1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu đặc điểm của gió mùa tây nam ở đắk lắk ảnh hưởng của nó đối với khí hậu, thời tiết và sản xuất nông nghiệp của tỉnh

59 176 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đắk Lắk là một tỉnh nằm ở khu vực Tây Nguyên là một trong số các khu vực chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam tuy nhiên hoạt động của gió mùa Tây Nam ở Đắk Lắk khác hẳn so với các tỉnh ở k

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA ĐỊA LÝ



ĐỖ TIẾN LỘC

Tìm hiểu đặc điểm của gió mùa Tây Nam ở Đắk Lắk Ảnh hưởng của nó đối với khí hậu, thời

tiết và sản xuất nông nghiệp của tỉnh

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

SƯ PHẠM ĐỊA LÝ

Trang 2

Để hoàn thiện được đề tài này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo: PGS.TS Đậu Thị Hòa người

đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo trong khoa Địa lí - Trường ĐHSP – Đại học Đà Nẵng đã hết lòng giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài

Xin gửi lời cảm ơn đến Trung tâm khí tượng thủy văn Đắk Lắk, Cục thống kê Đắk Lắk, Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn Đắk Lắk đã nhiệt tình giúp đỡ

Xin cám ơn các thành viên trong lớp 09SDL đã đóng góp ý kiến, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt đề tài khóa luận này

Lời cuối cùng tôi xin gửi đến các thầy cô giáo, các cá nhân, đoàn thể lời chúc sức khỏe và thành công

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2013

Sinh viên

Đỗ Tiến Lộc

Trang 3

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nằm ở Đông Nam Á, Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa điển hình với nền nhiệt độ cao, độ ẩm lớn, lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của chế độ gió mùa Mùa Đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, mùa hạ chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam

Gió mùa Tây Nam bản chất là khối không khí nóng ẩm, nhưng khi đến nước ta

do yếu tố vị trí và địa hình đã làm khối không khí này có sự phân hóa giữa các vùng Chính điều này đã tạo ra những mùa khí hậu địa phương rất đặc thù, chi phối mạnh mẽ đến điều kiện tự nhiên, sản xuất và đời sống ở mỗi địa phương

Đắk Lắk là một tỉnh nằm ở khu vực Tây Nguyên là một trong số các khu vực chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam tuy nhiên hoạt động của gió mùa Tây Nam ở Đắk Lắk khác hẳn so với các tỉnh ở khu vực Tây Bắc hay Bắc Trung Bộ Nếu như những dãy núi cao ở khu vực Tây Bắc và dãy Trường Sơn ở khu Bắc Trung Bộ đã làm cho gió mùa Tây Nam biến tính, tạo nên hiệu ứng Phơn thì ở khu vực Tây Nguyên do địa hình đón gió Tây Nam đã gây mưa cho khu vực này nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng Để tìm hiểu đặc điểm của gió mùa Tây Nam cùng những ảnh hưởng của nó đến thời tiết, khí hậu và hoạt động sản xuất nông nghiệp của tỉnh Đắk Lắk nhằm có kế hoạch trong sản xuất và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của loại gió này Đồng thời

để làm quen với phương pháp nghiên cứu địa lí phục vụ cho việc học tập và công tác

giảng dạy sau này tôi đã chọn đề tài: “Tìm hiểu đặc điểm của gió mùa Tây Nam ở Đắk Lắk Ảnh hưởng của nó đối với khí hậu, thời tiết và sản xuất nông nghiệp của tỉnh” để làm khóa luận tốt nghiệp

2 Mục tiêu và nhiệm vụ

Trang 4

- Nghiên cứu đặc điểm khí hậu của khu vực Tây Nguyên

- Thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu, số liệu

- Phân tích một số điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến việc hình thành khí hậu tỉnh Đắk Lắk

- Phân tích, tìm hiểu hoạt động của gió Tây Nam ở tỉnh Đắk Lắk

- Phân tích ảnh hưởng của gió Tây Nam đối với khí hậu, thời tiết và sản xuất nông nghiệp của tỉnh Đắk Lắk

- Đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác những thuận lợi, khắc phục những tác động tiêu cực của gió Tây Nam đối với sản xuất nông nghiệp

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu, báo cáo viết về khí hậu Việt Nam nói chung và khí hậu Đắk Lắk nói riêng như:

- “ Địa lí tự nhiên Việt Nam” của Vũ Tự Lập – NXB Đại học sư phạm

- “Khí hậu Việt Nam” của Phạm Ngọc Toàn, Phan Tất Đắc – NXB Khoa học kĩ thuật

- Địa lí các tỉnh thành phố Việt Nam của Lê Thông - NXB Giáo dục

- “Tài liệu giảng dạy địa lí địa phương tỉnh Đắk Lắk” của Sở giáo dục tỉnh Đắk Lắk Tuy nhiên vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể về gió mùa Tây Nam và

những ảnh hưởng của nó đối với khí hậu, thời tiết và sản xuất nông nghiệp của tỉnh

4 Giới hạn đề tài

Do thời gian và kiến thức hạn chế nên đề tài tập trung ở việc nghiên cứu:

* Về không gian: chỉ nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Đắk Lắk

* Về nội dung:

- Cơ chế, tần suất hoạt động của gió Tây Nam

- Ảnh hưởng của gió Tây Nam đối với khí hậu, thời tiết tỉnh Đắk Lắk

- Ảnh hưởng của gió Tây Nam đối với sản xuất nông nghiệp của tỉnh

5 Quan điểm

5.1 Quan điểm tổng hợp

Khí hậu là kết quả tác động của nhiều nhân tố, các nhân tố đó quan hệ chặt chẽ với nhau Quan điểm này được vận dụng để phân tích các nhân tố hình thành khí hậu tỉnh Đắk Lắk trong đó có xét đến vai trò của nhân tố trội hình thành khí hậu của tỉnh

Trang 5

5.4 Quan điểm sinh thái học

Khí hậu là một nhân tố của hệ sinh thái, các yếu tố của khí hậu cũng là một nguồn tài nguyên thiên nhiên Vì vậy, sự thay đổi của khí hậu có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt và hoạt động sản xuất của con người

