Đỉnh điểm của sự bất thường là ba trận lũ lịch sử năm 1999 - 2000 đã bồi lấp cửa sông Quảng Huế đoạn nối giữa Vu Gia và Thu Bồn ở cao trình 4 m, đồng thời mở ra một dòng mới tại vùng Gia
Trang 1Trang 1
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
đời sống, sản xuất ở vùng hạ lưu
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN KHOA HỌC
Trang 2Trang 2
Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn sự huớng dẫn tận tình của cô giáo thạc
sỹ Lê Thị Thanh Huơng, khoa Địa Lý truờng ĐH Sư Phạm - Đại học Đà Nẵng
Trong suốt thời gian thực hiện khoá luận, mặc dù rất bận rộn trong công việc
nhưng cô vẫn dành rất nhiều thời gian và tâm huyết trong việc huớng dẫn em Cô đã
cung cấp cho em rất nhiều hiểu biết về một lĩnh vực mới khi em bắt đầu thực hiện luận
văn Trong quá trình thực hiện khoá luận cô luôn định huớng, góp ý và sửa chữa
những chỗ sai giúp em không bị lạc lối trong biển kiến thức mênh mông Cho đến hôm
nay, khoá luận tốt nghiệp của em đã đuợc hoàn thành, cũng chính là nhờ sự đôn đốc,
giúp đỡ nhiệt tình của cô
Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa địa lý, cũng như các
thầy cô trong truờng đã giảng dạy, giúp đỡ chúng em trong bốn năm học qua Chính
thầy cô đã xây dựng cho chúng em những kiến thức nền tảng và kiến thức chuyên môn
để em có thể hoàn thành khoá luận này cũng như những công việc của mình sau này
Lời cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới các cơ quan ban ngành huyện Đại Lộc
đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành tốt đề tài này
Em xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng tháng 5 năm 2013
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Trang 3
Đỉnh điểm của sự bất thường là ba trận lũ lịch sử năm 1999 - 2000 đã bồi lấp cửa sông Quảng Huế (đoạn nối giữa Vu Gia và Thu Bồn) ở cao trình 4 m, đồng thời mở ra một dòng mới tại vùng Giao Thuỷ, huyện Đại Lộc, chuyển gần như hoàn toàn lưu lượng nước của Vu Gia về Thu Bồn đổ ra cửa Đại - Hội An, thay vì theo sông Quảng Huế về sông Yên đổ ra cửa Hàn - Đà Nẵng như trước đây
Do sông Quảng Huế mới gần theo tuyến thẳng, ngắn và góp phân lưu thuận lợi hơn sông Quảng Huế cũ, làm tăng lưu lượng nước chuyển từ sông Vu Gia sang sông Thu Bồn dẫn đến lưu lượng chảy về sông Vu Gia bị giảm mạnh Hiện tượng này chi phối đặc điểm thủy văn sông Vu Gia từ đó ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất và đời sống của nhân dân vùng hạ lưu
Xuất phát từ thực trạng trên của địa phương nên tác giả chọn đề tài “Tìm hiểu tác động của sự cắt dòng sông Quảng Huế đến thủy chế sông Vu Gia và đời sống, sản xuất ở vùng hạ lưu” để nghiên cứu
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu tác động của sự cắt dòng sông Quảng Huế đến thủy chế sông Vu Gia và đời sống, sản xuất ở vùng hạ lưu - tỉnh Quảng Nam
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu đặc điểm thuỷ văn của sông Vu Gia
Trang 4Trang 4
- Tìm hiểu sông Quảng Huế, vai trò của nó đối với thủy chế sông Vu Gia
- Tìm hiểu tác động của sự cắt dòng sông Quảng Huế đến đời sống và sản xuất vùng hạ lưu sông Vu Gia
- Đề xuất một số giải pháp hạn chế
Trang 5Trang 5
3 Lịch sử nghiên cứu
Vấn đề cắt dòng của sông Quảng Huế đã và đang là vấn đề nóng bỏng với nhiều bất cập được nói đến rất nhiều sau đợt lũ năm 1999 -2000, trên các phương tiện truyền thông như đài, báo, internet, tạp chí Việc nghiên cứu được tổ chức
Với đề tài này, tôi sẽ cố gắng đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu sự cắt dòng sông Quảng Huế và xác định ảnh hưởng, mức độ tác động của nó đến huyện Đại Lộc và các địa phương vùng hạ lưu, từ đó đề xuất các giải pháp hạn chế tác động do xả lũ gây ra
