1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiếng huế trong các bài thơ viết về huế của tố hữu

75 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những từ địa phương trong các bài thơ của Tố Hữu có ngữ âm khác hoàn toàn với từ toàn dân nhưng có nghĩa tương ứng .... Một trong những nhà thơ vận dụng ngôn ngữ địa phương của mình rất

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Trang 2

MU ̣C LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Dự kiến đóng góp của đề tài 5

6 Cấu trúc đề tài 5

NỘI DUNG 6

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6

1.1 Phong cách nghệ thuật của nhà văn và phong cách ngôn ngữ nhà văn 6

1.1.1 Phong cách nghệ thuật của nhà văn 6

1.1.2 Phong cách ngôn ngữ của nhà văn 7

1.2 Thơ Tố Hữu, phong cách nghệ thuật Tố Hữu, phong cách ngôn ngữ thơ Tố Hữu 10

1.2.1 Thơ Tố Hữu 10

1.2.2 Phong cách nghệ thuật của Tố Hữu 13

1.2.3 Phong cách ngôn ngữ thơ Tố Hữu 15

1.3 Phương ngữ 16

1.3.1 Khái niệm phương ngữ 16

1.3.2 Phân vùng phương ngữ của tiếng Việt 18

1.3.3 Những đặc điểm ngữ âm của phương ngữ Trung 18

1.4 Tiếng Huế 19

1.4.1 Tiếng địa phương Huế 19

1.4.2 Chất giọng Huế 25

1.4.2.1 Khái niệm “giọng, giọng điệu” 25

Trang 3

HUẾ CỦA TỐ HỮU 30

2.1 Từ địa phương xứ Huế trong các bài thơ viết về Huế của Tố Hữu 30

2.1.1 Kết quả khảo sát, thống kê 30

2.1.2 Sự thay đổi về mặt ngữ âm của tiếng Huế trong các bài thơ viết về Huế của Tố Hữu 32

2.1.3 Những từ địa phương (trong các bài thơ của Tố Hữu) có ngữ âm khác hoàn toàn với từ toàn dân nhưng có nghĩa tương ứng 35

2.2 Chất giọng Huế trong những bài thơ viết về Huế của Tố Hữu 37

2.2.1 Giọng tâm tình, đằm thắm, nhỏ nhẹ ngọt ngào 38

2.2.2 Giọng cảm thương, vỗ về, an ủi 41

2.2.3 Giọng tâm sự, nhớ thương da diết 43

2.2.4 Giọng quyền uy, thúc giục 45

Chương 3 Ý NGHĨA CỦA TIẾNG HUẾ TRONG CÁC BÀI THƠ VIẾT VỀ HUẾ CỦA TỐ HỮU 49

3.1 Vai trò của tiếng Huế đối với nội dung, hình tượng trong các bài thơ viết về Huế của Tố Hữu 49

3.1.1 Vai trò của từ địa phương Huế đối với nội dung, hình tượng trong các bài thơ viết về Huế của Tố Hữu 49

3.1.2 Vai trò của chất giọng Huế trong những bài thơ viết về Huế của Tố Hữu 52 3.2 Tiếng Huế đối với nhạc tính trong những bài thơ viết về Huế của Tố Hữu 55

3.2.1 Khúc biến tấu của thanh điệu trong những bài thơ viết về Huế của Tố Hữu 56

3.2.2 Sự ngân vang của vần điệu 60

3.2.3 Sự uyển chuyển, thanh thoát của nhịp điệu 64

KẾT LUẬN 67 TÀI LIÊ ̣U THAM KHẢO

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Thơ ca là một trong những món ăn tinh thần không thể thiếu của con người, bởi nó là nơi bày tỏ tâm trạng vui buồn, cả ý chí và lòng quyết tâm của thi sĩ Còn đối với bạn đọc, khi đọc những câu thơ hay, đúng với tâm trạng của mình thì cảm thấy như có một người hiểu và chia sẻ những nỗi niềm sâu kín trong lòng Để hiểu một cách sâu sắc và rung động với thơ chỉ dựa trên việc tìm hiểu hình tượng thôi thì chưa đủ mà phải tìm hiểu cả ngôn ngữ nữa, bởi vì ngôn ngữ là một trong những chất liệu quan trọng và không thể thiếu làm nên tác phẩm Ngôn ngữ trong thơ rất phong phú và nó là một trong những cái để làm nên phong cách của tác giả Ngôn ngữ nói chung trong đó

có ngôn ngữ toàn dân và ngôn ngữ địa phương, khi đi vào thơ thì mỗi cái lại

có giá trị khác nhau Nhưng việc sử dụng ngôn ngữ địa phương vào trong thơ một cách tài tình sẽ làm tăng thêm giá trị của tác phẩm Một trong những nhà thơ vận dụng ngôn ngữ địa phương của mình rất linh hoạt, rất tự nhiên đó chính là Tố Hữu

Sinh ra và lớn lên tại đất Huế, nơi nổi tiếng là một trong những trung tâm văn hóa của đất nước, nhà thơ Tố Hữu như một người con ưu tú của vùng đất

đế đô, trong con người ông đã hội tụ những tinh hoa của xứ cổ kính đó Chính

vì vậy ngôn ngữ, giọng điệu, cảnh vật…trong thơ ông phần lớn đều mang

phong vị ca dao dân ca, những câu hò Nam ai nam bình, Mái nhì mái đẩy…

đậm đặc của xứ Huế

Cũng là người con của đất Huế, nên khi đọc những bài thơ viết về Huế của Tố Hữu, tâm hồn tôi có những cảm xúc khó diễn tả bằng lời và nhận thấy cảm xúc đó gần gũi vô cùng như từ chính trong kí ức hiện ra, để rồi thầm thốt lên rằng: Tố Hữu thật tài tình khi đưa cảnh vật, con người, ngôn ngữ địa

Trang 5

phương vào thơ như chính chân dung của nó ngoài hiện thực, và đó là những

gì người ta thường nói: “rất Huế” Chính vì vậy chúng tôi chọn đề tài: “Tiếng Huế trong các bài thơ viết về Huế của Tố Hữu” để làm khóa luận Bên cạnh

đó việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn sẽ góp một phần kiến thức nhỏ nhoi vào vốn kiến thức rộng lớn về nhà thơ Tố Hữu

2 Lịch sử vấn đề

Tố Hữu là một trong những nhà thơ lớn của dân tộc, thơ ông từ rất lâu được độc giả đón nhận nhiệt tình Không những vậy, thơ ông còn được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Chính vì thế số lượng các công trình nghiên cứu cả lớn và nhỏ về thơ Tố Hữu tương đối nhiều Qua việc tìm hiểu và điểm lại các bài viết về thơ Tố Hữu có thể tạm chia ra như sau

2.1 Các ý kiến về thơ Tố Hữu nói chung

Trước hết, phải kể đến chuyên luận Thơ Tố Hữu của Lê Đình Kỵ (1979),

nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp Trong chuyên luận này,

ông đã đánh giá thơ Tố Hữu cả mặt nội dung lẫn hình thức, ông viết: “Nhà thơ đã triệt để khai thác, sử dụng và phát triển một cách sáng tạo những tinh hoa dân gian cả về mặt nội dung, tư tưởng lẫn hình thức biểu hiện Tiếp thu văn học cổ truyền là để góp phần diễn tả một cách linh hoạt những tư tưởng, tình cảm mới của thời đại, làm tăng tính chất dân tộc của các bài thơ, để cho thơ gần với quần chúng” [6, tr.335]

Tiếp theo, không thể không nói đến công trình nghiên cứu của Nguyễn

Văn Hạnh với tựa đề Thơ Tố Hữu, tiếng nói đồng tình, đồng ý, tiếng nói đồng chí của Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, năm 1985 Trong công trình này ông

nghiên cứu rất cặn kẽ về thơ Tố Hữu qua năm tập thơ đầu Kết hợp với nghiên cứu về nội dung, ông đề cập đến những giá trị lớn về ngôn ngữ thơ Tố Hữu,

ông viết: “Cũng không ai nghĩ một cách lạ lùng rằng trong nền thơ ca hiện đại của ta Tố Hữu đã che lấp tất cả và có thể thay thế được mọi người Một

Trang 6

nghệ sĩ dù là tài giỏi bao nhiêu cũng chỉ phản ánh một số khía cạnh nào đó của đời sống, cũng chỉ có thể làm “kĩ sư tâm hồn” cho con người ở một số phương diện nào đó mà thôi Người đọc với chiều sâu tâm hồn và với sự đông đảo, nhiều mầu vẻ của mình, cần rất nhiều nghệ sĩ, những nghệ sĩ có tài năng khác nhau” [4, tr.248]

2.2 Các ý kiến về ngôn ngữ nghệ thuật thơ Tố Hữu

Trong chuyên luận Thi pháp thơ Tố Hữu, Trần Đình Sử đã khám phá và

lí giải thế giới nghệ thuật thơ Tố Hữu trong tính thống nhất và hệ thống, trong khuynh hướng thơ trữ tình chính trị và chỉ ra những đặc điểm quan trọng của thơ Tố Hữu từ kiểu nhà thơ, cái tôi trữ tình đến hình thức và giọng điệu thơ

