1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thành ngữ chỉ tâm địa, hành vi xấu trong tiếng việt

67 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thành ngữ tiếng Việt, chúng ta thấy có một số lượng không nhỏ những thành ngữ chỉ tâm địa, hành vi xấu của con người.. Ngoài hai xu hướng chính nghiên cứu về thành ngữ như trên, th

Trang 1

KHOA NGỮ VĂN -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi Lê Thị Trâm Kiều xin cam đoan:

1 Những nội dung trong khó a luâ ̣n này là do tôi nghiên cứu, thực hiện dưới

sự hướng dẫn của cô TS Trương Thị Diễm

2 Mọi tham khảo trong khó a luâ ̣n này đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả, tên công trình, thời gian, địa điểm công bố

3 Tôi xin chịu trách nhiệm về những nội dung khoa học trong công trình này

Đà Nẵng, ngày 14 tháng 5 năm 2013

Sinh viên

Trang 3

Tôi xin dành lời cám ơn chân thành nhất đến TS Trương Thi ̣ Diễm - người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này

Xin ca ̉m ơn các Thầy Cô giáo trong khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng; những người thân trong gia đình; bạn bè đã luôn bên cạnh động viên, khích lệ tôi trong suốt thời gian làm khóa luận tốt nghiệp

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Bố cục khóa luận 5

NỘI DUNG 6

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THÀNH NGỮ 6

1.1 Thành ngữ và đặc trưng của thành ngữ 6

1.1.1 Khái niệm thành ngữ 6

1.1.2 Đặc trưng của thành ngữ 7

1.2 Nguồn gốc và vai trò của thành ngữ 9

1.2.1 Nguồn gốc của thành ngữ 9

1.2.2 Vai trò của thành ngữ 12

1.3 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ 15

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA THÀNH NGỮ CHỈ TÂM ĐỊA, HÀNH VI XẤU 19

2.1 Thành ngữ chỉ tâm địa, hành vi xấu nhìn từ phương diện kết cấu cú pháp 19

2.1.1 Thành ngữ chỉ tâm địa, hành vi xấu có kết cấu đẳng lập 19

2.1.2 Thành ngữ chỉ tâm địa, hành vi xấu có kết cấu chính phụ 21

2.1.3 Thành ngữ chỉ tâm địa, hành vi xấu có kết cấu chủ - vị 23

2.2 Thành ngữ chỉ tâm địa, hành vi xấu nhìn từ phương diện từ loại 24

2.2.1 Thành ngữ có phương tiện biểu trưng thuộc nhóm danh từ 25

2.2.2 Thành ngữ có phương tiện biểu trưng thuộc nhóm động từ 27

2.2.3 Thành ngữ có phương tiện biểu trưng thuộc nhóm tính từ 30

Trang 5

3.1 Thành ngữ chỉ tâm địa, hành vi xấu có cấu trúc so sánh 33

3.2 Thành ngữ chỉ tâm địa, hành vi xấu có cấu trúc ẩn dụ 37

Chương 4 GIÁ TRỊ BIỂU TRƯNG CỦA THÀNH NGỮ CHỈ TÂM ĐỊA, HÀNH VI XẤU 42

4.1 Ý nghĩa biểu trưng của các thành ngữ chỉ tâm địa xấu 43

4.2 Ý nghĩa biểu trưng của các thành ngữ chỉ hành vi xấu 47

KẾT LUẬN 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54 PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thành ngữ là một trong những bộ phận quan trọng của văn học dân gian Việt Nam Cùng với ca dao và tục ngữ, thành ngữ đã góp phần tô điểm thêm vẻ đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc, làm cho kho tàng văn học dân gian thêm đa dạng và phong phú

Có thể thấy rằng thành ngữ thường xuyên xuất hiện trong lời ăn, tiếng nói hàng ngày của con người, trở thành một công cụ để truyền tải những ý nghĩ, những nhận xét, đánh giá về một sự việc, hiện tượng Sử dụng thành ngữ đúng lúc sẽ làm cho lời nói thêm súc tích, sâu sắc, giàu ý nghĩa và thêm phần thi vị Trong tiếng Việt, thành ngữ dường như là kết tinh thành quả trí tuệ của nhân dân bao đời nay Nó phản ánh hầu hết mọi mặt đời sống Nó diễn tả một cách cô đúc những khái niệm, những đánh giá, nhận xét về con người, xã hội Nó là nơi dung chứa nhiều mảng ý nghĩa khác nhau về cách đối nhân xử thế, về những mặt tốt - xấu tồn tại trong một con người Trong thành ngữ tiếng Việt, chúng ta thấy có một số lượng không nhỏ những thành ngữ chỉ tâm địa, hành vi xấu của con người Qua những thành ngữ này, cha ông ta muốn lên án, phê phán những hành vi, thói tật xấu trong xã hội, góp phần bảo

vệ những nét văn hóa truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam

Tìm hiểu về thành ngữ nói chung, thành ngữ chỉ tâm địa, hành vi xấu nói riêng trong tiếng Việt là một việc làm hứa hẹn nhiều điều lí thú và ý nghĩa Thế nhưng, theo tìm hiểu của chúng tôi, hiện nay nghiên cứu về thành ngữ chủ yếu chỉ phổ biến ở việc sưu tầm, giải thích thành ngữ nói chung mà ít

đi vào nghiên cứu ý nghĩ riêng của từng mảng thành ngữ Với mong muốn làm sáng tỏ những giá trị về nội dung và hình thức trong mảng thành ngữ chỉ

tâm địa, hành vi xấu, chúng tôi quyết định chọn đề tài Thành ngữ chỉ tâm địa,

Trang 7

hành vi xấu trong tiếng Việt để thực hiện khóa luận tốt nghiệp đại học của

mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về thành ngữ đã bắt đầu xuất hiện từ khoảng những năm 20, 30 của thế kỉ XX Các công trình đầu tiên mang tính chất mở đầu cho quá trình nghiên cứu về thành ngữ như: “Việt Nam văn học

sử yếu” (Dương Quảng Hàm), “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” (Vũ Ngọc Phan), “Thành ngữ học tiếng Việt” (Hoàng Văn Hành)… Các công trình này

đã chỉ ra được nét đặc trưng nhất của thành ngữ, từ đó tạo nền móng cho việc nghiên cứu về thành ngữ sau này

Nhìn chung, việc nghiên cứu thành ngữ ở nước ta đi theo hai hướng chính: sưu tầm, giải thích thành ngữ và nghiên cứu thành ngữ trên phương diện ngôn ngữ

Ở hướng nghiên cứu giải thích và sưu tầm thành ngữ, các công trình nghiên cứu chủ yếu là biên soạn từ điển phục vụ cho việc tra cứu và học tập

Có thể kể tên những công trình tiêu biểu như: “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam” (Nguyễn Lân), “Từ điển thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam” (Việt Chương), “Từ điển thành ngữ tiếng Việt” (Nguyễn Như Ý chủ biên),

