn rồi mới phát hành Chính vì vậy mà cho dù trên báo in có chạy hàng tít “hot news” thì nó đã không còn “nóng” Truyền hình hoàn toàn ngược lại,

Trang 32

ngay lập tức nó có thể đưa đến cho công chúng những hình ảnh mới nhất, nóng nhất vừa quay từ hiện trường về và phát ngay lên sóng truyền hình nếu như đó là thông tin được toàn thể công chúng quan tâm Những hình ảnh mới, chưa qua dàn dựng cắt gọt sẽ đưa đến cho công chúng những thông tin trung thực, sống động Nếu báo

in sử dụng từ ngữ, ảnh là phương tiện chính để truyền tải thông tin, với phát thanh

là âm thanh thì truyền hình có khả năng truyền tải thông bằng cả âm thanh và hình ảnh ngay tại hiện trường Yếu tố tác động chủ yếu đến công chúng là yếu tố nghe nhìn Do vậy, truyền hình tác động đến công chúng thông qua ngôn ngữ ở cấp độ xem Điều này có thể nói lên độ trung thực rất cao của thông tin trên truyền hình Tuy vậy, thông tin trên truyền hình không thể xem lại ngay và cho công chúng có thời gian suy nghĩ như báo in để họ hiểu sâu thông tin nên những hình ảnh trên truyền hình phải đặc biệt gây ấn tượng sâu sắc cho công chúng Điều này đòi hỏi người phóng viên phải hết sức nhanh nhạy, nắm bắt thông tin và chọn được những góc quay hợp lý nhất sao cho những âm thanh và hình ảnh trên truyền hình sẽ ngay lập tức thu hút được sự quan tâm của công chúng

Đài Phát thanh - Truyền hình Đà nẵng là một kênh thông tin địa phương lớn tại miền Trung Với chức năng đáp ứng nhu cầu con người hết sức phong phú và đa dạng nên việc đưa thông tin trên sóng truyền hình cũng phải rất đa dạng và phong phú Đời sống tinh thần của con người ngày càng phát triển, do đó không chấp nhận cách đưa tin đơn điệu, nghèo nàn Điều này yêu cầu thông tin trên truyền hình phải cực kỳ phong phú, phản ánh mọi mặt, mọi khía cạnh trong đời sống xã hội, đáp ứng một cách tối đa nhu cầu thông tin của công chúng Trên thực tế, tờ báo cũng như kênh phát thanh truyền hình nào cung cấp được lượng thông tin lớn thì nó sẽ trở thành sự lựa chọn của số đông công chúng Chính vì vậy, Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng có sự phân bố thời gian hợp lí cho kênh thông tin như sau:

Kênh DRT1 mỗi ngày có 90 phút cung cấp thông tin thời sự tổng hợp, 45 phút phát lại chương trình thời sự VTV

Kênh DRT2 mỗi ngày có 75 phút cung cấp thông tin thời sự tổng hợp, 45 phút phát lại chương trình thời sự VTV

Trang 33

Ngoài những chương trình nêu trên còn có khung chương trình ngắn vào lúc 18h55’ dành để thông tin - thông báo, bản tin thời sự vào lúc 20h50’ hàng ngày những thông tin nóng nhất Những thông tin một cách trực tiếp nhất trong ngày được truyền đến nhân dân Thành phố và các tỉnh lân câ ̣n hàng ngày hàng giờ một cách kịp thời và chính xác

Đây là những khoảng thời gian cung cấp sự kiện lớn nhỏ của thành phố, cả nước trong ngày cũng như thông tin về thế giới được chọn lọc phong phú và đa dạng Trong những năm qua, Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng đã và đang hàng ngày, hàng giờ cung cấp thông tin nhanh nhạy, phong phú đa dạng lại đảm bảo tính trung thực, độ chính xác cao Đặc biệt, cán bộ nhà Đài luôn lựa chọn thông tin phù hợp với hệ thống giá trị văn hóa và đạo lý của dân tộc, thông tin phù hợp với sự phát triển và phục vụ sự phát triển Thông tin trên truyền hình góp phần vào việc định hướng dư luận xã hội, định hướng thái độ, nhận thức và hành vi cho công chúng Đây là yêu cầu xuyên suốt, bao trùm mọi hoạt động thông tin của Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng Do đó, thông tin truyền hình đã đặc biệt chú ý đến những yêu cầu này để đáp ứng công tác tuyên truyền của Đảng và Nhà nước