Khi bàn về ngôn ngữ thơ Tố Hữu, Trần Đình Sử viết: “Ngôn ngữ thơ Tố Hữu thuộc ngôn ngữ thơ trữ tình điệu nói” [10, tr.273] và ông lí giải: “Chính ngôn ngữ này, Tố Hữu đã tạo ra nhiều giọng nói phong phú cho thơ trữ tình cách mạng” [10, tr.291]

Trong cuốn Phê bình và bình luận văn học, Tố Hữu - tác giả trong nhà trường (2006), Nhà xuất bản văn học, ở bài Con đường thơ của Tố Hữu,

Nguyễn Đăng Mạnh đã tìm hiểu tiến trình thơ Tố Hữu Qua đó Nguyễn Đăng

Mạnh cũng nói nhiều về ngôn ngữ thơ Tố Hữu Ông nhận xét: “Thơ Tố Hữu trong phần tiêu biểu nhất vẫn là thơ tâm sự, thơ tâm tình với giọng thầm kín, ngọt ngào Người ta đã giải thích giọng thơ này bằng nhiều lí do, trong đó có

lí do ảnh hưởng của quê hương ông Đúng là có cái giọng Huế trong thơ Tố Hữu, cái giọng “hờn dịu ngọt” của người Huế, cái giọng hò man mác thiết tha trên sông Hương và cái giọng thầm thì của chính con sông rất đỗi thơ mộng và trữ tình” [11, tr.12]

Như vậy, thơ Tố Hữu được các nhà nghiên cứu khai thác nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu với tư cách là một

công trình độc lập về tiếng Huế trong các bài thơ viết về Huế của Tố Hữu

Trang 7

Chúng tôi cho rằng đây là một đề tài thú vị, chính vì vậy chúng tôi mạnh dạn

đi vào nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là những biểu hiện của tiếng Huế

trong các bài thơ viết về Huế của Tố Hữu trong tập: Tố Hữu toàn tập (2009),

tập 1, do giáo sư Hà Minh Đức sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu, của Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội

Để thực hiện đề tài này chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê các bài

thơ viết về Huế trong bảy tập thơ của Tố Hữu: Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa, Một tiếng đờn, Ta với ta Qua kết quả khảo sát, chúng tôi

thống kê được 25 bài thơ viết về Huế của Tố Hữu

Trong tập thơ “Từ ấy” có 11 bài: Hai đứa bé, Tương tri, Đi đi em, Chú

bé hát rong, Tiếng hát sông Hương, Nhớ người, Quanh quẩn, Khi con tu hú, Nhớ đồng, Tranh đấu, Huế tháng Tám

Trong tập “Việt Bắc” có 3 bài: Tình khoai sắn, Lạnh lạt, Lượm

Tập “Gió lộng” có 2 bài: Quê mẹ, Hoa tím

Tập “Ra tận” có 3 bài: Có thể nào yên?, Bài ca lái xe đêm, Chuyện em Tập thơ “Máu và hoa” có 2 bài: Nước non ngàn dặm, Bài ca quê hương Tập thơ “Một tiếng đờn” có 3 bài: Vườn nhà, Thật giả, Huế lại huy

Tập “Ta với ta” chỉ có một bài: Về quê

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp phân loại, thống kê

- Phương pháp phân tích, chứng minh

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

- Phương pháp tổng hợp, khái quát hóa

Trang 8

- Các phương pháp khác của ngôn ngữ học

5 Dự kiến đóng góp của đề tài

Với đề tài “Tiếng Huế trong các bài thơ viết về Huế của Tố Hữu” chúng

tôi hi vọng góp phần cung cấp một khía cạnh nhỏ kiến thức trong việc sử dụng ngôn ngữ của Tố Hữu Ngoài ra, trong một chừng mực nhất định, người viết xem luận văn của mình như một bước tập dượt làm khoa học

6 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được triển khai như sau:

Chương 1: Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài

Chương 2: Khảo sát tiếng Huế trong các bài thơ viết về Huế của Tố Hữu Chương 3: Ý nghĩa của tiếng Huế trong các bài thơ viết về Huế của Tố Hữu

Trang 9

NỘI DUNG Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Phong cách nghệ thuật của nhà văn và phong cách ngôn ngữ nhà văn 1.1.1 Phong cách nghệ thuật của nhà văn

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mĩ, chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương thức biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu hay trong văn học dân tộc.” [5, tr.213]

Phong cách nhà văn là toàn bộ những nét riêng biệt của nhà văn đó từ đối tượng phản ánh, đề tài quen thuộc, khả năng phát hiện vấn đề và phương thức thể hiện Những đặc điểm riêng biệt, độc đáo được thể hiện và lặp đi lặp lại nhiều lần trong các sáng tác của nhà văn, đặc biệt là những tác phẩm xuất sắc, giúp người đọc nhận được nhà văn qua tác phẩm Cảm nhận độc đáo, riêng biệt của nhà văn về thế giới đòi hỏi một hệ thống phương tiện phù hợp

để thể hiện, truyền đạt nó Ngôn ngữ nghệ thuật nói chung và ngôn ngữ nhà văn nói riêng phải vừa giống mọi người, vừa khác mọi người Giống với mọi người nghĩa là nhà văn đi thuận với ngôn ngữ truyền thống khiến mọi người

đều dễ hiểu Tuy nhiên phải có cái khác mọi người thì mới gọi là văn Điểm

chung về ngôn ngữ với mọi người là cái thuộc về điều kiện nền tảng, còn những điều kiện khác với mọi người chính là dấu hiệu để xác định phong cách tác giả Phong cách nhà văn là một chỉnh thể nghệ thuật riêng, vừa phong phú

đa dạng, vừa ổn định, vừa có khả năng vận động phát triển Nhà văn A.T

Sêkhốp rất có lí khi cho rằng: “Nếu tác giả nào không có lối nói riêng của mình thì người đó không bao giờ là nhà văn cả” Cái mà Sêkhốp gọi là “lối nói riêng” chính là phong cách tác giả, phong cách nhà văn Mỗi nhà văn

Trang 10

thường có những sở trường ngôn ngữ riêng của mình Chính sở trường ngôn ngữ ấy sẽ dẫn đến sự sáng tạo ngôn ngữ và cũng chính sự sáng tạo ngôn ngữ này sẽ tạo nên phong cách ngôn ngữ của một nhà văn

1.1.2 Phong cách ngôn ngữ của nhà văn

M.B Khrapchenco cũng có quan niệm về ngôn ngữ trong văn học: “Với

tư cách là một hiện tượng phong cách, ngôn ngữ nghệ thuật thực hiện một chức năng phức tạp Nó tạo ra một hệ thống giọng điệu của tác phẩm văn học, không một thành tố nào của phong cách tồn tại bên ngoài hệ thống đó”

[12, tr.191] Nhà nghiên cứu đã khẳng định ngôn từ nghệ thuật là thành tố tạo nên giọng điệu của tác phẩm văn chương Ngôn ngữ nghệ thuật là dấu hiệu quan trọng để nhận biết phong cách của nhà văn Ngoài ra, Khrapchenco còn

cho rằng: “Bản thân đặc trưng của cách nhìn nhận hình tượng có tính chất cá nhân đối với thế giới, cũng như vẻ đặc thù của phong cách chủ đạo, đã quyết định việc lựa chọn những phương tiện ngôn ngữ, cho phép anh ta biểu hiện rõ những dự đồ sáng tạo của mình” [12, tr.196]

Khi nghiên cứu về phong cách ngôn ngữ của nhà văn, các nhà ngôn ngữ học cũng có những quan niệm tương đối thống nhất Theo nhóm tác giả Võ

Bình – Lê Anh Hiền – Cù Đình Tú – Nguyễn Thái Hòa (1982): “Ngôn ngữ là chung nhưng vận dụng ngôn ngữ là cái riêng của từng người Mỗi người do

sở trường, tập quán, thị hiếu, tâm lí, cá tính hoặc do công phu luyện tập mà hình thành những cách diễn đạt khác nhau Người này thích những từ mà người khác không thích, nhà văn nọ có những cách đặt câu mà người khác không có” [1, tr.16] Ngôn ngữ là tài sản chung của mọi người, là sản phẩm

của hoạt động giao tiếp, nhưng sử dụng ngôn ngữ như thế nào là năng lực và

trí tuệ riêng của mỗi con người Đinh Trọng Lạc đã từng nói: “Cá thể hóa trong ngôn ngữ nghệ thuật chính là cái độc đáo, đặc sắc không lặp lại, cái riêng của tất cả yếu tố trong sáng tác: lối nghĩ, lối cảm, lối thể hiện, những

