1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tăng quan và vai trò của tăng quan trong hệ thống quan lại việt nam (thế kỉ x XIV)

68 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 2,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng, triều đại nào xây dựng được đội ngủ có trình độ và năng lực, đạo đức thì triều đại ấy phát triển hưng thịnh, đất nước thái bình, nhân dân sống trong c

Trang 1

ỌC SƯ P M

K OA LỊC SỬ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Tăng quan và vai trò của tăng quan trong hệ thống

quan lại Việt Nam (thế kỉ X - XIV)

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Trang Người hướng dẫn : Nguyễn Xuyên

Đà Nẵng, tháng 5/ 2013

Trang 2

Lời cảm ơn

Trước tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến những thầy cô giáo trong khoa Lịch sử, trường ĐHSP

Đà Nẵng đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ và trang bị cho em những kiến thức trong suốt quá trình học tập tại trường Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Xuyên, người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Em cũng xin được gửi lời cảm ơn tới những người bạn đã luôn ủng hộ, giúp đỡ, cổ vũ nhiệt tình cho em ngay

từ những ngày đầu

Tuy đã cố gắng rất nhiều nhưng do trong khuôn khổ phạm vi đề tài củng như những kiến thức của bản thân còn hạn chế nên đề tài chắc chắn còn có nhiều thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến góp ý của thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp và người đọc để đề tài được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cám ơn!

Đà Nẵng, ngày 24 tháng 5 năm 2013

Sinh viên

Nguyễn Thị Trang

Trang 3

PHẦN MỞ ẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên nghiên cứu vấn đề 2

3 ối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

3.1 ối tượng nghiên cứu 4

3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4.1 Mục đích nghiên cứu 4

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5

6 óng góp của đề tài 6

7 Bố cục của khóa luận 6

NỘI DUNG 7

Chương 1: K Á QUÁT TÌN ÌN , Ộ N Ũ QUAN L V CƠ SỞ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ Ộ TĂN QUAN (THẾ KỈ X - XIV) 7

1.1 Vài nét về tình hình Việt Nam thế kỉ X – XIV 7

1.1.1 Về chính trị - xã hội 7

1.1.1.1 Ngô – inh – Tiền lê 7

1.1.1.2 Lý – Trần 10

1.1.2 Về kinh tế 14

1.1.1.2 Nông nghiệp 14

1.1.2.2 Thủ công nghiệp 15

1.1.2.3 Thương nghiệp 17

1.1.3 Về văn hóa 19

1.2 Cơ sở hình thành và phát triển của chế độ tăng quan 21

1.2.1 Nguồn gốc ra đời của Phật giáo 21

1.2.2 Sự truyền bá phật giáo 22

1.2.3 Sự phát triển của Phật giáo 24

1.2.4 Tư tưởng trọng Phật giáo của giai cấp cầm quyền 26

Trang 4

Tiểu kết chương 1 30

Chương 2: VA TRÒ CỦA Ộ N Ũ TĂN QUAN 31

TRONG CÁC THẾ KỶ X- XIV 31

2.1 Chính trị 31

2.1.1 ịnh hình tư tưởng trị nước của các vị vua 32

2.1.2 ưa ra những kiến nghị, đề xuất về đạo làm vua 36

2.1.3 ưa ra kiến nghị xây dựng, phát triển đất nước và đường lối ngoại giao 39

2.2 Trên lĩnh vực xã hội 43

2.2.1 Cấu trúc xã hội 43

2.2.2 Góp phần ổn định đời sống nhân dân 44

2.3 Văn hóa – giáo dục 45

2.3.1 Văn hóa 45

2.3.1.1 Góp phần phát triển Phật giáo dân tộc và cơ sở để dung nạp các hệ tư tưởng 45

2.3.1.2 ể lại nhiều tác phẩm có giá trị 46

2.3.2 Giáo dục 50

2.3.2.1 ào tạo đội ngủ quan lại thông qua giáo dục 50

2.3.2.2 Giáo dục văn hóa ứng xử trong gia đình và xã hội 52

3.3 Hiệu quả và hạn chế của đội ngủ tăng quan 53

3.3.1 Hiệu quả 53

3.2.2 Hạn chế 53

3.3 Một số nhận xét, đánh giá 54

KẾT LUẬN 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

P Ụ LỤC

Trang 5

Bảng 1: “ Một số tác phẩm và trước tác của tăng quan thời Lý” 48 Bảng 2: “ Một số vị tăng quan mở trường dạy học ở thời Lý” 51

Trang 6

PHẦN MỞ ẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sau chiến thắng Bạch Đằng, Ngô Quyền xưng vương hiệu (939), đây là thời điểm quan trọng đánh dấu dân tộc Việt Nam giành được quyền độc lập tự chủ sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam củng được mở đầu từ đây, thế kỉ X với sự ra đời của các vương triều đầu tiên Ngô, Đinh và Tiền Lê, bước vào thời kì củng cố phát triển qua các triều đại

Lí – Trần – Hồ và từng bước hoàn thiện dưới thời Lê sơ và phát triển đỉnh cao dưới triều Nguyễn

Trải qua các triều đại phong kiến, người cầm quyền tối cao của nhà nước luôn luôn là Vua, người được mệnh danh là thiên tử và quyết định mọi công việc Tuy nhiên, để giúp vua chăm lo việc nước, làm cho Quốc thái dân an

phải kể đến sự trợ giúp của hệ thống quan lại đông đảo Họ không chỉ là

những người quản lí các công việc trong toàn lĩnh vực cụ thể mà còn góp phần quan trọng trong việc đề ra và thực thi những chính sách nhằm ổn định

và phát triển đất nước Chính vì vậy một vương triều thịnh hay suy phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống quan lại Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng, triều đại nào xây dựng được đội ngủ có trình độ và năng lực, đạo đức thì triều đại ấy phát triển hưng thịnh, đất nước thái bình, nhân dân sống trong cảnh an vui lạc

nghiệp như viên thông Quốc sư khẳng định:

“ Nước trị hay loạn cốt ở trăm quan, được người giỏi thì nước trị, dùng người xấu thì nước loạn, các bậc đế vương đời trước sở dĩ hưng được nghiệp

là nhờ những người quân tử, bị mất nước là vì dung kẻ tiểu nhân” [40; 1]

Trong hệ thống quan lại nước ta, có đội ngủ tăng quan, tuy số lượng ít

nhưng có sự đóng góp đáng kể đối với lịch sử phong kiến dân tộc bởi “ Từ

buổi đầu của kỷ nguyên độc lập, tự chủ, các triều đại của nước nhà đã được

sự cố vấn trực tiếp của các thiền sư Việt Nam về quan niệm sống từ bi, bình đẳng, đoàn kết, hòa hợp và bao dung, thấm nhuần tinh thần phật giáo” [32; 2]

Trang 7

Đồng thời đây củng là sự phản ánh mối quan hệ giữa vương quyền và Phật giáo đã trở thành mối quan hệ vô cùng đặc biệt như sự viện dẫn từ thần quyền cho đến vương quyền của thể chế phong kiến Phương Đông Chính mối quan

hệ này mà trong nhiều giai đoạn khác nhau của diễn trình lịch sử đã không ít lần bắt gặp mô hình nhà nước khác mô hình nhà nước quân chủ, khác với Trung Quốc, gần với các quốc gia Đông Nam Á mà phần nào đó phảng phất phật giáo Tây Tạng, đó chính là mô hình vua – Phật mà đỉnh cao là hình tượng phật hoàng Trần Nhân Tông

Nói đến tăng quan Việt Nam ngoài những vấn đề mang tính chính trị còn mang tính văn hóa – xã hội, tôn giáo phật giáo - một dòng sữa chảy và tồn tại chan hòa với văn hóa nước ta từ xưa cho đến nay Nhất là trong thời đại Lý- Trần khi phật giáo phát triển mạnh thì vị thế và vai trò của tăng quan càng được đề cao Vậy bộ phận tăng quan có vị trí và ảnh hưởng như thế nào đến chính trị và đời sống văn hóa - xã hội nước ta từ thế kỉ X- XIV ? Nhìn chung

có rất nhiều vấn đề xung quanh tăng quan cần tìm hiểu

Thực tiễn nước ta hiện nay, trong những công việc của đất nước có các tăng sư tham gia, đồng thời trong bối cảnh hội nhập với xu thế toàn cầu hóa trên hầu hết các lĩnh vực thì trong đó có hội nhập tôn giáo và tăng quan có vai trò quan trọng trong vấn đề này

Xuất phát từ sự mong muốn và lòng đam mê tìm hiểu rõ về tăng quan Việt Nam về tư tưởng trị nước, đóng góp của họ đối với đời sống chính trị, đời sống xã hội, và văn hóa dân tộc trong giai đoạn lịch sử dân tộc từ thế kỉ X đến thế kỉ XIV, đồng thời nhìn về tình hình nước ta hiện tại trong bối cảnh hiện nay để rút ra những bài học kinh nghiệm từ lịch sử

Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên tôi chọn đề tài: “Tăng quan

và vai trò của tăng quan trong hệ thống quan lại Việt Nam (thế kỉ X - XIV)”

làm khóa luận tốt nghiệp

2 Lịch sử nghiên nghiên cứu vấn đề

Có thể nói rằng những vấn đề liên quan đến quan lại phong kiến đã trở

Trang 8

nên quen thuộc và được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu như chính sách phát triển bộ máy hành chính, những cuộc cải cách chính trị hay chính sách khảo khóa, thanh tra giám sát quan lại Nhưng phải khẳng định rằng đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể về vấn đề tăng quan Việt Nam giai đoạn thế kỉ X đến thế kỉ XIV

Mặt khác, vấn đề tăng quan vừa mang tính lịch sử vừa mang nét chấm phá của Phật giáo, vì vậy tư liệu của vấn đề này chủ yếu nằm rãi rác trong các tài liệu lịch sử và tài liệu về tôn giáo phật giáo theo các mảng tài liệu về chính trị, văn hóa, tôn giáo…

Đầu tiên phải kể đến là các bộ sử lớn của dân tộc, mà chủ yếu là Đại Việt

sử kí toàn thư của sử gia Ngô sĩ Liên và các sử thần triều Lê, hay bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Lịch triều hiến chương loại trí Trong các

tác phẩm nổi tiếng này vấn đề tăng quan được nhắc đến thông qua các sự kiện lịch sử Tuy nhiên, các sự kiện lịch sử đó chỉ mang tính khái lược không đi sâu vào vấn đề tăng quan

Bên cạnh đó, các tác phẩm của các giai đoạn cụ thể của lịch sử Việt Nam

như Quan lại trong lịch sử Việt Nam cuả tác giả Vũ Ngọc Khánh, Các triều

đại Việt Nam của Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng, các tác phẩm viết về thể chế

chính trị thời Lý – Trần, giai đoạn mà Phật giáo phát triển hưng thịnh như

Cấu trúc xã hội chính trị thời Lý Trần của tác giả Nguyễn Thừa Hỷ Nhưng

nhìn chung những tác phẩm này chỉ đề cập đến vấn đề tăng quan rất mơ hồ, rải rác chứ không đi sâu cụ thể

Nói đến vấn tăng quan thì không chỉ có những tư liệu về lịch sử mà còn

có những tác phẩm về phật giáo, chủ yếu là cuốn Việt Nam phật giáo sử luận của tác giả Nguyễn Lang, Một số tôn giáo ở Việt Nam của nhà xuất bản tôn

giáo, bên cạnh đó còn có một số bài khóa luận, bài viết của các tăng sư, phật

tử nói đến sự đống góp của Phật giáo đối với lịch sử dân tộc, nhưng nhìn chung vẫn chưa đi sâu vào vấn đề tăng quan,,mà chỉ mới nghiêng về văn hóa, tôn giáo

