Bằng cái nhìn sắc bén, tinh nhạy, Nguyễn Thị Ngọc Tú đã thể hiện một cái nhìn trực diện và thấm thía về những đổi thay trong cuộc đời thường nhật, mang đến cho văn đàn Việt Nam những năm
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC
Trang 2Tiểu thuyết, giữa hoàn cảnh ấy, tiếp tục được chọn lựa và phát triển như một bức tranh sinh động về cuộc sống Ở đó, xã hội con người hiện lên
đa diện và đa sắc Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết, do vậy vừa thể hiện
rõ tư tưởng nhà văn, vừa thể hiện rõ bức tranh thời đại Có thể nói, đứng trước những thay đổi lớn lao của cuộc đời mới sau cách mạng, tiểu thuyết như một đức tin kỳ diệu để các nhà văn vin vào đó hướng con người đến những điều tốt đẹp hơn
Nằm trong dòng chảy của tiểu thuyết hiện đại sau 1975, tiểu thuyết Nguyễn Thị Ngọc Tú đầy ắp những trăn trở, suy tư của một người phụ nữ tâm huyết với con người và cuộc đời Bằng cái nhìn sắc bén, tinh nhạy, Nguyễn Thị Ngọc Tú đã thể hiện một cái nhìn trực diện và thấm thía về những đổi thay trong cuộc đời thường nhật, mang đến cho văn đàn Việt Nam những năm cuối cùng của thế kỉ XX một hơi thở mới, một tiếng nói mới, một góc nhìn
mới về con người và xã hội hiện đại Theo đó, tiểu thuyết Ảo ảnh trắng là một
địa hạt mới mà Nguyễn Thị Ngọc Tú lựa chọn sau những thành công về đề tài nông nghiệp Ở đó, tác phẩm không chỉ dựng lên bức tranh trần trụi về một mặt của đời thường, mà còn chứng tỏ một tài năng đầy nghị lực của Nguyễn Thị Ngọc Tú
Trang 3Tìm hiểu Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Ảo ảnh trắng của Nguyễn Thị
Ngọc Tú như một cách thức để khám phá nội dung, nghệ thuật của tác phẩm,
chúng tôi hy vọng sẽ nhận diện được những thành công và hạn chế của nó Qua đó, đánh giá một cách khái quát về giá trị của tác phẩm cũng như tài năng, phong cách của Nguyễn Thị Ngọc Tú, đồng thời chỉ ra được những đóng góp của bà trong tiến trình phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại sau 1975
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Chúng tôi nhận thấy đã có những bài báo, công trình nghiên cứu đề
cập đến nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú và tác phẩm của bà, trong đó có Ảo ảnh
trắng
Trong Nguyễn Thị Ngọc Tú tác phẩm chọn lọc và chân dung, Lê Thị
Đức Hạnh đã có những nhận định tinh tế “Hơn 40 năm cầm bút, nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú không ngừng nổ lực về nhiều mặt: trong thâm nhập thực tế, mở rộng đề tài, trong đào sâu suy nghĩ, rèn luyện tay nghề, nâng cao nghệ thuật viết (đặc biệt chú ý đến bố cục, xây dựng hình tượng nhân vật, cách hành văn, nghệ thuật sử dụng câu chữ…) chú ý khắc phục những nhược điểm, những hạn chế (đôi khi còn tham chạy theo sự kiện, để nhân vật bị lấn
át, sức khái quát chưa cao…) để nhằm làm cho tác phẩm ngày một chín hơn” [1,tr.9]
Cũng tác giả này, ở bài viết “Những tác phẩm tiêu biểu của một cây
bút nữ” đã coi Ảo ảnh trắng “là một trong những tác phẩm đánh dấu bước
chuyển mới về phong cách của Nguyễn Thị Ngọc Tú (kể từ Giã từ mùa
đông)” [10,tr.216] Tác giả cũng khẳng định Ảo ảnh trắng “không đi vào một
thực tế ồn ào, sôi động, không khai thác những mâu thuẫn gay gắt, căng thắng
mà khiêm tốn phản ánh một mặt của đời thường nhưng lại có sức gợi mở
những suy tư, lắng đọng (…) So với Đất làng nhất là Buổi sáng thì kết cấu
Trang 4của Hạt mùa sau, Ảo ảnh trắng… chặt chẽ hơn, có tính hiện đại hơn”
[10,tr.214 – tr.218]
Trong một bài viết khác “Hình bóng cuộc đời – cuốn tiểu thuyết rất
đáng đọc”, nhà phê bình Lê Thị Đức Hạnh lại một lần nữa đưa ra đánh giá
sâu sắc về Nguyễn Thị Ngọc Tú “Xông xáo, không né tránh những vấn đề nóng bỏng đặt ra trong cuộc sống là ưu thế của chị, nhưng sự thuyết phục người đọc còn đến từ cái nhìn riêng, nữ tính, ấm áp, nhân hậu của chị về con người (…) Văn phong chị mới mẻ, trẻ trung, đôi khi dí dỏm, như chủ yếu đã
định hình từ Hạt mùa sau qua Ảo ảnh trắng, Chỉ còn anh và em rồi Hai người
và những con sóng thì nay tiếp nối và phát triển hơn” [10,tr.253 – tr.254]
Ngoài ra, Ngô Văn Phú trong cuốn Phê bình bình luận văn học khi đề cập đến nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú và tác phẩm Ảo ảnh trắng cũng cho
rằng “Trong lúc nhiều tiểu thuyết viết ra khá nhanh, chiều theo những thị hiếu
dễ dãi của người đọc ra đời, Ảo ảnh trắng là những trang viết có trách nhiệm,
thật đáng quý” [21,tr.290] Theo đó, Nguyễn Thị Ngọc Tú được nhận định là một trong số những cây bút nữ xuất sắc từ sau Cách mạng tháng Tám, nhất là
từ năm 1954 Nghệ thuật sáng tác của bà bên cạnh những gì đã đạt được cũng còn tồn tại một số hạn chế, tuy nhiên bằng sự nổ lực và cần cù, nhà phê bình khẳng định, bà sẽ khắc phục được và cho ra đời những tác phẩm chất lượng hơn
Góp thêm một ý kiến về Nguyễn Thị Ngọc Tú, Hoàng An, trên trang
web vanvn.net của Hội nhà văn Việt nam với bài viết “Nhà văn Nguyễn Thị
Ngọc Tú: Hạt mùa sau của tấm lòng thơm thảo”, cũng nhấn mạnh “các nhà
phê bình đọc sách của chị, ngoài những nhận xét về sự thông minh, nhạy cảm, khả năng nắm bắt các vấn đề nảy sinh từ cuộc sống, đều chung một nhận xét, văn chị đôn hậu mà trẻ trung, sinh động, nhiều khi dí dỏm, bất ngờ” [2]
Trang 5Có thể thấy, tiểu thuyết Ảo ảnh trắng của Nguyễn Thị Ngọc Tú đã
được các nhà nghiên cứu quan tâm Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu chi tiết, cụ thể và hệ thống về thế giới nghệ thuật của tác
phẩm Vì vậy, việc nghiên cứu Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Ảo ảnh trắng
của Nguyễn Thị Ngọc Tú là một việc làm cần thiết để có thể khám phá một
cách đầy đủ về nội dung và nghệ thuật của nó Thông qua thế giới nghệ thuật, người nghiên cứu sẽ góp phần khẳng định tài năng của tác giả, giá trị của tác phẩm, cũng như đóng góp của Nguyễn Thị Ngọc Tú đối với sự vận động và phát triển của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Những đặc điểm nội dung và nghệ thuật làm nên thế giới nghệ thuật
tiểu thuyết Ảo ảnh trắng của Nguyễn Thị Ngọc Tú
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Tiểu thuyết Ảo ảnh trắng của Nguyễn Thị Ngọc Tú được in trong cuốn
Nguyễn Thị Ngọc Tú tác phẩm chọn lọc và chân dung của Nhà xuất bản Phụ
nữ, năm 2004
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp phân tích – tổng hợp
Trong quá trình nghiên cứu, phương pháp phân tích – tổng hợp được
sử dụng để tiến hành phân tích, lý giải, đánh giá một cách chi tiết Thế giới
nghệ thuật trong tiểu thuyết Ảo ảnh trắng của Nguyễn Thị Ngọc Tú, nhằm
hướng đến cái nhìn khái quát về tiểu thuyết Nguyễn Thị Ngọc Tú những mặt thành công và hạn chế
4.2 Phương pháp so sánh – đối chiếu
Sử dụng phương pháp so sánh – đối chiếu như một công cụ đắc lực cho việc tiến hành so sánh, đối chiếu tiểu thuyết Nguyễn Thị Ngọc Tú trong
Trang 6dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, từ đó rút ra những đóng góp của Nguyễn Thị Ngọc Tú trong sự vận động và phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Ngoài ra, để phục vụ tốt cho việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi còn sử dụng thêm một số các phương pháp nghiên cứu hỗ trợ khác
Chương 2 Bức tranh hiện thực đa chiều về cuộc sống và con người
trong Ảo ảnh trắng của Nguyễn Thị Ngọc Tú
Chương 3 Một số phương thức nghệ thuật trong Ảo ảnh trắng của
Nguyễn Thị Ngọc Tú
Trang 7NỘI DUNG Chương 1 TIỂU THUYẾT NGUYỄN THỊ NGỌC TÚ TRONG DÒNG CHẢY CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1975
1.1 Một số đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
1.1.1 Sự xuất hiện mạnh mẽ của cảm hứng thế sự, đời tư
Những năm đầu sau khi đất nước thống nhất, tiểu thuyết theo “quán tính” vẫn tiếp tục mạch cảm hứng sử thi với đề tài về chiến tranh và con
người trong chiến đấu: Năm 75 họ đã sống như thế (Nguyễn Trí Huân), Miền
cháy (Nguyễn Minh Châu), Trong cơn gió lốc (Khuất Quang Thụy), Đồng bạc trắng hoa xòe (Ma Văn Kháng), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Hai người trở lại trung đoàn (Thái Bá Lợi), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh),
Tuy nhiên, tiểu thuyết thời kì này đã có những thay đổi trong chính cảm hứng
sử thi Viết về chiến tranh, các nhà văn thiên nhiều về bi tráng gắn liền với những kinh nghiệm, trải nghiệm cá nhân Ở đó, bằng cảm hứng sử thi kết hợp với khuynh hướng nhận thức lại, các nhà văn đã thể hiện một cái nhìn đa chiều về chiến tranh: cả những vinh quang và thất bại
Chiến tranh đã đi qua nhưng di chứng của nó vẫn còn đeo đẳng mãi
trong tâm hồn những người bước ra từ cuộc chiến Đó là Lực trong Cỏ lau