Trang 11

đặc trưng riêng trong cách sử dụng từ ngữ, ngữ pháp, kết cấu đoạn mạch, thủ pháp tu từ” [7, tr.153] Ngôn ngữ nghệ thuật được quan niệm là cái độc đáo,

cái riêng của mỗi người viết không lặp lại

Tác giả Phan Ngọc trong công trình “Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều” cho hiện tượng phong cách tác giả là một hiện tượng hiếm vì: “Một tác giả chỉ có được một phong cách riêng khi đọc một vài câu người

ta đoán biết tác giả là ai, khi cái phong cách mà tác giả xây dựng lên góp phần vào truyền thống văn học, trở thành mẫu mực cho nhiều người noi theo

và học tập Muốn làm được điều đó tác giả phải được một sự đổi mới trong việc kế thừa, để đẩy sự kế thừa sang một bước mới Nếu như tác giả chỉ kế thừa đơn thuần thì tác giả chỉ có được phong cách thời đại, phong cách thể loại mà không có được phong cách riêng mình” [9, tr.24], và “Một nghệ sĩ muốn thay đổi địa vị của mình từ chỗ là con người của một thời đại, một thể loại thành con người có phong cách, cần phải thực hiện một sự đổi mới, anh

ta phải có gan từ bỏ cái truyền thống mà anh ta đã tiếp thu hết sức đầy đủ, để trên cơ sở ấy xây dựng một truyền thống mới” [9, tr.25]

Để hiểu khái niệm phong cách tác giả cũng như muốn nghiên cứu, xác định phong cách ngôn ngữ của một nhà văn, chúng ta phải căn cứ vào hai dấu hiệu cơ bản, đó là: khuynh hướng ưa thích và sở trường sử dụng những loại phương tiện ngôn ngữ nào đó của tác giả; sự đi chệch chuẩn mực của tác giả Mỗi nhà văn thường có sở trường ngôn ngữ riêng Sở trường ngôn ngữ này thành thục tới mức mọi người phải thán phục và không ai theo được thì thành biệt tài về ngôn ngữ Chẳng hạn Nguyễn Du là một biệt tài về ngôn ngữ Sở trường ngôn ngữ của nhà văn dẫn đến khuynh hướng ưa thích lựa chọn, sử dụng những loại phương tiện ngôn ngữ nhất định, khiến cho ngôn ngữ nhà

văn khác với mọi người Nguyễn Công Hoan “ham” dùng, “mê” dùng khẩu

ngữ Những phương tiện khẩu ngữ dân chúng mà ông dùng trong truyện ngắn

Trang 12

làm cho những cái ông kể, ông tả hệt như ngoài đời, khiến độc giả tâm đắc, thích thú, thán phục Nguyễn Tuân có thói quen không bằng lòng với những

từ cũ, những lối diễn đạt cũ của xã hội vì không biểu hiện đúng ý ông muốn

nói Ông luôn tìm tòi những hình thức diễn đạt mới “lạ tai”, “khác người” để

có thể nói thật trúng cái suy nghĩ, cái cách thức đặt vấn đề, cái cách nhìn nhận của mình Trong khi đó Tô Hoài say mê miêu tả và đã tả thì hay vô cùng, đẹp

vô cùng, trau chuốt vô cùng…

Sở trường ngôn ngữ của nhà văn không chỉ bộc lộ ở khuynh hướng ưa thích những cái đã có của xã hội mà còn thể hiện ở sự tạo ra những cái xã hội

chưa có, cần có, nói khác đi sở trường ngôn ngữ dẫn đến sự sáng tạo ngôn ngữ Trong sự đối chiếu với chuẩn mực thì sáng tạo ngôn ngữ có nghĩa là tạo

ra những cái đi chệch chuẩn mực ngôn ngữ Chệch chuẩn mực chứ không

phải chống chuẩn mực, chệch chuẩn mực cũng là một cái “lỗi”, nhưng là cái

“lỗi muốn có”, cái “lỗi nên có” ở các nhà văn để tạo nên phong cách tác giả

Đã là nhà văn không ai không đi chệch chuẩn mực, không ai không nuôi dưỡng ý định chệch chuẩn mực Ngôn ngữ văn chương của ta luôn có những

cái đi chệch, không bao giờ cạn sự đi chệch Tong khi người đời nói “cõi lòng”, “cõi trần gian”,…thì mở đầu truyện Kiều, Nguyễn Du lại nói “cõi người ta” Trong lúc xã hội vẫn nói “Từ ấy”, “từ đó”, “từ ngày ấy” thì mở đầu tập thơ đầu tay của mình, Tố Hữu dùng “Từ ấy” Trong khi xã hội nói

“đầy những lo âu”, “nhiều lo âu” thì Nam Cao viết “tối sầm những lo âu” Trong khi ta vẫn bảo nhau “châm thuốc”, “hút thuốc”,…thì Nguyễn Tuân lại

“thắp một điếu thuốc giữa sông lúc đêm khuya” Chúng ta có thể kể biết bao

nhiêu cái đi chệch nho nhỏ như vậy trong văn chương của ta Có thể nói thế giới ngôn ngữ của nghệ thuật văn chương là thế giới ngôn ngữ toàn dân đồng thời cũng là thế giới của những sự đi chệch ngôn ngữ toàn dân

Trang 13

Phong cách ngôn ngữ của nhà văn là hạt nhân cốt lõi xuyên suốt quá trình sáng tác, dù mang tính thống nhất, ổn định, nhưng có sự thay đổi Chính

sự thay đổi đó đã tạo ra sự phong phú, đa dạng trong phong cách ngôn ngữ của nhà văn Một nhà văn có thể có nhiều phong cách khác nhau Ví dụ như ở giai đoạn Thơ mới 1930 – 1945, các nhà thơ như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, đều thể hiện một nét chung trong bút pháp, giọng điệu của mình đó

là nỗi buồn, một nỗi buồn bơ vơ, cô đơn, trơ trọi mất phương hướng giữa cuộc đời, tạo nên không khí buồn lãng mạn – đặc trưng của Thơ mới Nhưng sau Cách mạng tháng Tám thành công, cũng là những gương mặt nhà thơ ấy, chúng ta lại bắt gặp sự say sưa, hứng khởi hòa nhập vào cuộc sống mới của dân tộc Các nhà thơ ca ngợi lí tưởng cách mạng, ca ngợi tự do và tự nguyện sống với cuộc chiến đấu của toàn thể dân tộc, thể hiện giọng thơ hào hùng, khí thế của cách mạng

Tóm lại, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những nhận định khác nhau ở từng khía cạnh của phong cách ngôn ngữ nhà văn Nhưng hầu như giới nghiên cứu đều có điểm thống nhất phong cách ngôn ngữ nhà văn là cái riêng, cái độc đáo trong việc sử dụng ngôn ngôn ngữ của nhà văn, là các yếu tố ngôn ngữ được lặp đi lặp lại thành tần số cao và có khả năng khu biệt làm cho người đọc dễ nhận diện được tác giả là ai khi chỉ cần đọc ít chữ

1.2 Thơ Tố Hữu, phong cách nghệ thuật Tố Hữu, phong cách ngôn ngữ thơ Tố Hữu

1.2.1 Thơ Tố Hữu

Đến nay, Tố Hữu đã cho ra đời 7 tập thơ: Từ ấy (1937 – 1946), Việt Bắc (1946 – 1954), Gió lộng (1955 – 1961), Ra trận (1962 – 1971), Máu và hoa (1972 – 1977), Một tiếng đờn (1979 – 1992), Ta với ta (1992 – 2002) Thơ Tố

Hữu ngay từ những ngày đầu xuất hiện đã được quần chúng đón nhận nồng

Trang 14

nhiệt Bởi vì một lẽ rất riêng, thơ ông không thể hiện tình cảm hời hợt, những lối ví von bóng bẩy trong thơ ông rất gần gũi với cuộc sống hàng ngày

Khi đọc mỗi bài thơ, độc giả có thể tìm thấy ở đó những tình cảm, cảm xúc chân thành của một người lính, từ một người con, người em, một người anh hay cả một con người có trái tim vĩ đại luôn hướng đến hàng triệu đồng bào bị áp bức, nô lệ Tố Hữu thực sự là một nhà thơ lớn của thế kỉ XX

* Tập thơ “Từ ấy” (1937 – 1946)

Tập thơ có 72 bài thơ Gồm 3 phần: Máu lửa, Xiềng xích và Giải phóng

Tác giả đã xây dựng thành công hình tượng người thanh niên trẻ tuổi say mê

lí tưởng, say sưa hoạt động, tự nguyện cống hiến sức mình cho con đường tranh đấu Đồng thời tác phẩm cũng phản ánh một giai đoạn lịch sử sôi động

đã diễn ra những biến cố to lớn làm rung chuyển và thay đổi sâu sắc xã hội Việt Nam

* Tập thơ “Việt Bắc” (1947 – 1954)

Tác phẩm gồm 27 bài Ngay từ đầu tập thơ Tố Hữu đã có sự chuyển biến trong quan niệm về đối tượng nghệ thuật Với ông, lúc này đối tượng là quần chúng nhân dân, nhân dân là người cảm thụ cũng là đối tượng sáng tạo Từ đầu, tập thơ đã mang tính đại chúng sâu sắc Thi sĩ cũng thể hiện khuynh hướng sáng tạo mang đậm tính sử thi và khuynh hướng khái quát tổng hợp, ví

dụ như: “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên”, “Ta đi tới”

* Tập thơ “Gió lộng” (1955 – 1961)