4 Phạm vi, giới hạn nghiên cứu
- Về nội dung, tôi đi nghiên cứu về các vấn đề sau: Quá trình cắt dòng sông Quảng Huế, chế độ thủy văn sông Vu Gia
- Về giới hạn thời gian, nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2000 trở lại đây
- Về phạm vi lãnh thổ, nghiên cứu tác động của quá trình cắt dòng sông Quảng Huế tới vùng hạ lưu sông Vu Gia (huyện Đại Lộc), tỉnh Quảng Nam
5 Các quan điểm nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Các quan điểm nghiên cứu
5.1.2 Quan điểm lịch sử
Bất cứ một hiện tượng tự nhiên hay xã hội đều có quá trình hình thành và phát triển theo quy luật riêng Tìm hiểu về quá trình cắt dòng và các yếu tố dòng chảy của sông ngòi Từ đó tìm ra quy luật phát triển chung của tự nhiên – kinh tế - xã hội và đề xuất các giải pháp hạn chế
Trang 6Trang 6
5.1.3 Quan điểm tổng hợp
Theo quan điểm này, khi nghiên cứu tác động của sự cắt dòng sông Quảng Huế, tôi nghiên cứu tác động tổng hợp cả tích cực lẫn tiêu cực, có ảnh hưởng đến các yếu tố dòng chảy, môi trường lẫn đời sống dân sinh ở vùng hạ lưu sông Vu Gia
5.1.4 Quan điểm sinh thái
Theo quan điểm này coi việc nghiên cứu có ý nghĩa tới địa phương, nhiều ứng dụng trong nghiên cứu các điều kiện của sản xuất, sinh hoạt của nhân dân; có mối quan hệ tác động qua lại giữa tự nhiên và con người
5.2 Các phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
5.2.1 Phương pháp thu thập, xử lý, phân tích - tổng hợp tài liệu
- Thể hiện ở việc thu thập thông tin, tư liệu, tài liệu…từ nhiều lĩnh vực, nhiều nguồn khác nhau
- Xử lý các số liệu, tài liệu thu thập được, phân tích so sánh, tổng hợp để tìm ra những nội dung, những kết luận cần thiết cho đề tài của mình
5.2.3 Phương pháp thực địa
Đây là phương pháp rất quan trọng mang lại thực tiễn cao cho đề tài, đồng thời
bổ sung chi tiết cho vấn đề cần nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện
đề tài, nhóm thực hiện đề tài đã tiến hành tìm hiểu khảo sát thực tế khu vực hạ lưu sông Vu Gia và đã tiến hành thu thập các số liệu thông tin bằng cách điều tra thực tế
Trang 7Trang 7
B PHẦN NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Các khái niệm cơ bản
Tập hợp toàn bộ sông chính và sông nhánh có liên quan dòng chảy với nhau gọi
là hệ thống sông Trong hệ thống sông người ta lấy tên sông chính để gọi cho toàn hệ thống
1.1.2 Các hình thái của sông ngòi
Trong hệ thống sông, sự phân bố sông nhánh dọc theo sông chính có ảnh hưởng tới tình hình dòng chảy của hệ thống sông Hình dạng của sông ngòi cũng có tác dụng quan trọng trong quá trình tập trung nước chủ yếu của toàn bộ lưu vực sông, đặc biệt
là hình thành và tập trung lũ
Hình thái của sông ngòi có thể phân thành các loại:
+ Hình nan quạt: Là dạng lưới sông gồm một dòng chính ở giữa, các phụ lưu lớn chảy song song hai bên tả, hữu ngạn và chỉ hạ lưu trước khi đổ ra biển mới nhập vào dòng chính Do đó, lũ ở hạ lưu thường là lũ kép hay lũ hoàn toàn, tập trung lũ của dòng chính và các phụ lưu dồn về nên thường gây lũ lớn và đột ngột Dạng lưới sông này ở nước ta khá phổ biến như: hệ thống sông Thu Bồn, hệ thống sông Hồng,…vì vậy quá trình tập trung lũ ở vùng hạ lưu xảy ra nhanh với tốc độ lớn gây ra nhiều thiệt hại đến sản xuất và đời sống của người dân vùng hạ lưu
+ Hình lông chim: là hệ thống sông gồm một sông chảy chính giữa còn các phụ lưu lần lượt đổ vào hai bên bờ đối ngạn Sông với hình dạng này thường chỉ gây lũ đơn hay lũ bộ phận nên khi về hạ lưu sóng lũ thường giảm đi và ít gây tác hại cho nhân dân Đây là dạng lưới sông của các hệ thống sông Ba, sông Cả, sông Gianh,…
