1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu và xây dựng một số biện pháp phòng ngừa các bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm cho học sinh tiểu học thông qua chủ đề con người và sức khỏe của môn khoa học lớp 4, 5

69 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy việc tìm hiểu và xây dựng một số biện pháp phòng ngừa các bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm cho học sinh tiểu học là một việc làm rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay đồng

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

học lớp 4, 5

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

SƯ PHẠM TIỂU HỌC

Trang 2

PHẦN I PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong thời đại ngày nay, thời đại của khoa học công nghệ, hội nhập và phát triển nhân loại đều hướng đến chân trời tri thức mà hạt nhân là giáo dục Giáo dục sẽ đào tạo ra những con người có đủ tài trí và thể lực để phục vụ và đáp ứng được nhu cầu của thời đại mới Để làm được điều đó con người cần có trí thức và sức khỏe Phòng bệnh là việc làm cơ bản để bảo vệ sức khỏe của cộng đồng, đồng thời là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe góp phần giúp mọi người đạt được tình trạng sức khỏe tốt và làm được mọi việc

Một số khảo sát gần đây của liên ngành giáo dục - y tế cho thấy tình trạng trẻ mắc một số bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm là khá nghiêm trọng và ngày càng gia tăng

Tỉ lệ trẻ em mắc các bệnh như sốt rét, viêm não và viêm gan cũng đang gia tăng nghiêm trọng và đã trở thành những vấn đề nóng bỏng, bức xúc, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội và sức khỏe cộng đồng Bên cạnh các bệnh truyền nhiễm thì trẻ em cũng mắc một số bệnh thông thường khác như béo phì, suy dinh dưỡng, rối loạn tiêu hóa Vì vậy cần thực hiện một số biện pháp phòng chống các bệnh truyền nhiễm và bệnh thông thường cho trẻ

Nguyên nhân khách quan dẫn tới học sinh mắc các bệnh ngày càng gia tăng là do chế độ ăn uống không hợp lý, hệ miễn dịch yếu, thời tiết, khí hậu thay đổi, môi trường sống xung quanh bị ô nhiễm, hoạt động chăm sóc sức khỏe và phòng bệnh trong nhà trường vẫn còn nhiều hạn chế Nguyên nhân chủ quan là do các em chưa ý thức được tầm quan trọng của sức khỏe, chưa thực sự quan tâm đến vệ sinh phòng bệnh hay do các em chưa tiếp thu được kiến thức vệ sinh phòng bệnh trên lớp

Đa số người Việt Nam lại chỉ quan tâm đến việc chữa bệnh chứ chưa thực sự hiểu đúng tầm quan trọng của việc phòng bệnh Tăng cường sức đề kháng, phòng chống các bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm ở trẻ em là một việc làm mang lại hiệu quả cao với phương châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh” và hướng tới việc giảm tối đa tình trạng mắc các bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm ở trẻ em - là tình

Trang 3

trạng tưởng chừng như bình thường và không nguy hiểm, nhưng thực chất lại là “chất xúc tác” khi sức đề kháng ở trẻ suy yếu giúp làm tiến triển khả năng nhiễm các bệnh nguy hiểm khác

Các nhà khoa học cho rằng, sức khỏe trẻ em hôm nay phản ánh tới sự phát triển của mọi dân tộc trong tương lai, nhưng với tình hình bệnh tật mà trẻ mắc phải như hiện nay thì khó có thể hình dung được sức khỏe của dân tộc đó trong thời gian tới sẽ như thế nào? Vì vậy việc tìm hiểu và xây dựng một số biện pháp phòng ngừa các bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm cho học sinh tiểu học là một việc làm rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay đồng thời giúp cho các em có một sức khỏe tốt, góp phần đào tạo học sinh có tri thức và hoàn thiện nhân cách, đáp ứng yêu cầu của xã hội

Phòng bệnh trong nhà trường không phải là một môn học riêng mà là giáo dục lồng ghép qua các môn học Trong các môn học của chương trình tiểu học thì Khoa học được coi là môn học chứa đựng nhiều kiến thức về sức khỏe phòng bệnh cung cấp cho các em những hiểu biết ban đầu về vệ sinh phòng bệnh, giúp cho các em có những tìm tòi, ham hiểu biết để có những thái độ, hành vi, thói quen đúng và biện pháp phòng ngừa tốt nếu mắc phải các bệnh đó, đồng thời rèn luyện cho học sinh có nếp sống khoa học, sinh hoạt văn minh lịch sự, có trách nhiệm với bản thân và gia đình

Từ những lí do trên, em chọn đề tài: “Tìm hiểu và xây dựng một số biện pháp phòng ngừa các bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm cho học sinh tiểu học thông qua chủ đề Con người và sức khỏe của môn Khoa học lớp 4, 5”

- Quá trình dạy học chủ đề con người và sức khỏe của môn khoa học lớp 4, 5

3.2 Đối tượng nghiên cứu

- Giáo viên và học sinh trong dạy học chủ đề “Con người và sức khỏe” của môn Khoa học lớp 4, 5

- Các bài học được tích hợp để xây dựng một số biện pháp phòng ngừa các bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm cho học sinh tiểu học

Trang 4

- Các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học chủ đề “Con người và sức khỏe” của môn Khoa học lớp 4, 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc tìm hiểu và xây dựng một số biện pháp phòng ngừa các bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm cho học sinh tiểu học thông qua chủ đề “Con người và sức khỏe” của môn Khoa học lớp 4, 5

- Tìm hiểu các bệnh học sinh thường mắc phải và xây dựng một số biện pháp phòng ngừa các bệnh đó

- Tìm hiểu thực tế việc dạy và học ở trường tiểu học, đặc biệt trong việc phòng ngừa các bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm ở trẻ

- Khảo sát công tác phòng bệnh của học sinh ở trường

- Thiết kế bài giảng có sử dụng phương pháp và hình thức dạy học nhằm tổ chức xây dựng một số biện pháp phòng bệnh cho học sinh đồng thời làm tăng hiệu quả giáo dục đối với chủ đề Con người và sức khỏe

- Thử nghiệm bài giảng đã thiết kế

- Kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác phòng bệnh cho học sinh tiểu học

5 Phạm vi nghiên cứu

Do điều kiện khách quan về thời gian nên em chỉ tiến hành tìm hiểu và nghiên cứu đề tài ở các lớp 4, 5 của trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Đọc các tài liệu có liên quan đến đề tài, sau đó phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tri thức đã đọc để làm sáng tỏ vấn đề

6.2 Phương pháp quan sát

Xem giáo viên tiến hành một số giờ dạy có tích hợp các nội dung về phòng ngừa các bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm mà trẻ mắc phải

6.3 Phương pháp điều tra bằng anket

Dùng hệ thống câu hỏi, phiếu điều tra để thu thập ý kiến của giáo viên và học sinh về vấn đề cần nghiên cứu

Trang 5

6.4 Phương pháp thực nghiệm

Đề xuất giáo án dạy một số bài thuộc nội dung phòng bệnh Thiết kế và dạy thử nghiệm một số bài thuộc nội dung phòng bệnh

6.5 Phương pháp thống kê

Để phân tích kết quả điều tra thực trạng, kết quả thực nghiệm

7 Giả thiết khoa học

Hiện nay, học sinh Tiểu học chưa nắm được vai trò của công tác phòng bệnh, chưa biết được những việc cần làm để giữ gìn và bảo vệ sức khỏe Nguyên nhân chủ yếu là do cách tiếp thu tri thức ở lớp trong chủ đề “Con người và sức khỏe” chưa vững chắc và do thói quen sinh hoạt hằng ngày Nếu giáo viên biết cách tổ chức tìm hiểu và xây dựng các biện pháp phòng bệnh thì sẽ nâng cao hiệu quả của môn học và giúp các

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

5 Phạm vi nghiên cứu

6 Phương pháp nghiên cứu

7 Giả thiết khoa học

PHẦN II: NỘI DUNG

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tìm hiểu và xây dựng một số biện

pháp phòng ngừa các bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm cho học sinh tiểu học thông qua chủ đề Con người và sức khỏe của môn Khoa học lớp 4, 5

Chương 2: Tìm hiểu và xây dựng một số biện pháp phòng ngừa các bệnh thônng

thường và bệnh truyền nhiễm cho học sinh tiểu học thông qua chủ đề Con người và sức khỏe của môn Khoa học lớp 4, 5

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Trang 6

PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÌM HIỂU VÀ XÂY DỰNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA CÁC BỆNH THÔNG THƯỜNG

VÀ BỆNH TRUYỀN NHIỄM CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THÔNG QUA CHỦ

ĐỀ CON NGƯỜI VÀ SỨC KHỎE CỦA MÔN KHOA HỌC LỚP 4, 5

1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1.1 Sức khỏe là cơ sở, là nền tảng để con người tiến hành mọi hoạt động

1.1.1.1 Các khái niệm cơ bản về sức khỏe

Theo tổ chức Y tế thế giới thì: “ Sức khỏe là một trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ không có bệnh tật hay thương tật” Như vậy , chúng

ta có thể hiểu sức khỏe gồm 3 mặt: Sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần và sức khỏe

xã hội

- Sức khỏe thể chất:

Sức khỏe thể chất được thể hiện một cách tổng quát sự sảng khoái và thoải mái

về thể chất Càng sảng khoái, càng thoải mái càng chứng tỏ bạn là người khỏe mạnh

Cơ sở của sự sảng khoái, thoải mái là:

+ Sức lực: khả năng hoạt động của cơ bắp, có sức đẩy, sức kéo, sức nâng cao, do đó làm công việc chân tay một cách thoải mái như mang vác, điều khiển máy móc, sử dụng công cụ…

+ Sự nhanh nhẹn: khả năng phản ứng của chân tay nhanh nhạy, đi lại, chạy nhảy, làm các thao tác kỹ thuật một cách nhẹ nhàng, thoải mái

+ Sự dẻo dai: làm việc hoặc hoạt động chân tay tương đối lâu và liên tục mà không cảm thấy mệt

+ Khả năng chống đỡ các yếu tố gây bệnh: ít ốm đau hoặc có bệnh cũng nhanh khỏi và chóng hồi phục

+ Khả năng chụi đựng được những điều kiện khắc nghiệt của môi trường: chịu nóng, lạnh, hay sự thay đổi đột ngột của thời tiết

- Sức khỏe tinh thần:

Trang 7

Sức khỏe tinh thần là hiện thân của sự thỏa mãn về mặt giao tiếp xã hội tình cảm

và tinh thần Nó được thể hiện ở sự sảng khoái, ở cảm giác dễ chịu, cảm xúc vui tươi, thanh thản; ở những ý nghĩ lạc quan, yêu đời; ở những quan niệm sống tích cực, dũng cảm, chủ động; ở khả năng chống lại những quan niệm bi quan và lối sống không lành mạnh

Có thể nói, sức khỏe tinh thần là nguồn lực để sống khỏe mạnh, là nền tảng cho chất lượng cuộc sống, giúp chúng ta có thể ứng phó một cách tự tin và hiệu quả với mọi thử thách, nguy cơ trong cuộc sống Sức khỏe tinh thần cho ta khí thế để sống năng động, để đạt được các mục tiêu đặt ra trong cuộc sống và tương tác với người khác với sự tôn trọng và công bằng

Sức khỏe tinh thần là sự biểu hiện nếp sống lành mạnh, văn minh và có đạo đức

Cơ sở của sức khỏe tinh thần là sự thăng bằng và hài hòa trong hoạt động tinh thần giữa lí trí và tình cảm

Cơ sở của sức khỏe xã hội là sự thăng bằng giữa hoạt động và quyền lợi cá nhân với hoạt động và quyền lợi xã hội của những người khác; là sự hòa nhập giữa cá nhân, gia đình và xã hội

Ba yếu tố sức khỏe liên quan chặt chẽ với nhau Nó là sự thăng bằng, hài hòa của tất cả những khả năng sinh học, tâm lí và xã hội của con người Nó là cơ sở tạo nền tảng cho hạnh phúc của con người

Thể chất

Sức khỏe

Trang 8

Sơ đồ thể hiện mối quan hệ chặt chẽ của ba yếu tố sức khỏe

Như vậy, theo định nghĩa trên mỗi người chúng ta cần chủ động để có một sức khỏe tốt Cần chủ động trang bị cho mình kiến thức về phòng bệnh và rèn luyện sức khỏe Thực hành dinh dưỡng hợp lí, luyện tập thể dục thể thao phù hợp, an toàn lao động và khám bệnh theo chu kì để chủ động trong việc phòng và chữa bệnh

Để có sức khỏe tốt với sự nỗ lực của mỗi cá nhân là chưa đủ mà cần sự đóng góp của cả cộng đồng, của toàn xã hội trong các vấn đề an sinh, việc làm và giáo dục hay

cụ thể hơn như các vấn đề về môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm

1.1.1.2 Con người và sức khỏe

Sức khỏe là vốn liếng quý giá nhất của con người, là tài sản vô hình nhưng có sức mạnh hữu hình, là cái đánh giá thể chất của bạn so với những người khác

Thế nhưng chúng ta không mấy khi để ý đến sức khỏe của mình cho đến khi phát sinh các vấn đề liên quan tới sức khỏe Khi mắc bệnh, khi đau ốm con người ta mới bắt đầu lo cho sức khỏe của mình, họ bắt đầu đọc tài liệu, đi bác sĩ Đa phần những hành động này đều hữu ích, nhưng cũng có trường hợp khi phát hiện ra mình có bệnh thì mọi nỗ lực đã là quá trễ Vậy mới thấy hiểu biết về chăm sóc sức khỏe bản thân và gia đình là một kĩ năng cần thiết cho mỗi người Hiểu để tự chăm sóc, hiểu để quan tâm tới người thân trong gia đình mình và cộng đồng dân cư mình sinh sống

Cuộc sống luôn biến đổi với những gam màu khác nhau, xã hội luôn có những yêu cầu cao hơn mà muốn đáp ứng được điều đó, trước hết con người phải có sức khỏe Có sức khỏe là có đủ thể lực và trí tuệ để hoàn thành công việc Không có sức khỏe thì cuộc sống không còn mang đúng nghĩa là sống nữa, mà đó là tồn tại Lúc có sức khỏe thì cái gì chúng ta cũng muốn làm, cái gì cũng muốn có được, nhưng khi không có sức khỏe thì điều duy nhất muốn có là sức khỏe Như vậy mới thấy được sức khỏe quan trọng với cuộc sống của mỗi con người như thế nào

Cơ thể con người được cấu trúc bởi các hệ cơ quan: hệ thần kinh, hệ cơ - xương,

hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, hệ tiêu hóa, hệ bài tiết, da, hệ sinh dục Mỗi hệ cơ quan đều

có chức năng nhất định Con người sống và hoạt động là sự phối hợp nhịp nhàng của các cơ quan Mất đi chức năng của một cơ quan thì con người không thế sống được Mỗi hệ cơ quan đều có thể mắc những bệnh đặc trưng của nó Vì vậy mỗi người phải

Trang 9

biết cách phòng bệnh cho các cơ quan để có một cơ thể khỏe mạnh Một cơ thể khỏe mạnh khi các hệ cơ quan của nó đều khỏe mạnh

Sức khỏe không tự nhiên mà có Để có sức khỏe, chúng ta cần phải có một chế

độ ăn uống, làm việc, nghỉ ngơi, tập luyện một cách hợp lí Sức khỏe chính là cái mà

ta sở hữu, nó thuộc về bản thân của mỗi người và chúng ta có quyền quyết định cho tình trạng sức khỏe của chính mình

Con người và môi trường tác động qua lại lẫn nhau Các tác nhân từ môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe con người cũng do xuất phát từ con người Con người tác động đến môi trường và môi trường tác động ngược trở lại đối với con người Không khí ô nhiễm lan truyền bệnh tật Rác thải ô uế là nguồn sinh bệnh Lao động và giao thông không an toàn, nước ăn nhiễm khuẩn, thực phẩm mất vệ sinh, thuốc lá, rượu mạnh,…đều tác hại đến sức khỏe vốn quý nhất của mỗi con người, mỗi gia đình và toàn xã hội Do đó thái độ, hành vi, ý thức của mỗi người đều có tác động trực tiếp hay gián tiếp đến sức khỏe của cá nhân hay cộng đồng xã hội

Những ảnh hưởng tới sức khỏe không phải thấy ngay trong một hai ngày, có thể chúng tiềm ẩn trong cơ thể con người nhưng mãi về sau những triệu chứng của bệnh mới biểu hiện ra bên ngoài, có những bệnh đến khi phát hiện được cũng đã muộn Vì vậy không chủ quan đối với sức khỏe của mình Chúng ta phải chuẩn bị cho mình một sức khỏe lâu dài về sau chứ không phải chỉ riêng ở hiện tại

Sức khỏe tốt được thể hiện ở thể lực cường tráng và không bệnh tật, cùng với trí lực và tâm lực là yếu tố quyết định để mỗi cá nhân tạo ra xã hội ngày càng văn minh Không có sức khỏe tốt sẽ không có điều kiện để phát triển thể lực, trí lực và tâm lực Con người không có sức khỏe là không có gì Việc chăm sóc sức khỏe tốt sẽ tạo ra nguồn lực cơ bản cho sự phát triển của tương lai Ngược lại, người có sức khỏe kém sẽ tạo ra gánh nặng cho gia đình, xã hội hơn là có đóng góp xây dựng một xã hội phát triển

Như vậy, mỗi người sở hữu một vốn sức khỏe của riêng mình, con người tạo ra sức khỏe và sức khỏe quyết định cuộc sống của con người Có khỏe mới có thể học tốt, làm tốt, sống tốt Có khỏe, có học hay, mới có khả năng làm giỏi, làm sáng tạo, mới có thể sống đạo đức, văn minh Sức khỏe là một trong các yêu cầu giáo dục: đức, trí, thể, mĩ và là một trong 5 điều Bác Hồ dạy Vì vậy sức khỏe cần được coi như mục

Trang 10

tiêu số một của chiến lược con người mà ngành giáo dục có một vị trí và vai trò rất trọng yếu

