1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu thư pháp chữ việt trên địa bàn thành phố đà nẵng

70 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy là một sinh viên của ngành văn hoá học và cũng là một đứa con của thành phố Đà Nẵng với hy vọng đề tài này sẽ giúp cho chúng ta hiểu được phần nào về nét văn hoá của nghệ th

Trang 1

1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HÓA HỌC

Trang 2

mỹ, vẻ đẹp văn hoá của mỗi dân tộc Có thể nói rằng nghệ thuật thư pháp là một phần của văn hoá và có giá trị to lớn trong đời sống tinh thần của các dân tộc trên thế giới

Thư pháp chữ Việt ra đời chưa đầy 100 năm nhưng nó đã nhanh chóng hoà vào đời sống tinh thần của người dân Việt Thư pháp như một món ăn tinh thần không thể thiếu trong các chương trình tết cổ truyền, lễ hội văn hoá…Giờ đây giá trị của thư pháp không chỉ đơn thuần là một tác phẩm nghệ thuật mà còn là một phương pháp, một thú chơi hữu ích giúp cho con người thư giãn, học tập và rèn luyện tâm linh, nhân cách Hiện nay cũng có rất nhiều những câu lạc bộ, những trung tâm, những lớp giảng dạy thư pháp được hình thành Các phương tiện thông tin đại chúng cũng đã có sự quan tâm và tham gia vào “mổ sẻ” vấn đề này Thư pháp Việt đương đại trở thành đề tài gây nhiều tranh cãi trong giới học thuật cũng như trong các bộ môn văn hoá đặc thù khác Hơn bao giờ hết, hiện nay thư pháp có mặt ở tất cả mọi nơi poster quảng cáo, truyền hình, sách, lịch, thiệp và nó có mặt trên tất cả mọi miền đất nước từ Bắc chí Nam nơi đâu cũng có bóng dáng của những ông đồ vào ngày xuân

Tại thành phố Đà Nẵng cùng với nhịp sống năng động, hối hả thì thư pháp vẫn luôn âm thầm tồn tại và trở thành một nét đẹp văn hoá, trở thành một phần trong đời sống văn hoá tinh thần của người dân Đà Nẵng Đà Nẵng tuy không phải là cái

Trang 3

3

nôi, là trung tâm của nghệ thuật thư pháp cả nước nhưng trong những dịp lễ hội, trong những ngày tết cổ truyền hay các chương trình văn hoá đều có sự đóng góp của nghệ thuật thư pháp chữ Việt Như vậy, thư pháp chữ Việt xuất hiện như một hiện tượng văn hoá, nó chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc và một phần trong đời sống tinh thần của người dân Đà Nẵng nói riêng và cả nước nói chung

Xuất phát từ thực tế trên tôi lựa chọn đề tài “Tìm hiểu thư pháp chữ Việt trên

địa bàn Thành phố Đà Nẵng” để tìm hiểu và nghiên cứu

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Thư pháp là một loại hình nghệ thuật tuy là truyền thống nhưng cũng rất là mới lạ, là một hiện tượng văn hoá rất hay và đặc sắc Chính vì lẽ đó mà cũng không

ít tác giả viết về đề tài này

Đã có những công trình giới thiệu về những nét sơ khởi đầu tiên của bộ môn

nghệ thuật này như Giáo trình nhập môn về “thư pháp chữ Hán những vấn đề cơ

bản” của Lê Đình Khẩn biên soạn năm [ 2000 ], hay “Thư pháp nhập môn” của

Phạm Cao Hoàn [ 2002 ] Cả hai công trình nghiên cứu này đều có một điểm chung

là tìm hiểu về thư pháp chữ Hán và nghiên sâu về yếu tố thực hành viết chữ đẹp hơn

là đưa ra những lý luận về thư pháp

Trong thời gian gần đây thì thư pháp đã được cách tân với sự ra đời và phát triển của thư pháp chữ Việt Ở loại hình mới này thì có những quyển sách mới ra đời

như “Thư pháp chữ Việt nhập môn” của Nguyễn Bá Hoàn [2002 ] Quyển sách đã

có dịp cung cấp cho người đọc những kiến thức cơ bản về thư pháp từ xuất xứ, ý nghĩa, cho đến cách thức, đưa ra những lý luận căn bản đầu tiên về thư pháp chữ

Việt Tiếp đến chúng ta phải nói đến “Hồn chữ Việt qua thư pháp” [ 2003 ] và “Chữ

quốc ngữ và những vấn đề liên quan đến thư pháp” [ 2004 ] của Hồ Công Khanh

Trong hai công trình này ông đã giới thiệu những tác phẩm thư pháp tiêu biểu và đặc sắc, chỉ ra những nét đẹp, giá trị tiêu biểu của nghệ thuật thư pháp chữ Việt Bên cạnh đó chúng ta không thể không kể đến các công trình nghiên cứu của Đăng Học

Trang 4

4

- là một “Việt thư chi bảo” là một nhà thư pháp trẻ nhưng có niềm đam mê và hoài

bảo rất lớn về bộ môn nghệ thuật này Với “Hồn chữ Việt” [ 2006 ] Đăng Học đã có

dịp giới thiệu đến đọc giả những tác phẩm rồng bay phượng múa, hay công trình

“Thư pháp Việt lý thuyết và thực hành” [ 2010 ], công trình này Đăng Học đã phát

thảo những sơ khởi về lý luận thư pháp Việt, đưa ra những phương pháp thực hành cũng như phân loại các thể chữ và cách cảm nhận về các tác phẩm thư pháp Việt

Ngoài ra còn có rất nhiều công trình nghiên cứu có giá trị khác như “Thư pháp là

gì” của Nguyễn Hiếu Tín [ 2007 ] Quyển sách đã đưa đến cho người đọc những

hiểu biết căn bản về thư pháp từ truyền thống cho đến hiện đại, có một cái nhìn bao quát về thư pháp Việt và thư pháp chữ Việt so với các nền thư pháp ở Trung Quốc, Châu Á và Châu Âu

Nhìn chung có nhiều tác giả viết về đề tài này nhưng chủ yếu chỉ tìm hiểu ở mức độ chuyên sâu về thực hành và cách viết chữ chứ chưa nói được nét văn hoá, ảnh hưởng của nó đến văn hoá như thế nào Chính vì vậy là một sinh viên của ngành văn hoá học và cũng là một đứa con của thành phố Đà Nẵng với hy vọng đề tài này

sẽ giúp cho chúng ta hiểu được phần nào về nét văn hoá của nghệ thuật thư pháp chữ Việt và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hoá của người dân Đà Nẵng như thế nào

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là tìm hiểu về thư pháp chữ Việt, ảnh hưởng của nó trong đời sống văn hoá của người dân Đà Nẵng và thực trạng của thư pháp chữ Việt tại thành phố Đà Nẵng

Phạm vi nghiên cứu là thư pháp chữ Việt tại thành phố Đà Nẵng

4 Phương pháp nghiên cứu

Đây là một đề tài chuyên sâu nghiên cứu về mặt văn hoá, tìm hiểu vấn đề dưới góc nhìn văn hoá Vì vậy với đề tài này tôi sử phương pháp phân tích, phân loại, diễn dịch, chứng minh,… tổng hợp các yếu tố văn hoá trong phạm vi nghiên cứu

Trang 5

5

Luận văn còn sử dụng các tài liệu hiện vật, các tài liệu thành văn và các tài liệu của các bộ môn liên ngành có liên quan như mỹ học, ngôn ngữ học, văn hoá, nghệ thuật… Ngoài ra còn sử dụng các nguồn tư liệu phong phú khác từ sách, báo, tạp chí, phim ảnh và mạng internet…

Các nguồn tư liệu trên được tập hợp từ các thư viện, các ý kiến cá nhân, phương tiện thông tin đại chúng và khảo sát thực tế

5 Bố cục của luận văn

Đề tài ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo thì còn có

3 chương chính:

Chương I: Một số vấn đề chung

Chương II: Thư pháp chữ Việt tại thành phố Đà Nẵng

Chương III: Thực trạng và hướng bảo tồn phát triển thư pháp chữ

Việt tại thành phố Đà Nẵng

Trang 6

6

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Vùng đất và con người Đà Nẵng

1.1.1 Lịch sử hình thành

Hiện nay, thành phố Đà Nẵng là một thành phố trẻ, năng động, đầy nhiệt huyết

và đang nâng lên một tầm cao mới Và từ trong lịch sử dân tộc Thành phố Đà Nẵng

là một thành phố cảng lớn nhất miền Trung, nơi xúc tiến và đầu mối giao thông quan trọng Và đồng thời đây cũng là một thành phố anh hùng, là một địa danh gắn liền với công cuộc mở mang bờ cõi Đại Việt từ nhiều thế kỷ trước Là một đồn tiến quan trọng trong công cuộc chống ngoại xâm của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ oanh liệt

Theo ngôn ngữ của Chămpa xưa địa danh Đà Nẵng được giải thích là sông lớn, cửa sông lớn Địa danh này cũng được ghi chú trên các bản đồ được vẽ từ thế

kỉ XVI trở đi Cái tên Đà Nẵng không phải ngẫu nhiên mà nó gắn liền với đặc điểm địa lý, địa hình, tính chất của cửa sông, tính chất cảng của thành phố mà người ta đã gắn cho nó cái tên như vậy Lịch sử hình thành và phát triển của thành phố Đà Nẵng cũng trải qua một quá trình lịch sử lâu dài và đầy biến cố thăng trầm của lịch sử cả nước