“Từ điển giải thích thành ngữ, tục ngữ” (Nguyễn Như Ý), “Từ điển thành ngữ học sinh” (Nguyễn Như Ý), “Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam” (Nguyễn Thị Bích Hằng), “Thành ngữ Việt Nam thông dụng” (Kiều Văn)… Đây là những công trình nghiên cứu công phu và tỉ mỉ với giá trị thực tiễn cao Các công trình này chủ yếu là sưu tầm, thống kê và giải thích nghĩa của thành ngữ đặt trong bối cảnh giao tiếp xã hội cụ thể, giúp chúng ta thấy được sự phong phú, đa dạng của thành ngữ, góp phần bảo tồn và tạo điều kiện cho thế hệ trẻ ngày nay tiếp xúc, sử dụng vốn từ ngữ dân gian một cách dễ dàng hơn Tuy nhiên, vì mang tính chất tổng hợp nên các công trình này thường không tách

Trang 8

biệt một cách rõ ràng, đôi lúc còn nhầm lẫn giữa thành ngữ và tục ngữ làm cho người đọc khó phân biệt đâu là thành ngữ, đâu là tục ngữ

Một hướng nghiên cứu thu hút sự tham gia của những nhà học thuật nữa là: nghiên cứu thành ngữ trên phương diện ngôn ngữ Các công trình nghiên cứu theo hướng này chủ yếu là giáo trình phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu như: “Các bình diện của từ và từ tiếng Việt” (Đỗ Hữu Châu), “Từ

và vốn từ tiếng Việt” (Nguyễn Văn Tu), “Hoạt động của từ tiếng Việt” (Đái Xuân Ninh), “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt” (Đỗ Hữu Châu), “Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ” (Hoàng Văn Hành)… Trong các công trình này, các tác giả đưa ra những nhận định cá nhân về khái niệm, đặc điểm, cách phân loại… thành ngữ Theo nhận định của Đỗ Hữu Châu thì “Ngữ cố định có hình thức ngắn gọn song lại nói được nhiều: tính cô đọng, hàm súc của chúng có tác dụng tổng hợp của những đặc điểm đó mà có” [1, tr.86]… Tóm lại từ những công trình nghiên cứu của các tác giả trên có thể rút ra ý kiến chung nhất về

thành ngữ: đó là cụm từ cố định, hoàn chỉnh, bền vững về cấu trúc và có tính

chất biểu trưng, bóng bẩy

Ngoài hai xu hướng chính nghiên cứu về thành ngữ như trên, thì chúng

ta còn thấy xuất hiện rải rác đây đó các bài viết về thành ngữ được đăng trên báo, tạp chí, trên các trang web… Có thể kể đến các bài viết tiêu biểu như:

“Phân biệt sự khác nhau giữa thành ngữ và tục ngữ” (Nguyễn Bá Lương),

“Phân biệt thành ngữ và tục ngữ bằng mô hình cấu trúc” (Triều Nguyên), “Cái khó trong việc phân biệt thành ngữ và tục ngữ” (Nguyễn Thị Trung Thành),

“Bàn thêm về thành ngữ, tục ngữ” (Lê Xuân Mậu), “Tính từ loại của thành ngữ tiếng Việt” (Bùi Văn Năm)… Nhìn chung, các bài viết này xoay quanh những vấn đề như: phân biệt thành ngữ với tục ngữ, bàn luận về một câu thành ngữ hay chỉ ra cái hay cái đẹp của thành ngữ trong đời sống của người Việt… Ở đây các tác giả cũng đưa ra những nhận định của cá nhân về việc

Trang 9

phân loại thành ngữ và tục ngữ Tiêu biểu như Nguyễn Bá Lương với nhận định của mình trong bài “Phân biệt sự khác nhau giữa thành ngữ và tục ngữ”:

“Tục ngữ là một câu nói hoàn chỉnh, sắc gọn, xuôi tai, diễn đạt một ý trọn vẹn… còn thành ngữ chỉ là một cụm cố định diễn đạt một khái niệm một cách

có hình ảnh…” [13, tr.41]

Dựa trên nền móng vững chắc của những người đi trước về nghiên cứu thành ngữ, chúng tôi đi vào nghiên cứu một bộ phận thành ngữ cụ thể với đề

tài: Thành ngữ chỉ tâm địa, hành vi xấu trong tiếng Việt

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Các thành ngữ chỉ tâm địa, hành vi xấu trong tiếng Việt

- Phạm vi nghiên cứu:

Trong khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp, chúng tôi tiến hành khảo sát đặc điểm hình thức và đặc điểm biểu trưng của các thành ngữ chỉ

tâm địa, hành vi xấu thông qua các trường nghĩa chỉ tâm địa, hành vi xấu cơ

bản nhất của con người trong kho tàng thành ngữ tiếng Việt

Các thành ngữ mà chúng tôi tiến hành khảo sát nằm trong nhiều tài liệu khác nhau, nhưng chủ yếu là trong: “Từ điển thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam” (quyển thượng và quyển hạ), Việt Chương, NXB tổng hợp Đồng Nai, 2004; “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam”, Nguyễn Lân, NXB Thời đại, 2010

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp khảo sát và thống kê

- Phương pháp phân loại và phân tích

- Phương pháp tổng hợp

Trang 10

- Phương pháp xác định tỉ lệ

5 Bố cục khóa luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, đề tài của chúng tôi được triển khai thành bốn chương cụ thể như sau:

Chương 1: Khái quát chung về thành ngữ

Chương 2: Đặc điểm ngữ pháp của thành ngữ chỉ tâm địa, hành vi xấu Chương 3: Đặc điểm tu từ của thành ngữ chỉ tâm địa, hành vi xấu

Chương 4: Giá trị biểu trưng của thành ngữ chỉ tâm địa, hành vi xấu

Trang 11

NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THÀNH NGỮ 1.1 Thành ngữ và đặc trưng của thành ngữ

1.1.1 Khái niệm thành ngữ

Thành ngữ được sử dụng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, trong văn chương làm nên những cách nói bóng bẩy, sinh động giàu hình tượng và mang đậm bản sắc dân tộc Thành ngữ trở thành một bộ phận trong vốn ngôn ngữ, là niềm tự hào đáng gìn giữ của dân tộc ta Tuy nhiên vì là một đơn vị đặc biệt và phức tạp của ngôn ngữ, nên khi đi tìm một khái niệm cụ thể cho thành ngữ các nhà ngôn ngữ học đã gặp phải không ít khó khăn và sự bất đồng trong quan điểm Vì thế mà cho đến nay vẫn chưa thể đưa ra một khái niệm chung và chính xác cho thành ngữ

Dương Quảng Hàm trong cuốn “Việt Nam văn học sử yếu” là người đầu tiên trong giới ngôn ngữ đưa ra khái niệm về thành ngữ: “thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè” [7, tr.25]

