1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu và ứng dụng các phần mềm thí nghiệm nhằm hỗ trợ thiết kế bài giảng điện tử chương cảm ứng điện từ vật lí 11 nâng cao

79 11 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với đặc thù của Vật lý học là môn khoa học thực nghiệm nên trong quá trình hình thành những kiến thức mới cho HS đòi hỏi GV và HS phải tiến hành nhiều thí nghiệm TN, phối hợp âm thanh, h

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA VẬT LÝ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

TÌM HIỂU VÀ ỨNG DỤNG CÁC PHẦN MỀM THÍ NGHIỆM

NHẰM HỖ TRỢ THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỪ CHƯƠNG

CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ VẬT LÝ 11 NÂNG CAO

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii

CHƯƠNG 1 6

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC 6

VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CÁC PHẦN MỀM THÍ NGHIỆM VẬT LÝ 6

1.1.Phương pháp dạy học Vật lí 6

1.2.Đổi mới phương pháp dạy học Vật lí 7

1.2.1 Những yêu cầu quan trọng trong đổi mới Phương pháp dạy học là: 7

1.2.2 Đổi mới Phương pháp dạy học 8

1.3 Cơ sở lí luận của việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học Vật lí hiện nay 9

1.3.1 Các đặc điểm của thí nghiệm vật lí 9

1.3.2 Phân loại thí nghiệm Vật lí: Có hai loại: 10

1.3.3 Vai trò của thí nghiệm trong tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh 10

1.3.4 Những khó khăn và hạn chế của các thí nghiệm truyền thống trong tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh: 14

1.4 Phần mềm dạy học và vai trò của phần mềm dạy học trong Vật lí 15

1.4.1 Khái niệm phần mềm dạy học 15

1.4.2 Phân loại phần mềm dạy học 16

1.4.3 Vai trò của phần mềm trong dạy học 18

1.4.4 Một số ứng dụng của phần mềm trong dạy học Vật Lý 20

1.5 Kết luận chương 1 22

CHƯƠNG 2 24

KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG CÁC PHẦN MỀM DẠY HỌC 24

TRONG CHƯƠNG CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ 24

2.1 Nội dung chương Cảm ứng điện từ Vật lí 11 nâng cao 24

2.1.1 Đặc điểm chương Cảm ứng điện từ 24

Trang 3

2.1.2 Mức độ nội dung kiến thức học sinh cần đạt 24

2.2 Tổ chức hoạt động dạy học với sự hỗ trợ của các PMDH 26

2.2.1 Sử dụng phần mềm dạy học trong bước đề xuất vấn đề 26

2.2.2 Sử dụng phần mềm dạy học trong bước giải quyết vấn đề 27

2.2.3 Sử dụng phần mềm dạy học trong bước kiểm tra, vận dụng kết quả 28

2.3 Thiết kế bài giảng bằng cách kết hợp trình chiếu bằng Microsoft OfficePowerPoint với các phần mềm thí nghiệm trong chương Cảm ứng điện từ Vật lí 11nâng cao 29

2.3.1 Quy trình cơ bản để thiết kế bài giảng điện tử với sự hỗ trợ của các phần mềm dạy học, TN mô phỏng, video clip, hình ảnh 29

2.3.2 Một số phần mềm dạy học thích hợp sử dụngđể xây dựng tư liệu và thiết kế bài giảng 31 2.4 Cách sử dụng một số thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng lấy từ các phầnmềm dạy học đã lựa chọn, các video clip và hình ảnh vào quá trình dạy học chương Cảm ứng điện từ Vật Lí 11 nâng cao 32

2.4.1 Thí nghiệm tương tác giữa nam châm với vòng dây mang dòng điện 32

2.4.2 Thí nghiệm về cảm ứng điện từ khi dòng điện trong ống dây biến đổi 33

2.4.3 Thí nghiệm về hiện tượng tự cảm 33

2.4.4 Thí nghiệm về định luật Paraday 34

2.4.5 Thí nghiệm từ trường đều tác dụng lực từ lên một đoạn dây dẫn mangdòng điện 35

2.4.6 Thí nghiệm về máy phát điện một chiều 36

2.4.7 Thí nghiệm mô phỏng về quy tắc bàn tay phải: 36

2.4.8 Thí nghiệm về đường sức từ 37

2.4.9 Thí nghiệm về hiện tượng cảm ứng điện từ (thay đổi tiết diện của khung dây) 38

2.5 Thiết kế một số bài dạy học trong phần Cảm ứng điện từ 38

2.6 Kết luận chương 2 56

KẾT LUẬN 58

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 59

3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 59

3.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 59

Trang 4

3.2.1 Chọn mẫu thực nghiệm và khảo sát định lượng 59

3.2.2 Quan sát giờ học 59

3.3 Đối tượng và phạm vi thực nghiệm sư phạm 60

3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 60

3.4.1 Đánh giá định tính 60

3.4.2 Đánh giá định lượng 61

3.4.3 Kiểm định giả thuyết thống kê 67

3.5 Kết luận chương 3 68

KẾT LUẬN 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn PGS

TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình làm nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Vật Lí trường ĐH Sư Phạm – ĐHĐà Nẵng đã tận tình giảng dạy và chỉ bảo tôi trong suốt 4 năm học vừa qua

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường THPT Sào Nam, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam (đặc biệt là tổ Vật Lí) đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi trong thời gian tôi tiến hành làm bài nghiên cứu

Nhân dịp này, tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên để tôi yên tâm học tập và hoàn thành bài nghiên cứu này

Đà nẵng ngày 20 tháng 05 năm 3013

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Diễm Trúc Linh

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ

Bảng 3.1 Bảng thống kê các điểm số (Xi) của các bài kiểm tra 61

Biểu đồ 3.1.Phân bố điểm của hai nhóm ĐC và TNg 62

Bảng 3.2 Bảng phân phối tần suất 62

Đồ thị 3.1 Phân phối tần suất 63

Bảng 3.3 Bảng phân phối tần suất lũy tích 63

Đồ thị 3.2 Đồ thị phân phối tần suất lũy tích 64

Bảng 3.4 Bảng phân loại theo học lực của hai nhóm 64

Biểu đồ 3.2 Biểu đồ phân loại học lực học sinh theo hai nhóm 65

Bảng 3.5 Các tổng hợp, các tham số của hai nhóm 67

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Viết tắt Viết đầy đủ

CNTT Công nghệ thông tin MVT Máy vi tính

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Công nghệ thông tin và truyền thông (Information and Communication Technology – ICT) là một thành tựu lớn của cuộc CMKH-KT hiện nay Nó thâm nhập và chi phối hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ trong sản xuất, giáo dục, đào tạo và các hoạt động chính trị, xã hội khác

Một trong những ngành được hưởng những thành tựu to lớn đó phải kể đến ngành giáo dục.Việc ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) được áp dụng rộng rãi trên thế giới và đưa lại nhiều hiệu quả thiết thực.Tổ chức UNESCO đã dự đoán việc tác động của CNTT sẽ làm thay đổi một cách căn bản nền giáo dục thế giới trong những năm đầu thế giới XXI.Trong xu thế phát triển và hội nhập, Đảng và nhà nước

ta rất quan tâm đến vấn đề ứng dụng CNTT trong các lĩnh vực sản xuất và đời sống xã hội,nhất là đối với giáo dục Những quan điểm chỉ đạo của Đảng và Chính phủ về đổi mới giáo dục được thế hiện trong nhiều chỉ thị, nghị quyết quan trọng như Chỉ thị 58/CT/TW của Bộ Giáo dục và Đào tạo là: “Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vự sự nghiệp hóa,hiện đại hóa”, trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ của Bộ Giáo dục và Đào tạo là: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng công nghệ thông tin như là một công

cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp dạy,học tập ở tất cả các môn học”

Do sự phát triển của CNTT và truyền thông mà mọi người đều có trong tay nhiều công cụ hỗ trợ cho quá trình dạy học nói chung và phần mềm dạy học nói riêng Công nghệ phần mềm phát triển mạnh, trong đó các phần mềm giáo dục cũng đạt được những thành tựu đáng kể như: bộ Office, Crocodile, Maple/Mathenatica, ChemWin, LessonEditor/VioLet… hệ thống www, Elearning và các phần mền đóng gói, tiện ích khác Nhờ có sử dụng các phần mềm dạy học này mà HS có thể hoạt động tốt trong môi trường học tập Phần mềm dạy học được sử dụng ở nhà cũng sẽ nối dài cánh tay của GV tới từng gia đình HS thông qua hệ thống mạng Nhờ có máy tính điện tử mà việc thiết kế

