1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiềm năng và hiện trạng phát triển cây công nghiệp huyện đắk hà, tỉnh kon tum

76 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Huyện Đắk Hà là một địa phương có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển CCN, vì vậy trong những năm gần đây CCN ở huyện được chú trọng đầu tư và phát triển, đem lại hiệu quả kinh tế ca

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA ĐỊA LÝ



NGUYỄN THỊ DUNG

Tiềm năng và hiện trạng phát triển cây công

nghiệp huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

SƯ PHẠM ĐỊA LÝ

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Bằng tất cả lời kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các thầy cô giáo trong khoa Địa Lý, đặc biệt là thầy Trương Văn Cảnh đã tận tình, giúp đỡ, chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian làm và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Qua đề tài này tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Phòng Tài nguyên môi trường, Cục thống kê…huyện Đắk Hà đã tạo điều kiện giúp đỡ về nguồn số liệu, tài liệu để hoàn thành đề tài này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót

và hạn chế, rất mong nhận được sự góp ý, bổ sung của quý thầy cô và các bạn để đề tài của tôi hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2013 Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Dung

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

Trang

Bảng 1.1: Diện tích trồng một số cây công nghiệp lâu năm của tỉnh

Kon Tum giai đoạn 2005 – 2009 ……… 29

Bảng 1.2: Diện tích trồng cây công nghiệp lâu năm của tỉnh Kon Tum phân

theo huyện, thành phố……… 29

Bảng 1.3: Sản lượng một số cây công nghiệp lâu năm của tỉnh Kon Tum……… 30

Bảng 1.4: Diện tích cây công nghiệp hàng năm phân theo huyện, thành phố giai đoạn 2005 – 2009……… 31

Bảng 1.5: Diện tích một số cây công nghiệp hàng năm chủ yếu của tỉnh Kon Tum giai đoạn 2005 – 2009 ……… 32

Bảng 1.6: Sản lượng một số cây công nghiệp hàng năm của tỉnh Kon Tum 32

Bảng 2.1: Diện tích, dân số và mật độ dân số huyện Đắk Hà năm 2010…… 34

Bảng 2.2: Dân số trung bình năm 2000 – 2010 phân theo giới tính và phân theo thành thị - nông thôn……… 38

Bảng 2.3: Diện tích đất trồng cây công nghiệp huyện Đắk Hà phân theo nhóm thời kì 2000 – 2010 ……… 44

Bảng 2.4: Tổng diện tích và sản lượng cây công nghiệp huyện Đắk Hà……… 45

Bảng 2.5: Tình hình sản xuất cây công nghiệp lâu năm của huyện Đắk Hà thời kì 2000 – 2010……… 46

Bảng 2.6: Diện tích một số cây công nghiệp lâu năm của huyện Đắk Hà… 47

Bảng 2.7: Tình hình phát triển cây cà phê huyện Đắk Hà từ năm 2000-2010… 48

Bảng 2.8: Diện tích sản xuất cà phê phân theo xã thời kì 2000 – 2010……… 50

Bảng 2.9: Tình hình sản xuất cây cao su huyện Đắk Hà từ năm 2000-2010… 52

Bảng 2.10: Tình hình sản xuất cây công nghiệp hàng năm của huyện Đắk Hà thời kì 2000 – 2010……… 54

Trang 4

Bảng 2.12: Tình hình sản xuất mía của huyện Đắk Hà từ 2000 – 2010………… 56

Bảng 2.13: Tình hình sản xuất lạc của huyện Đắk Hà từ năm 2000-2010…… 58

Bảng 3.1: Quy hoạch, sử dụng đất ở huyện Đắk Hà……… 63

DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Trang

- Bản đồ hành chính huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum

- Bản đồ hiện trạng phát triển cây công nghiệp của huyện Đắk Hà

Biểu đồ 2.1: Cơ cấu diện tích các loại cây công nghiệp lâu năm của huyện

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI

1 CCN : Cây công nghi ệp

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài người, NN là ngành sản xuất ra đời sớm nhất Không những thế, NN còn là ngành sản xuất có vai trò cực kì quan trọng đối với đời sống con người, ảnh hưởng tới quá trình tồn tại và phát triển của xã hội NN góp phần quan trọng vào việc đảm bảo lương thực thực phẩm, là nguồn nguyên liệu cho ngành CN chế biến, tạo việc làm cho người lao động và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị

Trong NN bao gồm 2 phân ngành chính là trồng trọt và chăn nuôi, trong đó trồng trọt là nền tảng của sản xuất NN Và theo giá trị sử dụng cây trồng được phân ra các nhóm: cây lương thực, cây CN, cây ăn quả…hiện nay CCN ngày càng được chú trọng phát triển nhờ vào điều kiện phát triển và giá trị kinh tế của nó

Nhìn chung, trong những năm gần đây CCN ở nước ta được chú trọng đầu tư và phát triển, vì vậy tăng cả về diện tích, năng suất và sản lượng Tuy nhiên, bên cạnh sự gia tăng nhanh chóng như vậy thì sự phát triển CCN ở nước ta cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức từ trong nước cũng như từ thị trường bên ngoài Đây

là vấn đề đòi hỏi phải có các biện pháp giải quyết nhanh chóng và kịp thời

Huyện Đắk Hà là một địa phương có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển CCN, vì vậy trong những năm gần đây CCN ở huyện được chú trọng đầu tư và phát triển, đem lại hiệu quả kinh tế cao, là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo và ổn định cuộc sống cho người dân trên địa bàn huyện Bên cạnh những hiệu quả mà CCN mang lại thì địa phương vẫn gặp phải rất nhiều khó khăn và hạn chế đặc biệt trong quản lí, kĩ thuật chăm sóc hay sự lạc hậu về giống cây trồng Nhìn chung, sự phát triển CCN chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của địa phương

Bản thân tác giả nhận thấy rằng vấn đề tìm ra giải pháp và định hướng cụ thể để phát triển CCN trên địa bàn huyện Đắk Hà trong những năm tới là quan trọng và cần thiết Đồng thời tác giả cũng đã thấy được tầm quan trọng từ sự phát triển CCN đối

Trang 7

với việc phát triển kinh tế-xã hội của địa phương Do đó, tác giả chọn đề tài: “ Tiềm

năng và hiện trạng phát triển cây công nghiệp huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum” làm

khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn về CCN, phân tích tiềm năng và hiện trạng CCN của huyện Đắk Hà, từ đó đưa ra định hướng và giải pháp để phát triển CCN trên địa bàn huyện

1.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục tiêu trên, đề tài thực hiện những nhiệm vụ như sau:

- Tổng quan cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển cây công nghiệp

- Phân tích và đánh giá những tiềm năng và hiện trạng phát triển cây công nghiệp trên địa bàn huyện Đắk Hà

- Đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm phát triển cây công nghiệp tại huyện Đắk Hà đến năm 2020

3 Giới hạn của đề tài

- Về nội dung: đề tài đi vào đánh giá những tiềm năng phát triển cây công nghiệp, tìm

hiểu hiện trạng phát triển cây công nghiệp ở huyện Đắk Hà

- Thời gian nghiên cứu: đề tài nghiên cứu chủ yếu trong giai đoạn từ năm 2000–

2010 Định hướng phát triển đến năm 2020

- Phạm vi lãnh thổ: nghiên cứu hiện trạng phát triển cây công nghiệp trên phạm vi

lãnh thổ xác định là huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum

4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong thực tế trên thế giới đã có nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu về sự phát triển và phân bố CCN, cũng như các điều kiện phát triển CCN, nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành NN nói chung và CCN nói riêng Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về sự phát triển, phân bố cũng như điều kiện phát triển CCN nói chung trong những năm gần đây phát triển mạnh mẽ và được nhiều người quan tâm Nhiều tài liệu

đề cập đến vấn đề này như:

- “Địa lý kinh tế xã hội Việt Nam”, Lê Thông (chủ biên) – NXB GD, năm 2002

Trang 8

- “Cơ sở địa lý kinh tế-xã hội”, Bùi Văn Loãn – NXB GD, năm 1983

Nhìn chung, các tài liệu này đã đưa ra được một số vấn đề khái quát về điều kiện phát triển, sự phát triển và phân bố CCN ở nước ta tạo điều kiện cho việc đi sâu vào nghiên cứu điều kiện, sự phát triển và phân bố CCN trên cả nước, đáp ứng nhu cầu phát triển nền kinh tế trong thời kì đổi mới hiện nay

Tại huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum các đề tài nghiên cứu về sự phát triển và phân

bố của các loại CCN nói riêng như cây cao su, cà phê, tiêu… còn khá ít, vì vậy đề tài :

“ Tiềm năng và hiện trạng phát triển cây công nghiệp huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum” vừa kế thừa cơ sở lí luận chung từ các tài liệu trước, vừa đi sâu vào nghiên cứu

tiềm năng và những đặc điểm nổi bật trong sự phát triển CCN trên địa bàn huyện Đắk

Hà Từ đó, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm trong tổ chức quản lí, cũng như định hướng và giải pháp nhằm phát triển tại huyện Đắk Hà nói riêng và các địa phương khác nói chung

5 Quan điểm nghiên cứu

a Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

Khi nghiên cứu địa lý địa phương, quan điểm này được vận dụng để phát hiện các cấu trúc bên trong và động lực của nó Quan điểm này được vận dụng sau khi phân tích hoạt động của từng thành phần để đi đến phác họa một tổng thể trên một lãnh thổ nghiên cứu cùng với các mối quan hệ qua lại tác động lẫn nhau

Bên cạnh đó, sự phân hóa về tự nhiên, KT – XH địa phương có một ý nghĩa đặc biệt trong nghiên cứu Các hệ thống tự nhiên, KT – XH lại có sự khác biệt cả về ngoại diện và nội hàm nhưng chúng lại có mối quan hệ gắn bó với nhau trong một chừng mực nhất định Nghiên cứu những khác biệt này nhằm phát hiện ra các mối quan hệ hữu cơ trong một tổng thể đã được phân hóa hoặc đang trên đường phân hóa sang một thể thống nhất đa dạng