2.2.2 Chức năng tư tưởng

Công tác tư tưởng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các chính đảng, các hệ thống xã hội cũng như các giai cấp nắm quyền lãnh đạo xã hội Mục đích của công tác tư tưởng là nhằm tác động vào ý thức xã hội, hình thành một hệ thống tư tưởng thống trị với những định hướng nhất định Đây chính là một phương thức để phát huy những quyền lực trong các lĩnh vực chính tri ̣, kinh tế và xã hội, tập hợp lực lượng quần chúng, phát huy được những tiềm năng to lớn của nhân dân nhằm xây dựng xã hội theo con đường đã định Với khả năng tác động một cách rộng lớn, nhanh chóng và mạnh mẽ vào xã hội, hoạt động báo chí nói chung cũng như truyền hình nói riêng có vai trò và ý nghĩa rất lớn trong công tác tư tưởng Các phương tiện truyền thông đại chúng tác động vào quần chúng, lôi kéo, tập hợp thuyết phục họ và

tổ chức họ thành lực lượng hợp nhất để thực hiện những mục tiêu cụ thể trong từng thời kỳ Truyền hình với những lợi thế đặc biệt về âm thanh và hình ảnh có khả

Trang 34

năng thể hiện một lượng thông tin lớn sinh động và cụ thể sẽ xây dựng một thế giới quan sinh động cho khán thính giả của truyền hình và có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục tư tưởng cho người xem

Chúng ta có thể thấy Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng đã rất nổ lực trong công tác biên tập cho các chương trình truyền hình nhằm mục đích truyền thông tư tưởng Đây là chức năng bao trùm các chương trình truyền hình của Đài Phát thanh

- Truyền hình Đà Nẵng Mọi chương trình đều phản ánh tư tưởng của Đảng và Nhà nước về xây dựng một chế độ xã hội chủ nghĩa “của dân, do dân và vì dân” Hướng tới mục tiêu “dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh” Có thể lấy

ví dụ như chương trình “Quốc phòng toàn dân” là một chương trình truyền hình nói

về chủ quyền đất nước, nói về tinh thần gìn giữ biên cương hải đảo qua đó nói lên những chính sách đúng đắn của Đảng và nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền dân tộc Ngoài ra, các chương trình Truyền hình trực tiếp các kì ho ̣p Quốc hội của Hô ̣i đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân hay các kì họp thành phố Gần đây nhất là Kỳ họp thứ 6 (bất thường) của Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng Khóa VIII, nhiệm kỳ 2011 - 2016 được phát sóng ngày 01/04/2013 Viê ̣c làm đó có tác dụng lớn trong việc truyền bá đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Chúng là những chương trình nhằm cũng cố tư tưởng, tinh thần yêu nước yêu chế độ, là nơi củng cố tinh thần dân tộc cho mọi tầng lớp nhân dân

Ngay trong các bộ phim tài liệu, các bộ phim truyền hình cũng thể hiện điều

đó Ngoài mục đích giải trí thì các bộ phim khung giờ vàng hay những bộ phim Việt Nam nói về lịch sử thì chúng càng khơi dậy tinh thần đấu tranh tư tưởng bảo vệ và xây dựng quê hương giàu ma ̣nh

Trên phạm vi toàn xã hội, nhiệm vụ đặt ra cho công tác tư tưởng chính là liên kết những thành viên riêng rẽ của xã hội thành khối thống nhất trên cơ sở một lập trường chính trị chung, thái độ trách nhiệm tích cực nhằm thực hiện những mục tiêu đặt ra Một khi nhận thức rõ tính ưu việt của chế độ xã hội, mục đích và kết quả hành động phù hợp với những lợi ích của mình, nhân dân sẽ tự giác thực hiện những nhiệm vụ to lớn của xã hội trên những vị trí công việc cụ thể, trong các lĩnh

Trang 35

vực đời sống xã hội nhất định Nói cách khác, nhân dân làm ra lịch sử theo ý thức của mình Cho nên việc tác động có định hướng vào ý thức của nhân dân chính là tác động có định hướng một cách gián tiếp vào tiến trình của lịch sử