Trang 9

giáo án và giảng dạy trên máy tính trở nên sinh động hơn, tiết kiệm được nhiều thời gian hơn so với cách dạy theo phương pháp truyền thống Thông qua giáo án điện tử, GV cũng

có nhiều thời gian đặt các câu hỏi gợi mở tạo điều kiện cho HS hoạt động nhiều hơn trong giờ học Những khả năng mới mẻ và ưu việt này của CNTT và truyền thông đã nhanh chóng làm thay đổi cách sống, cách làm việc, cách học tập, cách tư duy và quan trọng hơn

cả là cách ra quyết định của con người

Hiện nay, việc dạy học môn Vật lý đã có nhiều đổi mới nhưng ảnh hưởng của tư tưởng dạy học truyền thống vẫn còn Trong quá trình dạy học, GV vẫn mang nặng tính thông báo và truyền thụ kiến thức, HS học tập một cách thụ động nên khả năng vận dụng tri thức vào thực tiễn chưa cao

Với đặc thù của Vật lý học là môn khoa học thực nghiệm nên trong quá trình hình thành những kiến thức mới cho HS đòi hỏi GV và HS phải tiến hành nhiều thí nghiệm (TN), phối hợp âm thanh, hình ảnh, video minh họa từ đó tạo niềm tin, phát triển tư duy

và góp phần giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho HS.Thế nhưng việc tiến hành TN Vật Lý hiện nay vẫn gặp một số khó khăn nhất định Xét về mặt khách quan, các khó khăn gặp phải khi tiến hành các TN là do một vài TN cần thực hiện với nhiều thao tác phức tạp,mất nhiều thời gian và tốn chi phí, một vài TN khác thì có mức độ nguy hiểm cao hoặc không thể thực hiện được trong điều kiện bình thường Ở một số trường còn thiếu hoặc thậm chí chưa có các phòng học bộ môn hoặc phòng TN thực hành, những nơi đã có phòng TN thực hành thì dụng cụ TN kém chất lượng, thiếu số lượng, thiếu cán bộ chuyên trách,diện tích phòng học nhỏ và bố trí bàn ghế cũng như thiết bị ở bên trong không thuận lợi cho việc sử dụng TN trên lớp… Xét về mặt chủ quan, một số GV cho rằng việc chuẩn bị dụng

cụ phục vụ TN tốn thời gian và khi sử dụng TN trong giờ học cũng mất thời gian giảng bài Một vài GV khác thì ngại khai thác, sử dụng TN vì các dụng cụ TN mới được đưa vào sử dụng trong lúc đó nhiều GV chưa được tiếp cận tài liệu hướng dẫn nên khó sử dụng.Việc ra đời các PMDH và sử dụng phần mềm là một nhu cầu lớn trong ngành giáo dục Mỗi phần mềm có một ưu thế riêng trong QTDH, chính vì vậy khai thác và sử dụng

Trang 10

các phần mềm trong tổ chức dạy học là điều nên làm Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay các PMDH thường được sử dụng đơn lẻ nên một tiết dạy chưa thực sự phong phú và sinh động, chưa khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả trong dạy học môn Vật Lý Bởi vậy việc nghiên cứu khai thác ứng dụng kết hợp các PMDH và sử dụng một cách có hiệu quả trong tổ chức hoạt động nhận thức môn Vật Lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học trở thành một yêu cầu cấp bách Mặt khác, chương Cảm ứng điện từ có những nội dung kiến thức khó (suất điện động cảm ứng, hiện từ cảm ứng điện từ…) Và khi tiến hành một số TN của các chương này (như: TN về hiện tượng tự cảm, TN về hiện tượng cảm ứng điện từ,…) thì HS chỉ nhận biết được kết quả TN, mà rất khó hiểu được bản chất hiện tượng vật lí của

TN Trong trường hợp này với sự hỗ trợ của CNTT, với các phần mềm TN HS sẽ hiểu được bản chất của hiện tượng vật lí xảy ra trong TN Nhờ đó quá trình học tập sẽ hứng thú hơn, hoạt động nhận thức có hiệu quả hơn và có thể góp phần nâng cao chất lượng DH ở trường THPT Tầm quan trọng của CNTT trong giáo dục đã được thể hiện rõ trong Chỉ thị 55/2008/CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về nhiệm vụ của toàn ngành trong năm học 2008-2009 đã nêu: “Công nghệ thông tin là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập và hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục, góp phần nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục Phát triển nguồn nhân lực CNTT và ứng dụng CNTT trong giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa quyết định sự phát triển của đất nước’’

Căn cứ vào chủ trương của Đảng, Nhà nước, Ngành và thực tế DH của bản thân, nhận thức được vai trò của TN trong DH Vật lí và khả năng hỗ trợ của CNTT đối với TN

vật lí, nên tôi quyết định nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu và ứng dụng các phần mềm thí

nghiệm nhằm hỗ trợ thiết kế bài giảng điện tử chương Cảm ứng điện từ Vật lí 11 nâng cao”

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc sử dụng TN với sự hỗ trợ của CNTT trong DH Vật lí ở trường THPT

Trang 11

- Xây dựng quy trình sưu tầm và lựa chọn các phần mềm dạy học, các hình ảnh,

video clip, TN ảo, TN mô phỏng để tạo lập kho tư liệu dạy học

- Sưu tầm và lựa chọn các hình ảnh, video clip, phần mềm mô phỏng các TN của chương Cảm ứng điện từ và đề xuất phương án sử dụng chúng vào thiết kế tiến trình DH một số bài của chương này

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động DH của chương “Cảm ứng điện từ ” Vật lí 11 nâng cao với việc sử dụng các phần mềm dạy học

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Sử dụng TN vật lí khi dạy các chương “Cảm ứng điện từ ” Vật lí 11 nâng caovới sự

hỗ trợ của CNTT trường THPT Sào Nam trên địa bàn huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam

4 Giả thuyết khoa học

Có thể ứng dụng CNTT để hỗ trợ TN theo hướng tăng cường tính trực quan giúp HS khắc sâu bản chất vật lí của các sự vật, hiện tượng từ đó nâng cao chất lượng DH chương

“Cảm ứng điện từ” Vật lí 11 nâng caoTHPT

5 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

- Nghiên cứu cơ sở lí luận việc sử dụng CNTT trong DH để hỗ trợ cho TN trong DH Vật lí ở trường THPT Sào Nam

- Xây dụng quy trình sưu tầm và lựa chọn phần mềm dạy học, TN ảo, TN mô phỏng, video clip, hình ảnh

- Sưu tầm và lựa chọn các phần mềm dạy học, TN ảo, TN mô phỏng, video clip, hình ảnh hỗ trợ cho các TN thực thuộc các chương Cảm ứng điện từ

- Thiết kế và soạn thảo tiến trình DH một số tiết của các chương Cảm ứng điện từ với sự hỗ trợ của CNTT

Trang 12

- Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra giả thuyết và rút ra các kết luận cần thiết

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Nghiên cứu những văn kiện của Đảng, Nhà nước, các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo về DH và đổi mới PPDH để nâng cao chất lượng DH ở trường THPT

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết nhằm hệ thống hóa, khái quát hóa cơ sở lí luận của tổ chức hoạt động nhận thức cho HS với sự hỗ trợ của CNTT trong các TN

- Nghiên cứu các sách, bài báo, tạp chí chuyên ngành, các luận án, luận văn có liên quan đến đề tài

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Phương pháp thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng giả thuyết khoa học

Trang 13

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CÁC PHẦN MỀM THÍ NGHIỆM VẬT LÝ

Phương pháp dạy học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng của môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kỷ năng vận dụng kiến thức và thực tiển tác động đến tình cảm đem lại niềm vui hứng thú và trách nhiệm của học sinh

Do vậy, giáo viên Vật lí phải biết vận dụng tổng hợp về: Vật lí, Tâm lý học, Lý luận dạy học hiện đại, Phương pháp dạy học Vật lí để giải quyết những vấn đề cụ thể trong quá trình tổ chức hoạt động nhận thức kiến thức Vật lí cho học sinh phổ thông

Giáo viên Vật lí cần nắm vững những phương pháp và kĩ năng cơ bản để giảng dạy môn Vật lí ở trường phổ thông như: giảng dạy lý thuyết, rèn luyện kĩ năng giải bài tập cho học sinh, tiến hành các bài thí nghiệm của giáo viên, tổ chức và hướng dẫn học sinh tiến hành thí nghiệm thực hành

Vật lí trong các trường phổ thông chủ yếu là Vật lí thực nghiệm Phương pháp chủ yếu của nó chủ yếu là phương pháp thực nghiệm Đó là phương pháp nhận thức hiệu quả trên con đường đi tìm chân lý khách quan, là một dạng biến đổi khoa học Vật lí sao cho phù hợp với trình độ học sinh, mục đích dạy học và điều kiện của nhà trường

Trang 14

Mặt khác, Vật lí học là một khoa học chính xác đòi hỏi vừa phải có khả năng quan sát tinh tế khéo léo khi làm thí nghiệm, vừa phải có tư duy logic chặt chẽ, biện chứng, vừa phải trao đổi thảo luận để khẳng định chân lý