Còn với các tác giả Nguyễn Thiện Giáp, Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến: “Thành ngữ là những cụm từ cố định, vừa có tính hoàn chỉnh về ngữ nghĩa, vừa có tính gợi cảm” [6, tr.77]

Nguyễn Lân thì lại quan niệm rằng: “Thành ngữ là những cụm từ cố định dùng để diễn đạt một khái niệm [11, tr.6]

Đỗ Hữu Châu trong “Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt” có đưa ra khái niệm chung về thành ngữ (ở đây thành ngữ nằm trong loại ngữ cố định): “Nói ngữ cố định là các cụm từ cố định hóa là nói chung… Bởi vậy cái quyết định các ngữ cố định là tính tương đương với từ không phải chỉ vì chúng có thể thay thế cho một từ, ở vị trí các từ, hoặc có thể kết hợp với từ để tạo câu” [1, tr.73]

Trang 12

Cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” do Lê Bá Hán chủ biên có đưa ra nhận định: “Cụm từ hay ngữ cố định, bền vững có tính nguyên khối về ngữ không nhằm diễn trọn một ý, một nhận xét như tục ngữ, mà nhằm thể hiện một quan niệm dưới một hình thức sinh động, hàm súc… Dù ngắn hay dài xét

về nội dung ý nghĩa, cũng như về chức năng ngữ pháp, thành ngữ cũng chỉ tương đương như từ, nhưng là từ đã được tô điểm và nhấn mạnh nghĩa bằng

sự diễn đạt sinh động có nghệ thuật” [20, tr.97]

Hoàng Văn Hành - giáo sư đầu ngành, chuyên gia nghiên cứu về thành ngữ tiếng Việt đã đưa ra ý kiến của mình về thành ngữ: “Theo cách hiểu thông thường thì thành ngữ là một tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hằng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ” [8, tr.25]

Tóm lại, từ những định nghĩa của các nhà nghiên cứu trên, ta có thể thấy được rằng mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về thành ngữ, nhưng những định nghĩa đó đều không mâu thuẫn, đối lập nhau trong quan niệm Những cách định nghĩa đó bổ sung, hỗ trợ cho nhau để làm sáng tỏ vấn

đề Hầu hết các ý kiến đều thống nhất rằng: Thành ngữ là những cụm từ có sẵn, có chức năng định danh một cách hình tượng, có kết cấu cố định, bền vững, có ý nghĩa hoàn chỉnh, bóng bẩy và được sử dụng tương đương như từ

1.1.2 Đặc trưng của thành ngữ

Một cụm từ được xem là thành ngữ khi chúng có những đặc trưng sau:

a Tính biểu trưng bóng bẩy

Khi người ta không dùng từ hay ngữ bình thường để diễn đạt điều muốn nói mà dùng thành ngữ thì có nghĩa họ đang muốn nhấn mạnh một sự vật, sự kiện, hay bộc lộ sự tinh tế khéo léo trong cách ăn nói Dùng thành ngữ khi nói, người nói đã làm công việc thu nhỏ bức tranh về những sự vật riêng

lẻ, cụ thể, nâng chúng lên để nói cái phổ biến, cái khái quát, trừu tượng và

Trang 13

mang tính ẩn dụ cao Vì thế, nghĩa mà thành ngữ hướng tới không phải là nghĩa đen mà là nghĩa bóng Đây chính là tính biểu trưng, bóng bẩy của thành ngữ được hình thành nhờ quá trình biểu trưng hóa

Ví dụ:

- Bóp họng nặn hầu: không nhằm diễn tả sự việc “bóp họng nặn hầu”

của con người, mà nghĩa sâu xa của nó là ám chỉ đến việc áp bức, bóp lột sức lao động một cách dã man của con người, hay lợi dụng hoàn cảnh túng quẫn của người khác để bắt chẹt, làm khó

- Được voi đòi tiên là thành ngữ chỉ sự tham lam, ham muốn vô độ của

con người chứ không nhằm nói đến nghĩa “được voi đòi tiên”

Sự thay thế, vay mượn các đối tượng khác nhau trong đời sống để nhằm ám chỉ, ví von một ý nghĩa sâu xa hơn làm cho thành ngữ trở nên sinh động, sâu sắc và cô đọng Do lấy những hình ảnh, sự vật hiện hữu trong đời sống, xã hội để diễn đạt cho những đặc điểm, bản chất, hoạt động của con người nên thành ngữ thường mang tính biểu trưng cao

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng không phải bất cứ thành ngữ nào cũng đều mang tính biểu trưng Bởi, dù có giá trị biểu trưng cao đến đâu thì nghĩa

đó cũng xuất phát từ nghĩa đen Vì vậy khi đi tìm nghĩa của thành ngữ chúng

ta không nên chỉ chú ý đến nghĩa bóng mà bỏ qua nghĩa đen

b Tính thành ngữ

Tính thành ngữ được định nghĩa như sau: “Cho một tổ hợp có nghĩa S

do các đơn vị A, B, C… mang ý nghĩa lần lượt S1, S2, S3… tạo nên, nếu như nghĩa S không thể giải thích bằng các ý nghĩa của S1, S2, S3 thì tổ hợp A, B,

C có tính thành ngữ” [ 1, tr.72]

Ví dụ:

Bẻ què cho thuốc

S1 + S2 + S3… = bẻ què cho thuốc => bẻ què rồi cho thuốc

Trang 14

S = bẻ què cho thuốc => chỉ hạng người giả nhân giả nghĩa, nham hiểm

Theo ví dụ trên thì ta có thể mô hình hóa tính thành ngữ lại như sau:

S ≠ S1 + S2 + S3 + … + Sn

c Tính dân tộc

Mỗi dân tộc khác nhau đều có những ngôn ngữ khác nhau Vì thế, ngôn ngữ của dân tộc nào sẽ mang tính chất của dân tộc đó Với thành ngữ, tính dân tộc thể hiện rất đậm nét, vì thành ngữ là thành quả của sự đúc kết lâu dài trong quá trình phát triển của dân tộc

Ví dụ:

Thành ngữ chưa ăn cỗ đã chực chia phần là sự đúc kết kinh nghiệm lâu

đời của người dân về tính hám lợi, tham lam chỉ nghĩ đến quyền lợi bản thân

Sự việc ăn cỗ và chia phần là tục lệ có từ lâu đời của người Việt

Thành ngữ mang tính dân tộc cao làm cho nó trở thành một thứ ngôn ngữ giàu giá trị, là cầu nối văn hóa của mỗi dân tộc Vì thế, sử dụng thành ngữ trong lời ăn tiếng nói là cách để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

d Tính hình tượng và tính cụ thể

Tính hình tượng của thành ngữ là là kết quả tất yếu của tính biểu trưng, bóng bẩy Nhờ có tính hình tượng mà thành ngữ thường mang lại cho người đọc, người nghe những cảm giác thú vị, những tác động mạnh mẽ, sáng rõ và sâu sắc