Vào giữa thế kỷ XVI khi Hội An là trung tâm buôn bán sầm uất ở phía Nam thì Đà Nẵng mới là vị trí tiền cảng, trung chuyển hàng hóa, cửa biển Đà Nẵng giữ một vai trò quan trọng trong hoạt động giao lưu và thông thương Đến thế kỷ XVIII

vị trí tiền cảng của Đà Nẵng dần dần trở thành thương cảng thay thế cho Hội An và ngày càng thể hiện rõ tính ưu việt của nó đối với khu vực Đến năm 1835 khi vua

Minh Mạng có dụ : “Tàu Tây chỉ được đậu tại Cửa Hàn, còn các biển khác không

được tới buôn bán” thì Đà Nẵng trở thành một thương cảng lớn bậc nhất miền Trung

Mọi hoạt động về kinh tế, thông thương đều tập trung về một mối ở cửa biển Đà

Trang 7

Một sự kiện quan trọng trong lịch sử Đà Nẵng đó là tháng 3 năm 1965, Mỹ

đổ bộ vào Đà Nẵng và thiết lập ở đây một căn cứ quân sự hỗn hợp lớn Năm 1967,

Đà Nẵng được chính quyền Việt Nam Cộng hòa ấn định là thành phố trực thuộc trung ương và xác định mục tiêu xây dựng Đà Nẵng thành trung tâm chính trị, quân

sự, văn hóa cho vùng I và II chiến thuật Mỹ cho xây dựng ở Đà Nẵng các căn cứ quân sự và kết cấu hạ tầng: sân bay, cảng, kho bãi, đường sá, công trình công cộng,

cơ sở thông tin liên lạc, lập tín dụng ngân hàng Ở thời kỳ này công nghiệp được phát triển ở mức độ cao hơn: các khu kỹ nghệ thay thế cho công trường thủ công Tuy nhiên, chiến tranh đã để lại hậu quả nặng nề và những vết thương chiến tranh vẫn không sao xóa nhòa được

Năm 1973, khi quân Mỹ rút khỏi Việt Nam, chính quyền Việt Nam Cộng hòa

đã cho phân chia lại địa giới hành chính Đà Nẵng, giữ nguyên 3 quận như cũ, chỉ sáp nhập 28 khu phố bên dưới cấp quận thành 19 phường Thị xã Đà Nẵng được đặt

Trang 8

8

dưới quyền điều hành của Hội đồng thị xã, gồm 12 ủy viên, do một thị trưởng đứng đầu

Đến năm 1975, hòa bình lập lại, Đà Nẵng (là thành phố thuộc tỉnh Quảng Nam

- Đà Nẵng) bắt tay vào khôi phục những hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh Mặc

dù còn lắm khó khăn nhưng công cuộc phục hồi và phát triển thành phố đã đạt nhiều thành quả, nhất là thời kỳ đổi mới, sau 1986

Ngày 6 tháng 11 năm 1996 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX đã thông qua nghị quyết cho phép tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng tách thành tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trực thuộc trung ương Về địa giới hành chính, thành phố Đà Nẵng mới bao gồm thành phố Đà Nẵng trước đây, huyện Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa Trên thực tế huyện đảo Hoàng Sa đang bị Trung Quốc chiếm đóng, và ủy ban nhân dân huyện đảo Hoàng Sa trực thuộc Sở Nội Vụ thành phố Đà Nẵng

Ngày 1 tháng 1 năm 1997, Đà Nẵng chính thức trở thành thành phố trực thuộc trung ương Ngày 15 tháng 7 năm 2003, Đà Nẵng được công nhận là đô thị loại 1 Cùng với công cuộc đổi mới và phát triển của chính quyền thành phố Đà Nẵng và quần chúng nhân dân; hiện nay, thành phố Đà Nẵng đã phát triển và đổi mới rất nhiều với những chiến lược đổi mới và phát triển bền vững và sâu rộng

1.1.2 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Thành phố Đà Nẵng nằm giữa chiều dài của đất nước Việt Nam với tổng diện tích là 1.255,53 km² Thành phố Đà Nẵng trải dài từ 15°15' đến 16°40' Bắc và từ 107°17' đến 108°20' Đông Phía bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, phía tây và nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp biển Đông Và cũng là một khu vực rộng lớn phía trước mặt là biển cả bao la, phía sau là Tây Nguyên với núi non bao bọc Địa hình thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng duyên hải, vừa có đồi núi và cả vùng biển rộng lớn Vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạy dài ra biển, một số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp Với

vị trí địa lý như vậy thì Thành phố Đà Nẵng có tầm chiến lược quan trọng cả về kinh

Trang 9

9

tế và quốc phòng Thành phố Đà Nẵng cũng là một trung tâm trung chuyển Bắc – Nam, là hàng lang chiến lược nối liền các tỉnh miền Trung và cũng là cửa ngõ của miền Trung Đông Dương

Cùng với đó là điều kiện tự nhiên và nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú và đa dạng, giàu tiềm năng để phát triển Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu cận nhiệt đới ở miền Bắc và nhiệt đới xavan miền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới ở phía Nam Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài Khi nói về thời tiết khắc nghiệt của Thành phố Đà Nẵng thì trong ca dao có nói:

“Mống đóng Cu Đê, trở về dọn gác Mống đóng cửa Đại, cá mại chết khô…”

Hay

“Đi bộ thì khiếp Hải Vân

Đi thuyền thì khiếp song thần, Hang Dơi”

Thành phố Đà Nẵng có đường bờ biển dài, vùng biển Đà Nẵng có ngư trường rộng trên 15.000 km², có các động vật biển phong phú trên 266 giống loài, trong đó hải sản có giá trị kinh tế cao gồm 16 loài Tổng trữ lượng hải sản các loại là 1.136.000 tấn Hàng năm có khả năng khai thác 150.000 – 200.000 tấn Đà Nẵng còn có một

bờ biển dài với nhiều bãi tắm đẹp như Non Nước, Mỹ Khê, Thanh Khê, Nam Ô với nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú Quanh khu vực bán đảo Sơn Trà có những bãi san hô lớn, thuận lợi trong việc phát triển các loại hình kinh doanh, dịch vụ, du lịch biển Ngoài ra vùng biển Đà Nẵng đang được tiến hành thăm dò dầu khí, chất đốt…tạo tiền đề cho việc phát triển các ngành công nghiệp

Không chỉ có vùng biển rộng lớn mà thành phố Đà Nẵng cũng có diện tích rừng tương đối lớn 67.148 ha, tập trung chủ yếu ở phía Tây và Tây Bắc thành phố,

Trang 10

Cùng với đó là sự giàu có về nguồn tài nguyên khoáng sản rất đa dạng và phong phú Chúng ta có thể kể đến các loại tiêu biểu như: cát trắng, đá hoa cương,

đá xây dựng, đá phiến lợp, cát, cuội, sỏi xây dựng, laterir, vật liệu san lấp, đất sét, nước khoáng Đặc biệt, vùng thềm lục địa có nhiều triển vọng về dầu khí…

Nhìn chung về mặt địa lý, Đà Nẵng là một địa bàn chiến lược quan trọng, là thành phố có nền kinh tế nhiều tiềm năng, sản phẩm nhiệt đới phong phú, nhiều ngành nghề tiểu công nghiệp phát triển Địa hình hiểm trở, thời tiết có phần khắc nghiệt nhưng thiên nhiên lại rất đổi hùng vĩ và hài hòa giữa biển núi bạc ngàn Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội của vùng

1.1.3 Đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội

Từ trong lịch sử cho đến nay, đời sống kinh tế - văn hóa – xã hội của thành phố Đà Nẵng đã ngày càng nâng cao và phát triển bền vững Là đầu mối giao thông huyết mạch và là trung tâm kinh tế mũi nhọn của khu vực miền Trung – Tây Nguyên Thành phố Đà Nẵng đã được chú trọng đầu tư từ nhiều nguồn vốn khác nhau trong nước và quốc tế

Chỉ trong những năm trở lại đây, Thành phố Đà Nẵng đã có những thay đổi vượt bậc và ngày càng mở rộng vị thế và tầm vóc của mình đối với khu vực và cả nước thậm chí vươn rộng tầm vóc ra tầm quốc tế Cơ sở hạ tầng ngày càng phát triển,

bộ mặt của thành phố đã lột xác với những tòa nhà chọc trời, những ngôi nhà lầu khang trang xếp dãy với các dự án đầu tư và quy hoạch đô thị Nhất là cơ sở hạ tầng giao thông, tiến hành chỉnh trang đô thị, xây dựng một môi trường mới, tạo điều kiện cho công cuộc phát triển mới Khai thác tốt những lợi thế sẵn có, trong những năm

Trang 11

11

qua Đà Nẵng đã có những biến đổi rõ rệt về nhịp độ và khí thế phát triển Tốc độ GDP bình quân tăng cao hơn mức bình quân chung của cả nước, giá trị sản xuất các mặt hàng công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản phát triển toàn diện … kim ngạch xuất khẩu tăng, các ngành du lịch thương mại, dịch vụ chuyển biến tích cực Chủ trương lấy công nghiệp làm đòn bẩy phát triển, cơ cấu kinh tế Đà Nẵng có chuyển dịch đáng

kể theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ phù hợp với xu thế chung của cả nước và những đô thị lớn Để chuẩn bị cho một cuộc bức phá của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, với vai trò đầu tàu của mình, những năm qua, Đà Nẵng đã nỗ lực cải thiện hình ảnh và vị thế của mình để đáp ứng yêu cầu chung của khu vực

Và đời sống xã hội của người dân cũng được nâng cao, mức sống của cư dân thành phố cũng ngày càng được cải thiện Thành phố Đà Nẵng có hai ngôi chợ lớn nhất nằm ở trung tâm thành phố là chợ Hàn và Chợ Cồn, cùng với những siêu thị lớn mới mở trong vòng vài năm trở lại đây như Bài Thơ Plaza, siêu thị Big C, siêu thị Intimex, siêu thị Coop Mart, siêu thị Loste Mart…Đây là những trung tâm thương mại chủ yếu của Đà Nẵng