Trang 9

Ngoài ra, Vấn đề tăng quan còn có đề cập đến trong những tác phẩm cụ thể về các nhân vật lịch sử, các anh hùng dân tộc và những mẫu chuyện lịch

sử, và cả trong phật giáo như quyển sách Các sứ thần Viêt Nam của tác giả Phạm Trường Khang xuất bản năm 2010, Bộ truyện lịch sử Mai Hắc Đế, Bố

cáo đại vương, Lý Thái Tổ của tác giả Trần Việt Quỳnh, Hiền tài là nguyên khí Quốc gia của nhóm tác giả Nguyễn Huy Thắng, Nguyễn Như Mai,

Nguyễn Quốc Tính Và đặc biệt trên cở sở những tư liệu thành văn, sự cố vấn

của nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử bộ phim sử thi Phật

Hoàng Trần Nhân Tông của NSUT Văn Lương của xưởng phim truyền hình

Hải Phòng đã khắc họa chân dung vị vua ảnh hưỏng phật giáo, thông qua đó

có thể hiểu thêm về tăng quan Việt Nam thời bấy giờ

Nhìn chung, các tác phẩm, công trình nghiên cứu trên có thể do mục đích, phạm vi nghiên cứu mà việc đề cập đến tăng quan Việt Nam từ thế kỉ X đến XIV còn hạn chế nhiều về nội dung Các tác giả mới chỉ đề cập đến nội dung sơ lược, khái quát mà chưa đi sâu vào tìm hiểu một cách hệ thống về vấn đề này Tuy nhiên đây là những tài liệu quý giá giúp tôi hoàn thành đề tài này

3 ối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 ối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính là Tăng quan Việt Nam qua các triều đại phong kiến từ thời Ngô – Đinh – Tiền Lê, nhất là thời kì Lý – Trần khi mà phật giáo phát triển hưng thịnh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu Tăng quan Việt Nam trong hệ thống quan lại Việt Nam

từ thế kỉ X – XIV, trong đó chúng tôi tập trung nghiên cứu về đặc điểm, vai trò, vị thế và đóng góp của Tăng quan đối với đời số ng chính trị, đời sống xã hội của dân tộc lúc bấy giờ

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Trang 10

Nghiên cứu về tăng quan Việt Nam (X-XIV), chúng tôi hướng đến nhằm mục đích sau: Làm sáng tỏ với người đọc khái niệm tăng quan, từ đó làm rõ các vấn đề liên Tăng quan nguồn gốc , đặc điểm khác so với quan lại trong hệ thống quan lại, đóng góp của họ đối với chính trị, văn hóa nước ta thời bấy giờ, Mặt khác, còn có nhiều thông tin trái chiều về một số tăng quan thời bấy giờ Qua đó rút ra bài học kinh nghiệm thực tiễn mà vấn đề tăng quan mang lại

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích đề ra trong nghiên cứu đề tài thực hiện nhiệm vụ sau:

* Tìm hiểu về bối cảnh lịch sử qua các triều đại Ngô – Đinh – Tiền Lê,

Lý – Trần và ảnh hưởng của Phật giáo trong các thời kì đó

* Tìm hiểu về khái niệm tăng quan và những nhân vật cụ thể của tăng quan

* Rút ra được đặc điểm, vai trò, đóng góp của tăng quan đối với các triều đại và văn hoá dân tộc Đồng thời, còn tiến hành so sánh với tăng quan của Trung Quốc và một số nước khác để thấy được sự khác nhau Bên cạnh đó còn rút ra bài học kinh nghiệm trong nhận định vai trò của các tăng sư ngày nay

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Để phục vụ có hiệu quả cho việc nghiên cứu đề tài này chúng tôi dựa vào nhiều nguồn tư liệu từ các sách chuyên khảo, sách giáo trình, tạp chí đang được lưu trữ tại thư viện trường Đại học sư phạm Đà Nẵng, thư viện Tổng hợp Huế, thư viện Tổng hợp Đà Nẵng, phòng học liệu khoa lịch sử và một số

tư liệu ở chùa Quang Minh, quận Liên Chiểu, tp Đà Nẵng

Đồng thời, khi nghiên cứu đề tài này chúng tôi đứng trên quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam, để xem xét đánh giá các sự kiện lịch sử Trong quá trình đó chúng tôi sử dụng kết hợp chặt chẽ hai phương pháp chuyên ngành Lịch sử đó là phương pháp lịch sử và phương

Trang 11

pháp logic Ngoài ra, chúng tôi còn kết hợp các phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, đối chiếu các sự kiện lịch sử

6 óng góp của đề tài

Nghiên cứu đề tài tăng quan trong hệ thống quan lại Việt Nam (X - XIV) cung cấp cái nhìn toàn diện và hệ thống về bộ phận tăng quan Việt Nam, vị trí

và vai trò của bộ phận này trong triều chính, củng như đời sống xã hội, từ đó

có thể phản ánh được mức độ ảnh hưởng của Phật giáo đối với văn hóa dân tộc ta qua từng thời kì lịch từ thế kỉ X đến XIV Qua đây có thể nhận thấy được vai trò tăng quan đối với việc trị nước của triều đình, nhất là tư tưởng trị nước, bình thiên hạ Đồng thời giúp chúng ta thấy được đặc điểm khác của tăng quan nước ta so với Trung Quốc

Trong công cuộc đổi mới và hội nhập ngày nay, tăng sư luôn có mặt trong hệ thống hành chính, điều này ảnh hưởng đến chính sách của nhà nước đối với phật giáo và đặc biệt trong bối cảnh hội nhập thế giới cả lĩnh vực tôn giáo thì việc nâng cao năng lực, trình độ, những yêu cầu về đạo đức, tác phong tăng sĩ rất quan trọng Việc nghiên cứu đề tài này góp phần bổ sung những kinh nghiệm, bài học quý báu của lịch sử từ các tăng quan trong lịch sử phong kiến và có những chính sách về tôn giáo phù hợp với thời đại