Tập thơ này tập trung khái quát hai chủ đề lớn của văn học Việt Nam lúc bấy giờ, đó là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà ở miền Nam và tình cảm Quốc tế vô sản Đề tài thường tập trung

vào các nhân vật cụ thể như: “Quê mẹ”, “Người con gái Việt Nam” Các tác

phẩm thể hiện đậm nét chủ nghĩa lãng mạn phơi phới và khuynh hướng sử thi Thi sĩ tiếp tục phát triển khuynh hướng sử thi và khuynh hướng khái quát với

Trang 15

một cái tôi trữ tình đa dạng hơn và một nghệ thuật biểu hiện già dặn, nhuần nhị hơn

* Tập thơ “Ra trận” (1962 – 1971)

Tập thơ “Ra trận” gồm có 31 bài Tập thơ này ra đời trong hoàn cảnh

cuộc chiến tranh xảy ra ác liệt trên phạm vi toàn quốc Nội dung của tập thơ là một khúc ca ra trận, là mệnh lệnh cách mạng tiến công, là lời kêu gọi cổ vũ hào hùng cho cả một dân tộc trong cuộc chiến đấu ở hai miền Nam – Bắc, có những suy ngẫm và trải nghiệm về con người Việt Nam Tập thơ này mang đậm tính chính luận thời sự và chất sử thi, có lúc thể hiện rõ nét âm hưởng của anh hùng ca

* Tập thơ “Máu và hoa” (1972 – 1979)

Tập thơ gồm 13 bài Nội dung của tập thơ “Máu và hoa” vẫn tiếp nối những mạch cảm xúc anh hùng ca và âm hưởng chung của cuộc kháng chiến

vĩ đại của dân tộc Tố Hữu đã thể hiện và ca ngợi sức mạnh của dân tộc Việt Nam, sức mạnh của hiện tại và tương lai

Có thể nói từ những rung động sâu sắc, chân thật trước hiện thực cuộc sống, nhà thơ Tố Hữu đã tìm được tiếng nói chung với quê hương, với anh

em, với đồng bào đồng chí…Ở tập thơ này, nhà thơ đã đạt được độ chín về tư tưởng, tình cảm lẫn nghệ thuật biểu hiện

* Tập thơ “Một tiếng đờn” (1979 – 1992)

Tập thơ gồm 74 bài Đây có thể xem là khúc khải hoàn sau chặng đường chiến đấu gian khổ nhưng đầy hào hùng của dân tộc Thơ Tố Hữu, trong nhiều giai đoạn lịch sử là tiếng nói gắn bó chặt chẽ với đời sống chính trị của đất nước, ở tập thơ này vẫn tiếp tục sự nhất quán ấy Đấy là niềm vui khi đất nước thanh bình trong tự do, độc lập Có thể nói tình yêu đất nước, ca ngợi cuộc sống, lý tưởng là âm điệu chủ đạo trong tập thơ này Đó là sự nối tiếp nhất quán trong dòng chảy về cảm xúc, hình tượng thơ của Tố Hữu trong giai

Trang 16

đoạn lịch sử mới Tuy ở một số bài việc sử dụng ngôn từ, hình ảnh đã có sự

trùng lặp với các tập thơ trước

* Tập thơ “Ta với ta” (1992 – 2002)

Đây là tập thơ cuối cùng trong chặng đường thơ Tố Hữu Tập thơ này là kết tinh những chiêm nghiệm về lẽ đời và tìm về những kỷ niệm một thời in đậm trong tâm trí nhà thơ, vì thế giọng thơ trầm lắng và suy tư

Thơ Tố Hữu sáng ngời thẩm mĩ của thời đại Mỗi giai đoạn, mỗi thời kì thơ

Tố Hữu luôn có sự thay đổi về cả nội dung lẫn nghệ thuật Tố Hữu không ngừng tìm tòi những hình thức mới của thơ ca để biểu đạt cuộc sống mới, con người mới và những tư tưởng tình cảm mới Nhưng bao giờ nhà thơ cũng tìm tòi, sáng tạo trên vốn thơ ca truyền thống của dân tộc Càng về sau thì thơ ông

càng hoàn thiện

1.2.2 Phong cách nghệ thuật của Tố Hữu

Khi nói về phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Long trong cuốn Lịch sử văn học Việt Nam, tập 3 đã khái quát thành 4 ý sau:

(1) Tố Hữu là nhà thơ của lý tưởng cộng sản, thơ Tố Hữu tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình chính trị Tố Hữu là một chiến sĩ – thi sĩ, làm thơ

trước hết là phải phục vụ sự nghiệp cách mạng, cho lý tưởng của Đảng Trong thơ Tố Hữu từ trước đến sau, dù đề tài, nội dung cảm hứng có đa dạng đến đâu thì vẫn nhất quán ở chỗ lấy lý tưởng cách mạng, quan điểm chính trị làm

hệ quy chiếu cách nhìn nhận và xúc cảm về mọi phương diện, mọi hiện tượng

của đời sống, kể cả đời sống riêng tư của chính nhà thơ Với Tố Hữu, “Tả tình hay tả cảnh, kể chuyện mình hay kể chuyện người, viết về các vấn đề lớn hay về một sự việc nhỏ (…) là để nói cho được cái lý tưởng cộng sản ấy thôi”

(Chế Lan Viên)

Trang 17

Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình chính trị Mọi sự kiện, vấn đề lớn của đời sống cách mạng, lý tưởng chính trị, những tình cảm chính trị thông qua trái tim nhạy cảm của nhà thơ đều có thể trở thành đề tài và cảm hứng nghệ thuật thực sự Đặc biệt ở những bước ngoặt trong đời sống cách mạng của dân tộc, hồn thơ Tố Hữu thường vang ứng nhạy bén và dào dạt cảm hứng, kết tinh trong những bài thơ đặc sắc, được sự đồng cảm và hưởng ứng rộng rãi của

đông đảo công chúng Xuân Diệu khẳng định “Tố Hữu đã đưa thơ chính trị lên đến trình độ là thơ rất đỗi trữ tình”

(2) Nội dung trữ tình chính trị trong thơ Tố Hữu thường tìm đến và gắn liền với khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn Khuynh hướng sử thi nổi bật trong thơ Tố Hữu nhất là ở những thời kì sau, kể từ cuối tập “Việt Bắc”

Cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu ngay từ đầu đã là cái tôi chiến sĩ, về sau càng trở thành cái tôi nhân danh cộng đồng, nhân danh Đảng và dân tộc Nhân vật trữ tình trong thơ Tố Hữu là con người thể hiện tập trung những phẩm chất của giai cấp, dân tộc, đến cuộc kháng chiến chống Mĩ được nâng lên thành những hình tượng anh hùng mang tầm vóc thời đại và lịch sử, nhiều khi được thể hiện bằng bút pháp thần thoại hóa Cảm hứng chủ đạo trong thơ Tố Hữu là cảm hứng lãng mạn Thơ Tố Hữu hướng vào tương lai, khơi dậy niềm vui, lòng tin tưởng và niềm say mê với con đường cách mạng, ngợi ca nghĩa tình cách mạng và con người cách mạng Do khuynh hướng, cảm hứng ấy mà thơ Tố Hữu chú trọng tác động đến tình cảm, cảm xúc của người đọc, đặc biệt khai thác giá trị gợi cảm của nhạc điệu thơ

(3) Một nét đặc sắc của thơ Tố Hữu là có giọng điệu riêng rất dễ nhận

ra, đó là giọng tâm tình, ngọt ngào tha thiết, giọng của tình thương mến

Giọng điệu ấy có phần là do được thừa hưởng từ điệu tâm hồn con người xứ Huế với những câu ca, giọng hò tha thiết ngọt ngào của quê hương Nhưng nó

cũng được xuất phát từ một quan niệm của nhà thơ: “Thơ là chuyện đồng điệu

Trang 18

(…), thơ là tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí’’ Nhà thơ đặc biệt

dễ rung động với nghĩa tình cách mạng, luôn hướng đến đồng bào, đồng chí

mà giãi bày tâm sự, trò chuyện, kêu gọi, nhắn nhủ Thơ Tố Hữu phần nhiều có cách diễn đạt tự nhiên, hơi thơ liền mạch

(4) Kế tục truyền thống thơ ca dân tộc, đặc biệt là thơ ca dân gian và thơ

cổ điển, thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc cả trong nội dung và nghệ thuật biểu hiện Hiện thực đời sống cách mạng, những tình cảm chính trị, đạo lí cách

mạng qua sự cảm nhận và thể hiện của Tố Hữu đã gắn bó, hòa nhập với truyền thống tinh thần tình cảm và đạo lí của dân tộc, làm phong phú thêm cho truyền thống ấy Về thể thơ, Tố Hữu sử dụng nhuần nhuyễn các thể thơ dân tộc và có những sáng tạo làm phong phú thêm cho các hình thức thơ ca này Trong thơ Tố Hữu có thể bắt gặp một cách phổ biến những lối so sánh, các phép chuyển nghĩa và cách diễn đạt trong thơ ca dân gian đã trở nên quen thuộc với tâm hồn người Việt Sáng tạo hình ảnh trong thơ Tố Hữu thiên về giá trị biểu hiện tình cảm hơn là giá trị tạo hình, thậm chí nhà thơ còn sử dụng nhiều hình ảnh ước lệ tượng trưng khá quen thuộc Chiều sâu của tính dân tộc trong thơ Tố Hữu là ở nhạc điệu, đặc biệt phong phú về vần và những phối