Vì thành ngữ mang tính hình tượng nên nó cũng mang tính cụ thể Bởi nghĩa của thành ngữ thường vượt khỏi nghĩa trực tiếp của các hiện tượng, sự vật nên chúng có giá trị phổ biến và khái quát cao Tuy nhiên, tính phổ biến

về ý nghĩa của thành ngữ vẫn bị chi phối bởi tính cụ thể và tính hình tượng

1.2 Nguồn gốc và vai trò của thành ngữ

1.2.1 Nguồn gốc của thành ngữ

Sự xuất hiện của thành ngữ trong ngôn ngữ là kết quả của quá trình đúc

Trang 15

kết những kinh nghiệm của con người trong đời sống hằng ngày Thành ngữ được sản sinh từ nhiều nguồn, vào nhiều thời điểm khác nhau Nó được sử dụng rộng rãi trong đời sống của con người Vì vậy, việc xác định nguồn gốc của thành ngữ là một điều hết sức khó khăn

Đã có không ít nhà nghiên cứu quan tâm và đưa ra các ý kiến khác nhau về sự ra đời của thành ngữ Hoàng Văn Hành trong cuốn “Kể chuyện thành ngữ tục ngữ” cho rằng: “Các yếu tố tạo nên thành ngữ, tục ngữ vốn là những từ độc lập, tức những đơn vị định danh có ý nghĩa từ vựng và chức

năng cú pháp ổn định kiểu đầu cua tai nheo, được voi đòi tiên, tay làm hàm

nhai…vv Tuy vậy, trong hệ thống thành ngữ của mỗi ngôn ngữ, cũng có

những thành ngữ xét trên quan điểm đương đại, không dễ dàng nhận biết được ý nghĩa của các yếu tố; do đó, việc suy xét nghĩa thành ngữ cũng như việc tìm kiếm nguồn gốc của nó cũng trở nên khó khăn hơn” [8, tr.30]

Có thể nói nguồn gốc của thành ngữ là một câu hỏi khó đối với các nhà nghiên cứu Tuy nhiên, chúng ta có thể chỉ ra mấy con đường hình thành thành ngữ chủ yếu như sau:

- Do tính chất lịch sử, xã hội nên kho tàng thành ngữ tiếng Việt có rất nhiều thành ngữ vay mượn của nước ngoài, đặc biệt là vay mượn từ Trung Quốc Thành ngữ vay mượn có hình thức nguyên dạng chiếm số lượng không nhỏ trong tổng số thành ngữ của tiếng Việt

Ví dụ như: cải tử hoàn sinh, cải lão hoàn đồng, hữu tụng tâm suy, kinh

thiên động địa, lý vô nhị thị, hằng hà sa số, danh chính ngôn thuận…

Hầu hết các thành ngữ vay mượn nguyên dạng gốc Hán này được sử dụng trong văn viết mang tính chất giáo huấn, sách vở khá đậm nét Chúng ta thường có thể bắt gặp thành ngữ nguyên dạng này trong các tác phẩm văn học

cổ hay trong văn chương chính luận

Một điểm cần lưu ý nữa là thành ngữ vay mượn gốc Hán còn có những

Trang 16

con đường phát sinh khác:

+ Thứ nhất: Thành ngữ gốc Hán trong hình thức được dịch một bộ phận

ra tiếng Việt, bộ phận còn lại và cấu trúc của thành ngữ thì được giữ nguyên

Ví dụ:

Hữu thủy hữu chung => có thủy có chung

+ Thứ hai: Thành ngữ gốc Hán được dịch hoàn toàn ra tiếng Việt và được giữ nguyên cấu trúc

Ví dụ: đâm dao sau lưng, mắt lợn luộc, gió chiều nào xoay chiều ấy…

+ Tạo thành ngữ mới theo mẫu của thành ngữ đã có

Ví dụ: Từ thành ngữ Nhanh như sóc, Nhanh như cắt xuất hiện các thành ngữ như: nhanh như máy, nhanh như điện…

Ngoài ra thành ngữ tiếng Việt còn là kết tinh của văn hóa, lịch sử dân

tộc Nó được hình thành từ những truyền thuyết như: con rồng cháu tiên; xuất phát từ những câu chuyện cổ tích như: hiền như bụt, nợ như chúa Chổm Hay

đơn giản nhất thành ngữ tiếng Việt còn được hình thành từ cuộc sống đời

Trang 17

thường như: thủ kho to hơn thủ trưởng, lẩn như chạch…

Tóm lại, dù nguồn gốc của thành ngữ xuất phát từ đâu thì thành ngữ vẫn góp vào kho tàng văn học dân tộc Việt một thứ ngôn ngữ bóng bẩy, hàm súc và mang đậm tính dân tộc

1.2.2 Vai trò của thành ngữ

Đối với ngôn ngữ thì thành ngữ là di sản quý báu được sinh ra từ trí thông minh, óc sáng tạo và kinh nghiệm bao đời của nhân dân Sử dụng thành ngữ không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả lời nói, câu văn mà còn nâng cao giá trị nghệ thuật Sự xuất hiện của thành ngữ trong vốn ngôn ngữ dân tộc nhằm bổ sung sự thiếu hụt của vốn từ, khắc phục một phần nào đó tính hữu hạn, tính không hàm súc, không cô đọng của các phương tiện lời nói Vì rằng, trong quá trình giao tiếp con người không chỉ có nhu cầu nói những điều mình muốn nói mà đôi khi họ còn muốn bộc lộ thái độ, tình cảm, tính cách và thậm chí là muốn bộc lộ tính địa phương của mình Chính lý do đó đã làm cho vốn ngôn ngữ phong phú của dân tộc không đáp ứng nổi nhu cầu giao tiếp, diễn đạt của con người Sự ra đời của thành ngữ thực sự đã đáp ứng được một phần nào đó những nhu cầu bức thiết mà con người đặt ra Nó thực sự đóng một vai trò quan trọng trong vốn ngôn ngữ của dân tộc, nó là một loại phương tiện từ vựng mà bất cứ ngôn ngữ nào cũng cần phải có

Ví dụ:

Chúng ta có thể thấy thành ngữ miệng mật lòng dao nhằm nói đến

những kẻ gian dối, ngoài miệng thì ăn nói tốt lành nhưng trong lòng thì xấu

xa, chỉ muốn hãm hại người khác Người này là người có tính độc ác, nhẫn tâm chúng ta cần phải đề phòng Như vậy, để diễn đạt tính cách này chúng ta cần phải dùng rất nhiều từ ngữ nhưng vẫn có thể chưa đầy đủ ý như câu thành ngữ trên, thậm chí còn làm người nghe cảm thấy dài dòng, rắc rối Thay bằng

cách giải thích dài dòng đó, chúng ta dùng thành ngữ miệng mật lòng dao sẽ

Trang 18

làm cho người nghe tự suy diễn ra một cách hình tượng hơn Đây chính là cách nói hình tượng mà vẫn đảm bảo đầy đủ ý nghĩa, thậm chí còn mang tính hàm súc cao và nâng cao giá trị lời nói của người phát ngôn