+ Hình song song: là dạng lưới sông gồm một dòng sông chính và một phụ lưu lớn chảy song song tới hạ lưu mới đổ vào sông chính, còn các phụ lưu khác không đáng kể Do đó, lũ ở hạ lưu sông có thể là lũ kép do ngoài lũ từ thượng lưu của dòng
Trang 8Trang 8
chính có thể có lũ của phụ lưu lớn kết hợp thành lũ lớn khá đột ngột và gây nhiều tác hại hơn so với lũ đơn
1.2 Các dòng chảy của sông ngòi
1.2.1 Các nhân tố của dòng nước
- Nhóm các nhân tố khí tượng:
Nhiệt độ không khí: Nhiệt độ không khí ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chế độ dòng chảy Ảnh hưởng trực tiếp là nhiệt độ có sự biến thiên trong năm làm thay đổi chế độ dòng chảy Nhiệt độ ảnh hưởng gián tiếp đối với chế độ dòng chảy thông qua bốc hơi
Nước rơi: Tất cả các dạng nước rơi từ khí quyển xuống mặt đất bao gồm tuyết mưa đá, mưa nước, sương đều gọi chung là nước rơi Mưa chi phối cả biến trình dòng chảy của sông ngòi Ở các vùng nhiệt đới mùa mưa quyết định mùa dòng chảy Mùa lũ gắn với mùa mưa, mùa cạn gắn với mùa ít mưa Tính chất mưa quyết định đến tính chất lũ, các tháng có mưa lớn thì có dòng chảy lớn Mưa tập trung với cường độ lớn sẽ hình thành lũ lớn và ngược lại Mưa với cường độ vượt thấm có thể sinh ra những cơn
lũ đầu mùa lớn trong khi lưu vực vẫn chưa bão hòa nước Chính vì vậy mưa đóng vai trò quan trọng quyết định sự phân bố theo không gian và thời gian của các quá trình thủy văn
- Ảnh hưởng của các yếu tố bề mặt
Thổ nhưỡng, nham thạch: Nếu khí hậu quyết định sự tiềm tàng của dòng chảy thì thổ nhưỡng quyết định độ lớn của dòng chảy Thổ nhưỡng hầu như là vật môi giới giữa khí hậu và dòng chảy Ở những nơi thổ nhưỡng có khả năng thấm nước lớn, cấu tạo địa chất tương đối rời rạc thì dòng chảy sẽ yếu đi và ngược lại Lượng nước thấm vào đất, một phần biến thành dòng chảy sát mặt, chảy ra sông suối sau khi dòng chảy mặt kết thúc Một phần tạo thành dòng chảy ngầm cung cấp cho sông vào mùa cạn Một phần nước giữ lại trong đất sẽ không tham gia vào việc sinh dòng chảy mà mất đi
do quá trình bốc hơi từ mặt đất và quá trình thoát hơi nước thực vật Vì vậy với cùng một lượng mưa, lượng dòng chảy mặt vùng có thổ nhưỡng ít thấm sẽ lớn hơn vùng thổ nhưỡng có khả năng thấm nước tốt Hệ số dòng chảy ở vùng thấm nhiều luôn nhỏ hơn vùng thấm ít hoặc không thấm Đất thấm nước có vai trò tích nước, có khả năng chuyển một phần dòng chảy mặt cung cấp cho sông dưới dạng dòng chảy ngầm và sát mặt đất, có tốc độ tập trung nước chậm hơn Vì vậy, vùng thấm nhiều thì dòng chảy
Trang 9- Ảnh hưởng của địa hình: Địa hình tác động đến sự thay đổi khí hậu, thổ nhưỡng và thực vật theo chiều cao Địa hình còn ảnh hưởng đến chế độ dòng chảy, làm thay đổi cả mùa mưa, mùa khô so với các vùng xung quanh Ngoài chế độ dòng chảy, địa hình còn ảnh hưởng đến hướng dòng chảy, hướng địa hình quy định hướng dòng chảy
Hồ đầm: Các sông ngòi có quan hệ thủy văn với hồ, hồ có chức năng điều tiết nguồn nước làm dòng chảy có sự phân phối theo thời gian và không gian điều hòa hơn
1.2.2 Các đại lượng đặc trưng
Modul là lượng nước có khả năng sản sinh ra trên một một đơn vị diện tích lưu
vực 1 km2 trong một đơn vị thời gian
Công thức tính: M = Q.1000/F (1/s-km2)
Trong đó: Q: là lưu lượng
F: là diện tích lưu vực
Trang 10Y = W/F.10 3 (mm/năm)
Trong đó: W- tổng lượng dòng chảy trong thời gian tính toán theo giây
F- diện tích lưu vực, 103 là hệ số đổi đơn vị
1.2.3 Chế độ dòng nước