Ngoài ra, việc nghiên cứu tăng quan trong hệ thống quan lại Việt Nam (X-XIV) góp phần cung cấp tư liệu cho những ai quan tâm đến giai đoan lịch

sử từ thế kỉ X đến XIV, cũng như góp phần làm tài liệu cho công tác giảng dạy về giai đoạn lịch sử phong kiến từ thế kỉ X đến thế kỉ XIV trong lịch sử trung đại Việt Nam

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm 2 chương:

Chương 1: Khái quát tình hình, đội ngũ quan lại và cơ sở hình thành, phát triển của chế dộ tăng quan (thế kỉ X - XIV)

Chương 2: Vai trò của đội ngũ tăng quan trong các thế kỷ X- XIV

Trang 12

NỘI DUNG

Chương 1: K Á QUÁT TÌN ÌN , Ộ N Ũ QUAN L I

V CƠ SỞ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ Ộ

TĂN QUAN (THẾ KỈ X - XIV) 1.1 Vài nét về tình hình Việt Nam thế kỉ X – XIV

Năm 905, khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ thắng lợi, chính quyền thống trị nhà Đường bị lật đổ Nhà Đường muốn xem họ Khúc như một quan chức của mình, nhưng ông không chấp nhận mà quyết định củng cố thành quả cuộc khởi nghĩa giành được Năm 907, Khúc Thừa Dụ mất, Khúc Hạo lên thay đã tiếp tục

sự nghiệp của cha với những cải cách của mình đã thể hiện rõ tinh thần của một Quốc gia độc lập, có quyền tự chủ của mình, làm cơ sở để nhân dân ta đứng lên tiến hành các cuộc kháng chiến đập tan âm mưu xâm lược của các thế lực bên ngoài, nhất là cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng (938) của Ngô Quyền Từ đây, nước ta bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ dưới thời Ngô – Đinh – Tiền lê, sau đó bước vào thời kì củng cố, phát triển qua các triều đại Lí – Trần – Hồ và từng bước hoàn thiện dưới thời Lê sơ

1.1.1 Về chính trị - xã hội

1.1.1.1 Ngô – inh – Tiền lê

Sau khi đánh bại cuộc xâm lược lần thứ hai của quân Nam Hán, với uy danh của chiến thắng Bạch Đằng Năm 939, Ngô Quyền xưng vương, khi đứng ngôi ông đã bãi bỏ chế độ Tiết độ sứ, tiến hành xây dựng triều đình mới, lấy Cổ Loa ( Đông Anh – Hà Nội) làm kinh đô, dựng cung điện Ở địa phương, các châu, huyện được giữ nguyên Giáp, làng vẫn là đơn vị cấp hành chính cơ sở, bên cạnh xóm làng cổ truyền có một vài làng mới

Có thể nhận thấy rằng, nước ta sau khi trải qua 30 năm độc lập với hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm Ngô Quyền xưng vương hiệu (939) thực

sự đã khôi phục nền độc lập và chủ quyền quốc gia, chấm dứt 1000 năm Bắc

Trang 13

thuộc Nói như sử cũ, "Ngô Vương Quyền nối lại quốc thống" Tài năng và

uy tín cá nhân đã giúp Ngô Quyền duy trì được một chính quyền tập trung chuyên chế, mặc dù lúc đó vẫn tồn tại ở trong nước nhiều thế lực của các hào trưởng địa phương, có xu hướng cát cứ, những tàn dư của chế độ củ vẫn còn nhiều, tình hình xã hội còn phức tạp Nhà Ngô chưa đủ điều kiện để giữ vững

sự ổn định lâu dài

Trước tình hình đất nước rối ren như vậy, Đinh Bộ Lĩnh đã lần lượt dẹp yên các thế lực cát cứ thu về một mối Năm 968, ông lên ngôi, tự xưng là Hoàng đế gọi là lấy niên hiệu Thái Bình, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô

ở Hoa Lư, xây dựng triều chính, bước đầu thống nhất đất nước Sở dĩ ông chọn Hoa Lư làm kinh đô và củng là căn cứ quân sự, là lựa chọn ưu tiên cho mục tiêu an ninh trong bối cảnh bấy giờ Hoa Lư có địa thế hiểm yếu, khả năng phòng thủ tốt, nhưng lại có bất lợi rất lớn là không thuận lợi về vị trí địa

lý củng như điều kiện tự nhiên để phát triển thành trung tâm kinh tế, văn hoá Năm 974, Đinh Tiên Hoàng tổ chức lại quân đội trong cả nước tổ chức quân đội thành 10 đạo, mỗi đạo 10 quân, mỗi quân 10 lữ, mỗi lữ 10 tốt, mỗi tốt 10 ngũ, mỗi ngũ 10 người Tổng chỉ huy quân đội là Thập đạo tướng quân điện tiền chỉ huy sứ Lê Hoàn Nếu đúng như vậy thì quân đội lúc đó lên đến 1 triệu người Tuy nhiên, đây chỉ là vấn đề sử sách chép lại, còn việc có đúng thực tế như vậy không thì đến nay cũng chưa có bằng chứng thực sự rõ ràng minh chứng cho điều đó

Năm 979, nội bộ triều Đinh lục đục Đinh Tiên Hoàng và con trưởng là Đinh Liễn bị giết hại Đinh Toàn lúc bấy giờ mới 6 tuổi lên nối ngôi Các tướng lĩnh trong triều chia thành phe phái, đánh lẫn nhau Ở Trung Quốc, nhà Tống đang lăm le xâm phạm bờ cõi Thập đạo tướng quân Lê Hoàn sau khi tiêu diệt Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp, đã nắm trọn quyền bính Năm