Vì vậy, khi nghiên cứu về tiềm năng và hiện trạng phát triển CCN trên địa bàn huyện Đắk Hà, khảo sát các yếu tố tự nhiên và KT – XH về mặt địa lý cần quan tâm đến sự phân hóa lãnh thổ theo không gian thể hiện ở sự khác biệt trội lên ở các hợp phần tự nhiên, KT – XH Xác định được các nét đồng nhất trong sự tham gia của các yếu tố, các ngành kinh tế ở đơn vị cấp dưới gần kề với cơ cấu chung của huyện

b Quan điểm hệ thống

Trang 9

Theo quan điểm này, địa lý địa phương là một hệ thống bao gồm cả tự nhiên và

KT – XH Nếu xét về mặt tự nhiên, có thể tồn tại các hệ thống cấp thấp hơn bao gồm các hệ thống địa hình, khí hậu, đất đai…Nếu xét về mặt KT – XH cũng tồn tại những địa hệ KT – XH Trong mỗi địa hệ và giữa các địa hệ với nhau đều có mối quan hệ

tương tác qua lại lẫn nhau

Khi nghiên cứu địa lý địa phương thì cần nghiên cứu hiện tượng đó một cách toàn diện, trên nhiều mặt dựa vào việc phân tích đối tượng thành các bộ phận Như vậy, nghiên cứu khoa học địa lý theo quan điểm hệ thống cho phép nhìn nhận một cách sâu sắc, toàn diện, khách quan về sự vật hiện tượng địa lý, thấy được mối quan

hệ của hệ thống với các đối tượng khác trong hệ thống lớn hơn Khi nghiên cứu về CCN tại huyện Đắk Hà phải đặt nó trong hệ thống cây trồng của tỉnh Kon Tum, bởi trong hệ thống đó CCN là một thành phần, một yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ với

các yếu tố và thành phần khác trong hệ thống

c Quan điểm lịch sử - viễn cảnh

Mọi sự vật, hiện tượng đều không ngừng vận động và biến đổi theo không gian

và thời gian, tức là chúng luôn ở trạng thái động Vấn đề sản xuất CCN của huyện Đắk Hà không nằm ngoài quy luật đó Vì vậy, đề tài xem xét việc sản xuất CCN ở huyện Đắk Hà trong từng giai đoạn cụ thể và đặt trong mối quan hệ với những thay đổi về chính sách phát triển KT – XH trong từng thời kỳ nhất định Từ đó đánh giá những khả năng, triển vọng của ngành này để đề ra những phương hướng và giải pháp phát triển trong tương lai

d Quan điểm sinh thái

Quan điểm này có ý nghĩa đặc thù trong nghiên cứu địa lý địa phương Nó đòi hỏi phải bám sát hiện thực khách quan với những sự kiện phức tạp, diễn biến đa dạng, nhiều khuynh hướng khác nhau, trong đó chứa nhiều mâu thuẫn cần giải quyết

Với địa lý địa phương là khám phá ra hiện thực, tìm ra bản chất, quy luật phát triển để cải tạo chúng phục vụ cho lợi ích của toàn xã hội Thấy được ảnh hưởng của

tự nhiên, mối tác động qua lại giữa tự nhiên và con người, đặc biệt giữa con người với việc sử dụng khai thác tự nhiên, phá hủy và tái tạo hệ địa lý tự nhiên

Con người được coi là chủ thể trong hoạt động sản xuất và tiêu dùng, tác động đến hệ thống môi trường nhằm đạt được hiệu quả lao động trong các địa hệ sinh thái

Trang 10

tại trong một miền, nên việc nghiên cứu làm sao để phát triển sản xuất và duy trì môi trường sinh thái bền vững là vấn đề rất quan trọng Chính vì vậy, chúng ta phải đánh giá tác động của các hoạt động do con người tạo ra cho môi trường để có hướng điều chỉnh cho phù hợp

6 Phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp thực địa

Trong nghiên cứu địa lý tự nhiên cũng như địa lý KT – XH, phương pháp thực địa với nghiên cứu thực tế các đối tượng trong địa hệ nghiên cứu được coi là phương pháp chính đưa lại hiệu quả tích cực nhất Phương pháp này chủ yếu là quan sát, tìm hiểu, nghiên cứu thực tế các đối tượng

Với đề tài này, tôi đã tiến hành quan sát, tìm hiểu thực tế ở huyện Đắk Hà để kiểm nghiệm và chứng minh những nhận định cũng như các số liệu thống kê và những đánh giá nghiên cứu ở nhiều khía cạnh Đồng thời, kiểm nghiệm trên thực tế một số

giải pháp đề xuất trên cơ sở những định hướng cụ thể của huyện

b Phương pháp thu thập tài liệu

Do thời gian nghiên cứu có hạn, địa bàn nghiên cứu khá rộng, nên đây là phương pháp được sử dụng khá nhiều trong quá trình thực hiện đề tài Các số liệu thống kê cần thiết bao gồm: điều kiện tự nhiên và KT – XH của huyện, thực trạng phát triển và phân

bố các CCN chính, các định hướng và giải pháp phát triển CCN trong tương lai

Các nguồn tài liệu này được tác giả thu thập từ: Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Phòng Tài nguyên và môi trường, Cục thống kê, các bài báo nghiên cứu về CCN của huyện trong các tạp chí chuyên ngành, các giáo trình, sách tham khảo, luận văn có liên quan đến tìm hiểu về CCN, các website chuyên ngành, địa phương

c Phương pháp xử lí, phân tích, tổng hợp nguồn tài liệu

Sau khi thu thập tài liệu và số liệu, tác giả tiến hành tổng hợp, phân tích và so sánh tài liệu để phù hợp với mục đích nghiên cứu Nguồn tài liệu thu thập được có ở nhiều dạng khác nhau, tuy nhiên do đặc điểm nguồn tài liệu ở địa phương thường không đầy đủ, thiếu đồng bộ, độ chính xác không cao Vì vậy việc xử lí số liệu thô thành số liệu tinh, rút ra những nhận xét chính xác về tự nhiên, KT – XH của địa phương cần phải thống nhất về nguồn tài liệu, tốt nhất nên lấy tài liệu từ một nguồn trên cơ sở tham khảo tài liệu từ các nguồn khác Và các tài liệu thu thập được đã được

Trang 11

tác giả nghiên cứu, xử lý, phân tích, tổng hợp thành bảng số liệu, hoặc để chứng minh cho các nhận định

d Phương pháp thống kê toán học

Hiện nay, phương pháp này đang được sử dụng ngày càng nhiều, nó mô tả rõ ràng nhiều hiện tượng, và ngôn ngữ toán học phổ cập hơn do tính chất logic nội tại và

do khả năng vận dụng của toán học

Với đề tài này, phần lớn sử dụng các phương pháp thuộc lĩnh vực xác suất thống kê để phân tích, xử lí số liệu giúp cho người đọc có cách nhìn trực quan nhất

về những biến động của đối tượng nghiên cứu

e Phương pháp bản đồ, biểu đồ

Tất cả các quá tŕnh nghiên cứu địa lý đều bắt đầu từ bản đồ và kết thúc bằng bản

đồ Trong nghiên cứu việc sử dụng bản đồ được vận dụng trong tất cả các khâu từ phân tích, xử lí số liệu, biên tập bản đồ, lựa chọn các phương pháp biểu hiện nhằm so sánh, đối chiếu, phân tích, đánh giá các bản đồ để xác định sự phân bố của các đối tượng, hiện tượng nghiên cứu trong không gian.Trong đề tài này, tác giả sử dụng bản

đồ để tìm hiểu thực trạng phát triển và phân bố CCN

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, các bảng phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận được chia làm 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Tiềm năng và hiện trạng phát triển CCN huyện Đắk Hà

Chương 3: Định hướng và giải pháp để phát triển cây công nghiệp trên địa bàn huyện Đắk Hà đến năm 2020

Trang 12

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Vai trò, đặc điểm của cây công nghiệp

a Vai trò của cây công nghiệp

Cây công nghiệp hay còn gọi là cây kĩ thuật để chỉ mục đích và tính chất của việc gieo trồng các cây này nhằm cung cấp nguyên liệu cho CN chế biến nông sản Việc đẩy mạnh sản xuất CCN sẽ phát huy hiệu quả của nền sản xuất NN và mang lại giá trị kinh tế lớn

Trước hết sản xuất CCN góp phần sử dụng hợp lý hơn tài nguyên đất, khí hậu và nước Việc sử dụng hợp lí tài nguyên đất, nước, khí hậu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp CCN lâu năm thường phân bố

ở vùng miền núi và trung du, CCN ngắn ngày thường tập trung ở vùng đồng bằng Việc phát triển CCN sẽ nâng cao hệ số sử dụng đất

Tài nguyên khí hậu với lượng bức xạ, lượng ẩm đặc trưng của mỗi miền là cơ sở cho các CCN có điều kiện sinh thái phù hợp phát triển Như vậy xu hướng phát triển CCN sẽ đa dạng hoá cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp, góp phần sử dụng hợp lí tài nguyên nông nghiệp, thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở những vùng khó khăn

Sản phẩm của CCN dùng làm nguyên liệu cho CN chế biến, đặc biệt là CN nhẹ

và CN thực phẩm

Ví dụ: Cây đậu tương là nguyên liệu để sản xuất dầu thực vật, là nguyên liệu chế biến thức ăn hỗn hợp nhiều đạm cho gia súc gia cầm theo hướng CN Cây mía là nguyên liệu cho CN mía đường Sản xuất đường từ mía hiện nay chiếm 60% sản lượng đường thế giới

Phát triển CCN còn khắc phục được tính mùa vụ, phá thế độc canh và góp phần bảo vệ môi trường Một đặc điểm của sản xuất nông nghiệp là tính mùa vụ, việc phát triển CCN sẽ từng bước đa dạng hoá cây trồng, lấp kín dần khoảng thời gian trống, thời gian nông nhàn của người nông dân Trồng CCN góp phần tăng cường giữ ẩm,

Trang 13

hạn chế hạ thấp mực nước ngầm, chống xói mòn, rửa trôi đất, bảo vệ được nguồn nước, bảo vệ độ che phủ mặt đất tối ưu Từ đó bảo vệ môi trường sinh thái nâng cao năng suất các loại cây trồng khác