Vì vậy, dạy học Vật lí phải đảm bảo có những phương tiện vật chất và tinh thần cần thiết để học sinh có thể thực hiện được các hành động học tập Phải đảm bảo sự phát triển liên tiếp mâu thuẫn nội tại của môn học Vật lí mà việc giải quyết chúng sẽ dẫn đến kết quả là hình thành những kiến thức, kĩ năng, năng lực mới Yêu cầu này không chấp nhận lối “truyền thụ một chiều” rất phổ biến trong dạy học hiện nay

Như vậy, một môn học có tính khoa học thực nghiệm như Vật lí thì thí nghiệm

đóng vai trong rất quan trọng

1.2.Đổi mới phương pháp dạy học Vật lí

1.2.1 Những yêu cầu quan trọng trong đổi mới Phương pháp dạy học là:

- Bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình (căn cứ chuẩn của chương trình cấp THPT và đối chiếu với hướng dẫn thực hiện của Bộ GD-ĐT)

- Phát huy tính tích cực, hứng thú trong học tập của Học sinh và vai trò chủ đạo của Giáo viên

- Thiết kế bài giảng khoa học, sắp xếp hợp lý hoạt động của Giáo viên và Học sinh, thiết kế hệ thống câu hỏi hợp lý, tập trung vào trọng tâm, tránh nặng nề quá tải (nhất là đối với bài dài, bài khó, nhiều kiến thức mới); bồi dưỡng năng lực độc lập suy nghĩ, vận dụng sáng tạo kiến thức đã học, tránh thiên về ghi nhớ máy móc không nắm vững bản chất

- Sử dụng hợp lý Sách giáo khoa khi giảng bài trên lớp, tránh tình trạng yêu cầu HS ghi chép quá nhiều theo lối đọc – chép

- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, khuyến khích sử dụng hợp lý công nghệ thông tin, sử dụng các phương tiện nghe nhìn, thực hiện đầy đủ thí nghiệm, thực hành, liên hệ thực tế trong giảng dạy phù hợp với nội dung từng bài học

Trang 15

-Giáo viên sử dụng ngôn ngữ chuẩn xác, trong sáng, sinh động, dễ hiểu, tác phong thân thiện, khuyến khích, động viên Học sinh học tập, tổ chức hợp lý cho Học sinh làm việc cá nhân và theo nhóm

- Dạy học sát đối tượng, coi trọng bồi dưỡng Học sinh khá giỏi và giúp đỡ Học sinh yếu kém

- Tăng cường chỉ đạo đổi mới Phương pháp dạy học thông qua công tác bồi dưỡng Giáo viên và dự giờ thăm lớp của Giáo viên, tổ chức rút kinh nghiệm giảng dạy ở các tổ chuyên môn, hội thảo cấp trường, cụm trường, địa phương, hội thi Giáo viên giỏi các cấp

1.2.2 Đổi mới Phương pháp dạy học

- Phát huy tính tích cực, hứng thú trong học tập của học sinh và vai trò chủ đạo của giáo viên

- Thiết kế bài giảng khoa học, sắp xếp hợp lý hoạt động của giáo viên và học sinh, thiết kế hệ thống câu hỏi hợp lý, tập trung vào trọng tâm, tránh nặng nề quá tải (nhất là đối với các bài dài, bài khó, nhiều kiến thức mới); bồi dưỡng năng lực độc lập suy nghĩ, vận dụng sáng tạo kiến thức đã học, tránh thiên về ghi nhớ máy móc, không nắm vững bản chất; tích hợp lồng ghép những nội dung giáo dục khác (giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả ) trong một số bài giảng một cách hợp lý, gây hứng thú cho học sinh trong quá trình tiếp thu kiến thức, kỹ năng

- Tăng cường tập huấn nâng cao năng lực sử dụng thiết bị thí nghiệm biểu diễn và thí nghiệm thực hành Sử dụng tối đa và có hiệu quả các thiết bị dạy học và phòng học bộ môn Tổ chức sinh hoạt chuyên đề sử dụng thiết bị dạy học, khuyến khích tự làm đồ dùng dạy học, cải tiến phương án thí nghiệm phù hợp với từng bài học

- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, khuyến khích sử dụng hợp lý các phần mềm, thí nghiệm mô phỏng, tư liệu thiết bị dạy học điện tử, sử dụng các phương tiện nghe nhìn, thực hiện đầy đủ thí nghiệm, thực hành, tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường, liên hệ thực tế trong giảng dạy phù hợp với nội dung từng bài học

Trang 16

- Sử dụng ngôn ngữ chuẩn xác, trong sáng, sinh động, dễ hiểu, tác phong thân thiện, coi trọng việc khuyến khích động viên học sinh học tập, tổ chức hợp lý cho học sinh làm việc cá nhân và theo nhóm

- Dạy học sát đối tượng, coi trọng bồi dưỡng học sinh khá giỏi và giúp đỡ học sinh học lực yếu kém

- Tăng cường chỉ đạo đổi mới Phương pháp dạy học thông qua công tác bồi dưỡng giáo viên và thông qua việc dự giờ thăm lớp của giáo viên, tổ chức rút kinh nghiệm giảng dạy ở tổ chuyên môn, hội thảo cấp trường, cụm trường, địa phương, hội thi giáo viên giỏi các cấp

1.3 Cơ sở lí luận của việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học Vật lí hiện nay

1.3.1 Các đặc điểm của thí nghiệm vật lí

Thí nghiệm vật lí là sự tác động có chủ định, có hệ thống của con người vào các đối tượng của hiện thực khách quan Thông qua sự phân tích các đối tượng mà trong đó đã diễn

ra sự tác động và kết quả của sự tác động, ta có thể thu nhận được tri thức mới

Sau đây là một số đặc điểm của TN vật lí:

- Các điều kiện của TN phải được lựa chọn và được thiết lập có chủ định sao cho thông qua TN, có thể trả lời được câu hỏi đặt ra, có thể suy ra được giả thuyết hoặc hệ quả suy ra từ giả thuyết MỗiTN có ba yếu tố cấu thành cần được xác định rõ:

+ Đối tượng cần nghiên cứu;

+ Phương tiện gây tác động lên đối tượng cần nghiên cứu và phương tiện quan sát;

+ Đo đạc để thu nhận kết quả của sự tác động

- Các điều kiện của TN có thể làm biến đổi được để ta có thể nghiên cứu sự phụ thuộc giữa hai đại lượng, trong khi các đại lượng khác được giữ không đổi

- Các điều kiện của TN phải được khống chế, kiểm soát đúng như dự định nhờ sử dụng các thiết bị TN có độ chính xác ở mức cần thiết, nhờ sự phân tích thường xuyên các yếu tố của đối tượng cần nghiên cứu, làm giảm đối đa ảnh hưởng của các nhiễu (nghĩa là

Trang 17

loại bỏ tối đa một số điều kiện để không làm xuất hiện các tính chất, các mối quan hệ không được quan tâm)

- Đặc điểm quan trọng nhất của TN là tính có thể quan sát được các biến đổi của đại lượng nào đó do sự biến đổi của đại lượng khác Điều này đạt được nhờ các giác quan của con người và sự hỗ trợ của các phương tiện quan sát, đo đạc

- Có thể lặp lại được TN Điều này có nghĩa là: với các thiết bị TN, các điều kiện TN như nhau thì khi bố trí lại hệ TN, tiến hành lại TN, hiện tượng, quá trình vật lí diễn ra trong TN giống như ở các lần TN trước đó

1.3.2 Phân loại thí nghiệm Vật lí: Có hai loại:

 Thí nghiệm biểu diễn của giáo viên

Do giáo viên tiến hành nhằm giới thiệu một cách tương đối nhanh với học sinh các hiện tượng, các quá trình và các quy luật nghiên cứu

 Thí nghiệm do học sinh thực hiện

Do học sinh tiến hành dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên để hình thành kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cho bản thân

1.3.3 Vai trò của thí nghiệm trong tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh

Theo quan điểm của lí luận nhận thức, TN trong tổ chức hoạt động nhận thức cho

HS có các vai trò sau đây: là phương tiện của việc thu nhận tri thức, là phương tiện để kiểm tra tính đúng đắn của tri thức thu nhận được, là phương tiện của việc vận dụng tri thức vào thực tiễn

1.3.3.1 Thí nghiệm là phương tiện của việc thu nhận tri thức

Vật lí học là một khoa học thực nghiệm Tuy nhiên, trong tự nhiên và kĩ thuật, rất ít các hiện tượng, quá trình vật lí xảy ra dưới dạng thuần khiết nên muốn nhận thức được đối tượng vật lí, chúng ta phải tác động vào đối tượng, hiện thực khách quan một cách có chủ định và hệ thống Đó chính là quá trình làm TN vật lí Chính nhờ TN, ta có thể nghiên

Trang 18

cứu các hiện tượng, quá trình trong những điều kiện có thể khống chế được, thay đổi được, có thể quan sát và đo đạc đơn giản, dễ dàng hơn Thông qua sự phân tích các điều kiện mà trong đó đã diễn ra sự tác động và các kết quả của sự tác động, ta có thể thu nhận được tri thức mới Trong các phương pháp nhận thức vật lí, ở giai đoạn này hay giai đoạn khác, dù trực tiếp hay gián tiếp đều cần các cứ liệu mà TN mang lại để có thể nhận thức được các hiện tượng, quá trình vật lí Chính vì vậy, trong nhận thức khoa học Vật lí nói chung và tổ chức hoạt động nhận thức vật lí cho HS nói riêng, TN đóng một vai trò hết sức quan trọng, là phương tiện của việc thu nhận tri thức