âm trầm bổng nhịp nhàng nên dễ ngâm dễ thuộc Nghệ thuật thơ Tố Hữu nghiêng về tính truyền thống hơn là sự tìm tòi đổi mới theo hướng hiện đại hóa [8, tr.182 – 188]

1.2.3 Phong cách ngôn ngữ thơ Tố Hữu

Là sản phẩm ra đời trong cuộc đấu tranh cách mạng, thơ Tố Hữu tiêu biểu cho thơ trữ tình chính trị Nội dung thơ trữ tình chính trị của Tố Hữu thường tìm đến và gắn bó với khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn Thơ ông đã kết hợp hài hòa tư tưởng cách mạng cao đẹp sáng rõ nhất của thời đại Với hình thức ngôn ngữ thơ tiếng Việt hiện đại, đó là thứ ngôn ngữ giản dị đời thường nhưng vẫn chất chứa nhiều ý nghĩa sâu xa Đồng thời thơ Tố Hữu

Trang 19

có một giọng điệu rất dễ nhận ra, đó là: giọng tâm tình ngọt ngào tha thiết, giọng của tình thương mến, cùng với thể thơ đậm đà bản sắc dân tộc, tạo nên một phong cách riêng cho nhà thơ Giọng điệu ấy có phần là do thừa hưởng điệu tâm hồn con người xứ Huế với cả giọng nói và những câu ca, điệu hò tha thiết của vùng đất mà phong cảnh núi sông được thiên nhiên phú cho nhiều vẻ

đẹp êm dịu Nhưng nó còn xuất phát từ quan niệm về thơ Tố Hữu: “Thơ là chuyện đồng điệu Nó là tiếng nói của người nào đó đến với người nào đó có

sự cảm thông chung dựa trên cơ sở đồng ý, đồng tình”

Khi bàn về giọng điệu trong thơ Tố Hữu, Trần Đình Sử đã khẳng định:

“Là thơ trữ tình điệu nói, Tố Hữu đã tạo ra nhiều giọng nói phong nhú cho thơ trữ tình cách mạng Trong thơ ông có giọng rắn rỏi, dõng dạc, khúc chiết của nhà tuyên truyền, có giọng nói của nhà cách mạng trẻ tuổi tâm huyết, say sưa, của nhà cách mạng dày dạn trầm tĩnh, có tiếng nói bạn bè ấm áp, có tiếng nói ruột thịt tha thiết, mến thương Thơ Tố Hữu là cả một thế giới giọng nói…Tầm khái quát của các giọng thì khác nhau, nhưng trội hơn hết là giọng nói tâm tình, nhỏ nhẹ.” [10, tr.291 – 293] Còn với nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Long, ông cho rằng: “Tình thương mến đã tạo nên ở thơ Tố Hữu một giọng điệu rất dễ nhận ra Dù có những lúc thơ Tố Hữu được cất lên bằng giọng thúc giục hay trang trọng, hùng tráng, có khi là lời kêu gọi, là mệnh lệnh của cách mạng, Tố Hữu vẫn trở về với giọng điệu đặc trưng của mình là giọng tâm tình, ngọt ngào” [10, tr.185]

1.3 Phương ngữ

1.3.1 Khái niệm phương ngữ

Theo Giáo sư Hoàng Thị Châu (2009) trong Phương ngữ học tiếng Việt,

Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội định nghĩa về phương ngữ như sau:

Trang 20

“Phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác” [2, tr.29]

Khi về nói về thuật ngữ “phương ngữ” Giáo sư Hoàng Thị Châu còn giải thích thêm như sau:

Phương ngữ học là một bộ môn của ngôn ngữ học để nghiên cứu một hay nhiều phương ngữ (dialect) Trước đây trong các sách thường dùng từ

“phương ngôn” theo cách dùng của Trung Quốc Nhưng vì từ “phương ngôn” ở trong tiếng Việt đã được dùng để chỉ “tục ngữ ở địa phương” (Theo

từ điển Văn Tân – Hà Nội 1967) cho nên dùng từ này dễ gây hiểu lầm Từ

“tiếng địa phương” cũng có thể dùng được nhưng hình thức cấu tạo không mang tính chặt chẽ của thuật ngữ như từ “phương ngữ”

Từ “thổ âm” hay “giọng địa phương” chỉ nhấn mạnh khía cạnh ngữ âm hoặc giọng nói địa phương Chính vì vậy thuật ngữ “phương ngữ” ở đây dùng để chỉ tiếng địa phương trong một vùng lớn như tỉnh, thành phố, bao gồm nhiều “thổ ngữ” ở các xã, thôn

Như vậy “phương ngữ học” không phải chỉ nghiên cứu một mặt nào đó của một phương ngữ (mặt ngữ âm chẳng hạn) mà nghiên cứu mọi mặt (ngữ

âm, từ vựng, ngữ pháp) của một phương ngữ hệt như người ta nghiên cứu một ngôn ngữ, chẳng hạn như tiếng Việt [2, tr.29-30]

Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, Nhà xuất bản Đà Nẵng (2011),

“phương ngữ là biến thể của một ngôn ngữ được sử dụng theo địa phương hay theo tầng lớp xã hội” [13, tr.1020]

Ở đây chúng ta cần phân biệt ngôn ngữ toàn dân với phương ngữ Phương ngữ chính là biến thể của ngôn ngữ toàn dân Tuy nhiên ngôn ngữ lại

là một hệ thống hoàn chỉnh riêng của nó chứ không phải là một cái nhánh được tách ra từ một thân cây của ngôn ngữ toàn dân Ngôn ngữ toàn dân cũng

Trang 21

không phải là cái trừu tượng còn phương ngữ là cái cụ thể Phương ngữ cũng như ngôn ngữ toàn dân đều có mặt trừu tượng và mặt cụ thể

Như vậy, có nhiều quan niệm khác nhau về phương ngữ Nhưng nhìn chung những quan niệm trên đều có một số điểm chung Để làm cơ sở lí luận cho đề tài, chúng tôi theo quan niệm của Giáo sư Hoàng Thị Châu

1.3.2 Phân vùng phương ngữ của tiếng Việt

Có nhiều cách chia khác nhau nhưng theo Giáo sư Hoàng Thị Châu thì tiếng Việt được chia thành ba vùng phương ngữ đó là: phương ngữ Bắc dùng trong giao tiếp ở Bắc Bộ, phương ngữ này là cơ sở hình thành nên ngôn ngữ văn học; phương ngữ Trung bao gồm các tỉnh Bắc Trung Bộ, từ Thanh Hóa đến đèo Hải Vân; phương ngữ Nam trải dài từ đèo Hải Vân đến miền cực nam của đất nước, là một phương ngữ mới, được hình thành dần dần trong vòng 5 thế kỷ gần đây

1.3.3 Những đặc điểm ngữ âm của phương ngữ Trung

Theo Giáo sư Hoàng Thị Châu đặc điểm ngữ âm của phương ngữ Trung

có những điểm sau:

+ Hệ thống thanh điệu: có 5 thanh, khác với hệ thống thanh điệu phương ngữ Bắc cả về số lượng lẫn chất lượng

+ Hệ thống phụ âm đầu: có 23 phụ âm đầu, hơn phương ngữ Bắc 3 phụ

âm uốn lưỡi [s, z, t] chữ quốc ngữ ghi bằng s, r, tr Tong nhiều thổ ngữ có 2

phụ âm bật hơi [ph, kh] (giống như chữ viết đã ghi lại) thay cho 2 phụ âm xát [f, x] trong phương ngữ Bắc

+ Trong hệ thống âm cuối, đôi phụ âm [-ng, -k] có thể kết hợp được với các nguyên âm trước, giữa và sau Tuy vậy, trong những từ chính trị - xã hội mới xuất hiện gần đây vẫn có các cặp âm cuối [-nh, -ch] và [-ngm, -kp]

+ Phương ngữ Trung cũng gồm 3 phương ngữ nhỏ hơn, khác nhau về thanh điệu:

Trang 22

- Phương ngữ Thanh Hóa lẫn lộn thanh hỏi và thanh ngã (phát âm không phân biệt), nhưng các thanh khác lại phát âm giống phương ngữ Bắc

- Phương ngữ vùng Nghệ Tĩnh không phân biệt thanh ngã với thanh nặng Cả 5 thanh tạo thành một hệ thống thanh điệu khác với phương ngữ Bắc, có độ trầm lớn hơn