980, trước sự đe dọa xâm lược của nhà Tống, được sự ủng hộ và suy tôn của Dương Thái hậu , theo đề nghị của Phạm Cự Lạng, Lê Hoàn lên ngôi Hoàng

đế thường gọi là Lê Đại Hành, chuẩn bị kháng chiến, lập ra nhà Tiền Lê

Trang 14

Được sự phò tá của Phạm Cự Lạng và các cố vấn như các nhà sư Pháp Thuận, Ngô Chân Lưu, Lê Hoàn đã tổ chức phòng ngự ở kinh đô Hoa Lư, thành Đại La và phòng tuyến cửa ngõ Bạch Đằng - Hoa Lư Ở đây, theo kế Ngô Quyền Lê Hoàn đã cho bố trí trận địa cọc ở lòng sông Mặt khác, nhà vua sai gửi thư sang nhà Tống, tìm kế hoãn binh

Cuối năm 980, theo kế hoạch tốc chiến, bất ngờ, quân Tống đã đem quân ồ ạt xâm lược Đại Cồ Việt do Hầu Nhân Bảo làm Tổng chỉ huy cả 2 đạo quân bộ (Tôn Toàn Hưng, sau là Trần Khâm Tộ) và thủy (Lưu Trừng) Sau một vài trận giao chiến, Lê Hoàn đã dùng kế trá hàng, dụ quân Tống vào trận địa phục kích Bạch Đằng, đánh tan giặc, giết Hầu Nhân Bảo tại trận tháng 4-

981 Cánh quân bộ của Trần Khâm Tộ cũng bị truy kích ở Tây Kết Đại bại, quân Tống phải tháo chạy về nước Nền độc lập và thống nhất của Đại Cồ Việt qua thử thách càng được củng cố

Trên cở sở tổ chức bộ máy nhà nước thời nhà Đinh Năm 1002 Lê Hoàn đổi 10 Đạo thành Lộ, Phủ, Châu Dưới triều Tiền Lê, Lê Hoàn và các đời vua tiếp sau củng cố và tăng cường thêm quân đội thường trực, đặt ngạch thân binh, tuyển lính túc vệ đóng quân ở kinh thành Các chức quan cao cấp chỉ huy quân đội được đặt ra như Thái Uý, Khu mật sứ Ngoài quân đội của nhà vua, còn có quân đội của các vương hầu, quý tộc chiêu mộ và điều khiển ở điền trang, thái ấp mà vua có thể điều động khi cần thiết

Năm 1005, Lê Hoàn mất, các con tranh chấp ngôi vua Lê Long Đĩnh nối ngôi, là người tàn ác, trụy lạc, mắc bệnh phải nằm họp triều đình (nên thường gọi là Lê Ngọa triều) không đủ năng lực và uy tín trị nước Sau khi Lê Long Đĩnh chết (1009), triều thần do Đào Cam Mộc khởi xướng, đã suy tôn Điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn lên làm vua, chấm dứt nhà Tiền Lê

Qua đây có thể nhận thấy rằng :

Trong triều đình Ngô - Đinh - Tiền Lê, các vị vua đã tiến hành phong tước, mà trước hết là một số người trong hoàng tộc Thời kỳ này trật tự lễ nghi trong triều đình đã bước đầu được định hình, các vị vua khi mới lên ngôi

Trang 15

đều đã chế định triều nghi, phẩm phục

Từ mô hình tổ chức bộ máy nhà nước đến các biện pháp quản lý xã hội thời kỳ này còn mang đậm tính chất quân sự

Thực chất nhà nước thời kỳ này vẫn mang dáng dấp của một cái làng lớn, chủ yếu giải quyết tính đại diện của nhà nước về quân sự Làng xã với tính chất tự quản mạnh vẫn thể hiện rõ nét tính độc lập của mình trong quan

hệ với chính quyền trung ương

Mỗi nhà nước phải có bệ đỡ về tư tưởng, chính quyền thời này không muốn dập khuôn theo mô hình Nho giáo, đã chọn Phật giáo nhằm tranh thủ nhân tâm Điều đáng tiếc là Phật giáo lại quá xa lạ với luật pháp có tính quân

sự của nhà Đinh, vì vậy đã tạo ra một sự phản kháng hết sức gay gắt trong thời gian này

Mặc dù mới thời kì đầu của chế độ phong kiến, mang tính định hình nhưng đã đặt cơ sở cho những bước phát triên

1.1.1.2 Lý – Trần

Năm 1009, Lê Long Đĩnh chết, triều thần chán ghét nhà Tiền Lê, vì vậy, các sư tăng và đại thần, đứng đầu là sư Vạn Hạnh, tôn Điện tiền chỉ huy sứ tên là Lý Công Uẩn lên làm vua, mở đầu cho Vương triều nhà Lý (l010- 1225) Tiếp theo triều Lý là Vương triều Trần (1226-1400)

Năm 1010, Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế hay còn gọi là Lý Thái Tổ, đặt niên hiệu là Thuận Thiên, cho dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La, sau đó đổi thành Thăng Long, chính thức gọi tên nước là Đại Việt Từ đó, trải qua các triều vua, nhà Lý và nhà Trần ra sức xây dựng, làm hoàn thiện dần bộ máy nhà nuớc quân chủ trung ương tập quyền, xây dựng các bộ luật thành văn, củng cố lực lượng quốc phòng vững mạnh, xây dựng và củng cố khối đoàn kết dân tộc, lãnh đạo nhân dân chống ngoại xâm thắng lợi

Về tổ chức hành chính và bộ máy quan lại, quan chế của nhà nước Lý - Trần có quy củ, chặt chẽ hơn các triều đại trước Đứng đầu triều đình là Hoàng đế, dưới Hoàng đế có 3 chức đứng đầu các quan lại trong triều, đó là