Về lĩnh vực tài chính ngân hàng, Đà Nẵng hiện là trung tâm lớn nhất của khu vực miền Trung – Tây Nguyên, với hơn 40 ngân hàng thương mại nhà nước, thương mại cổ phần, liên doanh, và công ty tài chính đang hoạt động, cùng với hàng chục trung tâm giao dịch chứng khoán quy mô lớn…Không những thế Thành phố Đà Nẵng còn là một trung tâm giáo dục và đào tạo lớn nhất khu vực miền Trung – Tây Nguyên Với một hệ thống giáo dục đào tạo chuyên nghiệp, chuyên sâu, nhiều cấp bậc khác nhau với nhiều trường Đại học, Cao Đẳng và Trung Cấp…

Tạo các tiền đề về vật chất, kinh tế, xã hội để từng bước xây dựng và hoàn chỉnh các thiết chế văn hóa và đời sống văn hóa của Thành phố Thành phố Đà Nẵng còn là một vùng đất hội tụ và chứa đựng nhiều di tích, nhiều giá trị văn hóa rất đặc trưng và mang lại giá trị cao Thành phố Đà Nẵng đã được thiên nhiên ưu ái, hào

Trang 12

12

phóng ban tặng cho những danh lam thắng cảnh rất đẹp và đa dạng Với những bãi biển xanh mát, mênh mông trữ tình, những ngọn núi oai nghiêm hùng vĩ nhưng cũng rất đổi nên thơ, bên cạnh đó là cái mềm mại, khỏe khoắn của sông ngòi và cũng có những góc khuất, những đường vòng của đèo cao, có cái mơ mộng, dịu dàng của bờ cát, của bến sông và cũng có cái tráng lệ, mạnh mẽ của phố xá, của những tượng đài, cao ốc Sự kết hợp và nhiên tạo rất hài hòa giữa biển nước và núi non đã tạo nên cho

Đà Nẵng một cảnh quan văn hóa say mê lòng người với những khu du lịch sinh thái như: Suối Lương, Bà Nà, Sơn Trà, Non Nước… Một nét đặc sắc nữa là thành phố còn được bao bọc bởi ba Di sản văn hóa thế giới: Huế, Hội An, Mỹ Sơn, xa hơn một chút nữa là di sản thiên nhiên thế giới Vườn Quốc gia phong Nha – Kẻ Bàng Đến với thành phố Đà Nẵng thân yêu chúng ta có thể thỏa mãn nhu cầu ăn uống và thưởng thức những đặc sản ẩm thực của vùng đất biển với những món ăn đặc trưng như: Mỳ Quảng, bánh tráng cuốn thịt heo, thịt bê thui, bún mắm, các loại hải sản…và cùng trãi hội thưởng lãm văn hóa với những lễ hội nổi bậc như: Lễ hội Quán Thế Âm, lễ hội bắn pháo hoa Quốc tế, lễ hội Mục đồng…

Nhìn chung, Thành phố Đà Nẵng là một Thành phố trẻ, rất năng động và đầy nhựa sống Nhưng đây cũng là một thành phố chứa đựng nhiều giá trị văn hóa, nhiều nét văn hóa đặc sắc và cả một kho tàng danh lam thắng cảnh có giá trị cao về mặt du lịch Trong nhịp sống xô bồ, năng động và hăng hái ấy thì những giá trị văn hóa truyền thống vẫn âm ỉ chảy theo nhịp sống hằng ngày trong các lễ hội, trong các chương trình văn hóa Và loại hình nghệ thuật Thư pháp vẫn được dành cho một vị trí nhất định Nó cũng có sức ảnh hưởng và thể hiện đời sống văn hóa của người dân Thành Phố trong mỗi độ tết đến xuân về, trong các lễ hội, trong các hoạt động văn hóa và kể cả trong đời sống hằng ngày

1.2 Khái quát về thư pháp Việt

1.2.1 Khái niệm về thư pháp

Trang 13

13

Thư pháp là một bộ môn nghệ thuật có nguồn gốc từ Trung Hoa, cũng chính

vì lẽ đó mà ngay bản thân chữ Thư Pháp cũng là một từ Hán Việt Thư pháp là một khái niệm khá phức tạp và khó có thể định nghĩa một cách hoàn chỉnh và tròn nghĩa được

Theo từ điển bách khoa Việt Nam thì thư pháp là phép viết chữ của người Trung Hoa và người Ả Rập được nâng lên thành một nghệ thuật

Theo từ điển Hán Việt trong từ thư pháp (書 法) thì chữ Thư (書) có nghĩa là sách (danh từ), nghĩa là viết (động từ) Còn chữ Pháp (法) có nghĩa là phương pháp, cách thức, phép Hai chữ Thư Pháp (書 法) có nghĩa là phép viết, cách viết hay phương pháp viết Thế nhưng hiểu một cách đầy đủ và chính xác hơn thì thư pháp

là một cách viết chữ đẹp

Một định nghĩa được xem là tương đối hoàn chỉnh, đó là định nghĩa của Thạc

sĩ Nguyễn Hiếu Tín: “Thư pháp là một từ Hán Việt Về mặt chiết tự, thư có nghĩa là

viết ( động từ ) Pháp có nghĩa là phép ( là khuôn phép nhất định để mọi người tuân theo ), là cách thức Hiểu một cách ngắn gọn là cách viết chữ hay phép viết chữ Theo từ nguyên của Trung Quốc thì “ dĩ văn tự kí tải sự vật viết THƯ” và “sự đã qua quá trình hoàn thiện thì gọi là PHÁP” Với nghĩa này, thư pháp cũng được hiểu

là loại hình nghệ thuật bắt nguồn từ sự diễn đạt chữ viết

Tương tự như vậy từ Calligraphy trong ngôn ngữ phương Tây cũng có nghĩa

là cách viết chữ đẹp Calligraphy là kết hợp hai từ Calli và Graphy Calli có nguồn gốc từ Hy Lạp là Kalli, phát sinh từ Kallos có nghĩa là vẻ đẹp Còn từ Graphy có gốc Hy Lạp là Graphein, có nghĩa là viết chữ Vì vậy thư pháp có chung nhất là cách viết chữ đẹp” (Trích “Thư pháp là gì” - Nguyễn Hiếu Tín)

Khi nói đến thư pháp thì người ta thường nghĩ ngay đến thư pháp chữ Hán của người Trung hoa xưa và ít ai nghĩ đến thư pháp chữ Việt - chữ Quốc ngữ như

Trang 14

14

thời đại hiện nay Thư pháp Việt chỉ mới ra đời trong những năm gần đây, nó đang

tự khẳng định vị trí của mình và nó không chỉ nhận được sự quan tâm của khán giả trong nước mà còn nhận được sự ủng hộ của bạn bè quốc tế từ Đông sang Tây Chính

vì vậy mà cũng cần có một khái niệm, một thuật ngữ để nói về thư pháp chữ Việt – thư pháp chữ Quốc ngữ để cả người phương Đông và người phương Tây đều hiểu

rõ về loại hình nghệ thuật này

Cũng chính vì lẽ đó mà nhà thư pháp trẻ Đăng Học đã mạo muội đưa ra một tên gọi cho bộ môn nghệ thuật này là W.E Calligraphy

“Với nghĩa đen W.E là chúng ta, Calligraphy là thư pháp Vậy, W.E Calligraphy là thư pháp của chúng ta, của dân tộc Việt Nam và của những người đang chung sống trên một hành tinh tuy không cùng dân tộc và màu da Nhưng cùng nhìn về một hướng, một tương lai tươi đẹp, một cái nhìn chung về thẩm mỹ Ý nghĩa thứ hai của W.E Calligraphy tức là thư pháp Á Âu

W là viết tắt của từ WEST nghĩa là Tây phương

E là viết tắt của EAST nghĩa là Đông phương

Calligraphy là nghệ thuật chữ viết

Vậy W.E Calligraphy là một loại hình nghệ thuật chữ viết kết hợp tinh hoa giữa Á và Âu Lối viết này thể hiện các hệ thống ngôn ngữ sử dụng mẫu tự La Tinh đến từ phương Tây, hoà quyện dưới nét bút đặc trưng của nghệ thuật chữ viết phương Đông” (Trích “ Hồn chữ Việt ” – Đăng Học)

Đó là cách nhìn nhận và khái niệm của Đăng Học về thư pháp Việt Nhưng chúng ta cũng có thể hiểu một cách đơn giản và nôm na, thư pháp Việt là một sự sáng tạo kết hợp cái thần của ngọn bút lông với nét chữ Quốc ngữ các mẫu tự La Tinh để tạo nên thư pháp chữ Việt mang tính hiện đại và đại chúng như chúng ta thấy ngày nay Thư pháp chữ Việt cũng giống như chữ Hán ngày xưa nó cũng chứa đựng những cách thức, phương pháp, kỹ thuật và cũng viết bằng bút lông mực tàu

Trang 15

Theo phỏng vấn thư pháp gia Trương Kiên thì ông cho rằng: “Một tác phẩm

thư pháp thì trong đó phải có sự kết hợp hài hoà giữa âm và dương đó là giữa nét

to nét nhỏ, nét đậm nét lợt, cũng như màu trắng của giấy và màu đen của mực Bố cục và nội dung câu chữ phải thể hiện tính thẩm mỹ, thư pháp phải sống động, có hồn”