Trong DH Vật lí, nhất là ở các lớp dưới và ở giai đoạn đầu của quá trình nhận thức một hiện tượng, một quá trình vật lí nào đó, khi HS còn chưa có hoặc có hiểu biết ít ỏi về hiện tượng, quá trình vật lí cần nghiên cứu thì TN được sử dụng để cung cấp cho HS những dữ liệu cảm tính (các biểu tượng, số liệu đo đạc) về hiện tượng, quá trình vật lí này

Trong chiến lược DH giải quyết vấn đề, việc xây dựng bài toán nhận thức đóng vai trò trung tâm, chủ đạo Để xây dựng được bài toán nhận thức này, trước hết và chủ yếu,

GV phải tìm cách tạo ra tình huống có vấn đề và đưa được HS vào tình huống có vấn đề

Sử dụng TN là một trong những biện pháp hữu hiệu để tạo tình huống có vấn đề Qua quan sát TN, HS thấy rằng không thể dùng kiến thức cũ để giải thích hiện tượng xảy ra trong TN, thậm chí hiện tượng xảy ra trái với dự đoán ban đầu của đại đa số các em Từ

đó làm nảy sinh ở HS nhu cầu đi tìm câu trả lời cho vấn đề đặt ra Thông qua việc giải quyết bài toán nhận thức này dưới sự tổ chức, hướng dẫn, chỉ đạo của GV, HS sẽ thu nhận được kiến thức mới

Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vấn đề, có thể bằng con đường suy luận lí thuyết hoặc làm TN và tiến hành quan sát, xử lí các số liệu thu thập được để đưa ra các kết luận và nhận định Ở giai đoạn này, TN cũng thể hiện rõ vai trò là một phương tiện chủ yếu để giải quyết bài toán nhận thức, là phương tiện để thu nhận tri thức

1.3.3.2 Thí nghiệm là phương tiện để kiểm tra tính đúng đắn của tri thức

Trang 19

Theo con đường biện chứng của hoạt động nhận thức thế giới khách quan mà

Lê-nin đã chỉ ra, kiến thức chỉ thực sự là chân lí khi nó được thực tiễn kiểm nghiệm Vì thế,

có thể nói TN là hòn đá thử vàng của tri thức nói chung và tri thức vật lí nói riêng

Theo quan điểm của lí luận nhận thức, một trong các vai trò của TN trong DH Vật lí

là dùng để kiểm tra tính đúng đắn của các tri thức mà HS đã thu nhận được trước đó Trong nhiều trường hợp, kết quả của TN phủ định tính đúng đắn của các tri thức đã biết, đòi hỏi phải đưa ra các giả thuyết khoa học mới và lại phải kiểm tra nó ở các TN khác Nhờ vậy, chúng ta sẽ thu được những tri thức có tính khái quát hơn, bao hàm các tri thức

đã biết trước đó như là những trường hợp riêng, trường hợp giới hạn

Trong DH Vật lí ở trường phổ thông, có một số kiến thức đã được rút ra bằng suy luận lôgic chặt chẽ từ các kiến thức đã biết Trong trường hợp này, cần phải tiến hành các

TN để kiểm nghiệm lại chúng Việc tiến hành các TN đó vừa là yêu cầu mang tính bắt buộc do đặc điểm thực nghiệm của khoa học Vật lí, đồng thời nó còn có tác dụng xây dựng và củng cố lòng tin của HS vào kiến thức thu được

Ví dụ khi khảo sát dao động biên độ bé của con lắc lò xo nằm ngang, bằng lí thuyết,

từ định luật II Niu-tơn và phương trình vi phân có thể rút ra biểu thức li độ của con lắc là một hàm điều hòa dạng sin Để kiểm nghiệm kết quả này, GV cần sử dụng TN ghép nối với máy vi tính để HS quan sát đồ thị li độ của của dao động Sau khi kiểm nghiệm, HS nhận thấy đồ thị dao động có dạng hình sin, từ đó các em mới tin tưởng vào kết quả thu nhận từ suy luận lí thuyết

Ngoài ra, trong DH Vật lí, do trình độ toán học của HS còn hạn chế hoặc do các thiết

bị TN ở trường phổ thông không cho phép tiến hành các TN phức tạp, với các phép đo định lượng chính xác cao trong khuôn khổ thời gian của tiết học, nên một số kiến thức khó có thể xây dựng bằng con đường lí thuyết cũng như thực nghiệm Trong những trường hợp này, GV phải đưa ra những kết luận khái quát hóa do các nhà khoa học đã tìm

ra và thông báo cho HS Tuy nhiên, để giảm tính áp đặt, GV có thể tiến hành TN để minh họa kiến thức đã đưa ra trong một trường hợp cụ thể, đơn giản

Trang 20

Ví dụ khi dạy nội dung định luật về hiện tượng điện phân của Farađây, trong điều kiện lớp học, GV khó có thể dựa vào TN để thiết lập công thức định lượng của định luật Farađây Nhưng GV có thể tiến hành TN minh họa một cách định tính trên máy tính cho

HS thấy được khi điện phân dung dịch đồng sunfat (CuSO4) thì các iôn đồng đến bám vào điện cực dương của bình điện phân tăng theo thời gian

Như vậy, trong tổ chức hoạt động nhận thức cho HS khi DH Vật lí, trong điều kiện

có thể, các kiến thức thu nhận được, đặc biệt là bằng con đường suy luận lí thuyết, phải được làm TN kiểm tra

1.3.3.3 Thí nghiệm là phương tiện của việc vận dụng tri thức vào thực tiễn

Trong quá trình tổ chức hoạt động nhận thức cho HS thì việc vận dụng tri thức là khâu cuối cùng Nếu cuối mỗi hoạt động nhận thức, HS giải quyết được các bài tập, giải thích được các hiện tượng hay dự đoán được kết quả các TN có liên quan đến kiến thức vừa học thì chứng tỏ HS đã nắm được kiến thức Theo bảng các mức độ nhận thức của Bloom, mức độ vận dụng, sáng tạo là một mức độ cao của việc lĩnh hội kiến thức

Khi vận dụng tri thức, GV có thể cho HS giải quyết các bài tập tương tự, giải thích các hiện tượng liên quan hay dự đoán kết quả các TN Trong đó đòi hỏi HS phải sử dụng tri thức vừa học để lập luận, suy đoán Do đó, TN là một phương tiện để HS vận dụng tri thức vừa học

Ngoài ra, một số ứng dụng của vật lí trong kĩ thuật cũng được SGK trình bày Khi

đó, cần thiết phải tiến hành các TN để HS hiểu được các ứng dụng của những kiến thức

đã học vào thức tiễn TN không những cho HS thấy được sự vận dụng trong thực tiễn của kiến thức vật lí mà còn là bằng chứng về sự đúng đắn của các kiến thức này

Trên đây, là những vai trò quan trọng của TN trong tổ chức hoạt động nhận thức cho HS trong DH Vật lí Ngoài ra, về mặt phương pháp luận, TN còn có vai trò là một bộ phận của các phương pháp nhận thức vật lí được dùng trong tổ chức hoạt động nhận thức cho

HS Về mặt tâm lí, TN là phương tiện kích thích hứng thú học tập, làm cho các em tích

Trang 21

cực và sáng tạo hơn trong quá trình nhận thức

Qua phân tích ở trên, chúng ta đã làm rõ vai trò hết sức quan trọng của TN trong việc tổ chức hoạt động nhận thức cho HS trong DH Vật lí Tuy nhiên, vẫn còn những khó khăn nhất định trong việc sử dụng TN để tổ chức hoạt động nhận thức cho HS

1.3.4 Những khó khăn và hạn chế của các thí nghiệm truyền thống trong tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh:

Trong DH Vật lí, việc khai thác hiệu quả vai trò của TN là một trong những vấn đề hết sức cần thiết TN là phương tiện nhằm nâng cao chất lượng kiến thức và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vật lí cho HS, nhờ TN HS có thể hiểu sâu hơn bản chất vật lí của các hiện tượng, khái niệm, định luật…được nghiên cứu Từ đó, khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn của HS sẽ linh hoạt và hiệu quả hơn

