1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu tình hình phát triển nông nghiệp huyện lệ thủy giai đoạn 2000 – 2010 định hướng và giải pháp phát triển nông nghiệp của huyện đến năm 2020

92 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Ở huyện Lệ Thủy Các dự án quy hoạch phát triển nông nghiệp – nông thôn cũng như quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của huyện được thực hiện theo các giai đoạn nhất định, c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA ĐỊA LÝ 

LÊ THỊ ANH

Tìm hiểu tình hình phát triển nông nghiệp huyện Lệ Thủy giai đoạn 2000 – 2010 Định hướng và giải pháp phát triển nông nghiệp

của huyện đến năm 2020

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

SƯ PHẠM ĐỊA LÝ

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là sự hợp thành của trồng trọt và chăn nuôi, còn theo nghĩa rộng bao gồm cả lâm và ngư nghiệp Tựu chung lại, toàn bộ nền kinh tế có thể chia thành 3 khu vực nông nghiệp – lâm nghiệp – ngư nghiệp Là một ngành sản xuất

ra đời từ rất sớm, nông nghiệp luôn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế nói chung và đảm bảo sự sinh tồn của loài người nói riêng Nói về vai trò to lớn của nông nghiệp Ănghen đã khẳng định rằng: “ Nông nghiệp là ngành có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ thế giới cổ đại và với ngày nay nó càng có ý nghĩa như thế” Là một quốc gia thuần nông với hơn 70% dân số sống dựa vào ngành này Do đó việc tạo

ra 1 nền nông nghiệp phát triển bền vững là yêu cầu cấp thiết ảnh hưởng đến sự sống còn của nền kinh tế Việt Nam Nhận thức được vai trò quan trọng đó từ năm 1986 Đảng và Nhà nước ta đã bắt đầu những bước cải cách đầu tiên trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp với khoán 10 và khoán 100 Trong những năm qua nông nghiệp vẫn tiếp tục phát triển khá nhanh và cũng đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Đặc biệt hơn vào năm 2007 Việt Nam gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới WTO đã tác động không nhỏ đến sự phát triển ngành nông nghiệp Nông nghiệp đang dần trở thành ngành sản xuất hàng hóa, đồng thời trong nội bộ ngành đang có sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng tích cực và hiện đại, không những đảm bảo lương thực của quốc gia mà còn đáp ứng nhu cầu xuất khẩu Hiện nay có nhiều mặt hàng nông sản của nước ta đã

có chỗ đứng trên thị trường, đăc biệt là đã đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của một số thị trường khó tính như Nhật, Mỹ…Giá trị sản xuất và năng suất lao động không ngừng tăng lên nhờ vào việc xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, phát triển những giống mới

và có năng suất và chất lượng cao

Tuy nhiên nền nông nghiệp của nước ta vẫn còn đứng trước những thách thức lớn Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch còn chậm, không cân đối Quy mô sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ Chưa theo sát nhu cầu của thị trường cũng như khả năng ứng phó với những biến động của nền kinh tế thế giới còn hạn chế Đồng thời quá trình CNH – HĐH nông thôn còn chậm, lao động chủ yếu là lao động phổ thông nên kết quả đạt được vẫn còn hạn chế

Từng được mệnh danh là nơi đứng thứ 2 về sản xuất nông nghiệp trước đây “ Nhất Đồng Nai nhì Hai huyện” hai huyện đó chính là huyện Quảng Ninh và huyện Lệ Thủy của tỉnh Quảng Bình Huyện Lệ Thủy – tỉnh Quảng Bình luôn được đánh giá cao

về tiềm năng phát triển nông nghiệp nổi tiếng với Hợp tác xã Đại Phong trở thành "Gió Đại Phong" một biểu tượng, một phong trào thi đua sôi nổi, rộng khắp trên toàn miền bắc những năm sáu mươi và mãi đến sau này, tuy nhiên việc phát triển hiện nay của

Trang 3

huyện vẫn chưa tương xứng với tiềm năng Nông nghiệp chậm phát triển, năng suất và chất lượng chưa cao, sản xuất còn manh mún…

Xuất phát từ những yêu cầu trên, đề tài “Tìm hiểu tình hình phát triển nông nghiệp huyện Lệ Thủy giai đoạn 2000 – 2010 Định hướng và giải pháp phát triển nông nghiệp của huyện đến năm 2020 ” được lựa chọn vừa có ý nghĩa khoa học và thực tiễn nhàm phân tích các nguồn lực và tình hình phát triển nông nghiệp huyện Lệ Thủy đồng thời đề xuất một số định hướng và giải pháp phát triển trong giai đoạn tiếp theo

2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

2.1 Mục tiêu

Vận dụng cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp vào địa bàn huyện

Lệ Thủy nhằm phân tích và đánh giá tiềm năng, hiện trạng phát triển nông nghiệp của huyện Từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp huyện Lệ Thủy trong giai đoạn tiếp theo

2.2 Nhiệm vụ

- Tổng quan cơ sở lí luận và thực tiễn về địa lí nông nghiệp

- Phân tích, đánh giá các tiềm năng và thực trạng phát triển nông nghiệp huyện Lệ Thủy Từ đó làm rõ bức tranh nông nghiệp của huyện

- Đề xuất định hướng và giải pháp góp phần đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp huyện Lệ Thủy hiệu quả và bền vững

3 Giới hạn đề tài

- Nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu sự phát triển nông nghiệp trên địa bàn

huyện Lệ Thủy theo nghĩa rộng (nông- lâm- ngư) về nguồn lực, hiện trạng và các giải pháp phát triển

- Thời gian nghiên cứu: đề tài nghiên cứu chủ yếu trong giai đoạn từ năm 2000 –

2010 Định hướng và giải pháp phát triển đến năm 2020

- Phạm vi lãnh thổ: Nghiên cứu tình hình phát triển nông nghiệp trên địa bàn

huyện Lệ Thủy bao gồm hai thị trấn là thị trấn Kiến Giang và thị trấn Nông Trường Lệ Ninh.và 26 xã: An Thuỷ, Cam Thủy, Dương Thủy, Hoa Thủy, Hồng Thủy, Hưng Thủy, Kim Thủy, Lâm Thủy, Liên Thủy, Lộc Thủy, Mai Thủy, Mỹ Thủy, Ngân Thủy, Ngư Thủy Bắc, Ngư Thủy Nam, Ngư Thủy Trung,Phong Thủy, Phú Thủy, Sen Thủy, Sơn Thủy, Tân Thủy, Thái Thủy, Thanh Thủy, Trường Thủy, Văn Thủy, Xuân Thủy

4 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Cho tới nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về nông nghiệp đại cương và các vấn đề về nông nghiệp trên thế giới cũng như các quốc gia và vùng lãnh thổ Các nhà Địa lý kinh tế đã đóng góp nhiều công trình nghiên cứu, giáo trình về nông nghiệp có ý

Trang 4

nghĩa lý luận và thực tế như:

- “Địa lý kinh tế - xã hội đại cương”, Nguyễn Minh Tuệ (Chủ biên), Nhà xuất

- “ Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam”

TS Trần Văn Thông (Chủ biên), Nhà xuất bản Giáo dục thống kê, 1998

Các giáo trình đều cung cấp những kiến thức cần thiết về các lĩnh vực liên quan đến nông nghiệp như các lý thuyết về vai trò, đặc điểm phát triển, cơ cấu các ngành nông nghiệp, tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tình hình phát triển và phân bố của nông nghiệp Thế giới, Việt Nam

Ngoài ra, sự khác biệt về lãnh thổ, các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cũng quy định sự phát triển và phân bố nông nghiệp khác nhau giữa các vùng trong một huyện và giữa các huyện với nhau Một số đề tài luận văn, luận án cũng nghiên cứu

nông nghiệp được thực hiện như: Xu hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đaị hóa ở Đồng Nai , Phẩm An Ninh, Luận án tiến sĩ kinh tế, Hà Nội, Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn huyện Cam Lộ, huyện Quảng Trị, Luận văn thạc sĩ Địa lí học 2004 Phát triển nông – lâm – thủy – sản tỉnh Sơn La giai đoạn 2000-2009, Tòng Thị Quỳnh Hương, luận văn thạc sĩ khoa học Địa Lý, Hà Nội Tiềm năng và thực trạng phát triển nông nghiệp tỉnh Hà Tĩnh, Trần Thị Tình, Khóa luận tốt nghiệp

cử nhân sư phạm Địa Lý

* Ở huyện Lệ Thủy

Các dự án quy hoạch phát triển nông nghiệp – nông thôn cũng như quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của huyện được thực hiện theo các giai đoạn nhất định, các đề tài nghiên cứu về phát triển nền kinh tế nói chung, các ngành nông nghiệp

nói riêng khá nhiều nhưng đề tài về “Tìm hiểu tình hình phát triển nông nghiệp huyện

Lệ Thủy giai đoạn 2000 – 2010 Định hướng và giải pháp phát triển nông nghiệp của

huyện đến năm 2020”

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

5.1 Quan điểm nghiên cứu

5.1.1 Quan điểm hệ thống

Nông nghiệp là một hệ thống hoàn chỉnh gồm các hợp phần tạo thành, đồng thời mỗi hợp phần lại là một hệ thống nhỏ hơn bao gồm nhiều hợp phần khác Chính vì vậy nông nghiệp huyện Lệ Thủy có liên quan chặt chẽ với nông nghiệp huyện Quảng Bình, Bắc Trung Bộ và cả nước Hệ thống nông nghiệp huyện Lệ Thủygồm hệ thống

Trang 5

trồng trọt và hệ thống chăn nuôi, với cơ cấu nông- lâm- ngư nghiệp Do vậy khi nghiên cứu phát triển nông nghiệp huyện huyện Lệ Thủy phái xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển nông nghiệp của huyện và xem xét mối tương quan, sự tác động đối với sự phát triển nông nghiệp của tỉnh

5.1.2 Quan điểm lãnh thổ

Nông nghiệp Lệ Thủy được xem như một thể tổng hợp sản xuất lãnh thổ tương đối hoàn chỉnh Trong đó các yếu tố tự nhiên, KT- XH có mối quan hệ chặt chẽ, tác động và ảnh hưởng qua lại với nhau tạo những thế mạnh riêng cho từng vùng Các nhân tố đó tác động đến sự phát triển nông nghiệp của huyện Trên cơ sở phân tích các yếu tố tác động đến sự phát triển nông nghiệp tỉnh, đưa ra những định hướng, giải pháp

để khai thác các lợi thế của huyện và từng vùng trong huyện nhằm thúc đẩy nhanh phát triển nông nghiệp của huyện trong giai đoạn 2000- 2010

5.1.3 Quan điểm lịch sử, viễn cảnh

Quá trình phát triển nông nghiệp nói riêng và kinh tế nói chung có sự biến chuyển theo không gian và thời gian Khi nghiên cứu thực trạng phát triển nông nghiệp huyện

Lệ Thủy cần quán triệt quan điểm lịch sử viễn cảnh để thấy được quá trình hình thành, phát triển nông nghiệp Từ đó xác định đúng đắn sự phát triển nông nghiệp Lệ Thủy trong hiện tại và định hướng phát triển nông nghiệp trong tương lai

5.1.4 Quan điểm tổng hợp

Sự phát triển nông nghiệp chịu sự tác động tổng hợp các nhân tố tự nhiên,

KT-XH Các nhân tố này có mối quan hệ chặt chẽ, tác động và chi phối lẫn nhau Chính vì vậy trong sản xuất nông nghiệp Lệ Thủy, cần phân tích, đánh giá các nhân tố có ảnh hưởng đến sự phát triển có tính tổng hợp nhằm khai thác tốt những tiềm năng của địa phương