Sử dụng thành ngữ thực sự là cách nói hàm súc nhất, thậm chí sử dụng thành ngữ trong giao tiếp còn là một cách để chúng ta tự hào về bản sắc văn hóa của dân tộc

Không những được sử dụng rộng rãi trong lời ăn tiếng nói hằng ngày

mà thành ngữ còn được sử dụng khá phổ biến trong văn chương nghệ thuật Chính tính chất biểu trưng bóng bẩy, hàm súc và cụ thể đã làm cho câu văn thêm phần ý vị, giàu ý nghĩa và đạt giá trị nghệ thuật cao hơn Nhìn lại nền văn học Việt Nam, chúng ta có thể thấy từ thời văn học trung đại đến hiện đại đều có những tác giả lớn sử dụng thành ngữ trong văn chương của mình

Tiêu biểu như Hồ Xuân Hương, người đã tiếp thu đến mức tối đa và vận dụng đến độ thành thạo, điêu luyện những chất liệu của văn học dân gian vào cấu trúc nghệ thuật trong tác phẩm của mình Đọc thơ của bà, chúng ta thấy thành ngữ được bà sử dụng một cách rất điêu luyện, công phu và mang ý nghĩa biểu trưng cao

Ví dụ:

Hiền nhân, quân tử ai là chẳng

Mỏi gối, chồn chân vẫn muốn trèo

(Đèo Ba Dội)

Đừng đứng núi này trông núi nọ

Đói lòng nên mới phải ăn khoai

(Già kén kẹn hom)

Có phải duyên nhau thì thắm lại

Đừng xanh như lá, bạc như vôi

(Mời ăn trầu)

Trang 19

Xét các bài thơ trên, ta thấy các thành ngữ được Hồ Xuân Hương sử dụng rất nhuần nhuyễn và biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn cao Việc sử dụng thành ngữ trong thơ của của Hồ Xuân Hương đã làm cho nó trở nên giàu hình ảnh, nêu bật, nhấn mạnh rõ hơn ý nghĩa của các từ cần biểu đạt trong từng câu thơ

và làm cho hệ thống ngôn từ mỗi bài thơ thêm đa dạng, biến hoá, sinh động, hấp dẫn

Đại thi hào dân tộc – Nguyễn Du cũng là một người sử dụng ngôn ngữ dân gian trong văn chương một cách nhuần nhuyễn Trong tác phẩm Truyện Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng thành ngữ nhiều lần, có những đoạn thơ ông cho thành ngữ xuất hiện gần như liên tục trong các câu thơ Thành ngữ trong thơ ông được sử dụng rất linh hoạt, đôi lúc ông dùng nguyên văn, nhưng đôi lúc ông lại sử dụng lối biến tấu làm cho thành ngữ trở nên sinh động và mềm mại hơn.Ví như đoạn nói về ý nghĩ của Hoạn Thư:

Ví dụ:

Làm cho trông thấy nhãn tiền Cho người thăm ván bán thuyền biết tay

Nỗi lòng kín chẳng ai hay

Ngoài tai để mặc gió bay mái ngoài

Trong bốn câu lục bát trên, có hai thành ngữ được sử dụng nguyên văn

và một thành ngữ biến tấu: Trông thấy nhãn tiền, thăm ván bán thuyền và gió

thổi ngoài tai

Nghĩ đà bưng kín miệng bình Nào ai có khảo mà mình lại xưng Những là e ấp dùng dăng Rút dây sợ nữa động rừng lại thôi Đoạn thơ này là sự kết hợp và biến tấu tài tình của Nguyễn Du khi sử

dụng thành ngữ Các thành ngữ: kín như hũ nút, không khảo mà xưng, rút dây

Trang 20

động rừng đều được ông biến tấu khác đi làm cho hiệu quả biểu đạt của câu

văn trở nên giá trị hơn

Không những được sử dụng trong thơ mà thành ngữ cũng được sử dụng khá phổ biến trong văn xuôi

Ví dụ:

“Xưa nay vẫn nói Phật ở tâm, không ai nói Phật ở bụng”

(Đưa sáo sang sông – Nguyễn Huy Thiệp)

“Với những tiếng thổn thức trong đáy tim và những gọt nước mắt luôn

luôn đọng ở gò má, chị Dậu cố sống cố chết, nhũng nhẵng dẫn con và chó lẽo

đẽo dưới ánh nắng mùa hè”

(Tắt đèn – Ngô Tất Tố) Tóm lại, cùng với ca dao, tục ngữ, thành ngữ đã góp phần làm cho kho tàng văn học dân gian thêm phần phong phú Với giá trị của mình, thành ngữ đóng một vai trò quan trọng trong vốn ngôn ngữ Sử dụng thành ngữ không những là cách nói hàm súc, giàu hình ảnh, mà còn là cách để con người thể hiện bản thân mình và sâu xa hơn là yêu thêm dân tộc mình

1.3 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ

Việc phân biệt thành ngữ với tục ngữ là một việc làm hết sức khó khăn

Vì thế, đã có không ít các nhà nghiên cứu quan tâm và tìm hiểu về vấn đề này Dương Quảng Hàm được xem là người đầu tiên trong giới ngôn ngữ học đưa

ra ý kiến của mình về sự khác nhau giữa thành ngữ và tục ngữ trong cuốn

“Việt Nam văn học sử yếu” như sau: “một câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì; còn như thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý nghĩa gì hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè” [7, tr.25]

Từ nhận xét khởi đầu về sự phân biệt thành ngữ và tục ngữ đó của Dương Quảng Hàm đã thu hút nhiều người tham gia nghiên cứu và tìm hiểu

Trang 21

về thành ngữ Các nhà nghiên cứu sau này đã đưa ra nhiều ý kiến khác nhau hoặc đồng tình, hoặc không đồng tính với ý kiến của Dương Quảng Hàm Vũ Ngọc Phan trong “Tục ngữ, ca dao và dân ca Việt Nam” đã phản bác rằng sự phân biệt của Dương Quảng Hàm là “không được rõ, vì nếu thế, tác dụng của thành ngữ cũng không khác gì tác dụng của tục ngữ” [18, tr.373] Từ đó, ông đưa ra ý kiến của mình “tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lí, một công lí, có khi là một sự phê phán Còn thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn đạt một ý trọn vẹn

Về hình thức ngữ pháp, mỗi thành ngữ chỉ là một nhóm từ chưa phải một câu hoàn chỉnh; còn tục ngữ dù ngắn đến đâu cũng đã là một câu hoàn chỉnh” [18, tr.39] Vậy, tiêu chí phân biệt của Vũ Ngọc Phan dựa trên phương diện nội dung và hình thức