Sức khỏe phải là tiêu chí số một trong các tiêu chí đào tạo con người phát triển toàn diện Thực trạng sức khỏe và chiều cao con người của con người Việt Nam hiện nay, cần đào tạo ra những “con người cao khỏe biết cách tự chăm sóc rèn luyện nâng cao sức khỏe và chiều cao” Và con người Việt Nam hiện đại là một con người cao, khỏe, học giỏi, làm sáng tạo, có nếp sống văn hóa, văn minh

1.1.1.3 Sức khỏe là cơ sở, là nền tảng để con người tiến hành mọi hoạt động

Hoạt động là phương thức tồn tại của con người trong thế giới, là quá trình tác động qua lại giữa con người và thế giới để làm ra sản phẩm cả về phía thế giới và phía con người Hoạt động của con người là hoạt động có mục đích, có tính xã hội, tính cộng đồng và được thực hiện bằng các thao tác nhất định

Cuộc sống của con người là một dòng các hoạt động bao gồm các hoạt động riêng lẻ theo các động cơ tương ứng Chúng đan xen vào nhau, hòa quyện lẫn nhau và chịu sự chi phối của hệ thống động cơ của nhân cách Các hoạt động đó là vui chơi, học tập, lao động, hoạt động xã hội, thể dục thể thao, văn hóa nghệ thuật Để thực hiện các hoạt động đó, con người phải có sức khỏe và chính các hoạt động đó sẽ tạo ra sức khỏe cho con người Sự vận động mang lại cho cơ thể sự khỏe mạnh dẻo dai, nhanh nhẹn Dù lao động bằng loại hình nào, con người cũng cần phải có sức khỏe Có khỏe mạnh con người mới có thể nghĩ đến các việc làm và giám làm để đạt hiệu quả cao Khi không có sức khỏe con người muốn làm việc hoặc tham gia các hoạt động cũng khó khăn, không đạt hiệu quả cao trong công việc, chỉ đơn giản và nhẹ nhàng như việc

đi ngủ thôi cũng không thể có một giấc ngủ ngon nếu người đó có bệnh

Con người phải được chăm sóc sức khỏe ngay từ khi còn trong bụng mẹ, để khi chào đời cơ thể mới có khả năng với tác động của môi trường Các hoạt động vui chơi, học tập, sinh hoạt phù hợp với lứa tuổi, nhưng ở lúa tuổi nào cũng cần phải đảm bảo

cơ thể khỏe mạnh thì mới có thể tham gia được các hoạt động đó Và chính việc tham gia các hoạt động đó sẽ giúp cơ thể phát triển và khỏe mạnh Trong quá trình học tập thì sức khỏe có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của việc học Muốn đạt kết quả cao trong học tập thì con người phải được đảm bảo về sức khỏe, có sức khỏe thì mới có một trí tuệ minh mẫn và một thể lực khỏe mạnh để đáp ứng được những yêu cầu trong học tập Không nên nghĩ học chỉ để đạt kết quả cao mà không quan tâm đến bảo vệ và

Trang 11

chăm sóc sức khỏe cho bản thân mình Càng lớn con người càng tham gia nhiều hoạt động có tính chất cao hơn nên đòi hỏi sức khỏe cũng phải được đảm bảo theo

Bất kì công việc nào của con người cũng cần có sức khỏe Làm việc gì người ta cũng xét đến yếu tố sức khỏe Nếu sức khỏe không đảm bảo thì con người không thể làm việc, dù cho đó là người có bằng cấp, được đào tạo về chuyên môn Bởi vậy, sức khỏe cũng là một tiêu chuẩn trong tuyển dụng Nhà tuyển dụng sẽ tuyển những người

có trình độ chuyên môn và phải đảm bảo về sức khỏe Giấy khám sức khỏe trong hồ sơ của mỗi người là không thể thiếu Có nó mới chứng minh được tình trạng sức khỏe của bản thân, và đó là một tiêu chuẩn để nhà tuyển chọn sử dụng Bất kì tổ chức hay cơ quan nào muốn tuyển dụng nhân viên thì yếu tố sức khỏe là điều kiện không thể thiếu Sức khỏe phải được nhìn nhận một cách toàn diện như là một trạng thái tích cực;

nó là chất liệu để con người có thể đạt được mục tiêu tối hậu là cuộc sống phong phú

về xã hội và kinh tế Một quốc gia khỏe mạnh không chỉ là một quốc gia có sự phân phối công bằng các nguồn lực mà là quốc gia có cộng đồng chủ động tích cực tham gia mạnh mẽ vào việc tạo ra những điều kiện cần thiết cho những con người khỏe mạnh

Sử dụng sức khỏe là vấn đề quan trọng của mỗi người Nên sử dụng sức khỏe hợp

lí, tự giác, biết phân phối thời gian hợp lí, xác định được phương pháp làm việc khoa học, biết tuân thủ nề nếp sinh hoạt hằng ngày để có được một sức khỏe đảm bảo

Mỗi người chúng ta phải biết cách tự bảo vệ, tự chăm sóc và rèn luyện nâng cao sức khỏe, đồng thời tích cực tham gia các phong trào vệ sinh phòng bệnh, phòng chống các tệ nạn xã hội, xây dựng môi trường xanh, sach, đẹp

1.1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.1.2.1 Khái niệm về phòng bệnh

Phòng bệnh là đưa ra các biện pháp nuôi dưỡng, chăm sóc mà con người thực hiện để phòng ngừa bệnh tật, tạo ra khả năng đề kháng, chống lại bệnh nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe

Phòng bệnh là tạo cho cơ thể có sức khỏe tốt, sẽ có khả năng chống đỡ được nhiều bệnh

Phòng bệnh nhằm cắt đứt các nguồn bệnh và nguồn lây lan, giúp cơ thể khỏe mạnh, phòng trừ bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khỏe với phương châm: “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”

Trang 12

1.1.2.2 Khái niệm bệnh thông thường

Bệnh thông thường là những bệnh thường mắc phải, không có tính chất lây lan Nhưng nếu không biết cách phòng chống thì cũng ảnh hưởng tới sức khỏe

1.1.2.3 Khái niệm bệnh truyền nhiễm

a) Định nghĩa

Bệnh truyền nhiễm là những bệnh nhiễm khuẩn do có tính chất lây truyền trực tiếp hoặc gián tiếp từ người hoặc từ động vật sang người do tác nhân gây bệnh truyền nhiễm

Bệnh truyền nhiễm do nhiều nguyên nhân gây ra như vi khuẩn, virút, nấm, kí sinh trùng,

b) Con đường lây lan của bệnh truyền nhiễm

- Điều kiện để lan truyền bệnh truyền nhiễm: Bệnh truyền nhiễm muốn lan truyền được phải có 3 điều kiện là: nguồn truyền nhiễm, đường truyền nhiễm và cơ thể cảm thụ.[3, 144]

- Bệnh truyền nhiễm lây lan qua 4 con đường:

+ Bệnh lây truyền theo đường hô hấp: lây trực tiếp qua tiếp xúc bụi, từ áo quần hay chăn màn của bệnh nhân Bao gồm các bệnh: lao, sởi, cúm, ho gà, bạch hầu

+ Bệnh lây theo đường tiêu hóa: lây qua đường thức ăn, nước uống và các đồ dùng của bệnh nhân Bao gồm các bệnh: tả, lị, thương hàn, viêm gan

+ Bệnh lây truyền qua đường máu : bệnh sốt xuất huyết, bệnh sốt rét, bệnh viêm não, bệnh dịch hạch

+ Bệnh lây truyền qua đường da và niêm mạc: hắc lào, ghẻ lở, rận, giang mai, lậu

c) Tính chất của bệnh

Một số tính chất của bệnh truyền nhiễm [3, 143]

+ Tính đặc hiệu: Nhìn chung, mỗi loại bệnh truyền nhiễm do một loại vi sinh vật nhất định gây ra (cũng có trường hợp 1 bệnh do nhiều nguyên nhân)

+ Tính lây truyền: Mầm bệnh lan truyền từ cơ thể này sang cơ thể khác, làm cho nhiều người bị bệnh, gây dịch

+ Tính chu kì: Thông thường, bệnh truyền nhiễm diễn biến qua các thời kì của bệnh: khởi phát, toàn phát và lụi bệnh Tính chu kì là kết quả của quá trình xâm nhập

Trang 13

và phát triển của mầm bệnh trong cơ thể, đồng thời là kết quả phản ứng của cơ thể đối với mầm bệnh

+ Tính phát sinh miễn dịch đặc hiệu: Khi vi sinh vật (mầm bệnh) xâm nhập vào

cơ thể sẽ có hiện tượng kích thích các tế bào kháng thể sản xuất ra kháng thể chống lại Thời gian được miễn dịch khác nhau tùy cơ thể, tùy bệnh

1.1.3 Ý nghĩa của việc tìm hiểu và xây dựng một số biện pháp phòng ngừa các bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm cho học sinh tiểu học