Vậy có thể nói rằng, thư pháp là một bộ môn nghệ thuật có ý nghĩa sâu sắc mang đậm tính cách Đông phương Nó thể hiện vẻ đẹp thẫm mỹ của chữ viết và phương tiện để biểu hiện nội tâm của con người Nó được thể hiện từ nguồn cảm hứng sâu xa của người thủ bút kết hợp nhuần nhuyễn với nghệ thuật viết chữ Mỗi nhà thư pháp đều có những sự sáng tạo riêng, đều có cách cảm nhận và nguồn cảm hứng khác nhau mà tạo ra các tác phẩm thư pháp khác nhau, mang phong cách, tâm trạng và nội tâm của người thủ bút Để đánh giá và thưởng lãm một tác phẩm thư pháp thì chúng ta cần nhìn nhận nó ở hai khía cạnh thứ nhất là nghệ thuật, kỹ năng vận bút của người viết và thứ hai là cái hồn, cái ý nghĩa được thể hiện, được truyền

Trang 16

16

tải trong tác phẩm ấy, đây cũng là yếu tố quan trọng tạo nên giá trị nghệ thuật và ý nghĩa thẫm mỹ của thư pháp

1.2.2 Thư pháp Việt từ cội nguồn văn hoá

Lịch sử chữ viết của nước ta cũng trải qua nhiều giai đoạn, nhiều biến đổi thăng trầm của lịch sử xã hội Sự ra đời và phát triển của nghệ thuật thư pháp cũng gắn liền với sự ra đời và phát triển của chữ viết dân tộc Từ trong cội nguồn của lịch

sử văn hoá dân tộc, Thư pháp là một bộ môn nghệ thuật có nguồn gốc từ Trung Hoa Đây là bộ môn nghệ thuật truyền thống của người Trung Hoa vì khởi thuỷ đầu tiên của thư pháp đó là chữ Hán, mà Trung Hoa là một quốc gia sử dụng mẫu tự chữ Hán đầu tiên trên thế giới Sau đó với sự giao lưu văn hoá cũng như sự đô hộ của Trung Hoa đối với các nước khác mà bộ môn nghệ thuật này đã du nhập vào các Quốc gia lân cận như Việt Nam, Triều Tiên, Nhật bản Theo dòng thời gian cùng với những ý nghĩa tốt đẹp và giá trị nghệ thuật thẩm mỹ mà thư pháp đã được các nước đón nhận

và duy trì, phổ biến

Đất nước ta với hơn 1000 năm đô hộ phương Bắc, cũng chính trong khoảng thời gian đó nền văn hoá của nước ta đã chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn hoá Trung Hoa từ tôn giáo, tư tưởng đến chữ viết và ngôn ngữ Trong khoảng thời gian bị Trung Hoa đô hộ thì có lúc chữ Hán trở thành chữ viết chính thống của nước

ta, có lẽ nghệ thuật thư pháp cũng được du nhập và xuất hiện ở nước ta từ đó Nhưng với truyền thống văn hoá của cha ông ta từ xưa đến nay không muốn bị đồng hoá hay hoà tan và cũng không muốn bị Trung Hoa đô hộ mãi về chính trị, văn hoá… Chính vì vậy mà người Việt Nam ta đã sáng tạo nên một hệ thống chữ viết riêng dựa trên nền tảng chữ Hán của người Trung Hoa bằng cách thêm nét vào những chữ Hán

có sẵn để tạo nên lối chữ riêng của dân tộc mình đó là chữ Nôm Chữ Nôm ra đời vào thế kỉ thứ 10 nhưng cũng không được người dân hăng hái đón nhận, do đó là

Trang 17

đồ, của những bậc tiền bối đức độ cao thâm Các thư pháp gia Hán Nôm đầu tiên và nổi tiếng của nước ta thời bấy giờ phải kể đến đó là danh sĩ Phạm Sư Mạnh thời Trần, vua Lê Thánh Tông, vua Lê Cảnh Hưng, hay Chúa Trịnh Sâm với dòng chữ “

Nam Thiên Đệ Nhất động ” và các danh sĩ như Cao Bá Quát và Bùi Dị với nững nét

bút tài hoa, phóng khoáng như xuất thần…cũng là những nhà thư pháp lỗi lạc lúc bấy giờ

Khởi thuỷ của thư pháp Việt Nam đó là thư pháp chữ Hán và sau đó với sự ra đời của chữ Nôm thì thư pháp chữ Nôm cũng xuất hiện Nó đã trở thành một nét đẹp trong văn hoá truyền thống của người Việt Nam Hình ảnh ấy trong xã hội xưa được thể hiện rất rõ trong những ngày tết cổ truyền với những ông đồ, những bậc Nho sĩ ngồi viết chữ

Mỗi năm hoa đào nở, Lại thấy ông đồ già

Bày mực tàu giấy đỏ, Bên phố đông người qua

Trang 18

18

( Thơ Vũ Đình Liên ) Hay câu ca dao:

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh

Những câu thơ, những câu ca dao ấy đã trở thành bất hủ trong nền văn hoá Việt Ngày xuân trên đất nước Việt không thể nào thiếu đi hình ảnh của những ông

đồ ngồi viết thư pháp, cho chữ đầu năm Khi ấy viết câu đối, viết thư pháp đã trở thành một cái nghề - một cái nghề rất tao nhã được xã hội kính trọng Nét đẹp ấy đã trở thành một nét văn hoá truyền thống của người Việt Nam xưa Đồng thời đó cũng

là phong tục, tục lệ truyền thống của người Việt từ xưa đến nay Mỗi câu chữ là một niềm vui, một niềm tin, niềm hy vọng mà con người gửi gắm vào đó với mong muốn

và cầu mong cho một năm mới tốt đẹp, gia đình được yên vui con cháu được học hành đỗ đạt và nó cũng là tấm gương để mọi người noi theo và nhìn nhận

Đến thế kỷ thứ 17 với mục đích du nhập đạo thiên chúa vào Việt Nam, các giáo sĩ người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha cùng với sự giúp đỡ của các giáo sĩ người Việt đã Latinh hoá chữ viết để dể dàng truyền đạo và đồng thời giúp người Việt thoát

ra khỏi chữ vuông và tư tưởng Khổng giáo của người Trung Hoa

Năm 1624 một linh mục người Pháp tên là Alexandre Rhodes cho xuất bản cuốn từ điển Việt Bồ La, cuốn từ điển này dùng các mẫu tự Latinh ( A, B, C…) và cộng thêm một số dấu để viết tiếng Việt Đến năm 1773 một lính mục người Pháp khác tên là Pigneau de Béhain bổ sung cuốn từ điển đối chiếu Hoa Việt La Sau đó mãi đến năm 1832 mới được hoàn thiện bởi giám mục Tabert cùng một số người Việt khác Lối viết này đã được phổ biến rộng rãi và trở thành hệ thống chữ quốc ngữ cho đến ngày hôm nay Chữ Quốc ngữ ra đời đã thỏa mãn được mong muốn của người dân Việt Nam với một hệ thống chữ viết riêng của dân tộc mình không hề vay mượn hay giống với bất kỳ chữ viết nào, nó khẳng định được chủ quyền và nền văn hoá của dân tộc Việt Đồng thời nó cũng được người dân ủng hộ và đồng tình bởi

Trang 19

19

những ký tự tương đối dễ và ngữ nghĩa rõ ràng, tuy nhiên thì cũng có những bậc nho

sĩ yêu chữ Hán lúc bấy giờ cũng phản đối nhưng theo thời gian cùng với sự phát triển của chữ Quốc ngữ thì chữ Quốc ngữ đã trở thành một chữ viết, một ngôn ngữ chính thống và riêng của người Việt Sự ra đời và phát trển của chữ Quốc ngữ trong một khoảng thời gian quá nhanh điều đó càng làm cho nền văn hoá của nước ta thêm phong phú, đa dạng và nó cũng đã trở thành “cái hồn riêng của đất nước” là tài sản riêng của dân tộc Việt Nam

Đồng thời với sự ra đời và phát triển của chữ Quốc ngữ thì thư pháp chữ Việt

- sử dụng các ký tự chữ Latinh cũng đã ra đời và phát triển Thư pháp chữ Việt xuất hiện tại nước ta vào những năm 1955 – 1960 Có thể nói rằng người đặt nền móng đầu tiên và có những công lao rất lớn cho sự nghiệp văn hoá, văn học cũng như thư pháp chữ Việt Việt Nam đó là cụ Đông Hồ Ông được mệnh danh là cha tổ của thư pháp chữ Việt là người đầu tiên kết hợp một cách sáng tạo và tài hoa giữa ngọn bút lông truyền thống với những ký tự chữ Latinh mới mẽ, hiện đại Cùng thời với ông còn thấy bút tích của nhà thơ Vũ Hoàng Chương, tiếp theo là nhà thơ Nam Giang, Trụ Vũ, Vũ Hối… Đây cũng là những người tiên phong đặt những viên gạch móng đầu tiên cho nghệ thuật thư pháp chữ Việt Thư pháp chữ Việt là một loại hình nghệ thuật còn rất mới mẽ và mang tính hiện đại so với thư pháp chữ Hán Nôm trước kia Nhưng với sự sáng tạo, với năng khiếu tài hoa của các thư pháp gia mà chữ viết ấy

đã được trau chuốt, sáng tạo và bay bổng trở thành những tác phẩm nghệ thuật mang giá trị văn hoá và giá trị thẩm mỹ cao Ngày nay thì những giá trị tốt đẹp ấy vẫn được gìn giữ, kế thừa và phát huy mặc dù đã trải qua những biến cố của lịch sử Từ buổi

thoái trào của thư pháp qua hình ảnh “Ông đồ vẫn ngồi đấy, qua đường không ai hay

” trong thơ của Vũ Đình Liên Thì cho đến nay, nghệ thuật thư pháp đã có sự khởi sắc hồi sinh và cách tân với sự xuất hiện của thư pháp chữ Việt – như một phương thức biểu thị, lưu truyền, tiếp nối truyền thống tốt đẹp của dân tộc