Tuỳ theo các đối tượng nghiên cứu cụ thể mà TN và các phương tiện DH truyền thống có thể hoặc không thể hỗ trợ cho việc tổ chức hoạt động nhận thức cho HS Ví dụ như: khi nghiên cứu về hệ thức giữa lực đàn hồi và độ biến dạng của lò xo, với việc sử dụng nhiều bộ TN khác nhau (một lò xo với những quả nặng có trọng lượng khác nhau) đều có thể thu được các số liệu về sự biến đổi độ biến dạng của lò xo và sự biến đổi về lực đàn hồi tương ứng của lò xo đang xét Nghiên cứu bảng số liệu này, có thể đề xuất dự đoán về mối quan hệ giữa độ biến dạng và lực đàn hồi của lò xo Tuy nhiên, đối với nhiều đối tượng nghiên cứu khác, ví dụ gnhư: va chạm của các vật trong hệ kín, khi nghiên cứu định luật bảo toàn động lượng, hay chuyển động rơi có sức cản của không khí, chuyển động của các hành tinh trong hệ Mặt trời…thì hiện nay, việc thu thập các số liệu thực nghiệm nhờ các thiết bị TN truyền thống hoặc rất khó, mất rất nhiều thời gian (với TN va chạm) hoặc không thể thực hiện được (với TN về chuyển động rơi có sức cản không khí) Bên cạnh đó, đối với các TN biểu diễn hiện tượng xảy ra rất khó quan sát dụng cụ

TN có kích thước không lớn lắm, một số TN đắt tiền, thiếu an toàn hoặc quá cồng kềnh không thể thực hiện được trong điều kiện của trường phổ thông Có những quá trình vật lí

Trang 22

xảy ra quá nhanh ta không thể quan sát bằng mắt thường (TN về sự rơi tự do trong ống chân không của Newton), lại có những quá trình xảy ra quá chậm chỉ trong một tiết học không đủ thời gian để quan sát

Ngoài những khó khăn trên, có nhiều bài học phải thực hiện nhiều TN và tiến hành quá nhiều phép tính toán Điều đó dường như là không thể tiến hành trong khuôn khổ thời gian quy định của tiết học

Những phân tích trên cho thấy trong nhiều trường hợp, nếu chỉ sử dụng TN và các phương tiện DH truyền thống thì việc yêu cầu cao tính tích cực, tự lực của HS tham gia vào việc giải quyết các vấn đề học tập sẽ bị hạn chế Do đó, việc áp dụng các PPDH nhằm tích cực hóa người học cũng hạn chế theo

Nói tóm lại, vẫn còn những khó khăn và hạn chế khi sử dụng TN và các phương tiện

DH truyền thống trong tổ chức hoạt động nhận thức cho HS Cụ thể là, ở phổ thông thiếu những TN định lượng với độ chính xác cao, do hạn chế về thời gian trong khuôn khổ tiết học, do hiện tượng khảo sát quá phức tạp, không dễ gì đơn giản hóa được, hay các hiện tượng vật lí xảy ra quá nhanh hoặc quá chậm, tính trực quan một số TN chưa cao gây khó khăn cho việc quan sát, thu thập số liệu Vì vậy, việc sử dụng TN với sự hỗ trợ của các phương tiện DH khác Trong đó, việc sử dụng TN với sự hỗ trợ của CNTT là cần thiết để

tổ chức hoạt động nhận thức cho HS có hiệu quả hơn

1.4 Phần mềm dạy học và vai trò của phần mềm dạy học trong Vật lí

1.4.1 Khái niệm phần mềm dạy học

Theo từ điển học Anh – Việt, NXB thanh niên 200: “Phần mềm – Software là các chương trình hay thủ tục chương trình, chẳng hạn như một ứng dụng, một tập tin, hệ thống, chương trình điều khiển thiết bị… cung cấp các chỉ thị cho chương trình máy tính”

Trang 23

PMDH môn Vật Lý là phần mềm được các chuyên gia tin học viết dựa trên cơ sở các kiến thức vật lý, các hiểu biết hợp lý đã được các nhà sư phạm, nhà vật lý soạn sẵn, có thể được GV và HS dùng vào việc dạy và học các kiến thức Vật Líthông qua MTV

Như vậy, PMDH là sản phẩm được kết tinh từ hai ngành: sư phạm và tin học, nó luôn chứa những tri thức của khoa học giáo dục và các sản phẩm của CNTT Không phải bất

cứ một phần mềm nào hễ được sử dụng vào dạy học thì được gọi là PMDH, mà chỉ có thể nói đến việc khai thác những khả năng của nó để hỗ trợ cho QTDH mà thôi

PMDH là phần mềm được thiết kế nhằm hỗ trợ có hiệu quả cho việc dạy và học của

GV và HS bám sát mục tiêu, nội dung chương trình SGK

Một PMDH có chất lượng nếu nó đảm bảo được những tiêu chuẩn sư phạm của một phương tiện dạy học, tính hiệu quả của việc sử dụng, có khả năng góp phần đổi mới PPDH, phải phát huy tính chủ động trong hoạt động nhận thức của từng HS

1.4.2 Phân loại phần mềm dạy học

PMDH là phương tiện dạy học hiện đại có nhiều tính năng ưu việt so với các loại hình dạy thiết bị dạy học truyền thống Đó là một chương trình được lập trình sẵn ghi vào trong ổ đĩa cứng, đĩa CD, VCD, USB…; có thể mang một lượng thông tin lớn, chọn lọc ở mức cần và đủ theo nhu cầu của nhiều đối tượng, là nguồn cung cấp tư liệu phong phú đa dạng, hấp dẫn, gọn nhẹ, dễ bảo quản, dễ sử dụng; có thể sử dụng thành tựu hiện đại của công nghệ truyền thông đa phương tiện vào QTDH để nâng cáo tính trực quan, sinh động, hấp dẫn của tài liệu nghe nhìn

Hiện nay trên thế giới và trong nước có nhiều PMDH đa dạng, nhưng chung có bốn dạng phần mềm hỗ trợ dạy học như sau:

1.4.2.1 Phần mềm hỗ trợ TN

Với sự phát triển của CNTT thì máy tính có thể mô phỏng tất cả các bài thí nghiệm của chương trình Vật Lý phổ thông từ TN dễ nhất đến các TN khó mà trên lớp không thể thực hiện được Có nhiều tên phần mềm khác nhau nhưng chúng hoạt động đều dựa trên nguyên tắc khoa học Ưu điểm nổi bật nhất của loại phần mềm này là có thể “thu hẹp”

Trang 24

hoặc “kéo dãn” không gian và thời gian, cho thấy được những hình ảnh từ vi mô đến vĩ

mô, làm được các TN nguy hiểm và ít tốn kém

Các phần mềm hiện nay thường tích hợp được nhiều TN và dễ sử dụng, có thể nêu tên một số phần mềm như sau: Crocodile physics 605, Macro Flash, MainMap,Physic 2.1, Working Model, Proteus, Jhksoft Electricity Lab… Ngoài ra có rất nhiều phần mềm của Việt Nam như: Phần mềm cảm ứng điện từ, Phần mềm mô phỏng Vật Lý 10-11-12, Bộ thí nghiệm Vật lý phổ thông, Phần mềm ôn thi đại học…

1.4.2.2 Phần mềm hỗ trợ thiết kế bài giảng điện tử

Đây là loại phần mềm có hỗ trợ ứng dụng rất rộng rãi, chức năng chính là dùng để trình diễn âm thanh, hình ảnh, video, chữ Phần mềm này không những dùng trong giáo dục mà còn dùng rộng rãi trong lĩnh vực kinh doanh, hội họp…Loại phần mềm này cũng

có rất nhiều ví dụ như: OpenOffice.org Impress, Microsoft Office PowerPoint, Frontpage, Lecture Maker, Violet, Novoasoft PagePlayer, Math Type ( gõ công thức toán học)…

1.4.2.3 Phần mềm hỗ trợ kiểm tra đánh giá

Phần mềm này dùng để kiểm tra đánh giá kiến thức của học sinh thông qua bài kiểm tra được thực hiện bởi phần mềm Ưu điểm là nó hoạt động khách quan và chính xác, làm việc nhanh và rút ngắn thời gian cho giáo viên rất nhiều Có một số phần mềm thông dụng hiện nay là: Emp Test, Mc Mix, Quest, Examgen, TestPro, Tester 1.0 Articulate Quyzmaker, Amtp, chương trình trắc nghiệm – soạn thảo trắc nghiệm trên MTV (của Phạm Văn Trung – Bình Dương), Tester Mar.05…

1.4.2.4 Phần mềm tiện ích

Đây là loại phần mềm nhỏ dùng để tính toán, xử lý các số liệu, dữ liệu cho phù hợp với nội dung của bài học Nhờ các phần mềm tiện ích mà ta có kết quả nhanh và chính xác, đồng thời đảm bảo tính thẩm mĩ cao Phần mềm tiện ích có rất nhiều, có thể nêu tên một số phần mềm thường dùng sau đây: SSPP16.0 (Xử lý số liệu), Excel (tính toán), GPS pathfinder Office, Origin, Pivot Table, Total Convert (phần mềm biên tập phím), Paint, Photoshop (phần mềm chỉnh sửa ảnh), MWSnap (chụp ảnh trên máy tính)…