Việc tìm hiểu và xây dựng một số biện pháp phòng ngừa các bệnh thông thường

và bệnh truyền nhiễm có ý nghĩa rất quan trọng đối với sức khỏe con người, đặc biệt là lứa tuổi Tiểu học Học sinh Tiểu học là lứa tuổi đang phát triển mạnh, cơ thể chưa ổn định, dễ mắc bệnh tật, dễ chịu ảnh hưởng xấu của môi trường tới sức khỏe Môi trường tập trung tạm thời trong một phòng học, một khu trường là điều kiện để các bệnh truyền nhiễm dễ lây lan từ em này sang em khác, từ trường về nhà, ra ngoài xã hội và ngược lại Vì thế việc tìm hiểu và xây dựng một số biện pháp phòng bệnh là điều thiết yếu

Phòng bệnh có ý nghĩa quan trọng đối với sức khỏe của con người, không chỉ có

ý nghĩa to lớn về mặt sức khỏe mà còn có ý nghĩa về mặt kinh tế - xã hội và văn hóa Phòng bệnh có tác dụng phòng chống các bệnh, giúp cơ thể khỏe mạnh và có sức đề kháng đối với các tác động của môi trường Giúp các em biết được các bệnh đặc trưng, nguyên nhân gây bệnh và cách phòng ngừa hiệu quả Từ đó biết được việc nên làm và không nên làm để giữ vệ sinh, phòng tránh các bệnh một cách có hiệu quả

1.1.4 Bảng thống kê các bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm học sinh Tiểu học thường mắc phải

Bệnh thông thường Bệnh truyền nhiễm Bệnh béo phì

Bệnh do thiếu chất dinh dưỡng

Bệnh về răng miệng

Bệnh cận thị

Bệnh cong vẹo cột sống

Bệnh sốt rét Bệnh sốt xuất huyết Bệnh viêm não Bệnh viêm gan A Bệnh sởi

Bệnh lây nhiễm qua đường tiêu hóa

Trang 14

1.1.5 Đặc điểm sinh lí của học sinh Tiểu học

Sự cốt hóa của xương tăng dần theo tuổi, các trung tâm cốt hóa ở đầu các xương dài, dần dần kết thúc Phần lớn các xương dài và đốt sống, giữa thân xương và đầu xương vẫn còn sụn nên xương của trẻ em liên tục dài ra cho đến khi thân xương và đầu xương gắn liền với nhau

1.1.5.2 Hệ tim mạch

Tim của trẻ em lớn dần theo tuổi, khối lượng của tim so với khối lượng cơ thể tăng lên không đều Chiều dày của các sợi cơ tim có tăng nhưng tăng ít Chiều dày của tâm thất trái tăng lên do sự khác nhau về lực co bóp của tâm thất phải và trái Trẻ em 6

- 7 tuổi, tâm thất trái nặng hơn tâm thất phải hai lần Cơ tim của học sinh nhỏ phát triển mạnh, máu đầy đủ, vì vậy trẻ có sức chịu đựng khá Trẻ em càng lớn, lòng tĩnh mạch phát triển rộng hơn lòng động mạch Động mạch phổi của trẻ em dưới 10 tuổi to hơn động mạch chủ, đến 10 - 12 tuổi, hai động mạch này to bằng nhau Mao mạch cũng rộng hơn so với người lớn, do nhu cầu của cơ thể trẻ cao hơn so với người lớn

1.1.5.3 Hệ hô hấp

Hệ hô hấp gồm có đường dẫn khí và cơ quan trao đổi khí Mũi trẻ em có lớp niêm mạc mỏng, lỗ mũi hẹp, hệ thống lông, tuyến nhầy chưa phát triển đầy đủ, mạng lưới mao quản nhiều, khả năng diệt vi khuẩn và ngăn bụi còn kém Bề mặt hô hấp của phế nang ở trẻ em thuộc mọi lứa tuổi đều tương đối lớn hơn của người lớn Lượng máu chỉ qua phổi trong mỗi đơn vị đơn vị thời gian cũng lớn hơn Nhờ vậy, sự trao đổi khí

ở trẻ em cao hơn người lớn, phù hợp với cường độ trao đổi chất của cơ thể đang phát triển Trung khu hô hấp của trẻ em rất dễ hưng phấn nên trẻ chỉ hơi bị xúc động hoặc chỉ lao động chân tay chút ít hoặc hơi bị nóng là thở nhanh hơn Cần chú ý các bệnh cúm, sởi, bạch hầu, quai bị, lao

Trang 15

1.1.5.4 Hệ tiêu hóa

Đây là lứa tuổi thay răng sữa bằng răng vĩnh viễn Nếu không giữ gìn vệ sinh răng miệng thì răng dễ bị sún, bị sâu, khi đó men răng bị hỏng gây hậu quả xấu cho hàm răng sau này Sâu răng và sún răng có ảnh hưởng nhiều đến việc ăn uống, tiêu hóa

và bệnh tật vì các ổ nhiễm khuẩn ở răng dễ dàng gây ra các bệnh khác nhau thấp khớp, tim, thận, phổi và tiêu hóa

1.1.6 Đặc điểm tâm lí nhận thức của học sinh Tiểu học

1.1.6.1 Đặc điểm tâm lí chung của học sinh Tiểu học

Sự kiện quan trọng của học sinh giai đoạn này là cắp sách tới trường Cuộc sống của trẻ lúc này hoàn toàn khác, các em chuyển từ hoạt động chủ đạo từ chơi sang học tập là chính, các em phải lắng nghe thầy cô giảng, phải viết, phải biết suy nghĩ…điều này giúp các em phát triển tư duy nhất là tư duy trừu tượng

Ở lứa tuổi này các em chưa biết cách học, đa phần là hiếu động Mặc dù tình cảm trong sáng, hồn nhiên nhưng thiếu sự kiềm chế Vì vậy người giáo viên cần hướng dẫn cho các em cách học tập, động viên các em có ý chí vươn lên và điều chỉnh hoạt động học tập của mình

1.1.6.2 Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học

* Tri giác

Tri giác của học sinh Tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và mang tính không chủ định, do đó các em phân biệt các đối tượng còn chưa chính xác dễ mắc sai lầm, có khi còn lẫn lộn

Ở các lớp đầu Tiểu học, tri giác thường gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn, trẻ chỉ cảm nhận được cái nó cầm nắm, những gì phù hợp với nhu cầu của các

em, những gì gắn với hoạt động của các em thì các em mới tri giác được

Trang 16

Tính xúc cảm thể hiện rõ trong trí giác Những dấu hiệu, những đặc điểm nào của

sự vật gây cho các em cảm xúc thì được các em tri giác trước

Tri giác về không gian và thời gian của học sinh Tiểu học còn hạn chế Đối với các em tri giác không tự bản thân nó phát triển được mà phải có sự trợ giúp của giáo viên

Khi khái quát hóa, học sinh Tiểu học (lớp 1, 2) thường quan tâm đến dấu hiệu trực quan, bề ngoài có liên quan đến chức năng của đối tượng Nhờ hoạt động học tập, nhận thức được phát triển, học sinh lớp 3, 4 đã biết xếp bậc các khái niệm rộng hơn, hẹp hơn, nhận ra các mối quan hệ, giữa các khái niệm giống nhau

Hoạt động phân tích tổng hợp còn sơ đẳng, học sinh các lớp đầu Tiểu học chủ yếu tiến hành phân tích - trực quan - hành động khi tri giác trực tiếp đối tượng Học sinh cuối bậc Tiểu học có thể phân tích đối tượng mà không cần hành động thực tiễn đối với đối tượng đó

Tưởng tượng tái tạo từng bước được hoàn thiện gắn liền với những hình tượng đã tri giác trước, hoặc tạo ra những hình tượng phù hợp với những gì đã mô tả, hình vẽ,

sơ đồ…Biểu tượng của sự tưởng tượng dần trở nên hiện thực hơn, phản ánh đúng nội dung của các môn học, nội dung các câu chuyện đã học

Trang 17

Ở các em tưởng tượng quyện chặt với hiện thực, xâm nhập vào hiện thực Nhiều lúc trẻ kể câu chuyện mình tưởng tượng như một cách say sưa nhằm muốn cho người khác chú ý và thích thú vào câu chuyện mà mình đang kể

* Trí nhớ

Do hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất ở học sinh Tiểu học tương đối chiếm

ưu thế nên trí nhớ trực quan - hình tượng phát triển hơn trí nhớ từ ngữ lôgíc Các em ghi nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn định nghĩa, những lời giải thích dài dòng Học sinh lớp 1, 2 có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần, có khi chưa hiểu những mối liên hệ, ý nghĩa của tài liệu học tập đó

Học sinh chưa hiểu cụ thể phải ghi nhớ những gì, bao lâu trong khi đó giáo viên laị ít quan tâm hướng dẫn các em ghi nhớ theo điểm tựa

Ngôn ngữ của học sinh lớp 1, 2 còn hạn chế, đối với chúng việc nhớ lại từng câu, từng chữ dễ dàng hơn dùng những lời lẽ của mình để diễn tả lại một sự kiên, hiện tượng nào đó

* Chú ý

Chú ý có chủ định của học sinh Tiểu học còn yếu Sự chú ý của học sinh đòi hỏi một động cơ gần thúc đẩy Nếu ở học sinh các lớp cuối Tiểu học chú ý có chủ định được duy trì ngay cả khi có động cơ xa thì học sinh các lớp đầu Tiểu học thường bắt mình chú ý khi có động cơ gần (được khen, được điểm cao)