Trang 20

20

Càng về sau, thư pháp càng phát triển và trở thành một nét văn hoá đặc trưng của người dân Việt Nó nhận được nhiều sự quan tâm, tình cảm của người dân cũng như niềm đam mê và sáng tạo của các thư pháp gia Trong những năm gần đây thì chúng ta thấy sự xuất hiện của những nhà thư pháp nổi tiếng như Nguyễn Thanh Sơn, Lê Vũ, Bá Linh, Thiện Dũng, Trần Quốc Ẩn, Hồ Công Khanh,… Thư pháp không dừng lại đối với những người yêu văn yêu chữ, đối với những người biết các văn tự Hán Nôm mà còn lan rộng ra nhiều giới từ doanh nghiệp đến công nhân, cán

bộ công chức và cả những người rất trẻ chỉ cần có niềm đam mê và yêu thích bộ môn nghệ thuật này như thư pháp trẻ Hiếu Tín, Đăng Học, Thanh Hải…

Bóng dáng đầu tiên của thư pháp chữ Việt là những câu chữ được viết trong khuôn khổ ô vuông, ô tròn hay lối viết chữ ngược trong những câu đối, trong những bức hoành phi ở các ngôi chùa còn tồn tại cho đến ngày nay Lúc đó thư pháp chữ Việt mới ra đời nó vẫn còn mang những khuôn phép, dáng dấp của thư pháp chữ Hán – Nôm nó chưa thực sự thoát ly ra những khuôn khổ, chuẩn mực ấy Theo thời gian cho đến ngày hôm nay thì thư pháp chữ Việt đã thực sự thoát ly và mang tính sáng tạo cao Nó được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, với những lối viết, những phong cách riêng theo cảm nhận của mỗi người Nhiều loại hình thư pháp ra đời như thư pháp trên đá, thư pháp khắc trên gỗ, tranh thêu thư pháp…Nó luôn biến đổi và phát triển linh hoạt để phù hợp với xu thế và đời sống của xã hội

Thư pháp Việt từ cội nguồn văn hoá, nó được hình thành và phát triển cùng với yếu tố trí tuệ, đời sống tinh thần và sự phát triển văn hoá xã hội của đất nước

Nó thể hiện những giá trị, nền văn hoá truyền thống của dân tộc Mặc dù được kế thừa và phát triển dựa trên nền tảng thư pháp Hán Nôm của Trung Hoa nhưng thư pháp chữ Việt luôn luôn vận động, luôn luôn phát triển và sáng tạo ra những giá trị, bản sắc riêng vốn có của dân tộc mình Sự phát triển của bộ môn nghệ thuật thư pháp cũng đánh dấu sự phát triển của nền văn hoá Việt Nam, nó trở thành một nét văn hoá

Trang 21

 Bút lông

Bút lông là một trong những vật dụng rất quan trọng và rất quý đối với người hội hoạ và viết chữ, nó là công cụ hàng đầu để có thể tạo ra các tác phẩm nghệ thuật Theo truyền thuyết thì bút lông có nguồn gốc và xuất xứ từ Trung Hoa, lịch sử chế tạo bút lông đã xuất hiện từ rất lâu khoảng 221 năm trước công nguyên và nó được người Trung Hoa gọi là “ Mao bút ” là một tuyệt phẩm của nhân loại Đây là một loại bút rất đặc biệt và độc đáo được chế tạo từ các loại lông thú và có các tính năng mềm, cứng rất khác nhau từ đó tạo nên sự uyển chuyển, mềm mại và các đường nét khác nhau khi vận bút Với những hoạt tính ấy mà bút lông đã trở thành một “vật bảo” đối với người Nho sĩ và hoạ sĩ nó là “cộng tác viên” để cho ra đời những tác phẩm nghệ thuật độc đáo và mang tính giá trị cao

Cây bút sớm nhất xuất hiện cách đây khoảng hơn 2000 năm, trong 2000 năm

đó cây bút lông dần dần được hoàn thiện, phát triển tạo ra nhiều chủng loại, mẫu mã

và các tính năng phong phú, đa dạng hơn để phục vụ cho nhu cầu và cuộc sống ngày càng cao của con người cũng như sự phát triển đỉnh cao của nghệ thuật

Cấu tạo của bút lông gồm có hai phần đó là thân bút (cán bút) và ngọn bút Thân bút thì được làm từ các chất liệu như gỗ, tre, trúc, ngà voi, thuỷ tinh, bằng sừng

Trang 22

22

động vật…rất đa dạng và phong phú Còn ngọn bút thì được làm từ các chất liệu như lông thỏ, lông dê, lông chuột, lông hổ, lông hươu, lông nai, lông heo, tóc người, râu người, cỏ mao… Sự khác biệt đó cũng do chất liệu cũng như dộ dài của lông được dùng làm ngọn bút

Hiện nay thì có 3 loại bút lông chính và thông dụng nhất đó là: bút lông mềm, bút lông cứng và bút lông pha

- Bút lông mềm: thường được chế tạo từ lông dê, tóc thai nhi…Với tính năng mềm mại nhu nhuyễn nên hấp thụ được nhiều mực tạo ra nét chữ đầy đặn, nét bút linh hoạt uyển chuyển khi vận bút

- Bút lông cứng: Thường được chế tạo từ lông thỏ, lông sói, lông chuột…Với tính năng cương kiện, đầu bút chắc khoẻ, có tính đàn hồi cao Nhưng khi hạ bút khó tạo được đường cong, nhất bút thường để lại dấu, hay lộ rõ những mảng sướt của ngọn bút trên mặt giấy

- Bút lông pha: Kết hợp loại lông cứng và lông mềm để tạo ra một loại bút có tính năng dung hoà, loại bút này vừa có nhu có cương hổ trợ cho nhau về các tính năng nên rất tiện để sử dụng

Mỗi loại bút thì có những độ dài và độ dày cũng khác nhau và chính điều đó cũng ảnh hưởng rất nhiều đến sự thành công của tác phẩm Với những độ dài và độ dày khác nhau thì sẽ tạo ra những đường nét khác nhau có thể là nét to, nét nhỏ, nét mảnh hay nét sướt…

Với nhiều chủng loại, nhiều tính năng phong phú, đa dạng như vậy nên việc chọn bút cũng là một khó khăn đối với người muốn sử dụng nó Đối với những người

đã có kinh nghiệm, đã hành nghề lâu năm thì khi chọn một cây bút lông thì họ sẽ nhìn vào sự hội tụ của 4 yếu tố đó là Tiêm, Tề, Viên, Kiện và người ta gọi đó là 4 cái

“ đức ” của bút lông Tiêm: nghĩa là nhọn Tề: nghĩa là ngay ngắn, tất cả các sợi lông phải được xếp đều đặn Kiện: là cứng cáp, ngọn bút có độ đàn hồi cao Viên: Chỉ việc ngòi bút tròn đều, lông bút dày dặn Khi chọn bút nếu cây bút hội tụ đầy đủ bốn

Trang 23

23

yếu tố ấy thì chúng ta sẽ có một cây bút tốt, điều đó cũng đồng nghĩa với việc khi viết chữ ta sẽ tạo ra được những tác phẩm đẹp, có ý có thần và đạt đựơc những giá trị của nghệ thuật Đặc tính của bút sẽ quyết định đến chữ viết ra, chỉ có chọn bút đúng mới cho ra đời những tác phẩm đẹp và đạt tới cảnh giới cao của thư pháp

Đối với những người viết chữ và đam mê nghệ thuật thư pháp thì cần phải có cho mình một cây bút tốt, từ đó mới tạo ra được những nét chữ đẹp Phải biết quý trọng, bảo quản nó một cách đúng đắn để có thể đem lại thời hạn và giá trị sử dụng cao Cây bút lông cũng đã trở thành một nét đẹp văn hoá, nó là dụng cụ để tạo nên

vẻ đẹp trong từng câu chữ, từng đường nét mà chỉ có cây bút lông mới tạo ra được Gía trị, trình độ nghệ thuật của một tác phẩm thư pháp được thể hiện qua từng đường nét, từng câu chữ Và vẻ đẹp của từng đường nét từng câu chữ được thể hiện qua việc lựa chọn bút, trình độ sử dụng bút và đặc tính của cây bút lông sử dụng để tạo

ra tác phẩm ấy

 Mực

Trong các vật dụng và đồ dùng để tạo nên một tác phẩm nghệ thuật chúng ta không thể thiếu một vật phẩm đó là mực Mực cũng có xuất xứ từ Trung Hoa và được người Trung Hoa gọi là “mặc” còn chúng ta gọi là mực Tàu Các nguyên liệu

để tạo nên mực đều có từ tự nhiên như bồ hóng, than tùng, hoà với keo hoặc nhựa thông…và đôi khi có pha thêm một số phụ gia để giữ mùi hương Cũng có một số loại được trộn với cả trân châu, vàng và cả mật rắn…

Tuỳ theo đặc tính của nguyên liệu và cách pha trộn mà cho ra nhiều loại mực

có màu sắc, tính năng khác nhau để có thể phù hợp với từng phong cách, từng ý đồ của người viết