Một đặc điểm rất quan trọng của sông ngòi là lượng dòng chảy nước luôn biến đổi theo thời gian, gọi là chế độ nước sông Sự thay đổi này thường lặp lại trong các khoảng thời gian nhất định gọi là các chu kỳ thủy văn, các chu kỳ thủy văn xảy ra cũng rất phức tạp Tùy thời gian lặp lại có thể có các chu kỳ thủy văn: ngày, năm và nhiều năm
Chu kỳ ngày là chu kỳ ngắn nhất phụ thuộc vào chế độ thủy triều ở bờ biển địa phương Chu kỳ này chỉ xảy ra ở các vùng cửa sông, nhất là các cửa sông vịnh
Chu kỳ năm là chu kỳ cơ bản nhất hay còn gọi là năm thủy văn, là khoảng thời gian mà sông ngòi thu hoạch được hết nước trong lưu vực Năm thủy văn bắt đầu vào mùa lũ và kết thúc vào cuối mùa cạn Sự tồn tại và phát triển các mùa thủy văn là cơ
sở để xác định các loại chế độ nước Trong năm thủy văn nếu chỉ xuất hiện một mùa lũ
và một mùa cạn là sông có chế độ nước đơn giản, loại này khá phổ biến Còn nếu có 2 (hoặc hơn 2) mùa lũ và 2 (hoặc hơn 2) mùa cạn là chế độ nước phức tạp Ngoài ra còn dựa vào tỷ số đặc trưng cường độ mùa, đại lượng này là tỷ số giữa lượng bình quân tháng lớn nhất so với tháng nhỏ nhất trong năm Tỷ số này càng nhỏ cường độ lũ sẽ nhỏ và ngược lại chế độ nước sẽ thất thường Tỷ số này lớn hay nhỏ phụ thuộc vào nguồn nuôi dưỡng nước sông và tác dụng điều tiết nước của lưu vực
Trang 11Trang 11
1.3 Khái quát khu vực nghiên cứu
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý
Đại Lộc là một huyện trung du nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Quảng Nam, cách trung tâm tỉnh lỵ khoảng 69km về phía Tây Bắc và cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 32km về phía Bắc
* Về ranh giới hành chính:
- Phía Bắc giáp: huyện Đông Giang và thành phố Đà Nẵng
- Phía Nam giáp: huyện Duy Xuyên và Quế Sơn
- Phía Tây giáp: huyện Đông Giang và Nam Giang
- Phía Đông giáp: huyện Điện Bàn
* Về tọa độ địa lý:
- Từ 15043'28" đến 15053'41" vĩ độ Bắc
- Từ 107047'54" đến 108058'55" kinh độ Đông
Trang 12Trang 12
Huyện Đại Lộc có tổng diện tích tự nhiên là 58.708,86ha, chiếm 5,62% diện tích của tỉnh Quảng Nam Toàn huyện có 18 đơn vị hành chính cấp xã gồm: thị trấn Ái Nghĩa, xã Đại Nghĩa, xã Đại Quang, xã Đại Đồng, xã Đại Hồng, xã Đại Sơn, xã Đại Lãnh, xã Đại Hiệp, xã Đại Hòa, xã Đại An, xã Đại Cường, xã Đại Minh, xã Đại Tân,
xã Đại Chánh, xã Đại Phong, xã Đại Thạnh, xã Đại Thắng, xã Đại Hưng
Vị trí địa lý khá thuận lợi cho việc giao lưu, phát triển kinh tế - xã hội: phía Đông tiếp giáp với thành phố Đà Nẵng là trung tâm kinh tế của miền Trung và huyện Điện Bàn có khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc khá phát triển; phía Tây giáp huyện Nam Giang có cửa khẩu kinh tế đang hình thành Trên địa bàn huyện có tuyến Quốc lộ 14B, ĐT 609 và ĐT 609B, đây là những tuyến đường huyết mạch quan trọng kết nối huyện với các huyện khác trong tỉnh và ngoài tỉnh Với vị trí địa lý của huyện còn có điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán với các vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và các khu vực khác, đây là một yếu tố thuận lợi kích thích nền kinh tế Đại Lộc phát triển
b Địa hình
Là một huyện trung du, đồi núi chiếm 70% diện tích tự nhiên của huyện, địa hình
có hướng thấp dần từ Tây sang Đông và bị chia cắt mạnh bởi 2 con sông Vu Gia và Thu Bồn Địa hình huyện chia làm 3 dạng chính:
- Dạng địa hình đồi núi, chiếm 70% diện tích tự nhiên, phân bố ở phía Tây, phía Bắc và phía Nam, độ cao trung bình từ 600-700m, có nhiều đỉnh núi cao như đỉnh Đông Lâm cao 1.078m thuộc xã Đại Quang, đỉnh Bàn Cờ cao 1.031m thuộc xã Đại Sơn, đỉnh An Bằng cao 1.062m,…
- Địa hình dạng đồi gò: tập trung nhiều ở các xã Đại Thạnh, Đại Chánh, Đại Tân, Đại Hiệp Độ cao trung bình 50-100m, dạng đồi bát úp, độ dốc từ 10-150