Trong lứa tuổi học sinh Tiểu học chú ý không chủ định phát triển Những gì mang tính mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác thường dễ lôi cuốn sự chú ý của các em Sụ chú ý không chủ định càng trở nên mạnh mẽ khi giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học đẹp, mới lạ, ít gặp, gợi cho các em cảm xúc tích cực

Sự tập trung chú ý của học sinh lớp 1, 2 còn yếu, thiếu bền vững Sự chú ý của các em phụ thuộc vào nhịp độ học tập Nhịp độ học tập quá nhanh hay quá chậm đều không thuận lợi cho tính bền vững và tập trung chú ý

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Cấu trúc chương trình môn Khoa học lớp 4, 5

Chương trình môn khoa học lớp 4, 5 gồm các chủ đề sau:

Trang 18

- Con người và sức khỏe: Sự trao đổi chất, nhu cầu chất dinh dưỡng của cơ thể người; sự sinh sản, sự lớn lên và phát triển ở cơ thể người Cách phòng chống một số bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm Cách sử dụng thuốc an toàn

- Vật chất và năng lượng: Tính chất và ứng dụng của một số chất, một số vật liệu

và dạng năng lượng thường gặp trong đời sống sản xuất

- Thực vật và động vật: Sự trao đổi chất và sự sinh sản của cây xanh và một số động vật

- Môi trường và tài nguyên thiên nhiên: Ảnh hưởng qua lại giữa con người và mội trường Một số biện pháp bảo vệ môi trường

1.2.2 Nội dung chương trình môn Khoa học lớp 4, 5

Ăn uống khi ốm đau

- Phòng một số bệnh do ăn thiếu hoặc thừa ăn thừa chất dinh dưỡng và một số bệnh lây qua đường tiêu hóa (tiêu chảy, kiết lỵ)

- Sự sinh sản ở người Sự lớn lên và phát triển của cơ thể người, vệ sinh tuổi dậy thì, chống bị lợi dụng cơ thể, không sử dụng các chất gây nghiện

- Phòng chết đuối

- Phòng một số bệnh qua muỗi truyền: sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não, viêm gan

- Sử dụng thuốc an toàn

2 Vật chất và năng

lượng

- Nước: tính chất, vòng tuần hoàn, vai trò Sự ô nhiễm nước Cách làm sach nước Sử dụng nước hợp lí, bảo vệ nguồn nước

- Không khí: Thành phần, tính chất, vai trò Sự chuyển động của không khí, gió, bão, phòng chống bão Sự ô nhiễm

- - Tính chất và ứng dụng của một số vật liệu thông thường: kim loại (sắt, đồng, nhôm) và hợp kim (gang, thép, duy-ra);

đá vôi; gốm (gạch, ngói), xi măng, thủy tinh; cao su, chất dẻo, sợi tơ

- - Tầm quan trọng và cách sử dụng một số dạng năng lượng

Trang 19

không khí Bảo vệ bầu không khí trong sạch

- Âm: các nguồn âm, sự truyền âm, âm thanh trong cuộc sống, chống tiếng ồn

- Ánh sáng: các nguồn sáng,

sự truyền sáng Vai trò của ánh sáng; bóng đèn và ứng dụng thực tế

- Nhiệt: cảm giác nóng, lạnh, nhiệt độ, nhiệt kế, các nguồn nhiệt, vai trò của nhiệt

thường gặp: than đá, dầu mỏ, khí đốt, Mặt Trời, gió, nước; năng lượng điện

3 Thực vật và động

vật

- Sự trao đổi chất của thực vật

và động vật với môi trường

- Sự sinh sản của cây xanh

- Sự đẻ trứng và đẻ con của một số động vật

4 Môi trường và tài

nguyên thiên nhiên

Một số ví dụ về môi trường và tài nguyên Vai trò của môi trường đối với con người Tác động của con người đối với môi trường tự nhiên Dân số và tài nguyên Một số biện pháp bảo vệ môi trường

1.2.3 Mục tiêu chương trình của môn Khoa học lớp 4, 5

a) Cung cấp cho học sinh một số kiến thức cơ bản, ban đầu và thiết thực về:

- Sự trao đổi chất, nhu cầu dinh dưỡng và sự lớn lên của cơ thể người; cách phòng chống một số bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm

- Sự trao đổi chất, sự sinh sản của động vật, thực vật

- Tính chất và ứng dụng của một số chất, một số vật liệu và dạng năng lượng thường gặp trong đời sống và sản xuất

b) Bước đầu hình thành và phát triển ở học sinh những kĩ năng:

- Ứng xử phù hợp với các vấn đề sức khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng

Trang 20

- Quan sát và làm một số thí nghiệm thực hành khoa học gần gũi với đời sống, sản xuất

- Nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập, biết tìm thông tin để giải đáp

- Phân tích, so sánh, rút ra những dấu hiệu chung và riêng của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên

- Thông báo những kết quả học tập bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ… c) Hình thành và phát triển ở học sinh những thái độ và thói quen:

- Tự chăm sóc, thực hiện các qui tắc vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng

- Ham hiểu biết khoa học, biết vận dụng những kiến thức đã học vào đời sống

- Yêu thiên nhiên, con người, đất nước, yêu cái đẹp; có ý thức và hành động bảo

vệ môi trường xung quanh

1.2.4 Thực trạng việc phòng ngừa các bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm của học sinh Tiểu học

1.2.4.1 Tình hình trẻ mắc các bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm ở Việt Nam

Ở nước ta, trẻ em trong độ tuổi 5 - 14 thường mắc các bệnh như là: bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn và kí sinh trùng, suy dinh dưỡng, béo phì, tai nạn,…

+ Bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn, virut và kí sinh vật chiếm tỉ lệ lớn, đặc biệt là nhiễm khuẩn đường hô hấp và tiêu hóa Các bệnh truyền nhiễm khác như: sởi, ho gà, bạch hầu, uốn ván, nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, tiêu chảy, sốt xuất huyết, sốt rét, viêm gan + Bệnh giun sán còn phổ biến ở các lứa tuổi, nhất là trẻ em mẫu giáo và học sinh Tiểu học, trung học, [4, 178]

+ Bệnh răng: 85% học sinh Tiểu học bị sâu răng,[4, 15]

+ Cận thị: 20% học sinh Tiểu học bị cận thị,[4, 17]

+ Vẹo cột sống: 15-25% học sinh Tiểu học bị vẹo cột sống,[4, 16]

+ Theo Bộ Y tế, hiện nay tỉ lệ béo phì ở trẻ 6 - 11 tuổi đã hơn 10%

+ Theo tổ chức Y tế thế giới, hằng năm có khoảng 1,5 tỷ trẻ em bị tiêu chảy Ở Việt Nam, tỷ lệ trẻ mắc tiêu chảy cũng khá cao, trung bình mỗi năm một trẻ có thể mắc 2,2 đợt tiêu chảy

+ Bệnh tay chân miệng là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus gây nên, bệnh thường gặp ở trẻ em (trên 90%)

Trang 21

1.2.4.2 Tìm hiểu thực tế việc phòng ngừa các bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm của học sinh tiểu học

a) Đối tượng điều tra

Đối tượng điều tra khi thực hiện đề tài này là học sinh các khối lớp 4, 5 trường Tiểu học Do điều kiện khách quan nên đề tài chỉ được tiến hành điều tra tại trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi Đối tượng học sinh được phát phiếu điều tra thuộc nhiều

đối tượng khác nhau (trung bình, khá, giỏi)

b) Nội dung điều tra

- Nhận thức của học sinh về các bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm

- Nhận thức của học sinh về cách phòng ngừa các bệnh

c) Phương pháp điều tra

- Phương pháp ankét (phiếu điều tra): Đưa ra các phiếu điều tra về các nội dung trên

- Phương pháp xử lí thống kê: Phát các phiếu thăm dò ý kiến cho học sinh Những phiếu thu được tôi tiến hành xử lí thống kê, qua đó nhận xét được thực trạng

d) Kết quả điều tra

Sau khi tiến hành thăm dò và điều tra ý kiến học sinh thuộc khối lớp 4, 5, kết quả thu được như sau:

Tổng số phiếu phát ra là: 300

Tổng số phiếu thu vào là: 300

Qua việc thu thập ý kiến, xử lí các số liệu thu được tôi đã đưa ra kết luận về thực trạng phòng ngừa các bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm của học sinh Tiểu học

Câu 1: Em có biết về một số bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm mà trẻ em

thường mắc phải không?

Bảng 1.1 Kết quả thể hiện mức độ nhận biết về các bệnh thông thường và bệnh

truyền nhiễm của HS

TT Trả lời Số lượng Tỉ lệ phần trăm (%)

Trang 22

Như vậy đa số các em đều biết về một số bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm (chiếm 89%), chỉ có một số ít là không biết (chiếm 11%) Điều này chứng tỏ các bệnh này không hề xa lạ với các em

Câu 2: Trên lớp, thầy (cô) giáo đã dạy em về các loại bệnh thông thường và bệnh

truyền nhiễm mà trẻ em thường mắc phải hay không?