- Mực làm từ bồ hóng có xuất xứ từ dầu sẽ cho ta mực có màu đen ấm

- Mực làm từ bồ hóng có xuất xứ từ gỗ thông sẽ cho ta mực có màu xanh đen

và lạnh hơn, loại này thích hợp cho người viết vẽ tranh truyền thống

Trang 24

- Mực thỏi: là loại mực có dạng thỏi cục khi viết chúng ta phải mài mực Việc mài mực cũng là một nét văn hoá nó thể hiện thư thái và rèn luyện tính cách của con người Khi mài mực phải thật chậm rãi, nhẹ nhàng, cầm thỏi mực đứng thẳng, tay đưa thỏi mực theo vòng tròn, vòng tròn nên lớn không nên nhỏ quá và mài theo một chiều duy nhất Cho nước vào nghiên từ từ mỗi lần một ít, khi mực sệt lại thì tiếp tục cho nước vào và mài đến khi lượng mực đủ dùng thì thôi Trong khi mài mực nhúng ngọn bút vào lượng mực vừa mài và nhấc lên thử, nếu không thấy mực nhỏ xuống từng giọt thì đã đủ độ sệt, chấm vào giấy để kiểm tra độ đậm nhạt của mực

và có thể pha trộn sao cho hợp lý, tuỳ theo ý thích của mình Một điều đáng chú ý là chúng ta không nên dùng lại mực củ, vì mực củ chứa nhiều cặn khi vận bút sẽ không trôi chảy từ đó làm cho tác phẩm xấu đi

- Mực nước: Đây là loại mực đã được pha sẵn nó rất thuận tiện khi mua về chỉ cần đổ ra chén là có thể sử dụng được ngay Thế nhưng bên cạnh ưu điểm là thuận tiện thì mực nước có nhược điểm là chúng ta không thể pha trộn theo ý thích của mình không có độ đặc, loãng và màu sắc như mình mong muốn Chính vì vậy khi sử dụng mực nước thì chúng ta cần sử dụng thêm mực thỏi để điều chỉnh độ đặc loãng

và màu sắc theo ý thích của mình

Như vậy mực cũng là một vật dụng, một nguyên liệu rất quan trọng để tạo nên một tác phẩm nghệ thuật thư pháp đẹp hoàn chỉnh Một tác phẩm thư pháp được

Trang 25

25

đánh giá cao không chỉ thể hiện ở đường nét vận bút mà nó còn thể hiện ở màu sắc

và nét mực khi vận bút sao cho đẹp, óng ánh và màu sắc phải hài hoà, chuẩn xác Điều đó cũng thể hiện óc thẩm mỹ, trình độ và khả năng sáng tạo của người viết thư pháp

 Nghiên mực

Nghiên mực cũng là một vật dụng rất quan trọng tuy nó không giữ vai trò then chót nhưng lại được xem trọng Theo các cụ ngày xưa cho rằng nghiên đá là một vật rất linh thiêng trấn giữ phòng văn và là nơi hội tụ khí tinh anh của trời đất Khi sử dụng mực thỏi thì cần phải có nghiên mực để mài mực Nghiên mực được người Trung Hoa gọi là “nghiễn” là loại dụng cụ dùng để mài và đựng mực Tàu Chất liệu làm nghiên mực cũng rất phong phú và đa dạng được làm bằng ngọc, đá, gốm, sành

sứ, có khi được làm bằng đồng hoặc gỗ Và được tạo ra với nhiều kiểu dáng khác nhau, và được trang trí, điêu khắc rất đẹp nhiều mẫu mã

Ngày nay cùng với sự ra đời cũng như tính tiện ích của mực nước thì mực thỏi

và nghên mực cũng ít được dùng mà thay vào đó là những chén đựng mực lại trở nên thông dụng hơn Tuy vậy nhưng đối với một nhà thư pháp thì bao giờ cũng phải

có một nghiên mực đi bên vì nó đã trở thành một vật dụng bất ly đối với một nhà thư pháp, nó thể hiện cái phong cách và thư thái của một nhà thư pháp thực sự Khi

sử dụng nghiên mực một điều cần chú ý là khi dùng xong cần phải rửa thật sạch để mực không bị đóng cứng trong nghiên

Giấy

Trong thư pháp giấy là một trong bốn vật bảo rất là quan trọng và cần thiết để thể hiện một tác phẩm thư pháp Người phát minh ra giấy viết đầu tiên trên thế giới (năm 105 sau Công Nguyên) là người Trung Quốc, tên là Thái Luân sống ở thời Đông Hán Giấy là một trong bốn phát minh lớn của người Trung Quốc trong lịch

sử được cả thế giới công nhận

Trang 26

26

Giấy viết được sản xuất ở Việt Nam từ khoảng thế kỷ thứ III Giấy được sản xuất từ một loại vỏ cây có hương thơm gọi là giấy Cốc Chỉ Đây là loại giấy viết đầu tiên mà nước ta sản xuất, loại giấy này có đặc tính là dai, mỏng, thấm nước chậm,

có hương thơm Lúc bấy giờ thì đây là loại giấy khá nổi tiếng và nó cũng không thua kém gì loại giấy của người Trung Quốc Đến thế kỉ XVI dưới triều Lý loại giấy Dó xuất hiện và được nâng cao lên một bước về mặt kỹ thuật Loại giấy Dó ra đời đã nhanh chóng nổi tiếng và trở thành một loại giấy truyền thống của người Việt Nam Giấy Dó có màu vàng ngà, độ hút mực rất tốt tùy theo độ dày của giấy Nguyên liệu chính để làm nên loại giấy này là vỏ dó tươi, loại giấy này nếu biết cách bảo quản tốt thì có thể giữ được khoảng vài trăm năm Đây được xem là một loại giấy tốt, đặc biệt Nghề làm giấy Dó được xem là một nghề truyền thống của người Việt Nam, được lưu truyền từ đời này sang đời khác, nó chỉ phổ biến và lưu truyền trong một vùng, một làng nhất định Hiện nay vẫn còn một số làng làm nghề giấy Dó như Yên Thái, Nghĩa Đô, Hồ Khẩu, làng Bưởi… đây được xem là một làng nghề truyền thống,

có bí quyết nhiều đời truyền lại và mang tính đặc trưng của vùng Giấy cũng là một sản phẩm mang đậm dấu ấn văn hóa Việt Nam

Giấy Dó chuyên dùng cho các thầy khóa, các nho sinh học hành thi cử, chép thơ, chép kinh, và cho các nghệ sĩ, nghệ nhân dân gian vẽ tranh, cho chữ, viết thư pháp - vừa đẹp vừa bền vừa tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc đậm đà Do những đặc tính là bền, đẹp, hút thấm mực nhanh nên giấy Dó rất được những nhà thư pháp xưa yêu thích và dùng rất phổ biến

Thư pháp truyền thống dùng giấy Dó và giấy Điệp Giấy Điệp thực chất là một tờ giấy Dó quét một lớp điệp (vỏ sò giã nát trộn với màu thiên nhiên và hồ) Giấy này có đặc tính là ít hút mực, bề mặt bóng, có ánh sáng của vỏ sò Đó là hai loại giấy truyền thống được dùng phổ biến và rộng rãi trong thư pháp Nhưng hiện nay với sự đa dạng về mẫu mã, thị trường sản xuất nên bây giờ các nhà viết thư pháp thường sử dụng những loại giấy khác như giấy Măng xông, giấy Việt Trì, giấy

Trang 27

27

Toky Các loại giấy này được sử dụng rộng rãi và nhiều bởi giá thành của nó tương đối rẻ và những đặc tính của nó cũng tốt và phù hợp để viết chữ thư pháp, có nhiều kích cỡ khác nhau

Như vậy, giấy là một vật dụng rất là quan trọng và cần thiết cho nghệ thuật viết thư pháp Nó là vật liệu để chứa đựng, thể hiện và lưu giữ tác phẩm và nó cũng đóng góp một phần rất lớn vào việc tạo nên một tác phẩm nghệ thuật Nếu một loại giấy tốt, đẹp, thấm mực nhanh thì có thể tạo ra một tác phẩm đẹp mắt và đạt đến trình độ nghệ thuật tuy nhiên vẫn còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác Thư pháp truyền thống thì thường dùng các loại giấynhư giấy Dó, giấy Điệp, giấy Cốc Chỉ…Nhưng hiện nay thì các nhà thư pháp thường dùng các loại giấy phổ biến trên thị trường như giấy Măng xông, giấy Việt Trì, giấy Toky và giấy Dó cũng còn được

sử dụng phổ biến

1.2.4 Nghệ thuật viết chữ

Trong thư pháp, yếu tố quan trọng và quyết định đến sự thành công hay thất bại của một tác phẩm nghệ thuật thư pháp đó là nghệ thuật viết chữ Nghệ thuật viết chữ ở đây được thể hiện từ động tác cầm bút, đến cách vận bút rồi cho đến thể hiện một tác phẩm hoàn chỉnh Tất cả những khâu ấy phải có những kỷ thuật và phương pháp căn bản để chúng ta có thể học hỏi và thực hiện theo Tuy nhiên trong quá trình viết, trong quá trình thực hiện tác phẩm thì mỗi người sẽ có những sáng tạo, những cách thức và phong cách riêng của mình để có thể tạo ra một tác phẩm khi mình cho

là hoàn chỉnh và đạt đến trình độ nghệ thuật

Khi muốn đến bộ môn nghệ thuật thư pháp thì cần phải có những kiến thức căn bản về bộ môn nghệ thuật này Cách cầm bút sao cho đúng cách, hợp lý và tạo được phong thái và sự thoải mái khi viết Cách cầm bút căn bản nhất đó là ngũ chỉ

nhấp bút: “Đầu ngón tay cái áp sát vào than bút, đầu ngón trỏ và ngón giữa áp sát

vào thân bút theo hướng đối diện với ngón cái Phần móng tay của ngón áp út tựa

Trang 28

28

nhẹ vào thân bút và ngón út không chạm vào thân bút mà tựa nhẹ vào ngón áp út”

(Trích Thư pháp Việt lý thuyết và thực hành, tác giả: Đăng Học)