của Nguyễn Minh Châu, lặng lẽ chịu đựng những mất mát lớn lao nhất của cuộc đời mình trong sự thấm thía một cách sâu sắc tính chất tàn khốc của chiến tranh Đối với Lực, chiến tranh, kháng chiến như một nhát dao phạt ngang mà hai nửa cuộc đời anh bị chặt lìa thật khó gắn liền lại như cũ Nhưng đau đớn hơn là hai nửa cuộc đời anh cũng không bị cắt lìa hẳn Đó là Kiên
trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh đứng lặng ngắm nhìn toàn cảnh đời
mình đang mất đi, đang trôi xa, đang vĩnh biệt chính mình Mãi mãi những kẻ
Trang 8bước ra khỏi chiến tranh ấy không thể tìm lại được con người trước đây của mình Chiến tranh không chỉ lấy đi của họ tuổi trẻ, tình yêu và cái nhìn trong sáng về cuộc đời mà còn gây ra những mất mát về nhân tính và hạnh phúc Trong ý thức về hiện tại, việc rút ra bài học từ quá khứ là phương thức tốt nhất để tồn tại Theo đó, tiểu thuyết thời kì này không chỉ nói đến niềm vui thắng lợi, mà còn nói nhiều về những gian lao của một đất nước được hồi
sinh Sao Mai (Dũng Hà), Thời xa vắng (Lê Lựu), Nắng đồng bằng, Ăn mày
dĩ vãng (Chu Lai), Lửa từ những ngôi nhà (Nguyễn Minh Châu), Thung lũng thử thách (Thái Bá Lợi), Một ngày và một đời (Lê Văn Thảo), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh)… là hàng loạt những tiểu thuyết gây ấn tượng thật bất ngờ
về hiện thực cuộc chiến, đặc biệt là những bí mật về sự thảm khốc của chiến tranh mà đến tận bây giờ con người mới dám nhìn thẳng vào nó
Nhìn nhận lại chiến tranh, các nhà văn đã đưa những trải nghiệm của
chính bản thân mình vào trong tiểu thuyết: Tháng ba ở Tây Nguyên của Nguyễn Khải, Đất miền Đông của Nam Hà, Họ cùng thời với những ai của Thái Bá Lợi, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Lạc rừng của Trung Trung Đỉnh, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Bến không chồng của Dương Hướng…
Chính những trải nghiệm của họ đã giúp tiểu thuyết có khả năng khái quát lịch sử cụ thể, xác thực và thấm thía hơn Qua nhân vật Kiên, Bảo Ninh lần đầu tiên trong văn học Việt Nam hiện đại nhìn nhận chiến tranh từ góc độ của
số phận một cá nhân bằng tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh Với những cảm
nhận, trải nghiệm của chính mình, Kiên hay cũng chính là tác giả đã mở ra trước mắt người đọc một cuộc chiến tranh khác, không ngược nghĩa, không
“phủ định”, cũng không chống lại cuộc chiến tranh trong tác phẩm của bất kì nhà văn nào Cuộc chiến tranh ấy vừa được ghi nhớ vĩnh hằng vừa bị quên
lãng từng ngày Nỗi buồn chiến tranh là “nỗi buồn được sống sót” Tương lai
của con người sau chiến tranh đã nằm lại ở phía sau xa kia rồi trong những
Trang 9cánh rừng nguyên thủy của chiến tranh Cũng như Bảo Ninh, Trung Trung
Đỉnh trong Lạc rừng, thông qua trực giác và những chiêm nghiệm từ cuộc đời
kháng chiến, đã đề cập tới một vấn đề văn hóa – nhân sinh hệ trọng: phía sau cuộc chiến ì ùm bom đạn là cuộc đấu tranh văn hóa Có thể thấy rằng, từ những trải nghiệm của chính cá nhân, chiến tranh được nhà văn tái hiện một cách chân thật và bi tráng Cuộc chiến càng lùi xa thì kí ức về chiến tranh càng được hiện rõ và cô đọng trong tiểu thuyết Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật là cách để chiến tranh đi vào trang sách của nhà văn với những chiều kích khác nhau của nó, khiến người đọc có thể nhận thức về hai cuộc chiến tranh vô cùng khốc liệt đã qua như chính nó từng hiện diện
Chiến tranh càng lùi xa, xã hội càng có nhiều biến động Nếu như trước đó góc độ tiếp cận hiện thực và con người chưa hoàn toàn đi chệch quỹ đạo của văn học sử thi, thì chỉ vài năm sau kháng chiến, nhà văn đã bắt đầu cưỡng lại “từ trường” của sử thi để gia tăng chất “đời tư” và “thế sự” Theo
đó, hướng vào đời sống thế sự gắn với con người đời tư là vấn đề đặc biệt được chú trọng trong tiểu thuyết sau 1975, đặc biệt là sau 1986 Dưới tác động của đời sống xã hội, nhà văn nhận ra sự cần thiết phải đi sâu vào phản ánh những khủng hoảng của con người thời đại mới
Tiểu thuyết đi sâu vào khám phá hiện thực đời sống bằng sự kết hợp khuynh hướng đạo đức – thế sự và khuynh hướng triết luận đậm nét, thể hiện
bằng hàng loạt các tiểu thuyết đặc sắc (Thời xa vắng (Lê Lựu), Mùa lá rụng
trong vườn (Ma Văn Kháng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc
Trường), Cuộc đời dài lắm (Chu Lai), Cơ hội của chúa (Nguyễn Việt Hà),
Đời thường (Phùng Khác Bắc), Người đi vắng, Trí nhớ suy tàn (Nguyễn Bình
Phương), Người sông Mê (Châu Diên), Cõi người rung chuông tận thế (Hồ Anh Thái), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài)…) Văn học chấp nhận sự hỗn độn,
tính chất bất quy của nhận thức, nghĩa là tôn trọng nhận thức riêng của từng
Trang 10cá nhân, không xây dựng cái chuẩn Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh kết
thúc bằng quyết định ra đời của đứa trẻ, đồng thời qua đó mở ra cho mỗi người đọc những bài học khác nhau về luân hồi, đạo lý, về những vấn nạn của
xã hội ngày nay Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà khép lại nhưng những
thắc mắc về con người vẫn còn dang dở: Nhã sẽ ra sao? Cuộc sống của Hoàng, Thủy sẽ như thế nào? Chính vì chấp nhận sự hỗn độn, bất quy ấy, tiểu thuyết đi đến phá vỡ cách nói phản chiếu đời sống một chiều, cảnh báo trước
nguy cơ tha hóa con người trong môi trường sống mới Ở Thoạt kì thủy,
Nguyễn Bình Phương cho phép mình lãng đãng trong những đoạn độc thoại nội tâm của nhân vật Tính – một người điên thật sự – để viết như mình nghĩ
Để rồi kết thúc câu chuyện, nhà văn mang lại bất ngờ cho độc giả từ cái chết của Tính, bởi nó mở ra chiều khác của suy nghĩ, ám ảnh Phải chăng đó là một lời cảnh báo về tình trạng con người bị hủy diệt và mất nhân tính trong xã hội? Rõ ràng, hiện thực trong tiểu thuyết sau 1975 không còn là cái gì đơn giản, xuôi chiều mà là một thứ hiện thực vô cùng phức tạp chứa đầy mâu thuẫn với nhiều ngõ ngách không dễ dàng nhìn nhận và khám phá
Một điều đáng chú ý là hiện thực thời kì mới không chỉ là hiện thực Cách mạng, là các biến cố lịch sử và đời sống cộng đồng, mà còn là hiện thực của đời sống hằng ngày với các quan hệ thế sự phức tạp chằng chịt, đan dệt nên những mạch nổi mạch ngầm Đặc biệt nhất phải kể đến vấn đề đạo đức Dưới tác động mạnh mẽ của cơ chế thị trường, tiểu thuyết sau 1975 đặt ra yêu cầu về ý thức, trách nhiệm, lương tri con người trước những biến động ghê
gớm của các chuẩn mực giá trị đạo đức Hàng loạt những tác phẩm như Thời
xa vắng, Chuyện làng Cuội (Lê Lựu), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn
Kháng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Đời im lặng (Chu Lai), Khoảng sáng không mất (Nguyễn Bảo), Lão khổ (Tạ Duy Anh),
Hơn cả tình yêu (Nguyễn Trường)… cho thấy các nhà văn đã nhận ra trạng
Trang 11thái “chấn thương” của dòng đời trong cơn “chấn động” Đó là lối sống thực dụng chạy theo vật chất, xem đồng tiền là thước đo tất cả Người đọc chưa hết
ngỡ ngàng trước hành động của Quàng trong Mảnh đất lắm người nhiều ma
khi quyết định chôn cất người anh xấu số của mình bằng cách bó chiếu vì sợ tốn kém Đồng tiền với sức mạnh của nó cũng như những vị kỉ cá nhân đã che lấp các mối quan hệ thiêng liêng của gia đình, làm xói mòn giá trị đạo đức của
con người Nhân vật Côn và Sang trong tiểu thuyết Dòng sông Mía của Đào
Thắng là biểu trưng cho quá trình ấy với những lời xấc xược, tệ mạt đối với
mẹ chồng và cha ruột của mình
Phản ánh hiện thực một cách chân thật, nhà văn cũng không ngại né tránh những mặt khuất lấp của đời sống Hiện thực được phản ánh hoàn toàn
không có vùng cấm kể cả tâm linh Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Những mảnh đời đen trắng (Nguyễn Quang Lập), Ác mộng (Ngô Ngọc Bội), Cõi mê (Triệu Xuân), Thiên
sứ (Phạm Thị Hoài), Người sông Mê (Châu Diên), Thiên thần sám hối (Tạ
Duy Anh), Phố Tàu (Thuận), Dòng sông Mía (Đào Thắng)… là hàng loạt
những tiểu thuyết đã tái hiện thành công cuộc sống trong tính chân thực, sinh động và toàn vẹn Không chỉ có thế giới thực, tạo nên cuộc sống còn có thế giới tâm linh đầy huyền bí của con người Nó là nơi để con người tin tưởng và
lý giải cuộc đời Bằng cách ấy, con người lấy cái phi lý để nhận thức cái hữu
lý, nhà văn lấy logic của nghệ thuật và trí tưởng tượng để nhìn thấy logic ngoài cuộc sống, tất cả được thực hiện một cách hiệu quả
Bối cảnh thời đại mới đã thức tỉnh ý thức cá nhân nhà văn, đòi hỏi họ quan tâm đến mỗi con người và từng số phận Theo đó, tiểu thuyết sau 1975, đặc biệt là sau 1986 bắt đầu đi sâu vào khai thác nội tâm bên trong của con người với những diễn biến tâm lý, tình cảm phức tạp Đồng thời với việc đi sâu vào khai phá thế giới nội tâm con người, tiểu thuyết những năm đổi mới
