Bảng 2.3: Thống kê dân số và thành phần dân tộc các xã vùng đệm Bảng 2.4: Thành phần loài thực vật ở khu BTTN Xuân Liên Bảng 2.5: Thành phần loài thực vật của Xuân Liên với Bến En, Cúc P
PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Có thể khẳng định rằng rừng là một trong những thành phần quan trọng cấu tạo nên sinh quyển, nó giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của con người cũng như các loài sinh vật “Rừng là lá phổi xanh của nhân loại” Tuy nhiên, trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, con người đã không ngừng tác động làm cho tài nguyên rừng bị biến đổi và suy giảm một cách nhanh chóng Từ đó là ĐDSH suy giảm, nhiều loại động thực vật đứng trược nguy cơ bị tuyệt chủng, nhiều HST bị đe dọa biến đổi và bị phá hủy…và chính con người cũng không nằm ngoài những nguy cơ này
Nhận thức được điều này cho nên xu hướng phát triển mới hiện nay là “phát triển bền vững” phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường Chính vì thế, vấn đề bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên rừng, bảo vệ ĐDSH đang một vấn đề hết sức cấp bách đặt ra không chỉ với riêng mỗi quốc gia, mỗi khu vực mà là một vấn đề chung của toàn Thế Giới Và có thể nói sự kiện mang ý nghĩa như cái mốc đánh dấu sự chung sức của cả cộng đồng vì môi trường đó là sự kiện các quốc gia trên Thế Giới đã ký công ước quốc tế về vấn đề bảo tồn ĐDSH được thông qua ở hội nghị thượng đỉnh tại Riodejaneiro (Brazin, 1992) mà Việt Nam là một trong những quốc gia thực hiện công ước đó bằng sự ra đời của nhiều khu BTTN và các VQG
Nằm trong hệ thống các khu BTTN của Việt Nam, khu BTTN Xuân Liên được thành lập ngày 15/6/2000 với tổng diện tích tự nhiên 27.236,3 ha trong đó có 20.699,6 ha là rừng tự nhiên chiếm 76% diện tích, thuộc địa bàn hành chính huyện Thường Xuân, cách Thành phố Thanh Hoá 60 km, về hướng Tây Nam Với vị trí địa lý tiếp giáp khu BTTN Pù Hoạt (Nghệ An) và khu BTTN Nậm Xam nước CHDCND Lào đã tạo ra một tam giác khu hệ động thực vật phong phú và đa dạng Hơn thế nữa, khu BTTN Xuân Liên đây không chỉ là khu vực chứa đựng giá trị về ĐDSH mà còn là rừng phòng hộ đầu nguồn xung yếu cho hồ thủy lợi – thủy điện Cửa Đạt nói riêng và vùng hạ lưu sông Chu của tỉnh Thanh Hóa nói chung Tuy nhiên, trên thực tế nguồn tài nguyên rừng và sự ĐDSH đang bị đe dọa bởi sức ép dân sinh và sự phát triển kinh tế của dân cư quanh vùng
Chình vì thế, công tác bảo tồn tài nguyên rừng và tính ĐDSH bảo vệ các loài các nguồn gen quý hiếm và các nguồn tài nguyên khác ở đây cần phải có sự chú trọng và quan tâm hơn bao giờ hết Nhận thức rõ yêu cầu thực tiễn và cấp bách đó đồng thời để góp phần làm cơ sở cho công tác quản lý bảo tồn và phát triển ĐDSH, ở khu BTTN Xuân Liên đó chính là lý do tôi chọn đề tài: “Tìm hiểu đa dạng sinh học ở khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên huyện Thường Xuân - Thanh Hóa Một số giải pháp bảo vệ” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu mức độ đa dạng sinh học, công tác quản lý bảo vệ ở khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên
- Đề xuất một số giải pháp bảo vệ
- Nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn phục vụ cho nghiên cứu đề tài
- Tìm hiểu những nét khái quát về khu BTTN Xuân Liên
- Tìm hiểu mức độ đa dạng sinh học của khu BTTN Xuân Liên
- Tìm hiểu công tác quản lý, các biện pháp bảo vệ và phát triển ĐDSH của khu BTTN Xuân Liên
- Đề xuất một số giải pháp bảo vệ và phát triển ĐDSH ở khu BTTN Xuân Liên.
Lịch sử nghiên cứu
Về lịch sử khu BTTN Xuân Liên được thành lập ngày 15/06/2000 với tổng diện tích tự nhiên 27.236,3 ha trong đó có 20.699,6 ha là rừng tự nhiên chiếm 76% diện tích Khu BTTN Xuân Liên thuộc địa bàn hành chính các xã Bát Mọt, Yên Nhân, Xuân Khao, Xuân Chinh, Xuân Mỹ, Xuân Liên, Vạn Xuân thuộc huyện Thường Xuân, cách Thành phố Thanh Hoá 60 km, về hướng Tây Nam Với vị trí địa lý tiếp giáp khu BTTN Pù Hoạt (Nghệ An) và khu BTTN Nậm Xam nước CHDCND Lào đã tạo ra một tam giác khu hệ động thực vật phong phú và đa dạng Quá trình thành lập và phát triển KBT đã thu hút một số các tổ chức quốc tế cũng như các cơ quan, tổ chức cá nhân trong nước đến nghiên cứu Hiện nay, đã có một số ít công trình nghiên cứu về hệ thực vật ở đây như:
Dự án nghiên cứu khả thi thành lập khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên của Viện điều tra quy hoạch rừng, Phân viện Bắc Trung Bộ (1998) Đánh giá tính đa dạng cây thuốc vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, Thanh Hóa của các tác giả Phạm Hồng Ban, Phạm Thị Huệ, Nguyễn Đình Hải, Đỗ Ngọc Đài (2009), thuộc Tổ chức Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Phân tích tính đa dạng về phân loại hệ thực vật bậc cao có mạch vùng phía tây ở khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, Thanh Hóa của các tác giả Phạm Hồng Ban, Nguyễn Đình Hải, Trần Văn Kỳ, Đỗ Ngọc Đài (2010), thuộc Tổ chức Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Đa dạng thực vật bậc cao có mạch tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên tỉnh Thanh Hóa của hai tác giả Đỗ Ngọc Đài, Lê Thị Hương, thuộc Tổ chức Công Nghệ Sinh học
Tuy nhiên, vì mới được thành lập và phát triển nên các công trình nghiên cứu về ĐDSH của KBT còn rất hạn chế Với đề tài nghiên cứu “Tìm hiểu đa dạng sinh học ở khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên huyện Thường Xuân - Thanh Hóa Một số giải pháp bảo vệ” , đây là một hướng nghiên cứu khá mới mẽ vì từ trước đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào tìm hiểu một cách bao quát về sự ĐDSH nói chung của khu BTTN Xuân Liên Cũng chính vì thế với hướng đi mới này của mình tôi mong rằng sẽ mang đến một cái nhìn tổng quát hơn, đầy đủ hơn về sự ĐDSH ở KBT này Đồng thời tôi vọng sẽ góp phần nhỏ bé của mình vào việc bảo vệ các HST động thực vật tại KBT này.
Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Tìm hiểu tại khu BTTN Xuân Liên trên địa bàn các xã: Bát Mọt, Yên Nhân, Xuân Khao, Xuân Liên, Xuân Mỹ, Vạn Xuân thuộc huyện Thường Xuân tỉnh Thanh Hóa
4.2 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu mức độ ĐDSH của khu BTTN Xuân Liên về thành phần loài, nguồn gen, HST; công tác quản lý, bảo vệ và phát triển ĐDSH.
Quan điểm nghiên cứu
Trong thực tiễn mọi sự vật hiện tượng là một chỉnh thể trọn vẹn được cấu tạo từ nhiều bộ phận nhỏ, các bộ phận nhỏ này có một vị trí, vai trò và chức năng riêng chúng luôn vận động và phát triển theo quy luật riêng Tuy nhiên, giữa chúng lại có mối quan hệ biện chứng qua lại với nhau rất mật thiết, không thể tách rời và chúng luôn chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên nói chung Khi một bộ phận trong chỉnh thể đó bị tác động thay đổi thì nó sẽ kéo theo cả chỉnh thể đó thay đổi và ngược lại khi cả chỉnh thể bị biến đổi thì các bộ phận nhỏ cũng sẽ bị tác động và thay đổi theo Hay nói rộng ra có thể coi tất cả các sự vật hiện tượng trong tự nhiên là một hệ thống, hệ thống này luôn luôn vận động và phát triển không ngừng, giữa chúng có mối quan hệ mật thiết không thể tách rời và chúng luôn chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên Trong hệ thống tự nhên nói chung này khi có một thành phần nào đó bị biến đổi thì nó sẽ kéo theo sự biến đổi của các thành phần khác và có khi là cả hệ thống Do đó, khi tiến hành nghiên cứu phải tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện, trên nhiều mặt dựa vào việc phân tích các bộ phận nhỏ đồng thời xác định rõ mối quan hệ hữu cơ giữa chúng trong sự vận động và phát triển chung
5.2 Quan điểm lịch sử và viễn cảnh
Vận dụng quan điểm này nhằm mục đích tìm hiểu hoàn cảnh thành lập và phát triển của khu BTTN Xuân Liên Mặt khác, nó còn cho phép chúng ta dự báo được diễn biến tất yếu của sự phát triển để từ đó đưa ra những giải pháp hợp lý nhằm bảo vệ và phát triển của KBT trong tương lai Phát hiện được những quy luật phát triển ĐDSH của khu BTTN Xuân Liên
5.3 Quan điểm kinh tế sinh thái
Trong quá trình tồn tại và phát triển con người luôn tác động vào tự nhiên theo cả hai chiều hướng là tác động tích cực và tác động tiêu cực Ngược lại, tự nhiên cũng có những tác động không nhỏ tới đời sống sinh hoạt và sản xuất của con người, đó chính là sự tác động qua lại lẫn nhau Chính vì thế, khi con người tiến hành bất cứ một hoạt động gì muốn có hiệu quả tối ưu nhất thì cần phải tìm hiểu bản chất quy luật phát triển của tự nhiên và các mối quan hệ giữa chúng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Hiện nay xu hướng chính là phát triển bền vững vì thế con người cần phải kết hợp một cách hợp lý giữa lợi ích kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái Với đề tài này thì việc nghiên cứu ĐDSH và đưa ra một số giải pháp bảo vệ và phát triển ĐDSH không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa rất lớn về mặt sinh thái Vì thế, muốn bảo vệ được tính ĐDSH thì vấn đề đặt ra là phải nâng cao đời sống cho người dân sống ở khu vực KBT, đồng thời chia sẽ lợi ích bảo vệ với nhân dân.
Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp thông tin
Các tư liệu sau khi đã thu thập từ các nguồn như: Ban quản lý khu BTTN Xuân Liên; Chi cục kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa; Hạt kiểm lâm huyên Thường Xuân; UBND huyện Thường Xuân; Sách vở, báo đài, mạng Internet…sẽ được chọn lọc, bổ sung đồng thời phân tích tổng hợp và đưa ra những nhận xét, kết luận, đánh giá của bản thân về các vấn đề nghiên cứu trong đề tài Các tư liệu thu thập phải đảm bảo tính chính xác
6.2 Phương pháp bản đồ và biểu đồ Đây là phương pháp được sử dụng với tần xuất lớn trong quá trình nghiên cứu nó ngay từ khâu đầu tiên là khảo sát, nghiên cứu địa bàn, khâu xử lý thông tin, khâu đánh giá…Trong đề tài đã sử dụng các loại bản đồ như: Bản đồ hành chính huyện Thường Xuân, bản đồ thực trạng khu BTTN Xuân Liên,…ngoài ra còn sử dụng một số bảng biểu khác
Phương pháp thực địa được xem là một trong những phương pháp quan trọng nhất của khoa học Địa lý Phương pháp này nhằm mục đích kiểm tra tìm hiểu thực tế tại địa phương để có cái nhìn thực tế về vấn đề đang nghiên cứu, sau đó đối chiếu với những kiến thức, những tư liệu thu thập được để đưa ra được những nhận xét đánh giá xác thực Từ đó kết hợp với một số phương pháp khác làm cho bài nghiên cứu hoàn chỉnh và chính xác.
Bố cục của đề tài
Đề tài gồm có 3 phần chính:
Phần nội dung : Trong phần này gồm có 3 chương.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương II: Đa dạng sinh học của khu BTTN Xuân Liên
Chương III: Một số giải pháp bảo vệ
Phần kết luận và kiến nghị.