Trang 16

thái sư, thái phó, thái bảo Dưới đó là chức thái úy, nắm giữ việc chính trị, quân sự trong nước, về sau chức này được gọi là tể tướng Tiếp đến là các chức tư không, thiếu phó, thiếu bảo, thiếu úy có nhiệm vụ phụ trách cấm quân, nội điện đô trị sự, ngoại điện đô trị sự, kiểm hiệu bình chuơng sự Đây

là những chức vụ trọng yếu nhất giúp việc nhà vua Để giúp vua quản lý mọi mặt của đất nước, còn có các cơ quan chuyên trách như Trung thư sảnh, Khu mật sứ, Ngự sử đài, Hành khiển tượng thư sảnh, Nội thị sảnh, Đình uý, Hàn lâm học sĩ

Năm 1097, nhà Lý cho biên soạn và ban hành Hội điển , quy định các phép tắc chính trị, tổ chức bộ máy quan lại Từ đó, quy chế tổ chức hành chính và quan lại được xác lập, thể hiện bước tiến bộ rõ rệt trong việc quản lý

xã hội, đất nước Các quan lại cao cấp có nhiều công lao được phong thực phong, thực ấp Chỉ con cháu những người có quan tước, được tập ấm, mới được làm quan

Sang thời Trần, tổ chức bộ máy quan lại ở trung ương có bước hoàn thiện hơn thời Lý Khác với nhà Lý, nhà Trần đặt ra chế độ Thái thượng hoàng có nghĩa là các vua sớm truyền ngôi cho con trai trưởng là hoàng thái

tử nhưng vẫn cùng với vua trông coi chính sự, tự xưng là Thái thượng hoàng Chế độ Thái thượng hoàng thời Trần có tác dụng ngăn chặn tình trạng các đại thần chuyên quyền, cướp ngôi khi vua còn ít tuổi Trong triều đình, đứng đầu các quan vẫn là ba chức thái sư thái phó, thái bảo chỉ có điểm khác thời Lý ở chỗ nhà Trần đặt thêm hàm thống quốc, tá thánh, phụ quốc để gia phong thêm như thống quốc thái sư, tá thánh thái sư phụ quốc thái bảo

Nhìn chung, bộ máy quan lại ở trung ương thời Lý - Trần cấu trúc theo

ba cấp: trung ương, cấp hành chính trung gian, cấp hành chính cơ sở, nhưng ngày càng có hệ thống, đầy đủ hơn từ thời Lý đến thời Trần Ở các địa phương, nhà Lý từ năm 1011 đổi 10 đạo thời ê làm 24 lộ, đặt thêm một số đạo

và trại, châu Một số châu, trại đổi làm phủ, các vùng xa gọi là châu (như châu Vĩnh An, Đằng Châu, châu Lâm Tây, v.v.) Dưới lộ có huyện, hương

Trang 17

Ở Kinh đô, nhà Lý giao cho một hoàng tử hay thân vương trông coi gọi

là kinh sư lưu thủ Ở các châu gần, đặt các chức tri châu, thông phán, tổng quản để trông coi Ở các châu biên giới đặt chức châu mục đứng đầu Đứng đầu phủ có chức tri phủ, tri phủ sự, phán phủ sự phụ trách

Nhà Trần còn đặt thêm một tổ chức phụ trách về dòng họ nhà vua gọi là tông chính phủ Năm 1230, nhà Trần cho ban hành bộ sách Thông chế gồm 20 quyển, lại cho soạn sách Quốc triều thường lễ, ghi chép công việc của triều đình Việc cai quản đất nước dưới thời Trần theo quy chế rõ ràng, có bước tiến

bộ, phát triển hơn thời Lý Nhà Trần cũng thực hiện chế độ ban phong thái ấp cho vương hầu, tôn thất và cho phép họ được xây dựng phủ đệ riêng

Thời Lý, các quan lại đều xuất thân từ tầng lớp quý tộc; sang thời Trần, tất cả các chức vụ quan trọng trong triều cũng đều giao cho vương hầu quý tộc nhà Trần nắm giữ Bởi vậy nhà Trần nắm khá chắc toàn bộ công việc chủ chốt trong triều, quyền lực tập trung trong tay nhà nước trung ương; chế độ quân chủ trung ương tập quyền được củng cố thêm một bước

Cách sử dụng, bổ nhiệm quan lại của nhà nước Lý - Trần đã phản ánh rõ nét tính đẳng cấp sâu sắc, nhất là dưới thời Trần Cũng có thể nói nhà nước thời Lý - Trần là nhà nước quân chủ quý tộc

Tổ chức quân đội và quốc phòng, nhà nước Đại Việt thời Lý - Trần rất chú trọng xây dựng lực lượng quốc phòng vững mạnh Tổ chức quân đội có quy củ, chặt chẽ Thời Lý, lực lượng quân đội có cấm quân (bảo vệ Hoàng cung và nhà vua) gồm 10 vệ gọi là điện tiền cấm quân Về sau, từ năm 1059,

Lý Thánh Tông chia thành 16 vệ, với tổng số quân chừng 3200 người, do một viên thiếu uý đứng đầu Ngoài cấm quân còn có quân ở các lộ, phủ

Thời Trần, quân đội cũng chia làm hai bộ phận như thời Lý là cấm quân

và quân các lộ Cấm quân được tuyển chọn kỹ, gồm những thanh niên khoẻ mạnh, thông thạo võ nghệ Cấm quân chia thành đội ngũ, mỗi quân gồm 30

đô, mỗi đô 80 người, tổng số có 10 quân.Trong thời chiến nhà nước cho phép các vương hầu được mộ dân làm gia thuộc, gia đồng, lập thành đội quân riêng

Trang 18

và trực tiếp chỉ huy, tạo nên một bộ phận "quân đội vương hầu', khác với thời

Đến thời Trần, pháp luật từng bước được đổi mới Hoạt động pháp chế được tăngcường Gốc nhân ái của pháp luật vẫn được giữ gìn, nhưng tinh thần pháp trị ngày càng được đề cao