Giáo sư Hoàng Văn Hành đưa ra ý kiến của mình về việc phân biệt thành ngữ và tục ngữ như sau: “Thành ngữ là những tổ hợp từ “đặc biệt”, biểu thị những khái niệm một cách bóng bẩy, còn tục ngữ là những câu – ngôn bản đặc biệt, biểu thị những phán đoán một cách nghệ thuật” [8, tr.29] Ý kiến này của ông cũng khá đồng nhất với ý kiến của giáo sư Đỗ Hữu Châu, trong cách phân chia của mình Đỗ Hữu Châu cho rằng: “trong khi ngữ cố định có tính chất tương đương với từ thì tục ngữ là những đơn vị tương đương với câu” [2, tr.75] Vậy ý kiến của hai vị giáo sư này đã chỉ ra điểm khác nhau cơ bản nhất giữa thành ngữ và tục ngữ Tuy nhiên theo chúng tôi đây chưa phải là cách phân chia rạch ròi nhất, bởi bên cạnh sự khác biệt đó thì thành ngữ và tục ngữ cũng có những điểm tương đồng: chúng đều là các đơn vị có sẵn, cố định, có cấu trúc bền chặt, không dễ thay đổi và có sự hài hòa về mặt ngữ âm Chính

sự tương đồng này đã dẫn đến sự nhập nhằng giữa thành ngữ và tục ngữ mà bất cứ một ai cũng có thể phạm phải

Trang 22

Trên tạp chí Ngôn ngữ cũng xuất hiện không ít bài viết liên quan đến việc phân biệt thành ngữ và tục ngữ Tiêu biểu như bài viết “Phân biệt sự khác nhau giữa thành ngữ và tục ngữ” của Nguyễn Bá Lương Trong bài viết này ông đã thẳng thắn phản bác lại ý kiến của Lê Xuân Mậu trong bài “Bàn

về thành ngữ tục ngữ” Ông viết “theo chúng tôi nghĩ thành ngữ và tục ngữ không thể “lưỡng tính”, không thể là một câu vừa là tục ngữ vừa là thành ngữ được, cũng không thể nói “thành ngữ bị tục ngữ hóa” và cũng không thể như Phạm Thuận Thảo (theo Lê Xuân Mậu) tục ngữ không thể có nghĩa bóng, chỉ thành ngữ mới có nghĩa bóng Nói như vậy là không có căn cứ, phiến diện, thiếu thuyết phục” [14, tr.41] Và cuối cùng ông đưa ra ý kiến của mình như sau: “tục ngữ là một câu nói, diễn đạt một ý trọn vẹn Tục ngữ thường là những câu đúc rút kinh nghiệm về cuộc sống, về thiên nhiên – xã hội Tục ngữ thường được dùng độc lập, còn thành ngữ là một ngữ (cụm từ) cụm từ cố định, là một thành phần câu, thường được dùng chêm xen trong câu nói Thành ngữ là một hình ảnh giàu tính hình tượng, giàu tính biểu cảm” [14, tr.41] Như vậy qua bài viết này, Nguyễn Bá Lương chủ yếu đưa ra những điểm khác nhau giữa thành ngữ và tục ngữ, và theo ý ông thì giữa thành ngữ

và tục ngữ không có sự lẫn lộn và hoàn toàn có thể đưa ra cách phân biệt giữa chúng

Ngược lại với Nguyễn Bá Lương, Nguyễn Thị Trung Thành trong bài viết “Cái khó trong sự phân biệt thành ngữ và tục ngữ” lại chỉ những điểm giống nhau khó phân biệt giữa thành ngữ và tục ngữ Một trong những tiêu chí tạo nên sự lẫn lộn giữa thành ngữ và tục ngữ là: thành ngữ là cụm từ, còn tục ngữ là câu Dựa trên tiêu chí này Nguyễn Thị Trung Thành chỉ ra rằng:

“Về cấu tạo của cụm từ thì trong ngữ pháp, người ta nhắc tới ba loại cụm từ: cụm chính phụ, cụm đẳng lập và cụm chủ vị, vì thế nếu một thành ngữ có kết cấu là một cụm chủ vị thì nó được xem là một câu đơn bình thường (lúc này

Trang 23

thành ngữ sẽ có cấu tạo giống tục ngữ) Ngược lại, trong cấu tạo của câu tiếng Việt, có loại câu đầy đủ thành phần, có loại câu tỉnh lược và cũng có loại câu được gọi là câu đặc biệt Xét về một phương diện nhất định, câu đặc biệt, câu tỉnh lược cũng có thể xem là cụm từ (lúc này tục ngữ sẽ có cấu tạo giống thành ngữ)” [21, tr.7]

Từ những cách phân biệt về thành ngữ và tục ngữ của các nhà nghiên cứu như đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng: chưa có sự đồng nhất trong cách phân biệt thành ngữ và tục ngữ Và qua đó có thể kết luận rằng: sự phân biệt rạch ròi giữa thành ngữ và tục ngữ là điều rất khó

Trang 24

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA THÀNH NGỮ CHỈ

TÂM ĐỊA, HÀNH VI XẤU

2.1 Thành ngữ chỉ tâm địa, hành vi xấu nhìn từ phương diện kết cấu cú

pháp

Thành ngữ trong tiếng Việt chiếm một số lượng không nhỏ, nó góp một phần vào hệ thống ngôn ngữ làm cho hệ thống ngôn ngữ của tiếng Việt trở nên phong phú và đa dạng hơn Nghiên cứu thành ngữ, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều tiêu chí phân loại thành ngữ khác nhau như: dựa vào kết cấu, nguồn gốc, mục đích ý nghĩa… Ở phần này, dựa trên kết quả khảo sát từ 174 thành ngữ, chúng tôi tiến hành phân loại theo kết cấu cú pháp: thành ngữ đẳng lập, thành ngữ chính phụ, và thành ngữ chủ - vị

Qua quá trình khảo sát, chúng tôi đã thống kê số lượng và tỉ lệ của các thành ngữ xét trên phương diện kết cấu cú pháp bằng bảng sau:

Bảng 1: Thống kê tỉ lệ các phương diện kết cấu cú pháp của thành ngữ

chỉ tâm địa, hành vi xấu

2.1.1 Thành ngữ chỉ tâm địa, hành vi xấu có kết cấu đẳng lập

Một thành ngữ được xem là có kết cấu đẳng lập khi thành ngữ đó có hai hoặc nhiều thành tố không phụ thuộc vào nhau, cùng giữ một chức năng ngữ pháp và có quan hệ ngang hàng nhau với các yếu tố ngoài chúng

Trong tổng số 174 thành ngữ mà chúng tôi khảo sát được thì có tới 88 thành ngữ có kết cấu đẳng lập, chiếm tỉ lệ 50,6% Hầu hết các thành ngữ này