5.1.5 Quan điểm sinh thái bền vững

Sinh vật tồn tại và phát triển phụ thuộc vào điều kiện sinh thái nhất định Tuy nhiên sự phát triển của sinh vật có giới hạn, nếu đến một ngưỡng nào đó, cơ thể sinh vật thích nghi thì sẽ tiếp tục phát triển về số lượng và chất lượng Ngược lại nếu các chỉ tiêu sinh học thay đổi quá mức, cơ thể sinh vật không thể thích nghi do đó sẽ bị suy giảm năng suất, chất lượng hoặc sinh vật không thể tồn tại Vì vậy, trong sản xuất nông nghiệp cần bảo tồn độ phì nhiêu của tài nguyên đất, bảo vệ chất lượng nước và giữ gìn

sự phong phú các nguồn gen; đồng thời cần có kĩ thuật canh tác hợp lí, hạn chế đến mức thấp nhất sự suy thoái môi trường; mang lại hiệu quả cao về mặt KT- XH và môi trường

Trang 6

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp và xử lí tài liệu

Các tài liệu thu thập, khái quát được từ các nguồn: Phòng NN&PTNT huyện Lệ Thủy, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Lệ Thủy, Niên giám thống kê (từ năm

2000 đến năm 2010 ) và các tài liệu liên quan đến các kiến thức về nông nghiệp, địa lý

tự nhiên và địa lý kinh tế -xã hội Từ trong sách, báo, mạng Internet… Trên cơ sở tiến hành thu thập, tham khảo các tài liệu có liên quan, từ đó phân tích có chọn lọc, tổng hợp bổ sung và hệ thống hóa các tài liệu đó phục vụ cho nội dung nghiên cứu của khóa luận

5.2.2 Phương pháp thực địa

Bất kỳ một đề tài nghiên cứu khoa học nào cũng cần có phương pháp này, nhằm tránh sự chủ quan, áp đặt, không sát thực, tạo khả năng vận dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, điều tra, nghiên cứu tình hình phát triển nông nghiệp huyện Lệ Thủy giai đoạn 2000- 2010 Từ đó bổ sung những thông tin cần thiết trong quá trình nghiên

5.2.4 Phương pháp chuyên gia

Tìm hiểu, phỏng vấn, trao đổi, thảo luận và tiếp thu ý kiến của các chuyên gia phòng nông nghiệp, phòng tài nguyên và môi trường huyện Lệ Thủy

6 Những đóng góp chính của khóa luận

Đề tài có những đóng góp chủ yếu sau:

- Đúc kết cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp

- Phân tích và đánh giá tiềm năng và hiện trạng phát triển nông nghiệp huyện Lệ Thủy

- Đề xuất các định hướng và giải pháp phát triển nông nghiệp huyện Lệ Thủy đến năm 2020

Những kết quả đạt được của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan, ban ngành chức năng của huyện về lĩnh vực nông nghiệp cũng như làm tài liệu giảng dạy địa lí địa phương

Trang 7

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, các bảng phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận được chia làm 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn phát triển nông nghiệp

Chương 2: Tình hình phát triển nông nghiệp huyện Lệ Thủy giai đoạn 2000 – 2010 Chương 3: Định hướng và các giải pháp phát triển nông nghiệp huyện Lệ Thủy đến năm 2020

Trang 8

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN NÔNG

NGHIỆP 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Vai trò của nông nghiệp

Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là sự hợp thành của trồng trọt và chăn nuôi, còn theo nghĩa rộng bao gồm hệ thống nông – lâm- ngư nghiệp Tựu chung lại trong toàn bộ nền kinh tế có thể được chia thành ba khu vực trong đó khu vưc I bao gồm nông- lâm- ngư nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất xuất hiện từ rất sớm Sự xuất hiện và phát triển của xã hội loài người luôn gắn liền với nông nghiệp Từ khi ra đời cho đến nay, nông nghiệp luôn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế nói chung và đảm bảo sự sinh tồn của loài người nói riêng Ănggen đã khẳng định: nông nghiệp là ngành có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ thế giới cổ đại và hiện nay nông nghiệp lại càng có ý nghĩa như thế Vai trò của nông nghiệp được thể hiện ở các điểm sau:

a Nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu cơ bản của con người

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất xuất hiện sớm nhất của xã hội loài người Sản phẩm quan trọng hàng đầu mà con người làm ra để nuôi sống mình là lương thực Cách đây khoảng một vạn năm, con người đã biết thuần dưỡng động vật hoang dã, trồng các loại cây rừng và biến chúng thành cây trồng, vật nuôi Sự ổn định bước đầu của dân số thế giới là từ khi loài người biết trồng trọt và tạo được cơ sở lương thực – thực phẩm Với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, nông nghiệp ngày càng được mở rộng, các giống cây trồng, vật nuôi ngày càng phong phú, đa dạng Các Mác đã khẳng định: con người trước hết phải có ăn rồi sau đó mới nói đến các hoạt động khác Ông

đã chỉ rõ: Nông nghiệp là ngành cung cấp tư liệu sinh hoạt cho con người… và việc sản xuất ra tư liệu sinh hoạt là điều kiện đầu tiên cho sự sống của họ trong mọi lĩnh vực sản xuất nói chung Điều này khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của nông nghiệp trong việc nâng cao mức sống dân cư, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia cũng như sự ổn định chính trị - xã hội của đất nước

b Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc cung cấp yếu tố đầu vào cho công nghiệp và khu vực đô thị

Nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp ở các nước đang phát triển là khu vực dự trữ và cung cấp lao động cho phát triển công nghiệp và đô thị Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, phần lớn dân cư sống bằng nông nghiệp và tập trung sống ở khu vực nông thôn Vì thế khu vực nông nghiệp, nông thôn thực sự là nguồn dự trữ nhân lực dồi dào cho sự phát triển công nghiệp và đô thị Quá trình công nghiệp hóa và đô thị

Trang 9

hóa, một mặt tạo ra nhu cầu lớn về lao động mặt khác từ đó mà năng suất lao động nông nghiệp không ngừng tăng lên Lực lượng lao động từ lao động được giải phóng

ngày càng nhiều lên, số lao động này dịch chuyển, bổ sung cho phát triển công nghiệp

và đô thị Đó là xu hướng có tính quy luật của mọi quốc gia trong quá trình CNH – HĐH đất nước

Nông nghiệp là nguồn cung cấp nguyên liệu quan trọng cho các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, đồ uống, công nghiệp dệt da và đồ tiêu dùng bằng da… đều sử dụng nguyên liệu từ ngành nông nghiệp Hơn nữa, thông qua công nghiệp chế biến, giá trị nông sản được tăng lên và đa dạng hơn đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và quốc tế Vì thế, trong chừng mực nhất định, nông nghiệp có ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố của ngành công nghiệp chế biến

Khu vực nông nghiệp là vùng cung cấp nguồn vốn lớn nhất cho sự phát triển kinh

tế trong đó có công nghiệp, nhất là giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, bởi vì đây là khu vực lớn nhất xét cả về lao động và sản phẩm quốc dân Nguồn vốn từ nông nghiệp

có thể được tạo ra từ nhiều cách như tiết kiệm của nông dân đầu tư vào các hoạt động phi nông nghiệp, thuế nông nghiệp, ngoại tệ thu được do xuất khẩu nông sản… Trong

d Nông nghiệp là ngành cung cấp khối lượng hàng hóa lớn để xuất khẩu mang lại nguồn ngoại tệ cho đất nước

Nông sản dưới dạng thô hoặc qua chế biến là bộ phận hàng hóa xuất khẩu chủ yếu của hầu hết các nước đang phát triển Vì thế ở các nước đang phát triển nguồn xuất khẩu để có ngoại tệ chủ yếu dựa và các loại nông - lâm - thủy sản Xu hướng chung ở các nước trong quá trình công nghiệp hóa ở giai đoạn đầu giá trị nông - lâm - thủy sản chiếm tỉ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu và tỉ trọng đó sẽ giảm dần cùng với

sự phát triển cao của kinh tế nhưng về giá trị tuyệt đối thì vẫn tăng lên Vì vậy trong thời kì đầu của công nghiệp hóa ở nhiều nước, nông nghiệp trở thành ngành xuất khẩu chủ yếu tạo ra sự tích lũy để tái sản xuất và phát triển kinh tế quốc dân

Trang 10

e Nông nghiệp tham gia trực tiếp vào việc giữ gìn, cần bằng sinh thái bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường

Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự phát triển bền vững của môi trường Quá trình phát triển nông nghiệp gắn liền với việc sử dụng thường xuyên đất đai, nguồn nước, hóa chất…Nông nghiệp sử dụng nhiều hóa chất như phân bón hóa học, thuốc trừ sâu bệnh sẽ làm ô nhiễm nguồn đất và nước trong quá trình canh tác dễ gây ra xói mòn ở các triền dốc thuộc vùng đồi núi và khai hoang mở rộng diện tích đất rừng Mặt khác việc trồng rừng và bảo vệ rừng, luân canh cây trồng, phủ xanh đất trống đồi trọc…Tất cả đều ảnh hưởng to lớn đến môi trường Chính việc bảo

vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái còn là điều kiện để sản xuất nông nghiệp có thể phát triển đạt hiệu quả cao Vì thế, trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, cần tìm lại những giải pháp thích hợp để duy trì và tạo ra sự phát triển bền vững của môi trường

Tóm lại, nền kinh tế thị trường, vai trò của nông nghiệp trong sự phát triển bao gồm hai loại đóng góp: thứ nhất đóng góp về thị trường trong và ngoài nước, sản phẩm tiêu dùng cho các khu vực khác Thứ hai đó là sự đóng góp về nhân tố diễn ra khi có sự chuyển dịch các nguồn lực ( lao động, vốn…) từ nông nghiệp chuyển sang khu vực khác

Tại các nước đang phát triển như nước ta, nông nghiệp là ngành có liên quan trực tiếp đến việc làm, thu nhập và đời sống của đại đa số dân cư Vì vậy nông nghiệp có tầm quan trọng hàng đầu đối với sự ổn định kinh tế và chính trị - xã hội

1.1.2 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp

Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội Sản xuất nông nghiệp có nững đặc điểm riêng mà các ngành sản xuất khác không thể có

a Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt

Trong nông nghiệp, đất đai trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất như là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế Thường thì không thể có sản xuất nông nghiệp nếu không có đất đai Quy mô sản xuất, trình độ phát triển, mức độ thâm canh Phương hướng sản xuất và cả việc tổ chức lãnh thổ nông nghiệp lệ thuộc nhiều vào số lượng và chất lượng của đất đai (thổ nhưỡng) Trong quá trình sử dụng, đất đai

ít bị hao mòn, bị hỏng đi như các tư liệu sản xuất khác Nếu con người biết sử dụng hợp lí, biết duy trì và nâng cao độ phì trong đất, thì sẽ sử dụng được lâu dài và tốt hơn

b Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là các sinh vật, cơ thể sống

Đối tượng sản xuất trong nông nghiệp đó là các cây trồng vật nuôi, nghĩa là các

cơ thể sống Cây trồng, vật nuôi sinh trưởng và phát triển theo các quy luật sinh học và đồng thời cũng chịu tác động rất nhiều quy luật tự nhiên (điều kiện ngoại cảnh như thời

Trang 11

tiết, khí hậu, môi trường) Quá trình phát triển của sinh vật tuân theo các quy luật sinh học không thể đảo ngược

Các quy luật sinh học và điều kiện ngoại cảnh tồn tại độc lập với ý muốn chủ quan của con người Vì vậy nhận thức và tác động phù hợp với quy luật sinh học và quy luật tự nhiên là một yêu cầu quan trọng nhất của bất cứ một quá trình sản xuất nào

c Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ

Tính thời vụ là nét đặc thù điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là ngành trồng trọt, bởi vì một mặt, thời gian lao động không trùng với thời gian sản xuất của các loại cây trồng và mặt khác, do sự biến đổi của thời tiết, khí hậu, mỗi loại cây trồng có sự thích ứng khác nhau

Thời gian lao động là khoảng thời gian mà lao động có tác động trực tiếp tới việc hình thành sản phẩm Còn thời gian sản xuất được coi là thời gian sản phẩm đang trong quá trình sản xuất