Trang 12cũng có ý thức khám phá chiều sâu tâm linh của họ nhằm đi đến một cái nhìn toàn vẹn và sâu sắc hơn về chân dung con người thực Ngòi bút các nhà văn bắt đầu khơi sâu vào cõi tâm linh, vô thức của con người, khai thác “con người ở bên trong con người” Điều này được thể hiện trong hầu hết các tiểu
thuyết như Thời xa vắng, Hai nhà của Lê Lựu, Bến không chồng của Dương Hướng, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Ngược dòng nước lũ của Ma Văn Kháng, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt
Hà, Cơn giông của Lê Văn Thảo, Góc tăm tối cuối cùng của Khuất Quang Thụy, Người đi vắng của Nguyễn Bình Phương, Cõi người rung chuông tận
thế của Hồ Anh Thái, Thiên sứ của Phạm Thị Hoài…
Con người trong tiểu thuyết hiện lên trong tính đa chiều của mọi mối quan hệ và được khám phá, soi chiếu ở nhiều bình diện, nhiều tầng bậc Nhờ
đó nhà văn thể hiện được những suy tư, chiêm nghiệm về con người thời kì mới Theo đó, nếu như sáng tác của một số cây bút như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Tạ Duy Anh… quan tâm nhiều đến hành trình
tự ý thức của con người; Chu Lai, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Quang Lập… nghiêng về phát hiện con người bản năng, vô thức thì Bảo Ninh, Hồ Anh Thái, Châu Diên… lại trăn trở về đời sống tâm linh con người Tất cả những khám phá đa dạng ấy dẫn tới sự đa dạng trong thế giới con người Con người được xem là một cá thể chứa đựng cả một nhân loại mang tính phổ quát Bởi
lẽ, con người bây giờ không phải là con người nhất phiến, đơn trị, mà là con người đa trị, “lẫn lộn giữa người tốt, kẻ xấu, rồng phượng lẫn rắn rết, thiên
thần và ác quỷ” (Nguyễn Minh Châu) Giang Minh Sài (Thời xa vắng), Khiêm (Ngược dòng nước lũ), Kiên (Nỗi buồn chiến tranh), Lão Khổ (Lão
Khổ), Tâm (Cơ hội của chúa)… là những con người luôn sống trong sự giằng
xé khi đứng trước thử thách và lựa chọn trên các cực đối lập để nhận về mình thành công hay thất bại trong dòng chảy của cuộc đời Chính vì lẽ ấy mà trong
Trang 13quá trình sáng tác, nhà văn luôn gửi gắm vào tác phẩm những câu hỏi nghiêm túc về con người, về cuộc vật lộn giữa con người và hoàn cảnh để tìm kiếm
chính mình Thời xa vắng (Lê Lựu), Bến không chồng (Dương Hướng), Lão
khổ (Tạ Duy Anh), Ác mộng (Ngô Ngọc Bội), Những mảnh đời đen trắng
(Ngô Quang Lập), Đám cưới không có giấy giá thú (Ma Văn Kháng), Mảnh
đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường)… mãi là “những trăn trở,
bức xúc về con người trong niềm khao khát tác động vào xã hội, thay đổi hoàn cảnh sống để có được mặt bằng văn hóa cao hơn, điều kiện vât chất tốt hơn cho sự phát triển tính người lành mạnh” [15,tr.204]
Với cảm hứng thế sự gắn với con người đời tư, tiểu thuyết sau 1975 còn chú ý quan tâm nhiều đến khát vọng đời thường liên quan đến con người
Nếu Thời xa vắng của Lê Lựu là tiếng kêu khi con người cá nhân không
những bị cái tập thể vô danh tính che lấp mà chính mình cũng tự che lấp
mình, không dám tự bộc lộ với chính mình thì Bến không chồng của Dương
Hướng là tiếng kêu thống thiết của con người về hạnh phúc cá nhân Đặc biệt vấn đề cá tính, bản thể, đời tư, tình dục được tôn trọng, thậm chí đề cao Các
nhân vật trong Đi tìm nhân vật (Tạ Duy Anh), Thoạt kỳ thủy, Ngồi (Nguyễn Bình Phương), Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn (Nguyễn Việt Hà) đều là
những phức thể tính cách và tâm lý – một thế giới tâm lý, tâm linh đầy những hồi ức, dằn vặt, ám ảnh Điểm đặc biệt ở các nhân vật nêu trên là sự thể hiện vấn đề “ẩn ức tình dục” đồng thời với vấn đề “tâm linh” Và nhà văn đã coi
“tình dục” như là lối dẫn vào tâm linh, từ đó thể hiện khát vọng tình yêu, tình
dục, khát vọng về giải phóng bản thể Với Thiên sứ, “Từ chối xây dựng nhân
vật theo truyền thống, Phạm Thị Hoài đã dùng nhân vật biểu tượng để nói lên điều không thể miêu tả: con người rơi vào bi kịch khi bị tha hóa một cách tự nhiên mà không nhận thấy quá trình bị tẩy trắng của mình Không tuyên truyền, không hô khẩu hiệu, không li kì, rùng rợn, nhưng lời cảnh báo này
Trang 14khiến người đọc không khỏi giật mình và tự phản tỉnh về ý nghĩa tồn tại cá nhân trong một đất sống đầy rẫy thỏa hiệp” [16,tr.258]
Có thể nói, “Trong những khúc ngoặt đời sống thường thì truyện ngắn đáp trả nhạy bén hơn (…) Nhưng tạo nên những chấn động, cao trào văn học thì phải là tiểu thuyết” [18,tr.182] Theo đó, tiểu thuyết sau 1975, đặc biệt là sau 1986 xứng đáng là thể loại nổi bật nhất của văn học sau chiến tranh khi nó hướng tới việc đào sâu vào ngóc ngách tâm hồn con người, phản ánh đến tận cùng hiện thực
1.1.2 Đổi mới về kỹ thuật tiểu thuyết
Bằng lối tư duy thể loại, tiểu thuyết sau 1975, với những thay đổi đáng
kể về cách nhìn hiện thực và con người, đã tạo ra được những cách tân mới
mẻ về nghệ thuật Với dung lượng không quá dài để chuyển tải cả một hiện thực cuộc đời đầy biến động, tiểu thuyết đã có những đổi mới hàng loạt về kĩ thuật thể hiện theo hướng kết hợp nhuần nhuyễn giữa kỹ thuật hiện đại phương Tây và truyền thống dân tộc gắn liền với xu hướng hậu hiện đại Các nhà văn đã thể nghiệm những kỹ thuật tự sự mới nhằm cách tân thể loại, góp phần đưa tiểu thuyết Việt Nam dần hòa nhập với tiểu thuyết hiện đại thế giới
Một trong số những cách tân ấy là sự đổi mới về tạo dựng kết cấu Tiểu thuyết được các nhà văn chú ý khai thác ở nhiều kiểu kết cấu khác nhau, nổi bật là kết cấu phân mảnh, kết hợp với hàng loạt các bút pháp kỹ thuật hiện đại như kỹ thuật đồng hiện, kỹ thuật cắt dán điện ảnh, kỹ thuật dòng ý thức,
kỹ thuật huyền thoại – trào lộng, kỹ thuật giễu nhại… Nó được biểu hiện cụ thể trong ba yếu tố tiêu biểu là cốt truyện, hình thức và điểm nhìn trần thuật
Theo đó, cốt truyện tiểu thuyết không còn là những sự kiện lớn lao, chứa đựng những tình huống gay cấn với những xung đột gay gắt mà bắt đầu
đi theo khuynh hướng phản ánh những cái bình thường, nhỏ nhặt trong đời sống hằng ngày, thậm chí tạo cảm giác như là không có chuyện Cốt truyện
Trang 15phân mảnh đã làm cho nội dung câu chuyện không còn rõ ràng, lớp lang theo trình tự thời gian mà trở nên khó nắm bắt Những hiện thực lớn có “tính sử thi” được thay bằng những câu chuyện nhỏ kiểu mảnh vỡ, phân mảnh, nhưng được khai thác triệt để, nhấn sâu vào cảm giác hiện sinh, tô đậm chiều sâu vô
thức – những vùng mờ trong thế giới tâm linh con người Không phải trò đùa của Khuất Quang Thụy, Chim én bay của Nguyễn Trí Huân, Nước mắt đỏ của Trần Huy Quang, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Một thời yêu của Nguyễn Anh Biên… là một số những tiểu thuyết
tiêu biểu sử dụng kĩ thuật dòng ý thức tạo dựng cốt truyện phân mảnh Trong
đó, kí ức là “chất keo” làm kết dính quá khứ với hiện tại, soi sáng hiện tại, cũng là cách thức nhận thức và biểu hiện thực tại, là con đường “tìm kiếm thời gian đã mất” của cả một thế hệ cô đơn giữa thời bình, tạo nên dòng thời gian tâm lý sâu sắc trong văn chương thời kì mới Các cây bút như Ma Văn Kháng, Lê Văn Thảo, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Võ Thị Hảo… đã có những cách tân không nhỏ trong sáng tạo để cho ra đời những tác phẩm tiểu thuyết mang cốt truyện lỏng lẻo,
mơ hồ, khó tóm tắt, khó kể lại Tiểu thuyết, vì thế, “vừa là tiếng nói của ý thức, vừa là tiếng nói của tiềm thức, của giấc mơ, thể hiện cái hiện tại đang vận động, biến chuyển, không khép kín” [16,tr.228]
Sau năm 1975, cụ thể là giai đoạn khoảng đầu thập kỉ 90 trở lại đây có
sự đề cao tính chất “trò chơi” của tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài,
Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái, Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, Thoạt kì thủy của Nguyễn Bình Phương, Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh, Người sông Mê của Châu Diên… là một số những tiểu thuyết tiêu biểu mang
tinh thần “khước từ truyền thống” vượt khỏi mô hình tiểu thuyết quen thuộc Ngoài sự gia tăng mạnh mẽ các yếu tố huyền thoại, trào lộng, xu hướng ngắn gọn, dồn nén… các tiểu thuyết trên đều có sự triển khai kết cấu theo quan
Trang 16niệm tiểu thuyết là “một trò chơi vô tăm tích” (Phạm Thị Hoài) Chẳng hạn,
có thể thấy rõ điều này trong Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) hay Phố Tàu (Thuận) Với tiểu thuyết sau 1986, kết cấu nghệ
thuật theo khuynh hướng đậm tính “trò chơi” dường như trở thành một phương thức để tái hiện đúng bản chất hiện thực và con người hiện đại