Có: 300/300 (chiếm 100%)

Không: 0%

Câu trả lời trên chứng tỏ, các em đã được học và tìm hiểu về các bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm ở trên lớp học

Câu 3: Trong môn Khoa học, chủ đề Con người và sức khỏe, em đã được học và biết

đến những bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm nào?

Bệnh béo phì

Bệnh do thiếu chất dinh dưỡng

Bệnh lây nhiễm qua đường tiêu hóa

Câu 4: Em đã làm gì để phòng ngừa những loại bệnh đó?

Bảng 1.2 Kết quả khảo sát thể hiện các việc làm của HS để phòng ngừa các bệnh

trăm (%)

Vệ sinh xung quanh nơi ở, mắc màn khi

Trang 23

Điều này chứng tỏ các em đã biết và nhận thức được cách phòng ngừa một số bệnh truyền nhiễm và bệnh thông thường

Câu 5: Em đã làm theo những gì thầy (cô) giáo dạy trên lớp về phòng ngừa các loại bệnh đó chưa?

Có: 300/300 (chiếm 100%)

Không: 0%

Như vậy là tất cả cácem đều thực hiện và làm theo những gì mà các em đã được học ở trên lớp về cách phòng ngừa các bệnh để bảo vệ sức khỏe cho bản thân và mọi người xung quanh

Câu 6: Em có tuyên truyền, phổ biến cho bạn bè, người thân trong gia đình và mọi

người xung quanh về việc phòng chống một số bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm không?

Bảng 1.3 Kết quả khảo sát thể hiện mức độ tuyên truyền, phổ biến của HS sau

khi học xong bài

STT Trả lời Số lượng Tỉ lệ phần trăm (%)

Có 85% các em đều trả lời là có, còn lại là không Như vậy là qua việc được học

và tìm hiểu về các bệnh và cách phòng ngừa các bệnh đó, thì phần lớn các em đã biết tuyên truyền và phổ biến cho mọi người xung quanh mình về cách phòng ngừa các bệnh

Câu 7: Em thấy việc học tập, tìm hiểu kiến thức về cách phòng chống một số bệnh

thông thường và bệnh truyền nhiễm có giúp em khỏe mạnh và học tập tốt hơn không?

Bảng 1.4 Kết quả khảo sát sự cảm nhận của HS sau khi học tập và tìm hiểu kiến

Trang 24

Đa số, các em HS đều thấy việc học tập, tìm hiểu kiến thức về cách phòng chống một số bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm đều giúp các em khỏe mạnh và học tập tốt hơn (chiếm 90%) Một số ít cảm thấy bình thường (chiếm 10%), qua tìm hiểu thì thấy hầu hết các em cảm thấy bình thường là những em có kết quả học tập chưa cao

so với các bạn trong lớp, lúc học các em chưa tập trung chú ý

Như vậy, qua kết quả khảo sát ta nhận thấy rằng: hầu hết các em học sinh đều được học và tìm hiểu về các bệnh thông thường như : bệnh béo phì, bệnh do thiếu chất dinh dưỡng, bệnh lây nhiễm qua đường tiêu hóa, bệnh về răng miệng,… và các bệnh truyền nhiễm như: bệnh sốt rét, bệnh sốt xuất huyết, bệnh viêm não, bệnh viêm gan A, bệnh tay, chân, miệng, Các em đã biết được nguyên nhân, các triệu chứng và cách phòng chống các bệnh đó

1.2.5 Tìm hiểu thực tế việc dạy học và xây dựng một số biện pháp phòng ngừa các bệnh cho HSTH

a) Đối tượng, phạm vi và thời gian khảo sát

- Đối tượng và phạm vi khảo sát: GV lớp 4, 5 trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng

- Thời gian khảo sát: 25/3/2013

b) Nội dung khảo sát

- Mức độ tìm hiểu và xây dựng một số biện pháp phòng ngừa các bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm trong quá trình dạy học chủ đề Con người và sức khỏe môn Khoa học lớp 4, 5 của GV

- Mức độ liên hệ thực tế trong việc tìm hiểu và xây dựng một số biện pháp phòng ngừa các bệnh trong quá trình dạy học của GV

- Các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học được sử dụng khi dạy học nội dung tìm hiểu và xây dựng một số biện pháp phòng ngừa các bệnh

- Những thuận lợi và khó khăn mà GV gặp phải trong quá trình dạy học nội dung tìm hiểu và xây dựng một số biện pháp phòng ngừa các bệnh

c) Kết quả khảo sát

Câu 1 Trong quá trình dạy học chủ đề “Con người và sức khỏe” của môn Khoa học

thầy (cô) có tích hợp lồng ghép việc tìm hiểu và xây dựng một số biện pháp phòng ngừa các bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm không?

Trang 25

Bảng 1.5 Kết quả khảo sát mức độ tìm hiểu và xây dựng một số biện pháp phòng ngừa các bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm trong quá trình dạy

học chủ đề con người và sức khỏe của môn khoa học lớp 4,5

STT Mức độ tích hợp

Tỉ lệ thích hợp

Số phiếu Tỉ lệ

Câu 2: Trong quá trình dạy học chủ đề “Con người và sức khỏe” của môn Khoa học,

thầy (cô) có liên hệ thực tế việc tìm hiểu và xây dựng một số biện pháp phòng ngừa các bệnh cho học sinh không?

Bảng 1.6 Mức độ liên hệ thực tế trong việc tìm hiểu và xây dựng một số biện pháp phòng ngừa các bệnh trong quá trình dạy học

Câu 3 Những phương pháp dạy học nào thầy (cô) sử dụng để dạy học nội dung tìm

hiểu và xây dựng một số biện pháp phòng ngừa các bệnh?

Trang 26

Bảng 1.7 Kết quả khảo sát mức độ sử dụng các phương pháp dạy học khi dạy học nội dung tìm hiểu và xây dựng một số biện pháp phòng ngừa các bệnh

Phương pháp

Mức độ sử dụng Thường

xuyên Thỉnh thoảng Không

Trong quá trình dạy học thì giáo viên đều kết hợp sử dụng nhiều phương pháp, trong đó phương pháp quan sát và phương pháp hỏi đáp là được dùng thường xuyên nhất, các phương pháp khác như đóng vai, điều tra, nêu gương thì được dùng thỉnh thoảng

Câu 4: Thầy (cô) thường sử dụng những hình thức tổ chức dạy học nào để dạy học

nội dung tìm hiểu và xây dựng một số biện pháp phòng ngừa các bệnh?

Bảng 1.8 Kết quả khảo sát mức độ sử dụng các hình thức tổ chức dạy học khi dạy học nội dung tìm hiểu và xây dựng một số biện pháp phòng ngừa các

bệnh

Hình thức

Mức độ sử dụng Thường xuyên Thỉnh thoảng Không

Trong quá trình dạy học thì các phương pháp dạy học được sử dụng kết hợp với các hình thức dạy học, trong đó hình thức lên lớp là chủ yếu và thỉnh thoảng thì sử dụng hình thức trò chơi học tập

Trang 27

CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU VÀ XÂY DỰNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA CÁC BỆNH THÔNG THƯỜNG VÀ BỆNH TRUYỀN NHIỄM CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THÔNG QUA CHỦ ĐỀ CON NGƯỜI VÀ SỨC KHỎE

CỦA MÔN KHOA HỌC LỚP 4, 5

2.1 NỘI DUNG CHỦ ĐỀ CON NGƯỜI VÀ SỨC KHỎE CỦA MÔN KHOA HỌC LỚP 4, 5

2.1.1 Nội dung chủ đề Con người và sức khỏe của môn Khoa học lớp 4

Nội dung chủ đề “Con người và sức khỏe” của môn Khoa học lớp 4 bao gồm các chủ đề:

- Sự trao đổi chất của cơ thể người với môi trường

- Một số chất dinh dưỡng có trong thức ăn và nhu cầu các chất dinh dưỡng của cơ thể

Ăn uống khi ốm đau

- Phòng một số bệnh do ăn thiếu hoặc ăn thừa chất dinh dưỡng và một số bệnh lây qua

đường tiêu hóa (tiêu chảy, kiết lỵ)

2.1.2 Nội dung chủ đề Con người và sức khỏe của môn Khoa học lớp 5

Nội dung chủ đề “Con người và sức khỏe” của môn Khoa học lớp 5 bao gồm các

2.2.1 Vai trò của giáo viên và mỗi cá nhân học sinh trong công tác xây dựng một

số biện pháp phòng ngừa các bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm cho học sinh tiểu học

2.2.1.1 Vai trò của giáo viên

Giáo viên có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp giáo dục học sinh Giáo viên là người tổ chức, điều khiển hoạt động lĩnh hội của trẻ Trẻ em theo sự tổ

Trang 28

chức, điều khiển của giáo viên để tái sản xuất nền văn hóa nhân loại, nền văn hóa dân tộc Như vậy, giáo viên biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục của người học