Chức năng có tính mục đích đầu tiên trong hoạt động tư tưởng của truyền hình chính là nâng cao tính tự giác của quần chúng nhân dân Để nâng cao tính tự giác của quần chúng, nhiệm vụ đặt ra cho truyền hình Đà Nẵng là phát triển nhận thức của họ Trình độ nhận thức chính là tiền đề qui định trình độ tự giác của nhân dân lao động Một khi đã được hình thành trong nhân dân lao động, tính tự giác sẽ trở thành động lực mạnh mẽ cho những hành động sáng tạo trong lao động sản xuất và xây dựng cuộc sống mới

Tính tự giác cao của con người chỉ có thể hình thành trên cơ sở nhận thức một cách toàn diện và sâu sắc thế giới xung quanh những qui luâ ̣t của tự nhiên và xã hội, các quá trình và khuynh hướng vận động của đời sống xã hội và lịch sử Tính tự giác được đặc trưng bởi sự nhận thức vị trí của mỗi cá nhân trong thế giới, trong các mối quan hệ xã hội, sự nhận thức mục đích ý nghĩa cuộc sống, những nhu cầu về lợi ích, con đường và phương tiện để thực hiện những nhu cầu đó

Tất cả là những chương trình truyền hình có giá trị cao có tác động rất lớn đến nhận thức của người xem, từ đó quyết định hành vi của họ Vì thế, thông tin phải hết sức khách quan, trung thực, thẳng thắn để đem đến cho khán giả nhận thức đúng đắn, phù hợp với đường lối của Đảng và Nhà nước Báo chí nước ta hoạt động dưới

sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, nên mọi thông tin đều phải đảm bảo đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng, cũng như nhu cầu tuyên truyền Truyền hình luôn bám sát đời sống thực tiễn, tập trung phản ánh những điển hình trong xã hội, đồng thời phê phán những cái tiêu cực trong xã hội Báo chí nói chung cũng như truyền hình nói riêng có vai trò rất lớn trong việc tạo ra đi ̣nh hướng dư luận xã hội Dư luận xã hội là phản ứng, thái độ của xã hội đối với một sự kiện, hiện tượng vấn đề hoặc một nhân vật nào đó Tính chất của dư luận xã hội phụ thuộc vào nội dung thông tin được phản ánh Điều đó chứng tỏ nếu thông tin bị bóp méo hay xuyên tạc thì hậu quả sẽ rất lớn vì nó tạo ra dư luận xã hội không tốt mà không dễ gì

Trang 36

dập tắt được bởi dư luâ ̣n có quy luâ ̣t lan tỏa riêng của nó

2.2.3 Chức năng tổ chức - quản lý xã hội

Báo chí nói chung và truyền hình nói riêng đang hàng ngày, hàng giờ tham gia vào công tác tổ chức, quản lý xã hội Truyền hình góp phần tuyên truyền những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đến cho nhân dân, đồng thời cũng là diễn đàn để phản ánh những tâm tư nguyện vọng của người dân Truyền hình là kênh thông tin hai chiều để mọi chính sách mà Đảng và Nhà nước đề ra đều phù hợp với nguyện vọng của nhân dân Báo chí được coi là “quyền lực thứ tư trong xã hội” sau Luật pháp, Hành pháp và Tư pháp [28] Vì nó tạo sức mạnh dư luận thông qua thông tin

Cũng như các kênh truyền thông đại chúng khác, Đài Phát thanh - Truyền hình

Đà Nẵng có vai trò quan trọng trong tiến trình tham gia tổ chức xã hội như chương trình “Góc nhìn pháp luật” vào thứ 2 hàng tuần, thứ 3 là chuyên mục “Quốc phòng toàn dân”, các chuyên mục khác như “Thuế và cuộc sống” và 11h00 là chuyên mục

“Cải cách hành chính”, chương trình “Văn hóa, văn minh đô thị”, “Môi trường”… đây là những chương trình có giá trị khơi dậy năng lực, liên kết các yếu tố, bộ phận trong mối quan hệ nhất định nhằm tạo ra sức mạnh và hướng vào mục đích được xác định để tăng cường tính ưu việt và hiệu quả của tiến trình tổ chức - quản lý xã hội

Qua các chương trình truyền hình DRT đăng tải, bình luận, giải thích, phân tích các văn kiện, nghị quyết của Đảng và Nhà nước Thông tin đến cho toàn thể nhân dân nội dung các văn kiện, tài liệu của Đảng và Nhà nước, giải thích cơ sở khoa học, thực tiễn và phương pháp, cách thức thực hiện đường lối và chủ trương