Trang 6

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu

Các tài liệu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau như: Đài khí tượng thủy văn tỉnh Đắk Lắk, Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk, từ các công trình nghiên cứu, bài viết, Internet…có liên quan Trên cơ sở các tài liệu thu thập được

sẽ tiến hành xử lí, phân tích, tổng hợp để rút ra những nội dung, kết luận cần thiết phục

vụ cho đề tài nghiên cứu

6.2 Phương pháp bản đồ - biểu đồ

Phương pháp bản đồ là phương pháp truyền thống trong khoa học Địa lí, được vận dụng trong tất cả các khâu khi thực hiện đề tài như khi phân tích số liệu, so sánh đối chiếu…trong đề tài này đã sử dụng bản đồ tự nhiên chung, bản đồ kinh tế - xã hội tỉnh Đắk Lắk … để xác định sự phân bố, những biến động của đối tượng

Phương pháp biểu đồ làm trực quan hóa các số liệu thống kê và các yếu tố khí hậu Phương pháp này giúp cho việc biểu hiện một cách rõ ràng các kết quả nghiên cứu

Trang 7

PHẦN II: NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Các khái niệm chung

1.1.1 Khái niệm về gió

Gió là sự chuyển động ngang của không khí tương đối so với bề mặt đất gọi là gió

Nguyên nhân gây ra gió là sự phân bố không đồng đều của áp suất khí quyển trên bề mặt ngang của Trái Đất Không khí sẽ chuyển động từ nơi có khí áp cao đến nơi có khí áp thấp, sự chuyển dịch đó diễn ra mãi cho đến khi không còn có sự chênh lệch áp suất theo chiều ngang mới thôi

1.1.2 Gió mùa

Gió mùa là dòng không khí cố định theo mùa, hướng gió thịnh hành thay đổi mạnh từ mùa đông sang mùa hạ và từ mùa hạ đến mùa đông, hướng gió thịnh hành mùa này ngược với hướng gió mùa kia, nghĩa là ở mỗi khu vực gió mùa, gió mùa đông

và gió mùa hạ sẽ có hướng thịnh hành gần đối lập nhau

Nguyên nhân hình thành gió mùa khá phước tạp chủ yếu là do sự nóng lên và lạnh đi không đều giữa lục địa và đại dương theo mùa, từ đó có sự thay đổi của các vùng khí áp cao và khí áp thấp giữa lục địa và đại dương

Gió mùa thường hình thành ở đới nóng các nước thuộc khu vực Nam Á, Đông Nam Á, Đông Phi, Đông Bắc Ôxtraylia và một số nơi thuộc vĩ độ trung bình như phía Đông Trung Quốc, Đông Nam Hoa Kì

Ở châu Á gió mùa là hệ quả tương tác giữa lục địa Á - Âu rộng lớn với các đại dương bao la vây quanh Về mùa đông lục điạ rất lạnh và khô tại đó đã hình thành một cao áp mạnh, trong khi đó các đại dương nóng ẩm tạo nên các vùng áp thấp làm cho không khí lạnh từ phía Bắc đã tràn xuống phía Đông và phía Nam Ngược lại về mùa

hạ lục địa lại rất nóng đã hình thành một áp thấp trong khi đó các đại dương lại lạnh nhất là ở Nam Bán Cầu nên gió từ phía Nam và phía Đông lại thổi vào đất liền Cơ chế chung ấy đã gây ra chế độ gió mùa ở nhiều nơi Tuy nhiên ở mỗi nơi chế độ gió mùa lại có những nét riêng do đặc điểm vị trí địa lí, địa hình của mỗi nơi

1.2 Gió mùa Tây Nam ở Việt Nam

1.2.1 Hoàn lưu mùa hạ

a Các trung tâm khí áp tác động vào mùa hạ

Vào mùa hạ trên lục địa châu Á các cao áp mùa đông không còn tồn tại Bề mặt lục địa bị hun nóng mạnh đã hình thành một áp thấp rộng lớn, đó là áp thấp Ấn Độ - Pakixtan có tâm ở Iran Áp thấp này rất sâu, đặc biệt là vào tháng III, tháng IV, áp thấp tối thấp của nó có thể đạt tới 995mb Vào tháng VII áp suất trung bình ở tâm áp thấp

Trang 8

giảm xuống 1000mb Áp thấp này hút gió mạnh từ Ấn Độ Dương (vịnh Bengan) Trên Bắc Thái Bình Dương, áp thấp Alêut nhường chỗ cho cao áp Haoai phát triển mạnh

mẽ (áp suất ở tâm 1.025mb)

Ở Nam Bán Cầu, trên Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương tồn tại một dải cao áp cận chí tuyến liên tục với một trung tâm trên lục địa Úc và một trung tâm ở Tây Nam

Ấn Độ Dương Dải cao áp này được tăng cường bởi không khí cực đới Nam Bán Cầu

Sự tồn tại của dải cao áp này làm cho gió mùa Tây Nam nguồn gốc Nam Bán Cầu hoạt động mạnh, kèm theo sự hoạt động mạnh của đường hội tụ nội chí tuyến

Trong khi đó áp thấp châu Á đã tạo ra một sức hút mạnh mẽ đối với không khí

từ các đại dương phía Nam và phía Bắc Không khí thổi vào các trung tâm hút gió tạo nên một xoáy thuận rộng lớn với hướng gió Tây Nam trên Ấn Độ Dương và phần phía Nam châu Á

Mặt khác, vào mùa hạ trên miền Bắc của bán đảo Đông Dương tồn tại một dải

áp thấp không sâu lắm là áp thấp Bắc Bộ Áp thấp này đóng vai trò quan trọng đối với chế độ gió mùa nói riêng và đối với toàn bộ khí hậu Bắc Bộ nói chung trong mùa hạ

Sự tồn tại của áp thấp Bắc Bộ giống như một trung tâm hút gió làm chuyển hướng gió mùa Tây Nam thành Đông Nam thổi qua vịnh Bắc Bộ vào đất liền, do vậy hướng gió trong mùa hạ ở vịnh Bắc Bộ không phải là hướng Tây Nam chính thống mà là hướng Đông Nam Điều này có ảnh hưởng to lớn đến đặc tính của các khối không khí gió mùa mùa hạ trên Bắc Bộ, làm cho mùa hè ở Bắc Bộ bớt khô và dịu hơn Ở khu vực Trung Bộ gió mùa Tây Nam bị biến tính khá nhiều do tác dụng của bề mặt đệm và dãy Trường Sơn gây nên hiệu ứng Phơn khô nóng

b Các khối không khí mùa hạ

- Khối không khí chí tuyến vịnh Bengan (TBg):