Đó là một cách cầm bút rất phổ biến và được xem là căn bản cho những người viết thư pháp Tuy nhiên thì vẫn có những người có nhiều cách cầm bút khác nhau miễn sao là thoải mái, dể dàng cho họ vận bút và viết chữ thì sẽ áp dụng Mỗi người

có nhiều ý nghĩ và cách thức cầm bút và vận bút riêng cho mình Từ khâu cầm bút cho đến không gian thực hiện và tư thế ngồi phải sao cho thật rộng rãi và thoải mái Không gian thể hiện rộng rãi, thoải mái để tác giả có thể tự do phóng bút, tự do vận bút theo các phương hướng khác nhau Tư thế ngồi phải thoải mái có thể là ngồi viết, đứng viết, cúi viết, ngồi nghiêng viết…Tùy theo nét chữ và phong cách mình muốn thể hiện mà có thể lựa chọn ở nhiều tư thế, góc độ khác nhau

Một người thư pháp gia cũng cần phải nắm bắt được hình thức cơ bản của thư pháp chữ Việt có năm kiểu viết chính, đó là: chữ Chân Phương, chữ Cách Điệu, chữ

Cá Biệt, chữ Mô Phỏng và chữ Mộc Bản Chữ Chân Phương (hay còn gọi là Chân Tự) là cách viết rõ ràng, dễ đọc và rất giống chữ thường Chữ Cách Điệu (còn gọi là Biến Tự) là cách viết biến đổi từ chữ Chân Phương, nhưng các chữ cái hơi được biến dạng một chút để tạo lối viết riêng của từng người Chữ Cá Biệt (còn gọi là Cuồn Thảo) là lối viết mà người phóng bút “nhiếp tâm” giữ tư tưởng và quản bút theo cảm hứng và ý tưởng của mình Lối viết này thể hiện cá tính của người viết Nhìn vào kiểu chữ này, người xem dễ nhận ra tác giả mà không cần phải xem chữ ký Kiểu chữ này thường được viết liền mạch trong một nét nên khó đọc Còn chữ Mô Phỏng

là lối viết dựa theo kiểu chữ của nước ngoài Chẳng hạn có người viết chữ Việt nhưng nhìn qua trông ngỡ chữ Tàu, hay chữ Ả Rập, chữ Miên Cuối cùng là chữ Mộc Bản

là kiểu chữ giống như chữ khắc trên mộc hoặc như kiểu thợ sắp chữ của nhà in mà khi viết thì theo một phương pháp đảo lộn, khi xem phải dùng gương phản chiếu Khi nhìn qua, chữ kiểu này trông giống dạng Hán - Nôm, nhưng thực ra lại là chữ Việt viết ngược Chính vì vậy, người viết thư pháp cần phải nắm rõ và hiểu được

Trang 29

Nghệ thuật viết thư pháp còn thể hiện ở bố cục bày trí, bố cục chọn để viết sao cho thật cân xứng, hài hòa và tạo được tính thẩm mỹ cao Tùy theo từng câu chữ

mà chúng ta lựa chọn những bố cục khác nhau, có thể là bố cục hình vuông, hình tròn, hình chữ nhật, hình quạt…Miễn sao các chữ ở trong câu, các từ trong chữ được bày trí và thể hiện một cách gọn gàng, đẹp mắt, cân xứng, hài hòa so với khuôn khổ,

bố cục của mẫu giấy

Khi viết chữ cần phải giữ cho mình một tư thế thật thoải mái, thả lỏng người

và tập trung tư tưởng để khi vận bút, khi thể hiện tác phẩm chúng ta có thể thể hiện nhiều nét chữ khác nhau: nét to, nét nhỏ, nét đậm, nét lợt, nét thanh, nét sướt…các nét chữ phải thật rắn rỏi, dứt khoát và sắc bén đó chính là yêu cầu của nghệ thuật thư pháp Trong một tác phẩm nghệ thuật thư pháp cần phải có sự linh hoạt, biến đổi và luân chuyển của nhiều nét chữ khác nhau để tạo nên một tác phẩm sinh động, hấp dẫn và mang giá trị nghệ thuật Nếu trong một tác phẩm chỉ sử dụng một nét chữ, hay sự thể hiện không sinh động thì sẽ tạo nên sự đơn điệu, nhàm chán và cứng nhắc cho tác phẩm và giá trị nghệ thuật của nó sẽ không cao Thư pháp khi đạt đến trình

độ nghệ thuật thì phóng bút thật nhanh, và được ví như những nét “rồng bay phượng múa”, các nét chữ tạo ra thật tự nhiên, liên tục và dứt khoát Để đạt được đến trình

độ đó thì không phải là một điều dễ dàng, cần phải có một thời gian rèn luyện và học tập lâu dài Khi tạo nên được những nét chữ như “rồng bay phượng múa” tức là đã

Trang 30

30

đạt được đến trình độ nghệ thuật điêu luyện Lúc đó giữa kỹ thuật và tâm hồn đã hòa quyện thành một và nó kết tinh trong tác phẩm, trong câu chữ mình viết ra và đó là điều rất quan trọng trong nghệ thuật viết chữ

Nghệ thuật viết chữ nói riêng và tất cả các nghệ thuật khác nói chung khi muốn tạo ra một tác phẩm, một sản phẩm đuợc xem là đạt đến trình độ nghệ thuật thì ngoài những yếu tổ thẩm mỹ tạo nên cái đẹp trong con mắt nhìn của người thưởng thức, thì tác phẩm ấy cần phải có hồn, gợi được sự cảm nhận và cảm hứng cho người xem Trong thư pháp người ta gọi nó là hồn của tác phẩm, là vẻ đẹp bên trong của nét chữ Nét chữ phải biểu lộ được tâm tư, tình cảm, tính cách của người thể hiện tác phẩm Các nét chữ phải thật tự nhiên, rõ ràng, đều đặn, tạo nên một cảm giác dễ chịu, thích thú và hưng phấn cho người xem Để tạo nên được một tác phẩm có hồn như vậy thì đòi hỏi người viết phải giữ cho tinh thần thật minh mẫn, tỉnh táo, thoải mái và thoát ly hết tất cả những ràng buộc thả hồn và suy nghĩ của mình theo từng nét chữ, từng đường mực Lúc đó người viết sẽ viết theo tâm thức, theo quán tính, thêm vào đó là sự sáng tạo của mình để tạo nên phong cách và đặc trưng riêng

Trang 31

31

CHƯƠNG 2: THƯ PHÁP CHỮ VIỆT TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ

NẴNG

2.1 Đặc điểm thư pháp chữ Việt tại thành phố Đà Nẵng

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển thư pháp chữ Việt tại thành phố Đà Nẵng

Nghệ thuật viết thư pháp đã có mặt và xuất hiện ở Đà Nẵng từ rất lâu đời, nó trở thành một nét đẹp truyền thống trong văn hóa của người dân nơi đây Tiền thân của thư pháp chữ Việt là thư pháp chữ Hán, chữ Nôm Dấu tích chúng ta có thể tìm thấy ở những câu đối, những bức hoành phi, những bức liễng được thể hiện bằng chữ Hán, chữ Nôm với nhiều bố cục và cách thức khác nhau Đó có thể là những chữ được thể hiện trong những khuôn khổ ô vuông, hình tròn, hay những nét chữ phóng khoáng như “rồng bay phượng múa” Những nhà thư pháp ngày xưa là những thầy nho, những ông đồ có văn hay chữ tốt, giỏi chữ Hán, chữ Nôm

Theo thời gian, xã hội ngày càng phát triển, càng hiện đại, thư pháp chữ Hán

- Nôm đã dần dần tụt hậu và nó không đáp ứng được xu thế hội nhập Đông Tây cũng như sự phổ biến của chữ Quốc ngữ hiện nay Khoảng trên dưới mười năm trở lại đây, thư pháp chữ Việt đã hình thành, bắt đầu phát triển và dường như không gian văn hóa của nó trải rộng ra khắp 3 miền Bắc – Trung – Nam Có thể nói Sài Gòn là cái nôi của thư pháp và cũng là nơi khơi dậy và hình thành nên nghệ thuật thư pháp chữ Việt đầu tiên

Tại Thành phố Đà Nẵng hòa chung với xu hướng thư pháp chữ Việt đang nở

rộ ở miền Nam, ở Sài Gòn có kiến trúc sư Nguyễn Thanh Sơn thì ở miền Trung nở

rộ lên phòng trào thư pháp chữ Việt do Hồ Công Khanh khởi xướng Hồ Công Khanh

đã có những đóng góp rất lớn trong tiến trình phát triển của thư pháp chữ Việt tại thành phố Đà Nẵng Ông là người rất xông xáo và có nhiều phát kiến mới lạ cho bộ môn nghệ thuật tưởng chừng như rất cũ nhưng lại rất mới mẽ này Hồ Công Khanh

Trang 32

32

cũng là một trong những người tiên phong trong nghệ thuật thạch thư – vẽ thư pháp trên đá Ở Đà Nẵng, nếu thư pháp viết trên giấy xuất hiện đầu tiên như một bộ môn nghệ thuật tham gia Hội hoa xuân Đà Nẵng năm 2006 thì thư pháp trên đá lần đầu tiên đến với công chúng trước đó một năm tại Liên hoan Văn hóa – Du lịch Đà Nẵng năm 2005 Thư pháp Việt ra đời đáp ứng được xu thế của thời đại và cũng như nét đẹp mới lạ, sáng tạo của nó, thư pháp chữ Việt đã dần dần định hình và được công chúng yêu thích đón nhận