Quá trình sinh học của cây trồng, vật nuôi diễn ra thông qua hàng loạt các giai đoạn kế tiếp nhau: giai đoạn này là sự tiếp tục của giai đoạn trước và tạo tiền đề cần thiết cho giai đoạn sau Vì vậy, sự tác động của con người vào các giai đoạn sinh trưởng của chúng hoàn toàn không phải như nhau

Tính thời vụ thể hiện không những ở nhu cầu về đầu vào như lao động, vật tư, phân bón, mà còn ở cả khâu thu hoạch, chế biến, dự trữ và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường

Chu kì sản xuất các loại sản phẩm nông nghiệp tương đối dài và không giống nhau Trong nông nghiệp, thời gian sản xuất bao giờ cũng dài hơn thời gian lao động cần thiết để tạo ra sản phẩm đó, kể cả sản phẩm trồng trọt và sản phẩm chăn nuôi

Sự không phù hợp giữa thời gian lao động và thời gian sản xuất là nguyên nhân nảy sinh tính mùa vụ Thời gian nông nhàn và thời gian bận rộn thường xen kẽ nhau

d Nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên

Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, nhất là đất đai và khí hậu Đặc điểm này bắt nguồn từ chỗ đối tượng lao động của nông nghiệp là cây trồng vật nuôi Chúng chỉ có thể tồn tại và phát triển được khi có đủ năm yếu tố cơ bản của tự nhiên là nhiệt độ, nước, ánh sáng, không khí và chất dinh dưỡng, trong đó yếu tố này không thể thay thế yếu tố kia Các yếu tố trên kết hợp và cùng tác động với nhau và dĩ nhiên, điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới nông nghiệp

Do những đặc điểm trên, sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên không gian rộng lớn, liên quan tới khí hậu, thời tiết, đất đai của từng vùng cụ thể

1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển và phân bố nông nghiệp

Trang 12

a Vị trí địa lí kết hợp cùng khí hậu, thổ nhưỡng quy định sự có mặt của các hoạt động nông nghiệp

Vị trí địa lí của lãnh thổ cùng với đất liền,với biển, với các quốc gia trong khu vực và nằm trong một đới tự nhiên nhất định sẽ có ảnh hưởng tới phương hướng sản xuất, tới việc thay đổi và phân công lao động trong nông nghiệp

b Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên là tiền đề cơ bản để phát triển và phân bố nông nghiệp

- Đất đai

Đất trồng là tư liệu sản xuất chủ yếu, là cơ sở để tiến hành trồng trọt và chăn nuôi Không thể có sản xuất nông nghiệp nếu không có đất đai Quỹ đất, cơ cấu sử dụng đất, các loại đất, độ phì của đất có ảnh hưởng rất lớn đến quy mô và phương hướng sản xuất, cơ cấu và sự phân bố cây trồng, vật nuôi, mức độ thâm canh và năng suất cây trồng Đất đai không chỉ là môi trường sống mà là nơi cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây trồng ( các chất khoáng trong đất như N, P, K, Ca, Mg… và các nguyên tố vi lượng)

Kinh nghiệm dân gian đã chỉ rõ vai trò của đất đối với việc phát triển nông nghiêp như đất nào, cây ấy, tấc đất, tấc vàng

- Khí hậu

Khí hậu với các yếu tố nhiệt độ, lượng mưa, ánh sáng, độ ẩm, chế độ gió và cả những bất thường của thời tiết như bão, lũ lụt, hạn hán, gió nóng… có ảnh hưởng rất lớn đến việc xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ, khả năng xen canh, tăng vụ và hiệu quả sản xuất nông nghiệp Tính mùa vụ trong khí hậu quy định tính mùa vụ trong sản xuất và cả trong tiêu thụ sản phẩm

Những vùng dồi dào về nhiệt, ẩm và lượng mưa, về thời gian chiếu sáng và cường

độ bức xạ có thể cho phép trồng nhiều vụ trong năm với cơ cấu cây trồng, vật nuôi phong phú, đa dạng, có khả năng xen canh gối vụ, chẳng hạn như vùng nhiệt đới Còn như vùng ôn đới, với một mùa đông tuyết phủ nên có ít vụ trong năm Trên thế giới, sự hình thành năm đới trồng trọt chính (đới nhiệt đới, đới cận nhiệt, đới ôn hòa có mùa hè mát và ẩm và đới cận cực) phụ thuộc rõ nét vào sự phân đới khí hậu

- Nguồn nước

Muốn duy trì hoạt động nông nghiệp cần phải có đầy đủ nguồn nước ngọt cho cây trồng, nước uống, nước tắm rửa cho gia súc Nước đối với sản xuất nông nghiệp là rất cần thiết như ông cha ta đã khẳng định “Nhất nước, nhì phân”

Nước có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi và hiệu quả sản xuất nông nghiệp Những nơi có nguồn cung cấp nước dồi dào, thường xuyên đều là những vùng nông nghiệp trù phú, chẳng hạn như vùng hạ lưu các con sông lớn

Trang 13

như Mê Công, Hoàng Hà… Ngược lại nông nghiệp không thể phát triển được ở những nơi khan hiếm nước như các vùng hoang mạc, bán hoang mạc…

Sự suy giảm nguồn nước ngọt là một nguy cơ đe dọa sự tồn tại và phát triển của nền nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung Vì vậy, chúng ta cần phải sử dụng hợp lí, tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước

- Sinh vật

Sinh vật trong tự nhiên xưa kia là cơ sở để thuần dưỡng, tạo nên các giống cây trồng, vật nuôi Sự đa dạng về thảm thực vật và hệ động vật, hay nói cách khác về loài cây, con là tiền đề để hình thành và phát triển các giống vật nuôi, cây trồng và tạo khả năng chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp phù hợp với điều kiện tự nhiên và sinh thái

Các diện tích đồng cỏ, bãi chăn thả và diện tích mặt nước tự nhiên là cơ sở thức

ăn tự nhiên để phát triển ngành chăn nuôi Ngày nay, mặc dù ngành chăn nuôi đã được đẩy mạnh nhờ ứng dụng phương pháp chăn nuôi công nghiệp dựa trên nguồn thức ăn được chế biến theo phương pháp công nghiệp, nhưng nguồn thức ăn tự nhiên vẫn còn vai trò quan trọng

c Các nhân tố kinh tế - xã hội có ảnh hưởng quyết định tới sự phát triển và phân

+ Dưới góc độ là nguồn tiêu thụ, cần quan tâm đến truyền thống, tập quán ăn

uống, quy mô dân số với khả năng sản xuất lương thực, thực phẩm

- Khoa học – công nghệ

Đã thực sự trở thành đòn bẩy thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp Nhờ nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ kĩ thuật, con người hạn chế được những ảnh hưởng của tự nhiên, chủ động hơn trong hoạt động nông nghiệp, tạo ra nhiều giống cây, con mới cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao, tạo điều kiện hình thành các vùng chuyên canh, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa

Trang 14

Các biện pháp kĩ thuật như là điện khí hóa, cơ giới hóa, thủy lợi hóa, hóa học hóa, sinh học hóa nếu được áp dụng rộng rãi thì năng suất trên một đơn vị diện tích và của một người lao động sẽ thật sự được nâng cao

- Quan hệ sở hữu và chính sách nông nghiệp

Có ảnh hưởng rất lớn tới con đường phát triển và các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp Chính sách khoán 10 ở Việt Nam từ năm 1988 là một thí dụ sinh động

Hộ nông dân được coi là một đơn vị kinh tế tự chủ, được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài để phát triển sản xuất, được tự do trao đổi hàng hóa, mua bán vật tư Kinh tế

hộ nông dân đã tạo đà cho việc khai thác mọi tiềm năng sẵn có, sản xuất nông nghiệp nước ta có sự tăng lên rõ rệt Có thể nói chính sách khoán đã tạo động lực cho tăng trưởng nông nghiệp trong những năm 90 của thể kỉ XX

Ngoài ra các chương trình giao đất, giao rừng cho các hộ nông dân đã thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển mạnh mẽ

- Nguồn vốn và thị trường tiêu thụ: có tác động mạnh đến sản xuất nông nghiệp

và giá cả nông sản

+ Nguồn vốn có vai trò to lớn đối với quá trình phát triển và phân bố nông nghiệp,

nhất là các nước đang phát triển như Việt Nam Nguồn vốn tăng nhanh, được phân bố

và sử dụng một cách có hiệu quả sẽ có tác động đến tăng trưởng và mở rộng sản xuất, đáp ứng các chương trình phát triển nông nghiệp

+ Sự phát triển của thị trường trong và ngoài nước không chỉ thúc đẩy sự phát

triển nông nghiệp và giá cả nông sản mà còn có tác dụng điều tiết đối với sự hình thành

và phát triển các vùng nông nghiệp chuyên môn hóa

Ngoài các nhân tố kể trên còn có nhiều nhân tố khác nữa như cơ sở hạ tầng và cơ

sở vật chất kĩ thuật phục vụ nông nghiệp…Tất cả đã tạo thành một hệ thống cùng thúc đẩy sự phát triển của ngành kinh tế quan trọng này

1.1.4 Các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp

a Xí nghiệp nông nghiệp

Xí nghiệp nông nghiệp là một trong các hình thức của TCLTNN, trong đó có sự thống nhất giữa lực lượng lao động với tư liệu lao động (đất đai) và đối tượng lao động ( cây trồng, vật nuôi) để tạo ra lượng thực, thực phẩm cho con người và nguyên liệu cho các ngành kinh tế Các nông hộ, trang trại, hợp tác xã, nông trường quốc doanh, đồn điền… được coi là xí nghiệp nông nghiệp

* Hộ gia đình

Hộ gia đình là hình thức vốn có của sản xuất nhỏ, tồn tại chủ yếu ở các nước đang phát triển thuộc Châu Á, trong đó có Việt Nam Các thành viên trong hộ gia đình có mối quan hệ gắn bó về huyết thống cũng như về kinh tế, cùng chung sống trong một

Trang 15

mái nhà, cùng tiến hành sản xuất và có chung một nguồn thu nhập Các đặc điểm cơ bản của hộ gia đình là:

+ Về đất đai, quy mô canh tác nhỏ bé, biểu hiện rõ tính chất tiểu nông

+ Về vốn, đại bộ phận rất ít, quy mô thu nhập nhỏ, khả năng tích lũy thấp và hạn chế khả năng đầu tư tái sản xuất Vật tư được mua phục vụ cho sản xuất từ tiền bán nông phẩm

+ Về lao đông, chủ yếu sử dụng lao động gia đình Sức lao động của nông hộ không phải là hàng hóa mà là tự phục vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của gia đình

+ Kĩ thuật canh tác và công cụ sản xuất ít biến đổi, mang tính truyền thống

Đối với các nước đang phát triển, hộ gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn xã hội, phát triển kinh tế nông thôn, là cơ sở để đảm bảo cho kinh tế tập thể tồn tại và thúc đẩy nông thôn quá độ tiến lên một trình độ cao hơn: nông thôn sản xuất hàng hóa

* Trang trại

Trang trại có nguồn gốc từ hộ gia đình được phát triển dần dần trong quá trình chuyển dịch của nền kinh tế tiểu nông tự cấp, tự túc sang nền kinh tế hàng hóa Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cao hơn hộ gia đình, là sự phát triển tất yếu của nền nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa Hoạt động của kinh tế trang trại chịu sự chi phối của nền kinh tế thị trường và tuân theo quy luật cung cầu, chấp nhận cạnh tranh Các đặc điểm nổi bật của kinh tế trang rại bao gồm:

+ Mục đích chủ yếu của trang trại là sản xuất nông phẩm hàng hóa theo nhu cầu của thị trường Đây là bước tiến bộ từ kinh tế hộ tự cấp tự túc lên các hộ nông nghiệp hàng hóa

+ Tư liệu sản xuất (đất đai) thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập

+ Quy mô đất đai tương đối lớn, tuy có sự khác nhau giữa các nước Ví dụ, quy

mô trung bình của trang trại ở Hoa Kì là 180 ha, ở Anh là 71ha, Pháp là 29 ha, Nhật Bản 1,38 ha, Việt Nam 6,3 ha