Gió mùa mùa hạ ảnh hưởng đến nước ta theo hai luồng từ phía Tây Nam sang

và từ phía Nam lên Khối không khí chí tuyến vịnh Bengan tạo thành luồng phía Tây Nam của gió mùa mùa hạ ở khu vực nước ta Với bản chất nóng ẩm, khối không khí này phát triển trên bề dày 4 - 5 km sát mặt đất, nhiệt độ trung bình 25 – 270C và độ ẩm riêng tới 20g/kg Trong điều kiện thuận lợi khối không khí này có thể đem lại những trận mưa đáng kể trong thời kì đầu mùa hạ Khu vực Tây Nguyên nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng do ảnh hưởng của địa hình đón gió nên về mùa hè đều có mưa

Tuy nhiên càng lên phía Bắc và sườn Đông của dãy Trường Sơn thì khối không khí này đã bị biến tính Từ vịnh Bengan đến Bắc Bộ khối không khí này trải qua một quá trình di chuyển lâu trên lục địa và dưới tác dụng của địa hình gây nên hiệu ứng Phơn Những sự xâm nhập của khối không khí này từ phía Tây đến bị cản trở bởi những dãy núi kéo dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam đặc biệt là dãy Trường Sơn Khi vượt qua dãy Trường Sơn do tác dụng của bức chắn địa hình khối không khí này

Trang 9

đã đem mưa cho phía Tây Trường Sơn (Lào) nhưng khi vượt qua đỉnh của dãy núi này khối không khí này di chuyển dọc xuống phía Đông Trường Sơn và bị nóng lên theo quy luật đoạn nhiệt khô, nhiệt độ tăng cao Vì vậy nó làm cho khối không khí chí tuyến vịnh Bengan với bản chất nóng ẩm bị biến tính trở nên rất khô và nóng

Ở đồng bằng Bắc Bộ, do ảnh hưởng độc đáo của áp thấp Bắc Bộ, luồng gió mùa Tây Nam thường phải vòng qua vịnh Bắc Bộ đổi hướng thành Đông Nam thổi vào đất liền do đó tình trạng khô nóng giảm bớt, nhiệt độ thấp hơn và độ ẩm tương đối cao

Ở khu vực Trung Bộ tác động của khối không khí vịnh Bengan là rất mạnh, đặc biệt là khu vực Bắc Trung Bộ

Ở khu vực Nam Bộ và Tây Nguyên khối không khí vịnh Bengan tràn vào đất liền hầu như không phải trải qua quá trình biến tính nào nên vẫn giữ được tính chất nóng, ẩm

Khối không khí chí tuyến vịnh Bengan hoạt động trên lãnh thổ nước ta chủ yếu vào các tháng V – VI, sang tháng VII – VIII thì suy yếu và nhường chỗ cho khối không khí xích đạo Đến tháng IX – X, khối không khí vịnh Bengan rút ra khỏi lãnh thổ nước ta

- Khối khí xích đạo (Em):

Đây là khối không khí xích đạo nóng ẩm, có nguồn gốc Nam Bán Cầu So với khối không khí vịnh Bengan thì khối không khí này mát và ẩm hơn nhiều, vì nó liên quan tới luồng gió mùa Nam Bán Cầu đi tới lãnh thổ nước ta với cường độ biến tính không đáng kể Ở miền Nam, vào tháng VII khối không khí Em hầu như thay thế hoàn toàn khối không khí vịnh Bengan (TBg) Ở miền Bắc nó vòng qua đường bờ biển và thổi từ phía Bắc của vùng biển Đông tới nên nó không bị biến tính, vẫn giữ được tính chất nóng ẩm Ở miền Bắc nhiệt độ trung bình của khối không khí Em đạt khoảng 27 –

290C, nhiệt độ tối cao ít khi vượt quá 38 - 390C, độ ẩm tương đối đạt 85 – 90% Sự tăng nhiệt ẩm này là do tác động của Biển Đông vừa nóng, vừa rộng Khối không khí

Em hoạt động vào mùa hè xen lẫn với khối không khí vịnh Bengan, nó hoạt động ở miền Nam nhiều hơn miền Bắc Ở miền Nam nó hoạt động từ tháng VI đến tháng X, ở miền Bắc từ tháng VI cũng thấy Em nhưng nhiều nhất là vào tháng VIII

- Khối khí nhiệt đới Thái Bình Dương (Tmp):

Khối không khí này xuất hiện từ rìa Tây Nam của lưỡi cao áp cận chí tuyến Tây Thái Bình Dương Đây là một khối không khí biển thuần túy nên về thuộc tính không khác gì nhiều so với khối không khí Em Nhiệt độ và độ ẩm gần như tương tự Còn so với khối không khí vịnh Bengan thì nó mát và ẩm hơn Trên lãnh thổ Việt Nam nhiệt

độ trung bình ngày của Tmp vào khoảng 27 – 290C, độ ẩm tương đối khoảng 85 - 90%

Trang 10

Khối không khí nhiệt đới Thái Bình Dương tràn tới lãnh thổ nước ta cùng với rìa của lưỡi cao áp cận chí tuyến Tây Thái Bình Dương, mang lại một chế độ thời tiết quang mây, trong sáng Song khi vào đất liền do ảnh hưởng của bề mặt đất nóng kết hợp với điều kiện thuận lợi khối không khí này có thể gây ra mưa dông và mưa lớn

Khối không khí nhiệt đới Thái Bình Dương tràn tới lãnh thổ Việt Nam trong suốt mùa hạ từ tháng V đến tháng IX, nhưng có khi nó bị đẩy lùi (đầu mùa hạ), có khi

nó thịnh hành lấn át khối không khí khác (tháng VIII, IX)

Ngoài các khối không khí trên, phần lãnh thổ phía Bắc nước ta còn có hai khối không khí khác đôi khi phát huy tác dụng là khối không khí cực đới biến tính và khối không khí nhiệt đới lục địa

Như vậy qua quá trình tìm hiểu hoạt động của các khối không khí mùa hạ ta có thể rút ra được bảng tóm tắt sau:

Bảng 1.1: Thời gian hoạt động trung bình các khối khí trong năm ở

1.2.2 Gió mùa Tây Nam ở Việt Nam

a Nguồn gốc của gió mùa Tây Nam

Về nguồn gốc, khu vực Nam và Đông Á có hai luồng gió mùa hạ:

- Luồng thứ nhất trên Thái Bình Dương, là luồng thuần túy xuất phát từ cao áp gió mùa châu Úc Luồng này vượt qua xích đạo từ tháng V và tiến lên phía Bắc Bán Cầu phù hợp với sự di chuyển của dải áp thấp xích đạo

- Luồng thứ hai là luồng giói thổi trên Bắc Ấn Độ Dương Trong thời kì đầu mùa hạ khi cao áp Ấn Độ Dương chưa phát triển mạnh có thể đó chỉ là không khí vượt xích đạo ở phía Tây thổi tới Nhưng vào giữa mùa hạ (tháng VI và tháng VII) khi tín phong Nam Bán Cầu vượt xích đạo lên Bắc Bán Cầu thì gió mùa Tây Nam thổi tới Ấn