Có thể nói, nếu nhà Lý mở đầu cho thời kỳ pháp luật thành văn và đưa pháp luật chính thức đi vào cuộc sống, thì nhà Trần đã kế thừa di sản tích cực

đó, nâng cao hơn một bước để thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt của đất nước, có tác dụng góp phần bảo vệ thành công nền độc lập, thống nhất quốc gia Nét đặc sắc của pháp luật thời Lý - Trần là tinh thần pháp chế ngày càng được đề cao nhưng cái gốc của đạo trị nước là nhân và đức vẫn được chú trọng trong thực thi pháp luật, mặc dù tính giai cấp và đẳng cấp trong pháp luật vẫn rất đậm nét

Hoạt động đối ngoại, Nhà nước Lý - Trần tiếp tục thực hiện chính sách ngoại giao tích cực như thời thời Đinh - Lê là chủ trương giao hảo với các nước lân bang, nhưng kiên quyết chống trả các thế lực ngoại xâm để bảo vệ độc lập, toàn vẹn lãnh thổ

Nhà Lý thường cử các đoàn sứ giả sang Tống nộp cống lễ Vua Tống biết chưa thể xâm lược được Đại Việt, nên đã phong vương và công nhận các vua triều Lý

Nhà Trần tiếp tục chính sách của nhà Lý trong việc giữ yên biên cương, bảo toàn lãnh thổ Sự ổn định về mặt chính trị đã tạo điều kiện cho các lĩnh vực khác phát triển, mà đầu tiên phải kể đến là kinh tế

Trang 19

1.1.2 Về kinh tế

1.1.1.2 Nông nghiệp

Nghề nông là nghề gốc của các nước Phong kiến Về căn bản đây là một nền kinh tế tự cung cấp, mọi nguồn thu của quốc khố chủ yếu dựa vào thuế Điền và thuế Đinh, vì vậy, triều đại phong kiến Việt Nam nào cũng thi hành

“chính sách trọng nông ”

Dưới vương triều Ngô – Đinh – Tiền Lê, mới giành được độc lập và thống nhất đất nước, chưa có điều kiện thống nhất và chăm lo phát triển cho nông nghiệp, chỉ mong khôi phục và duy trì trở lại nền văn minh lúa nước của thời Văn Lang – Âu Lạc Chỉ đến thời Tiền Lê, sau khi thắng Tống, Lê Hoàn mới có những chủ trương, chính sách mới để phát triển Nông nghiệp, Ông là vị vua đầu tiên tổ chức lễ cày ruộng tịch điền, để biểu thị tinh thần trọng nông của nhà vua Nhiều công trình thủy lợi, đắp đê, đào kênh, vét sông, trị thủy, chủ động tưới nước, tiêu nước cho đồng ruộng cũng được Lê Hoàn tiến hành rất tích cực

Đến thời Lý, nông nghiệp phát triển mạnh hơn và nhiều chính sách mới Sức lao động và sức kéo được bảo vệ đặc biệt Quân lính được thay nhau hàng tháng về sản xuất Kêu gọi nông dân nghèo phiêu bạt các nơi trở về quê

sẽ được chia ruộng để cày cấy Năm mất mùa, nông dân đều được miễn tô thuế Trâu bò được Pháp luật bảo vệ chặt chẽ Công việc khẩn hoang và xây dựng các công trình thủy lợi được tiến hành với quy mô lớn Nhiều đoạn đê quan trọng, dọc theo đoạn đường sông ngòi lớn, còn vùng đồng bằng đã được bồi đắp, trong đó quan trọng như đê Cơ Xá (sông Hồng ở vùng Thăng Long)

và kênh ngòi ở một số nơi như Thanh Hóa

Đến thời Trần, kinh tế có phần bị suy sụp cuối đời Lý không những được khôi phục mà còn được phát triển cao hơn

Những công trình khẩn hoang của tư nhân và chính quyền mở rộng thêm đồng ruộng và thôn xóm Ở các Lộ, nhà Trần đặt các chức đồn điền sứ và phó

Trang 20

sứ để chăm lo thủy nông, bảo vệ đê điều Công việc đắp đê được tiến hành

hằng năm với quy mô lớn “Năm 1248, triều đình ra lệnh cho các bộ đắp đê

từ đầu nguồn đến bờ biển gọi là đê Quai Vạc Việc xây dựng và bảo vệ đê điều được coi là một chức năng quan trọng của chính quyền và là nhiệm vụ của toàn dân” [ 75;46]

Như vậy là đến đời Trần, hệ thống đê dọc sông Hồng và các sông lớn ở Đồng Bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay Về cơ bản đã được xây dựng

và năm nào cũng được bồi đắp thêm Những công trình khẩn hoang và thủy

lợi nói trên đã góp phần thúc đẩy đời Trần phát triển mạnh “Một sứ giả nhà

Nguyễn đến nước ta năm 1293 nhận thấy ở vùng đồng bằng này “mỗi năm lúa chín bốn lần”! Nếu đúng như vậy, quả là nông nghiệp đời Trần đã đạt đến trình độ thâm canh khá cao Ngoài lúa, nông dân còn trồng nhiều thứ hoa màu, trồng dâu, nuôi tằm và gia đình nào cũng có vườn cây ăn quả [76;46]

Qua đây, có thể nhận thấy chính quyền phong kiến ta đã có nhiều chính sách quan tâm đến vấn đề ruộng đất, chăm lo đến đời sống của nông dân, chính vì vậy mà kinh tế nông nghiệp nước ta từ thế kỉ X- XIV phát triển ổn định Cùng với sự phát triển của nông nghiệp là sự phát triển của kinh tế thủ công nghiệp