Giáo viên là người quyết định chất lượng giáo dục, đào tạo Chất lượng giáo dục đào tạo phụ thuộc vào nhiều yếu tố: chương trình, nội dung, phương pháp, đặc điểm nhân cách học sinh,…Trong những yếu tố này, giáo viên có vai trò đặc biệt quan trọng: trực tiếp thực hiện nội dung giáo dục, chương trình giáo dục đào tạo, lựa chọn phương pháp, điều kiện dạy học, giáo dục; phát huy vai trò chủ thể của người học; đánh giá trình độ của người học,…Các phẩm chất chính trị, tư tưởng, trình độ chuyên môn, tay nghề, đạo đức, nhân cách của giáo viên là những yếu tố trước hết quyết định hiệu quả dạy học, giáo dục

Bậc Tiểu học là bậc học chủ đạo đối với sự phát triển toàn diện nhân cách học sinh Chính ở bậc học này, những đặc điểm tâm lí, sinh lí của trẻ em phát triển mạnh

mẽ, hình thành nề nếp, thói quen học, nhu cầu và hứng thú nhận thức,…Ở bậc học này, ảnh hưởng và tác động của GV đến HS rất lớn Dạy học và giáo dục ở bậc học này sẽ không chỉ đặt nền móng cho giáo dục phổ thông mà còn đặt nền móng cho toàn

bộ sự hình thành nhân cách của con người, đặt nền móng cho sự sáng tạo của học sinh Học tập là hoạt động chủ đạo của các em được tiến hành ở nhà trường, GV là người trực tiếp trong công tác giáo dục, chăm sóc học sinh GV là người nắm rõ đặc điểm của từng học sinh để có những biện pháp giáo dục thích hợp Nhân cách của học sinh được hình thành như thế nào là do tác động giáo dục truyền đạt và khắc sâu tri thức cho HS, hình thành kĩ năng, thái độ sống tích cực

Trong giáo dục phòng bệnh, GV là người trực tiếp tác động từ nhận thức đến thái

độ của học sinh trong việc phòng chống các bệnh Bằng các phương pháp và hình thức

tổ chức, giáo viên truyền đạt kiến thức cho học sinh, giúp cho các em biết về một số bệnh thường mắc phải, biết được nguyên nhân gây ra bệnh và hậu quả của bệnh đó mang lại để từ đó giáo dục các em biết được những việc nên và không nên làm để phòng bệnh, từ đó giúp các em nhận ra sự cần thiết của việc tìm hiểu và xây dựng một

số biện pháp phòng bệnh

2.2.1.2 Vai trò của học sinh

Mỗi cá nhân khỏe mạnh tạo nên một tập thể khỏe mạnh Nhà trường là một tập thể đông đúc các em học sinh, sức đề kháng của các em còn yếu, dễ bị bệnh nên cũng

Trang 29

là môi trường dễ lây lan dịch bệnh Hơn ai hết tự bản thân mỗi em phải tự ý thức và có biện pháp phòng bệnh, bảo vệ sức khỏe cho mình Sự giáo dục của nhà trường là cơ sơ

để các em có kiến thức về các bệnh và cách phòng bệnh Để tiếp nhận kiến thức mà giáo viên truyền đạt thì các em phải có một thái độ học tập đúng đắn, nghiêm túc, tích cực, từ đó các em hiểu được vai trò của sức khỏe đối với mỗi người, biết được các việc nên và không nên làm để phòng bệnh, nhận ra sự cần thiết của việc phòng bệnh cho cơ thể Từ những kiến thức có được, các em vận dụng vào thực tế và thực hiện như thế nào để đạt được hiệu quả cao trong công tác phòng bệnh thì hoàn toàn phụ thuộc vào bản thân các em

Mỗi cá nhân học sinh phải thực hiện việc phòng bệnh đúng cách để đạt được hiểu quả phòng bệnh, cơ thể khỏe mạnh, điều kiện để đảm bảo học tập và tham gia các hoạt động khác Nếu việc phòng bệnh không tốt, cơ thể có bệnh sẽ lây lan sang bạn mình và mọi người xung quanh Ngược lại , mỗi cá nhân thực hiện đúng cách phòng bệnh, tuyên truyền nhắc nhở bạn mình thì hiệu quả sẽ cao hơn

2.2.2 Các bệnh thông thường ở học sinh tiểu học

Một đứa trẻ được xem là béo phì, hay nặng cân quá khi nó nặng hơn mức trung bình so với chiều cao và độ tuổi từ 20% trở lên Nếu con số đấy vượt quá 40% thì thường bác sĩ sẽ khuyến cáo bé tham gia vào chương trình giảm cân đặc biệt dưới sự hướng dẫn của bác sĩ Cách tốt nhất để xem trẻ có béo phì hay không là nhìn hai cánh tay và bắp đùi đứa trẻ: Nếu có những cuốn mỡ ngấn lên thì khả năng đứa trẻ là béo phì

b) Nguyên nhân gây béo phì ở trẻ

- Yếu tố di truyền:

+ Béo phì có ảnh hưởng đến gia đình Trẻ em có cha mẹ, anh chị em béo phì thì trẻ sẽ trở thành béo phì

Trang 30

+ Chỉ có yếu tố di truyền thì không phải là nguyên nhân gây bệnh béo phì Béo phì chỉ xảy ra khi trẻ ăn nhiều năng lượng hơn nhu cầu

- Thói quen ăn uống:

+ Nước uống có đường;

+ Thức ăn có nhiều chất béo

+ Thức ăn, nước uống có chứa nhiều chất béo và năng lượng cao

+ Cha mẹ cho trẻ ăn thêm những lúc trẻ xem Tivi, làm bài tập (lúc đó trẻ không đói)

- Không hoạt động thể lực:

+ Lười tập thể dục

+ Xem tivi quá lâu

- Ngủ ít cũng gây béo vì làm giảm tiêu mỡ (quá trình này diễn ra mạnh nhất vào ban đêm khi ngủ) Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã chứng minh mối liên quan giữa thời gian ngủ ngắn với chứng béo phì

c) Hậu quả

Chứng béo phì ở trẻ em rất nghiêm trọng Những đứa trẻ béo phì có khuynh hướng lớn lên sẽ trở thành những người béo mập có nhiều nguy cơ bị bệnh tim mạch, cao huyết áp, đái đường, ung thư, ngừng thở khi ngủ và rối loạn về khớp xương… Ngoài ra thì trẻ có thể không tự tin nếu như chúng bị bạn bè trêu đùa hay bị bỏ tẩy chay khỏi các trò chơi tập thể Để giúp trẻ tự tin hơn, bạn hãy tìm cho trẻ những người bạn tốt có thể chấp nhận chúng một cách bình thường, tạo cơ hội cho trẻ tham gia các trò chơi mà chúng ưa thích

d) Cách phòng chống

- Loại bỏ đồ ăn vặt

Hãy tịch thu tất cả những túi kẹo ngọt ngào hay bim bim tàng trữ khắp nơi trong nhà bạn

- Kiểm tra nguyên liệu

Khi mua hàng bạn nên tập cho mình một thói quen mới là xem thành phần của sản

phẩm để tính toán lượng chất béo, đường…

- Tập thể dục cùng bé

Hãy gương mẫu trong việc tập thể dục và khuyến khích trẻ tham gia tập thể dục cùng

bạn Hãy chọn những bài tập không quá khó khăn phức tạp như đi bộ

Trang 31

- Thêm rau quả vào thực đơn

Nên dạy cho bé tác dụng của các loại hoa quả và rau để khuyến khích bé ăn thêm Nhưng bạn cũng nên chọn lọc hoa quả vì có rất nhiều trái cây chứa nhiều đường

- Hạn chế thời gian xem tivi

Hãy cho bé đăng ký thời gian xem Tivi cố định nhưng không quá 1 tiếng mỗi ngày Mặt khác, thời gian rỗi có thể khuyến khích bé tham gia các hoạt động vui chơi ngoài trời

- Giảm dần khẩu phần

Nếu trẻ quá béo hãy giảm khẩu phần từ từ hoặc chọn những thực phẩm đảm bảo dinh dưỡng nhưng khối lượng không quá nhiều vì ăn nhiều sẽ làm dạ dày bé bành trướng nhanh hơn Chia bữa ăn thành 4 -5 bữa nhỏ trong ngày

- Ghi danh lớp học ngoại khóa

Hãy đăng ký cho bé một lớp học võ hay bất cứ môn thể thao nào mà bé yêu thích Khuyến khích bé tham gia các hoạt động thể thao ở trường

- Loại bỏ thức ăn nhanh

Trẻ em có xu hướng thích đồ chiên rán của các cửa hàng thức ăn nhanh như gà rán Kentucky

2.2.2.2 Bệnh do thiếu chất dinh dưỡng

a) Định nghĩa

Đây là tình trạng trẻ ngừng phát triển do thiếu dinh dưỡng, do giảm năng lượng

Tất cả các chất đều thiếu, nhưng phổ biến nhất là chất đạm và chất béo

b) Nguyên nhân

- Trẻ thiếu chất dinh dưỡng, không được cung cấp đủ chất nên cơ thể trẻ ngày càng suy nhược, kém phát triển

Trang 32

- Trẻ bị sốt kéo dài hàng tháng, mặc dù cho ăn đầy đủ, nhưng sốt nhiễm trùng kéo dài tiêu hao hết năng lượng, không còn để cho trẻ phát triển