Độ Dương và Đông Nam Á

Bán đảo Đông Dương nằm trong khu vực chuyển tiếp giữa hai luồng gió mùa nói trên Trên bán đảo Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng, gió mùa Tây Nam khi thì từ luồng Ấn Độ thổi tới (tháng V, VI), khi thì luồng phía Nam chiếm ưu thế (tháng VIII, IX) Đặc biệt đáng chú ý là luồng gió mùa hạ từ phía Tây mang không khí từ vinh Bengan tới Khối không khí này ảnh hưởng đến nước ta trong những tháng

Trang 11

đầu mùa hạ (tháng V đến tháng VII) Từ tháng VII trở đi khối không khí này hoạt động yếu dần nhường cho luồng từ phía Nam lên Bản chất của khối không khí vịnh Bengan là nóng ẩm nên khi đến Việt Nam gặp địa hình đón gió ở Nam Bộ và Tây Nguyên đã gây mưa rào và mưa dông cho 2 khu vực này Riêng ở vùng Tây Bắc và dãy Trường Sơn do quá trình di chuyển lâu trên lục địa và đặc biệt do ảnh hưởng của những dãy núi cao đã làm cho khối không khí này biến tính từ nóng ẩm trở nên hết sức khô nóng

b Cơ chế hoạt động

Gió mùa Tây Nam có nguồn gốc từ vịnh Bengan với thuộc tính nóng ẩm khi gió này thổi tới lãnh thổ nước ta do ảnh hưởng của địa hình và bề mặt đệm nên ở mỗi khu vực nó có cơ chế hoạt động khác nhau Ở khu vực Tây Nguyên, Nam Bộ, phía Tây Trường Sơn trong đó có tỉnh Đắk Lắk với đặc điểm nóng ẩm gặp địa hình đón gió không khí chuyển động đi lên, nhiệt độ giảm xuống theo quy luật đoạn nhiệt ẩm (lên 100m giảm 0,60C) không khí bị lạnh đi nhiệt độ giảm dưới điểm sương, sự ngưng kết hơi nước diễn ra gây mưa cho các tỉnh ở khu vực này Còn ở phía Đông của dãy Trường Sơn khối không khí này sau khi gây mưa ở sườn Tây lúc này hơi nước đã giảm nhiều và bắt đầu chuyển động đi xuống nhiệt độ tăng lên theo cơ chế đoạn nhiệt khô (xuống 100m nhiệt độ tăng 10C) gây nên hiện tượng khô nóng

c Thời gian hoạt động

Gió mùa Tây Nam hoạt động ở nước ta bắt đầu từ cuối tháng IV đến cuối tháng

X Trong đó hoạt động mạnh nhất là vào tháng VII, VIII, IX Thời gian hoạt động của gió mùa Tây Nam liên quan đến thời gian hoạt động của các khối không khí Tháng V,

VI là khoảng thời gian khối không khí vịnh Bengan thịnh hành nhất trên lãnh thổ nước

ta Từ tháng VII trở đi, khối không khí này suy yếu dần đến tháng X thì ngừng hoạt động

Từ tháng VII khối không khí xích đạo hoạt động mạnh Ở miền Nam nó hoạt động từ tháng VII đến tháng X, ở miền Bắc khối không khí này hoạt động mạnh nhất vào tháng VIII Trong khi đó khối không khí nhiệt đới Thái Bình Dương cũng hoạt động trong suốt mùa hạ từ tháng V đến tháng IX

d Tác động của gió mùa Tây Nam đến khí hậu Việt Nam

Sự hoạt động của gió mùa Tây Nam trong mùa hạ đã tác động mạnh đến khí hậu Việt Nam Vào đầu mùa hạ khi khối khí vịnh Bengan hoạt động mạnh thường mang theo thời tiết oi bức, nóng nực kèm theo mưa dông ở khu vực Nam Bộ, Tây Nguyên Ở khu vực Trung Bộ do sự tác động của địa hình và bề mặt đệm đã dẫn đến

sự biến tính mạnh mẽ khối không khí này làm cho thời tiết khô nóng, nhiệt độ trung bình vượt quá 350C Từ tháng VII đến tháng IX, khi khối khí xích đạo hoạt động mạnh

Trang 12

mang theo hơi ẩm từ phía Nam làm cho khí hậu dịu hơn, trời mát, mưa dai dẳng, đôi khi có dông Vào tháng IX, tháng X khi khối khí xích đạo và khối khí Thái Bình Dương vẫn còn tồn tại thì nó có thể gây hiện tượng thời tiết mưa bão

1.3 Khái quát đặc điểm tự nhiên tỉnh Đắk Lắk

1.3.1 Vị trí, lãnh thổ

( Nguồn: Tác giả đề tài)

Đắk Lắk là tỉnh miền núi, nằm trên khu vực cao nguyên trung phần, ở thượng nguồn của hệ thống sông Sêrêpok và một phần của hệ thống sông Ba Toàn bộ lãnh thổ

của vùng nằm trong phạm vi tọa độ địa lí từ:

+ 107o28’57” - 108o59’37” Đông Phía Nam là Lâm Đồng và Bình Phước, phía Đông kề bên Phú Yên và Khánh Hòa; phía Tây giáp tỉnh Đăk Nông và tỉnh MunđônKiri của Campuchia với đường biên giới dài khoảng 70Km

Trang 13

Đắk Lắk là tỉnh lớn thứ 4 cả nước về diện tích Diện tích tự nhiên của tỉnh là 13.085km2, chiếm 3,9% diện tích cả nước; với số dân là là 1.728.380 người (01/04/2009), mật độ dân số 132 người/km2

Nằm giữa Tây Nguyên, Đắk Lắk có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng Lãnh thổ của tỉnh là đầu mối của nhiều tuyến quốc lộ như quốc lộ 14, 26, 27… Thông qua các tuyến giao thông Đắk Lắk giống như chiếc cầu nối giữa Duyên hải Nam Trung Bộ với Tây Nguyên và vùng Hạ Lào cũng như với Đông Bắc Campuchia

Như vậy về mặt kinh tế, vị trí của Đắk Lắk có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc giao lưu, trao đổi hàng hóa, mở rộng thị trường với các vùng trong nước và với các nước trong khu vực Về mặt an ninh quốc phòng Đắk Lắk cũng có vị trí đặc biệt quan trọng