Phát triển CCN tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động So với cây lương thực, các loại cây này cần lao động có kĩ thuật, kinh nghiệm sản xuất và sử dụng nhiều lao động Hầu hết các loại CCN đặc biệt là cây lâu năm đều đòi hỏi nhiều lao động Phát triển CCN ở vùng núi và trung du còn góp phần thay đổi tập quán sản xuất truyền thống, lạc hậu sang tập quán sản xuất mới cho đồng bào các dân tộc ít người

Thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển nhất là CN chế biến và các dịch vụ nông nghiệp như cung ứng vật tư phân bón, thuốc trừ sâu

Sản phẩm CCN trở thành mặt hàng xuất khẩu quan trọng, mang lại nguồn thu lớn về ngoại tệ

b Đặc điểm của cây công nghiệp

CCN đòi hỏi quy trình kỹ thuật cao từ khâu sản xuất, bảo quản và chế biến để đáp ứng yêu cầu của công nghiệp về mặt chất lượng Giá trị sản phẩm của CCN sẽ tăng lên nhiều lần sau khi được chế biến Vì thế, trong vùng trồng cây CCN thường xuất hiện xí nghiệp chế biến

CCN đòi hỏi về điều kiện tự nhiên khắt khe hơn vì vậy phải có sự bố trí sản xuất phù hợp với điều kiện tự nhiên Đa phần CCN là cây ưa nhiệt, ưa ẩm, đòi hỏi biên độ sinh thái hẹp

CCN nhất là CCN lâu năm cần có vốn đầu tư lớn trong thời ḱì xây dựng cơ bản, do vậy có chu kỳ kinh doanh dài, thời gian thu hồi vốn cũng dài Chẳng hạn như trồng cây cao su phải mất 7 năm mới được thu hoạch và những năm đầu sản lượng còn thấp

CCN đòi hỏi tŕnh độ thâm canh cao, lao động có kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất

1.1.2 Phân loại cây công nghiệp

Có nhiều cách phân loại CCN dựa vào các tiêu chí và mục đích khác nhau

- Căn cứ vào thời gian gieo trồng và thu hoạch, CCN được chia thành hai nhóm: + Nhóm cây hàng năm hay là cây ngắn ngày có chu ḱì từ lúc gieo trồng đến khi thu hoạch dưới một năm (như đay, cói, lạc, mía, thuốc lá, đậu tương)

Trang 14

+ Nhóm cây lâu năm hay gọi chung là CCN dài ngày, có chu ḱì kinh doanh dài, trồng một lần, thu hoạch (nhựa, lá, hoa quả) nhiều năm như cao su, chè, cà phê, ca cao, hồi quế, hồ tiêu, điều

- Căn cứ vào công dụng kinh tế của sản phẩm, người ta phân CCN thành các nhóm như :

+ Các cây lấy đường : mía, củ cải đường, thốt nốt

+ Các cây lấy sợi : bông, đay, gai, lanh, dứa sợi

+ Các cây lấy dầu : dừa, lạc, đậu tương, cọ dầu, hướng dương, ô liu

+ Các cây lấy nhựa : cao su, thông, sơn

+ Các cây cho chất kích thích : chè, cà phê, ca cao

- Ngoài ra căn cứ vào đặc điểm sinh thái, người ta chia ra nhóm CCN ôn đới, cận

nhiệt, nhiệt đới

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển và phân bố cây công nghiệp

a Các nhân tố tự nhiên

Vị trí địa lý

Vị trí địa lý của lãnh thổ với đất liền, với biển, với các quốc gia trong khu vực và nằm trong một số đới tự nhiên nhất định sẽ có ảnh hưởng tới phương hướng sản xuất, tới việc trao đổi và phân công lao động trong NN Nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa ẩm đã quy định nền NN nước ta là nền NN nhiệt đới, nên CCN của nước

ta là các CCN nhiệt đới như: cao su, cà phê, mía…và do đó mà các sản phẩm CCN

trao đổi trên thị trường thế giới là sản phẩm của nền nông nghiệp nhiệt đới

Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên là tiền đề cơ bản để phát triển và phân bố cây công nghiệp

- Địa hình

Địa hình có ảnh hưởng đến quy mô và cơ cấu các loại cây công nghiệp Những nơi có địa hình bằng phẳng, đất đai rộng lớn tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp với quy mô lớn Đặc biệt các loại cây công nghiệp thường phân bố ở các khu vực địa hình trung du và các bán bình nguyên bằng phẳng rộng lớn đất đai màu mỡ

- Khí hậu

Trang 15

Các yếu tố nhiệt độ, lượng mưa, ánh sáng, độ ẩm, chế độ gió…có ảnh hưởng rất lớn tới việc xác định cơ cấu cây trồng, thời vụ, khả năng xen canh tăng vụ và hiệu quả sản xuất cây công nghiệp ở từng địa phương Mỗi loại cây trồng chỉ thích hợp với những điều kiện khí hậu nhất định, nếu vượt qúa giới hạn cho phép chúng sẽ chậm phát triển thậm chí bị chết

Ví dụ: Lạc là cây trồng nhiệt đới phát triển thích hợp nhất ở nhiệt độ từ 25 - 340C giới hạn thấp nhất 150C, dưới 100C cây ngừng sinh trưởng và chết dần Độ ẩm: lạc ưa đất ẩm, độ ẩm trung bình 60-700C là tốt nhất, nếu độ ẩm tới 90-100% lạc sẽ úa vàng rồi chết Hay như cây cao su phát triển thích hợp nhất ở nhiệt độ 22-270C Nếu nhiệt

độ tăng lên trên 300C hoặc giảm xuống dưới 200C khả năng quang hợp giảm, xuống tới 100C cây ngừng sinh trưởng, đến 50C cây ngừng chảy nhựa và cành lá non chết, nếu xuống tới 2-30C cây chết hoàn toàn

Mặt khác các điều kiện thời tiết cũng gây khó khăn đáng kể cho sản xuất cây công nghiệp Hạn hán, bão, sương muối là những tai biến thiên nhiên gây thiệt hại không nhỏ đến năng suất, sản lượng cây trồng

- Thổ nhưỡng

Đất trồng là tư liệu sản xuất chủ yếu, là cơ sở để trồng trọt và chăn nuôi Đối với trồng cây công nghiệp thì đất đai không thể thiếu, mỗi loại CCN lại thích ứng với những loại đất cụ thể, các loại đất có ngưỡng sinh thái hẹp Qũy đất, cơ cấu sử dụng đất, các loại đất, độ phì của đất có ảnh hưởng đến quy mô, phương hướng sản xuất, cơ

cấu và sự phân bố CCN, mức độ thâm canh và năng suất cây trồng

Đất đai không chỉ là môi trường sống mà còn là nơi cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng (các chất khoáng trong đất như N, P, K, Ca, Mg và các nguyên tố vi lượng) Năng suất cây trồng phụ thuộc rất nhiều vào độ mùn trong đất, thành phần cơ giới, cơ cấu và tầng dày của đất Cây thường cho năng suất cao trên đất tơi xốp, thoát nước, thoáng khí, đủ ẩm, tầng canh tác dày và có những đặc tính vật lý, hóa học phù hợp ngược lại cây cho năng suất thấp khi đất chặt, chai cứng độ tơi xốp kém Kinh nghiệm dân gian ta đã chỉ rõ vai trò của đất đối với phát triển và phân bố nông nghiệp như đất nào – cây nấy; tấc đất – tấc vàng

- Nguồn nước

Nước có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, chất lượng cây trồng và hiệu quả sản

Trang 16

nông nghiệp trù phú, những nơi khan hiếm nước thì không thể phát triển được Các loại CCN cần nhiều nước nhưng lại sợ úng nước

Ở nước ta khí hậu thất thường, mùa mưa lượng nước tập trung quá lớn làm dư thừa nước, dễ gây ngập úng, mùa khô lại rất khan hiếm nước Điều này gây khó khăn cho sản xuất NN, đặc biệt là cho sự sinh trưởng và phát triển của các loại CCN Để khắc phục tình trạng thiếu nước trong mùa khô và tiêu nước trong mùa mưa, người ta

đã xây dựng các công trình thủy lợi, hồ chứa nước…để phục vụ tưới tiêu một cách

chủ động

Bên cạnh đó, nguồn nước ngầm rất quan trọng cho CCN nhất là mùa khô để khắc phục tình trạng khan hiếm nước Sự suy giảm nguồn nước ngọt là một nguy cơ đe dọa

sự tồn tại và phát triển nông nghiệp Do đó, chúng ta cần phải sử dụng một cách hợp

lý và tiết kiệm nguồn nước Bảo vệ môi trường nước, môi trường đất và bảo vệ rừng chính là bảo vệ sự tồn tại và phát triển nông nghiệp trong đó có cây công nghiệp

- Sinh vật

Sinh vật, trong tự nhiên xưa kia là cơ sở để tạo nên các giống cây trồng Sự đa dạng về thảm thực vật hay nói cách khác về loài cây, là tiền đề h́ình thành và phát triển các giống cây trồng và tạo khả năng chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với

điều kiện tự nhiên và sinh thái

b Các nhân tố kinh tế - xã hội

Dân cư, lao động và kinh nghiệm sản xuất

Nguồn lao động được coi là nhân tố quan trọng để phát triển theo chiều rộng như: mở rộng diện tích, khai hoang và theo chiều sâu như: thâm canh, tăng vụ So với cây lương thực, CCN cần lao động có kĩ thuật, có kinh nghiệm sản xuất và sử dụng nhiều lao động Số ngày dùng lao động trên một đơn vị diện tích trồng CCN thường gấp 2 đến 3 lần cây lương thực

Các cây công nghiệp đòi hỏi nhiều công chăm sóc nên cần nhiều lao động, lao động lại phải có trình độ cao và có kinh nghiệm chăm sóc do việc trồng và chăm sóc cây công nghiệp trải qua nhiều công đoạn phức tạp, lại sử dụng máy móc với trình độ hiện đại Người lao động có kinh nghiệm trong sản xuất cây công nghiệp sẽ nắm được các công đoạn sản xuất, quá trình sinh trưởng phát triển của cây và đặc biệt sẽ biết được các bệnh mà cây thường mắc phải cũng như cách phòng trị bệnh cho cây