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Đa dạng sinh học
1.1.1 Khái niệm đa dạng sinh học
Cho đến nay trên Thế Giới đã có nhiều định nghĩa khác nhau về ĐDSH
Theo Công ĐDSH (biodiversity, biological diversity) được định nghĩa là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm: cả HST trên cạn, sinh thái trong đại dương và các HST thủy vực khác, cũng như các phức HST mà các sinh vật là một thành phần trong đó
Theo FAO, ĐDSH là tính đa dạng của sự sống dưới mọi hình thức, mức độ và mọi tổ hợp, bao gồm đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng HST ĐDSH là sự phong phú về sự sống trên Trái Đất, bao gồm hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, cũng như các thông tin di truyền mà chúng lưu giữ và các HST mà chúng tạo nên (AID, 1989)
Về mặt môi trường, ĐDSH ở từng nơi thể hiện mức độ cân bằng sinh thái tự nhiên Do đó, ĐDSH là một hiện tượng tự nhiên có khả năng điều tiết mọi biến động của môi trường do tự nhiên tạo ra, và bảo vệ môi trường trước những biến động đó Chu kỳ quang hợp hay đồng hóa diệp lục tố, cũng như việc chuyển hóa các vật chất vô cơ thành hữu cơ trong thiên nhiên đã tạo nên sự sống cho tất cả sinh vật trong đó có con người
Về mặt kinh tế, ĐDSH là nguồn cung cấp thực phẩm và nguyên liệu trong hoạt động sống và sản xuất của con người Theo ước tính, hàng năm ĐDSH cung cấp cho Thế Giới tổng sản phẩm có giá trị 33 ngàn tỉ USD Riêng đối với Việt Nam, ĐDSH giữ phần lớn trong kinh tế vì nền kinh tế của Việt Nam vẫn còn đặt trọng tâm vào nông nghiệp và khai thác tài nguyên là chính Về ảnh hưởng đến đời sống con người, đây là một giá trị rất quan trọng đối với đời sống con người vì ĐDSH nói lên tính phong phú cùng những nét đẹp của tự nhiên giành cho một đất nước
1.1.2 Phân loại đa dạng sinh học ĐDSH được xét ở ba góc độ: Đa dạng loài; Đa dạng nguồn gen; Đa dạng HST a Đa dạng loài Đa dạng loài là sự đa dạng về số lượng các loài được tìm thấy tại một khu vực nhất định tại một vùng nào đó Đa dạng loài còn là tất cả sự khác biệt trong một hay nhiều quần thể của một loài cũng như đối với quần thể của các loài khác nhau
Có lẽ do thế giới sự sống chủ yếu được xem xét ở khía cạnh các loài, nên thuật ngữ "ĐDSH" thường được dùng như một từ đồng nghĩa của "đa dạng loài", đặc biệt là
"sự phong phú về loài", thuật ngữ dùng để chỉ số lượng loài trong một vùng hoặc một nơi cư trú ĐDSH toàn cầu thường được hiểu là số lượng các loài thuộc các phân nhóm khác nhau trên toàn cầu Ước tính đến thời điểm hiện nay đã có khoảng 1,7 triệu loài đã được xác định, còn tổng số loài tồn tại trên Trái Đất vào khoảng 5 đến gần 100 triệu loài Theo ước tính của công tác bảo tồn trên Trái Đất có khoảng 12,5 triệu loài Tầm quan trọng về mặt sinh thái học của một loài có thể có ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc quần xã, và do đó đến ĐDSH b Đa dạng hệ sinh thái Đa dạng HST là toàn bộ sinh cảnh, mọi quần xã sinh vật và mọi quá trình sinh thái khác nhau cũng như sự biến đổi trong từng HST Hay có thể hiểu là một hệ thống tổng hợp tự nhiên bao gồm các yếu tố vô cơ và hữu cơ, là nơi có cấu trúc chặt chẽ giữa các thành phần vô cơ và hữu cơ có mối quan hệ gắn bó giữa các thành phần trong cùng một hệ vật chất và năng lượng Đa dạng HST thường được đánh giá qua tính đa dạng các loài thành viên, nó có thể bao gồm việc đánh giá mức độ phong phú tương đối của các loài khác nhau cũng như của các kiểu dạng loài Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với việc xếp hạng các khu vực khác nhau c Đa dạng nguồn gen Đa dạng di truyền là tất cả các gen di truyền khác nhau của tất cả các cá thể động thực vật, nấm và vi sinh vật Đa dạng di truyền tồn tại trong một loài và giữa các loài khác nhau Đa dạng di truyền còn là sự đa dạng về thành phần gen giữa các cá thể trong cùng một loài và giữa các loài khác nhau Là sự đa dạng về gen có thể di truyền được trong một quần thể hoặc giữa các quần thể Đa dạng di truyền còn là biểu hiện sự đa dạng của các biến dị có thể di truyền trong một loài, một quần xã hoặc giữa các loài, các quần xã Xét cho cùng, đa dạng di truyền chính là sự biến dị của sự tổ hợp trình tự của bốn cặp bazơ cơ bản, thành phần của axit nucleic, tạo thành mã di truyền
Tập hợp các biến dị gen trong một quần thể cùng loài có được nhờ chọn lọc, mức độ sống sót của các biến dị khác nhau dẫn đến tần xuất khác nhau của các gen trong tập hợp gen Điều này cũng tương tự như trong tiến hóa quần thể Như vậy, tầm quan trong của biến dị gen là rất rõ ràng, nó tạo ra sự thay đổi tiến hóa tự nhiên cũng như chon lọc nhân tạo
Như vậy, trong ba phân loại của ĐDSH, đa dạng di truyền được xem là quan trọng nhất vì từ đó nảy sinh ra sự phong phú về cấu tạo di truyền giữa các cá thể bên trong một loài hay giữa các loài với nhau để rồi có thể tạo ra một cá thể mới làm tăng thêm sự phong phú cho ĐDSH Ngoài ra, đa dạng di truyền còn có thể tạo ra những biến dị di truyền xảy ra bên trong hoặc bên ngoài các quần thể Trong khi đó đa dạng loài là sự phong phú về các loài được tìm thấy ở một vùng lãnh thể xác định đã qua điều tra, kiểm kê và theo dõi.