1.3.2 Địa hình

Đắk Lắk có địa hình khá phức tạp, phần lớn địa bàn Đắk Lắk thuộc sườn phía Tây Nam dãy Trường Sơn với các cao nguyên xen kẽ giữa các dãy núi cao và trung bình Địa hình thấp dần từ Đông Nam lên Tây Bắc với độ cao trung bình so với mực nước biển là 500m, trong đó đỉnh cao nhất là 2.442m

- Vùng cao nguyên có địa hình thấp hơn, với độ cao trung bình 550 – 750m nằm ở phần trung tâm và chiếm 53% lãnh thổ Đắk Lắk Đây là vùng đã và đang được khai thác mạnh mẽ vào hoạt động nông nghiệp Các cao nguyên ở đây bao gồm:

+ Cao nguyên Buôn Ma Thuột có địa hình cao nguyên bazan trẻ, gợn sóng, ít bị chia cắt, độ cao trung bình khoảng 500 – 600m, thoải dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây với độ dốc 30 – 120

+ Cao nguyên M’Đrăk có dạng địa hình thung lũng cổ, được tạo thành từ một

bề mặt san bằng cổ vào Pleixtôxen Cao nguyên này chủ yếu là các đồi lượn sóng, độ cao bình quân 400m, dốc dần từ Đông sang Tây, đổ về sông Sêrêpok Ở đây quá trình rửa trôi khá mạnh

- Vùng địa hình thấp trũng xen kẽ giữa cao nguyên với các dãy núi cao tạo nên những cánh đồng tương đối bằng phẳng với độ cao trung bình vài trăm mét, phân bố ở các huyện Lăk, Krông Păk, Krông Ana, Ea Súp, chiếm 12% diện tích của tỉnh Vùng này có thể chia làm 2 khu vực:

Trang 14

Khu vực có địa hình đồng bằng bóc mòn với dạng đồi núi sót lượn sóng (vùng bán bình nguyên Ea Súp), độ cao bình quân 200 – 300m Địa hình thấp dần từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc với độ dốc 30 – 80 Quá trình bào mòn, xâm thực diễn ra mạnh, nhất là khu vực phía Nam

Khu vực bề mặt san bằng cổ kiểu đồng bằng tích tụ bóc mòn (vùng trũng Lăk, Krông Păk) Quá trình bóc mòn diễn ra ở những đồi sót và tích tụ trên địa hình thấp Ngoài ra hoạt động xâm thực tích tụ của các sông Krông Ana, Krông Nô đã tạo nên dạng địa hình bậc thềm, bãi bồi có bề mặt tương đối bằng phẳng

( Nguồn: Tác giả đề tài)

Trang 15

1.3.3 Khí hậu

Do đặc điểm vị trí địa lý, địa hình nên khí hậu ở Đắk Lắk vừa chịu sự chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa á xích đạo với 2 mùa rõ rệt, vừa mang tính chất của khí hậu cao nguyên mát dịu Song chịu ảnh hưởng mạnh nhất chủ yếu vẫn là khí hậu Tây Trường Sơn

Thời tiết chia 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trong mùa này độ

ẩm giảm, gió Đông Bắc thổi mạnh

Hàng năm trên lãnh thổ của tỉnh nhận được lượng bức xạ dồi dào, khoảng 130 –

135 Kcal/cm2 với cán cân bức xạ 81kcal/cm2 (trạm Buôn Ma Thuột) Tổng nhiệt độ bình quân năm đạt 8.5000 C (vùng núi 8.0000C ) với 2.200 – 2.700 giờ nắng

Về chế độ nhiệt, do ảnh hưởng của dãy Trường Sơn và độ cao của địa hình nên nhiệt độ thường thấp hơn so với các tỉnh có cùng vĩ độ ở miền Trung khoảng 3 – 50 C Nhiệt độ trung bình năm từ 20 – 240C

Về chế độ mưa, lượng mưa trung bình năm thấp hơn so với các tỉnh khác ở Tây Nguyên, đạt 1.600 – 2.000mm Có sự phân hóa rõ rệt theo thời gian và không gian,

Đắk Lắk ít chịu ảnh hưởng của bão và chế độ gió mùa Đông Bắc Tuy nhiên do ảnh hưởng của bão đổ bộ vào duyên hải miền trung hoặc nhiễu động khí quyển đôi khi cũng gây mưa lớn và lũ trên các sông suối

Nhìn chung, khí hậu của Đắk Lắk tương đối ôn hòa với nền nhiệt cao, bức xạ tương đối phong phú, ít bị ảnh hưởng trực tiếp của bão Điều đó thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Một trong những trở ngại lớn nhất là thiếu nước nghiêm trọng trong mùa khô, gây khó khăn trong sản xuất và đời sống nhân dân

1.3.4 Thủy văn

Hệ thống sông ngòi của tỉnh Đắk Lắk khá dày đặc và phong phú với mật độ trung bình là 0,80 km/km2 Những nơi có lượng mưa khá như Ea H’leo, Lắk, Krông Ana thì mật độ khá cao (0,9km/km2) Ngược lại những mơi mưa ít như (Ma Đrắk , Ea Súp) mật độ lại rất thấp (0,2 km/km2)

Trên địa bàn tỉnh có hai hệ thống sống chính là sông Sêrêpok và thượng nguồn sông Ba:

+ Sông Sêrêpok có chiều dài 341 km với hai nhánh chính là sông Krông Ana (215km) và Krông Nô (189km) đổ về Campuchia Lưu vực có diện tích 16.420km2, lưu lượng trung bình 181m3/s, độ dốc lòng sông 2,3% và mùa lũ kéo dài từ tháng VIII đến tháng X

+ Trải dài ở phía Đông Bắc của tỉnh, sông Ba có hai phụ lưu chính là sông Ea Krông Hin và Ea Krông Năng Hai con sông này đều bắt nguồn từ vùng núi cao và

Trang 16

chảy qua các khu vực có lượng mưa lớn Sông Ea Krông Hin dài 88km diện tích lưu vực trong địa phận tỉnh Đắk Lắk là 991km2, độ dốc lòng sông tới 15,5% với nhiều bậc thang Sông Ea Krông Năng dài 129km, diện tích lưu vực 1.069km2 và độ dốc lòng sông là 14,4%

Phụ thuộc vào khí hậu, thủy chế của sông suối ở Đắk Lắk chia làm 2 mùa rõ rệt Mùa lũ chiếm tới 70 – 80% lượng nước cả năm, mùa cạn chỉ chiếm 20- 30% lượng nước Hệ thống sông suối đã đem lại cho Đắk Lắk nguồn thủy điện dồi dào Hiện nay