Sự thay đổi về kết cấu nghệ thuật dẫn đến sự thay đổi về xây dựng nhân vật, kéo theo đó là sự đa dạng trong điểm nhìn trần thuật Nhân vật được xây dựng theo khuynh hướng chối từ quan niệm “điển hình hóa” của chủ nghĩa hiện thực truyền thống, đặc biệt là xây dựng kiểu nhân vật dị biệt, cùng với đó điểm nhìn trần thuật cũng được giao cho các nhân vật ấy Thế giới
trong Thiên sứ của Phạm Thị Hoài được đặt dưới cái nhìn của bé Hoài, một cô
bé không chịu làm người lớn và kiên quyết từ chối không đứng vào bất kì bộ đồng phục quá rộng hoặc quá chật nào, khước từ mọi quan hệ họ hàng với
những nhân vật xa lạ kia, khước từ những sản phẩm confection may hàng loạt
Dễ dàng nhận thấy rằng, tiểu thuyết giai đoạn 1945 – 1975 tác động đến người đọc bằng chân lý có sẵn của nhà văn Đó là chân lý luôn đúng, được bảo đảm bởi kinh nghiệm cộng đồng, được khẳng định bằng tính hợp lý tất yếu của hiện thực cách mạng Chính vì vậy điểm nhìn trần thuật cũng được giao cho người phán truyền chân lý – nhà văn – đảm nhận Mỗi tác phẩm thường chỉ có một điểm nhìn Ngược lại với quan niệm ấy, tiểu thuyết sau
1975, hơn cả là sau 1986, với tinh thần dân chủ hóa văn học đã thay đổi mối quan hệ độc thoại một chiều giữa nhà văn và bạn đọc thành quan hệ đối thoại hai chiều, thậm chí đa chiều Độc giả không bị áp đặt chân lý mà được quyền bình đẳng với nhà văn trong hành trình tìm kiếm chân lý Theo đó, điểm nhìn
đa trị được xác lập, thậm chí người kể chuyện không đáng tin cậy cũng được quyền tham gia tái hiện câu chuyện Chẳng hạn, điểm nhìn trần thuật trong
Giàn thiêu của Võ Thị Hảo là sự luân chuyển và luôn luôn bị chi phối bởi các
Trang 17nhân vật không bình thường: Từ Lộ, Nhuệ Anh, chàng Cá bơn Cũng như thế,
trong Người sông Mê của Châu Diên điểm nhìn trần thuật luân chuyển liên
tục từ Khánh sang Hoa, sang Hương, người thứ ba giấu mặt, và nhiều nhân vật khác trong truyện như bố Hoa, bố Khánh, ông Mãnh,… Các nhân vật này điều không đáng tin cậy, ai cũng mê mê tỉnh tỉnh, nhớ nhớ quên quên, không biết mình là ai, còn sống hay đã chết Dưới mỗi điểm nhìn khác nhau, các nhân vật, sự kiện, tình huống được thể hiện một cách đứt gãy, vụn vặt, không
có bất kì một sự liên kết nào Chính vì vậy câu chuyện tựa như một hệ thống
sự kiện được lắp ghép ngẫu nhiên, vô thức, rời rạc Có thể nói, bằng cách kể lại câu chuyện dưới nhiều điểm nhìn khác nhau, tiểu thuyết thời kì mới đã đem lại sự khách quan cho người đọc trong quá trình tiếp nhận tác phẩm, từ
đó việc chuyển tải nội dung tư tưởng của tác phẩm cũng tự nhiên hơn, sâu sắc hơn, dễ dàng hơn
Không chỉ dừng lại ở những đổi mới về kết cấu, ngôn ngữ và giọng điệu trong tiểu thuyết sau 1975 cũng có những cách tân đáng chú ý
Về ngôn ngữ, hệ thống ngôn ngữ tiểu thuyết có sự gia tăng mạnh mẽ vai trò của ngôn ngữ đối thoại và tăng cường mở rộng vai trò của ngôn ngữ độc thoại, đặc biệt là độc thoại nội tâm qua kĩ thuật dòng ý thức Nếu ngôn ngữ đối thoại giữ vai trò đáng kể trong khắc họa tính cách nhân vật thì ngôn ngữ độc thoại là phương tiện thiết yếu giúp nhà văn khai thác và khám phá thế giới tâm linh của con người Theo đó, ý thức đối thoại trong tiểu thuyết tiếp tục được triển khai và phát huy trong bối cảnh lịch sử mới giữa không khí dân chủ hóa của đời sống văn học Ngôn ngữ tiểu thuyết gần với ngôn ngữ đời thường, giàu tính khẩu ngữ, đặc biệt có sự cá tính hóa mạnh mẽ, tính cách nào
lời lẽ ấy: cách nói trần trụi, dân dã của người lính trong Nỗi buồn chiến tranh,
Ăn mày dĩ vãng; cách nói bạo dạn, thẳng thắn của cánh nhà báo trong Dấn thân, Một ngày và một đời; cách nói lạnh lùng, tỉnh táo của những kẻ làm ăn
Trang 18trong Cơ hội của Chúa, Thiên sứ; cách nói khuôn thước, đài cát nơi cung vua, phủ chúa trong Hồ Quý Ly, Giàn thiêu… Trong khi đó, tiểu thuyết những năm
Đổi Mới cũng khai thác tối đa ngôn ngữ độc thoại nội tâm nhằm tái hiện quá trình tự ý thức của nhân vật, đi sâu vào thế giới nội tâm đầy bí ẩn của nhân vật
để giải mã thế giới vô thức của con người Trong hầu hết các tiểu thuyết hiện đại ra đời vào những thập kỉ 80, 90 ngôn ngữ độc thoại nội tâm đều được
quan tâm chú trọng (Ngược dòng nước lũ của Ma Văn Kháng, Nỗi buồn chiến
tranh của Bảo Ninh, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Người đi vắng của Nguyễn
Bình Phương, Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, Thiên thần sám hối của Tạ Duy
Anh…) Đặc biệt, những biến hình của hình tượng nhân vật, hơn cả là kiểu nhân vật dị biệt, kì ảo, điên loạn, đã làm ngôn ngữ tiểu thuyết có xu hướng
mờ nhòa ranh giới giữa tính tinh tuyển và tính thông tục Ở một số tác giả, những từ thông tục, từ tục tằn có xu hướng tăng lên và công nhiên Lối viết phóng túng của nhà văn với những câu văn không chấm phẩy, phá cách, sự vênh lệch, trật khớp trong đối thoại, cả những ý nghĩ miên man, chắp nối vụn vặt, nhảy cóc của nhân vật… tạo nên một mê lộ ngôn từ khó nắm bắt
Gắn liền với những thay đổi ngôn ngữ, giọng điệu tiểu thuyết cũng trở nên đa dạng, trong đó chủ đạo là giọng triết luận, chiêm nghiệm Kết hợp với phương thức độc thoại nội tâm, giọng điệu triết lý thực sự thành công khi mở
ra cho tác phẩm chiều sâu nhân văn trong quá trình phản ánh và tái hiện hiện thực Nhờ đó, tác giả tạo dựng được không gian đối thoại giữa nhà văn và cuộc đời, giữa độc giả và nhân vật, giữa quá khứ và hiện tại, những bài học luân lý về đạo đức xã hội và con người cũng từ đó được soi rọi một cách thấm thía và chân thật Có thể thấy, giọng điệu triết luận có mặt trong hầu hết các tác phẩm tiểu thuyết từ sau 1975 của các cây bút như Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Lê Lựu, Nguyễn Văn Bổng, Nguyễn Mạnh Tuấn, Hữu Mai, Ngô Ngọc Bội, Chu Lai, Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Khắc
Trang 19Trường… và ngày càng trở nên sâu sắc trong các tác phẩm đương đại của Bảo Ninh, Dương Hướng, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Quang Lập, Võ Thị Hảo, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Châu Diên, Thuận, Nguyễn Bình Phương… Tuy nhiên, không chỉ có giọng suy tư, triết lý, trong các sáng tác của mình, mỗi
nhà văn còn khai thác nhiều giọng điệu khác nhau Chẳng hạn trong Thiên sứ
của Phạm Thị Hoài, ngoài sắc giọng chiêm nghiệm, với một ngôn ngữ “lạnh lùng” dửng dưng, vô cảm còn đan xen giọng điệu trữ tình lắm xót xa với thế giới loài người chỉ có hai loại Homo A (người biết yêu thương) và Homo Z
(người không có khả năng yêu thương) Hay trong tiểu thuyết Hội thề của
Nguyễn Quang Thân, nếu giọng điệu suy tư, triết lý có vai trò quan trọng trong việc xoáy sâu vào những khoảnh khắc, bi kịch của thế giới nội tâm nhân vật, thì giọng điệu xót xa, thương cảm lại không thể thiếu để tác giả hé lộ thái
độ, tình cảm trước mỗi số phận cá nhân trong cơn biến loạn lịch sử Ngoài ra, giọng điệu ngợi ca, hào sảng cũng là lớp giọng điệu phù hợp để Nguyễn Quang Thân khơi gợi không khí lịch sử, thể hiện thái độ tôn trọng đối với quá khứ bảo vệ Tổ quốc hào hùng của các đấng tiền nhân Đặc biệt phải kể đến hai sắc thái giọng điệu mới của tiểu thuyết sau 1975, hơn hết là sau đổi mới,
đó là giễu nhại và hoài nghi Từ sâu xa, đây là hai chất giọng diễn đạt tinh tế tinh thần của con người hiện đại, nó chống lại các quy phạm trói buộc và thường xuyên tự vấn
Như vậy, sau năm 1975, “sự tìm tòi những kiểu kết cấu khác nhau của tiểu thuyết đương đại là nhằm phát hiện ra tính chất ngày càng phức tạp hơn của đời sống và con người Suy cho cùng những biến đổi trong kết cấu thể loại là phản ánh những đổi thay kết cấu trong đời sống xã hội xét về nhiều mặt” [16, tr.191] Cùng với đó, bằng cách tạo dựng sự đa thanh trong ngôn ngữ, tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 cũng trở nên đa giọng điệu Nhà văn bằng tài năng nghệ thuật của mình đã vận dụng và sáng tạo thành công ngôn ngữ
Trang 20đời thường với ngữ điệu của chúng, góp phần làm đổi mới hoàn toàn diện mạo tiểu thuyết hiện đại Việt Nam trong quá trình vận động tiến gần với chủ nghĩa hậu hiện đại thế giới
1.2 Quan niệm nghệ thuật và hành trình sáng tạo của Nguyễn Thị Ngọc
Tú
1.2.1 Quan niệm nghệ thuật
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo tại Hà Nội vào thời kì tiền khởi nghĩa, Nguyễn Thị Ngọc Tú sớm gắn bó với môi trường nông thôn Chính niềm đam mê hội họa đã đưa bà đến với văn chương Bà tự nhủ không