- Địa hình đồng bằng: phân bố chủ yếu ở ven 2 bờ sông Vu Gia
c Khí hậu – Thủy văn
Huyện Đại Lộc nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa vùng Nam Hải Vân, nóng ẩm và mưa nhiều theo mùa Trong năm có 2 mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa, mùa mưa trùng với mùa đông và mùa khô trùng với mùa hạ Nhìn chung khí hậu
ôn hòa hơn khu vực đồng bằng Lượng mưa trung bình năm 2.015mm, tập trung chủ yếu vào các tháng 9, 10, 11 và ít nhất vào các tháng 2, 3, 4
d Sinh vật - thổ nhưỡng
Trang 13Trang 13
Đất đai ở Đại Lộc bao gồm các loại đất cát, đất phù sa, đất xám bạc màu, đất đỏ vàng Nhóm đất phù sa ven sông là nhóm đất quan trọng nhất trong phát triển cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày Nhóm đất đỏ vàng vùng đồi núi thuận lợi cho trồng rừng, cây công nghiệp và cây ăn quả dài ngày
1.2.2 Tình hình kinh tế - xã hội
a Đặc điểm dân số, dân cư và lao động
Toàn huyện có 18 xã, thị trấn Theo kết quả điều tra dân số năm 2011 toàn huyện có 146.406 người Mật độ dân số là 248,94 người/km2 Tổng số hộ trên địa bàn huyện là 38.899 hộ, tỷ lệ gia tăng tự nhiên là 8,40/00
Số người trong độ tuổi lao động của huyện là 65.547 người, chiếm 44,77% dân
số toàn huyện Cơ cấu dân số trẻ, lao động dồi dào song trình độ nghề nghiệp thấp chủ yếu là lao động nông nghiệp Đây là vấn đề khó khăn cho huyện trong vấn đề giải quyết công ăn việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân
Công nghiệp -Tiểu thủ công nghiệp - Xây dựng cơ bản 63,98
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Đại Lộc 2010)
Tổng diện tích đất tự nhiên là 587.075km2 trong đó:
- Đất làm nông nghiệp là :43.126,60ha
(Trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp là : 8.233,29ha
Đất lâm nghiệp là : 34.823,25ha
Đất nuôi trồng thủy - hải sản là: 50,92ha.)
- Đất phi nông nghiệp là: 9.730,54ha
- Đất chưa sử dụng là: 5.851,72ha
Trang 14Trang 14
Biểu đồ 1 : Diện tích đất tự nhiên phân theo mục đích sử dụng qua các năm
(đơn vị : ha)
0 5 10 15 20 25 30 35 40 45
Đất nông nghiệp Đất phi nông nghiệp Đất chưa sử dụng
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Đại Lộc năm 2011)
Nông- lâm- Thủy sản
+ Nông nghiệp: Tổng diện tích gieo trồng năm 2011 là 15 112,80ha, trong đó diện tích trồng lúa nước là 8 727 ha
Bảng 2: Tình hình sản xuất nông nghiệp huyên Đại Lộc, 2011
(%) 1.Tổng diện tích gieo trồng
+ Tổng diện tích lương thực có hạt
+ Tổng sản lượng lương thực có hạt
15.112,80 ha 10.531,9 ha 61.708,27 tấn
-3,086 -1,545 -2,36
Trang 15Trang 15
Năm 2011 diện tích đất được sử dụng vào mục đích lâm nghiệp là 34.823,25 ha giảm so với năm 2010 là 14,05ha Giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt 15.445,7 triệu đồng (chiếm 4,14% giá trị sản xuất ngành nông lâm thủy sản của huyện)
Trên địa bàn của huyện năm 2011 có 27.908 hộ sản xuất lâm nghiệp
Đã xây dựng các phương án phòng cháy, chữa cháy rừng phù hợp với tình hình của địa phương, hỗ trợ kinh phí để bảo vệ rừng ở những nơi có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao Tăng cường công tác tuyên truyền , tổ chức cho nhân dân các xã học tập, quản lý, bảo vệ rừng, không phát rừng già, rừng đầu nguồn Nâng cao nhận thức người dân trong việc bảo vệ và trồng rừng
Sản xuất công nghiệp
Sau khi có chủ trương của tỉnh Quảng Nam về phân cấp quy hoạch, quản lý
điều hành phát triển các Cụm công nghiệp để thu hút đầu tư, Đại Lộc đã sớm quy hoạch mạng lưới các Cụm công nghiệp trên địa bàn huyện và được UBND tỉnh Quảng Nam thống nhất phê duyệt Hiện nay, Đại Lộc có 18 Cụm công nghiệp vừa và nhỏ, với tổng diện tích 875 ha (năm 2009 là 395 ha); huyện đã tiến hành quy hoạch và phê duyệt chi tiết 12 Cụm công nghiệp, với quy mô diện tích 276 ha; thu hút được 36 Dự