ở Đắk Lắk đã có nhiều thủy điện như: Đray Hlinh, Buôn Kuôp, Sêrêpok… và nhiều trạm thủy điện nhỏ

Tuy là một tỉnh cao nguyên nhưng ở đây có đến trên 500 hồ nước tự nhiên và nhân tạo lớn nhỏ với 47.000 ha mặt nước, hiện tại Đắk Lắk đang giữ kỉ lục Việt Nam

Các đất hình thành từ đá bazan có độ phì khá cao (pH/H2O từ trung tính đến chua) Sự đồng nhất cao giữa độ phì nhiêu tự nhiên và độ phì nhiêu thực tế của các nhóm đất và loại đất, được phân bố trên cao nguyên Buôn Ma Thuột trải dài khoảng

90 km theo hướng Đông Bắc - Tây Nam và rộng khoảng 70 km Phía Bắc cao nguyên này (Ea H’Leo) cao gần 800 m, phía Nam cao 400 m, càng về phía Tây chỉ còn 300 m,

bề mặt cao nguyên rất bằng phẳng chỉ còn điểm một vài đồi núi

- Nhóm đất đỏ (Ferrasol, trong đó chủ yếu là đất đỏ bazan)

Là nhóm đất chiếm diện tích lớn thứ hai (sau đất xám) chiếm tới 55,6% diện tích đất đỏ bazan toàn Tây Nguyên Đất đỏ bazan còn có tính chất cơ lý tốt, kết cấu viên cục độ xốp bình quân 62 - 65%, khả năng giữ nước và hấp thu dinh dưỡng cao rất thích hợp với các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế như cà phê, cao su, chè, hồ

Trang 17

tiêu và nhiều loại cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày khác Đây là một lợi thế rất quan trọng về điều kiện phát triển nông nghiệp của tỉnh Đắk Lắk

b Sinh vật

Sau khi chia tách tỉnh, diện tích đất có rừng của Đắk Lắk là 610,5 nghìn ha, trong đó rừng tự nhiên là 567,9 nghìn ha, rừng trồng là 42.6 nghìn ha Độ che phủ rừng đạt 45,5% (số liệu tính đến ngày 01/01/2010 của Tổng cục thống kê) Rừng Đắk Lắk được phân bố đều khắp ở các huyện trong tỉnh, đặc biệt là hành lang biên giới của tỉnh giáp Campuchia Rừng Đắk Lắk phong phú và đa dạng, thường có kết cấu 3 tầng, có tác dụng phòng hộ cao; có nhiều loại cây đặc sản vừa có giá trị kinh tế, vừa có giá trị khoa học; phân bố trong điều kiện lập địa thuận lợi, nên rừng tái sinh có mật độ khá lớn Hệ thống thực vật của Đắk Lắk bao gồm nhiều loại cây từ hai luồng thực vật phương Bắc và phương Nam Thực vật phát sinh từ khu hệ phương Bắc có các họ giẻ,

re, chè, đậu, trám…; còn từ khu hệ phương Nam gồm các họ kền kền, táu nước, sao đen…Các kiểu rừng phổ biến trên địa bàn tỉnh là kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, kiểu rừng lá rộng nửa rụng lá nhiệt đới, kiểu rừng hỗn giao tre nứa với các loài cây gỗ lá rộng, kiểu phụ rừng tre nứa thuần loại

Với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng ở Đắk Lắk rừng có vai trò quan trọng trong phòng chống xói mòn đất, điều tiết nguồn nước và hạn chế thiên tai Diện tích rừng của Đắk Lắk tuy lớn trong số các tỉnh thành của cả nước, nhưng trong những năm qua

có xu hướng giảm mạnh cả về số lượng và chất lượng

Động vật rừng của Đắk Lắk tương đối phong phú Có nhiều loại động vật quý hiếm phân bố chủ yếu ở vườn Quốc gia Yôk Đôn và các khu bảo tồn Nam Kar, Chư Yangsin có nhiều loại động vật quý hiếm ghi trong sách đỏ nước ta và có loại được ghi trong sách đỏ thế giới Ngoài một số loài đặc hữu của vùng Đông Nam Á, ở đây còn có những loài có nguồn gốc Hoa Nam, Ấn Độ và từ phương Nam tới Đáng chú ý hơn cả là các loài động vật ăn cỏ cỡ lớn như voi, nai, hoẵng, trâu rừng, bò rừng…Bên cạnh đó còn nhiều loài động vật quý hiếm khác như hổ, báo, gấu…Nguồn tài nguyên này có giá trị nhiều mặt và cần được phải bảo vệ Rừng và đất lâm nghiệp có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

Trang 18

CHƯƠNG 2:

ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA GIÓ MÙA TÂY NAM VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA

GIÓ MÙA TÂY NAM ĐẾN THỜI TIẾT, KHÍ HẬU Ở ĐĂK LĂK

2.1 Đặc điểm hoạt động của gió mùa Tây Nam ở Đắk Lắk

2.1.1 Cơ chế hoạt động của gió mùa Tây Nam

Như những phân tích ở phần cơ sở lí luận về cơ chế hoạt động của gió mùa Tây Nam chúng ta thấy rằng gió mùa Tây Nam hoạt động mạnh nhất ở khu vực Bắc Trung

Bộ, Tây Bắc ngoài ra còn ảnh hưởng ở khu vực Tây Nguyên, Nam Bộ Ở mỗi khu vực khác nhau do đặc điểm vị trí, địa hình khác nhau mà có những đặc điểm hoạt động khác nhau Nếu như ở khu vực Bắc Trung Bộ, Tây Bắc gió mùa Tây Nam kết hợp với địa hình dãy Trường Sơn gây nên hiệu ứng Phơn khô nóng thì ở khu vực từ 160B trở vào dãy Trường Sơn thoải dần nên gió Tây Nam có phần dịu mát hơn Riêng khu vực Tây Nguyên trong đó có Đắk Lắk do ảnh hưởng của địa hình đón gió đã diễn ra quá trình ngưng kết gây mưa

Vào đầu mùa hạ, khối khí nhiệt đới ẩm từ Bắc Ấn Độ Dương di chuyển theo hướng Tây Nam xâm nhập trực tiếp và gây mưa lớn cho Đồng bằng Nam Bộ, Tây Nguyên nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng Ngoài ra khi vượt dãy Trường Sơn gió mùa Tây Nam còn gây hiệu ứng phơn cho khu vực Bắc Trung Bộ và Nam Tây Bắc với kiểu thời tiết khô nóng