vẽ được cảnh, được người bằng màu, bằng thuốc thì ghi lại thật tỉ mỉ bằng chữ Không chỉ có thế, với Nguyễn Thị Ngọc Tú, văn chương còn là nơi để bà trải lòng mình với tình yêu dành cho mẹ Bởi bà yêu văn học, muốn viết văn lại từ những câu chuyện kỉ niệm của mẹ mình Trong hành trình sáng tạo văn chương, Nguyễn Thị Ngọc Tú cũng có những quan niệm nghệ thuật riêng Tuy nhiên, không giống như một số nhà văn phát biểu quan niệm nghệ thuật của mình lên từng trang viết, Nguyễn Thị Ngọc Tú giản dị thể hiện quan niệm nghệ thuật của bà qua từng suy nghĩ
Nguyễn Thị Ngọc Tú hiểu được sứ mệnh của văn chương, vì vậy, bà đánh giá cao giá trị của văn chương nghệ thuật đối với cuộc đời Bà quan niệm “Cùng với thời gian mọi thứ sẽ qua đi, chỉ còn lại những giá trị nhân văn
mà thôi”, văn chương không là gì khác “Văn là hướng con người tới điều thiện, tránh bỏ tà ác Mà điều thiện bao giờ cũng là vĩnh hằng” [27] Chính vì vậy, trong hầu hết các sáng tác của mình, bao giờ bà cũng ý thức lưu lại trong lòng người những giá trị nhân văn sâu sắc Đó không phải là những giá trị to lớn, xa xôi, mà thường là sự ngợi ca và khẳng định ý nghĩa của cái tốt, cái
thiện trong cuộc sống đời thường hết sức gần gũi Câu chuyện dưới tán lá rợp
là tập truyện ngắn mà Nguyễn Thị Ngọc Tú dường như dành riêng cho người
Trang 21phụ nữ Những con người này không phải là những anh hùng, dũng sĩ, họ chỉ
là những con người bình thường với những lo âu, vui buồn của cuộc sống bình thường Họ là đại đa số quần chúng nhưng ẩn chứa bên trong họ là phẩm chất cao quý và nghị lực kiên cường của người phụ nữ Việt Nam Ở một khía
cạnh khác, Đất làng khiến người đọc nhận ra rằng, đằng sau cuộc đấu tranh
gay gắt giữa tư tưởng mới và cũ về vấn đề sản xuất nông nghiệp là cái nhìn đôn hậu về người nông dân và nông thôn mới Qua đó, nhà văn trực tiếp khẳng định những cái cũ, cái trì trệ sẽ dần dần được đẩy lùi để cho cái mới hợp quy luật phát triển Nhìn chung, từ ý thức sâu sắc về sứ mệnh của văn chương, Nguyễn Thị Ngọc Tú đã dùng ngòi bút của mình đấu tranh cho quá trình hoàn thiện nhân cách con người cũng là hoàn thiện xã hội
Thấy được sứ mệnh của người cầm bút khi bước chân vào nghệ thuật, Nguyễn Thị Ngọc Tú không những coi trọng tính nhân văn trong mỗi tác phẩm mà còn coi trọng hiện thực đời sống đã làm nên những tác phẩm ấy Đồng thời bà cũng đánh giá cao sự nỗ lực của người viết Theo nhà văn, viết văn không chỉ xuất phát từ cảm hứng, mà còn từ sự bền bỉ, dẻo dai trong việc tiếp cận và đào sâu khám phá thực tế Bà cho rằng “Phấn đấu đi thực tế, tìm hiểu, ghi chép mới chỉ là bước đầu của việc sáng tác Từ thực tế đến tác phẩm
là một khoảng cách rất xa Có người cho rằng muốn viết văn phải có tài năng Tôi nghĩ điều đó cũng có phần đúng nhưng không phải là quyết định Quyết định là ở lòng quyết tâm, kiên trì lao động” [1,tr.539] Chính vì vậy, trong quá trình sáng tác, dù vẫn đề cao vai trò của hiện thực, nhưng cái chủ đạo làm nên thành công thực sự, theo Nguyễn Thị Ngọc Tú, lại là trách nhiệm của người cầm bút Với bà, thực tế đời sống sẽ giúp cho người viết sáng tạo hơn trong việc xây dựng nhân vật và vững vàng hơn trong việc thể hiện nó vào văn học, nhưng sáng tác là một công việc mà giá trị của nó là ở chỗ nó có ích không Nhà văn, vì lẽ ấy, phải là một người có nghị lực và kiên trì thì tác phẩm mới
Trang 22có giá trị Điều này được minh chứng cụ thể trong các quá trình sáng tạo nghệ
thuật của Nguyễn Thị Ngọc Tú Bà tâm sự, tiểu thuyết Đất làng là kết quả sau
bốn lần chép lại của nhiều năm cố gắng, tìm hiểu và nghiên cứu về nông
nghiệp Trong khi đó, Buổi sáng là cuốn tiểu thuyết ra đời từ những chuyến đi
thực tế và học hỏi các nghị quyết về nông nghiệp, thậm chí bà đã đến ở các trạm máy kéo, các hợp tác xã có cày máy, theo công nhân đi cày để tìm hiểu cặn kẽ về cơ giới hóa trong sản xuất Chính từ những trải nghiệm của mình, Nguyễn Thị Ngọc Tú luôn coi trọng sự nỗ lực của người sáng tạo trên con đường nghệ thuật Đối với bà, “cảm hứng” không phải là yếu tố quyết định việc ra đời một tác phẩm, bởi lẽ lao động sáng tạo là một việc làm vất vả và công phu
Coi trọng vai trò của hiện thực, Nguyễn Thị Ngọc Tú đặc biệt quan tâm đến thế giới con người Bởi lẽ, bà nhận thấy hiện diện trong mỗi con người là cả những tốt – xấu, thiện – ác, cao cả – đớn hèn… Đó là cả một nhân loại mang tính phổ quát Với bà, “Tác phẩm hay và có ích đâu phải chỉ viết về những đề tài lớn, những nhân vật có tên tuổi, mà chính vì đã nói lên được những điều sâu sắc về con người, về những nỗi đau và niềm vui mà mỗi người đều có thể soi bóng vào trong đó” [1,tr.508] Con người là điểm xuất phát đầu tiên cũng là điểm kết thúc cuối cùng trong cuộc đua của văn chương trên con đường tiến tới giá trị đích thực Vì vậy, muốn phản ánh được hiện thực cuộc sống thì phải phản ánh được con người Cho nên, đa số những nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Thị Ngọc Tú đều trở thành những đại diện tiêu
biểu góp phần tạo nên diện mạo cuộc đời Hình bóng cuộc đời là câu chuyện
của mấy nhân vật Bình, Dương, Thịnh và Myn, nhưng đủ sức khái quát cho một thế hệ trưởng thành trong chiến tranh, trải qua thời bao cấp, bước vào giai
đoạn của cơ chế thị trường Còn Hạt mùa sau lại thông qua nhân vật để nhắc
đến một quy luật của cuộc sống: cái xấu, cái tốt không hình thành một cách
Trang 23máy móc, cứng nhắc, cố định Trước những biến động cuộc đời con người có thể lúc đầu tốt nhưng càng ngày càng trở nên xấu như Hiền, cũng có thể xấu nhưng thay đổi tốt dần như ông Quynh Đặc biệt sự chuyển biến của Hồng, tuy mới là mở đầu nhưng đã thật sự gây xúc động cho bạn đọc một niềm tin
về sự hướng thiện của nhân vật Nguyễn Thị Ngọc Tú nhận thấy trong một con người luôn diễn ra những xung đột gay gắt giữa con người cá nhân và con người cộng đồng, giữa cái xấu và cái tốt Vì vậy, không chỉ phản ánh con người như họ vốn tồn tại, ở bà còn tha thiết một tấm lòng nhân đạo đối với họ trong cuộc sống Bà đôn hậu nhìn ra rằng “cái ác ẩn sâu trong con người, nhưng cũng ẩn sâu trong cái ác là khả năng trở lại cái thiện” [10,tr.217]
Bước chân vào con đường nghệ thuật bằng niềm tin, sự nỗ lực và ham thích trải nghiệm, Nguyễn Thị Ngọc Tú đã để lại trong lòng người tiếp nhận hình ảnh một nhà văn luôn có trách nhiệm trên con đường sáng tạo Với bà, nghệ thuật không đơn thuần chỉ là “cảm hứng” được viết thành văn mà hơn hết đó là cả một quá trình lao động mệt nhọc với những băn khoăn, day dứt trên cái nền hiện thực cuộc đời Yêu thích hội họa cho nên Nguyễn Thị Ngọc
Tú viết văn cũng là vẽ tranh bằng văn chương Nghệ thuật văn chương Nguyễn Thị Ngọc Tú, vì thế, cũng như là nghệ thuật hội họa mà nói như Đoàn Thị Thu Hương, khi xem những tác phẩm của bà “chúng ta có cảm giác như xem những bức điêu khắc dân gian” [1,tr.525]
1.2.2 Hành trình sáng tạo
Nguyễn Thị Ngọc Tú sinh ngày 25 tháng 12 năm 1942 tại ngõ chợ Khâm Thiên, Hà Nội, trong một gia đình có bố làm nghề dạy học, mẹ buôn bán nhỏ Thời thiếu nữ bà vừa đi dạy vừa viết văn Sau một số thành công nhất định trong sáng tạo nghệ thuật, năm 1963 bà chuyển sang nghề báo, làm
việc tại báo Vùng mỏ ở Quảng Ninh (1964 – 1967) Năm 1967 bà về làm phóng viên báo Văn nghệ và trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam Năm
Trang 241983 bà được bầu vào Ban chấp hành Hội Nhà văn Từ đó bà chuyển hẳn về
công tác tại Hội Nhà văn rồi làm Tổng biên tập Tạp chí Nhà văn Hiện nay bà
đã về hưu nhưng vẫn tiếp tục viết và cho ra sách khá đều
Bắt đầu sáng tác năm 1960, tác phẩm đầu tay của bà Chiếc áo màu
cánh gián dù sửa đi sửa lại đến 10 lần cuối cùng vẫn thất bại Nội dung câu
chuyện chỉ là cuộc đấu tranh nhẹ nhàng, giản dị trong những ngày đầu mới xây dựng hợp tác ở nông thôn phải họp hành nhiều Chuyện cũng có thể xảy
ra ở đâu đó, nhưng đọc và suy nghĩ kĩ từng chi tiết, bà nhận ra có nhiều mâu thuẫn không giải quyết được Rút kinh nghiệm từ thất bại đầu tiên, năm 1961,Nguyễn Thị Ngọc Tú đã được một số bạn đọc biết đến bằng mẩu chuyện
nhỏ Đêm mùa đông và một năm sau là Buổi học giữa đồng Tuy nhiên, đó
chưa phải là thành công thực sự Một số tác phẩm của bà vẫn còn tồn tại nhiều khuyết điểm mà như bà tự nhận “tất cả những điều tạo ra cho câu chuyện có lý lại làm cho truyện thành vô lý; những sắp xếp bố trí để cho truyện “như thật” lại làm truyện thành giả tạo” [1,tr.540] Những thất bại đầu tiên không làm bà nản chí, ngược lại, như một nhân tố kích thích mạnh mẽ, càng làm bà quyết tâm hơn Dành thời gian suy nghĩ, cuối cùng bà cũng tìm ra hướng viết thích hợp với mình, đó là viết về ngành giáo dục Sự xác định đúng hướng ngay lập tức đã đem lại cho bà thành công đầu tiên khi truyện