- Cơ sở vật chất và khoa học công nghệ

Trang 17

Cơ sở vật chất và khoa học công nghệ thực sự trở thành đòn bẩy cho sự tăng trưởng và phát triển của các loại cây công nghiệp

Sự phát triển của các ngành kinh tế đặc biệt là công nghiệp chế biến, giao thông vận tải, các dịch vụ nông nghiệp sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của ngành trồng CCN, nâng cao năng suất cây trồng, đồng thời tăng cao giá trị các sản phẩm của CCN Nhờ những ứng dụng của tiến bộ KH – KT con người đã hạn chế được những ảnh hưởng của tự nhiên, chủ động hơn trong hoạt động sản xuất các loại CCN Đồng thời, tạo ra nhiều giống cây trồng mang lại năng suất và hiệu quả kinh tế cao, tạo điều kiện hình thành các vùng chuyên canh CCN Ngoài ra, các biện pháp kĩ thuật như: điện khí hóa, hóa học hóa, cơ giới hóa, thủy lợi hóa, sinh học hóa nếu được áp dụng rộng rãi thì năng suất trên một đơn vị diện tích và của một người lao động sẽ thực sự được nâng cao

- Nguồn vốn đầu tư và thị trường tiêu thụ

Tác động mạnh đến sản xuất cây công nghiệp và giá cả sản phẩm

Nguồn vốn có vai trò to lớn trong việc mở rộng, phát triển và phân bố các loại CCN nhất là đối với các nước đang phát triển như nước ta Nguồn vốn tăng nhanh, được phân bố và sử dụng hợp lý, hiệu quả sẽ tác động đến tăng trưởng và mở rộng sản xuất, đáp ứng các chương trình phát triển CCN như đưa tiến bộ KH – KT vào chăm sóc chế biến các sản phẩm nông sản, lai tạo và áp dụng các loại giống mới vào sản xuất, cũng như đầu tư về vật tư NN như: phân bón, thuốc trừ sâu…

Sự phát triển của thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước không chỉ thúc đẩy sự phát triển của các loại CCN và giá cả nông sản mà còn có tác dụng điều tiết đối với sự hình thành và phát triển các vùng chuyên môn hóa CCN

- Đường lối chính sách

Ảnh hưởng rất lớn đến con đường phát triển và hình thức tổ chức sản xuất NN, đối với CCN cũng vậy nó cũng ảnh hưởng đến chiều hướng phát triển CCN ở một địa phương Ở nước ta đó chính là khoán 10 trong NN hay chính sách giao đất giao rừng cho các hộ nông dân đã thúc đẩy sự phát triển các loại CCN một cách mạnh mẽ, tăng nhanh cả về diện tích và sản lượng

1.1.4 Địa lý một số cây công nghiệp chủ yếu

a Cây cao su

Trang 18

Cao su là một loài cây thân gỗ thuộc về họ Đại kích và là thành viên có tầm quan

trọng kinh tế lớn nhất trong chi Hevea Nó có tầm quan trọng kinh tế lớn là do chất

lỏng chiết ra tựa như nhựa cây của nó (gọi là nhựa mủ) có thể được thu thập lại như là nguồn chủ lực trong sản xuất cao su tự nhiên

 Nguồn gốc

Cây cao su ban đầu chỉ mọc tại khu vực rừng mưa Amazon Cách đây gần 10 thế

kỷ, thổ dân Mainas sống ở đây đã biết lấy nhựa của cây này dùng để tẩm vào quần áo chống ẩm ướt, và tạo ra những quả bóng vui chơi trong dịp hội hè

Cố gắng thử nghiệm đầu tiên trong việc trồng cây cao su ra ngoài phạm vi Brasil diễn ra vào năm 1873 Sau một vài nỗ lực, 12 hạt giống đã nảy mầm tại Vườn thực vật Hoàng gia Kew Những cây con này đã được gửi tới Ấn Độ để gieo trồng, nhưng chúng đã bị chết Sau đó, khoảng 70.000 hạt giống đã được gửi tới Kew năm 1875 Khoảng 4% hạt giống đã nảy mầm, và vào năm 1876 khoảng 2.000 cây giống đã được gửi tới Ceylon và các vườn thực vật tại Singapore

Sau khi đã thiết lập sự có mặt ở ngoài nơi bản địa của nó, cây cao su đã được nhân giống rộng khắp tại các thuộc địa của Anh Vào năm 1898, một đồn điền trồng cao su đã được thành lập tại Malaya, và ngày nay phần lớn các khu vực trồng cao su nằm tại Đông Nam Á và một số tại khu vực châu Phi nhiệt đới

 Đặc điểm sinh thái

Cao su phát triển tốt ở vùng nhiệt đới ẩm, có nhiệt độ trung bình từ 220C đến

300C (tốt nhất là từ 260C đến 280C ), cần mưa nhiều tốt nhất là 2.000mm nhưng không chịu được sự úng nước và gió Cây cao su có thể chịu được nắng hạn khoảng 4 đến 5 tháng, tuy nhiên năng suất mủ sẽ giảm Đất để trồng cây cao su phải là đất tốt, phù hợp nhất là đất đỏ bazan, tầng đất dày khoảng 70cm trở lên, độ tơi xốp cần đạt 50-60% vừa để thoát nước khi mưa to vừa thuận lợi cho bộ rễ phát triển

Ngoài đất bazan, cao su còn trồng được trên đất phù sa cổ, diệp thạch sét, đá vôi dốc tụ…tuy các loại đất này có hàm lượng dinh dưỡng kém hơn đất bazan nhưng nếu được thâm canh tốt thì vẫn đảm bảo để cây sinh trưởng và cho năng suất cao

 Đặc điểm sinh trưởng

Trang 19

Cây cao su có thể cao tới trên 30m Nhựa mủ màu trắng hay màu vàng có trong các mạch nhựa mủ ở vỏ cây, chủ yếu là bên ngoài Các mạch này tạo thành xoắn ốc theo thân cây theo hướng tay phải, tạo thành một góc khoảng 300 với mặt phẳng Khi cây đạt độ tuổi 5 đến 6 năm thì người ta bắt đầu thu hoạch nhựa mủ Các cây già hơn cho nhiều nhựa mủ hơn, nhưng chúng sẽ ngừng sản xuất mủ khi đạt dộ tuổi 26 đến 30 năm

Thông thường, cây cao su có chiều cao khoảng 20m, rễ ăn rất sâu để giữ vững thân cây, hấp thu chất bổ dưỡng và chống lại sự khô hạn

 Một số đặc tính ở cây cao su

- Cây cao su chỉ được thu hoạch 9 tháng, 3 tháng còn lại không được thu hoạch

vì đây là thời gian cây rụng lá, nếu thu hoạch vào mùa này, cây sẽ chết

- Cây cao su có vỏ nhẵn màu nâu nhạt Lá thuộc dạng lá kép, mỗi năm rụng lá một lần Hoa thuộc loại hoa đơn, hoa đực bao quanh hoa cái nhưng thường thụ phấn chéo, vì hoa đực chín sớm hơn hoa cái Quả cao su là quả nang có 3 mảnh vỏ ghép thành 3 buồng, mỗi nang một hạt hình bầu dục hay hình cầu, đường kính 02 cm, có hàm lượng dầu đáng kể được dùng trong kỹ nghệ pha sơn

- Cây chỉ sinh trưởng bằng hạt, hạt đem ươm được cây non Khi trồng cây được 5 tuổi có thể khai thác mủ, và sẽ kéo dài trong vài ba chục năm

- Việc cạo mủ rất quan trọng và ảnh hưởng tới thời gian và lượng mủ mà cây có thể cung cấp Bình thường bắt đầu cạo mủ khi chu vi thân cây khoảng 50 cm Cạo mủ

từ trái sang phải, ngược với mạch mủ cao su Độ dốc của vết cạo từ 20 đến 350, vết cạo không sâu quá 1,5 cm và không được chạm vào tầng sinh gỗ làm vỏ cây không thể tái sinh Khi cạo lần sau phải bóc thật sạch mủ đã đông lại ở vết cạo trước Thời gian thích hợp nhất cho việc cạo mủ trước 7 giờ sáng

- Cây cao su là một loại cây độc, chất mủ của cây là một loại chất độc cho con người khai thác nó Tuổi thọ của người khai thác mủ cao su thường giảm từ 3 đến 5 năm nếu làm việc trong khoảng thời gian dài

- Cây cao su còn độc ngay cả trong việc trao đổi khí ngay cả ban ngày và ban đêm Không bao giờ xây dựng nhà để ở trong rừng cao su, khả năng hiếm khí xảy rất cao

b Cây cà phê

Trang 20

Cà phê là tên một chi thực vật thuộc họ Thiên thảo Họ này bao gồm khoảng 500 chi khác nhau với trên 6.000 loài cây nhiệt đới

Chi cà phê bao gồm nhiều loài cây lâu năm khác nhau Tuy nhiên, không phải loài nào cũng chứa caffein trong hạt, một số loài khác xa với những cây cà phê ta thường thấy

Năm 1718 người Hà Lan mang cây cà phê tới Surinam, rồi năm 1725 thì người Pháp mang đem trồng ở Cayenne Sang cuối thế kỷ 18 cây cà phê đã được trồng ở khắp các xứ sở nhiệt đới

Ở Việt Nam, đồn điền cà phê đầu tiên được lập là do người Pháp khởi sự ở gần Kẻ Sở, Bắc Kỳ vào năm 1888 Giống cà phê arabica (tức cà phê chè) được trồng ở ven sông Sau việc canh tác cà phê lan xuống Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An và Kon Tum Năm 1937-1938 tổng cộng trên lãnh thổ Việt Nam có 13.000 ha cà phê, cung ứng 1.500 tấn