Giữa và cuối mùa hạ (từ tháng VII): Gió mùa Tây Nam xuất phát từ khối khí xích đạo (Em) từ nửa cầu Nam hoạt động mạnh thổi theo hướng Đông Nam, vượt xích đạo chuyển thành hướng Tây Nam (do lực Côriôlit) hình thành gió mùa mùa hạ chính thức ở Việt Nam Khi vượt qua vùng biển xích đạo, khối khí trở nên nóng và ẩm hơn, gây mưa lớn và kéo dài cho các vùng đón gió ở Nam Bộ và Tây Nguyên cùng với dải hội tụ nhiệt đới gây mưa lớn cho cả 2 miền Nam, Bắc và mưa vào tháng IX cho Trung

Bộ

2.1.2 Thời gian và tần suất hoạt động của gió mùa Tây Nam

Tùy từng khu vực và từng năm mà thời gian hoạt động của gió mùa Tây Nam

có sự khác nhau Có năm hoạt động sớm, có năm hoạt động muộn

Ở khu vực Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Trung Trung Bộ gió mùa Tây Nam hoạt động sớm hơn các khu vực khác Hoạt động mạnh nhất là vào khoảng từ tháng V đến tháng VII

Đối với khu vực Tây Nguyên nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng mùa gió Tây Nam bắt đầu hoạt động từ cuối tháng IV và kéo dài đến cuối tháng X trùng với thời kì mùa mưa của tỉnh Ở Đắk Lắk gió Tây Nam hoạt động mạnh trong các tháng VII, VIII,

IX Từ cuối tháng IX hoạt động của gió Tây Nam bắt đầu yếu dần

Trang 19

Thời gian hoạt động của gió mùa Tây Nam ở Đắk Lắk có những nét khác biệt

so với các vùng khác Vào đầu mùa do sự sáo trộn thay đổi của các khối khí nên gió mùa Tây Nam hoạt động chưa đều đặn, trong một ngày gió mùa Tây Nam hoạt động mạnh nhất là từ khoảng 13h đến 17h mang theo lượng hơi nước lớn gây mưa rào và mưa dông cho các huyện ở phía Tây và phía Nam tỉnh Vào giữa và cuối mùa gió Tây Nam hoạt động ổn định hơn thường bắt đầu thổi từ 8 - 9 h sáng

Số ngày hoạt động trong các tháng có gió Tây Nam cũng khác nhau tùy thuộc vào mức độ thịnh hành của các khối khí

Bảng 2.1: Số ngày và tần suất gió mùa Tây Nam trung bình ở Đắk Lắk

(Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh Đắk Lắk)

Từ bảng số liệu ta thấy số ngày hoạt động và tần suất hoạt động của gó mùa Tây Nam ở Đắk Lắk cũng có sự phân hóa theo thời gian Vào các tháng đầu mùa tháng

IV, V số ngày hoạt động của gió Tây Nam không quá 12 ngày/ tháng với tần suất hoạt động trung bình chỉ từ 2,5 đến 10 % Vào các tháng VIII, IX gió mùa Tây Nam hoạt động với số ngày cao từ 19 đến 24 ngày/ tháng, với tần suất khá cao trung bình từ 15 đến 20% Sang tháng X gió Tây Nam vẫn còn hoạt động nhưng số ngày và tần suất đã bắt đầu giảm dần và chuyển sang gió Đông vào tháng XI

2.1.3 Hướng gió thịnh hành và tốc độ

Trang 20

khác nữa như hướng Tây (M’ Đrăk; Buôn Ma Thuột; Lăk) trong những tháng đầu mùa gió Tây Nam Trong thời kì giao mùa giữa tháng III và tháng IV là thời kì chuyển tiếp giữa các khối khí nên hướng gió thịnh hành ở Đắk Lắk có nhiều thay đổi không cố định

Bảng 2.2: Hướng gió thịnh hành và tần suất gió các tháng

trong năm ở một số địa điểm (1990 – 2005)

Trang 26

Ngoài ra hướng gió và tần suất hướng gió cũng có sự phân hóa khác nhau trong không gian và thời gian Từ bảng số liệu, biểu đồ hoa gió và bản đồ sự phân bố của hoa gió thấy rằng, vào thời kì chuyển mùa tháng III, IV ở tại các điểm quan trắc có sự thay đổi hướng gió thịnh hành khác nhau Trong tháng III tại các điểm quan trắc chúng

ta thấy đều có gió Đông Bắc với tần suất yếu dần so với tháng I, II Qua trung tuần tháng IV do sự hoạt động của khối khí chí tuyến vịnh Bengan và sự hình thành các áp thấp Ấn - Miến, Hoa Nam, Bắc Bộ đã làm xuât hiện gió mùa Tây Nam trên lãnh thổ nước ta Lúc này một số địa điểm như Buôn Ma Thuột, Lăk do đặc điểm vị trí và điều kiện địa hình hướng gió thịnh hành đã đổi sang hướng Tây với tần suất từ 40 đến 50%

Ở phía Bắc, Đông Bắc Ea H’leo, Krông Năng, Buôn Hồ; phía Đông M’Đrăk, Ea Kar gió thịnh hành vẫn còn là gió Đông Bắc với tần suất giảm dần Tần suất lặng gió vào thời gian này tăng khá cao, do đây là thời kì chuyển mùa có sự thay thế dần hướng gió thịnh hành làm cho tần suất lặng gió tăng lên Vào tháng VII, VIII hầu như ở các huyện gió Tây Nam chiếm tần suất trên 60% đến 70%, tần suất lặng gió nhỏ chứng tỏ đây là thời kì hoạt động mạnh của các đợt gió Tây Nam Vào cuối mùa tháng X tại các trạm quan trắc hướng gió thịnh hành có sự thay đổi, tần suất hoạt động của gió Tây Nam có xu hướng giảm dần thay vào đó hướng gió thịnh hành tại một số trạm như M’Đrăk, Ea H’leo đã dần chuyển sang gió Đông và Đông Bắc với tần suất yếu