Khu bảo tồn thiên nhiên
1.2.1 Khái niệm khu bảo tồn thiên nhiên
Theo quyết định của Thủ Tướng chính phủ số 08/2001/QĐ – TTG ngày 11/01/2001 thì khu BTTN được định nghĩa như sau:
Khu BTTN là vùng đất tự nhiên được thành lập nhằm đảm bảo diễn thế tự nhiên và được chia thành hai loại:
- Thứ nhất: Khu dự trữ thiên nhiên là vùng đất tự nhiên, có dự trữ tài nguyên thiên nhiên và tính ĐDSH cao, được thành lập, quản lý, bảo vệ nhằm đảm bảo diễn thế tự nhiên, phục vụ cho công tác bảo tồn, nghiên cứu khoa học và là vùng đất thỏa mãn các điều kiện sau:
+ Có HST tiêu biểu, còn giữ được các đặc trưng cơ bản tự nhiên, ít bị tác động có hại của con người, có hệ động thực vật đa dạng
+ Có đặc tính địa sinh học, địa chất học và sinh thái học quan trọng hay các đặc tính có giá trị khoa học, giáo dục, cảnh quan và du lịch
+ Có các loại động, thực vật đặc hữu đang sinh sống hoặc các loài đang có nguy cơ bị tiêu diệt
+ Phải đủ rộng đảm bảo sự nguyên vẹn của HST, tỉ lệ diện tích HST tự nhiên cần bảo tồn đạt từ 70% trở lên
+ Đảm bảo tránh được sự tác động trược tiếp có hại của con người
- Thứ hai: KBT loài hoặc sinh cảnh là vùng đất tự nhiên được quản lý, bảo vệ nhằm đảm bảo sinh cảnh (vùng sống) cho một hoặc nhiều loài động, thực vật đặc hữu hoặc loài qúy hiếm và là vùng đất thỏa mãn các điều kiện sau:
+ Đóng vai trò quan trọng trong việc BTTN, duy trì cuộc sống và phát triển của các loài, là vùng sinh sản, nơi kiếm ăn, vùng hoạt động hoặc nơi nghỉ, ẩn náu của động vật
+ Có các loài thực vật quý hiếm, hay là nơi cư trú hoặc di trú của các loài động vật hoang dã quý hiếm
+ Có khả năng bảo tồn những sinh cảnh và các loài dựa vào sự bảo vệ của con người, khi cần thiết thì thông qua sự tác động của con người vào sinh cảnh
+ Diện tích của khu vực này tùy thuộc vào nhu cầu về sinh cảnh của các loài cần bảo vệ
1.2.2 Mục đích thành lập của khu bảo tồn
- Bảo vệ các vùng hoang dã
- Bảo vệ sự đa dạng loài và gen
- Duy trì các lợi ích về môi trường từ thiên nhiên
- Bảo vệ các cảnh quan đặc biệt về thiên nhiên và văn hoá
- Sử dụng cho du lịch và giải trí
- Sử dụng hợp lí các tài nguyên từ các HST tự nhiên
- Duy trì các biểu trưng văn hoá và truyền thống
Các nhân tố ảnh hưởng tới đa dạng sinh học
Vị trí địa lý của một đối tượng nào đó là sự phân bố đối tượng đó trên một vùng lãnh thổ nhất định Nó quy định những đặc điểm tự nhiên của đối tượng đó, ví dụ như một KBT ở khu vực ôn đới nó sẽ có những đặc điểm về khí hậu về thổ nhưỡng về thủy văn khác với một KBT thuộc khu vực nhiệt đới hay xích đạo, dẫn tới mức độ ĐDSH của mỗi KBT khác nhau Chính vì thế, vị trí địa lý ảnh hưởng tới ĐDSH thông qua các yếu tố tự nhiên như: khí hậu, thỗ nhưỡng, thủy văn…Bên cạnh đó vị trí địa lý nó còn tạo nên mối giao lưu của các luồng sinh vật giữa các vùng lãnh thổ khác nhau
1.3.2 Địa chất Địa chất ảnh hưởng tới ĐDSH của một vùng lãnh thổ nào đó chủ yếu thông quá các nhân tố như đất đá, các thành phần cấu tạo, cấu trúc đất đá và các hoạt động kiến tạo xảy ra tại nơi đó Đá và thành phần cấu tạo nên các loại đá là thành phần chính tạo nên thổ nhưỡng cùng với đó là sự ổn định về địa chất sẽ là điều kiện thuận lợi cho giới sinh vật tồn tại và phát triển liên tục Ngược lại, bất kỳ một vận động kiến tạo nào xảy ra cũng ảnh hưởng tới không nhỏ tới sinh vật ở lãnh thổ đó Vận động đó có thể làm cho giới sinh vật ở đó phong phú thêm (ví dụ vận động tiếp xúc như một hòn đảo được nối với đất liền) hay vận động đó làm suy giảm, làm tuyệt chúng một số loại sinh vật (ví dụ vận động tách giãn như vận động làm tác một bán đảo ra khỏi lục địa)
1.3.3 Địa hình - địa mạo Địa hình là hình dạng của bề mặt Trái Đất nói chung hay của một khu vực nào đó nói riêng Cùng với đó là các quá trình địa mạo diễn ra trên bề mặt địa hình ấy như quá trình bóc mòn, rửa trôi, quá trình bồi tụ…Chính những quá trình này làm cho bề mặt địa hình luôn biến đổi Địa hình địa mạo ảnh hưởng tới ĐDSH thông qua các yếu tố địa hình như: Độ cao của địa hình ảnh hưởng tới sự phân đai nó ảnh hưởng tới cấu trúc tầng tán của rừng, và sự phân bố sinh vật từ đó sẽ ảnh hưởng tới ĐDSH của rừng
Thời tiết là hiện tượng khí tượng hay là một quá trình quá trình vật lý xảy ra trong khí quyển trong một thời gian nhất định và được biểu hiện qua các yếu tố: nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, khí áp,…
Khí hậu là giá trị trung bình nhiều năm của thời tiết hoặc khí hậu là một quy luật của thời tiết Ở mỗi khu vực khác nhau trên Trái Đất thì khí hậu có những đặc điểm khác nhau điều này được thể hiện qua các yếu tố của khí hậu như sự khác nhau về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, khí áp…Chính khí hậu là yếu tố quan trọng quy đinh sự có mặt, sự sinh trưởng và phát triển của các loại sinh vật từ đó ảnh hưởng trực tiếp tới sự ĐDSH Ví dụ như ở khu vực khí hậu xích đạo hay khí hậu nhiệt đới thì ở đây có mức độ ĐDSH cao hơn so với các khu vực khí hậu khác như hay khí hậu ôn đới hay cự đới
Các yếu tố của thủy văn bao gồm: Hệ thống sông ngòi, kênh rạch, mạng lưới ao, hồ, đầm và một phần không thể thiếu là nước ngầm Thủy văn ảnh hưởng tới ĐDSH thông qua nguồn nước và sự cung cấp nước Chính vì thế nếu mạng lưới thủy văn càng phát triển phong phú nguồn cũng cấp nước được đảm bảo sẽ tạo điều kiện cho các loại sinh vật phát triển mạnh
Lớp vỏ thổ nhưỡng hay còn gọi là quyển thổ nhưỡng là một địa quyển, một thành phần cấu tạo của vỏ Địa lý Đây là lớp vật chất mềm xốp nằm trên cùng của thạch quyển, tiếp xúc với thạch quyển Thổ nhưỡng khác với các loại vật chất khác như đá là do nó có độ phì Có nhiều loại đất khác nhau với những tính chất lý hóa không giống nhau nó quy định phát triển trên nó các kiểu thảm thực vật khác nhau Ví dụ: Đất feralit có kiểu rừng nhiệt đới hay rừng cận nhiệt đới; Đất podzon có rừng Taiga hay đất đen đới thảo nguyên thì thực vật chủ yếu là thực bì chụi hạn và các cây hòa thảo sống lâu năm
1.3.7 Lịch sử phát triển sinh vật
Các loài sinh vật của bất kỳ một vùng sinh cảnh nào cũng có mối quan hệ với các loài sinh vật của vùng sinh cảnh xung quanh chúng của cùng một vùng địa lý sinh vật Sự phong phú về thành phần loài cùng với khu vực phân bố của chúng chủ yếu chịu ảnh hưởng của lịch sử phát sinh và phát triển sinh vật và khu hệ sinh vật đó Đồng thời cùng với quá trình di cư đã góp phần làm tăng thêm sự phong phú đa dạng của vùng sinh cảnh đó, chúng được thể hiện bên cạnh các loài sinh vật bản địa, các loại sinh vật đặc hữu thì còn có cả những sinh vật ngoại lai di cư đến Chính điều này đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến ĐDSH
Con người trong quá trình tồn tại và phát triển của mình đã có những tác động tới sự ĐDSH thể hiện ở chỗ Một mặt, là góp phần làm tăng thêm sự ĐDSH bằng các hoạt động như trồng và bảo vệ rừng, bảo vệ các loại động thực vật, các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức cho mọi người về vai trò của rừng bảo vệ rừng là bảo vệ môi trường sống cho các loài sinh vật và quan trọng hơn là bảo vệ cho chính con người…Mặt khác, con người lại cũng là một trong những nguyên nhân làm suy giảm ĐDSH như các hoạt động chặt phá rừng bừa bãi, săn bắn động vật quý hiếm, các hoạt động sản xuất công nghiệp như xây dựng các nhà máy thủy điện, các khu vực khai thác khoáng sản…Chính các hoạt động đã trực tiếp làm suy giảm ĐDSH.