 Phân loại

- Cà phê chè (coffea arabica): đại diện cho khoảng 61% các sản phẩm cà phê

trên thế giới, thường cao tới 6m, độc thân hoặc nhiều thân, cho trái sớm – 2 năm sau khi trồng, lá nhỏ hình oval hoặc lưỡi mác, cành nhỏ mảnh khảnh ít phân nhánh, tán nhỏ, quả hình bầu dục đôi khi hình tròn Tuy nhiên dễ bị bệnh rỉ và sâu đục thân, không thích hợp với nhiệt độ cao, năng suất thấp (0,5 – 1 tấn/ha), nhiều sâu bệnh hại

- Cà phê vối (coffea robusta): chiếm 30% tổng diện tích cà phê Robusta cao 5 –

7 m, độc thân hoặc nhiều thân, cành khá lớn phân nhiều nhánh, tán rộng, lá trung bình mặt lá gồ ghề Đặc biệt, hoa robusta không bao giờ ra lại vào mùa sau tại vị trí cũ, quả

Trang 21

chín màu đỏ sẫm, đường kính 10 – 13 mm, hình bầu dục hoặc tròn có hai nhân đôi khi một nhân, vỏ quả cứng và cuống dai hơn arabica

- Cà phê mít, dâu da (coffea liberia): cây lớn cao 6 – 15 m lá to hình trứng hoặc

hình lưỡi mác, gân lá nổi lên ở mặt dưới, cành lớn tán rộng Loại cà phê này thường

có giá trị thương phẩm thấp nên được trồng ít hơn 2 loại trên

 Đặc điểm sinh thái

- Đất đai:

Cà phê có rễ cọc ăn sâu vào đất nên đất trồng cà phê phải có tầng sâu 70 cm trở lên, thoáng khí, tiêu nước tốt Chất lượng đất quyết định chất lượng cà phê Đất bazan trên các cao nguyên nham thạch núi lửa là thích hợp nhất cho cây cà phê

Trang 22

Ủ gốc, tưới tiêu là cực kỳ quan trọng, nó quyết định năng suất cà phê vì cà phê ra hoa vào cuối mùa nắng nhưng không kịp vào mùa mưa (điều kiện tự nhiên mưa đầu mùa làm rụng hoa, hỏng hoa), nên phải tưới tiêu và giữ ẩm để hoa nở rộ, đồng loạt Bón phân đúng loại, đúng cách, đúng kì, đúng số lượng cần thiết Theo dõi diễn biến khí hậu, sâu bệnh, cỏ dại, sương muối …Mật độ, xen canh cũng rất quan trọng

 Đặc điểm sinh trưởng

Cà phê là loài cây tự thụ phấn, do đó gió và côn trùng có ảnh hưởng lớn tới quá trình sinh sản của cây Sau khi thụ phấn quả sẽ phát triển trong 7 đến 9 tháng và có hình bầu dục, bề ngoài giống như quả anh đào Trong thời gian chín, màu sắc của quả thay đổi từ xanh sang vàng rồi cuối cùng là đỏ Quả có màu đen khi đã chín nẫu Do thời gian đâm hoa kết trái lâu như vậy mà một vụ cà phê kéo dài gần một năm trời và

có thể xảy ra trường hợp trên một cây vừa có hoa, vừa có quả

Qủa cà phê có hình oval, dài khoảng 1.5 cm, và có màu xanh lá khi chưa chín muồi, nhưng chín dần thành màu vàng, sau đó đỏ thắm và trở thành đen lại Mỗi trái thường có 2 hạt nhưng đến 5-10% trái chỉ có 1hạt; nó được gọi là peaberry Trái nở từ 7-9 tháng

Thông thường một quả cà phê chứa hai hạt Chúng được bao bọc bởi lớp thịt quả bên ngoài Hai hạt cà phê nằm ép sát vào nhau Mặt tiếp xúc giữa chúng là mặt phẳng, mặt hướng ra bên ngoài có hình vòng cung Mỗi hạt còn được bảo vệ bởi hai lớp màng mỏng: một lớp màu trắng, bám chặt lấy vỏ hạt; một lớp màu vàng rời rạc hơn bọc ở bên ngoài

Hạt có thể có hình tròn hoặc dài, lúc còn tươi có màu xám vàng, xám xanh hoặc xanh Thỉnh thoảng cũng gặp nhưng quả chỉ có một hạt (do chỉ có một nhân hoặc do hai hạt bị dính lại thành một)

c Cây mía

Mía là tên gọi chung của một số loài trong chi Mía (Saccharum), bên cạnh các

loài lau, lách Chúng là các loại cỏ sống lâu năm, thuộc họ Hòa thảo Chúng có thân to mập, chia đốt, chứa nhiều đường, cao từ 2-6 m Chúng được trồng để thu hoạch nhằm sản xuất đường

 Đặc điểm sinh thái

- Nhiệt độ

Trang 23

Mía là loại cây nhiệt đới nên đòi hỏi điều kiện độ ẩm rất cao Nhiệt độ bình quân thích hợp cho sự sinh trưởng của cây mía là 15-26⁰C Giống mía nhiệt đới sinh trưởng chậm khi nhiệt độ dưới 21⁰C và ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ 13⁰C và dưới 5⁰C thì cây sẽ chết

Thời kì nảy mầm mía cần nhiệt độ trên 15⁰C tốt nhất là từ 26-33⁰C Mía nảy mầm kém ở nhiệt độ dưới 15⁰C và trên 40⁰C Từ 28-35⁰C là nhiệt độ thích hợp cho mía vươn cao Sự dao động biên độ nhiệt giữa ngày và đêm liên quan tới tỉ lệ đường trong mía Giới hạn nhiệt độ thích hợp cho thời kì mía chín từ 15-20⁰C Vì vậy tỉ lệ đường trong mía thường đạt ở mức cao nhất cho các vùng có khí hậu lục địa và vùng cao

- Ánh sáng

Mía là cây nhạy cảm với ánh sáng và đòi hỏi cao về ánh sáng Thiếu ánh sáng, mía phát triển không tốt, hàm lượng đường thấp Mía cần thời gian tối thiểu là 1.200 giờ tốt nhất là trên 2.000 giờ Thiếu ánh sáng cây hút phân kém do đó phân đạm, lân, kali chỉ hiệu quả khi ánh sáng đầy đủ Vì vậy ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới mía vươn cao mạnh nhất khi bắt đầu vào mùa hè có độ dài ngày tăng lên Chính vì vậy, nó là nhân tố quan trọng quyết định năng suất và sản lượng mía

- Độ ẩm

Mía là cây cần nhiều nước nhưng lại sợ úng nước Mía có thể phát triển tốt ở những vùng có lượng mưa từ 1.500mm/năm Giai đoạn sinh trưởng mía yêu cầu lượng mưa từ 100-170mm/tháng Khi chín cần khô ráo, mía thu hoạch sau một thời gian khô ráo khoảng 2 tháng sẽ cho tỉ lệ đường cao

- Đất trồng

Mía là loại CCN khoẻ, dễ tính, không kén đất, vậy có thể trồng mía trên nhiều loại đất khác nhau, từ 70% sét đến 70% cát Đất thích hợp nhất cho mía là những loại đất xốp, tầng canh tác sâu, có độ phì cao, giữ ẩm tốt và dễ thoát nước Có thể trồng mía có kết quả trên cả những nơi đất sét rất nặng cũng như trên đất than bùn, đất hoàn toàn cát, đất chua mặn, đất đồi, khô hạn ít màu mỡ Yêu cầu tối thiểu với đất trồng là

có độ sâu, độ thoáng nhất định, độ PH không vượt quá giới hạn từ 4-9, độ PH thích hợp là 5,5-7,5 Độ dốc địa hình không vượt quá 150

 Đặc điểm sinh trưởng

Trang 24

Chúng có thân to mập, chia đốt, chứa nhiều đường, cao từ 2 – 6m Tất cả các dạng mía đường được trồng ngày nay đều là các dạng lai ghép nội chi phức tạp Chúng được trồng để thu hoạch nhằm sản xuất đường trên cây mía, thông thường phần ngọn

sẽ nhạt hơn phần gốc (trong chiết nước mía)

Mía thường trồng từ tháng 10 đến tháng 2 hàng năm là lúc lượng mưa rất thấp

+ Thời kỳ cây con đến trước hoa, cây lạc cần tổng tích ôn khoảng 700 -1.0000C Nhiệt độ thích hợp cho thời kỳ này là 25-300C

+ Thời kỳ cây lạc ra hoa, đâm tia, hình thành quả cần tổng tích ôn là 3.5000C Đây là thời kỳ cây lạc có hoạt động sinh lý mạnh về cả sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực

1.600-Nhiệt độ không khí trung bình thích hợp cho lạc là 25-280C Lúc hình thành quả

là 31-330C Nếu nhiệt độ cao trên 340C kèm theo gió tây nóng, độ ẩm thấp nên khoảng 50% lạc ra hoa rất ít, quả nhỏ, một hạt

- Nước:

Nước là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và khả năng cho năng suất của cây lạc Mặc dù được coi là cây tương đối chịu hạn nhưng nhiều kết quả nghiên cứu đều khẳng định sự thiếu hụt một lượng nước tối thiểu ở bất cứ giai đoạn sinh trưởng nào cũng đều ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất cây lạc Trên thế giới các vùng trồng lạc có năng suất cao thường có lượng mưa từ 1.000-1.300mm/năm và phân bố đều

- Ánh sáng: có vai trò nhất định đối với sinh trưởng, phát triển của cây lạc

Thời kỳ cây con, nếu trời âm u cộng với nhiệt độ thấp sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng, phát triển của cây, ảnh hưởng đến sự phân hoá cảnh và mầm non, từ đó làm giảm năng suất, thời kỳ cây lạc ra hoa làm quả có số giờ chiếu sáng 200giờ/tháng là thuận lợi nhất, ra hoa nhiều và tập trung Thời kỳ qủa chín cần giờ chiếu sáng cao để tăng tích luỹ chất hữu cơ tập trung ở quả

Trang 25

- Đất trồng:

Lạc được trồng rộng rãi trên nhiều loại đất khác nhau nhưng thích hợp nhất là đất có thành phần cơ giới nhẹ, giàu ôxi như đất cát pha, đất phù sa cổ…đất trồng lạc phải đảm bảo các yêu cầu sau:

+ Đất có tầng mặt tơi xốp và tầng đất mặt càng dày càng tốt

+ Đất phải sạch cỏ dại và nguồn sâu bệnh

Để nâng cao năng suất khi trồng lạc trên từng loại đất khác nhau cần chú ý đầu tư các biện pháp kỹ thuật bảo vệ và bồi dưỡng đất

Đặc điểm sinh trưởng

Thực tế, hoa đậu phộng nở rồi cắm xuống đất và phát triển thành quả nên đậu phộng sinh ra quả chứ không phải là những loại củ thường gặp Lạc là loại thực phẩm giàu năng lượng vì có chứa nhiều lipit Cây đậu phộng là một loại cây thân thảo, mọc cao khoảng 30 – 50cm

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tình hình phát triển cây công nghiệp ở Việt Nam

Trong nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng, CCN có vai trò rất

lớn đối với sự phát triển KT – XH

Trước đây, ngành trồng CCN phát triển chậm, quy mô nhỏ hẹp, manh mún Sau này, nhất là khi đất nước thực hiện công cuộc đổi mới, CCN được đẩy mạnh trên cơ

sở hình thành các vùng chuyên canh quy mô lớn nhằm khai thác có hiệu quả mọi tiềm

năng vốn có phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu

Về mặt diện tích, CCN hàng năm có chiều hướng gia tăng, nhưng thất thường, thiếu vững chắc Ngược lại, sự tăng trưởng của CCN lâu năm là nhanh và ổn định

Điều đó liên quan chủ yếu tới nhu cầu của thị trường nội địa và quốc tế

Các CCN lâu năm chủ yếu là cà phê, cao su, hồ tiêu, điều, chè

Sự phát triển mạnh sản xuất các CCN chủ lực đưa nước ta lên vị trí quốc gia

hàng đầu trên thế giới về xuất khẩu cà phê, hồ tiêu, điều…

a Cây công nghiệp lâu năm

Nhóm cây công nghiệp lâu năm ở nước ta ngày càng có vai trò quan trọng trong

số các cây công nghiệp nói chung

Về mặt kinh tế, đây là cây trồng lấy nguyên liệu cho công nghiệp chế biến trong

Trang 26

biến, tham gia khâu then chốt của quy trình trồng – chế biến – tiêu thụ sản phẩm cuối cùng nên không những phải chú ý đến điều kiện sinh thái, mà còn cần tổ chức việc gieo trồng, thu hoạch, bảo quản, vận chuyển để nối mạch với khâu chế biến một cách kịp thời, nhanh gọn, đảm bảo chất lượng của nguyên liệu

Về điều kiện sinh thái, sự phân hóa khí hậu đã tạo nên những tiền đề thuận lợi để

có thể trồng được từ giống cây nhiệt đới đến giống cây cận nhiệt, ôn đới và làm phong phú thêm nguồn nguyên liệu của nước ta Tuy nhiên, khí hậu vô hình chung tạo ra các ngưỡng hạn chế việc mở rộng diện tích cây trồng thuần nhiệt đới hoặc thuần ôn đới Mỗi cây trồng đòi hỏi các điều kiện sinh thái nhất định Nếu có sự tương đối đồng nhất

về sinh thái thì đất với các tính chất lí hóa khác nhau lại có ý nghĩa to lớn trong việc phân hóa cây trồng Ví dụ, cây chè và cây cao su đòi hỏi đất có độ PH là 4-5, nhưng cây cao su lại sống được ở đất kiềm, trong đó chè lại kị canxi

Các CCN lâu năm chủ yếu và có giá trị ở nước ta gồm có cao su, cà phê, chè và một vài loại cây khác

Cây cà phê ở Việt Nam có diện tích kinh doanh năm 1995 đạt 114,1 nghìn ha và

sản lượng 218 nghìn tấn cà phê nhân khô, năm 2000 có trên 477 nghìn ha và 802 nghìn tấn, đến năm 2010 diện tích gieo trồng lên tới 506 nghìn ha, diện tích cho sản phẩm là

488 nghìn ha và 961,2 nghìn tấn nhân khô, năng suất đạt gần 2 tấn/ha Hiện nay, Việt Nam đứng thứ 2 thế giới về sản lượng sản xuất cà phê vối chỉ sau Bra-xin Trong những năm qua, ở nước ta đã hình thành vùng sản xuất cà phê tập trung quy mô lớn là Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, trong đó Đắc Lắk là tỉnh có diện tích và sản lượng cà phê lớn nhất, đồng thời cũng là địa phương có tốc độ tăng trưởng sản lượng cà phê nhanh nhất: năm 2010 đạt trên 350 nghìn tấn, tăng gấp 2,3 lần so với năm 1995 (150 nghìn tấn) Kế đến là Lâm Đồng, khoảng 100 nghìn tấn, Gia Lai 70 nghìn tấn và Đồng Nai 30 nghìn tấn, chủ yếu là cà phê vối

Hầu hết cà phê được trồng trong các hộ gia đình quy mô vườn 0,5 ha - 1 ha và đang ở độ tuổi sung sức, có năng suất khá cao, tập trung thành các vùng lớn ở các tỉnh Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ và một số tỉnh miền núi phía Bắc

Nhiều mô hình sản xuất quy mô trang trại gia đình hình thành và phát triển đang trở thành các đơn vị sản xuất cà phê hàng hóa gắn với thị trường trong nước và xuất khẩu Năm 2010, Tây Nguyên có 9.240 trang trại, trong đó có 7.120 trang trại trồng CCN lâu năm, chủ yếu là cà phê

Trang 27

Cà phê là CCN gắn với xuất khẩu rất chặt chẽ Quy mô sản xuất luôn phụ thuộc vào thị trường cà phê thế giới vì trên 95% sản lượng cà phê để phục vụ xuất khẩu Năm 2010, sản lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam đã lên tới 1.227 nghìn tấn, kim ngạch 1,854 tỉ USD

Cây cao su là CCN lâu năm, phải trồng và chăm sóc khoảng từ 6 đến 7 năm mới

bắt đầu khai thác mủ Thời gian khai thác kéo dài 30 năm - 35 năm Trong những năm qua đã hình thành 2 vùng sản xuất cao su tập trung là Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và đang mở rộng ra các tỉnh khác vùng Bắc Trung Bộ và miền núi phía Bắc… Diện tích cao su năm 1996 trên 280 nghìn ha, trong đó gần 150 nghìn ha đang khai thác mủ Hai chỉ tiêu tương ứng năm 2000 là 410 nghìn ha và 230 nghìn ha; năm 2010 là 550 nghìn

ha và 374 nghìn ha Tốc độ tăng diện tích cao su trong những năm qua rất nhanh chủ yếu do phát triển cao su tiểu điền

Cùng với mở rộng diện tích, năng suất cao su (tính theo mủ khô) cũng không ngừng tăng lên, năm 1996 đạt 900kg/ha, trong đó những diện tích cao su ở độ tuổi từ

12 đến 20 năm đạt trên 1.000kg/ha, đưa sản lượng cao su (mủ khô) của cả nước lên

140 nghìn tấn, năm 2000 đạt 291 nghìn tấn, và năm 2010 đạt trên 601 nghìn tấn cao su

mủ khô Sản lượng cao su xuất khẩu năm 2010 là 750 nghìn tấn, kim ngạch đạt trên 1,4 tỉ USD

Cao su có tán che phủ lớn, đạt yêu cầu phủ xanh diện tích đất trống, đồi núi trọc, thu hút nhiều lao động

Cao su tiểu điền là một trong những mô hình nông, lâm kết hợp phát triển bền vững, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, an ninh quốc phòng và góp phần cải thiện một bước đời sống của hàng chục vạn gia đình nghèo, nhất là đồng bào dân tộc thiểu

số vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, miền núi phía Bắc

Cây chè đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm Điều kiện khí hậu nước ta rất

thích hợp phát triển cây chè, tập trung ở hai vùng trọng điểm miền núi trung du phía Bắc và Tây Nguyên

Năm 1995, Tổng Công ty Chè Việt Nam (VINATEA) được thành lập, thực hiện hàng loạt giải pháp mới, gắn sản xuất với chế biến, xuất khẩu Nhờ đó sản xuất chè đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận Năm 2001, diện tích chè đạt 95,6 nghìn ha, sản lượng đạt 371,5 nghìn tấn, xuất khẩu 58 nghìn tấn, kim ngạch 66,4 triệu USD Đến

Trang 28

nghìn tấn, tăng 91%, chè xuất khẩu đạt 115 nghìn tấn, tăng 98% và kim ngạch đạt 131 triệu USD tăng 98% so năm 2001

Cây điều là cây trồng dễ tính, chịu được đất xấu và nắng hạn, thích hợp với vùng

Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Đó là cây trồng xóa đói, giảm nghèo ở những vùng đất xấu nên diện tích gieo trồng có xu hướng tăng dần từ 195 nghìn ha năm 1996 lên 348 nghìn ha năm 2005 và 537 nghìn ha năm 2010 Tuy nhiên, do đầu tư thâm canh kém nên năng suất điều rất thấp và sản lượng chưa ổn định Sản lượng hạt điều khô năm

1996 đạt 59 nghìn tấn đến 2000 chỉ có 57 nghìn tấn Những năm gần đây, tuy sản lượng có tăng lên chủ yếu do tăng diện tích trồng Sản lượng điều năm 2001 là 73 nghìn tấn, 2006 là 240 nghìn tấn và năm 2010 là 302 nghìn tấn