ngắn Một đứa trẻ (ra đời năm 1962) của Nguyễn Thị Ngọc Tú được giải nhì cuộc thi truyện ngắn của tuần báo Văn học Dẫu vẫn còn nhiều hạn chế, nhưng Một đứa trẻ đã khắc phục được những hạn chế cơ bản trước đó
Chuyện đã bám sát vào cuộc sống đời thường với tình tiết có tính chân thật hơn: một cô giáo với lòng thương yêu trẻ em đã kiên trì vận động, thuyết phục một em bé hư hỏng vì chế độ giáo dục cũ đi học Đây cũng được coi là chặng đường đầu trong sự nghiệp sáng tác của bà
Trang 25Tiếp tục rút kinh nghiệm và đối chiếu tác phẩm vào thực tế, bà nhận ra
Một đứa trẻ chỉ là “một mẩu lơ lửng, một mảnh nhỏ xé ra trong cuộc sống rất
to dày” [1,tr.540] Liên hệ với thực tế trong nghề, Nguyễn Thị Ngọc Tú quyết
định mở rộng phạm vi truyện ngắn Một đứa trẻ Sau quyết định này, Nguyễn Thị Ngọc Tú “trình làng” bằng truyện Huệ in năm 1964 Có thể khẳng định,
đây là bước tiến đáng kể trong sự nghiệp văn chương của bà Khác với những
truyện trước, Huệ đã tương đối bám sát vào thực tế, tạo ra được sự liên hệ
giữa tác phẩm và thực tiễn nghề nghiệp (nghề giáo), phạm vi truyện ngắn được mở rộng, nội dung câu chuyện đã chân thực hơn với cảm xúc chân thành, cách viết sinh động và dễ đi vào lòng người Qua tác phẩm, người đọc không chỉ nghĩ về phẩm chất của một cô giáo trong nhà trường xã hội chủ nghĩa, mà suy rộng ra đến vấn đề lý tưởng của người thanh niên trong thời đại ngày nay: phải sống, làm việc và yêu như thế nào cho đúng? Được dư luận
đánh giá tốt, Huệ được coi là thành công bước đầu của bà về thể loại truyện
dài Cũng vào thời điểm này, bà quyết định chuyển từ nghề giáo sang nghề báo với vai trò một phóng viên Tính chất nghề nghiệp mới đã chắp cánh cho con đường nghệ thuật phía trước của bà Có điều kiện thâm nhập thực tế, năm
1966, bà in tập truyện ngắn đầu tiên Người hậu phương Tất cả như một sư
tập dược, tạo tiền đề cho bước nhảy vọt vào một địa hạt mới với nhiều vấn đề nảy sinh, khẳng định một tài năng văn học tiêu biểu Nguyễn Thị Ngọc Tú
Luôn cố gắng và học hỏi trên con đường sáng tạo nghệ thuật, Nguyễn Thị Ngọc Tú quyết tâm chuyển hướng sáng tác từ đề tài giáo dục sang đề tài nông nghiệp Thực ra, thể nghiệm mới này cũng đã được nuôi dưỡng trong bà
từ những năm gắn bó với trường làng và môi trường nông thôn Ghi chép những điều ấn tượng, tìm hiểu thực tế cuộc sống thôn quê, con người nông dân với những vấn đề về hợp tác xã, cơ giới hóa, thấy được những mặt tích cực trong chính sách của Đảng đối với nông nghiệp, đồng thời cũng nhìn ra
Trang 26những mặt trái còn tồn tại, hiện tượng quan liêu, tham nhũng trong cơ cấu
quản lý, Nguyễn Thị Ngọc Tú cho ra đời tiểu thuyết Đất làng như một đòn đánh đầu tiên vào mặt trái của chế độ bao cấp Vì thế, vừa mới ra đời Đất
làng đã gây được sự sôi động trong dư luận Với 578 trang viết, Đất làng
được đánh giá là cuốn tiểu thuyết dày dặn, chững chạc, được sáng tác bằng một sự nỗ lực lớn, công phu và gian khổ, với bản lĩnh và quyết tâm cao ở người sáng tạo Nhiều bài phê bình, các cuộc phỏng vấn tác giả, những buổi
họp đánh giá Đất làng đã được tường thuật, đăng trên các báo và tạp chí Hầu
hết các nhà phê bình đều cho rằng tác phẩm đã khẳng định được quan hệ sản xuất mới và xu hướng phát triển tất yếu của nông thôn, với một mảng hiện thực gồ ghề không kém phần gai góc nhưng vẫn ánh lên vẻ đẹp của cuộc sống
mới Theo đó, ở Đất làng, bằng việc tái hiện một bức tranh sống động, chân
thực về cuộc sống sinh hoạt, cách thức làm ăn mới, những cuộc đấu tranh gay gắt ở nông thôn trong bước đầu đẩy mạnh cuộc vận động tổ chức lại sản xuất
và cải tiến một bước quản lý nông nghiệp, mà cụ thể là hợp tác xã Trung Dũng, Nguyễn Thị Ngọc Tú đã làm bật lên bao vấn đề của Cách mạng trong sản xuất nông nghiệp đương thời như vấn đề khoa học kĩ thuật với cuộc đấu tranh gay go giữa tư tưởng mới và tư tưởng cũ, vấn nạn lấn chiếm ruộng đất,
“bệnh” thỏa mãn thành tích… Tất cả được thể hiện bằng ngòi bút khá vững, đặc biệt là những biểu hiện sắc sảo, già dặn trong nghệ thuật xây dựng nhân vật mà bà tự nhận là “nhân vật cứ nhẩy ra tanh tách, không ghìm, không giữ
lại được” [10,tr.211] Lấy đó tạo đà, bà cho ra đời tiểu thuyết Buổi sáng, xuất bản năm 1976 như một bước tiến tiếp theo trong đề tài nông nghiệp Với Buổi
sáng, vấn đề cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp đã được bà phản ánh
thành công Tuy nhiên, để vượt qua được Đất làng thì phải đến tiểu thuyết
Hạt mùa sau in năm 1984 Nguyễn Thị Ngọc Tú mới làm được Cũng là đề tài
nông nghiệp, nhưng Hạt mùa sau bên cạnh đề cập chủ yếu tới mối quan hệ
Trang 27giữa những cán bộ nghiên cứu trong một Viện nghiên cứu, còn phản ánh nhiều mặt của xã hội làm người đọc phải suy nghĩ, nhất là nghĩ đến trách nhiệm trước cuộc sống và trước thế hệ trẻ Đến đây, bộ ba tác phẩm bề thế
Đất làng, Buổi sáng và Hạt mùa sau gần như tạo thành một bộ ba tiểu thuyết
phản ánh trọn vẹn cũng là đánh dấu trọn vẹn quá trình chuyển biến, vật lộn, trăn trở của Nguyễn Thị Ngọc Tú cùng những vấn đề đạo đức, nhân sinh của con người trong lĩnh vực nông nghiệp vào những thời điểm khác nhau Song điều đáng nói là dù cùng viết về một đề tài, nhưng mỗi tiểu thuyết lại mang
một vẻ riêng Nếu Đất làng là sự sắc sảo trong xây dựng tính cách nhân vật,
Buổi sáng là sự thông minh trong cách gợi mở vấn đề thì Hạt mùa sau lại là
sự già dặn trong tầm suy nghĩ So với những sáng tác trước đó, bộ ba tiểu thuyết này được coi là bước tiến đáng kể nhất của bà trong sự nghiệp sáng tác
Riêng với Huệ, các tác phẩm này đã có sự già dặn, tinh tế trong xây dựng
nhân vật, kết cấu truyện khá hiện đại, ngôn ngữ trần thuật khá khéo léo và ngày càng gần gũi với ngôn ngữ quần chúng
Cùng với những tác phẩm về đề tài nông nghiệp, Nguyễn Thị Ngọc Tú còn thử sức mình ở nhiều đề tài khác nhau Bằng chứng là thời gian này, bà
còn cho ra đời nhiều truyện vừa như Trong rừng đẻ gai (1976), Cánh đồng bờ
biển (1980), các tập truyện như Câu chuyện dưới tán lá rợp (1983), Những dấu chấm phía chân trời (1983), Khoảng trời phía sau nhà (1987), tập thơ Phút thoáng qua (1989) và hai cuốn tiểu thuyết Ngõ cây bàng (1982) và Giã
từ mùa đông (1989)… Đáng kể nhất lúc này là tiểu thuyết Ảo ảnh trắng
(1989) viết về đề tài người trí thức mà cụ thể là người trí thức Y khoa Với Ảo
ảnh trắng, Nguyễn Thị Ngọc Tú “không đi vào một thực tế ồn ào, sôi động,
không khai thác những mâu thuẫn gay gắt, căng thẳng mà khiêm tốn phản ánh một mặt của đời thường, nhưng lại có sức gợi mở những suy tư, lắng đọng” [10,tr.214] Điều đó cho thấy, hòa cùng dòng chảy của tiểu thuyết sau 1975,
Trang 28văn chương của Nguyễn Thị Ngọc Tú cũng đã tìm về với cảm hứng thế sự,
đời tư mang giọng triết lý, chiêm nghiệm Ảo ảnh trắng, vì lẽ ấy, đã trở thành
một trong số những tác phẩm đánh dấu bước chuyển mới về phong cách của
Nguyễn Thị Ngọc Tú kể từ Giã từ mùa đông Tác phẩm cũng từ đây tạo thuận
lợi cho sự chuyển hướng sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Thị Ngọc Tú trong
ba tiểu thuyết Chỉ còn anh và em (1990), Hai người và những con sóng (1992) và Hình bóng cuộc đời (1999) Ba tiểu thuyết này tiếp tục phát huy
những gì bà đã làm được trước đó Có thể nói, trong hành trình sáng tác của mình, đến đây Nguyễn Thị Ngọc Tú đã đạt được sự dồi dào, dầy dặn của bút lực Đồng thời, trải qua bao thử thách, cái nhìn của bà vào cuộc đời cũng điềm tĩnh và sâu sắc hơn
Trên 40 năm cầm bút, Nguyễn Thị Ngọc Tú đã sáng tác một số lượng tác phẩm khá lớn bao gồm nhiều thể loại bút kí, phóng sự, thơ, đặc biệt là truyện ngắn và tiểu thuyết Tác phẩm của bà từ trước đến sau đều là những câu chuyện mà bà được nghe, được thấy, được trải nghiệm và đã nghiền ngẫm suy nghĩ Càng về sau bà càng biết chắt lọc những gì đặc sắc, tiêu biểu từ thực
tế, khiến cho trang viết của bà giàu sức sống hơn Kết cấu truyện cũng ngày càng chặt chẽ hơn, hiện đại hơn, đặc biệt là tài năng tả cảnh và sử dụng ngôn ngữ đời thường ngày càng điêu luyện hơn Nghệ thuật xây dựng nhân vật tuy đôi chỗ còn sa đà, dông dài, làm cho mạch truyện có lúc bị loãng, nhưng hơn hết Nguyễn Thị Ngọc Tú vẫn thể hiện được một khả năng tinh tế trong tạo dựng nhân vật Nhân vật của bà, dù còn đôi chỗ hạn chế nhưng vẫn tái hiện thành công con người điển hình mang tính phổ quát cho xã hội Văn phong của bà giản dị, tự nhiên và ngày càng gọn gàng, hấp dẫn Tất cả điều đó đã góp phần tạo dấu ấn riêng cho Nguyễn Thị Ngọc Tú trên văn đàn
Trang 29Chương 2 BỨC TRANH HIỆN THỰC ĐA CHIỀU
VỀ CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI TRONG ẢO ẢNH TRẮNG
CỦA NGUYỄN THỊ NGỌC TÚ