Trang 25

1.4.3 Vai trò của phần mềm trong dạy học

Trong QTDH môn Vật lý, khi làm TN cho HS quan sát thì một số hiện tượng xảy ra quá nhanh hoặc quá chậm, gây khó khăn cho việc quan sát hiện tượng Một số TN lại quá nguy hiểm ảnh hưởng đến sức khỏe thậm chí là tính mạng học sinh nên không thể tiến hành được trong giờ dạy trên lớp, các hiện tượng, quá trình vật lý diễn ra trong tự nhiên

vô cùng phức tạp, có mối đang xen chằng chịt lẫn nhau Do đó, không thể cùng một lúc phân biệt được những tính chất đặc trưng của từng hiện tượng riêng lẻ…Chính vì vậy, việc áp dụng thành tựu của CNTT để khắc phục những khó khăn này là rất cần thiết Một trong những biện pháp đó là chúng ta khai thác và sử dụng PMDH, nhờ PMDH mà ta có thể làm đơn giản hóa các hiện tượng, kiểm soát được các quá trình, làm nổi bật các khía cạnh của hiện tượng

Trong quá trình nghiên cứu, nhiều PMDH chuyên biệt cho bộ môn ra đời, góp phần đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học PMDH là thiết bị dạy học tổng hợp cho phép lựa chọn để đạt hiệu quả cao trong mọi khâu của QTDH, giúp cho GV,

HS làm việc một cách dễ dàng, nhanh chóng, hiệu quả, tiết kiệm thời gian và công sức PMDH có khả năng trình bày một cách trực quan, đơn giản dễ hiểu, giúp HS dễ dàng nắm được nội dung của chương trình Mặt khác nó có khả năng cung cấp thêm những tài liệu phong phú, đa dạng dùng để tra cứu, tham khảo, đọc thêm, hệ thống hóa, luyện tập các mức độ khác nhau PMDH dễ dàng cung cấp những tài liệu cần thiết cho mỗi môn học, thích hợp với nhiều đối tượng HS cùng lứa tuổi

PMDH có thể biểu thị thông tin dưới dạng văn bản, ký hiệu, đồ thị, bản đồ, hình vẽ Các tài liệu liên quan trong phần mềm được lựa chọn, thiết kế theo cách phối hợp tối ưu nhằm tận dụng được thế mạnh của từng loại trong dạy học PMDH với tư cách là một người đồng hành trong mọi hoạt động dạy học có vai trò trợ giúp hay khuyến khích HS học tập một cách thoải mái, hứng thú và hợp lý nhất Sự hỗ trợ của PMDH là một hợp tác giống như chuyển giao hay trao đổi thông tin nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho HS Đối với GV, PMDH hỗ trợ cho quá trình tổ chức hoạt động học tập cho HS trong vấn

đề mô phỏng, minh họa cho các TN, các kiến thức cũng như sự vật hiện tượng mà HS

Trang 26

không thể quan sát trực tiếp được trong điều kiện nhà trường, không thể hoặc khó có thể thực hiện nhờ các phương tiện khác PMDH giúp đỡ cho một số bước trong PPDH thực nghiệm, PPDH nêu vấn đề (tạo tình huống có vấn đề)…Hỗ trợ cho quá trình thí nghiệm,

ôn tập, kiểm tra kiến thức, đánh giá kết quả học tập của học sinh Một số PMDH còn giúp tạo ra một phương pháp học tập trong môi trường học tập mới bao gồm các đối tượng chỉ tồn tại trên MVT và tuân theo các quy luật mà lý thuyết và thế giới thực tương ứng đã khẳng định Hỗ trợ cho định hướng soạn giáo án theo định hướng đổi mới cũng như thực hiện việc tổ chức các hoạt động học tập cho HS, giúp tiết kiệm được thời gian trên lớp, dành nhiều cơ hội cho việc trao đổi giữa GV và HS Hỗ trợ cho hoạt động nhận thức cho

HS như tạo không khí lớp học vui vẻ, thoái mái…Hình thành động cơ, hứng thú học tập cho HS, kích thích được óc tò mò, ham hiểu biết của HS đối với sự vật hiện tưởng

Đối với HS, PMDH có thể giúp HS tự tìm tri thức mới, tự ôn tập, củng cố, đào sâu kiến thức, tự luyện tập theo nội dung tùy chọn, theo các mức độ tùy theo năng lực của HS

Hỗ trợ cho HS trong quá trình tự kiểm tra kiến thức và đánh giá kết quả học tập của bản thân Ngoài ra PMDH còn có khả năng hỗ trợ trong việc tạo hứng thú và động cơ học tập lành mạnh, giúp tự phát triển khả năng tư duy và tưởng tượng, rèn luyện và phát triển khả năng lập luận chặt chẽ, có căn cứ khoa học cho HS

Tóm lại, PMDH với tư cách là phương tiện dạy học có những khả năng hỗ trợ rất đa dạng và phong phú đối với vấn đề đổi mới PPDH hiện nay, góp phần phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập

Trong thời đại xã hội phát triển với tốc độ nhanh như hiện nay, với sự hỗ trợ của CNTT nói chung và PMDH nói riêng, việc dạy học không chỉ hạn chế trong giờ học tại trường dưới sự hướng dẫn trực tiếp của GV mà HS có thể tự học tại nhà, học năng mô phỏng kiến thức cần trình bày một cách phù hợp với trình độ của HS

Khi có sự trợ giúp của MVT và PMDH, HS có thể thao tác với PMDH để qua đó tự tìm tòi, phát hiện và hình thành kiến thức mới cho bản thân hoặc qua đó HS tự củng cố, kiểm tra lại kiến thức đã học Không những vậy, nhờ mạng Lan, Internet mà HS có thể

Trang 27

học từ xa, trao đổi, thảo luận về nội dung và phương pháp học tập để chủ động chiếm lĩnh tri thức mới

1.4.4 Một số ứng dụng của phần mềm trong dạy học Vật Lý

PMDH giúp GV tiến hành dạy học một cách chủ động và rất tiện lợi trong quá trình

tự học của HS vì việc sử dụng các PMDH này ít phụ thuộc vào không gian, có thể tiến hành ở lớp, ở nhà chỉ cần ở đó máy vi tính

 Sử dụng phần mềm để trình bày kiến thức Vật Lý

Xây dựng giáo án điện tử đồng thời phối hợp với các thiết bị hiện đại khác như máy chiếu đa năng, camera, băng đĩa hình… để trình bày các kiến thức trong môn học Vật lí

Giáo án điện tử là các bài giảng được soạn và giảng trên MVT kết hợp máy chiếu,

nó có nhiều ưu điểm:

- Ưu điểm lớn nhất bài giảng điện tử mang lại là nội dung bài giảng được minh họa bằng những âm thanh và hình ảnh sống động, HS tỏ ra thích thú và tiếp thu bài nhẹ nhàng hơn Đối với môn Vật Lý, nhờ sự hỗ trợ của MVT, những định luật, hình ảnh phức tạp được động hóa HS dễ hình dung và hiểu bài nhanh hơn

- Giờ giảng hiệu quả hơn: dễ hiểu, hấp dẫn, kiến thức được trình bày toàn diện hơn, chứa đựng nhiều thông tin Phát huy được các ưu điểm của phương pháp truyền thống

- Có thể tự động hóa công việc dạy học hoặc một khâu nào đó trong QTDH, làm cho GV có nhiều thời gian quan tâm đến HS

- Bài giảng được lồng ghép với thí nghiệm ảo, các đoạn phim minh họa các hiện tượng Vật Lý xảy ra trong thực tế làm tăng thêm sự hấp dẫn của bài giảng Liên kết với các trang web cùng trình bày vấn đề ở các trường, các nước khác nhau

- Cùng một thời gian, khối lượng kiến thức được truyền tải nhiều hơn

- Tuy nhiên, thiết kế một bài giáo án điện tử là một công việc không dễ dàng, đòi hỏi nhiều thời gian và chuẩn bị công phu nên nhiều GV không thực hiện được

Trang 28

 Sử dụng phần mềm phối hợp TN mô phỏng và TN thật trong dạy học Vật lý

Với việc sử dụng TN trong dạy học vật lý vừa dùng làm phương tiện hỗ trợ trực tiếp hoạt động dạy học dưới hình thức khác nhau nên chúng tôi tiến hành mô phỏng các TN trên máy tính sao cho chúng càng giống TN thật càng tốt Trước hết là về hình ảnh của các dụng cụ phải giống như trong TN thật cả về hình dạng lẫn màu sắc để qua

đó GV và HS có thể tìm hiểu được tính năng, tác dụng của chúng

Việc lắp ráp, bố trí thí nghiệm và đặc biệt là các bước tiến hành TN phải được mô phỏng hoàn toàn như TN thật để qua đó, GV và HS có thể nắm được cách lắp ráp, bố trí và tiến hành thí nghiệm với dụng cụ thật sau khi đã thao tác trên phần mềm

Như vậy khi sử dụng PMDH, GV và HS đã tìm hiểu được dụng cụ TN, biết cách lắp ráp và bố trí TN, sau đó có thể tự lắp ráp và tiến hành TN này với bộ dụng cụ thật