- Các dị tật bẩm sinh ở đường tiêu hóa làm cho trẻ không hấp thụ được thức ăn

- Trẻ em nếu không được ăn đủ lượng và đủ chất, đặc biệt thiếu chất đạm sẽ bị suy dinh dưỡng; thiếu vi-ta-min A mắt nhìn kém, có thể dẫn đến mù lòa; thiếu i-ốt, cơ thể phát triển chậm, kém thông minh, dễ bị bướu cổ; thiếu vi-ta-min D sẽ bị còi xương,…

- Kịp thời điều trị khi trẻ bị bệnh nhiễm khuẩn, mặt khác nuôi trẻ tốt hơn

- Nếu phát hiện trẻ bị các bệnh do thiếu chất dinh dưỡng thì phải điều chỉnh thức

ăn cho hợp lí và nên đưa trẻ đến bệnh viện để khám và chữa trị

2.2.3 Một số biện pháp phòng ngừa các bệnh thông thường

2.2.3.1 Chế độ dinh dưỡng hợp lí cho trẻ

Dinh dưỡng là một vấn đề quan trọng có thể nói là vào bậc nhất trong cuộc sống của mỗi con người Tuy nhiên, vấn đề quan trọng này lại quá thông dụng, đến mức hầu như người ta không còn chú ý đến vai trò của nó trong cuộc sống Điều này

có thể tạm chấp nhận trong thời gian trước đây, khi mà cuộc sống còn quá khó khăn, nhu cầu về dinh dưỡng của con người chỉ gói gọn trong tiêu chuẩn là có đủ thức ăn cần thiết cho duy trì sự sống và làm việc Còn trong điều kiện hiện nay, khi mà tình hình kinh tế xã hội ngày càng khả quan hơn, người ta ngày càng có điều kiện hơn để tiếp cận với cuộc sống mới trong đó việc ăn uống trở thành một thú vui hơn là một nhu cầu, thì việc trang bị những kiến thức tối thiểu về dinh dưỡng để có thể lựa chọn và áp dụng cho bản thân hoặc gia đình mình một chế độ ăn uống hợp lý, bảo đảm sức khỏe, đang trở nên ngày càng cần thiết

Học sinh Tiểu học là những đối tượng đặc biệt đối với những người làm công tác dinh dưỡng Đây là lứa tuổi cơ thể và tâm lý trẻ bắt đầu chuyển qua một giai đoạn mới rất quan trọng cho việc phát triển thể chất và tinh thần của trẻ Từ 6 tuổi trẻ bắt đầu đi

Trang 33

học, các chất dinh dưỡng cung cấp cho trẻ qua thức ăn không chỉ để trẻ phát triển thể chất, mà còn cung cấp năng lượng cho trẻ học tập

* Về mặt thể chất: đây là giai đoạn mà bộ não đã hoàn thiện, trẻ có thể học hỏi được

rất nhiều nên nhu cầu về năng lượng cung cấp cho việc học tập tăng lên Cơ thể trẻ tuy phát triển chậm lại về mặt cân nặng và chiều cao, không còn phát triển một cách vượt bậc như trong những năm đầu đời, nhưng đây lại là giai đoạn mà cơ thể trẻ tích lũy những chất dinh dưỡng cần thiết chuẩn bị cho giai đoạn phát triển nhanh chóng thứ hai trong cuộc đời là lứa tuổi dậy thì, nên việc cung cấp chất dinh dưỡng cho trẻ cần được lưu ý cẩn thận

* Về mặt tâm lý: giai đoạn này trẻ bắt đầu xâm nhập vào cuộc sống xã hội dưới

nhiều hình thức khác nhau (học hỏi, xem sách báo, TV.) cũng như thường được gia đình và xã hội nhìn dưới một con mắt khác - xem như trẻ đã trưởng thành hơn, đòi hỏi trẻ tự lập hơn, đồng thời cũng là tuổi thường có thêm em nên tâm lý trẻ có những chuyển biến quan trọng, phát sinh những nhận thức và hành động có thể ảnh hưởng quan trọng đến hành vi dinh dưỡng

Trong tình hình xã hội chung hiện nay, nền kinh tế thị trường tác động mạnh mẽ đến sự phân hóa xã hội, đã hình thành nên 2 thái độ dinh dưỡng trái ngược nhau và đều nguy hại như nhau Bên cạnh tình trạng suy dinh dưỡng vẫn chiếm một tỉ lệ đáng

kể cho dù đã cải thiện nhiều so với thời gian trước đây, đã thấy xuất hiện và đang ngày càng phát triển tình trạng dư thừa dinh dưỡng dẫn đến béo phì Có thể nói "Dinh dưỡng hợp lý là một hành lang an toàn nhỏ hẹp nằm giữa hai bờ vực thẳm của thiếu thốn và dư thừa"

Sau đây là một số lưu ý trong chế độ dinh dưỡng cho trẻ:

- Nên cho trẻ ăn no bữa sáng để tránh trẻ ăn quà vặt ở đường phố, hoặc một số trẻ ăn quá ít hoặc nhịn không ăn sáng làm trẻ mệt mỏi, không tập trung học sẽ ảnh hưởng đến kết quả học tập, thậm chí có trẻ bị hạ đường huyết trong giờ học

- Khuyến kích trẻ ăn nhiều rau để tránh táo bón, đồng thời cung cấp nhiều vi chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của trẻ

- Cho trẻ ăn đúng bữa, số bữa ăn nên chia 3 bữa chính, 1 bữa phụ Tập cho trẻ

ăn nhạt, không nên ăn vặt, ăn nhiều bánh kẹo, nước ngọt vì dễ bị sâu răng và làm trẻ chán ăn

Trang 34

- Hạn chế cho trẻ ăn các đồ ăn nhanh (fast food), thức ăn chế biến sẵn (mỳ ăn liền, bimmbim ), vì đó là các thực ăn đơn điệu, quá nhiều chất béo dễ gây thừa cân, béo phì

- Tập cho trẻ cho thói quen uống nước kể cả khi không khát (mỗi ngày 1 - 1,5 lít)

- Với những trẻ thừa cân, béo phì hoặc gầy yếu nên định lượng suất ăn cho trẻ

để tránh ăn quá ít hay quá nhiều

- Ở tuổi này trẻ rất dễ bị các chứng bệnh có thể ảnh hưởng đến ăn uống như viêm

hô hấp, viêm phế quản, tiêu chảy Cần lưu ý giữ gìn để có thể phòng ngừa các bệnh này như giữ ấm, giữ vệ sinh cơ thể và răng miệng tốt, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho bữa ăn của trẻ Khi trẻ mắc bệnh, cần thiết phải đưa trẻ đến BS khám bệnh

và chú ý tuân thủ các chỉ định điều trị của BS, không nên tự ý bỏ khám, thêm hoặc bớt thuốc hoặc nóng ruột chuyển đổi liên tục nhiều phương pháp điều trị có thể làm bệnh kéo dài Phải luôn nhớ rằng tình trạng dinh dưỡng trẻ em xấu đi tỉ lệ thuận với thời gian mắc bệnh Khi trẻ bệnh, thường hệ tiêu hóa làm việc kém đi nên trẻ biếng ăn hơn ngày thường Đừng nên hốt hoảng bắt ép trẻ ăn đủ lượng thức ăn hàng ngày bằng mọi cách Nên chia các bữa ăn ra làm nhiều bữa nhỏ, có thể cho ăn lỏng nhẹ hơn như cháo, súp, sữa Cũng nên tránh một thái độ hoàn toàn ngược lại là quá kiêng cữ, không cho trẻ ăn đủ chất trong khi bệnh, làm cho tình trạng dinh dưỡng của bé xấu đi nhanh chóng và bệnh có thể kéo dài hơn Sau mỗi đợt bệnh, nên chú ý tăng thêm bữa phụ cho trẻ để bù lại năng lượng đã mất đi trong quá trình bệnh

Để trẻ phát triển thể chất và hình thành những thói quen tốt trong ăn uống, các bậc cha mẹ nên tập cho trẻ thói quen vệ sinh ăn uống (rửa tay trước khi ăn, sau khi đi

vệ sinh) cũng như tạo cho trẻ bữa ăn trong không khí vui vẻ, ấm cúng sẽ giúp tiêu hóa hấp thu tốt hơn Tránh không nên vừa ăn vừa xem tivi, vi tính hoặc đọc sách, truyện trong khi ăn Và một điều quan trọng nữa là cùng với bữa ăn cần cho trẻ tăng cường các hoạt động thể lực, vận động, vui chơi ngoài trời, tham gia một số hoạt động thể dục thể thao như vậy trẻ sẽ phát triển thể lực và chiều cao tốt hơn

Như vậy dinh dưỡng hợp lí sẽ tạo cho trẻ một cơ thể khỏe mạnh, có sức đề kháng chống lại các bệnh tật giúp trẻ học tập tốt và năng động hơn

2.2.3.2 Tạo thói quen ăn uống lành mạnh, đảm bảo vệ sinh

- Giáo dục trẻ có thói quen ăn uống lành mạnh, hợp vệ sinh:

Ngày đăng: 09/05/2021, 17:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w