2.1 Những khuôn mặt cuộc đời
2.1.1 Bệnh viện với những trăn trở về y đức
Nguyễn Thị Ngọc Tú trong khi thể hiện những trăn trở về cuộc đời đã không quên gieo vào lòng người những hy vọng dẫu có mong manh “Ở đâu cũng có người tốt, người đáng tin, nhưng cái chính mình có gặp được những người ấy không” [1,tr.25] Theo đó, thế giới bệnh viện trong tác phẩm của bà vẫn là nơi mà những con người xấu số vì bệnh tật có thể tin tưởng Bởi lẽ, thế giới ấy cũng còn những bậc lương y xứng đáng là những vị cứu tinh cho sức khỏe, thậm chí mạng sống của họ
Trong Ảo ảnh trắng có những lương y coi nghề y là sứ mệnh của
mình Chính vì vậy, họ đặt lên trên hết lương tâm của người bác sĩ Với giám đốc Đỗ Linh, nghề y “là hàng ngày phải chứng kiến bao nỗi vui buồn, sinh tử Người có lương tâm không thể dửng dưng trước nỗi đau và cái chết của con người” [1,tr.252] Với bác sĩ Luận, thất bại đau đớn nhất của anh chính là chứng kiến bệnh nhân của mình đang nằm chờ cái chết mà không thể làm gì được Còn Vân, cứu người được coi là nhiệm vụ mà cô nghĩ không cần thiết phải nói Bởi xem nghề y là sứ mệnh của mình, nên họ bao giờ cũng có trách nhiệm với nghề nghiệp Họ luôn hết lòng với công việc, với bệnh nhân, ý thức trong từng lời nói, việc làm Bác sĩ Vân luôn ân cần với người bệnh, không quản ngại khó khăn đối với những bệnh nhân già yếu, cục tính hay thậm chí những người có thần kinh không ổn định như bác Tuần Không chỉ là thái độ, Nguyễn Thị Ngọc Tú còn thấy ở cô còn ý thức trách nhiệm trong từng suy
Trang 30nghĩ Cô khuyên Doãn phải tin tưởng vào mình và đừng run sợ trước bất cứ
đe dọa của ai Cô cứu Huyền trong cơn nguy kịch của bệnh tim mà không cần phải nhận bất kì sự biết ơn nào Bên cạnh Vân, trong tác phẩm, Luận cũng là một lương y hết lòng quan tâm giúp đỡ, động viên bệnh nhân vượt qua bệnh tật Chỉ cần còn có thể cứu chữa là Luận bất chấp mọi rủi ro có thể gây hại đến mình quyết tâm thực hiện ca mổ cho Doãn Có trách nhiệm với nghề, những lương y đáng kính ấy đã lấy việc cứu sống một mạng người, lấy hạnh phúc của người khác làm niềm vui vô giá cho mình Điều đó được Nguyễn Thị Ngọc Tú phát hiện qua hành động của giám đốc Đỗ Linh Chính bàn tay ông chứ không phải bàn tay nào khác đã bất chấp mọi nguy hiểm được báo trước “tránh xa khéo không bỏ đời” cứu sống lão Ki trong nạn bom đạn Cũng chính ông thấu hiểu sự khốn khổ của những con người nghèo khó, cho nên dẫu không quen biết ông vẫn sẵn sàng ra tay giúp đỡ người phụ nữ nghèo Rõ ràng, có tài năng lẫn y đức, Luận, Đỗ Linh và Vân đã trở thành biểu tượng đẹp trong lòng người tiếp nhận về hình ảnh những lương y có nhân cách cao đẹp giữa cuộc đời đầy rẫy những thô bỉ, xấu xa Cho nên “Ai bảo xã hội bây giờ đồng tiền là sức mạnh duy nhất chi phối tất cả? Nếu thế thì cuộc sống sẽ tan vỡ và những người nghèo sẽ vĩnh viễn sống trong tối tăm và cùng khổ Ngược lại, cuộc sống vẫn tồn tại, vẫn đang đi Vẫn còn có những người có lương tâm nghề nghiệp biết thương yêu và cứu giúp con người” [1,tr.181 – tr.182]
Trước những biến động cuộc sống, Nguyễn Thị Ngọc Tú cũng đã nhận ra trạng thái “chấn thương” của y đức của người thầy thuốc Lối sống thực dụng chạy theo vật chất, xem đồng tiền là “chúa tể”, khiến những người làm nghề y cũng sẵn sàng chà đạp lên nhau Sự xung đột giữa sức ép vật chất hiện đại với lối tư duy cổ hủ, lạc hậu đã làm nảy sinh ở họ hàng loạt các cặp
Trang 31phạm trù đối lập nhau của những tốt – xấu, thiện – ác, cao cả – đớn hèn… tạo
ra những mặt trái thương tâm cho xã hội
Theo đó, vẫn còn trong tác phẩm là những lương y xem nghề nghiệp
là công cụ để chuộc lợi cá nhân Nguyễn Thị Ngọc Tú đã nhận ra rằng, đối với Đông, một chuyến đi xuất ngoại để nâng cao chuyên môn là một chuyến đổi đời: “Tớ đi lần này, gì không biết chứ đem về dăm Cúp là chuyện thường Nhưng điều ấy không quan trọng Cái quan trọng là được xuất ngoại, được thay đổi không khí một thời gian Còn gì sung sướng hơn là được ăn ngon, mặc đẹp và đi dạo trên đường phố Paris và một vài thành phố nào đó ở châu Âu” [1,tr.283] Cũng như thế, nghề nghiệp là phương tiện để Diệp nâng cao cuộc sống vật chất, bởi “mình hơn đời ở chỗ mình có nghề, mình phải làm nghề của mình để kiếm tiền” [1,tr.326] Chính vì quan niệm sai lệch về nghề nghiệp, Đông và Diệp trở thành đại diện cho những lương y tuy khoác trên mình chiếc áo blu nhưng lại đi ngược với thiên chức của nó Chạy theo đồng tiền và danh vọng, họ hiện ra là những lương y vô trách nhiệm với người bệnh Tồn tại ở Đông là thái độ giả tạo với bệnh nhân bằng những câu nói cửa miệng của một bác sĩ đã quá quen nghề, thạo việc Bởi chuyên môn không vững vàng, anh ta đã có những chẩn đoán không chính xác về bệnh của Doãn Hơn nữa, Nguyễn Thị Ngọc Tú còn phát hiện ở vị lương y này không hề mảy may có một sự ân hận Để trốn tránh trách nhiệm và bảo vệ lợi ích của mình, Đông đã đổ lỗi sai sót trong chẩn đoán là do Doãn và ra sức ngăn cản Luận thực hiện kíp mổ cho anh Thậm chí đến lúc đi xa Đông vẫn không quên viết thư nhờ Bùi Thành ngăn cản hộ: “Bây giờ em có một việc khẩn cấp muốn đề nghị anh Về ca mổ ung thư của Luận sáng mai, đề nghị anh bằng mọi cách phải ngăn lại đừng để cậu ta thực hiện Dù ca mổ thành công hay không cũng đều không có lợi cho chúng ta” [1,tr.287]
Trang 32Không chỉ vô trách nhiệm với người bệnh, họ còn vô trách nhiệm với chính mình Theo đó, chỉ vì lo sợ cho địa vị quyền lực, họ đã bao che cho cấp dưới làm những điều sai trái, thậm chí để mình bị cuốn vào những việc làm đi ngược lại với phép tắc, kỉ cương Viện phó Bùi Thành đã chấp nhận cho Đông điều trị những bệnh nhân không đúng tuyến, sắp xếp cho Đông đi nước ngoài
dù không đúng với bản chất công việc Dù nhận ra uy tín là thứ được “xây dựng trên nền tảng đạo đức chứ không phải do công tích chuyên môn” [1,tr.307] nhưng ông lại sẵn sàng bỏ qua nền tảng đạo đức ấy cùng với Đông tìm mọi cách ngăn cản ca mổ của Luận Lương y là những người được tôn kính trong xã hội, thế nhưng chỉ vì tiền, họ sẵn sàng đánh đổi cả nhân cách của mình Nguyễn Thị Ngọc Tú đã thấy được điều ấy trong hình ảnh y tá Diệp Để tìm “ô dù” che chở, Diệp đã chấp nhận cho Đông vui đùa và tiếp cận Bùi Thành khi biết Đông sắp đi xa Hơn thế nữa, cô còn dùng chữ “hạnh” quý giá của người phụ nữ dụ dỗ Luận theo con đường làm việc bất chính Sống
theo quan điểm, nghề nghiệp là công cụ thu lợi, thấp thoáng trong Ảo ảnh
trắng còn là hình ảnh của những lương y mất ý thức về nghề Họ là những y
tá trực đã quên mất tư cách của mình khi biến mình thành một người rao bán vặt những hàng hóa tạp nham Ngành y, nơi mà con người mong mỏi tìm được sự an tâm và tin tưởng tuyệt đối vào lương tâm những “từ mẫu” giàu lòng vị tha, nhân hậu, bằng sự quan sát tinh tế của Nguyễn Thị Ngọc Tú đã không còn nguyên giá trị Giữa hàng loạt những tiểu thuyết cùng thời viết về mãnh lực của đồng tiền, Nguyễn Thị Ngọc Tú đã khiêm nhường góp thêm
vào một Ảo ảnh trắng, không quá mới cũng không phải là cũ, để từ lúc bắt
gặp đến mãi về sau này, độc giả không khỏi chua xót, khi mà biểu hiện tiêu cực đang hoành hành trong xã hội thì một ngành cao đẹp như ngành y cũng
không còn là “cấm địa” Có lẽ điều đã làm nên giá trị mà đến tận bây giờ Ảo
ảnh trắng vẫn còn thấm thía trong lòng người tiếp nhận chính là vấn đề mang
Trang 33tính thời sự này Không chỉ là bệnh viện của những năm 80, 90 của thế kỉ XX,
mà những điều được Nguyễn Thị Ngọc Tú phản ánh đấy, nó đang hiện diện
cả trong thời đại ngày nay, thậm chí nó còn tinh vi hơn, kĩ xảo hơn
Tập trung vào thế giới bệnh viện, Nguyễn Thị Ngọc Tú đã giúp người đọc nhận ra rằng: bệnh viện, nơi luôn đầy ắp những đau đớn trần thế của con người, nơi mà cái nhân, cái thiện phải được coi là tiêu chí hàng đầu, cũng có thể là nơi để người ta mưu cầu tham vọng cá nhân, là nơi để người ta chà đạp nhân cách chạy theo ma lực đồng tiền và danh vọng
2.1.2 Gia đình với những suy ngẫm về hạnh phúc
Trong tiểu thuyết Ảo ảnh trắng, gia đình là phương diện được Nguyễn
Thị Ngọc Tú quan tâm thể hiện
Gia đình, trong tâm thức người Việt, là tổ ấm yêu thương, nơi mà con người có thể sống thật nhất với chính mình Đó cũng là nơi cho con người niềm tin và ươm mầm những khát vọng Nguyễn Thị Ngọc Tú thấu hiểu sâu sắc điều ấy Vì vậy, hiện lên trong tác phẩm của bà, vẫn có không ít người xem gia đình là tất cả Họ ý thức được vai trò quan trọng của gia đình trong cuộc sống của mình Đối với họ, gia đình là nguồn cội của tình yêu và hạnh phúc Cho nên, họ luôn trân trọng những tình cảm cao đẹp của nghĩa vợ chồng, tình cha con Họ lo lắng cho nhau và nghĩ về nhau trong sự biết ơn sâu sắc Sâu tận tâm thức của mình, mỗi lẫn nghĩ đến vợ, Doãn trào dâng những yêu thương và sự biết ơn chân thành Ý thức được đức hy sinh cao cả của chị, Doãn bao giờ cũng trằn trọc với những âu lo, khắc khoải về căn bệnh của mình: “Việc mình nằm xuống thế này là một biến cố quá lớn Một tai họa bất ngờ, một tiếng sét kinh hoàng đối với Thuận Tai họa này – đau đớn này – biết trách ai, biết giải thích ra sao?” [1,tr.69] Không dừng lại ở đó, Nguyễn