ĐA DẠNG SINH HỌC KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN XUÂN LIÊN HUYỆN THƯỜNG XUÂN – THANH HÓA
Khái quát về khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên huyện Thường Xuân -
2.1.1 Giới thiệu chung về khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên
Khu BTTN Xuân Liên thuộc địa bàn hành chính của huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá Đầu nguồn của 3 con sông lớn: Sông Chu, sông Đạt và Sông Khao, cách thành phố Thanh Hoá 60km về phía Tây Nam Với vị trí địa lý tiếp giáp với khu BTTN Pù Hoạt (Nghệ An) và khu BTTN Nậm Xam của nước CHDCND Lào đã tạo ra một tam giác khu hệ động thực vật phong phú và đa dạng
Với dự án đầu tư xây dựng khu BTTN Xuân Liên được Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thẩm định tại văn bản số 4511/BNN-KH ngày 9/12/1999 và Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Thanh Hóa phê duyệt tại quyết định số 3029/QĐ ngày 17/12/1999 về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng khu BTTN Xuân Liên và quyết định số 1476/QĐ – UB ngày 15/6/2000 về việc xin thành lập khu BTTN Xuân Liên với tổng diện tích tự nhiên là 27.236,3 ha trong đó có 20.699,6 ha là rừng tự nhiên chiếm 76% diện tích quy hoạch
Hiện nay theo Quyết định số 3112/QĐ – UBND ngày 06-9-2010 thì quy mô và diện tích của KBT có sự phân chia như sau:
Tổng diện tích KBT 27.123,20 ha trong đó chia ra 3 phân khu: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt với diện tích là 10.846,10 ha; Phân khu phục hồi sinh thái: 12.362,90 ha và phân khu hành chính dịch vụ: 3.094,60 ha
Vùng đệm có diện tích rất lớn với 36.420,59 ha thuộc địa bàn 05 xã Xuân Cẩm, Vạn Xuân, Lương Sơn, Yên Nhân và Bát Mọt
Bảng 2.1: Quy mô và cơ cấu diện tích đất của khu BTTN Xuân Liên
Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 10.846,10 ha Phân khu phục hồi sinh thái 12.362,90 ha Phân khu hành chính dịch vụ 3.094,60 ha
2 Vùng đệm (thuộc 05 xã Xuân Cẩm, Vạn
Xuân, Lương Sơn, Yên Nhân và Bát Mọt) 36.420,59 ha
(Nguồn: theo Quyết định số 3112/QĐ – UBND ngày 06-9-2010) 2.1.2 Đa dạng sinh học Được xem là một trong 5 trung tâm ĐDSH lớn nhất của Việt Nam với hành lang liên kết sinh thái rộng lớn Với đặc thù ĐDSH, cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn, khu BTTN Xuân Liên so với các KBT và VQG khác trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá có mức độ ĐDSH cao thể hiện: a Hệ thực vật
Sự đa dạng địa hình đã tạo nên sự đa dạng về thảm thực vật với các kiểu rừng chính gồm:
Rừng kín thường xanh á nhiệt đới núi thấp Đặc biệt, khu BTTN Xuân Liên là nơi còn giữ được diện tích lớn rừng tự nhiên thường xanh, có sự phân bố của 952 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 517 chi, 163 họ thuộc 6 ngành, trong đó 41 loài thực vật có tên trong sách đỏ Việt Nam và Thế Giới, đặc biệt có 4 loài đặc hữu hẹp của Việt Nam là Vù hương, Chông, Cù đèn bon, Mã rạng Balansa, có nhiều loài điển hình có phân bố quần thể lớn trên thực địa, điển hình: Pơ mu, Sa mu, Bác xanh, Chò chỉ, Sến mật, Kim Tuyến Tơ, Lan lá gấm, Hài tam đảo được đánh giá là đa dạng về thực vật cả về loài, chi, họ thực vật Dưới tán rừng ẩm mát và trên sườn, đỉnh núi đá cao của KBT có nhiều loài cây thuốc quý, cây cảnh đẹp… Bởi vậy, nơi đây không chỉ là nơi góp phần cho học tập, nghiên cứu về vai trò, công dụng, giá trị của các loài thực vật mà bản thân nó còn được xem như kho dự trữ gỗ, bảo tồn các nguồn gen quý hiếm cho đất nước mai sau
Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới: Đặc trưng bởi các loài thuộc họ Đậu
(Leguminoisae), Thầu dầu (Euphorbiaceae)…(Kết quả điều tra của BirdLife 1999)
Bên cạnh đó hệ thực vật có một số loài tiêu biểu ưu thế, tạo nên các ưu hợp có nhiều nét khác biệt với hệ thực vật của các KBT, VQG khác Pơ mu và Sa mu chính là
2 loài hạt trần nổi bật nhất của HST "Rừng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi trung bình cây lá kim xen lẫn cây lá rộng" của khu BTTN Xuân Liên b Hệ động vật:
Hệ động vật của khu BTTN Xuân Liên qua điều tra có 388 loài động vật thuộc 91 họ, 24 bộ, thuộc các lớp thú, chim, bò sát và ếch nhái, trong đó có tới 43 loài động vật quý hiếm có tên trong sách Đỏ Việt Nam và Nghị định 32 trong khu vực có một số loài đặc hữu hẹp, chỉ có ở vùng Đông Bắc: Vượn đen má trắng ( 41 đàn với 129 cá thể được đánh giá là quần thể lớn nhất Việt Nam hiện nay), các loài Mang, Voọc Xám, Khỉ vàng, Hươu xạ, các loài Gấu c Hệ sinh thái:
Khu BTTN Xuân Liên có các HST chính là: HST rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới núi trung bình hỗn giao cây lá rộng với cây lá kim; HST rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới núi thấp cây lá rộng là chủ yếu; HST rừng thứ sinh (kiểu rừng tre nứa, kiểu rừng phục hồi sau nương rẫy, trảng cỏ hoặc cây bụi) và HST ao hồ
Ngoài các giá trị chính của KBT như rừng, ĐDSH, thì KBT còn có các giá trị khác như: giá trị về văn hóa, danh thắng và di tích lịch sử Đây là những thế mạnh, tiềm năng riêng của KBT trong việc phát triển chương trình du lịch sinh thái bởi trong KBT có cụm di tích lịch sử kết hợp giữa tín ngưỡng (đền thờ Bà Chúa Thượng Ngàn) và di tích lịch sử chống thực dân Pháp (đền thờ Cầm Bá Thước) Công trình nhân tạo hồ thủy lợi – thủy điện Cửa Đạt với diện tích mặt hồ rộng tới 33 km 2 Đồng thời, trong KBT còn có các cảnh vật do thiên nhiên ban tặng như các thác nước, hang động (thác Tiên – hang Dơi thuộc xã Bát Mọt) Đặc biệt là những nét văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc ít người sinh sống tại đây như điệu múa Khua Luống, điệu nhảy Sạp…của người dân tộc Thái
2.1.4 Chức năng và nhiêm vụ chính của khu BTTN Xuân Liên
- Bảo tồn toàn vẹn những giá trị đa dạng sinh học và các nguồn gen quý hiếm
- Xây dựng, phát triển khu BTTN và vùng đệm nhằm mang lại lợi ích cao nhất cho công tác bảo tồn và đời sống người dân vùng đệm
- Khoanh nuôi, tái sinh, phục hồi, làm giàu những diện tích rừng đã bị suy giảm
- Duy trì và phát triển tính năng phòng hộ đầu nguồn sông Chu, sông Khao, sông Đặt
- Đẩy mạnh các chương trình nghiên cứu, theo dõi đánh giá hiện trạng tài nguyên động thực vật rừng hiện có trong KBT
- Nghiên cứu xây dựng các chương trình dự án hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nhằm chuyển giao các mô hình cây, con mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân vùng đệm nhằm đạt được mục tiêu bảo vệ rừng bền vững.