+ Cách thức tổ chức sản xuất tiến bộ, đẩy mạnh chuyên môn hóa (chứ không sản xuất đa canh), tập trung vào những nông sản có lợi thế so sánh và khả năng sinh lợi cao hơn và vào việc thâm canh (đầu tư tương đối lớn về vốn, công nghệ, lao động…trên một đơn vị diện tích)

+ Các trang trại đều có thuê mướn lao động (lao động thường xuyên và lao động thời vụ)

* HTX nông nghiệp

Trang 16

HTX nông nghiệp là hình thức phổ biến trong nền kinh tế thế giới ở cả các nước phát triển và đang phát triển, tuy tên gọi có thể khác nhau như hợp tác xã, nông trại tập thể, công xã nhân dân…

HTX nông nghiệp là một tổ chức kinh tế do nông dân tự nguyện lập ra với nguồn vốn hoạt động do chính họ góp cổ phần và huy động từ các nguồn khác nhằm duy trì, phát triển kinh tế hộ gia đình và tăng nhanh tỉ suất hàng hóa, đạt hiệu quả cao cho các chủ trang trại HTX nông nghiệp là nhu cầu tất yếu của nông dân vì trong cơ chế thị trường nhiều thành phần, có cạnh tranh để tồn tại và phát triển đòi hỏi các hộ gia đình, các chủ trang trại phải hợp tác với nhau trên các lĩnh vực cần thiết để đấu tranh bảo vệ lợi ích của chính mình Khi kinh tế hộ và trang trại càng phát triển thì nhu cầu hợp tác càng cao

* Nông trường quốc doanh

Như một hình thức phổ biến ở các nước XHCN, nông trường quốc doanh là cơ sở kinh doanh nông nghiệp trên quy mô lớn về đất đai nhằm cung cấp nông sản cho thị trường trong nước hoặc cho xuất khẩu NTQD có những đặc điểm sau đây:

+ Là xí nghiệp nông nghiệp của nhà nước, thuộc thành phần kinh tế quốc doanh + Quy mô đất đai lớn (tới vài trăm nghìn ha), được trang bị cơ sở vật chất kĩ thuật tốt, có hướng chuyên môn hóa rõ, khả năng có giới hóa cao

+ Mỗi nông trường có một bộ máy riêng về cơ chế quản lí và điều hành sản xuất, kinh doanh Lao động làm việc trong nông trường được gọi công nhân nông nghiệp, hưởng lương cho nhà nước trả

+ Nông phẩm hàng hóa do TTHNN sản xuất ra được quy định bởi vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội, các mối liên hệ qua lại giữa các xí nghiệp nông nghiệp với các xí nghiệp chế biến nông sản

+ Hạt nhân của TTHNN là các xí nghiệp nông – công nghiệp và chúng thường được phân bố gần nhau về mặt lãnh thổ nhằm đạt hiệu quả cao nhất

Trang 17

TTHNN không phải được hình thành một cách tự phát Điều kiện bắt buộc với mọi TTHNN là sự có mặt của các xí nghiệp có liên quan chặt chẽ với nhau, quy định lẫn nhau và là cơ sở chuyên môn hóa của thể tổng hợp

Vùng nông nghiệp là một bộ phận lãnh thổ của đất nước bao gồm những lãnh thổ

có sự tương đồng về:

+ Điều kiện sinh thái nông nghiệp (điều kiện khí hậu, đất đai, nguồn nước…) + Điều kiện kinh tế - xã hội (số lượng, chất lượng và sự phân bố dân cư, lao động nông nghiệp, kinh nghiệm và truyền thống sản xuất)

+ Trình độ thâm canh, cơ sở vật chất kĩ thuật nông nghiệp, chế độ canh tác

+ Cơ cấu sản xuất nông nghiệp, các sản phẩm chuyên môn hóa

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Thực tiễn phát triển nông nghiệp Việt Nam

a Những thành tựu nổi bật

* Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản ổn định ở mức tăng trưởng khá

Nền nông nghiệp nước ta vẫn đạt được sự tăng trưởng khá ổn định trong quá trình CNH – HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế GTSX nông, lâm nghiệp và thủy sản năm

2009 tăng 4,0%, trong đó nông nghiệp tăng 2,8 lần, lâm nghiệp tăng 3,8 lần và thủy sản tăng 7,1% so với năm 2000

Tổng sản phẩm trong nước của nông nghiệp từ sau đổi mới đến nay tăng liên tục trong khi tỉ trọng của nó trong tổng GDP toàn bộ nền kinh tế lại liên tục giảm Đó là sự chuyển dịch hợp quy luật theo hướng hiện đại hóa nền kinh tế

Trang 18

Bảng 1.1: Tổng sản phẩm ngành nông nghiệp và tỉ trọng của ngành nông nghiệp

trong GDP của Việt Nam giai đoạn 2000-2009 (giá thực tế)

Năm Nghìn tỉ đồng % trong tổng

GDP

Tốc độ tăng trưởng GDP (%) Toàn bộ

nền kinh tế Nông nghiệp

24,5 21,0 20,3 20,9 20,2

6,8 8,4 8,5 5,3 5,89

4,6 4,0 3,8 1,9 4,0

(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam năm 2000, 2010)

Trong từng ngành lại có những bước chuyển biến đáng kể về năng suất và sản lượng Cụ thể:

- Sản xuất nông nghiệp tiếp tục tăng cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của thị trường

Trong những năm qua, nhờ sự tập trung vốn vào phát triển nông, lâm, thủy sản của nhà nước, việc áp dụng rộng rãi hơn các thành tựu khoa học công nghệ tiến bộ, đặc biệt là các giống mới; sự thay đổi phương thức sản xuất của người dân…nên ngành nông nghiệp đã đạt được những thành tựu đáng kể

Năm 2011, sản lượng lương thực có hạt cả nước đạt hơn tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2011 ước tính đạt gần 47 triệu tấn (trong đó lúa gần 42,3 triệu tấn), tăng gấp 1,5 lần so với năm 2000, là mức cao nhất từ trước tới nay Trong vòng 12 năm, từ năm 2000 – 2011, sản lượng lương thực tăng 14,5 triệu tấn, nhưng tốc độ tăng

đã chậm lại, chỉ khoảng 2,8%/ năm Sản xuất rau màu, cây ăn quả, cây công nghiệp tiếp tục phát triển và tăng trưởng khá Một số cây trồng tỏ rõ lợi thế cạnh tranh là: lúa gạo, cà phê, cao su, tiêu và điều Trong đó lợi thế cạnh tranh do giá thành thấp là tiêu

và điều, do năng suất và chất lượng khá là gạo, cà phê và cao su

- Chăn nuôi phát triển toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa

Từ năm 2000 đến nay, ngành chăn nuôi đạt tốc độ tăng trưởng khá, phát triển toàn diện cả về gia súc, gia cầm GTSX chăn nuôi năm 2009 tăng 10,5% Đàn lợn năm

2011 đạt trên 27,1 triệu con với sản lượng thịt hơi xuất chuồng trên 4 triệu tấn, tăng gấp 1,4 lần so với năm 2000 Chăn nuôi trâu bò tăng tương đối ổn định qua các năm Yếu tố mới trong chăn nuôi trâu bò xuất hiện và phát triển nhanh là nuôi bò lấy sữa với 1,4 triệu con Năm 2011, đàn bò cả nước đạt 5,4 triệu con, đàn trâu 2,7 triệu con Chăn nuôi gia cầm tăng trưởng khá, mô hình chăn nuôi gia cầm theo hướng gia trại và trang trại tại các địa phương ngày càng phát triển nên đàn gia cầm có 322,6 triệu con Về cơ

Trang 19

bản, ngành chăn nuôi nước ta đã đáp ứng được nhu cầu tiêu dung trong nước và một phần xuất khẩu

- Ngành lâm nghiệp phát triển và đạt được một số thành tựu

Tốc độ tăng trưởng ngành lâm nghiệp trong những năm qua còn khiêm tốn, năm cao nhất đạt 4,9% (năm 2000) Năm 2011, GTSX ngành lâm nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng 3,8% Mức độ che phủ rừng tăng từ 27,7% năm 1990 lên 33,2% năm 2000 và năm 2011 là 42,1% Diện tích rừng trồng được chăm sóc năm 2011 đạt 547 nghìn ha, tăng 3,7% so với năm 2010; diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh 942 nghìn ha, số cây lâm nghiệp trồng phân tán 169 triệu cây Ngoài ra, các khâu khoanh nuôi Tái Sinh, khoán quản lí bảo vệ rừng theo phương thức “giao đất khoán rừng” đến từng hộ nông dân đều đạt chỉ tiêu đề ra Thành tựu đáng ghi nhận trong việc khai thác và chế biến lâm sản là tỉ lệ gỗ khai thác từ rừng trồng đã tăng lên đáng kể, năm 2011, sản lượng gỗ khai thác đạt 4,7 triệu m3.

- Ngành thủy sản đang vươn lên trở thành ngành mũi nhọn trong nông - lâm – thủy sản

Đến năm 2011, sản lượng thủy sản cả nước đạt gần 5.4 triệu tấn, trong đó sản lượng thuỷ sản khai thác đạt 2,5 triệu tấn, tăng 2,2 lần với năm 2000 Thành tựu đáng chú ý nhất là diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng trưởng ở mức cao So với năm 2000, diện tích nuôi trồng tăng 1,5 lần và sản lượng tăng gần 4,4 lần Năm 2011,diện tích nuôi cá đạt 367,7 nghìn ha, diện tích nuôi tôm đạt 626,8 nghìn ha Mặc

dù diện tích thả nuôi giảm nhưng sản lượng thủy sản nuôi trồng năm nay vẫn đạt 2930,4 nghìn tấn, tăng 7,4% so với năm 2010 Trong quá trình phát triển, các hoạt động khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản đã gắn kết chặt chẽ Các khâu trọng yếu về hạ tầng, kĩ thuật phục vụ nuôi trồng đều đã được chú trọng đầu tư Hiện nay cả nước có trên 2000 nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh, nhiều cơ sở chế biến đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, đáp ứng yêu cầu chất lượng cao của một số thị trường khó tính như EU, Hoa Kì…Sản xuất thủy sản không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dung trong nước, mà còn tăng số lượng xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả năm ước đạt 4,3 tỉ USD, mức cao nhất từ trước đến nay

* Cơ cấu ngành nông – lâm - ngư nghiệp có sự chuyển dịch

Cơ cấu GTSX ngành nông-lâm-ngư nghiệp chuyển dịch theo hướng giảm tỉ trọng của ngành nông nghiệp và lâm nghiệp, tăng tỉ trọng của ngành ngư nghiệp Giai đoạn 2000-2011, nông nghiệp giảm từ 79% xuống 75,6%, lâm nghiệp giảm từ 4,7% xuống còn 2,8% Riêng ngành ngư nghiệp tỉ trọng tăng từ 16,3% lên 21,6%

Trong nội bộ ngành nông nghiệp giảm dần tỉ trọng ngành trồng trọt, tăng tỉ trọng ngành chăn nuôi Năm 2000 trồng trọt chiếm tới 78,2%, chăn nuôi là 19,3% nhưng đến năm 2011 tỉ lệ này là 69,4% và 30,6%

Trang 20

* Sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo lãnh thổ

Đó là sự hình thành các vùng chuyên môn hóa trong sản xuất nông nghiệp Cho đến nay, ngành nông nghiệp nước ta đã hình thành những vùng chuyên môn hóa rõ rệt phù hợp với hướng sản xuất hàng hóa, tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu trong và ngoài nước

Trong sản xuất lương thực, thực phẩm: Hình thành hai vùng chuyên canh lớn là Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng trọng điểm sản xuất lương thực, thực phẩm số

1 của cả nước, chiếm tới 70% sản lượng và 90% lượng lương thực, thực phẩm xuất khẩu Riêng về cây lúa chiếm tới 51% diện tích và 50% sản lượng lúa toàn quốc Thế mạnh chính của vùng là cây lương thực (đặc biệt là lúa) và chăn nuôi gia cầm