Thị Ngọc Tú còn phát hiện ra trong Ảo ảnh trắng, gia đình chính là sức mạnh
cho con người vượt qua mọi khó khăn, chống chọi với những nỗi đau về thể
Trang 34xác Đối với Doãn, những lúc anh cảm thấy tuyệt vọng nhất khi nghĩ về cái chết thì cũng là lúc anh cảm thấy mình mạnh mẽ nhất khi nghĩ đến vợ và hai con Cũng như thế, gia đình đã trở thành sức mạnh vô hình đẩy Thuận tiến về phía trước, vượt lên trên cả những nhọc nhằn, tủi hổ, kiên trì đấu tranh với thiếu thốn, thậm chí hy sinh bản thân để lo chữa trị cho chồng: “Ước gì anh khỏi bệnh về nhà, dù nhà mình có phải bán hết đồ đạc, dù phải ăn cháo, nằm đất mà anh khỏe mạnh thì em cũng sung sướng” [1,tr.39] Người viết nhận ra rằng, đối lập với sự xuống cấp trầm trọng, đánh mất giá trị hạnh phúc, giá trị đạo đức truyền thống của nhiều hiện trạng gia đình trong thời kì mới với cơ chế kinh tế thị trường mà đồng tiền có quyền lực tối đa, thì tình vợ chồng thắm thiết của Doãn và Thuận hay tình cha con đầy xúc động của bé Vi và bố Doãn là những mảng màu lung linh sắc màu hạnh phúc trong bức tranh
“khuôn mặt cuộc đời” của Nguyễn Thị Ngọc Tú Nó có sức truyền cảm mạnh
mẽ, thu hút và chính bản thân nó, hơn hết, lại ẩn chứa trong mình sự phê phán sâu cay tới những gì xấu xa, tồi tệ, vô nhân tính đi ngược lại với bản sắc văn hóa dân tộc
Giữa những biến động của đời sống hiện đại, bên cạnh những ý nghĩa cao đẹp, Nguyễn Thị Ngọc Tú cũng đã nhận ra ở bức tranh gia đình những
rạn nứt, suy thoái về vai trò của nó Vì vậy, hiện lên trong Ảo ảnh trắng còn là
hình ảnh của những con người, vì chạy theo dục vọng cá nhân đã đẩy gia đình mình đến con đường đổ vỡ Họ là những con người xem hôn nhân gia đình là một món hàng mà muốn có được phải dùng mọi thủ đoạn để giành giật Rõ ràng, để cưới được Hà làm vợ, Đông đã tung tin rằng Luận đã chết trong chiến tranh Vì thế, họ cũng dễ dàng từ bỏ gia đình để theo đuổi một tình yêu khác Họ không nhận chân được giá trị đích thực của hạnh phúc gia đình trong cuộc sống của mình Họ mù mờ giữa tình yêu với sự cảm kích và lòng thương hại Cho nên, trong giây phút chập choạng khi mạng sống được níu
Trang 35giữ, Huyền đã để tình cảm lu mờ lý trí Cô phủ nhận tất cả hạnh phúc mà cô
đã giữ gìn từ những ngày còn đi học để chấp nhận tình yêu vụng trộm với Đông Còn Hà, quyết định quay lại với Luận chỉ vì không chịu được khi thấy anh cô đơn là một sai lầm Chính vì vậy, cái mà cô nhận được cuối cùng không phải là tình yêu của Luận, cũng không phải là hạnh phúc với Đông, mà
là suốt đời sống trong sự ray rứt vì hành động của mình “Bây giờ em mới hiểu, người ta ai cũng sống theo ham muốn của mình Tại sao em lại thủ tiêu những tình cảm của em Em sống cho ai? Trong khi Đông có cần đến sự chịu đựng hy sinh của em đâu…” [1,tr.321] Bởi không nhận ra đâu mới là hạnh phúc cần gìn giữ, những người phụ nữ này đã trực tiếp đẩy mình vào bi kịch của hạnh phúc Không dừng lại ở đó, Nguyễn Thị Ngọc Tú còn nhận thấy, trong xã hội hiện đại, có những con người xem tình yêu là một thú vui để giải tỏa ham muốn cá nhân và gia đình đối với họ như một sự ràng buộc không thể không có Cho nên, trong ý thức của họ việc gìn giữ những phẩm chất cần có trong tình nghĩa vợ chồng dường như không tồn tại Đông đã không trung thực trong tình yêu đối với Hà Anh ta không cho là xấu hổ trong quan hệ tình nhân với Diệp và Huyền Chính vì thế, họ đã không có được sự tôn trọng lẫn nhau trong đời sống hôn nhân Sự âm thầm chịu đựng của Hà đã không làm Đông cảm động, trái lại sự trâng tráo của anh ta khi giải quyết mối quan hệ với Diệp đã làm Hà thấy kinh tởm chính chồng mình “Thà rằng anh ta nói với mình anh ta đã yêu một người khác, một người nào đó có cái gì hơn mình Mình có thể tức giận, có thể căm ghét nhưng vẫn còn trọng vì lẽ anh ta thành thật Nhưng bây giờ thì mình khinh, mình khinh quá” [1,tr.269]
Quan tâm đến vấn đề hạnh phúc gia đình, Nguyễn Thị Ngọc Tú không quên đề cập đến thực trạng suy thoái, băng hoại về mặt đạo đức gia đình mà con người là nhân tố trực tiếp gây ra Cuộc sống hiện đại ngày càng phát triển, khi chính những điều kiện tốt đẹp của nó đưa con người ngự trên những vinh
Trang 36quang, thì cũng chính nó sẵn sàng cướp đi nhân cách của con người Đua chen với danh lợi, giành giật với chức quyền, người ta đang dần dần lãng quên cái chân giá trị đích thực muôn đời của cuộc sống: nhân cách, đạo đức mới là nền tảng cho giá trị con người chứ không phải là đồng tiền hay quyền lực Nguyễn Thị Ngọc Tú, trong cơn suy thoái đạo đức gia đình đã dùng ngòi bút của bà phơi bày thực trạng xót xa ấy Đó là những đứa con bất hiếu với cha mình Việc lo lắng, chăm sóc cho cha lúc về già đối với họ là một sự trả ân miễn cưỡng, dù cả cuộc cha họ đã hy sinh tất cả cho họ Với ông già huyết áp cao, gia đình là một nỗi bất hạnh lớn “tôi ở bệnh viện còn vui hơn ở nhà” [1,tr.28] Bởi lẽ, những đứa con của ông đã tính toán từng ngày khi nuôi ông lúc về già
“Ngày hôm nay thì tính thế nào” [1,tr.29] Giá trị của tình thâm, vì thế, không bằng một góc của giá trị đồng tiền Bên cạnh đó, sự băng hoại đạo đức gia đình còn được Nguyễn Thị Ngọc Tú thể hiện qua vấn nạn bạo lực gia đình trong cuộc sống hiện nay Điều này được phơi bày chân thực ở những người chồng, người cha phi nhân tính, suy đồi nghiêm trọng về đạo lý làm người
Cô gái xấu số vì bệnh tim trong tác phẩm đã thật không may khi gặp phải một người chồng vũ phu tệ bạc, dù cô vốn là một cô gái khỏe mạnh, chăm chỉ làm
ăn và luôn lo lắng vun đắp cho mái ấm gia đình
Có thể nói, những trăn trở về hạnh phúc và đạo đức gia đình của Nguyễn Thị Ngọc Tú cũng là những điều khiến nhiều nhà văn trăn trở nhất giữa thời bình Trong hoàn cảnh “cuộc sống có nhiều biến động, xuất hiện nhiều dạng xung đột giữa cái mới và cái cũ Nền kinh tế thị trường đã xới tung nhiều vấn đề xã hội trước đây vốn suôn sẻ thuận chiều Bảng giá trị quen thuộc về đạo đức nhân cách cũng có nhiều thay đổi” [7], thì gia đình cũng có thể không còn là nơi để con người tìm về sự bình yên, ấm áp Nguyễn Thị Ngọc Tú đã không ngần ngại phô bày trước mắt người đọc những rạn vỡ trong khuôn mặt gia đình trong cuộc sống hiện đại
Trang 372.1.3 Phố phường, xí nghiệp với nhữngbăn khoăn về lối sống
Không được nói nhiều trong tác phẩm, nhưng lại góp phần không nhỏ
trong việc hoàn thiện bức tranh hiện thực cuộc sống đa chiều trong Ảo ảnh
trắng của Nguyễn Thị Ngọc Tú, bộ mặt phố phường, xí nghiệp cũng được nhà
văn chú ý tái hiện
Phố phường, xí nghiệp là gương mặt dễ nhận thấy nhất của cuộc đời
Ở đó những biến động của xã hội với những đổi thay trong bản chất, hơn cả là lối sống của con người được thể hiện rõ nhất Suy cho cùng cũng là vì tiền bạc và quyền lực Giữa thời buổi cơ chế thị trường, Nguyễn Thị Ngọc Tú đã phát hiện ra một cách chân thực lối sống thực dụng, dễ dãi của những người làm nghề buôn bán Họ hiện lên với cả những khó khăn lẫn ranh ma, mánh khóe trong công việc Bằng cách ấy, Nguyễn Thị Ngọc Tú đã giúp người đọc hiểu rằng muốn sống ở chốn mua bán kiếm lời phải biết kiên nhẫn, bình tĩnh Hơn hết phải biết cách luồng lách, đẩy đưa, thậm chí giả dối, lả lơi tình ái miễn sao đạt được mục đích Một người phụ nữ hiền lành, chất phác như Thuận khi bị mấy lão bán hàng trêu ghẹo phải “co người lại như đang phải chống đỡ với một cơn bão” [1,tr.176], trong khi những phụ nữ, cô gái bán buôn vỉa hè gặp khách đàn ông là vội vàng săn đón, chào hỏi thân mật, giọng thiết tha có phần suồng sã để mong mua bán được nhiều hàng Đồng tiền, rõ ràng, đã khiến người ta bỏ quên cả lòng tự trọng, vứt cả danh dự, đánh mất liêm sỉ của một con người
Nếu phố phường hiện ra là nơi chứa đựng những mánh khóe, thủ đoạn của kẻ làm nghề thì xí nghiệp lại được tạo ra bởi sự chồng chéo thật giả trong lối sống của người lãnh đạo Họ là những người mang cái vỏ bề ngoài nhã nhặn, lịch sự nhưng trong bản chất lại chứa đựng những thủ đoạn thâm độc của những kẻ rành đời Ông trưởng phòng tổ chức xí nghiệp Nguyễn Sĩ Thêm, trong con mắt vợ bác Tuần, là một vị lãnh đạo nhiệt tình, gần gũi Thế