án, với tổng vốn đăng ký: 3 630 tỷ đồng; trong đó có 2 Dự án FDI (100% vốn nước ngoài) Hiện đã có 19 Dự án đi vào sản xuất ổn định và hoạt động khá hiệu quả; 06 dự
án đang đầu tư xây dựng hạ tầng, nhà xưởng; 03 dự án đang triển khai giải phóng mặt bằng, 8 dự án đã thỏa thuận địa điểm đầu tư Tổng vốn đầu tư của 28 dự án đã thực hiện đến cuối năm 2010 đạt 2 845 tỷ đồng, chiếm 74% tổng vốn đăng ký
Trang 16Trang 16
Biểu đồ 2: Giá trị sản xuất ngành công nghiệp ( Đơn vị: Tỷ đồng)
0 200000 400000 600000 800000 1000000 1200000
Giá trị sản xuất ngành công
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Đại Lộc năm 2011)
Giao thông
Đại Lộc nằm trên trục hành lang kinh tế Đông - Tây, đặc biệt có tuyến đường
Hồ Chí Minh chạy ngang qua quốc lộ 14B nối liền Đại Lộc với các tỉnh Tây Nguyên thuận lợi cho việc phát triển kinh tế và thông thương hàng hoá qua các cửa khẩu quốc gia như: Bờ Y (Kom Tum), Đắc Tà Oóc (huyện Nam 7, Quảng Nam) Huyện Đại Lộc còn cách sân bay Chu Lai, cảng Kỳ Hà, khu kinh tế mở Chu Lai gần 120 km về phía Nam và cách thành phố Đà Nẵng khoảng 40 km
Trang 17ngắn, dốc và giàu tiềm năng thủy điện
Sông Vu Gia gồm các sông nhánh chính là sông Cái (Đăk Mi), sông Bung, sông Côn, sông Túy Loan hợp thành Sông Cái (Đăk Mi) với diện tích lưu vực 1.800km2 là sông chính của sông Vu Gia, bắt nguồn từ đỉnh Ngọc Linh chảy qua huyện Đắc Glei (tỉnh Kon Tum), huyện Phước Sơn, huyện Nam Giang (tỉnh Quảng Nam) Đặc điểm quan trọng của sông Cái là tuy chỉ chiếm 36% diện tích thượng nguồn sông Vu Gia, nhưng lại là nguồn nước chính, trung bình chiếm đến 50% lưu lượng sông Vu Gia ở cuối thượng nguồn Còn từ trung lưu về đến hạ lưu, sông có sự phân lưu, nhập lưu rất phức tạp, nó hầu như trải rộng cả tỉnh Quảng Nam và một phần thuộc thành phố Đà Nẵng (Hòa Vang) Như vậy, trên toàn hệ thống sông Vu Gia có tính chất gần nan quạt Tại Ái Nghĩa, sông Vu Gia có liên hệ thủy lực với sông nhánh có tên là sông Quảng Huế và đổ nước vào sông Thu Bồn Hạ lưu sông được chia thành 2 chi lưu Sông Yên và sông Chu Bái Sông Yên chảy về phía An Trạch, sau đó nhập lưu với sông Túy Loan chảy vào sông Hàn, Đà Nẵng Chính vì vậy người ta không thể tính được diện tích lưu vực từ thượng nguồn về đến hạ lưu mà chỉ tính được đến trung lưu của sông Chiều dài dòng chính tính từ thượng nguồn sông Cái đến cửa Hàn (Đà Nẵng) dài 204km
2.1.2 Các đại lượng dòng chảy
Các đại lượng đặc trưng của dòng chảy bao gồm các yếu tố như lưu lượng dòng chảy Q = 400(m3/s), Modul dòng chảy M = 56,2 (l/s-km2), diện tích lưu vực S = 5.500km2, tổng lượng dòng chảy W = 11,109 (m3), độ đục bình quân là 97,2 g/m3 Các đại lượng này mà chủ yếu là mực nước, lưu lượng và tổng lượng phụ thuộc khá nhiều vào lượng mưa trên lưu vực
Trang 18Trang 18
Do điều kiện khí hậu có nhiệt độ cao, lượng mưa trung bình hằng năm lớn, song mưa lại tập trung theo mùa nên hệ thống sông Vu Gia có tổng lượng dòng chảy cũng tương đối lớn Tổng lượng dòng chảy trung bình năm của lưu vực sông Vu Gia (tính đến Ái Nghĩa) W = 11.109m3
Cùng với đó, modul dòng chảy trung bình mùa cạn trong lưu vực sông Vu Gia biến đổi trong phạm vi từ dưới 10 l/s.km2 đến hơn 40 l/s.km2 Modul dòng chảy biến thiên qua từng thời đoạn, những sự biến động này bao giờ cũng gây ra những tác động nhất định đến sản xuất và đời sống của nhân dân
2.2 Chế độ thủy văn của sông Vu Gia