 Sử dụng phần mềm để phân tích số liệu kết nối từ TN thật

Để hỗ trợ được các TN Vật lý thì MVT cần được ghép nối với các thiết bị thí nghiệm

 Sử dụng phần mềm để phân tích băng hình quá trình vật lý thực

Việc ghi các quá trình Vật lý thực mà bình thường không quan sát được vào băng hình rồi cho quay chậm lại hoặc nhanh lên để khảo sát nhiều lần, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tìm hiểu và nghiên cứu các hiện tượng Vật lý đó là một ưu thế lớn của ứng dụng PMDH trong dạy học

Để thực hiện phần này cần có camera kỹ thuật số để quay các hiện tượng Vật lý

và đưa vào máy tính Trong máy tính phải cài đặt phần mềm phân tích Video Tuy nhiên việc thu thập số liệu đo, tính toán, phân tích, xử lý số liệu và trình bày kết quả còn khó khăn và mất nhiều thời gian Để tạo điều kiện thuận lợi cho các công việc trên chúng ta có thể phân tích các băng hình nhờ MVT và các phần mềm tương ứng

 Sử dụng phần mềm để đánh giá kết quả dạy học

Trang 29

Hiện nay với cách thi cử mới có sử dụng nhiều đề thi trắc nghiệm, việc dùng thủ công để đánh giá kết quả thì rất mất thời gian và tốn công sức Chính vì vậy, nhiều phần mềm ra đời hỗ trợ cho việc đánh giá kết quả một cách nhanh chóng và chính xác

1.5 Kết luận chương 1

Trên cơ sở của tâm lí học và lí luận DH, chúng tôi đã tiến hành bổ sung và hệ thống hóa cơ sở lí luận về việc sử dụng TN tổ chức hoạt động nhận thức cho HS trong

DH Vật lí với sự hỗ trợ của CNTT Cụ thể là:

Nghiên cứu cơ sở khoa học của việc tổ chức hoạt động nhận thức cho HS, đó chính

là sự vận dụng chu trình sáng tạo khoa học của các nhà khoa học vào DH Trên cơ sở đó tìm hiểu việc tổ chức hoạt động nhận thức cho HS trong DH Vật lí theo chiến lược DH giải quyết vấn đề từng phần Bởi vì chiến lược DH giải quyết vấn đề từng phần có thể xâm nhập vào hầu hết các PPDH và làm cho HS hoạt động tích cực, chủ động, và sáng tạo trong việc chiếm lĩnh tri thức

Trong quá trình tổ chức hoạt động nhận thức cho HS thì TN vật lí đóng vai trò đặc biệt quan trọng, không thể thay thế Tuy nhiên, vẫn còn những khó khăn và hạn chế nhất định khi sử dụng TN trong tổ chức hoạt động nhận thức cho HS Những khó khăn đó là thiếu những TN định lượng với độ chính xác cao; sự hạn chế về thời gian trong khuôn khổ tiết học không cho phép làm đầy đủ các TN; do hiện tượng khảo sát quá phức tạp, không dễ gì đơn giản hóa được, hay các hiện tượng vật lí xảy ra quá nhanh hoặc quá chậm, tính trực quan một số TN chưa cao gây khó khăn cho việc quan sát, thu thập số liệu Bên cạnh đó, sự xuất hiện của MVT với các phần mềm dạy học chuyên dụng đã đóng vai trò đáng kể trong quá trình dạy học các kiến thức, từ khâu trình bày truyền đạt các kiến thức mới đến việc hỗ trợ kiểm tra đánh giá, vận dụng kiến thức đã học, đặc biệt hữu ích trong việc sử dụng các thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng Đối với các TN cần khảo sát định lượng, có thể dùng các phần mềm dạy học để hỗ trợ trong giai đoạn thu thập, lưu trữ số liệu; tính toán xử lí số liệu; biểu diễn, hiển thị kết quả của TN một cách nhanh chóng, trực quan, khoa học Với các TN định tính, phần mềm dạy học có thể hỗ trợ

Trang 30

nhằm trực quan hóa hoặc mô phỏng lại hiện tượng xảy ra trong TN

Về mặt nguyên tắc, không gì có thể thay thế hoàn toàn TN thực trong DH Vật lí, ngay cả những TN ảo được thiết kế tốt nhất Tuy nhiên với sự hỗ trợ của những phần mềm dạy học, các thí nghiệm mô phỏng được khai thác, sử dụng có thể góp phần khắc phục các khó khăn và hạn chế khi sử dụng TN và các phương tiện DH truyền thống trong

tổ chức hoạt động nhận thức cho HS Ngoài ra, nó còn có tác dụng kích thích hứng thú học tập, tích cực hóa hoạt động nhận thức HS

Trang 31

CHƯƠNG 2 KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG CÁC PHẦN MỀM DẠY HỌC

TRONG CHƯƠNG CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ 2.1 Nội dung chương Cảm ứng điện từ Vật lí 11 nâng cao

2.1.1 Đặc điểm chương Cảm ứng điện từ

Theo tác giả Nguyễn Phúc Thuần, Lê Công Triêm, Nguyễn Thúc Tuấn, nội dung kiến thức các chương Cảm ứng điện từ rất trừu tượng, khó, những kiến thức về ứng dụng vật lí khá phức tạp (điện kế khung quay, động cơ điện,…) Do đó, việc xây dựng và hình thành kiến thức cho HS gặp nhiều khó khăn

2.1.2 Mức độ nội dung kiến thức học sinh cần đạt

Các chuẩn môn học (theo chuẩn của bộ GD-ĐT ban hành)

- Viết được công thức tính

từ thông qua một diện tích

và nêu được đơn vị đo từ

thông

- Nêu được các cách làm

biến đổi từ thông

- Phát biểu được định luật Fa-ra-đây về cảm ứng điện

từ, định luật Len-xơ về chiều dòng điện cảm ứng

và viết được hệ thức

- Làm được thí nghiệm về

hiện tượng cảm ứng điện từ

- Tính được suất điện động cảm ứng trong trường hợp

từ thông qua một mạch kín biến đổi đều theo thời

gian

- Xác định được chiều của dòng điện cảm ứng theo định

luật Len-xơ

- Tính được suất điện động

tự cảm trong ống dây khi dòng điện chạy qua nó có

Trang 32

Cô?

-Nêu lên được cái lợi và cái

hại của dòng điện Fu-Cô

-Nêu được một số tác dụng của dòng điện Fu-Cô

- Nêu được từ trường trong lòng ống dây có dòng điện chạy qua và mọi từ trường

đều mang năng lượng

cường độ biến đổi đều theo

thời gian

-Thiết lập biểu thức suất điện động tự cảm cho cả hai trường hợp cuộn dây không

có lõi sắt và có lõi sắt

-Vận dụng các kiến thức đã

học

- Liên hệ thực tế để tìm hiểu dòng điện Fu-Cô xảy ra ở đâu? Và tìm hiểu cách khắc phục

-.Vận dụng dòng Fu-Cô để chế tạo một số thiết bị có lợi như phanh xe đạp,một số

thiết bị ở máy móc đơn giản

-Thiết lập được công thức năng lượng từ trường trong một ống dây dài và biểu thức

mật độ năng lượng từ trường

-Vận dụng công thức vừa thiết lập được ở trên để giải quyết một số bài tập đơn

Trang 33

giản

2.2 Tổ chức hoạt động dạy học với sự hỗ trợ của các PMDH

2.2.1 Sử dụng phần mềm dạy học trong bước đề xuất vấn đề

Phương hướng cơ bản của việc tổ chức tình huống học tập trong bước đề xuất vấn

đề là việc GV đưa ra tình huống có vấn đề, hoặc đặt ra nhiệm vụ để hướng HS tới nhu cầu tìm hiểu kiến thức mới

Để thực hiện thành công công việc trên với việc sử dụng PMDH thì GV giao cho

HS một nhiệm vụ có tiềm ẩn vấn đề Dưới sự hướng dẫn của GV, HS quan tâm đến nhiệm

vụ đặt ra, sẵn sàng nhận và tự nguyện thực hiện nhiệm vụ Trong quá trình giải quyết nhiệm vụ đó, quan niệm và giải pháp ban đầu của HS được thử thách và HS ý thức được khó khăn Lúc này vấn đề đối với HS xuất hiện, dưới sự hướng dẫn của GV vấn đề đó được chính thức diễn đạt

Sử dụng PMDH trong bước đề xuất vấn đề GV cần phải thực hiện theo trình tự sau:

+ Mô tả ngắn gọn TN cần tiến hành và nêu câu hỏi định hướng cho HS quan sát + GV sử dụng PMDH phối hợp với các phương tiện dạy học khác để tổ chức cho

HS quan sát hiện tượng Vật Lý cần nghiên cứu

+ GV nêu câu hỏi định hướng HS tư duy, phát hiện và phán đoán kiến thức cần xây dựng

Ví dụ: Đặt vấn đề về từ trường có tạo ra dòng điện không?