Đồng bằng sông Hồng là vùng trọng điểm số hai về sản xuất lương thực, thực phẩm với 14,2% diện tích và 18,0% sản lượng lúa của cả nước Thế mạnh chính của vùng là cây lúa, rau màu, chăn nuôi lợn và gia cầm

Cây công nghiệp: đã hình thành 3 vùng chuyên canh cây công nghiệp lớn là Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Trung du miền núi phía Bắc Trong đó Đông Nam Bộ là vùng chuyên canh cây công nghiệp lớn nhất với những điều kiện thuận lợi về tự nhiên, kinh tế xã hội, các sản phẩm cây công nghiệp chính như cao su, cà phê, điều Tây Nguyên là vùng chuyên canh cây công nghiệp thứ hai với sản phẩm đặc trưng là cà phê, cao su, hồ tiêu, chè, dâu tằm Ở Trung du miền núi phía Bắc, trên địa hình núi và cao nguyên, hình thành những đồi chè, những nông trường trồng lạc và thuốc lá, ngoài

ra vùng còn có thế mạnh về dược liệu

b Những tồn tại chủ yếu

Trong những năm qua cơ cấu kinh tế nông nghiệp còn chuyển dịch chậm chạp Tốc độ giảm tỉ trọng nông, lâm, thủy sản ttrong GDP đã chậm lại Giai đoạn 1990 –

2000 giảm 1,4% / năm nhưng giai đoạn 2001 – 2011 chỉ giảm 0,4%/năm

- Cơ cấu sản xuất nông nghiệp vẫn thể hiện tính độc canh, tự túc, phân tán và quy

mô nhỏ, tính bền vững chưa cao: trong sản xuất, xu hướng tự phát chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi còn phổ biến Chăn nuôi chiếm tỉ trọng thấp và không ổn định Phương thức chăn nuôi phân tán dưới hình thức hộ gia đình với kĩ thuật thủ công và chăn nuôi tận dụng là phổ biến Số trang trại chăn nuôi tuy có tăng lên song chỉ chiếm dưới 5% số trang trại trong cả nước và sản phẩm chăn nuôi của trang trại cũng chỉ chiếm dưới 10% tổng sản phẩm của chăn nuôi Thị trường tiêu thụ, xuất khẩu, nhất là xuất khẩu còn gặp nhiều khó khăn do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu Cơ

Trang 21

cấu nông sản xuất khẩu của nước ta còn đơn điệu và chất lượng chưa cao khó cạnh tranh

- Dân số và lực lượng lao động hoạt động trong nông nghiệp khá cao, chưa có dấu hiệu giảm do tình trạng thất nghiệp và tốc độ chuyển dịch cơ cấu chậm

- Năng lực cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam còn thấp, giá thành nông sản cao Giá bán nông sản tuy đã cải thiện tuy nhiên vẫn thấp hơn giá bán nông sản cùng loại của nước khác Nguyên nhân là do chất lượng nông sản của ta thấp hơn và chưa nắm bắt thị trường, thói quen buôn bán nhỏ lẻ…

- Mặc dù đã có sự quan tâm phát triển các vùng còn khó khăn nhưng do điều kiện

và khả năng phát triển của các vùng còn tương đối khác nhau, nên trình độ phát triển,

cơ sở hạ tầng và mức sống giữa các vùng còn có sự khác biệt lớn, chệnh lệch giàu nghèo giữa các vùng có xu hướng mở rộng

1.2.2 Khái quát về thực tiễn phát triển nông nghiệp tỉnh Quảng Bình giai đoạn

2000 – 2010

a Khái quát chung

Quảng Bình là tỉnh thuộc duyên hải Bắc Trung Bộ, nằm trải dài từ 16°55’ đến 18°05’ vĩ bắc và từ 105°37’ đến 107°00’ kinh đông Phía bắc giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía nam giáp tỉnh Quảng Trị, phía tây giáp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và có chung biên giới dài 201,87 km , phía đông giáp biển Đông Diện tích tự nhiên của Quảng Bình là 8.065,27 km² bao gồm các huyện Bố Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hóa, Minh Hóa, Quảng Ninh, Lệ Thủy và TP Đồng Hới

Trong thời kì đổi mới, cơ cấu kinh tế của tỉnh Quảng Bình có sự chuyển biến

theo hướng tích cực phù hợp với sự phát triển chung của đất nước đó là tăng tỉ trọng của ngành công nghiệp - xây dựng và ngành dịch vụ, giảm tỉ trọng của ngành nông nghiệp Song giá trị của ngành nông nghiệp vẫn không ngừng tăng lên và chiếm 21,1% trong cơ cấu kinh tế của tỉnh năm 2011 Diện tích đất đã sử dụng toàn tỉnh là 596,08 nghìn ha chiếm 74 % diện tích tự nhiên, đất chưa sử dụng 209,1 nghìn ha chiếm 26% diện tích đất tự nhiên.Trong đó, đất dùng cho nông nghiệp là 11,1%, sử dụng vào lâm nghiệp là 84,3%, đất chuyên

dùng là 4,6%

Giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh không ngừng tăng lên Giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh đạt 989,6 tỉ đồng tăng lên 1.615,7 tỉ đồng năm 2005 và đến năm 2010 đạt 4.564,6 tỉ đồng

Trang 22

Bảng 1.2 Giá trị sản xuất nông - lâm – thủy sản các huyện trong tỉnh giai đoạn 2000 - 2010

Đơn vị :(Tỉ đồng)

( Nguồn tính toán theo niên giám thống kê năm 2000, năm 2011)

GTSXNN có sự chênh lệch giữa các huyện trong tỉnh Huyện dẫn đầu là huyện

Lệ thủy đạt 1.238,9 tỉ đồng, thấp nhất là huyện Minh Hóa 207,1 tỉ đồng

Cơ cấu GTSXNN của tỉnh có sự chuyển dịch rõ nét

Bảng 1.3 Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh giai đoạn 2000 – 2010

Đơn vị : (%) Năm

CTSS

Tổng cộng (Tỉ đồng)

Tỉ lệ (%)

Tổng cộng (Tỉ đồng)

Tỉ lệ (%)

( Nguồn tính toán theo niên giám thống kê tỉnh Quảng Bình năm 2011 )

Biểu đồ 1.1: cơ cấu GTSX nông – lâm – thủy sản giai đoạn 2000 – 2010

Trang 23

Sự chuyển dịch này đang diễn ra theo hướng tăng tỉ trọng của ngành nông nghiệp,

giảm tỉ trọng của ngành lâm nghiệp và thủy sản Ngành nông nghiệp từ 85% năm 2000

tăng lên 89.4% năm 2010, ngành lâm nghiệp 12.9% năm 2000 giảm xuống còn 9.5%

năm 2010 và ngành thủy sản 2.1% năm 2000 giảm xuống còn 1.1% năm 2010

b Các ngành nông nghiệp

* Ngành nông nghiệp

- Trồng trọt:

Quảng Bình là tỉnh hẹp chiều ngang, núi ăn lan ra sát biển đồng bằng nhỏ hẹp

cũng không màu mỡ như đồng bằng sông Hồng hay đồng bằng sông Cửu Long, hằng

năm lại chịu ảnh hưởng của thiên tai gây ra không ít khó khăn cho sản xuất nông

nghiệp Tuy nhiên trong những năm qua sản xuất nông nghiệp của đã có nhiều chuyển

( Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Bình năm 2000, năm 2011 )

Diện tích trồng cây hằng năm và cây lâu năm đều tăng lên trong cả giai đoạn

Diện tích cây lâu năm vào năm 2000 là 45.165 ha đến năm 2010 là 56.218 ha Diện

tích cây lâu năm năm 2000 là 6.039 ha đến năm 2010 đã tăng lên đạt 23.200 ha, tăng

rất nhanh chóng Đồng thời GTSX cũng tăng lên nhanh

+ Cây hằng năm

Cây hằng năm khá đa dạng với các loại cây lương thực, cây lúa, cây chất bột có

củ như khoai ,sắn….các loại cây công nghiệp hằng năm

Bảng 1.5: Nhóm cây trồng và GTSX của ngành nông nghiệp năm 2010

Trang 24

Cây lương thực khác 96,8

( Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Bình năm 2011 )

+ Cây lâu năm

Cơ cấu bao gồm cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả, so với cây ăn quả thì cây công nghiệp lâu năm luôn chiếm giá trị lớn hơn

* Ngành lâm nghiệp

Quảng Bình là tỉnh tỉ lệ che phủ của rừng còn cao so với cả nước và vùng Băc Trung Bộ, độ che phủ của rừng đạt 66,6 % GTSX lâm nghiệp của tòan tỉnh năm 2010 đạt 434,3 tỉ đồng gấp 3,4 lần năm 2000

Bảng 1.6: GTSX lâm nghiệp theo giá thực tế phân theo ngành hoạt dộng giai đoạn

2000 -2010

Đơn vị : ( Tỉ đồng)

Năm Tổng số

Chia ra Trồng và nuôi

rừng

Khai thác gỗ và lâm sản

Dịch vụ và hoạt động lâm sản

( Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Bình năm 2000,2005,2011 )

Nghề trồng rừng và khai thác nguồn lợi từ rừng đang đem lại lợi ích kinh tế lớn cho người dân đặc biệt trên địa bàn huyện Lệ Thủy 79 tỉ đồng , Bố Trạch 124 tỉ đồng năm 2010, đồng thời cũng mang lại giá trị sinh thái rất lớn

Trang 25

Bảng 1.7: GTSX lâm nghiệp theo giá thực tế phân theo huyện, thành phố giai đoạn

49.170

40.727 8.443

1.471,7

1.046,2 410,5

15

GTSX và sản lượng thủy sản tăng lên không ngừng, năm 2010 sản lượng đạt 49170 tấn

tương đương với GTSX là 1.471,7 tỉ đồng Hai huyện dẫn đầu về sản lượng thủy sản là huyện Bố Trạch (16.752 tấn) và huyện Quảng Trạch (15.546 tấn ) Hai huyện có sản lượng thủy sản thấp nhất là Tuyên Hóa (335 tấn) và Minh Hóa (131 tấn) vì đây là hai

huyện miền núi trên địa bàn của tỉnh

Trang 26

CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP

HUYỆN LỆ THỦY GIAI ĐOẠN NĂM 2000 – 2010

2.1 Tiềm năng phát triển nông nghiệp của huyện Lệ Thủy

2.1.1 Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ

Lệ Thủy là một huyện nằm ở phía Nam của tỉnh Quảng Bình với tổng diện tích tự nhiên 141,1 nghìn ha Huyện có kinh độ từ 106025’Đ đến 106059’Đ, vĩ độ từ 16055’B đến 17022’B Phía Bắc giáp với huyện Quảng Ninh, phía Nam giáp với huyện Vĩnh Linh (tỉnh Quảng Trị), phía Tây giáp với CHDCND Lào và phía Đông tiếp giáp biển Đông Huyện có 2 thị trấn và 26 xã được thống kê cụ thể ở bảng sau

Bảng 2.1: Diện tích ,dân số, mật độ dân số huyện Lệ Thủy năm 2010

Địa Phương Dân số (Người ) Diện tích (Km 2 ) Mật độ dân số

Trang 27

(Nguồn : Niên giám thống kê huyện Lệ Thủy năm 2010)

Với vị trí trên huyện nằm hoàn toàn trong đới rừng chí tuyến với khí hậu nhiệt đới

ẩm đã quy định nền nông nghiệp huyện mang tính chất của nền nông nghiệp nhiệt đới với các sản phẩm đặc trưng như : lúa gạo, cây ăn quả nhiệt đới…Bên cạnh đó do nằm trong Á đới có mùa đông lạnh tạo điều kiện cho Lệ Thủy xây dựng cơ cấu cây trồng

vụ Đông đa dạng Địa thế tạo cho Lệ Thủy nhiều thuận lợi về giao thông với Lào, với tỉnh Quảng Trị thông qua tuyến Quốc lộ 1A và đường mòn Hồ Chí Minh, đồng thời cũng có những lợi thế nhất điịnh để phát huy nguồn lực, tiềm năng trong phát triển kinh tế nói chung và một nền nông nghiệp hàng hóa nói riêng