Hồ tiêu là cây chiếm ít diện tích nhưng đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn nên chỉ

thích hợp với những hộ nông dân hoặc trang trại có tiềm lực và kinh nghiệm sản xuất hàng hóa, chủ yếu ở Phú Quốc (Kiên Giang), Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Nếu năm 1995 mới có 5,2 nghìn ha, sản lượng 9,3 nghìn tấn, năm 2000 tăng lên 14,9 nghìn

ha, sản lượng 39,2 nghìn tấn thì năm 2010 lên tới 40,9 nghìn ha và 90,3 nghìn tấn Về xuất khẩu, năm cao nhất (2006) đạt 114,8 nghìn tấn, kim ngạch trên 300 triệu USD Những năm gần đây, Việt Nam là nước đứng đầu thế giới về sản lượng hồ tiêu sản xuất và xuất khẩu

b Cây công nghiệp hàng năm

Chủ yếu là đay, cói, dâu tằm, bông, mía, lạc, đậu tương, thuốc lá, thường được

trồng ở vùng đồng bằng, một số cây trồng xen trên đất lúa

Đay được trồng nhiều ở đồng bằng sông Hồng (các tỉnh Hưng Yên, Thái Bình,

Hà Nam) và ở đồng bằng sông Cửu Long (tỉnh Long An ) Cây cói được trồng trên đất nhiễm mặn, tập trung nhiều nhất ở dải ven biển của đồng bằng sông Hồng, suốt từ Hải Phòng đến phía bắc tỉnh Thanh Hóa Những năm gần đây, diện tích cói tăng rất nhanh ở đồng bằng sông Cửu Long, chiếm một nửa diện tích cói cả nước

Dâu tằm là CCN truyền thống, nay được phát triển cùng với việc khôi phục nghề tằm tơ ở nước ta, được trồng nhiều nhất ở tỉnh Lâm Đồng Cây bông mới được chú trọng phát triển, trồng phổ biến ở Đắc Lắc, Đồng Nai và một số tỉnh Nam Trung Bộ Mía được trồng ở hầu khắp các tỉnh, nhưng tập trung tới 75% diện tích và 80% sản lượng ở các tỉnh phía Nam (đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và duyên hải miền Trung)

Trang 29

Đậu tương, lạc, thuốc lá được trồng nhiều trên đất bạc màu Đậu tương được trồng nhiều nhất ở miền núi, vùng trung du phía Bắc (Cao Bằng, Sơn La, Bắc Giang), chiếm hơn 40% diện tích đậu tương cả nước, ngoài ra còn được trồng nhiều ở các tỉnh

Hà Tây, Đồng Nai, Đắc Lắc và Đồng Tháp Cây thuốc lá được trồng nhiều nhất ở vùng Đông Nam Bộ, duyên hải miền Trung và miền núi, vùng trung du phía Bắc

Cây lạc phù hợp trên đất phù sa cổ ở Tây Ninh, Bình Dương, trên đất cát pha các đồng bằng duyên hải miền Trung, nhất là ở Bắc Trung Bộ và ở trung du Bắc Bộ

1.2.2 Tình hình phát triển cây công nghiệp ở tỉnh Kon Tum

Kon Tum là tỉnh miền núi vùng cao, biên giới, nằm ở phía bắc Tây Nguyên Phần lớn tỉnh Kon Tum nằm ở phía tây dãy Trường Sơn, địa hình thấp dần từ bắc xuống nam và từ đông sang tây Địa hình của tỉnh khá đa dạng: đồi núi, cao nguyên và vùng trũng xen kẽ nhau tạo điều kiện thuận lợi để hình thành các vùng chuyên canh CCN trên địa bàn tỉnh

Kon Tum thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên Nhiệt độ trung bình trong năm dao động trong khoảng 22 - 230C , có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa chủ yếu bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau Với khí hậu như trên tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển CCN, mùa mưa kéo dài 7 tháng cung cấp nước tưới cho cây, còn mùa khô lại tạo điều kiện cho việc thu hoạch, bảo quản và chế biến các sản phẩm nông sản

Tài nguyên đất của tỉnh Kon Tum được chia thành 5 nhóm với 17 loại đất chính trong đó có diện tích lớn nhất là đất đỏ bazan – môi trường thuận lợi để phát triển CCN

Tỉnh Kon Tum có nguồn nước khá dồi dào, bao gồm cả nguồn nước mặt và nước ngầm Tỉnh có các con sông khá lớn như: Sê San, Sa Thầy…Ngoài ra, tỉnh cũng có nguồn nước ngầm khá lớn Nguồn nước mặt cùng với nước ngầm chính là nguồn cung cấp nước tưới chủ yếu cho các loại CCN vào mùa khô

Với điều kiện tự nhiên như vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho tỉnh Kon Tum phát triển các loại CCN Chính vì vậy, trong những năm gần đây, CCN trên địa bàn huyện được chú trọng đầu tư và đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận

a Cây công nghiệp lâu năm

Cũng như các tỉnh khác của vùng Tây Nguyên, trồng trọt là thế mạnh của tỉnh

Trang 30

năm đem lại hiệu quả kinh tế cao, chính vì vậy trong những năm gần đây, diện tích, năng suất cũng như sản lượng của CCN trên địa bàn tỉnh tăng lên đáng kể

Năm 2005, tổng diện tích trồng CCN lâu năm của tỉnh là 31,6 nghìn ha, đến năm

2009 tăng lên 48,5 nghìn ha, tăng khoảng 16,9 nghìn ha sau 4 năm Tuy nhiên, trong

đó có sự tăng giảm khác nhau giữa các loại cây Tăng nhanh nhất là cây cao su, năm

2005 chỉ có 19,8 nghìn ha đến năm 2009 tăng gần gấp đôi lên tới 37 nghìn ha Tiếp đến là cây cà phê cũng tăng từ 10,7 nghìn ha lên 11,1 nghìn ha Các cây còn lại có diện tích giảm xuống như: chè, hồ tiêu, dừa, điều

Trang 31

Bảng 1.1: Diện tích trồng một số cây công nghi ệp lâu năm của tỉnh

Kon Tum giai đoạn 2005 - 2009

(Nguồn: Thống kê Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thuỷ sản tỉnh Kon Tum năm 2009)

Các CCN lâu năm được trồng ở hầu hết các huyện của tỉnh, trong đó, huyện Đăk

Hà có diện tích trồng cây lâu năm lớn nhất, năm 2005 gần 10,3 nghìn ha đến năm 2009 tăng lên 11,7 nghìn ha, tiếp đến là huyện Sa Thầy Huyện Kon Plông và huyện Tu Mơ Rông có diện tích CCN lâu năm ít nhất

Bảng 1.2: Diện tích trồng cây công nghi ệp lâu năm của tỉnh Kon Tum

phân theo huyện, thành phố

Trang 32

Theo điều tra, hầu hết các CCN lâu năm trên địa bàn tỉnh đều có sản lượng tăng lên, trong đó tăng nhanh nhất vẫn là cây cao su bởi trong những năm gần đây cao su có giá trị kinh tế lớn, giá thành cao vì vậy diện tích của nhiều loại cây khác đã bị chuyển đổi để trồng cao su Ngoài ra, cây cà phê cũng có sản lượng tăng lên khá nhiều, năm

2005 đạt 14,3 nghìn tấn, đến năm 2009 tăng lên 19,1 nghìn tấn

Bảng 1.3: Sản lượng một số cây công nghiệp lâu năm của tỉnh Kon Tum

(ĐV: tấn)

Cà phê (Nhân) 14.326 19.761 16.548 21.764 19.100 Cao su (Mủ tươi) 7.441 9.452 13.253 16.259 20.272

(Nguồn: Thống kê Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thuỷ sản tỉnh Kon Tum năm 2009)

Các cây khác như hồ tiêu, dừa, điều tuy diện tích có giảm xuống nhưng sản lượng lại tăng lên, trong khi đó cây chè lại có sản lượng ngày càng giảm xuống, cây chè không thích hợp với điều kiện tự nhiên ở đây, năng suất thấp, hiệu quả kinh tế không cao Vì vậy, nhiều diện tích trồng chè được chuyển đổi sang trồng các loại cây khác có giá trị kinh tế cao hơn

Mỗi huyện của tỉnh đều có thế mạnh để phát triển CCN lâu năm nhưng các loại cây có sự phân bố khác nhau giữa các huyện:

- Cây chè: diện tích trồng chè của tỉnh rất ít, năm 2009 toàn tỉnh có 13 ha chè Trong đó tập trung nhiều nhất ở huyện Tu Mơ Rông 10 ha, huyện Đắk Tô 3 ha, còn lại các huyện khác không có

- Cây cà phê: huyện nào của tỉnh cũng trồng cà phê nhưng huyện có diện tích cà phê lớn nhất là huyện Đắk Hà với 6,8 nghìn ha (năm 2009), tiếp đến là huyện Ngọc Hồi với 969 ha, Đắk Glei 803ha, Đắk Tô 694 ha có diện tích cà phê ít nhất là 2 huyện

Tu Mơ Rông và Kon Rẫy với 353 ha và 127 ha

Trang 33

- Cây cao su: toàn tỉnh có diện tích cao su khá lớn, tập trung nhiều nhất tại huyện

Sa Thầy với 10,7 nghìn ha, tiếp đến là thành phố Kon Tum với 7,2 nghìn ha, huyện Ngọc Hồi 6,6 nghìn ha

- Cây hồ tiêu: Cây hồ tiêu ở tỉnh không phát triển lắm, diện tích trồng tiêu ngày càng giảm xuống, năm 2009 chỉ có 74 ha, nhiều nhất ở huyện Kon Rẫy với 26 ha, Đắk

Hà 17 ha, thành phố Kon Tum 15 ha còn các huyện khác diện tích không đáng kể

- Cây điều: trước đây diện tích trồng điều khá lớn, năm 2005 là 894 ha nhưng hiện nay diện tích cây điều ngày càng suy giảm năm 2009 chỉ còn 248 ha, nhiều nhất ở huyện Đắk Hà với 102ha, huyện Kon Rẫy 42 ha, huyện Ngọc Hồi 41 ha

b Cây công nghiệp hàng năm

CCN hàng năm trên địa bàn tỉnh không phát triển lắm, chỉ chiếm một diện tích nhỏ, trước đây một số loại CCN hàng năm cũng được chú trọng phát triển như: mía, lạc vì nó tốn ít thời gian chăm sóc, đòi hỏi đầu tư ít, giúp cải thiện cuộc sống của người dân, tăng thêm thu nhập Nhưng hiện nay, diện tích cây CCN hàng năm đang có

xu hướng giảm đi bởi giá trị kinh tế của nó thấp, đồng thời các loại cây lâu năm có giá trị hơn, ngày càng được chú trọng hơn