Trang 34

Dùng phần mềm Microsoft Office PowerPoint để giới thiệu hình ảnh

Hình 2.1 Sử dụng PowerPoint trong đề xuất vấn đề

2.2.2 Sử dụng phần mềm dạy học trong bước giải quyết vấn đề

Trong bước này: “HS hành động độc lập, tự chủ, trao đổi, tìm tòi giải quyết vấn đề” Sau khi đã phát biểu vấn đề, HS độc lập hoạt động, xoay trở để vượt qua khó khăn

GV sẽ định hướng khi thật sự cần thiết Trong quá trình tìm tòi giải quyết vấn đề, HS diễn đạt, trao đổi với người khác trong nhóm về cách giải quyết vấn đề của mình và kết quả thu được, qua đó có thể chính lý, hoàn thiện tiếp Dưới sự hướng dẫn của GV, hành động của HS được định hướng phù hợp với tiến trình nhận thức khoa học và thông qua các tình huống thứ cấp khi cần

Qua QTDH cùng với sự phát triển năng lực giải quyết vấn đề của HS, các tình huống thứ cấp sẽ giảm dần Sự định hướng của GV chuyển dần từ định hướng khái quát chương trình hóa (theo các bước tùy theo trình độ của HS) tiệm cận dần đến định hướng tìm tòi sáng tạo, nghĩa là GV chỉ đưa ra cho HS những gợi ý sao cho HS có thể tự tìm tòi, huy động hoặc xây dựng những kiến thức và cách thức hoạt động thích hợp để giải quyết nhiệm vụ mà họ đảm nhận Nghĩa là dần dần bồi dưỡng cho HS khả năng tự xác định hành động thích hợp trong những tình huống không phải là quen thuộc đối với họ

Trang 35

Để có thể thực hiện tốt vai trò định hướng của mình trong QTDH, GV cần phải nắm vững quy luật chung của quá trình nhận thức khoa học, logic hình thành các kiến thức Vật Lý, những hành động thường gặp trongquá trình nhận thức Vật Lý, những phương pháp nhận thức Vật Lý phổ biến để hoạch định những hành động thao tác cần thiết của HS trong quá trình chiếm lĩnh một kiến thức hay một kỹ năng xác định

Ví dụ: Xét thí nghiệm về hiện tượng cảm ứng điện từ

Dùng phần mềm Cảm ứng điện từ để nghiên cứu sự thay đổi vị trí của kim điện kế khi cho nam châm chuyển động so với cuộn dây

Hình 2.2 Sử dụng phần mềm Cảm ứng điện từ để giải quyết vấn đề

2.2.3 Sử dụng phần mềm dạy học trong bước kiểm tra, vận dụng kết quả

Trong bước này: “Tranh luận, thể chế hóa, vận dụng tri thức mới” là hoạt động trọng tâm Dưới sự hướng dẫn của GV, HS tranh luận, bảo vệ cái xây dựng được GV chính xác hóa, bổ sung, thể chế hóa tri thức mới HS chính thức ghi nhận tri thức mới và vận dụng

Ví dụ: Làm đề kiểm tra

Dùng phần mềm Mc Mix tạo và trộn đề trắc nghiệm

Trang 36

Hình 2.3 Sử dụng Mc Mix trong kiểm tra, vận dụng kết quả

2.3 Thiết kế bài giảng bằng cách kết hợp trình chiếu bằng Microsoft OfficePowerPoint với các phần mềm thí nghiệm trong chương Cảm ứng điện từ Vật

HS trong DH Vật lí, trước hết, chúng ta phải xác định mục tiêu bài học thông qua nghiên cứu chuẩn kiến thức kĩ năng, SGK, sách giáo viên, tài liệu tam khảo Tiếp theo, GV phải xác định các thí nghiệm (TN) cần sử dụng trong bài học Sau đó, dự kiến những khó khăn gặp phải khi thực hiện mục tiêu đó, đặc biệt là các khó khăn trong khai thác và sử dụng TN Tiếp đến, GV nghiên cứu khả năng hỗ trợ của CNTT trong các TN cũng như trong quá

Trang 37

trình tổ chức hoạt động nhận thức cho HS Trên cơ sở những khả năng đó, GV sưu tầm và lựa chọn các thí nghiệm mô phỏng từ các phần mềm dạy học thích hợp và thiết kế tiến trình

DH và bài giảng điện tử tương ứng để sử dụng các TN đó Cuối cùng, GV giảng dạy theo tiến trình đã thiết kế Sau tiết dạy, GV có thể bổ sung những khó khăn gặp phải trong thực

tế, từ đó xây dựng, khai thác thêm các TN khác hoặc điều chỉnh tiến trình DH cho các tiết dạy sau tốt hơn Quy trình xây dựng một bài giảng điện tự cơ bản trong đó có sử dụng các phần mềm dạy học nói chung và phần mềm TN Vật Lí nói riêng có thể tóm tắt bằng sơ đồ sau:

Hình 2.4 Quy trình thiết kế bài giảng điện tử với sự hỗ trợ của các phần mềm dạy học,

TN mô phỏng, video clip, hình ảnh trong DH Vật lí

Nghiên cứu chuẩn kiến thức, kĩ năng, SGK, sách giáo viên

để xác định mục tiêu bài học

Lựa chọn các TN thực được sử dụng trong bài học

Dự kiến những khó khăn gặp phải trong DH

và khi sử dụng các thí nghiệm thực

Nghiên cứu khả năng hỗ trợ của CNTT trong các TN cụ thể cũng

như trong quá trình tổ chức hoạt động nhận thức cho HS

Sưu tầm và lựa chọn các phần mềm dạy học, TN mô phỏng, video clip, hình ảnh phù hợp với mục đích bài giảng

Thiết kế bài giảng điện tử trong đó có sử dụng các phần mềm TN

ảo, hình ảnh, video clip đã sưu tầm

Giảng dạy với tiến trình DH đã thiết kế

Rút kinh nghiệm và điều chỉnh sau giảng dạy

Trang 38

Với quy trình trên, sau khi nghiên cứu khả năng hỗ trợ của CNTT trong các TN chương Cảm ứng điện từ, chúng tôi đã tiến hành sưu tầm và lựa chọn được một số TNlấy

từ kho dữ liệu của các phần mềm, nguồn tư liệu của đồng nghiệp và các thầy giáo

2.3.2 Một số phần mềm dạy học thích hợp sử dụngđể xây dựng tư liệu và thiết kế bài giảng

Như đã nói ở chương trước, phần mềm dạy học phân thành 4 loại là: Phần mềm hỗ trợ thí nghiệm; phần mềm hỗ trợ thiết kế bài giảng điện tử; phần mềm hỗ trợ kiểm tra đánh giá; phần mềm tiện ích Mỗi loại sẽ tạo cho ta một dạng dữ liệu để phục vụ tiến trình dạy học

2.3.2.1 Hệ thống phần mềm hỗ trợ thí nghiệm

Có khá nhiều phần mềm hỗ trợ cho thí nghiệm, có thể kể đến một số phần mềm được dùng nhiều nhất như: Crocodile physics, Macro Flash, Physics, Phần mềm cảm ứng điện từ, Phần mềm mô phỏng vật lí 10-11-12, Bộ thí nghiệm vật lí phổ thông… Những phần mềm này hoặc đã có sẵn các file tích hợp sẵn các thí nghiệm hoặc có thể tạo ra sản phẩm trên phần mềm

2.3.2.2 Hệ thống phần mềm hỗ trợ thiết kế bài giảng điện tử

Một số loại phần mềm soạn bài giảng điện tử phổ biên hiện nay gồm có: Microsoft Office PowerPoint, Violet, OpenOffice Impress: cho ta sản phẩm là các file trình diễn bài giảng điện tử, FrontPage cho ta sản phẩm là bài giảng trực tuyến

2.3.2.3 Hệ thống phần mềm hỗ trợ kiểm tra đánh giá

Có thể nêu tên các phần mềm phục vụ cho việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập thông dụng hiện nay như: Emp Test, Mc Mix, Quest, soạn thảo trắc nghiệm trên MVT Sản phẩm của chúng là các bài kiểm tra có thể in ra giấy hoặc có thể làm trực tiếp trên máy vi tính, ngoài ra chúng còn có khả năng chấm điểm và thống kê số liệu các bài kiểm tra, bài thi

2.3.2.4 Hệ thống phần mềm tiện ích

Trang 39

Để có một hệ thống tư liệu dạy học tốt thì các dữ liệu cần phải được xử lí theo mục đích riêng Có một số phần mềm thường dùng sau đây: Excel (tính toán), Origin (vẽ đồ thị), Camtasia (chụp hoặc quay phim màn hình)…

2.4 Cách sử dụng một số thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng lấy từ các phầnmềm dạy học đã lựa chọn, các video clip và hình ảnh vào quá trình dạy học chương Cảm ứng điện từ Vật Lí 11 nâng cao

2.4.1 Thí nghiệm tương tác giữa nam châm với vòng dây mang dòng điện

Ngày đăng: 09/05/2021, 17:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w