Các nhân tố ảnh hưởng tới đa dạng sinh học của khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, huyện Thường Xuân – Thanh Hóa
Khu BTTN Xuân Liên thuộc địa bàn hành chính các xã Bát Mọt, Yên Nhân, Xuân Khao, Xuân Chinh, Xuân Mỹ, Xuân Liên, Vạn Xuân thuộc huyện Thường Xuân cách Thành phố Thanh Hoá 60 km về hướng Tây Nam
- Về toạ độ địa lý: 19 0 51’52’’B - 19 0 59’00’’B
- Về vị trí tiếp giáp và giới hạn:
+ Phía Bắc được giới hạn bởi Sông Khao, Sông Keo
+ Phía Nam tỉnh Nghệ An giới hạn bởi ngọn Pù ta leo
+ Phía Tây tỉnh Nghệ An và phần còn lại của xã Bát Mọt
+ Phía Đông được giới hạn bởi ngọn Pù Kha và đập thuỷ lợi - thuỷ điện Cửa Đặt
Chính vị trí địa lý này quy định những đặc điểm về điều kiện và tài nguyên thiên nhiên như khí hậu, đất đai, tài nguyên sinh vật tạo nên những đặc điểm khác về ĐDSH của khu bảo tồn với các khu vực khác
Bên cạnh đó xét vị trí tiếp giáp với các KBT khác thì KBT còn tiếp giáp khu BTTN Pù Hoạt, tỉnh Nghệ An với chiều dài trên 30 km (Quy mô 62.000 ha) và khu BTTN Nậm Xam nước CHDCND Lào (Quy mô 74.000 ha), chính vị trí này đã tạo ra một tam giác khu hệ động thực vật phong phú và đa dạng
2.2.2 Các nhân tố tự nhiên a Địa hình
Nằm trong khu vực có lịch sử kiến tạo và tạo sơn phức tạp nên địa hình KBT bị chia cắt mạnh thể hiện: Núi thấp, dốc ngắn, chia cắt sâu…trong một phạm vi hẹp có đại diện của núi đá xen núi đất và thung lũng sâu, hẹp Khu bảo tồn nằm toàn bộ trong khu vực vùng núi thấp trung du trong đó tiêu biểu là dãy núi trung lưu sông Chu chạy từ Sầm Nưa (Lào) qua huyện Thường Xuân về đến huyện Như Xuân, có nhiều đỉnh núi cao nổi trội trong vùng như: Pù Ta Leo ở hữu ngạn sông Chu cao 1400m, Pù Gió cao 1563m, Pù Hòn Hàn cao 1208m, và đỉnh cao 1605m nằm về phía nam Bản Vịn
Vì KBT nằm chủ yếu trên vùng núi thấp độ cao tuyệt đối của địa hình không hơn 1650m nên về sự phân đai chủ yếu với 2 đai cơ bản: Đai thấp từ 0 – 800m: Ở đai này có các HST tiêu biểu như: HST rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới núi thấp cây lá rộng là chủ yếu; HST rừng thứ sinh (kiểu rừng tre nứa, kiểu rừng phục hồi sau nương rẫy, trảng cỏ hoặc cây bụi) và HST ao hồ Đai cao từ 800m – 1600m đai này đặc trưng bởi HST rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới núi trung bình hỗn giao cây lá rộng với cây lá kim
Như vậy chính vì địa hình bị chia cắt mạnh đồng thời có nhiều đỉnh núi cao tạo nên tính đa dạng trong sự phân bố sinh vật ở đây b Địa chất
Gồm có các nhóm đá mẹ, đó là
- Nhóm đá mắc ma axít và trung tính: Có Granít, Fooc phia rít, Riolít phân bố ở các xã Bát Mọt, Yên Nhân, Xuân Cao
- Nhóm đá trầm tích: Có đá vôi, sa thạch, phiến thạch sét, sa phiến thạch, đá cát phân bố Xuân Cao, Vạn Xuân, Yên Nhân, Bát Mọt, Lương Sơn, Xuân Cẩm c Đất đai
Gồm có 3 nhóm đất chính
- Nhóm đất Feralit đỏ vàng: Đất Feralit đỏ vàng có mùn phát triển trên núi trung bình (chiếm diện tích 3.638 ha) Là loại đất được hình thành trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, địa hình rất dốc nên không có nước đọng, không kết von và có nhiều mùn (tỷ lệ mùn tầng mặt trên 8 – 10%) tầng đất mỏng, đất màu vàng đỏ phát triển trên đá Granit, Riolit…còn rừng che phủ Đất có tỷ lệ đá lẫn cao, thành phần cơ giới thô và nhẹ Phân bố từ độ cao 800m đến 1.600m tập trung trên dãy núi Bù hòn Hàn, Ban Mua và dãy núi ranh giới giữa Thanh Hoá - Nghệ An và Thanh Hoá – Lào
- Nhóm đất Feralit đỏ vàng phát triển ở vùng đồi núi thấp (chiếm diện tích 19.837 ha) là loại đất có quá trình Feralit điển hình, màu sắc phụ thuộc vào từng loại đá mẹ Phân bố từ độ cao dưới 800m Trong đó điển hình là : Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên phiến thạch sét Thành phần cơ giới nặng, tầng đất dày, đất tốt, không có đá lẫn; Đất feralit vàng nhạt phát triển trên đá Sa thạch Thành phần cơ giới thô nhẹ, tầng đất mỏng đến trung bình, có đá lẫn; Đất feralit vàng đỏ phát triển trên đá Macma acid kết tinh chua Thành phần cơ giới thô to, kết cấu rời rạc, tầng đất mỏng, nhiều đá nổi, đá lẫn trong tầng đất
- Nhóm đất dốc tụ và đất phù sa sông suối trong các thung lùng: là loại đất phì nhiêu, tầng dày, màu nâu, thành phần cơ giới chủ yếu là cát pha đến thịt nhẹ, giàu dinh dưỡng, hàng năm vẫn được bồi thêm một lớp phù sa mới màu mỡ
Bảng 2.2: Hiện trạng đất đai khu quy hoạch 5 xã vùng đệm của khu BTTN Xuân Liên
Tổng diện tích đất tự nhiên 23.475,03 6.596,10 8.338,10 1.261,45 6.279,70 999,68
- Rừng phục hồi sinh thái 5.782,11 863,54 1.793,58 615,14 2.269,92 239,93
II Đất không có rừng 2.860,31 674,18 1.186,45 233,88 301,40 464,40
- Đất trống cây rải rác 2.738,11 648,98 1.174,65 202,58 273,60 438,30