2.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

a Địa hình

Lịch sử phát triển phức tạp của địa chất kiến tạo cùng với kết quả của các quá trình ngoại sinh đã tạo nên những đặc điểm riêng của địa hình Do nằm phía Đông của dãy Trường Sơn nên địa hình hẹp và dốc dần từ Tây sang Đông Huyện Lệ Thủy là một huyện ven biển, có đồng bằng thấp trũng nằm giữa những cồn cát ven biển và vùng đồi núi phía Tây và Nam Các dạng địa hình chính của huyện là:

+ Địa hình núi cao: chiếm phần lớn diện tích của huyện, độ cao trung bình từ 600 – 700m Độ dốc từ 20 – 250, nhiều hẻm vực và có độ chia cắt tương đối mạnh, dạng địa hình này phân bố chủ yếu ở phía Tây của huyện

+ Địa hình đồi thấp thoải: gồm các dãy đồi thấp dọc đường Hồ Chí Minh nhánh Đông và các đồi cát ven quốc lộ 1A tạo thành hình chữ U bao vây vùng đồng bằng của huyện

+ Vùng đồng bằng: nằm ở hạ lưu sông Kiến Giang, với độ cao trung bình 5m uốn lượn theo mức độ thấp dần ra phía phá Hạc Hải chủ yếu ở các xã Tân Thủy, Dương Thủy, Mỹ Thủy, An Thủy, Hồng Thủy, Xuân Thủy

+ Các thung lũng : xen giữa vùng đồi núi có các thung lũng như thung lũng Cẩm Ly,Lèn Bạc khá bằng phẳng tiếp giáp với vùng đồng bằng qua xã Phú Thủy

Nhìn chung, địa hình đa dạng và tương đối bằng phẳng nhất là vùng được bồi đắp bởi phù sa sông Kiến Giang là thế mạnh để khai thác tổng hợp cả nông – lâm – ngư nghiệp với cơ cấu cây trồng vật nuôi đa dạng

b Khí hậu

Trang 28

Quảng Bình nói chung và huyện Lệ Thủy nói riêng nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa Ngoài ra khí hậu còn mang tính chất chuyển tiếp giữa miền Bắc

và miền Nam, với đặc trưng khí hậu nhiệt đới điển hình của miền Nam và khí hậu có một mùa đông lạnh của miền Bắc

Khí hậu của huyện có sự phân hóa thành 2 mùa rõ rệt: Mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10 với khí hậu nóng, kèm theo các đợt gió Tây Nam làm cho nhiệt độ có thể lên tới 400C Vào khoảng tháng 5 trên địa bàn huyện thường xảy ra các đợt lũ Tiểu Mãn trùng vào mùa thu hoạch của vụ lúa Đông – Xuân do đó ảnh hưởng lớn đến sản xuất và gây thiệt hại cho bà con nông dân Vào khoảng cuối tháng 9 đầu tháng 10 thường có các trận bão kèm theo mưa lớn gây ngập úng nhiều nơi Mùa đông từ tháng 11 đến tháng tháng 3 năm sau, mùa này huyện chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc thường kèm theo mưa lớn và gió lạnh, nhiệt độ có khi xuống dưới 15 0 C.Mùa bão của huyện thương tập trung vào các tháng 9,10,11

Nhiệt độ trung bình năm khoảng 24,60C, lượng mưa trung bình năm khoảng 2000 – 2200mm, độ ẩm trung bình năm khoảng 85%

Với đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm tạo điều kiện cho cây trồng vật nuôi sinh trưởng và phát triển quanh năm Cũng trong điều kiện nóng ẩm còn tạo điều kiện

bố trí tập đoàn cây trồng đa dạng bao gồm các loại cây nhiệt đới và phát triển cây trồng vụ đông

Biểu đồ 2.1: Nhiệt độ và lượng mưa huyện Lệ Thủy năm 2010

(Nguồn: Phòng Tài nguyên môi trường huyện Lệ Thủy )

Tuy nhiên khí hậu cũng gây ra không ít khó khăn cho hoạt động sản xuất của huyện như: gió mùa Tây Nam khô nóng gây thiếu nước cho hoạt động sản xuất đặc

Trang 29

biệt vào vụ hè thu, tình trạng hạn hán, lũ Tiểu Mãn gây thiệt hại đến sản xuất, rét đậm vào mùa đông gây ảnh hưởng tới cây trồng và vật nuôi

+ Cồn cát trắng vàng: Loại đất này có diện tích 10.452 ha chiếm 7,41 % diện tích đất

tự nhiên Nhóm đất này tập trung ở các xã ven biển như Ngư Thủy Bắc, Ngư Thủy Trung, Ngư Thủy Nam

+ Đất cát biển trung tính ít chua: Loại đất này có diện tích 5.716 ha chiếm 4,05 % diện tích tự nhiên Loại đất này có thể sử dụng để trồng các loại cây như lạc, khoai lang,

…Phân bố chủ yếu ở địa bàn các xã Hưng Thủy, Cam Thủy, Ngư Thủy Bắc, Ngư Thủy Trung, Ngư Thủy Nam…

- Đất mặn: Loại đất này có diện tích 545 ha chiếm 0,39 % diện tích tự nhiên phân bố ở vùng hạ lưu sông Kiến Giang vì vào mùa khô ít mưa vùng đất hạ lưu sông bị bốc mặn Loại đất này hiện đang được cải tạo để trồng lúa tuy nhiên năng suất không cao và không ổn định

- Đất phèn: Diện tích đất phèn ở huyện Lệ Thủy có 2.752 ha chiếm 1,95 % diện tích tự nhiên Phân bố chủ yếu ở các xã Hoa Thủy, Lộc Thủy, Hồng Thủy Ảnh hưởng của đất phèn thường kéo dài trong một khoảng thời gian dài và đỉnh điểm thường là sau thời gian khô hạn và khi bắt đầu có mưa

- Đất phù sa: Diện tích 6035 ha chiếm 4,28% diện tích tự nhiên Phân bố chủ yếu ở các xã Văn Thủy, Xuân Thủy, Mai Thủy, Mỹ Thủy, Liên Thủy, Phong Thủy, Lộc Thủy Loại đất này được sử dụng để trồng lúa là chính

- Đất Gley: đất Gley có diện tích 327 ha chiếm 0,94 % diện tích đất tự nhiên Đất cũng được hình thành do quá trình lắng đọng phù sa tuy nhiên lại phân bố ở những vùng đất thấp, khó thoát nước Đất này có thể sử dụng để trồng lúa cho năng suất cao ,tuy vậy cần phải bón vôi khử chua cho đất Phân bố ở các xã An Thủy, Phú Thủy

- Đất mới biến đổi: Đất mới bị biến đổi có diện tích 1.008 ha chiếm 0,71% diện tích tự nhiên, phân bố ở các xã Phong Thủy, Cam Thủy

- Đất có tầng loang lổ: Diện tích 716 ha , chiếm 0,51% diện tích đất tự nhiên Phân bố

ở các xã Hoa Thủy, Sơn Thủy Đất phân bố ở địa hình vàm cao hoặc cao , có chế độ nước không đều trong năm, mùa mưa cũng bị ngập nhưng mùa khô thiếu nước nghiêm trọng Loại đất này phần lớn được dùng để trồng lúa tuy nhiên thường chỉ trồng được một vụ lúa là vụ Đông Xuân còn vụ Hè Thu thì thiếu nước trầm trọng rất nghiêm trọng Nếu giải quyết được vấn đề nước tưới thì có thể làm 2- 3 vụ / năm

Trang 30

- Đất xám: Có diện tích lớn nhất 101.169 ha chiếm 71,72 % diện tích đất tự nhiên Phân bố chủ yếu ở ở vùng núi phía Tây và phía Nam của huyện Đất được hình thành

từ sản phẩm phong hóa đá Granit và các loại đá cát là những loại đất giàu Silic, nghèo khoáng vật chứa kiềm và kiềm thổ cho nên khi phong hóa cho ra loại đất có thành phần

cơ giới nhẹ Phân bố ở địa hình dốc nên quá trình rửa trôi xảy ra , sắt và mùn bị rửa trôi nên đất bạc màu trở nên xám trắng cho nên độ phì tự nhiên thấp muốn canh tác thì phải chú ý tới biện pháp quản lí dinh dưỡng của đất

- Đất đỏ: Diện tích 1303 ha , chiếm 0,16 % diện tích đất tự nhiên Phân bố ở các xã Kim Thủy, Ngân Thủy Đây là nhóm đất thích hợp cho cây trồng lâu năm như cao su,cây ăn quả

* Cơ cấu sử dụng đất

Trong cơ cấu sử dụng đất của huyện Lệ Thủy hiện nay đang có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng sử dụng đất trong nông nghiệp, trong đó đất lâm nghiệp từ 57,9 % năm 2002 lên 77,3 % năm 2009, tăng tỉ trọng đất nông nghiệp từ 10,2 % năm

2002 lên 11,9 % năm 2009 và thủy sản cũng tăng tuy nhiên còn chiếm tỉ trọng rất nhỏ trong cơ cấu sử dụng đât chỉ 0,07 % năm 2009

Bên cạnh đất sử dụng cho nông nghiệp (theo nghĩa rộng), hiện nay huyện Lệ Thủy có đất phi nông nghiệp cũng đang tăng dần tỉ trọng từ 4,4 % năm 2002 lên 6,7 % năm 2009.Trong khi đó diện tích đất chưa sử dụng giảm rất nhanh về tỉ trọng từ 27,5 % năm 2002 giảm còn 4,1 % năm 2009 Như vậy có thể thấy cơ cấu sử dụng đất của huyện đang có sự chuyển dịch theo đúng hướng

Biểu đồ 2.2: Cơ cấu sử dụng đất huyện Lệ Thủy năm 2002 và 2009

Trang 31

tốc độ dòng chảy lớn thường gây ra lũ lụt trong mùa mưa, ngoài ra còn có một số sông suối nhỏ khác thuận lợi cho việc vận tải và nuôi trồng thủy sản

Các công trình đại thủy nông như hồ An Mã và một số công trình trung nông Rào Sen với dung tích hàng trăm triệu m3 nước cung cấp nguồn nước tưới cho nông nghiệp ,góp phần ngăn lũ, phân lũ , phục vụ cho nhu cầu của người dân và cho ngành công nghiệp trong tương lai

* Nước ngầm

Lệ Thủy chưa có số liệu điều tra toàn diện về nước ngầm nhưng qua các số liệu điều tra đã thu thập được mức độ rộng sâu thay đổi phụ thuộc địa hình và lượng mưa trong năm Thông thường vùng đồng bằng ven biển có mực nước ngầm rộng, miền núi

và trung du thông thường có mực nước ngầm sâu và dễ bị cạn kiệt vào mùa khô ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân

e Sinh vật

* Nguồn lợi hải sản

Lệ Thủy có đường bờ biển dài 30 km từ Hồng Thủy đến Sen Thủy với ngư trường hàng trăm hải lí, có nguồn lợi hải sản phong phú như các loại cá, tôm, mực , các loại thủy sản khác…Phần lớn hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy hải sản tập trung ở 3

xã ven biển Ngư Thủy Nam, Ngư Thủy Trung, Ngư Thủy Bắc Ven biển có hàng trăm

ha bãi cát có thể nuôi trồng thủy sản mặn lợ Đây là tiềm năng tạo điều kiện thuận lợi

để phát triển toàn diện kinh tế biển của huyện

* Rừng

Lệ Thủy có 94.321 ha rừng tự nhiên chiếm 66,63 % diện tích tự nhiên, rừng có nhiều gỗ quý như lim, sến , táu và có hàng ngàn ha thông nhựa đang thời kì khai thác cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Côlôphan (Mực in, vecni, sơn bóng) phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu

2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội

a Dân cư và nguồn lao động

Lệ Thủy có dân số đông với 140,5 nghìn người đứng thứ 3 và chiếm 16,6% dân

số toàn tỉnh năm 2010 Mật độ dân số trung bình là 99 người /km, trong đó dân số nông thôn vẫn là chủ yếu Trong tổng số 35.448 hộ trên địa bàn huyện thì có đến 91,3% hộ nông thôn và chỉ 8,7% hộ thành thị Trong những năm gần đây mặc dù đã thực hiện nhiều chính sách dân số tuy nhiên dân số vẫn không ngừng tăng lên

Trang 32

Biểu đồ 2.3: Dân số trung bình huyện Lệ Thủy giai đoạn 2000 – 2010

(Đơn vị : Nghìn người)

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Lệ Thủy năm 2000,năm 2005, năm2010)

Dân cư phân bố không đều, trong 26 xã và 2 thị trấn thì dân cư đông tập trung ở 2 thị trấn: T.T Kiến Giang mật độ dân số 2.049,86 người/km2 , T.T Nông trường Lệ Ninh 429,34 người/km2, các xã Phong Thủy 705 người/km2, Lộc Thủy 537 người/km2, Dương Thủy 447 người/km2 …Trong khi đó các xã như Kim Thủy chỉ có 6,88 người/km2, Ngân Thủy 10,5 người/km2, Lâm Thủy 5,28 người/km2 Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội của huyện đặc biệt là vấn đề khai thác tài nguyên và phân bố nguồn lao động

* Nguồn lao động

Năm 2010 dân số trong độ tuổi lao động của huyện là 77,5nghìn người chiếm 54,7% dân số Trong đó lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 73,2 người chiếm 51,7% dân số Đây là nguồn lao động dồi dào để triển khai các hoạt động kinh

tế Trong tổng số lao động đang làm việc thì số lượng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp là 54,1nghìn người chiếm 38,5 % Trong những năm gần đây cùng với quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, lao động trong nông nghiệp giảm dần từ 55,2nghìn người năm 2000 xuống còn 54,1 nghìn người năm 2010

Với cơ cấu dân số trẻ, dân số trong độ tuổi lao động chiếm gần 55%, số học sinh tốt nghiệp THPT hằng năm khoảng 7 nghìn người, đây là nguồn lao động dồi dào bổ sung vào lực lượng lao động hằng năm

Tuy nhiên nhìn chung lao động nông nghiệp chất lượng còn thấp, nhất là đồng bào các xã Kim Thủy, Lâm Thủy Hiện nay huyện đang có kế hoạch đào tạo đội ngũ

Trang 33

lao động kỹ thuật phù hợp với ngành nghề phục vụ các dự án nông nghiệp và công nghiệp của huyện

b Cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật

* Hệ thống giao thông

Hệ thống giao thông rộng khắp với các tuyến đường bộ, đường sông và cả đường sắt tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyên chở vật tư và sản phẩm nông nghiệp, phát triển nông nghiệp hàng hóa

Tuyến đường quốc lộ 1A chạy qua địa bàn huyện với chiều dài 33km, đường Hồ Chí Minh cả hai nhánh Đông – Tây dài 83 km, đường sắt Bắc – Nam qua huyện dài 34

km, có tỉnh lộ số 10, tỉnh lộ 16 dài 73 km, đường liên xã dài 147 km, đường từ xã xuống thôn dài 96 km, đường từ thôn ra đồng dài 156 km, tạo điều kiện chuyên chở người và hàng hóa, huyện có 28 xã và thị trấn thì hầu hết đều đã có đường nhựa và đường bê tông

* Hệ thống thủy lợi

Lệ Thủy có nguồn nước mặt phong phú nhờ hệ thống sông suối cung cấp Huyện

có sông Kiến Giang là con sông lớn hợp lưu của nhiều con sông nhỏ trên địa bàn huyện như Rào Sen (Sen Thủy), Rào Ngò (Dương Thủy) Ngoài ra có các hồ đập đại

và trung nông nhất là đập An Mã, Cẩm ly, Thanh Sơn có dung tích hàng triệu m3 nước,

63 trạm bơm điện, 24 hồ đập nhỏ cung cấp nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp đặc biệt là vào mùa khô, đảm bảo tưới tiêu cho 4.500 – 5000 ha mỗi vụ chiếm 82 % diện tích lúa toàn huyện

Công tác thủy lợi, kiên cố hóa kênh mương được đẩy mạnh xây dựng 142 km kênh mương,hàng năm huyện tổ chức nhiều đợt nạo vét mương, khai thông đường dẫn nước từ Rào Sen chảy qua địa bàn xã Sen Thủy để cung cấp nước tưới vụ Hè Thu cho địa bàn các xã Tân Thủy, Dương Thủy…

Hệ Thống đê điều đã được kiên cố hóa tương đối vững chắc bằng bê tông, công tác này đã được xúc tiến từ khoảng năm 2000

Là huyện chịu ảnh hưởng nhiều của thiên tai, bão lụt và diễn biến thất thường của thời tiết nên mặc dù đã được quan tâm đầu tư nhưng công tác thủy lợi của huyện vẫn còn gặp nhiều khó khăn Nhiều công trình thủy lợi được xây dựng từ lâu nay xuống cấp cần được quan tam nâng cấp đặc biệt là hệ thống đê diều bảo vệ lúa và hệ thống thoát lũ trên địa bàn huyện còn chậm

c Vốn đầu tư trong nông nghiệp

Trong thời gian qua những chính sách đầu tư dành cho khu vực nông thôn đã được ban hành tương đối đầy đủ, cụ thể tạo điều kiện cho các địa phương tổ chức có hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực từ quy họach, quản lí sử dụng đất,đầu tư phát triển sản xuất hạ tầng đến công tác kiểm tra giám sát…góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,

Trang 34

cải thiện đời sống cho người dân nông thôn Chính sách về đầu tư cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn đã được chỉ đạo thực hiện theo đúng quy trình, quy hoạch và kế hoạch, đúng quy trình đầu tư xây dựng cư bản tạo điều kiện để các nhà đầu tư thực hiện dự án

Tổng vố đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2006 – 2010 khoảng 130,1

tỉ đồng (vốn xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp 100,1tỉ đồng, vốn hỗ trợ sản xuất 30 triệu đồng ) Trong đó huyện cũng đã hỗ trợ phát triển sản xuất từ nguồn sự nghiệp kinh tế nông nghiệp trên 2,5 tỉ đồng

d Khoa học – công nghệ và công nghiệp chế biến

Đến nay, hệ thống các trạm, trại kỹ thuật phục vụ nông nghiệp đang dần được kiện toàn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sản xuất nông nghiệp

* Dịch vụ thú y, bảo vệ thực vật

Hiện nay trên địa bàn huyện có các trạm bảo vệ thực vật và trạm thú y với nhiệm

vụ chính là phòng trừ sâu bệnh hại cho các loại cây trồng, vật nuôi, ngăn chặn sự lây lan của các loài bệnh, hướng dẫn người dẫn người dân cách phong trừ các loại dịch bệnh

Trong những năm qua tình hình sâu bệnh, dịch bệnh mới nguy hiểm đối với cây trồng ,vật nuôi và đối tượng nuôi trồng thủy sản như dịch cúm gia cầm H5N1 , dịch tai xanh ở lợn, lở mồm long móng ở trâu bò… Do làm tốt công tác dự tính, dự báo, tổ chức phòng trừ kịp thời, có hiệu quả nên dịch bệnh chỉ xảy ra cục bộ hạn chế đáng kể thiệt hại cho người dân

* Dịch vụ cung ứng giống cây trồng,vật nuôi

Việc cung ứng giống phục vụ sản xuất cơ bản đáp ứng yêu cầu cả về số lượng lẫn chất lượng đảm bảo thời vụ Hiện nay huyện có 1 trạm giống ở thị trấn Kiến Giang hằng năm cung ứng giống lúa các loại và các giống lạc cao sản

Ngoài ra, hầu hết bà con trên địa bàn huyện cũng chủ động được nguồn giống cho sản xuất đặc biệt là lúa và lạc

Trung tâm giống thủy sản và các trang trại thủy sản hàng năm sản xuất dược hàng triệu con cá bột và cá giống các loại

*Công tác chuyển giao khoa học công nghệ

Công tác này được duy trì và phát huy hiệu quả thông qua nhiều hình thức đặc biệt là việc xây dựng câu lạc bộ khuyến nông, tổ chức cá hội thảo chuyên đề, tập huấn, đào tạo, xây dựng và chuyển giao hàng trăm mô hình giống mới, kĩ thuật mới vào sản xuất

e Thị trường tiêu thụ

Với dân số 140.527 người ( Năm 2010 ) nhu cầu về lương thực , thực phẩm trên địa bàn huyện tương đối lơn Sự phát triển của ngành công nghiệp trong những năm

Trang 35

gần đây đặt ra những nhu cầu nguyên liệu với khối lượng lớn đối với sản xuất nông nghiệp

Hiện nay, nhiều sản phẩm nông – lâm – ngư nghiệp của huyện đã dấp ứng nhu cầu trong huyện, tỉnh và cả ngoài tỉnh như bưởi Phúc Trạch, rượu Võ Xá…Tuy nhiên trong thực tế sản xuất nông nghiệp của huyện còn mang tính tự cấp tự túc phục vụ địa phương là chính Sản phẩm nông nghiệp chưa gắn liền với công nghiệp chế biến Những yêu cầu về chất lượng và giá thành là những thử thách lớn đối với các sản phẩm nông – lâm – thủy sản của huyện

f Chính sách nông nghiệp

Để phát triển nông nghiệp tương xứng với tiềm năng, trong những năm qua UBND tỉnh và Hội đồng nhân dân huyện đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, nông thôn như công tác xây dựng nông thôn mới, chương trình xóa đói giảm nghèo, công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn…Bên cạnh

đó còn có các đề án như đề án phát triển kinh tế vùng gò đồi huyện Lệ Thủy giai đoạn

2006 – 2010, đề án 6000 ha diện tích đạt giá trị thu nhập trên 70 triệu đồng/ ha/ năm giai đoạn 2011 – 2015

Việc thực hiện các chính sách đúng đắn phù hợp với điều kiện, tình hình sản xuất nông nghiệp theo từng giai đoạn đã và sẽ giúp cho ngành nông nghiệp phát huy những lợi thế sẵn có trong quá trình phát triển

2.1.4 Đánh giá chung

a Những thuận lợi

Huyện Lệ Thủy có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nền kinh tế xã hội nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng Với địa hình đa dạng, vừa có núi, có sông, có đồng bằng lại giáp biển cùng với nền khí hậu nóng ẩm mưa nhiều và đất đai đa dạng đã tạo cho nông nghiệp Lệ Thủy phát triển thế liên hoàn trong nông nghiệp bao gồm vùng đồi núi, vùng đồng bằng, vùng biển với với cơ cấu cây trồng, vật nuôi đa dạng

Nguồn lao động dồi dào với đức tính cần cù chịu khó, có kinh nghiệm sản xuất lâu đời là điều kiện thuận lợi để sản xuất nông nghiệp Đồng thời cùng với quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa tạo điều kiện để huyện áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất từ đó tăng năng suất, chất lượng sản phẩm làm ra, trình độ lao động đang ngày càng được nâng cao Người lao động đã biết vận dụng nhiều loại máy móc vào sản xuất

Cơ sở vật chất phục vụ sản xuất nông nghiệp đã bước đầu hoàn thiện với hệ thống giao ,thủy lợi, các cơ sở dịch vụ nông nghiệp đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

Trang 36

b Những khó khăn

Khó khăn đầu tiên đối với sản xuất nông nghiệp là thời tiết chuyển biến phức tạp gây nhiều bất lợi cho sản xuất nông nghiệp như các trận lũ Tiểu Mãn, bão, các đợt rét đậm có khi cả rét hại, hạn hán, gây thiệt hại nặng nề cho bà con nông dân Địa hình bị chia cắt lớn gây khó khăn cho canh tác, mặt khác địa hình của huyện có dạng chữ U hai bên là đồi núi và đồi cát bao vây vùng đồng bằng ở giữa Do đó quá trình thoát lũ gặp nhiều khó khăn Quỹ đất tuy phong phú nhưng đất nghèo dinh dưỡng, bị xói mòn rửa trôi vào mùa lũ Bên cạnh đó dịch bệnh, sâu bệnh liên tục xảy ra nhất là các bệnh nguy hiểm (Lùn sọc đen trên lúa, cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng ở gia súc, dịch tai xanh ở lợn…), gây ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng và vật nuôi