Khi mới ra đời thư pháp chữ Việt xuất hiện và đến với công chúng còn rất thưa thớt, chưa phổ biến và gần gũi Nhưng theo thời gian thư pháp chữ Việt ngày càng trở nên phổ biến, trở thành mạch sống văn hóa của người dân nơi đây Hiện nay, gần như tất cả các cửa hiệu văn hóa phẩm, mỹ thuật trang trí đều có bán các sản phẩm liên quan đến thư pháp chữ Việt Trong các căn phòng gia đình, các hội sở cơ quan…người ta sử dụng các thư họa, đại tự… các kiểu liên quan đến thư pháp chữ Việt Thư pháp chữ Việt bắt đầu xuất hiện trước công chúng nhiều hơn từ những gian hàng ở lề đường góc phố cho đến những phòng tranh chuyên nghiệp rồi đến các cuộc triển lãm hội chợ Đặc biệt thư pháp còn xuất hiện như một sự kiện văn hóa – xã hội rất quy mô và giá trị Giới “thư pháp gia” dường như cũng đã được hình thành với những tên tuổi như Hồ Công Khanh, Ngọc Thạnh, Văn Chi, Ái Diệp…đó là những nhà thư pháp rất nổi tiếng và cũng là những hội viên trong câu lạc bộ thư pháp Đà Nẵng Ngoài ra còn có những nhà thư pháp, những câu lạc bộ thư pháp trẻ không chuyên đó là các bạn học sinh, sinh viên hay những người có năng khiếu và tài năng

về hội họa cũng tham gia và yêu thích bộ môn nghệ thuật này

Như vậy, Thư pháp chữ Việt tại Đà Nẵng phát triển đến nay trên năm năm và

nó cũng đã trải qua nhiều nhận định và định kiến của quần chúng Từ sự hời hợt, ít được quan tâm trong thời gian đầu cho đến khi nó chiếm được tình cảm và lòng yêu mến của quần chúng Ngày nay, với nhiều người dân Đà Nẵng thú chơi tao nhã này

Trang 33

33

vẫn rất được ưa chuộng, đang trên đà phát triển đi lên và có sức ảnh hưởng đến đời sống văn hóa, tinh thần của người dân nơi đây

2.1.2 Cách thể hiện thư pháp chữ Việt

Thư pháp là một bộ môn nghệ thuật viết chữ đẹp, ở đó có sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố từ năng khiếu bẩm sinh cho đến niềm đam mê sáng tạo và cả tâm của một người nghệ sĩ Bên cạnh đó viết thư pháp cũng có những nguyên tắc, những

kỹ thuật cơ bản để tạo nên sự cân đối, hài hòa cho một tác phẩm nghệ thuật Cách thể hiện một tác phẩm thư pháp chữ Việt nó có nhiều điểm khác biệt và phóng khoáng hơn so với thư pháp chữ Hán Nó không vuông vức, khuôn khổ và đều đặn như thư pháp chữ Hán Bố cục của nó cũng không cần ngay hàng thẳng lối miễn sao nó hài hòa đủ mọi khía cạnh nghệ thuật là được

Trong phương pháp viết thư pháp thì khâu cầm bút là quan trọng nhất Theo các nhà thư pháp “ngũ chỉ nhấp bút” là cách cầm bút đúng và hợp lý nhất trong nghệ thuật viết thư pháp Với cách này chúng ta giữ thân bút bằng ba ngón tay, ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa Đầu ngón tay cái áp sát vào thân bút, đầu ngón trỏ và ngón giữa áp sát vào thân bút theo phía đối diện với ngón cái Phần móng tay của ngón áp

út tựa nhẹ vào thân bút và ngón út không chạm vào thân bút mà tựa nhẹ vào ngón áp

út Các ngón tay phải giữ bút chắc chắn, lòng bàn tay phải rỗng Cổ tay phải thăng bằng và cánh tay luôn giữ ở tư thế treo Đây là cách cầm bút phổ biến và thông dụng nhất khi viết thư pháp Nó sẽ giúp chúng ta làm chủ và điều khiển được cây bút lông một cách tốt nhất và tối ưu nhất trong những đường nét và trong lúc phóng bút Khi cầm bút được thì sẽ điều khiển được nét bút, nhập được cái hồn của người viết chữ cộng với sự sáng tạo và phá cách trong khi viết thì sẽ tạo nên được tác phẩm nghệ thuật như ý Khi viết thư pháp không được tì bút, không được tì lên giấy Nếu tì bút thì sẽ chi phối nội lực, chi phối sức viết làm cho nét viết không được thoáng, không được bay bổng Cách vận bút sẽ không tung hoành được bốn phương tám hướng, không thoát lên được nội lực, sức viết, cái thần của nét chữ Khi viết phải dùng sức

Trang 34

34

đưa vào cây bút để đi một đường với tốc độ nhanh, mực phải đẫm vào viết nhưng phải tạo ra những nét sướt, tạo ra những đường đi quy luật căn bản Khi viết chữ phải hội tụ được hai yếu tố đó là mặt mực và khí lực Mặt mực là nét chữ, nét mực, đường đi của vận bút tạo ra nét chữ thể hiện trên giấy, trên tác phẩm Khí lực là cách viết, thần thái và cách điều khiển, dùng lực và hồn của mình thả vào trong nét chữ, trong quá trình vận bút viết chữ Đó là sự sắc sảo, rắn rỏi và đi với tốc độ nhanh Chính lẽ đó mà người ta gọi những tác phẩm thư pháp đạt đến trình độ nghệ thuật là những tác phẩm “rồng bay phượng múa”

Một điều quan trọng trong cách thể hiện thư pháp là cần phải hội tụ và có được bốn yếu tố: khí, lực, thần và hồn Khí ở đây là hơi thở, lực là mượn cánh tay để viết, thần là thần thái, tinh thần, hồn là tâm hồn Điều đó đồng nghĩa với việc khi thể hiện một bức thư pháp nét chữ và tâm hồn của con người phải hòa chung thành một Lúc

đó nét chữ sẽ thể hiện và truyền tải tâm tư, suy nghĩ và nết người Chính vì vậy, khi thể hiện một bức thư pháp người thủ bút luôn chọn một vị trí rất thoải mái để có thể

tự do phóng bút ở tất cả mọi tư thế, mọi vị trí và họ thường thể hiện vào những lúc tinh thần thư thái nhất Lúc đó tâm trí và khí lực sẽ tập trung cao độ và giá trị nghệ thuật đạt được sẽ rất cao

Tuy nhiên, thư pháp tại thành phố Đà Nẵng không có một phương pháp, một cách thức thể hiện thư pháp chính thống, không theo một phương pháp bài bản nhất định nào Mà mỗi nhà thư pháp có mỗi cách thể hiện riêng, mang phương pháp, phong cách riêng của mỗi người chỉ cần viết như thế nào cho đẹp Khi thể hiện một bức thư pháp nét chữ phải thể hiện một cách phóng khoáng, dứt khoát “bút sa gà chết” viết rồi thì không được tô, không được sửa, không được đồ nét lại Khi viết thì nét chữ chỉ được thể hiện một mạch và thực hiện một lần duy nhất đó chính là phong cách trong nghệ thuật thư pháp

Theo khảo sát thực tế thư pháp chữ Việt tại thành phố Đà Nẵng hiện nay thường có sự kết hợp với tranh thủy mặc Mượn những hình ảnh về thiên nhiên như

Trang 35

35

sông, núi, nước, cây cối làm nền cho chữ viết Mỗi câu chữ, mỗi nội dung sẽ có những hình ảnh phụ nền tương ứng Sự thể hiện này chắc có lẽ do sự ảnh hưởng của lối nghĩ thư pháp Trung Hoa ngày xưa Ngày xưa thư pháp chữ Tàu quan niệm thư họa đồng nguyên, nét viết giống như nét vẽ và vẽ tranh kết hợp với viết chữ Xu hướng bây giờ là thư pháp chữ Việt mượn tranh làm nền, không có bố cục, lấy tranh làm yếu tố phụ họa Điều này sẽ làm cho bức thư pháp trở nên sinh động, thu hút được thị giác của người thưởng lãm Tuy nhiên nó cũng bộc lộ yếu điểm của người viết thư pháp Chữ và tranh sẽ tạo nên sự rối rắm với nhau, nó không thể hiện được hết nội lực của người thủ bút, đối với thư pháp thì lực bút không mượn tranh để làm nền

Khi thể hiện một tác phẩm thư pháp thì cần phải cân xứng bố cục, lựa chọn khổ giấy và cách thể hiện sao cho hài hòa, cân đối Các nét chữ trình bày không được quá khít cũng không được quá thưa thớt lỏng lẻo, nét này phải tương quan và bổ sung cho nét kia tránh trùng lặp lên nhau gay khó đọc Các chữ thường liên kết với nhau và tạo thành những khối có kết cấu Nội dung câu chữ thể hiện phải sâu sắc, ý nghĩa thể hiện được tính thẩm mỹ của thư pháp Một bức thư pháp đẹp, nghệ thuật thì nó không chỉ đáp ứng được thị giác của người xem mà nó còn phải truyền tải được trí tuệ đến với người chiêm nghiệm

Thư pháp chữ Việt luôn khuyến khích, đòi hỏi sự sáng tạo và đột phá của các thư pháp gia Một tác phẩm được viết ra mang tính mới lạ, nghệ thuật thì sẽ thu hút được thị hiếu thẩm mỹ của người xem Sự sáng tạo, mới lạ ấy được thể hiện ở từng đường nét, nét đậm, nét lợt được thể hiện ở đúng vị trí sao cho hài hòa, các nét mực không được chồng lên nhau, những nét sướt nhẹ nhàng như bay, những nét thanh, nét mảnh thật sắc sảo và bén ngọt Các đường nét phải thật dứt khoát, rạch ròi và liền mạch Khi thực hiện được những điều đó thì chứng tỏ người viết đã đạt đến được trình độ nghệ thuật của thư pháp và cách viết như vậy người ta gọi là “phóng bút xuất thần”

Ngày đăng: 09/05/2021, 17:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w