- Phương ngữ vùng Bình Trị Thiên không phân biệt thanh hỏi với thanh ngã Nhưng về mặt điệu tính các thanh lại giống với thanh điệu Nghệ Tĩnh Riêng vùng Thừa Thiên - Huế có hệ thống vần và âm cuối giống phương ngữ Nam Điều này có nguồn gốc lịch sử - xã hội, do có sự pha trộn phương ngữ Trung và phương ngữ Nam trong phương ngữ Thừa Thiên – Huế, nên nó không tiêu biểu cho cả vùng Tiêu biểu cho phương ngữ Trung là giải phương ngữ từ Nghệ Tĩnh đến sông Bến Hải

1.4 Tiếng Huế

Trước hết, chúng tôi cần nói rõ, tiếng Huế gồm hai yếu tố: đó là từ địa phương Huế và chất giọng Huế Dưới đây chúng tôi sẽ làm rõ những đặc trưng của các yếu tố này

1.4.1 Tiếng địa phương Huế

Trong bài “Các đặc điểm ngữ âm của tiếng Huế” đăng trên báo Thông

tin Khoa học và Công nghệ, số 1, năm 1992, Phó giáo sư Vương Hữu Lễ đã nghiên cứu đầy đủ và rất sâu về mặt ngữ âm của phương ngữ Huế Chính vì

vậy chúng tôi lấy bài viết này để làm cơ sở lí luận cho đề tài

Phần khái niệm phương ngữ ở trên đã cho chúng ta biết Huế cơ bản thuộc về phương ngữ Trung Tiếng Huế giữ một vị trí đặc biệt: nó là thổ ngữ chuyển tiếp giữa phương ngữ Trung và phương ngữ Nam Điều này được chứng minh bằng các đặc điểm ngữ âm sẽ được trình bày sau đây có sự đối chiếu với thổ ngữ Hà Nội (tiêu biểu cho phương ngữ Bắc) và thổ ngữ Sài Gòn (tiêu biểu cho phương ngữ Nam)

Trang 23

a) Thanh điệu

+ Nói chung, phương ngữ Trung có 4 thanh điệu: ngang, huyền, sắc, nặng (2 thanh hỏi và ngã bị lẫn vào thanh nặng) Mặc dù là 1 thành viên của phương ngữ này, nhưng tiếng Huế có 5 thanh điệu: 4 thanh điệu vừa nói cộng thêm thanh hỏi

Hai thanh hỏi và thanh ngã của tiếng Hà Nội đều được phát âm bằng thanh hỏi trong tiếng Huế, về điểm này, tiếng Huế giống tiếng Sài Gòn

Hà Nội Huế-Sài Gòn

sửa ≠ sữa sửa

củ ≠cũ củ

+ Về mặt phẩm chất của thanh điệu, 3 thổ ngữ Huế, Hà Nội, Sài G̣n có 1

số điểm dị biệt Điểm đặc biệt nhất là trong tiếng Huế, thanh hỏi rất gần giống thanh nặng; 2 thanh này hầu như hoàn toàn tương ứng với thanh huyền của

Trang 24

Một số từ ngoại lai cũng rơi vào trường hợp này: xiếc ~ xiệc, cà vát ~ cà vạt…

- sắc ~ hỏi: bóng đèn bỏng đèn

- ngã ~ nặng: vãi vại

- ngang ~ huyền: giun trùn

- huyền ~ ngang: gì chi

già tra

vừa bưa mày mi này ni + Ở một số từ song tiết mà trọng âm rơi vào âm tiết thứ 2 thì thanh điệu của âm tiết thứ nhất bị dị hoá thành thanh huyền:

Thiên lôi > thiền lôi ; ngơ ngơ > ngờ ngơ

ở cuối phát ngôn” Nghĩa là ở bối cảnh đó, 4 thanh ngang, hỏi, sắc, nặng đều

có âm tắc họng đi kèm theo sau, trong khi thanh huyền thì chỉ kéo dài ra thôi

b) Âm đầu

+ Hệ thống âm đầu tiếng Huế gồm 21 âm vị phụ âm (nếu không kể phụ

âm zêrô hay phụ âm tắc họng) như trong hệ thống âm chuẩn của tiếng Việt:

Trang 25

b-, đ-b-, t-b-, th-b-, tr-b-, ch-b-, c- (kb-,q)b-, v-b-, ph-b-, x-b-, r-b-, s-b-, gi-b-, (d-)b-, kh-b-, g- (gh)b-, h-b-, m-b-, n-b-, nh-, ng- (ngh-), l-

Về số lượng phụ âm đầu, có một điều cần nói là ở một số người trung

niên và lớn tuổi (mà trình độ văn hoá không cao) thì không có phụ âm nh-, âm này bị chuyển hoá thành âm gi-: nhà nhỏ > già giỏ; như nhau > giư giau… + Cần ghi nhận là trong tiếng Huế, âm ghi bằng các chữ d- và chữ gi-

trên các chữ viết được thực hiện bằng [ j ] trong khi tiếng Hà Nội thực hiện bằng chính tả

VD: Huế Hà Nội

dân gian: giâng giang dân dan

giản dị: giảng gị dản dị

+ Một điểm dị biệt quan trọng so với tiếng Hà Nội là tiếng Huế có 3 âm

vị quặt lưỡi /s-, r-, tr-/ vốn bị đồng hoá lần lượt với 3 âm /x-, d- và ch-/ trong

Ở một số từ, âm vị /z/ của tiếng Hà Nội mà trên chữ viết ghi bằng /gi-/ thì chuyển hoá thành /ch-/ hoặc /tr-/ và ghi bằng /d-/ thì chuyển thành /đ-/; /v/

~/b/ hoặc /ph-/; /tr-/ hoặc /nh-/ hoặc /th/~ /l/; /g-/ ~ /kh/; /s/~ /r/; /m/ ~ /tr/; / ~ /ng-/…

Trang 26

- d ~ đ : dưới, dao đưới, đao

- h ~ ng: hăm (doạ) ngăm

Nói chung, phần lớn các âm tắc của tiếng Hà Nội tương ứng với các âm xát của tiếng Huế

c) Âm đệm

Có lẽ không có gì đáng bàn luận lắm, chỉ có 1 điều và điều này có liên

quan đến vần là khi nguyên âm /o/ đi với bán âm cuối /-i/ thì xuất hiện âm

đệm và nguyên âm /o/ biến thành /a/, nghĩa là /oi/ > /oai/

Hà Nội Huế

khói ≠ khoái khoái

lòi ≠ loài loài

đòi ≠ đoài đoài

d) Nguyên âm

+ Hệ thống âm chính của tiếng Huế cũng gồm có 11 nguyên âm đơn và 3 nguyên âm đôi như tiếng Hà Nội

Trang 27

- /i, ê, e, ư, ơ, â, á, ă, u, ô, o/

- /ia/ (ya, iê, yê), /ưa/ (ươ), /ua/ (uô)

+ Về phẩm chất của nguyên âm đơn có điều đáng nói là nguyên âm /e/ trong tiếng Huế có một biến thể là nguyên âm chuyển sắc /e (ơ)/ ở âm tiết nửa khép có bán âm cuối là /u/, biến thể này có độ mở rộng hơn một chút: heo > he_o, theo >the_o

+ Khác với tiếng Hà Nội, các nguyên âm đôi /ia, ưa, ua/ của tiếng Huế

có bộ phận thứ nhì với trường độ ngắn hơn và độ mở hẹp hơn khi kết hợp với các âm cuối Chính vì thế mà Laurence C Thompson đã lầm tưởng rằng trong tiếng Huế có bộ phận thứ nhì của các nguyên âm đôi đó bị rơi mất ở bối cảnh

có bán âm cuối /-i, -u/ Ông viết: “Trước các bán âm cuối [-j, -w], các tổ hợp

iê, ươ, uô đã mất yếu tố thứ nhì, khiến cho các chuỗi âm iêu, ươi, uôi (là nguyên âm 3 trong tiếng Vinh) được phát âm như là nguyên âm đôi không phân biệt với iu, ưi, ui”

Thật ra điều nhận xét của ông chỉ đúng với phương ngữ Nam còn trong tiếng

Huế vẫn có các đối lập iêu ≠ iu, ươi ≠ ưi, ươu ≠ ưu, uôi ≠ ui Quả nhiên, ở

đây, lỗ tai của người nước ngoài không thể bằng lỗ tai của người bản ngữ + Trong tiếng Huế có 1 số từ khác với từ phổ thông về mặt nguyên âm

Sự chuyển hoá này còn có thể thấy ở một số người: lá ~ lớ, khá ~ khớ, mai ~ mơi Còn trường hợp chuyển hoá ngược lại thì chỉ thấy ở một từ: hợp ~hạp Một vài trường hợp lẻ tẻ khác là:

a – ô: hạt – hột

a – ă: tao – tau

uô – uâ: quốc – quấc

+ Còn 1 số chuyển hoá nguyên âm nữa, nhưng có liên quan mật thiết với

âm cuối, nên sẽ được bàn đến trong mục sau đây Nhìn chung, sự chuyển hoá nguyên âm phần lớn có xu hướng thu hẹp độ mở

Trang 28

e) Âm cuối

Tiếng Huế cũng có 8 âm cuối /-m, -n, -ng, -p, -c, -i, -u, -t/ như trong

tiếng Hà Nội và tiếng Sài Gòn, nhưng nói chung sự phân bố của 6 phụ âm cuối có phần khác với tiếng Hà Nội và giống với tiếng Sài Gòn