(Nguồn: Kết quả rà soát 3 loại rừng tỉnh Thanh Hoá giai đoạn 2006-2015 theo Quyết định số 2755/QĐ-UBND ngày 12/9/2007 của UBND tỉnh Thanh Hoá) d Khí hậu
Về địa hình địa mạo khu vực có liên quan nhiều đến địa hình địa mạo Tây Bắc nhưng khí hậu lại mang nhiều nét của vùng khí hậu miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hóa
- Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí trung bình năm 23 - 24 0 C, nhiệt độ trung bình tháng 1 là 15,5 - 16,5 0 C, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối xuống đến 2 0 C Nhiệt độ trung bình tháng 7 là 27 - 28 0 C, nhiệt độ cao nhất tuyệt đối chưa quá 40 0 C
- Độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình năm 85 - 86%, tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 04 khoảng 91%, tháng thấp nhất là tháng 11 và 12 từ 80-83% Mùa đông có sương muối từ 5 - 7 ngày
- Lượng mưa: Lượng mưa trong năm là 2000 - 2200 mm, phân bố mưa trong năm không đều, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm từ 60 -80% tổng lượng mưa cả năm Các tháng có lượng mưa lớn nhất từ tháng 7 đến tháng 9 thường gây lũ lụt cục bộ Các tháng có lượng mưa thấp nhất từ tháng 12 cho tới tháng 2 năm sau, thường gây hạn hán
- Lượng bốc hơi: Tổng lượng bốc hơi 761- 895mm/năm, tháng 7 có lượng bốc hơi lớn nhất đạt 131mm; tháng 2 và 3 có lượng bốc hơi thấp nhất 40 - 43mm
- Nắng: Do sự ảnh hưởng của địa hình nên số ngày nắng trong khu vực có sự thay đổi theo vùng Số ngày nắng ở vùng thấp từ 235 - 245 ngày, vùng cao từ 215 - 216 ngày
Đa dạng sinh học của khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên
Được xem là trung tâm đa dạng sinh học có tính nguyên sinh, ổn định cao; do vị trí nằm liền kề khu BTTN Phù Hoạt - Nghệ An (có đường ranh giới chung trên 40 km,diện tích 62.000 ha) và cách khu BTTB Nậm Sam - Lào trên 20km (diện tích 74.000 ha) đã tạo cho Xuân Liên trở thành một trong 5 trung tâm ĐDSH lớn nhất của Việt Nam với hành lang liên kết sinh thái rộng lớn
2.3.1 Đa dạng về thành phần loài a Đa dạng hệ thực vật
Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh gần giống với vùng đồng bằng sông Hồng Nhiệt độ trung bình năm không cao chỉ từ 23 - 24 0 C tuy nhiên biên độ giao động nhiệt trong năm lớn Cùng với đó là lượng mưa tương đối lớn từ 2000 - 2200 mm lại phân bố không đều trong năm Bên cạnh đó kết hợp với địa hình bị cắt sẽ đồi núi thấp và trung bình là chủ yếu nhưng nổi lên một số đinh núi cao như Bù Gió…Tất cả đã tạo điều kiện cho thảm thực vật rừng ở đây phát triển quanh năm tạo nên sự đa dạng trong thành phần loài ở đây Hệ thực vật đa dạng và phong phú thể hiện ở phụ biểu
Bảng 2.4: Thành phần loài thực vật ở khu BTTN Xuân Liên
( Nguồn: Quy hoạch bảo tồn và phát triển rừng đặc dụng khu BTTN Xuân Liên đến năm 2020)
Qua bảng trên ta thấy thành phần loài thực vật của khu BTTN Xuân Liên khá đa dạng, bước đầu đã xác định được 952 loài, 517 chi và 162 họ của 6 ngành thực vật bậc cao có mạch Trong đó các taxon không đều nhau giữa các ngành, phần lớn các taxon tập trung trong ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) với 134 họ (chiếm 82,72%); 479 chi
(chiếm 92,65%); 884 loài (chiếm 92,86%) so với tổng số họ, chi, loài của hệ thực vật, tiếp đến là ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) 18 họ (chiếm 11,11%), 24 chi (chiếm 4,64%) và 45 loài (chiếm 4,73%) Các ngành còn lại (Quyết là thông - Psilophyta, Cỏ tháp bút - Equisetophyta, Thông đất - Lycopodiophyta, Thông - Pinophyta) chiếm tỉ lệ không đáng kể, tổng số họ, chi và loài của các ngành này tương ứng là 6,17%: 2,70% : 2,43% tổng số họ, chi và loài của toàn hệ thực vật Xuân Liên
Sự thống trị gần như tuyệt đối của 2 ngành Ngọc lan và Dương xỉ trong hệ thực vật khu BTTN Xuân Liên mà nó còn thể hiện rất rỏ khi ta so sánh thành phần loài thực vật của Xuân Liên với hai VQG trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.5: Thành phần loài thực vật của Xuân Liên với Bến En, Cúc Phương
Xuân Liên Bến En Cúc Phương
(Nguồn: Kiểm lâm Thanh Hóa – Trang Web: http//www.kth.org.vn)
Từ bảng trên ta thấy, cũng như các VQG khác điểm nổi bật vẫn là sự phân bố không đều giữa các ngành, đặc biệt vẫn là sự thống trị sự thống trị của các ngành Ngọc lan và Dương xỉ trong tổng số các loài, trong đó ngành Ngọc lan ở Xuân Liên với 884 loài Ngọc lan chiếm 9286% là ngành chiếm ưu thế tuyệt đối ở đây, ở Cúc Phương hay Bến En cũng tương tự với tỉ lệ rất cao thứ tự là 92,24% và 91,54%, tiếp đến là Dương xỉ với 45 loài chiếm 4,73% còn các ngành khác như Thông, Thông đất hay Cỏ tháp bút chiếm tỉ lệ không đáng kể, các ngành còn lại chiếm tỉ lệ tương đối thấp