Bảng 1.4: Diện tích cây công nghi ệp hàng năm phân theo huyện, thành phố

Trang 34

Năm 2005 toàn tỉnh có hơn 3 nghìn ha diện tích CCN hàng năm nhưng tới năm

2009 chỉ còn 2,3 nghìn ha CCN hàng năm chủ yếu được trồng ở thành phố Kon Tum, tiếp đến là huyện Đắk Hà, huyện Sa Thầy Năm 2009, diện tích CCN hàng năm của thành phố Kon Tum gấp 24,2 lần huyện Sa Thầy, 17,4 lần huyện Đắk Hà

Trong số các CCN hàng năm hiện nay của tỉnh chỉ có mía và lạc còn được trồng khá nhiều, các cây khác có diện tích rất ít hoặc không còn được trồng nữa Diện tích một số CCN hàng năm của tỉnh được thể hiện cụ thể qua bảng sau đây:

Bảng 1.5: Diện tích một số cây công nghiệp hàng năm chủ yếu

của tỉnh Kon Tum giai đoạn 2005 – 2009

(Nguồn: Thống kê Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thuỷ sản tỉnh Kon Tum năm 2009)

Mía vẫn là CCN hàng năm được trồng nhiều nhất ở tỉnh tuy đến năm 2009 có giảm nhưng vẫn có diện tích khá cao gần 2,1 nghìn ha, tiếp đến là lạc với 145 ha, thuốc lá 42 ha

Bảng 1.6: Sản lượng một số cây công nghiệp hàng năm của tỉnh Kon Tum

(Nguồn: Thống kê Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thuỷ sản tỉnh Kon Tum năm 2009)

Diện tích giảm xuống nên hầu hết sản lượng các loại CCN hàng năm trên địa bàn tỉnh cũng có xu hướng giảm theo Sau 4 năm (2005 – 2009) sản lượng mía giảm gần

20 tấn, sản lượng lạc giảm 62 tấn Thuốc lá có sản lượng tăng lên nhưng không nhiều,

cả giai đoạn tăng 13 nghìn tấn

Trang 35

Với xu hướng này để phát triển bền vững NN, tỉnh Kon Tum đã đưa ra một số giải pháp để tiếp tục phát triển CCN hàng năm Với cây mía sẽ đưa các giống có năng suất cao vào sản xuất, đấy mạnh công tác khuyến nông, xây dựng vùng chuyên canh, đảm bảo sản lượng đạt 300 ngàn tấn/năm Còn đối với cây lạc sẽ mở rộng diện tích bằng cách trồng xen canh với cà phê, cao su trong thời kì kiến thiết cơ bản để nâng cao năng suất và sản lượng

Còn đối với CCN lâu năm thì sẽ mở rộng diện tích cây cao su, thông qua các doanh nghiệp và các nông trường quân đội, phát triển cao su tiểu điền và hộ gia đình Đối với cây cà phê, ổn định diện tích cà phê vối, tăng diện tích cà phê chè ở những nơi

có độ cao trên 1.000 mét, tập trung thâm canh để nâng cao năng suất

Trang 36

CHƯƠNG 2 TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CÂY CÔNG NGHIỆP HUYỆN

ĐẮK HÀ, TỈNH KON TUM 2.1 Tiềm năng phát triển cây công nghi ệp của huyện Đắk Hà

2.2.1 Vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ

Huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum được thành lập ngày 24 tháng 3 năm 1994 theo Nghị định 26/NĐ-CP của Chính phủ Tổng số diện tích tự nhiên gần 84,6 nghìn km2

(2010), trên cơ sở chia tách 04 xã của thị xã Kon Tum và 02 xã của huyện Đắk Tô, với

74 thôn, tổ dân phố Huyện gồm 09 đơn vị hành chính trực thuộc là: thị trấn Đắk Hà và

8 xã là Đắk La, Hà Mòn, Đắk Hring, Đắk Pxi, Đắk Ui, Ngọc Réo, Ngọc Wang, Đắk Mar

Bảng 2.1: Diện tích, dân số và mật độ dân số huyện Đắk Hà năm 2010

Năm 2010

Diện tích (km 2 )

Dân số trung bình (người)

Mật độ dân số (người/ km 2)

64.269

16.660 7.474 8.782 6.274 4.267 4.779 3.833 4.822 6.374

75,99

650,22 165,4 89,42 58,15 111,54 16,18 35,77 61,77 141,45

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Đắk Hà năm 2011)

Nằm cách trung tâm thị xã Kon Tum 20 km về phía Bắc, huyện Đắk Hà nằm ở tọa độ từ 107051'05" đến 106006'30" kinh độ đông và từ 14038'55" đến 14049'55" vĩ độ Bắc, có vị trí tiếp giáp như sau:

- Phía Tây giáp huyện Đắk Tô

- Phía Tây Nam giáp huyện Sa Thầy

Trang 37

- Phía Bắc giáp huyện Tu Mơ Rông

- Phía Đông giáp huyện Kon Plông

- Phía Nam giáp Thành phố Kon Tum

Đắk Hà là trung điểm giữa thị xã Kon Tum và huyện Đắk Tô, có quốc lộ 14 chạy qua, nên có điều kiện thuận lợi trong việc vận chuyển và tiêu thụ các sản phẩm nông sản Huyện nằm trong lưu vực sông Pô Cô, nơi có công trình thuỷ điện PleiKrông; có rừng đặc dụng Đắk Uy với diện tích 659,5 ha và nhiều hồ chứa nước đã góp phần tích cực trong việc đảm bảo môi trường sinh thái, đồng thời các sông cùng với các hồ chứa nước là nguồn cung cấp nước tưới cho CCN vào mùa khô hạn

2.2.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

a Địa hình

Huyện Đắk Hà có diện tích 84,6 nghìn ha nằm ở vùng Tây Trường Sơn trên nền

đá cổ Việt Nam: "Địa khối Kon Tum" Độ cao trung bình từ 550 đến 600m, địa hình các vùng rất phức tạp

Ở phía bắc và đông bắc cấu tạo bởi các dãy núi thuộc quần thể Ngọc Linh tạo ra

độ cao và sườn dốc chiếm 64% diện tích tự nhiên Đây là khó khăn lớn nhất về mặt địa hình đối với sự phát triển CCN trên địa bàn huyện, độ dốc lớn, địa hình chia cắt dễ dàng bị xói mòn, rửa trôi và mất đất làm cho đất bị thoái hóa, bạc màu

Phía nam và đông nam là đồng bằng lượn sóng chiếm 22% diện tích của huyện, tạo điều kiện để phát triển CCN lâu năm và hình thành các mô hình nông nghiệp, vườn đồi

Vùng trung tâm huyện và dọc theo lưu vực sông, suối có độ nghiêng dần về phía tây là khu vực bằng - trũng chiếm 14% diện tích toàn huyện, đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển của CCN ngắn ngày

Tuy có địa hình chia cắt phức tạp nhưng hệ thống núi ở khu vực Đắk Hà không

có những đỉnh núi cao điển hình, thường cao từ 750m đến 950m ở các dãy Ngọk Biăng, Ngok Kon Réo phía đông; Ngok Kuăm ở phía nam trải theo hướng tây bắc, đông nam thuộc hệ Ngọc Linh

b Khí hậu

Huyện Đắk Hà nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa cao nguyên, do vậy có các đặc trưng sau:

Trang 38

+ Nhiệt độ tháng thấp nhất (tháng 1) trong năm từ 9,8˚C đến 12,7˚C

+ Nhiệt độ tháng cao nhất (tháng 4) trong năm từ 32,4˚C đến 35,2˚C

- Lượng mưa: Lượng mưa hàng năm biến động từ 1.800 đến 2.200 mm phân bố không đều, trong năm có 2 mùa rõ rệt mùa mưa và mùa khô:

Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 chiếm 85 -90% lượng mưa cả năm

Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chiếm 10 -15% lượng mưa cả năm Khí hậu cùng với sự phân chia 2 mùa: mùa mưa và mùa khô rõ rệt tạo thuận lợi cho việc phát triển CCN Nếu mùa mưa kéo dài 6 tháng cung cấp nguồn nước tưới cho cây trồng thì mùa khô lại tạo điều kiện cho việc thu hoạch, chế biến và bảo quản các sản phẩm nông sản Tuy nhiên, mùa khô kéo dài, độ ẩm giảm mạnh, lượng bốc hơi lớn, nhiều nơi hạn hán xảy ra gây khó khăn không nhỏ cho việc phát triển CCN

c Thổ nhưỡng

Cấu tạo địa chất trong địa bàn huyện Đắk Hà gồm có 7 loại đất, thể hiện trên 4 nhóm chính:

- Đất phù sa sông, suối có 1.195 ha, chiếm 1,24% diện tích dọc sông Pô Cô

- Đất vàng đỏ có 62.132 ha, chiếm 73,6% diện tích Gồm đất nâu vàng trên phù

sa cổ, đất vàng nhạt trên cát, đất vàng đỏ trên đất sét và biến chất, đất đỏ trên đá granite phân bố trên các vùng lượn sóng nhẹ từ 150 đến 200

- Đất mùn vàng đỏ 20.350 ha chiếm 24,7% diện tích ở địa hình trên 250 gồm đất mùn vàng đỏ trên đá biến chất ở khu vực bị chia cắt mạnh cao trên 1.000m phía đông bắc huyện

- Nhóm đất thung lũng - đất dốc tụ 20 ha phân bố vùng thủy hợp, thung lũng thấp

Tổng diện tích đất tự nhiên của cả huyện Đắk Hà là 84.575,722 ha Trong đó, đất nông nghiệp là 19.823,09 ha, đất lâm nghiệp là 46.573,16 ha, diện tích đất chưa sử dụng là 13.043,92 ha

Với diện tích đất NN cũng như đất chưa sử dụng khá lớn, việc mở rộng và phát triển CCN trên địa bàn huyện cũng khá thuận lợi và dễ dàng, đặc biệt huyện có diện tích đất vàng đỏ rất lớn (gần 74% diện tích) – là điều kiện thuận lợi bậc nhất cho sự phát triển của CCN

Ngày đăng: 09/05/2021, 17:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w