đó Lợi thế của truyền hình đó là hình ảnh và lời nói, nhiều khi là những nhân vật trực tiếp ban hành luật hoặc các chuyên gia hiểu luật, đường lối, chính sách đó sẽ xuất hiện và giải thích trực tiếp trên truyền hình nên tránh được sự giáo điều, khô khan của những văn kiện và dĩ nhiên công chúng dễ nhớ và sẽ làm theo hiệu quả hơn Truyền hình phản ánh, phân tích tình hình thực tế, tình trạng công việc ở từng địa phương, khu vực hoặc một khâu mắt xích nào đó của một quá trình kinh tế - xã

Trang 37

hội Kết quả của hoạt động này là thông tin một bức tranh toàn diện về sự vật với những mối quan hệ phức tạp của nó, tạo điều kiện cho các cấp lãnh đạo, cơ quan quản lý, người cán bộ lãnh đạo có đầy đủ các dữ kiện để đưa ra những quyết định quản lý mới Truyền hình đã là một phương tiện truyền thông hữu ích trong việc thông tin xác thực và làm bằng chứng cho sự phát triển của xã hội

Ở góc độ khác, vai trò tổ chức của truyền hình còn được thể hiện ở các khía cạnh khác như biểu dương nhân tố, hình mẫu tích cực tiên tiến và nhân rộng ra thành phong trào, làm cho cái đơn lẻ tích cực thành cái phổ biến, uốn nắn nhận thức

và hoạt động của con người và các tổ chức, trong sự phù hợp với định hướng phát triển

Trong khi thực hiện vai trò tổ chức xã hội, truyền hình đồng thời thể hiện vai trò quản lý xã hội Truyền hình không chỉ thông tin, tuyên truyền để giáo dục nâng cao nhận thức, hiểu biết của công chúng về chủ trương, chính sách, thông tin phản hồi từ cuộc sống, từ bước đi, nhịp thở, tâm tư, nguyện vọng và những vấn đề bức xúc của cuộc sống Truyền hình còn tham gia trực tiếp vào quá trình tổ chức và quản

lý xã hội

Quản lý có thể được hiểu là quá trình tác động, chi phối của chủ thể đối với khách thể, đảm bảo cho sự vận hành, hoạt động của các tiểu hệ thống và toàn bộ hệ thống xã hội cùng nhằm vào mục tiêu và đạt hiệu quả Vì thế, để quá trình quản lý

xã hội đạt hiệu quả, cần phải đạt các yếu tố như: hoạch định chính sách, chủ trương phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể; truyền thông vận động xã hội, đảm bảo cho các chính sách, chủ trương, các quyết định quản lý được nhận thức đúng đắn và đầy đủ trong dân cư, tổ chức thực hiện, hướng dẫn tư tưởng và hoạt động Muốn được thế Đài đã có nhiều chính sách để nhà Đài cũng như công chúng xem Đài thường xuyên có mối quan hệ tác động hai chiều qua chương trình “Hộp thư truyền hình” vào thứ 6 hàng tuần Truyền hình đảm nhận vai trò vừa là yếu tố liên kết thông tin, cầu nối, vừa là động lực khơi dậy tiềm năng của Nhà nước và nhân dân

Xã hội càng phát triển, vai trò tổ chức quản lý xã hội của truyền hình càng được chú trọng Vai trò đó được thể hiện ở cả hai phương diện tổ chức và quản lý,

Trang 38

đó là quản lý bằng pháp luật và bằng dư luận xã hội Mối quan hệ này có liên quan

và gắn bó chặt chẽ để tạo hiệu quả cao trong sự phát triển của xã hội

2.2.4 Chức năng xây dựng, phát triển môi trường văn hóa

Để hiểu rõ hơn về chức năng xây dựng, phát triển môi trường văn hóa của Đài Phát thanh – Truyền hình Đà Nẵng, chúng tôi xin trình bày mô ̣t số quan điểm về môi trường văn hóa