Sông Vu Gia là một nhánh của hệ thống sông Thu bồn – một hệ thống sông lớn ở miền Trung Do đó chế độ nước của sông Vu Gia cũng liên quan chặt chẽ tới chế độ nước của sông Thu Bồn Đây là nơi tập trung một lượng mưa rất lớn do chịu ảnh hưởng của gió mùa mùa hạ và gió mùa mùa đông Lượng mưa bình quân nhiều năm tại Tam Kì là 2.531,5 mm/năm, tại Trà My là 3.840,8mm/năm, tại Đại Lộc 2.045mm/năm, tại Thành Mỹ là 2.806,7 mm/năm,… Đây là một tâm mưa lớn nhất của Trường Sơn Nam và lớn thứ hai của nước ta sau Bắc Quang Lượng mưa trên cả hệ thống sông Thu Bồn rất lớn Wx = 29.103m3 tương ứng X = 2.763mm so với lượng mưa trung bình cả nước X = 1.950mm thì ở lưu vực sông Thu Bồn lớn hơn 813mm
Lượng mưa trên sông Vu Gia tập trung vào mùa mưa, từ tháng 8 đến tháng 12 với lượng mưa chiếm trên 80% lượng mưa cả năm Mùa khô kéo dài 7 tháng với lượng mưa chỉ chiếm 20% Đồng thời mùa mưa cũng có sự phân hóa từ vùng núi xuống đồng bằng, thường thì khu vực miền núi mùa mưa đến sớm hơn Tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 10 (27%), nhỏ nhất là tháng 2 (0,3%)
Tương ứng với hai mùa mưa và mùa khô của khí hậu thì chế độ dòng chảy của sông cũng có cũng có hai mùa
2.2.1 Mùa lũ
Trong mùa mưa, sông ngòi được cung cấp một khối lượng nước rất lớn, do đó lưu lượng nước sông cũng tăng lên đáng kể Trên lưu vực hệ thống sông Vu Gia, trong mùa lũ mực nước sông và lưu lượng dòng chảy có sự tăng lên so với các tháng trong năm và có sự phân hóa theo không gian rất rõ rệt Mùa lũ hàng năm trên lưu vực thường kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12, tuy nhiên cũng có năm mùa lũ bắt đầu từ tháng 9 và có năm kết thúc muộn vào tháng 1 năm sau Lũ lớn nhất trong năm thường xảy ra vào tháng 10 - 11 hằng năm Với những trận lũ xuất hiện vào tháng 9 và nửa
Trang 19Trang 19
đầu tháng 10 thường có biên độ không lớn và là lũ một đỉnh Lũ xuất hiện ở các tháng
10, 11 đều chiếm hơn 30% còn tháng 12 khoảng dưới 20%
Bảng 3: Mực nước trung bình các tháng mùa lũ sông Vu Gia, đoạn qua huyện Đại Lộc từ năm 2000-2011
(Nguồn: Đài khí tượng thủy văn Trung Trung Bộ)
Biểu đồ 3: Lưu lượng nước bình quân các tháng trong năm 2011 tại trạm đo Ái Nghĩa
(Nguồn: TT dự báo KT-TV Quảng Nam)
Điều kiện địa hình dốc, mạng lưới sông ngòi phát triển hình tỏa tia, mức độ tập trung mưa lớn cả về lượng lẫn về cường độ trên phạm vi rộng trên các sông suối của lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn mang đậm tính chất lũ núi với các đặc trưng: lũ lên xuống rất nhanh với cường suất lớn, thời gian lũ ngắn (cả thời gian lũ lên xuống đa phần chỉ 1 hoặc 2 ngày), đỉnh lũ nhọn, biên độ lũ lớn Bờ của nhiều sông nhánh dốc tới mức lũ có thể lên tới vài mét trong 01 giờ
Trang 20ra với tần suất cao trên lưu vực, có tới 50% số năm quan trắc xuất hiện những trận lũ vượt báo động III (tại Ái Nghĩa) và modul đỉnh lũ trung bình tại trạm quan trắc đạt từ 1,6 - 1,7m3/s.km2 Lũ lưu vực Vu Gia – Thu Bồn có đầy đủ các dạng lũ, lũ đơn, lũ kép
2 đến 3 đỉnh đặc biệt một số trận lũ có 4 đến 5 đỉnh lũ (lũ tháng 11/1999 có tới 5 đỉnh
lũ trong đó có 4 đỉnh trên báo động cấp III)
Tuy nhiên do tác động của con người mực nước cũng có thể thay đổi bất thường, tác động rất lớn đến sản xuất và đời sống của người dân xung quanh Đáng chú ý nhất hiện nay là hiện tượng xả nước của các nhà máy thủy điện vào mùa lũ khiến mực nước dâng cao đột ngột, nước lớn dâng quá nhanh làm người dân không kịp trở tay gây thiệt
hại rất lớn về người và của
2.2.2 Mùa cạn
Mùa khô kéo dài 7 tháng từ tháng 1 đến tháng 7 chỉ chiếm chưa đầy 20% tổng lượng mưa cả năm Các tháng 2, 3, 4 là các tháng có lượng mưa thấp nhất; dòng chảy lúc này chủ yếu do mực nước ngầm cung cấp, lưu lượng nước sông xuống thấp