Trang 25

đều mang tính chất đối xứng cả về hình thức lẫn ngữ nghĩa Một điều đáng nói ở đây là trong tổng số 88 thành ngữ đó lại có tới 81 thành ngữ có bốn yếu

tố, còn lại là một số ít thành ngữ có sáu yếu tố Chính tính chất đối xứng đã làm cho số lượng thành ngữ có bốn yếu tố chiếm số lượng lớn như vậy

Xét về cấu tạo ngữ pháp thì thành ngữ đẳng lập là thành ngữ được cấu tạo bằng một cụm từ đẳng lập với những đặc điểm của một cụm từ đẳng lập

- Trước hết, các thành tố trực tiếp tham gia cấu tạo nên một thành ngữ

có kết cấu đẳng lập phải giống nhau về bản chất từ loại, cùng nằm trong một phạm trù ngữ nghĩa

Ví dụ:

Mặt người, dạ thú trong thành ngữ mặt người dạ thú; mắt trắng, môi thâm trong thành ngữ mắt trắng môi thâm; lòng chim, dạ thú trong thành ngữ

lòng chim dạ thú; hay ăn gan, uống máu trong thành ngữ ăn gan uống máu

Thành ngữ đẳng lập có yếu tố đối xứng giống nhau về bản chất từ loại

và có cùng một thuộc tính ngữ pháp Nghĩa là: nếu A và B đối xứng nhau thì

A và B có cùng một bản chất từ loại

Ví dụ: Xét thành ngữ ăn gan, uống máu

Ăn đối xứng với uống, gan đối xứng với máu Vì ăn là động từ nên uống đối xứng với nó cũng là động từ, cũng như vậy gan là danh từ nên đối

xứng với nó cũng là danh từ máu

Tính chất thuộc cùng một phạm trù ngữ nghĩa cũng được biểu hiện khá

rõ trong thành ngữ đẳng lập ở chỗ: các thành ngữ đẳng lập đều biểu thị những

sự vật, hiện tượng, thuộc tính, quá trình thuộc cùng một tiểu phạm trù, có cùng một phạm trù ngữ nghĩa

Ví dụ: Lại xét thành ngữ ăn gan uống máu, thì ăn gan và uống máu đều

cùng chỉ về một thuộc tính đó là hiện tượng ăn uống của con người Hay

thành ngữ buôn tranh bán cướp thì buôn tranh và bán cướp đều cùng chỉ về

Trang 26

một hiện tượng đó là buôn bán

- Vì là thành ngữ đẳng lập nên chúng kết hợp với nhau dựa trên mối quan hệ đẳng lập Cho nên, giữa các vế, các yếu tố đối xứng được kết hợp với nhau bằng dấu phẩy hoặc bằng quan hệ từ Hơn nữa do có tính chất đối xứng, nên giữa các vế trong thành ngữ có thể chuyển đổi vị trí cho nhau

Ví dụ:

Chuyển đổi vị trí giữa các yếu tố đối xứng nhau:

Ăn mật, trả gừng ăn gừng, trả mật Dối dưới, lừa trên lừa trên, dối dưới

Chuyển đổi vị trí giữa các vế:

Mắt trắng, môi thâm môi thâm, mắt trắng Chuốc oán, mua thù mua thù, chuốc oán Bội nghĩa, vong ân vong ân bội nghĩa

Chính sự chuyển đổi vị trí cho nhau trong thành ngữ đã làm cho thành ngữ trở nên linh hoạt, biến tấu phù hợp với nhiều hoàn cảnh sử dụng khác nhau

2.1.2 Thành ngữ chỉ tâm địa, hành vi xấu có kết cấu chính phụ

Cụm từ chính phụ là cụm từ mà các thành tố kết hợp với nhau theo quan hệ chính phụ, có một thành tố làm trung tâm, các thành tố phụ đứng trước hoặc đứng sau thành tố trung tâm bổ sung cho nghĩa thành tố trung tâm

Theo kết quả mà chúng tôi thống kê thì trong 174 thành ngữ chỉ tâm

địa, hành vi xấu có 63 thành ngữ có kết cấu chính phụ, chiếm tỉ lệ 36,2%

Trong đó có 43 thành ngữ là cụm động từ, cụm tính từ là 11 và cụm danh chiếm số lượng ít nhất là 9 thành ngữ

Ví dụ:

+ Cụm động từ: ăn thịt người không tanh, bốc lửa bỏ tay người, mài

dao trong bụng, bắt cá hai tay…

Trang 27

+ Cụm tính từ: ác như hùm, dữ như chằn, dữ như hùm, đục nước thả

Chúng ta thử phân tích cấu tạo của một số thành ngữ sau:

- Trước tiên là thành ngữ có cấu tạo là cụm động từ:

Trang 28

Qua ví dụ trên ta thấy cái so sánh bị khuyết, cơ sở so sánh và cái dùng

để so sánh đảm nhận làm phần trung tâm và phần phụ sau của thành ngữ

- Thành ngữ có cấu tạo là cụm danh từ

Loại này chiếm số lượng thấp nhất trong tổng số thành ngữ chính phụ Cùng với cụm động từ và cụm tính từ, cụm danh từ cũng gồm hai phần: phần trung tâm và phần phụ sau

từ vựng Thế nhưng, nhờ tính biểu trưng bóng bẩy mà nó phù hợp với lối nói bóng gió thường thấy của nhân dân ta

2.1.3 Thành ngữ chỉ tâm địa, hành vi xấu có kết cấu chủ - vị

Thành ngữ có kết cấu chủ - vị là thành ngữ có hai trung tâm cú pháp đều là thực từ và quan hệ giữa chúng là quan hệ chủ - vị

Trong số 174 thành ngữ chỉ tâm địa, hành vi xấu mà chúng tôi đã khảo

sát thì chỉ có 23 thành ngữ có kết cấu chủ vị, chiếm tỉ lệ 13,2 %

Về đặc điểm cú pháp thì thành ngữ có kết cấu chủ - vị là một đơn vị có

Trang 29

cấu trúc cao hơn từ, giống với cấu trúc câu đơn bình thường nhưng không thể đồng nhất nó với câu

2.2 Thành ngữ chỉ tâm địa, hành vi xấu nhìn từ phương diện từ loại

Qua quá trình khảo sát và thống kê số lượng thành ngữ chỉ tâm địa,

hành vi xấu từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau, chúng tôi đã chọn ra 174 thành

ngữ Từ 174 thành ngữ chỉ tâm địa, hành vi xấu đó, chúng tôi đã chia theo bốn trường nghĩa chính là: ác, gian, mưu mô và tham lam Các thành ngữ chỉ

tâm địa, hành vi xấu này thường có giá trị biểu trưng cho những thói tật xấu

của con người về tính cách, hành vi, việc làm, thái độ, cử chỉ…

Ở mục này, chúng tôi sẽ đi tìm hiểu thành ngữ chỉ tâm địa, hành vi xấu

ở các trường nghĩa: ác, gian, mưu mô và tham lam nhìn từ phương diện từ

loại Căn cứ vào từ loại của phương tiện biểu trưng, chúng tôi chia hệ thống

thành ngữ chỉ tâm địa, hành vi xấu ra làm 3 nhóm:

- Nhóm danh từ (chỉ sự vật)

- Nhóm động từ (chỉ hành động)

Trang 30

- Nhóm tính từ (chỉ tính chất)

2.2.1 Thành ngữ có phương tiện biểu trưng thuộc nhóm danh từ

Thành ngữ có phương tiện biểu trưng thuộc nhóm danh từ thường có cấu trúc là cụm danh từ - là tổ hợp từ tự do, không có quan hệ đứng đầu, có quan hệ chính phụ giữa thành tố chính và thành tố phụ, thành tố chính là danh

từ Thành ngữ là cụm danh từ thường có cấu tạo ở dạng không đầy đủ Tức là chúng thường bị khuyết phần phụ trước, chỉ tồn tại phần phụ sau và phần trung tâm

Danh từ trong nhóm thành ngữ này thường chỉ các sự vật như: người,

bộ phận cơ thể, sinh vật, sự vật… ở cả bốn trường nghĩa: ác, gian, mưu mô và

tham lam

Chúng ta có thể theo dõi bảng thống kê sau để hiểu hơn về nhóm thành ngữ có phương tiện biểu trưng thuộc nhóm danh từ

Nhìn qua bảng thống kê này ta có thể thấy được trường nghĩa ác chiếm

số lượng lớn nhất, các trường nghĩa khác số lượng thành ngữ thuộc nhóm danh từ ít hơn Và cũng nhìn qua bảng thống kê, chúng ta thấy rằng số lượng các thành ngữ chỉ sự vật chiếm số lượng lớn nhất Điều này càng chứng minh cho tính bóng bẩy và tính biểu trưng của thành ngữ

Trang 31

Bảng 2: Tỉ lệ các phương tiện biểu trưng thuộc nhóm danh từ ở bốn trường

nghĩa: ác, gian, mưu mô và tham lam

Tỉ lệ (%)

Số lần

Tỉ lệ (%)

Số lần

Tỉ lệ (%)

Số lần

Tỉ lệ (%)

- Phương tiện biểu trưng chỉ người

Phương tiện này chiếm số lượng tương đối lớn trong cả bốn trường

nghĩa Nó là những danh xưng như: phường lang, hôn quân, bạo chúa…

những từ này chỉ những con người hung ác, gian trá, tham lam… Người Việt đưa hình ảnh người vào thành ngữ ở trường nghĩa này để biểu trưng cho các thói tật xấu xa của con người

Ví dụ:

Phường lang rợ sói

Hôn quân bạo chúa

- Phương tiện biểu trưng chỉ bộ phận cơ thể

Những thành ngữ chỉ những bộ phận trên cơ thể con người: mắt, miệng, chân, tay, bụng, máu… thường biểu trưng cho các thói tật xấu như: xu nịnh, gian trá, tham lam, ác độc, nhẫn tâm…

Ví dụ:

Mắt trắng môi thâm hay Ném đá giấu tay

- Phương tiện biểu trưng chỉ sinh vật

Phương tiện này chiếm một tỉ lệ không nhỏ trong thành ngữ thuộc

Trang 32

nhóm danh từ Cụ thể là: ở trường nghĩa ác chiếm 46,6%, trường nghĩa gian chiếm 33,3%, ở trường nghĩa tham lam chiếm 25% Phương tiện biểu trưng ở

nhóm này thường biểu trưng cho các tật xấu không có tính người, độc địa, dối trá, cơ hội, tham lam…

Ví dụ:

Lòng cá dạ chim

Gió chiều nào xoay chiều ấy

- Phương tiện biểu trưng chỉ sự vật cụ thể

Là phương tiện chiếm số lượng rất nhỏ trong tỉ lệ thành ngữ thuộc nhóm danh từ Nó là những vật dụng cụ thể tồn tại xung quanh cuộc sống của con người Với tính chất hình tượng và cụ thể, nhân dân đã đưa những hình ảnh của những vật dụng đó vào thành ngữ nhằm chỉ đến tâm địa cũng như hành vi xấu của con người

Ví dụ:

Cờ gian bạc lận hay Đòn xóc hai đầu

Tóm lại, phương tiện biểu trưng thuộc nhóm danh từ là những sự vật cụ thể nằm trong hoạt động sống của con người, chiếm số lượng 52/174 tổng số

thành ngữ chỉ tâm địa, hành vi xấu mà chúng tôi khảo sát được Nó góp phần làm cho thành ngữ chỉ tâm địa, hành vi xấu trở nên đa dạng và phong phú

hơn

2.2.2 Thành ngữ có phương tiện biểu trưng thuộc nhóm động từ

Cũng như thành ngữ thuộc nhóm danh từ, thành ngữ có phương tiện biểu trưng thuộc nhóm động từ có đặc điểm là chúng kết hợp với nhau theo quan hệ chính phụ Tuy nhiên, vì thành ngữ ở nhóm này thường có tính chất đối xứng nên chúng là những cặp từ đẳng lập, kết hợp với nhau theo quan hệ chính phụ, gồm phần trung tâm và phần phụ sau

Trang 33

Ví dụ:

Ăn gan uống máu chỉ hai hành động khác nhau là ăn và uống

Ăn gan , uống máu

PTT PPS PTT PPS

Phần trung tâm là động từ, phần phụ sau thường là danh từ

Phương tiện biểu trưng thuộc nhóm động từ thường có các hoạt động như: lời nói, ăn uống và các hành động, cử chỉ được biểu hiện bằng các bộ phận khác của cơ thể Xem bảng thống kê số lượng và tỉ lệ của chúng sẽ giúp chúng ta dễ dàng nhận thấy:

Bảng 3: Thống kê các phương tiện biểu trưng thuộc nhóm động từ ở bốn

trường nghĩa: ác, gian, mưu mô và tham lam

Tỉ lệ (%)

Số lần

Tỉ lệ (%)

Số lần

Tỉ lệ (%)

Số lần

Tỉ lệ (%)

Theo dõi bảng thống kê chúng ta thấy rằng, số lượng thành ngữ thuộc

nhóm động từ chiếm số lượng nhiều nhất trong tổng số thành ngữ chỉ tâm địa,

hành vi xấu mà chúng tôi khảo sát được (chiếm 93/174 thành ngữ) Điều này cho

thấy các hành động, cử chỉ của con người được nhân dân ta sử dụng rất nhiều

trong thành ngữ nhằm chỉ những hành vi cũng như tâm địa xấu xa của con người

Ngày đăng: 09/05/2021, 17:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w