+ Hai âm cuối đầu lưỡi ~ lợi /-n, -t/ chỉ xuất hiện sau /ư, â, ă/ trong những vần mà chữ viết ghi là inh, ích, ênh, ếch, anh, ách

Cần lưu ý là nguyên âm /ư/ cũng thực hiện với trường độ ngắn như 2 nguyên

âm /â, ă/ vốn dĩ là những âm ngắn

+ Ngoài ra, toàn bộ những vần có âm cuối lợi /-n, -t/ trong tiếng Hà Nội đều biến âm cuối thành âm mạc /-ng, -c/ Một số từ có vần anh, ach bị chuyển

thành vần eng, ec

+ Như trên ta đã thấy có những chuyển hoá ôn ~ ô:ng, ốt ~ ô:c , on ~ o:ng, ot ~ o:c; ở đây ta lại thấy trong một số từ, các vần ôn, ôc, ong, oc cũng chuyển thành ô:ng, ô:c, o:ng, o:c ( nghĩa là nguyên âm không bị rút ngắn mà

kéo dài ra và âm cuối không bị môi hoá) Điều này không xảy ra trong tiếng

Hà Nội và tiếng Sài Gòn

+ Các bán âm cuối /-u, -i/ đi với nguyên âm /â/ hay /a/ thì thường làm rơi

mất các nguyên âm này và các âm cuối biến thành âm chính tương ứng

1.4.2 Chất giọng Huế

1.4.2.1 Khái niệm “giọng, giọng điệu”

Sự khác biệt giữa giọng nói của người này với người khác chủ yếu xuất phát từ cơ quan cấu âm và cách nói của người đó, có người nói giọng trầm đục; có người nói giọng thanh hoặc the thé, nhát gừng,…Ảnh hưởng của thanh đới trong việc tạo giọng là sự thật, nó khiến cho giọng mỗi người có độ rung, dài – ngắn, cao – thấp khác nhau Không chỉ thế giọng của mỗi cá nhân

ít nhiều chịu sự ảnh xạ của tính địa văn hóa, chính vì vậy giọng người Hà Nội

Trang 29

khác với người Huế hay giọng người Huế khác với người Sài Gòn,…Tuy nhiên khái niệm giọng chủ yếu để nói về người

(1) Từ điển tiếng Việt định nghĩa về giọng như sau:

- Độ cao – thấp, mạnh – yếu của lời nói, tiếng hát

- Cách phát âm của một địa phương

- Cách diễn đạt bằng ngôn ngữ, biểu thị một thái độ tình cảm nhất định

- Gam đã xác định âm chủ [13, tr.150]

Ở cấp độ phổ biến, giọng được hình dung như một tín hiệu âm thanh có

âm sắc, trường độ, cao độ,…gắn liền với môi trường giao tiếp và chủ thể giao tiếp, có khả năng tạo ra tính khu biệt Giọng là tín hiệu âm thanh nhưng không phải âm thanh nào cũng được coi là giọng Khái niệm giọng chủ yếu là nói về người, gắn với sắc thái biểu cảm của con người

Giọng nói của người không chỉ tồn tại như một hệ thống tín hiệu âm

thanh mà còn hàm chứa thái độ của người nói đó chính là giọng điệu Nếu giọng là yếu tố mang đậm tính vật lí, thì giọng điệu lại được nhìn từ giác độ tâm lí “Giọng điệu là giọng nói, lối nói biểu thị một thái độ nhất định”

Người ta có thể kể ra vô số loại giọng: giọng khinh nhờn, mách mé, chế giễu, trịnh trọng, cung kính, vui sướng, thỏa mãn, buồn bã, chanh chua, hiền hậu, nhẹ nhàng, tâm tình,…Rõ ràng giọng điệu thường thể hiện tâm tính của con người, phản ánh tâm trạng của họ Mặt âm thanh giọng điệu cũng phù hợp với nội dung cảm xúc: khi vui, giọng điệu thường vang, rõ; khi buồn giọng lắng

lại, thấp xống,…nhưng cũng có hiện tượng giả giọng

(2) Khái niệm trên chỉ giọng điệu trong đời sống, chính vì vậy giọng điệu chỉ mang tính nhất thời Điều này khác với giọng điệu trong tác phẩm văn học Trong nghệ thuật, giọng điệu bao giờ cũng được tổ chức một cách công phu, nó là kết quả của một quá trình sáng tạo thực thụ Tuy nhiên không nên tạo ra sự ngăn cách có tính giả tạo giữa giọng điệu trong đời sống thường

Trang 30

ngày với giọng điệu văn chương Trong văn học giọng điệu cũng mang đặc tính âm thanh Khi nói về giọng điệu M Bakhtin lại sử dụng khái niệm golos (với ý nghĩa giọng – phát ngôn âm thanh mang tính cảm xúc, thái độ, lập

trường của chủ thể) Theo Nguyễn Đăng Điệp trong cuốn Giọng điệu trong thơ trữ tình cho rằng: “Giọng điệu biểu thị thái độ, cảm xúc, tư thế của chủ thể phát ngôn qua lời văn nghệ thuật” Bản thân hai chữ giọng điệu trong tiếng Việt là một từ ghép trên cơ sở hai thành tố “giọng” và “điệu” Nếu như

“giọng” chủ yếu biểu thị mặt âm thanh “khí lực” của người nói thì “điệu” chủ

yếu biểu thị đường nét, màu sắc của giọng Sự kết hợp của hai yếu tố này

không phải là sự kết hợp “cộng sinh” mà là sự kết hợp để mang nội dung

khác, hoàn chỉnh [3, tr.33 – 34]

Hai quan niệm trên đều có điểm tương đồng Tuy nhiên quan niệm thứ hai phù hợp với đề tài của chúng tôi, chính vì vậy chúng tôi chọn quan niệm này làm cơ sở lí luận cho đề tài

1.4.2.2 Chất giọng Huế

Trong bài “Các đặc điểm ngữ âm của tiếng Huế”, Phó giáo sư Vương Hữu Lễ đã nêu ra những đặc điểm nổi bật của tiếng Huế như sau:

+ Thứ nhất: Những khoảng cách phân biệt các thanh điệu là nhỏ bé, cao

độ thì không bổng quá cũng chẳng trầm quá, khiến cho giọng nói nghe đều đều, đơn điệu

+ Thứ hai: Sự chuyển hoá âm lại có xu hướng thu hẹp độ mở, làm giảm

đi âm lượng khiến cho độ vang sút kém

+ Thứ ba: Sự chuyển hoá phụ âm đầu tắc, xát làm cho cường độ của âm tiết yếu đi

+ Thứ tư: Các phụ âm cuối lợi được thay bằng các âm mạc khiến cho giọng nói không bị dằn mạnh

Tất cả những đặc điểm đó tạo ra một hiệu quả âm học chung là “nhỏ nhẹ”,

Trang 31

một từ khá chân xác thường được người ở các vùng khác dùng để miêu tả tiếng Huế theo sự cảm nhận bình thường của họ

Như vậy, dựa theo Từ điển tiếng Việt và công trình nghiên cứu của Phó

giáo sư Vương Hữu Lễ, chúng tôi quan niệm rằng: nếu giọng điệu là yếu tố mang tính cá nhân th́ chất giọng là đặc điểm chung về mặt phát âm của một vùng miền

Phải chăng đặc trưng “nhỏ nhẹ” của tiếng Huế một phần nào là do hoàn

cảnh xã hội đặc biệt của Huế Phú Xuân xưa đã từng là thủ phủ của các chúa Nguyễn trong khoảng 200 năm, và Huế là kinh đô của một triều đại phong kiến lớn nhất trong lịch sử nước ta từ đầu thế kỷ XIX Ở đây, con vua cháu chúa rất nhiều, quan lại lớn nhỏ cũng không ít, chắc chắn cách sinh hoạt của tầng lớp quý tộc thượng lưu đó – trong đó có cách ăn nói của họ – đã gây một ảnh hưởng đáng kể Nhà vua, với quyền uy tối thượng của mình, chẳng cần phải lớn tiếng; quan lại Huế về phần mình thì không dám nói to và nhanh trước mặt vua hay với cấp trên Các ông quan ở những địa phương xa kinh đô

thì có thể “hét ra lửa” với con dân của mình, nhưng về Huế chắc cũng phải

ăn nói từ tốn Huống chi ở đây “tai vách mạch rừng”, các quan cũng như dân

chúng khi trò chuyện chỉ nói vừa đủ nghe, sợ có khi lỡ lời phạm phải tội khi quân mà mang hoạ vào thân Mặt khác, vì Huế là nơi ăn ở của vua chúa, nên

sự yên tĩnh là một yêu cầu mặc nhiên: yên tĩnh để cho họ làm việc, nghỉ

ngơi…và “ồn ào như giặc” sẽ làm mất vẻ trang nghiêm, tôn kính của đất thần

kinh

Những điều kiện ràng buộc đó “lâu ngày chầy tháng” làm thành một thói quen ăn nói “nhỏ nhẹ” và được xem như một khía cạnh của quan niệm chung về phong thái lịch sự riêng biệt của chốn đế đô Giọng nói “nhỏ nhẹ”