Môi trườ ng văn hóa là tổng hòa những thành tố vâ ̣t chất và tinh thần tương đối ổn đi ̣nh trong mô ̣t thời gian và không gian cu ̣ thể Ở đó, các cá nhân tác đô ̣ng lẫn nhau, quan hệ trực tiếp giữa cá thể và cô ̣ng đồng, nơi đó có vai trò quyết đi ̣nh đến nhân cách con người trong quá trình sống Trong môi trường đó sự tác đô ̣ng liên cá nhân là yếu tố quan tro ̣ng nhất

Môi trường văn hóa là những mối quan hê ̣ hữu cơ giữa môi trường tự nhiên và môi trường xã hô ̣i Vì vâ ̣y, muốn xây dựng môi trường văn hóa lành ma ̣nh, tốt đe ̣p, phong phú , ta ̣o điều kiê ̣n cho nhân cách con người hình thành và phát triển trước hết phải bảo vê ̣ và xây dựng đồng thời cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Khó có thể nói đến chất lượng cuô ̣c sống con người khi con người sống trong môi trường sinh thái - tự nhiên bi ̣ ô nhiễm, bi ̣ tàn phá Bởi vì môi trường sinh thái là mô ̣t nhân tố hợp thành môi trường văn hóa của con người, cho con người

Điều đă ̣c biê ̣t quan tâm hơn của cô ̣ng đồng quốc tế các quốc gia, dân tô ̣c đó là

sự ô nhiễm môi trường xã hô ̣i - sự xuống cấp, ô nhiễm biến da ̣ng và tha hóa của môi trường văn hóa con người Vì vâ ̣y, viê ̣c xây dựng mô ̣t môi trường chính tri ̣ trong

sạch, lành ma ̣nh phù hợp với mong muốn của quần chúng thì phải loa ̣i bỏ dần tiêu

cực, xấu xa, đen tối Xã hô ̣i phải chăm lo tốt hơn nữa cho sự tiến bô ̣ công bằng, dân chủ , văn minh để ta ̣o môi trường xã hô ̣i lành ma ̣nh tốt đe ̣p bởi nó là cái nôi nuôi dưỡng và phát triển con người

Đây chính là mô ̣t nô ̣i dung quan tro ̣ng nhất, mô ̣t thành tố hữu cơ của môi trường văn hóa Cố thủ tướng Pha ̣m Văn Đồng từng nói: “Muốn có xã hô ̣i tốt thì phải có con người tốt, và muốn có con người tốt thì phải có xã hô ̣i tốt” Xây dựng, phát triển môi trường văn hóa là chức năng khách quan của truyền hình, có mối liên

Trang 39

hệ mật thiết với các chức năng tư tưởng và chức năng quản lý giám sát Trong hoạt động thông tin hàng ngày, truyền hình một mặt phổ biến kiến thức mới, truyền bá những tri thức văn hóa toàn diện nhằm nâng cao trình độ hiểu biết, văn hóa của công chúng Mặt khác, giúp cho công chúng sử dụng thời gian nhàn rỗi một cách hữu ích và dễ chịu, tạo điều kiện nghỉ ngơi, tái tạo sức lao động

Như vâ ̣y, môi trường tự nhiên và môi trường xã hô ̣i là những nhân tố góp phần trực tiếp ta ̣o nên môi trường văn hóa Môi trường văn hóa đến lượt nó la ̣i tác đô ̣ng đến sự hình thành nhân cách và giá tri ̣ đích thực con người Vâ ̣y, viê ̣c xây dựng môi trường văn hóa và xây dựng con người gắn bó chă ̣t chẽ sâu sắc với nhau Ta ̣i hô ̣i nghị Trung ương năm khóa VIII đã khẳng đi ̣nh : “Xây dựng môi trường văn hóa là

một nhiê ̣m vu ̣ quan tro ̣ng, nhằm ta ̣o ra ở các đơn vi ̣ cơ sở (gia đình, làng bản, xã phường, cơ quan đơn vi ̣,… ); các vùng dân đô thi ̣, nông thôn… đời sống văn hóa

lành ma ̣nh”