Dòng chảy 3 tháng nhỏ nhất trên sông Vu Gia tại Ái Nghĩa là 20,3m3/s, trên sông Cái tại Thành Mỹ là 5,27m3/s
Bảng 4: Đặc trưng dòng chảy mùa cạn
Trang 21(Nguồn: TT dự báo KT-TV Quảng Nam)
Tóm lại, quá trình lưu lượng của sông Vu Gia có sự diễn biến như sau: Tháng 8 lưu lượng trong sông tăng vọt lên và đạt tới trị số cực đại vào tháng 10, tháng 11 Sang tháng 12, lưu lượng giảm dần, lưu lượng chỉ bằng một nửa lưu lượng của tháng cực đại (tháng 10) nhưng vẫn lớn hơn lưu lượng bình quân cả năm Sang tháng 1, lưu lượng giảm xuống cực thấp, chỉ còn 1/3 bình quân cả năm Lưu lượng tiếp tục giảm vào tháng 3 và tháng 4 Sang tháng 5 lại tăng lên do ảnh hưởng của tiểu mãn Tới tháng 7, lưu lượng lại giảm xuống khi đã kết thúc mùa khô hạn Sự phân bố lượng nước trong năm là là rất không đều gây sự khó khăn lớn cho đời sống và sản xuất Dòng chảy tháng lớn nhất chiếm tới 27% lượng dòng chảy năm (tháng 10), còn dòng chảy tháng nhỏ nhất chỉ chiếm 0,3% lượng dòng chảy năm (tháng 2 ) Chênh lệch giữa dòng chảy tháng lớn nhất và dòng chảy tháng nhỏ nhất đến gần 20 lần Ngoài ra do tác động của con người, đặc biệt là việc xả nước của nhà máy thủy điện vào mùa lũ, khiến mực nước dâng cao đột ngột gây thiệt hại rất lớn về người và của
2.3 Quá trình cắt dòng của sông Quảng Huế
Sông Vu Gia là một nhánh của hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn và 2 sông có liên hệ thủy lực qua khu vực sông Quảng Huế, nơi dòng chảy tập trung trong lòng dẫn
về mùa kiệt và tràn qua bãi từ sông Vu Gia sang sông Thu Bồn vào mùa lũ
Sông Quảng Huế thuộc địa phận xã Đại Cường, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam Một phần nước của sông Vu Gia được chuyển sang sông Thu Bồn qua sông Quảng Huế Chiều dài sông Quảng Huế đoạn uốn khúc dài 5km Tình hình dòng chảy, chế độ thủy lực và diễn biến lòng dẫn của sông Quảng Huế quyết định rất lớn tới tỷ lệ phân lưu, chế độ dòng chảy lũ và kiệt giữa hai sông Vu Gia và Thu Bồn
Sau các trận lũ lớn năm 1999 và 2000, trên hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn xuất hiện một tình hình đặc biệt là sông Quảng Huế bị cắt dòng ở khu vực Đại Cường Tại
Trang 22Trang 22
đây hình thành thêm một lạch sông mới từ sông Vu Gia Cửa vào lạch Quảng Huế mới nằm tại vị trí cách cửa sông Quảng Huế cũ khoảng 1,7km về phía thượng lưu, thuộc địa phận xã Đại Cường Về mặt thủy lực, đoạn sông cong cắt dòng là hoàn toàn logic
vì dòng nước bao giờ cũng tìm đường đi ngắn nhất Giải thích về hiện tượng này, các chuyên gia cho rằng, điểm xuất phát là do việc chỉnh trị sông Vu Gia trong những năm qua còn tự phát và chắp vá Cụ thể nhất là việc chống đỡ hiện tượng sạt lở bằng kè cục
bộ trên từng khu vực dân cư trong nhiều năm qua làm thay đổi dòng chảy của sông, tăng cường các bãi bồi và vùng xói lở bất hợp lý đã dẫn đến việc thay đổi dòng chảy sông Quảng Huế hiện nay Ngoài ra, cao trình mực nước sông Vu Gia lớn hơn 4m so với cao trình mực nước sông Thu Bồn, cộng với sự chênh lệch lưu lượng nước giữa 2 mùa (mùa kiệt và mùa lũ) quá lớn làm tăng cường quá trình cắt dòng tự nhiên của sông Quảng Huế
Để khắc phục tình trạng đó, tháng 3/2001 nhân dân địa phương đã xây dựng một đập tạm chặn dòng mới nhưng vẫn không đưa nước chảy về phía sông Ái Nghĩa như mong muốn Tuy nhiên, đập tạm này chỉ là giải pháp tạm thời trong mùa kiệt nước, vào mùa mưa lũ thì đập dễ dàng bị lũ “thổi bay” về sông Thu Bồn
Ảnh 1 Hiện trạng khu vực cắt dòng sông Quảng Huế năm 2001- Nguồn: Viện khoa
học thủy lợi