Trong không gian sự thay đổi của gió Tây Nam cũng có những hướng và tần suất khác nhau Tại các địa điểm ở phía Tây như Buôn Ma Thuột, Buôn Đôn thường

có gió Tây Nam xuất hiện sớm với tần suất cao hơn so với các địa điểm ở phía Đông như M’Đrăk thường có gió Tây Nam đến muộn và tần suất gió cũng thấp hơn Trong không gian hướng gió Tây Nam cũng có sự thay đổi do tác động của địa hình Vào tháng V, VI ở M’Đrăk có hướng khác với các địa điểm quan trắc do địa hình của Đắk Lắk có địa hình dạng lòng máng kéo dài theo hướng Tây – Đông ở giữa, chính điều này đã tạo điều kiện cho hướng gió Tây Nam chuyển thành hướng Tây ở M’Đrăk Tại trạm Lăk gió Tây thịnh hành từ cuối tháng IV đến tháng VI do ở phía Nam và Tây Nam của huyện có địa hình cao đã làm cho thời kì đầu sự hoạt động của gió Tây Nam còn yếu nên sự tác động của hướng gió đến đây bị thay đổi, một phần hướng gió xâm nhập từ phía Tây Đồng thời tại trạm Lăk tần suất gió Tây Nam cũng thường thấp hơn các địa điểm khác một phần cũng do ảnh hưởng của địa hình núi bao bọc ở phía Nam

và phía Tây Nam

b Tốc độ

Tốc độ gió ở mỗi địa phương mạnh, yếu khác nhau phụ thuộc vào điều kiện địa hình và mức độ che khuất của địa phương

Trang 27

Bảng 2.3: Tốc độ gió Tây Nam trung bình và tối cao tại một số địa điểm

qua trung bình nhiều năm (1980 – 2005)

(Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh Đắk Lắk)

Ở Đắk Lắk tốc độ gió Tây Nam trung bình từ 1,3 - 3,4m/s Trong những ngày gió Tây Nam hoạt động mạnh vào tháng VII, VIII tốc độ cực đại có thể đạt đến 14m/s So với các tỉnh từ 160B trở ra, gió Tây Nam ở các địa phương này bị biến tính

và tốc độ cũng mạnh hơn Tốc độ trung bình của gió phơn Tây Nam ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị từ 3 - 4m/s; cực đại có thể đến 18 – 20m/s

Dựa vào bảng số liệu chúng ta thấy rằng ở trạm Buôn Ma Thuột nằm gần trung tâm tỉnh tốc độ gió Tây Nam khá mạnh nhưng ở trạm M’Đrăk ở phía Đông của tỉnh tốc độ của gió Tây Nam thấp hơn Do nằm ở cuối điểm đón gió về phía Đông nên khi gió Tây Nam tới M’Đrăk thì tốc độ đã giảm dần Mặt khác thời gian xuất hiện của gió Tây Nam ở trạm M’Đrăk cũng muộn hơn các trạm ở phía Tây và trung tâm tỉnh

Riêng ở trạm Lăk do ảnh hưởng của địa hình là những đỉnh núi cao bao bọc ở phía Tây Nam và phía Nam nên đã làm cho tốc độ của gió Tây Nam đến đây cũng giảm dần

Như vậy tỉnh Đắk Lắk cũng chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam tuy nhiên hoạt động của gió mùa Tây Nam ở Đắk Lắk không bị biến tính trở thành gió Phơn khô nóng như ở các tỉnh ở khu vực Tây Bắc và Bắc Trung Bộ Hoạt động của gió mùa Tây Nam ở Đắk Lắk nói riêng và khu vực Tây Nguyên nói chung đã có tác động đến thời tiết, khí hậu của tỉnh đồng thời gây mưa cho khu vực này, ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất nông nghiệp trong tỉnh

Trang 28

2.2 Ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam đến thời tiết – khí hậu tỉnh Đắk Lắk

Bảng 2.4: Nhiệt độ trung bình tháng của tỉnh Đắk Lắk (1980 – 2005)

(Đơn vị : 0 C)

Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII

Ttb 19.5 21.4 23.7 24.8 24 23.5 23.4 22.8 22.3 22.1 21.3 19.9

(Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh Đắk Lắk)

Biểu đồ 2.5: Nhiệt độ trung bình tháng của tỉnh Đắk Lắk

Nhìn vào biểu đồ và bảng số liệu ta thấy tháng có nhiệt độ thấp trùng vào thời

kì gió mùa Đông Bắc hoạt động (XI – I) trong những tháng mùa Đông mặc dù ở Đắk Lắk không chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Đông Bắc nhưng do độ cao địa hình cộng với tác động của tín phong Đông Bắc đã làm giảm nhiệt độ trung bình xuống thấp (19 -200C) và tăng lượng mây, đôi khi có mưa nhỏ Trong mùa mưa từ cuối tháng

IV - X khi gió Tây Nam với đặc điểm nóng ẩm hoạt động đã làm cho nhiệt độ không

Trang 29

khí trung bình tăng nhẹ, dao động trong khoảng từ (23 - 240C) Tuy nhiên nếu như ở khu vực Bắc Trung Bộ hay Tây Bắc gió Tây Nam bị biến tính trở nên khô nóng cực đoan do ảnh hưởng của địa hình dãy Trường Sơn làm cho nhiệt độ tăng cao, cực đại có thể lên 38 - 400C thì ở khu vực Tây Nguyên do địa hình đón gió nên gió Tây Nam không bị biến tính gây hiện tượng khô nóng cực đoan nhưng do nguồn gốc nóng ẩm của khối khí chí tuyến vịnh Ben gan cũng làm cho nhiệt độ các tháng đầu mùa mưa tăng nhẹ

Vào tháng II, III là những tháng mùa khô nhiệt độ trung bình toàn tỉnh tăng dần, cao nhất là vào cuối tháng III và đầu tháng IV (24.80C ) Mặc dù vào giữa tháng IV ở Đắk Lắk đã có mưa rải rác ở một số nơi đón gió nhưng do tính chất nóng ẩm của gió Tây Nam cộng với lượng mưa nhỏ nên lúc này nhiệt độ trung bình của tỉnh vẫn còn rất cao Từ tháng V đến tháng X lúc này gió Tây Nam đã hoạt động ổn định, với lượng mưa khá lớn nên đã làm giảm nền nhiệt độ trung bình của toàn tỉnh

Bảng 2.5: Nhiệt độ trung bình các tháng ở một số địa phương (1990 – 2005)

( Đơn vị: 0 C)

Tháng

M’ Đrăk 20.1 22.4 24.4 25 25.5 24.8 23.1 22.5 22.0 21.9 21.0 20.1 Buôn

(Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh Đắk Lắk)

Sự phân hóa nhiệt độ theo không gian cũng chịu tác động của gió Tây Nam Tại trạm quan trắc M’Đrăk ở phía Đông tỉnh là nơi có gió Tây Nam xuất hiện muộn nhất

vì vậy khi các huyện ở phía Tây, trung tâm đã có mưa nhiệt độ trung bình giảm nhẹ thì ở M’Đrăk nhiệt độ trung bình trong các tháng đầu mùa hè vẫn còn cao

Ngày đăng: 09/05/2021, 17:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w