Mức độ đa dạng và phong phú của hệ thực vật ở đây còn được thể hiện rất rõ khi ta so sánh số lượng các loài thực vật ở đây với các KBT và VQG khác trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.6: Số lượng các loài thực vật của Xuân Liên với các KBT và VQG khác của tỉnh Thanh Hóa
STT Tên khu rừng đặc dụng Loài
(Nguồn: Quy hoạch bảo tồn và phát triển rừng đặc dụng khu BTTN Xuân Liên đến năm 2020)
Khi so sánh mức độ phong phú về số lượng loài của khu BTTN Xuân Liên với các các KBT và VQG khác của tỉnh Thanh Hóa thì ta thấy rằng số lượng loài của khu BT T N Xuân Liên (với 952 loài chiếm 15.89% trong tổng số loài thực vật) xếp thứ 4 sau hai VQG Bến En (1.357 loài chiếm 22,65%) Cúc Phương (2.063 loài chiếm 34,47%) và khu BTTN Pù Luông (18,51%)
Nếu xét về sự đa dạng số loài trong các họ của hệ thực vật ở khu BTTN Xuân Liên
Bảng 2.7: Các họ đa dạng nhất của hệ thực vật khu BTTN Xuân Liên
TT Tên khoa học Tên Việt Nam Số loài Tỷ lệ %
(Nguồn: Quy hoạch bảo tồn và phát triển rừng đặc dụng khu BTTN Xuân Liên đến năm 2020)
Từ bảng trên chỉ với với 10 họ đa dạng nhất (từ 21 đến 62 loài) chỉ chiếm 6,10% tổng số họ nhưng số lượng loài tới 313 loài (chiếm tới 32,88%) tổng số loài Trong đó có các họ điển hình là Thầu dầu (Euphorbiaceae) 62 loài; Long não (Lauraceae) 40 loài; Cà phê (Rubiaceae) 40 loài
Về mặt khu hệ: Thực vật ở khu BTTN Xuân Liên có sự giao thoa của các luồng sinh vật từ bên ngoài như:
Khu hệ thực vật bản địa và Nam Trung Hoa tiêu biểu là các loài cây trong họ
Dẻ, Re, Xoan, Trôm, Mộc lan…
Luồng thực vật di cư từ phía Nam mang yếu tố Malaixia – Indonesia là các thực vật trong họ dầu tiêu biểu là cây Sao mặt quỷ ( Hopea mollisima)…
Luồng di cư từ phía Tây Bắc xuống mang yếu tố của vùng ôn đới Vân Nam – Quý Châu và dãy Hymalaya đặc trưng bởi các cây hạt trần như: Pơ mu, Sa mu, Bách xanh…
Luồng di cư từ phía Tây và Tây Nam lại mang yếu tố của vùng khô hạn Ấn Độ
- Miến Điện tiêu biểu là các loại Chò xanh ( Terminalia Meyriocarpa) và một số loài rụng lá như Săng lẻ, Thụng…
Từ những luồng giao thoa đó ta thấy trong 952 loài thì 921 loài đã được xác định (còn 31 loài chưa đủ thông tin) thì trong đó chiếm ưu thế thuộc về yếu tố nhiệt đới chiếm 66,49%, yếu tố đặc hữu đứng thứ 2 chiếm 14,50%, tiếp đến là yếu tố gần đặc hữu chiếm 11,45%; yếu tố ôn đới chiếm 2,10%; yếu tố cây trồng 1,79%; yếu tố chưa xác định 3,26% và cuối cùng là yếu tố toàn cầu 0,42% Xét trong mối quan hệ với các hệ thực vật láng giềng, thì hệ thực vật Xuân Liên có mối quan hệ với yếu tố Đông Dương- Ấn Độ là gần nhất với 11,55%; tiếp theo là Đông Dương-Malezi với 7,56%, với Đông Dương-Nam Trung Quốc là 7,04%, Hymalaya với 5,99% và yếu tố Đông Dương là 2,84% (Áp dụng hệ thống phân loại của Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997)
Bên cạnh đó, từ sự đa dạng về thành phần loài cả các loài bản địa và cả các loài di cư đến đã tạo nên cho thành KBT còn có một số ưu hợp điển hình có nhiều nét khác biệt với khu hệ thực vật của các KBT khác trong khu vực Các ưu hợp tiêu biểu nhất như: Ưu hợp Pơ mu - Sa mu - Phân mã - Kháo - Re hương - Dẻ gai bắc bộ có diện tích 4.289 ha; Ưu hợp Sao hòn gai - Dẻ gai bắc bộ - Sến mật - Vàng rè - Xoan đào với tổng diện tích là 1.400 ha ; Ưu hợp Giổi xanh - Dẻ gai Bắc bộ - Chẹo tía - Ngát ưu hợp này phân bố chủ yếu ở phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phân khu phục hồi sinh thái với tổng diện tích là 1.250 ha Trong đó, Ưu hợp Pơ mu – Sa mu là ưu hợp tiêu biểu và điển hình cho sự đa dạng hệ thực vật rừng nguyên sinh tại khu BTTN Xuân Liên với diện tích trên 2.000 ha Ngoài ra, còn một số ưu thế mới đã xuất hiện như với kiểu rừng thứ sinh với ưu thế Chẹo tía - Ngát - Dẻ gai bắc bộ và ưu thế Nứa - Giang trên núi đất
Hơn nữa, sự đa dạng hệ thực vật ở đây không chỉ là sự đa dạng về số Họ và số loài trong mỗi họ đó mà sự đa dạng đó còn được thể hiện ở sự phân chia các loài theo công dụng của nó
Bảng 2.8: Công dụng một số loài thực vật khu BTTN Xuân Liên
TT Công dụng Số lượng Tỷ lệ %
5 Nhóm cây cho tinh dầu 48 5,04
8 Nhóm cây cho dầu béo 36 3,78
10 Nhóm cây cho nhựa, thuốc nhuộm 7 0,74
(Nguồn: Quy hoạch bảo tồn và phát triển rừng đặc dụng khu BTTN Xuân Liên đến năm
Chúng ta thấy công dụng của các loài thực vật, trong đó cây làm thuốc có số loài cao nhất với 409 loài (chiếm 42,96%) hầu như phân bố ở các họ Thầu dầu
(Euphorbiaceae), họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae), họ Cam (Rutaceae) , cây lấy gỗ với
78 loài (chiếm 8,19%) chủ yếu thuộc các họ Long não (Lauraceae), họ Hoàng đàn (Cupressaceae),họ Ngọc lan (Magnoliaceae), họ Xoan (Meliaceae), ; tiếp đến là cây ăn được với 222 loài (chiếm 23,32%); thấp nhất là nhóm cây cho nhựa, thuốc nhuộm với 7 loài (chiếm 0,74%) b Đa dạng hệ động vật