Chất lượng người lao động miền núi còn thấp, vấn đề “ Li nông, li hương” hay “

nữ hóa , già hóa” lao động nông nghiệp có xu hướng tăng gây ảnh hưởng đến chất lượng lao động của ngành nông nghiệp

Giá cả vật tư đầu vào cao, trong khi đó giá thành sản phẩm nông nghiệp thấp, thị trường tiêu thụ hạn chế bấp bênh, các cơ sở chế biến nông nghiệp còn rất ít cho nên ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp và chất lượng sản phẩm

Ngoài ra chủ trương chính sách của cấp trên, lãnh đạo đôi khi mang tính phong trào và nóng vội, đưa ra kế hoạch sản xuất tuy nhiên khi người dân làm ra sản phẩm lại không có thị trường tiêu thụ cho nên gây thiệt hại cho người dân

Trước những thuận lợi và khó khăn đó, được sự chỉ đạo, giúp đỡ của chính phủ, tập trung cao trong chỉ đạo của tỉnh, cán bộ của Sở NN & PTNT, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành và các địa phương, sự cố gắng của bà con nông dân nên nông dân huyện

Lệ Thủy đã vượt qua khó khăn và bước đầu gặt hái được những kết quả khả quan trong những năm qua

2.2 Tình hình phát triển nông nghiệp huyện Lệ Thủy giai đoạn 2000 - 2010

2.2.1 Khái quát chung

Huyện Lệ Thủy với diện tích đất tự nhiên gần 142 nghìn ha đất trong đó sản xuất nông nghiệp 17nghìn ha chiếm 12% diện tích đất tự nhiên Dưới sự chỉ đạo, quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện của các cấp lãnh đạo, đồng thời cùng với sự nỗ lực của

bà con nông dân, nền nông nghiệp của huyện đã có nhiều đổi mới, đạt được nhũng thành tựu khá toàn diện, khẳng định được vai trò của ngành kinh tế chủ đạo trong cơ cấu kinh tế của huyện

a Về quy mô và cơ cấu giá trị sản xuất nông-lâm-thủy sản

GTSX nông- lâm- thủy sản ngày càng tăng cao Năm 2010 đạt 1.380,6 tỉ đồng (giá trị thực tế) gấp 5,4 lần năm 2000 Trong cơ cấu nền kinh tế nông nghiệp chiếm

Trang 37

36% so với 28% của công nghiệp-xây dựng và 36% của dịch vụ Sản lượng lương thực quy ra thóc đến năm 2010 đạt từ 82,5nghìn tấn đến 83 nghìn tấn

Tuy tỉ trọng giá trị sản xuất của ngành nông- lâm- thủy sản đang chuyển dịch theo hướng giảm dần về cơ cấu song giá trị tuyệt đối không ngừng tăng lên và vẫn khẳng định được vị trí quan trọng trong nền kinh tế huyện

Trong cơ cấu GTSX nông – lâm – thủy sản có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần tỉ trọng ngành thủy sản và nông nghiệp, giảm tỉ trọng ngành lâm nghiệp

Bảng 2.3 : GTSX và cơ cấu GTSX nông – lâm – thủy sản huyện Lệ Thủy giai đoạn

(Nguồn: Tính toán theo niên giám thống kê huyện Lệ Thủy năm 2000,2005, 2010 )

Ngành nông nghiệp có xu hướng tăng tuy nhiên tăng còn chậm và không đều Từ 82,6 % năm 2000 lên 84% năm 2005 và giảm còn 83,6 % Như vậy cả giai đoạn chỉ tăng lên 1% so với toàn tỉnh thì mức độ tăng thấp hơn, toàn tỉnh ngành nông nghiệp chiếm tỉ trọng 89,4 % năm 2010 trong cơ cấu GTSX nông – lâm – thủy sản

Trong thời gian qua huyện đã tích cực huy động các nguồn lực nâng cao chất lượng nguồn lao động, gắn việc chăm lo, giải quyết đúng và kịp thời các vấn đề về thủy lợi, giống và nguồn vốn để bà con an tâm sản xuất đồng thời có sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp và tập trung vào các loại cây trồng có lợi thế so sánh cho giá trị cao,áp dụng KHKT vào sản xuất đã góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp

Ngành thủy sản trong những năm qua có những chuyển biến tích cực tăng tỉ trọng

từ 9,7% năm 2000 lên 10,7 % năm 2010 , tăng cả giai đoạn 1 % tương ứng với tốc độ giảm của ngành nông nghiệp So với toàn tỉnh thì tỉ trọng thủy sản của huyện cao gần gấp 9,7 lần của toàn tỉnh Đây là một ngành có nhiều tiềm năng để phát triển và có thể được xem như là lợi thế so sánh của huyện với các ngư trường lớn ở Ngư Thủy Trung, Ngư Thủy Nam, Ngư Thủy Bắc Trong tương lai hứa hẹn sẽ là một ngành phát triển nhanh và chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu GTSX nông – lâm – thủy sản của huyện Trong cơ cấu GTSX nông – lâm –thủy sản chỉ có lâm nghiệp là giảm tỉ trọng: cả giai đoạn từ 2000 – 2010 giảm 2 % Mặc dù giảm tỉ trọng nhưng giá trị tuyệt đối vẫn

Trang 38

tăng nhanh đạt 79,1 tỉ đồng năm 2010, cả giai đoạn tăng 59,5 tỉ đồng.Tuy nhiên, phải nhìn thẳng vấn đề là ngành lâm nghiệp của huyện vẫn phát triển chưa tương xứng với tiềm năng hiện có Trong số 28 xã và thị trấn của huyện thì hầu hết các xã và thị trấn đều có khả năng phát triển lâm nghiệp nhưng đến hiện nay tỉ trọng của ngành lâm nghiệp chỉ mới 5,7 % và đang có xu hướng giảm dần

b Tốc độ tăng trưởng

Nông nghiệp của huyện tiếp tục tăng trưởng với tốc độ khá, trung bình năm đạt 6,21 % / năm, trong cả giai đoạn 2006 -2010 giá trị sản xuất toàn ngành (theo giá cố định 1994) bình quân hằng năm tăng 7,3 % Tuy nhiên tăng trưởng kinh tế trong khu vực này vẫn còn thấp hơn so với những ngành khác ,ngành công nghiệp – xây dựng tăng 17%, thương mại và dịch vụ tăng 16,8 % và vẫn thấp hơn so với tốc độ của toàn nền kinh tế 8,35 %

Nguyên nhân là do thị trường tiêu thụ bất ổn định, do sự biến động của vật tư, giá

cả đặc biệt là do sự ảnh hưởng của thời tiết gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp

c Cơ cấu lao động

Nông – lâm – ngư nghiệp từ lâu đã là hoạt động kinh tế chính của huyện, chiếm tới 73,9% lực lượng lao động đang hoạt động trong các ngành kinh tế của huyện năm

2010 Trong những năm gần đây, lao động trong khu vực này đang có xu hướng giảm xuống từ 55,2 nghìn người năm 2000 xuống còn 54,1 nghìn người năm 2010 Cho đến hiện nay nông – lâm – ngư nghiệp vẫn là khu vực kinh tế giữ vai trò quan trọng nhất trong việc giải quyết việc làm cho người lao động

2.2.2 Ngành nông nghiệp

a Khái quát

* Vị trí của ngành nông nghiệp

Ngành nông nghiệp chiếm vị trí quan trọng và là huyện dẫn đầu toàn tỉnh về GTSX chiếm tới 27,1% GTSX nông – lâm – thủy sản của toàn tỉnh Năm 2010 chiếm 83,6 % trong cơ cấu GTSX nông – lâm – thủy sản của huyện và ít thay đổi qua các năm GTSX cao gấp 14,6 lần so với lâm nghiệp và 7,9 lần so với thủy sản

* Quy mô sản xuất và tốc độ tăng trưởng

GTSX nông nghiệp ngày càng tăng nhưng mức độ tăng trưởng không đều qua các năm Năm 2000 GTSX nông nghiệp đạt 209,9 tỉ đồng đến năm 2005 đạt 366,6 tỉ đồng

và tăng lên 1.154,7 tỉ đồng năm 2010, cả giai đoạn tăng lên 5,5 lần

Tốc độ tăng trưởng của ngành bình quân hằng năm đạt 6,21 %

* Cơ cấu ngành nông nghiệp

Cơ cấu nông nghiệp Lệ Thủy có sự chuyển dịch phù hợp với xu hướng chuyển dịch chung của cả nước, giảm dần tỉ trọng ngành trồng trọt, tăng tỉ trọng ngành chăn

Trang 39

(Nguồn: Tính toán theo niên giám thống kê năm 2000, 2002,2009, 2011)

Ngành trồng trọt trong những năm gần đâygiảm mạnh nhưng vẫn chiếm hơn một

nửa giá trị sản xuất của nông – lâm – ngư nghiệp: cả giai đoạn giảm 15,3 % Chăn nuôi

chiếm tỉ trọng nhỏ hơn nhưng đang tăng và tăng nhanh cả giai đoạn tăng 14,1 % Tỉ

trọng ngành dịch vụ nông nghiệp còn rất khiêm tốn dao động trong khoảng từ 1- 2 %

b Các ngành nông nghiệp

* Trồng trọt

Trồng trọt là ngành sản xuất chính luôn chiếm tỉ trọng trên 50% GTSX nông

nghiệp Lệ Thủy Tuy nhiên đang có xu hướng giảm mạnh về tỉ trọng trong cơ cấu từ

69,7 % năm 2000 xuống 54,4% năm 2010

GTSX ngành trồng trọt tăng nhanh từ 146,2 tỉ đồng năm 2000 tăng lên 628,3 tỉ

đồng năm 2010 tăng cả giai đoạn 482,1 tỉ đồng

Cơ cấu cây trồng đa dạng gồm có: cây lương thực, cây chất bột có củ, cây thực

phẩm, cây công nghiệp hằng năm, cây lâu năm, cây hằng năm khác và sản phẩm phụ

Trong cơ cấu chiếm tỉ trọng cao nhất là cây lương thực chiếm 70,8 % năm 2010 và

đang có xu hướng giảm nhẹ

Cây lâu năm và cây thực phẩm có xu hướng tăng lên, cây hàng năm và sản phẩm

phụ chiếm tỉ trọng thấp

Biểu đồ 2.4: Cơ cấu GTSX ngành trồng trọt theo giá thực tế phân theo nhóm cây

trồng huyện Lệ Thủy ( Đơn vị: %)

Trang 40

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Lệ Thủy năm 2000,2010)

Diện tích các loại cây trồng có sự thay đổi theo chiều hướng ngày càng mở rộng

từ diện tích đất trồng trọt 19,1 nghìn ha năm 2000 tăng lên 22,9 nghìn ha năm 2005 và đến năm 2010 diện tích tăng lên đạt 26,1 nghìn ha Nguyên nhân chủ yếu là do quá trình khai hoang, mở rộng đất canh tác của người dân

Trong cơ cấu về diện tích cây trồng thì cây lương thực vẫn là nhóm cây trồng chủ đạo với 19,1 nghìn ha năm 2010 chiếm 73,1% tổng diện tích các loại cây trồng của huyện

Bảng 2.5 : Diện tích một số loại cây trồng giai đoạn 2000 – 2010

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Lệ Thủy năm 2000,2005,2010)

Trong cơ cấu của từng nhóm cây trồng cũng có những chuyển biến:

Thứ nhất : Chuyển dịch trong nội bộ nhóm cây lương thực

Ngày đăng: 09/05/2021, 17:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w