đó, tuy không phù hợp với tính cách của một công cụ truyền thông đại chúng (điều này cũng được chính người Huế xác nhận bằng cảm quan của mình),

Trang 32

nhưng chẳng những nó không bị ngăn cản mà còn tỏ ra có đầy khả năng trong việc sử dụng nó như một phương tiện hữu hiệu của một loại hình diễn xướng: ngâm thơ Có những người, trong số đó có người nói phương ngữ khác, đã dùng giọng Huế để ngâm thơ và họ rất thành công

Vì giọng ngâm Việt Nam, nói chung thiên về sắc thái trầm buồn, kể cả khi trình bày những dòng thơ hùng tráng Phải chăng nhờ những đặc trưng

ngữ âm “nhỏ nhẹ” mà giọng Huế đã tỏ ra thích ứng đặc biệt với phong cách

ca ngâm của dân tộc ta? Nếu vậy, ta có thể đồng tình với ý kiến cho rằng khi đưa những vở kịch thơ lên sân khấu, thì quả thật giọng Huế được sử dụng và tác dụng mĩ cảm có thể không thua kém gì mấy so với giọng Hà Nội Đó là một ưu điểm của tiếng Huế cần được lưu ý

Trang 33

Chương 2

KHẢO SÁT TIẾNG HUẾ TRONG CÁC BÀI THƠ VIẾT VỀ HUẾ CỦA

TỐ HỮU 2.1 Từ địa phương xứ Huế trong các bài thơ viết về Huế của Tố Hữu 2.1.1 Kết quả khảo sát, thống kê

Là người con của đất Huế, từ địa phương và chất giọng Huế đã đi vào thơ Tố Hữu rất tự nhiên Qua việc khảo sát toàn bộ sự nghiệp thơ ca của ông, chúng tôi đã thống kê được 25 bài thơ viết về con người và cảnh vật đặc trưng của xứ Huế Ngoài ra, Tố Hữu còn sử dụng từ địa phương Huế trong nhiều bài thơ viết về những chủ đề khác nhau, nhưng điều đó nằm ngoài phạm vi đề tài của chúng tôi Chính vì vậy, bảng thống kê dưới đây chúng tôi chỉ trích

dẫn những từ địa phương Huế trong các bài thơ viết về Huế của ông

* Bảng thống kê từ địa phương Huế trong những bài thơ viết về Huế của Tố Hữu

Những từ địa phương Huế trong bảng thống kê đã được kiểm chứng bởi

Từ điển tiếng Huế - Người Huế - Văn hóa Huế của Bùi Minh Đức đăng trên trang www.huexuavanay.com

Từ loại Phương ngữ Huế Từ toàn dân tương đương Số lần

Trang 34

Danh từ rú rừng 1

Danh từ từng không tầng không 1 Danh từ xanh chiến khu 1

Trang 35

2.1.2 Sự thay đổi về mặt ngữ âm của tiếng Huế trong các bài thơ viết về Huế của Tố Hữu

Tiếp xúc với thơ Tố Hữu, người đọc dễ dàng nhận ra một hệ thống từ biến âm thể hiện khá rõ nét đặc trưng ngôn ngữ của người dân xứ Huế so với người dân ở các vùng miền khác Hệ thống từ biến âm này được lặp lại khá thường xuyên trong ý thức sử dụng ngôn ngữ của Tố Hữu, góp phần làm cho

những bài thơ viết về Huế của ông “đậm đà chất Huế”

Qua kết quả khảo sát từ địa phương Huế trong những bài thơ Viết về Huế của Tố Hữu, chúng tôi đã thống kê được một số biến thể Trong mục này, chúng tôi sẽ phân tích những biến thể đó so với từ toàn dân về mặt ngữ âm (thanh điệu, phụ âm đầu, phần vần) Những biến thể chúng tôi phân tích dưới đây, có một số biến âm không theo quy luật nào, mà đơn giản chỉ dựa vào cách phát âm rất riêng của người Huế mà chỉ có Tố Hữu đưa được vào trong thơ Ngoài ra cũng có những biến thể mang đặc điểm của phương ngữ Bắc và phương ngữ Nam Điều này thể hiện sự linh hoạt trong việc sử dụng vốn phương ngữ của tác giả Và cũng chứng minh rằng, dù đã trải qua hàng trăm năm, song những gì mà người Việt đem theo trong quá trình mở cõi về phía Nam, ngoài gia đình, vật dụng, thói quen ra thì vẫn còn đâu đó dấu vết của phương ngữ vùng đất tổ đã theo chân con người vào Nam lập nghiệp sinh sống

a) Thanh điệu

Như đã trình bày ở phần lí luận, Thừa Thiên - Huế có 5 thanh điệu, trong

đó thanh hỏi và thanh ngã nhập làm một Điều này giống với phương ngữ Nam Tuy nhiên sự sát nhập này chỉ để thể hiện trong giao tiếp, chứ không ảnh hưởng đến cấu tạo từ Dưới đây là một số trường hợp biến đổi thanh điệu

mà chúng tôi khảo sát được trong những bài thơ viết về Huế của Tố Hữu + Thanh huyền biến thành thanh không: gì / chi; mày / mi; vào / vô

Trang 36

Ví dụ 1: Nhưng kể làm chi nữa bạn lòng ơi! [16, tr.22]

Từ “gì” hay “chi” đều dùng để chỉ sự vật, sự việc, hiện tượng nào đó

không rõ (thường dùng để hỏi)

Ví dụ 2: Mẹ cười: Thiệt giống cha mi [16, tr.405]

Từ “mày” hay “mi” đều có nghĩa để gọi người ngang hàng hoặc hàng

dưới khi nói với người ấy, tỏ ý thân mật hoặc coi thường, coi khinh

Ví dụ 3: Bữa mô mời bạn vô chơi Huế [16, tr.251]

Từ “vào” hay “vô” đều chỉ sự di chuyển đến một vị trí ở phía trong, hẹp

hơn, hoặc phía Nam trong phạm vi nước Việt Nam

+ Thanh không biến thành thanh huyền: Nay / rày

Ví dụ: Sống rày đây mai đó [16, tr.24]

“Nay” hay “rày” đều dùng để chỉ thời gian hiện tại, phân biệt quá khứ

hoặc tương lai

+ Thanh huyền biến thành thanh sắc: rừng / rú

Ví dụ: Khi con hổ thênh thang trong rú rậm [16, tr.69]

“Rừng” hay “rú” đều có nghĩa chỉ những nơi có cây cối rậm rạp

b) Phụ âm đầu

Biến thể phụ âm đầu của phương ngữ miền Trung rất phong phú, chúng

ta không chỉ gặp trong lời ăn tiếng nói hằng ngày mà còn được phản ánh trong các tác phẩm văn học Qua việc khảo sát những bài thơ viết về Huế của Tố Hữu Chúng tôi tìm thấy các biến thể phụ âm đầu sau:

+ Phụ âm “gi –> ch”: gì / chi

Ví dụ: Hỏi mà chi em hỡi [16, tr.24]

+ Phụ âm “n–> r”: này, nay / rày

Ví dụ: Từ ấy xa quê mẹ đến rày [16, tr.232]

+ Phụ âm “l –> r”: luồng che / ruồng che

Ví dụ: Đâu ruồng che mát thở yên vui [16, tr.76]

Trang 37

+ Phụ âm “b –> ch”: ba / cha

Ví dụ: Đêm nằm hỏi mẹ: Cha đâu? [16, tr.402]

+ Phụ âm: “th –> b”: lang thang / lang bang

Ví dụ: Ngày xưa khoai sắn sống lang bang [16, 164]

Biến thể nguyên âm đơn

Qua kết quả khảo sát, chúng tôi thống kê biến thể nguyên âm đơn có một

số trường hợp sau:

+ Nguyên âm “ư – ơ”: gửi / gởi

Ví dụ: Nàng gởi con về nương xóm cũ [16, tr.31]

+ Nguyên âm “â –> ư”: tầng không / từng không

Ví dụ: Đôi con diều sáo lộn nhào từng không [16, tr.75]

+ Nguyên âm “â –> ơ”: ân nghĩa / ơn ngãi

Ví dụ: Nặng biết bao ơn ngãi [16, tr.368]

Biến thể từ nguyên âm đơn thành nguyên âm đôi

+ Nguyên âm “â –> iê”: thật thà / thiệt thà

Ví dụ: Khoai sắn tình quê rất thiệt thà [16, tr.76]

+ Nguyên âm “ô –> ươ”: mai hồng / mai hường

Ví dụ: Những buổi mai hường nắng mới tinh [16, tr.164]

+ Nguyên âm “a –> ươ”: đang chín / đương chín

Ví dụ: Lúa xuân đương chín, trái cây ngọt dần [16, tr.75]

+ Nguyên âm “ư –> ươ”: tiếng chửi / tiếng chưởi

Ví dụ: Tiếng chưởi mắng vẫn phun hoài nhục nhã! [16, tr.27]

Ngày đăng: 09/05/2021, 17:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w