Trong môi trường văn hóa cu ̣ thể luôn chứa đựng hai nhân tố văn hóa vô cùng sinh đô ̣ng đó là văn hóa vô hình và văn hóa hữu hình - môi trường văn hóa bao quanh chú ng ta Văn hóa vô hình giữ vi ̣ trí cự kỳ quan tro ̣ng ta ̣o nên giá tri ̣ văn hóa

củ a môi trường đó

Cù ng với giá tri ̣ trên, trong môi trường văn hóa lành ma ̣nh, phát triển bao giờ

cũng phải biểu hiê ̣n hữu hình của những giá tri ̣ văn hóa cu ̣ thể bao quanh con người chú ng ta Chẳng ha ̣n, đó là môi trường xanh, sa ̣ch, đe ̣p, là toàn bô ̣ quá trình làm đe ̣p cho môi trường sống của mình Đó là sự hoa ̣t đô ̣ng của các thiết chế văn hóa (nhà văn hóa, phòng truyền thống, bảo tàng, thư viê ̣n,…) đó là cách thức sinh hoa ̣t văn

hóa cô ̣ng đồng và đó là những sản phẩm văn hóa như sách, báo, ta ̣p chí, chương trình phát thanh - truyền hình, các tác phẩm văn ho ̣c, nghê ̣ thuâ ̣t,…

Nói cách khác các chương trình truyền thông đa ̣i chúng trong đó có phát thanh

- truyền hình đảm nhâ ̣n mô ̣t chức năng vô cùng quan tro ̣ng là đáp ứng ngày mô ̣t tốt hơn nhu cầu của quần chúng ta ̣i chính môi trường sống của mình

Sự phát triển rộng khắp của các chương trình truyền hình là tiền đề quan trọng

để cung cấp thông tin, nâng cao trình độ hiểu biết, văn hóa của công chúng, đồng

Trang 40

thời thông qua truyền hình xã hội hóa, đại chúng hóa những giá trị văn hóa tinh thần của nhân dân, giúp cho mọi thành viên trong xã hội có điều kiện bổ sung vốn tri thức, làm phong phú thêm đời sống tinh thần Đây chính là điều kiện, là phương tiện để con người phát triển một cách toàn diện - mục đích cao cả của chế độ, mơ ước ngàn đời của nhân loại

Truyền hình hàng ngày chuyển tới công chúng những thông tin chứa đựng khối lượng tri thức to lớn về các vấn đề, các lĩnh vực hoạt động của con người: giới thiệu, phản ánh, phân tích, đánh giá tất cả những gì vừa xảy ra, đang xảy ra trong tự nhiên, trong đời sống xã hội có liên quan đến con người và được con người quan tâm Một trong những nội dung truyền hình quan tâm hàng đầu là những giá trị văn hóa - nhân văn: các tác phẩm văn học nghệ thuật, lễ hội, sinh hoạt văn hóa: các liên hoan phim, ảnh, âm nhạc, các cuộc thi đấu thể thao, các công trình kiến trúc nổi tiếng, các chương trình du lịch, giáo dục, phổ biến kiến thức, Tuy nhiên, mỗi kênh truyền hình cố gắng khai thác những ưu thế của mình trong việc thực hiện chức năng khai sáng, phát triển văn hóa, giáo du ̣c và giải trí

Truyền hình có ưu thế đặc biệt để giáo dục, nâng cao vốn tri thức văn hóa, giải trí Truyền hình hiện nay đã có sức ảnh hưởng vượt ra ngoài khuôn khổ của mô ̣t đi ̣a phương để vươn ra thế giới Đây cũng đồng thời là một thách thức đối với việc giáo dục ý thức văn hóa công dân, bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa truyền thống: cùng với việc phổ biến những giá trị văn hóa đích thực, truyền hình có khả năng truyền tải cả văn hóa không phù hợp, thậm chí độc hại, xa lạ Bởi vậy, để thực hiện

có hiệu quả chức năng khai sáng, phát triển văn hóa của mình, truyền hình cần có

các biê ̣n pháp nhằm gia tăng số lượng và chất lượng thông tin, nâng cao tính tư tưởng, sự hấp dẫn của các chương trình phát sóng Các chương trình truyền hình phải tác động mạnh mẽ, tích cực đến tính tích cực xã hội của công dân bằng sự hấp dẫn, tính thuyết phục của thông tin Khi công chúng thừa nhận những giá trị văn hóa tinh thần đích thực họ sẽ tự bảo vệ mình trước sự tấn công và ảnh hưởng của văn hóa độc hại Trình độ văn hóa sẽ là nền tảng cho việc tiếp thu và hình thành những

tư tưởng sâu sắc hơn, và ngược lại, những tư tưởng đó lại tác động, quy định việc

Ngày đăng: 09/05/2021, 17:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w