1.1.2.2 Thủ công nghiệp

Từ thế kỷ X, nước ta giành được độc lập, kinh đô Hoa Lư tiểu biểu cho

sự phát triển tập trung của thủ công nghiệp lúc bấy giờ, trong đó phát triển mạnh nghành khai khoáng luyện kim để có nguyên liệu đúc công cụ lao động, nhất là đúc vũ khí, tiền tệ, Đinh Tiên Hoàng đã cho đúc tiền đồng

“ Thái Bình Thiên Bảo”, Lê Hoàn đúc tiền Thiện phúc thông bảo” từ đó, qua mỗi triều đại mình, đều đúc tiền theo niên hiệu của riêng minh Lê Hoàn đúc tiền “Thiện phúc thông bảo”, từ đó,qua mỗi triều đại mới, đều đúc tiền theo niên hiệu riêng của mình

Từ thời Đinh Lê, Phật giáo bắt đầu trở thành quốc đạo, phát triển, nên chùa xây dựng ngày càng nhiều Các qua ngành nghề thủ công có liên quan

Trang 21

do đó cũng có điều kiện phát triển nhanh, mạnh, đạt trình độ cao về cả nghệ thuật lẫn kỹ thuật như nghệ thuật, làm đá, làm gạch, ngói, khắc chạm, đúc chuông, đúc tượng, Riêng Hoa Lư năm 973, Nam Việt Vương Đinh Liễn, con trai trưởng của Đinh Tiên Hoàng đã cho dựng 100 bia đá và cột đá trong các chùa tháp đễ khắc kinh phật Nghề khắc bản in theo lối bản gổ cũng xuất hiện và phát triển cùng nghề làm giấy chủ yếu phục vụ việc in kinh cho nhà chùa

Đến thời Lý, thành tựu lớn nhất về thủ công nghiệp là việc xây dựng kinh đô Thăng Long và tập trung hàng vạn cung điện, chùa tháp, những hình ảnh chạm khắc, tiện, cẩn, khảm xà cừ, sơn son thếp vàng trên các lâu đài, cung điện cũng như chùa, tháp, đình miếu, gạch ngói cầu kì quý giá, dưới các thời Lý, Trần, Lê đã nói lên tài nghệ của các loại thợ thủ công thời kỳ này Các tượng phật và bệ tượng phật trong các chùa tháp, đình miếu bằng

đá, gỗ được chạm khắc nhiều hình ảnh chạm khắc công phu, tỷ mĩ Các chùa Phật tích, chùa Bà Tấm, chùa Trấn Quốc, chùa Thầy, chùa Tây Phương là những công trình có giá trị, ngoài ra nghề sản xuất vật liệu xây dựng, nghề biển củng phát triển một bước khá dài, nghề dệt cũng đã sản xuất được nhiều

loại màu sắc và trang trí đặc sắc “Năm 1040, Lý Thái Tông quyết đinh không

mua gấm vóc bên ngoài vì gấm vốc trong nước củng có chất lượng cao và đủ dùng để may mặc cho vua quan, biểu thị ý chí tự lực, tự cường mạnh mẽ.” [149; 46] Nghề khai khoáng, luyện kim, đúc đồng, sắt càng phát triển cao đã

cung cấp đủ nguyên liệu để thỏa mãn nhu cầu đúc tiền, đúc chuông, đúc tượng, làm đồ trang sức

Từ đời Trần trở đi, xuất hiện hình thức phân công lao động theo nghề nghiệp là các làng nghề ở các địa phương và các phường hội ở đô thị.Ở đây, chuyên sản xuất một sản phẩm thủ công, kinh đô Thăng Long cũng được chia thành 61 phường vừa chuyên sản xuất vừa tiêu thụ một mặt hàng nhất định

Sự phát triển của nông nghiệp và thủ công nghiệp, đặc biệt là thủ công nghiệp trong nhân dân đã tạo ra hàng hóa cho để trao đổi trong nước và buôn bán với

Trang 22

các nước bên ngoài Khi thủ công nghiệp phát triển thì đồng thời kéo theo sự phát triển của thương nghiệp

1.1.2.3 Thương nghiệp

Nội Thương

Thời phong kiến độc lập, nhìn chung với chủ trương “ trọng nông ức

thương, bế quan tỏa cảng”, vì vậy mà ở trong nước, xứ này sang xứ khác,

đường giao thông không tiện, việc buôn bán chỉ hạn hẹp trong địa phương Ở nông thôn, các chợ là nơi cư dân họp nhau mỗi ngày hay đổi chát những thổ sản, buôn bán chuyên nghiệp như hàng vải, xén, hàng cau, hàng thuốc

Tuy nhiên, đến thời Ngô – Đinh – Tiền Lê trao đổi buôn bán giữa các miền khá thường xuyên Chợ búa mộc lên ở nhiều nơi Để góp phần vào việc phát triển thương nghiệp và cũng là để khẳng định ý thức làm chủ đất nước của mình, từ đầu thời Đinh, sự phát triển của thủ công nghiệp với việc đúc tiền đã tạo điều kiện cho thương nghiệp phát triển, Hoa Lư, Long Biên, Đại

La, Luy Lâu v v trở thành những trung tâm buôn bán Đường sá được sưa

đắp, nối liền kinh đô với vùng nam cũng như vùng bắc “ Năm 938, Lê Hoàn

cho đào con sông nối từ núi Đồng Cổ ( Yên Định – Thanh Hóa) đến sông Bà Hòa ( Tĩnh Gia – Thanh Hóa) thuyền bè công tư đi lại đều tiện Năm 1003, Lê Hoàn lại cho vét kênh Đa Cái ( Nghệ An) Năm 1009, Lê Long Đỉnh cho đóng thuyền qua lại trên sông Vũ Lũng Từ năm 992, Lê Hoàn đã sai phụ quốc Ngô

Tử An đem 3 vạn người đắp đường từ cửa Nam giới ( Thạch Hà – Hà Tĩnh) đến châu Địa lý (bắc Quảng Bình ) Năm 1009, Lê Long Đĩnh lại sai phòng át sứ Hồ Thủ Ích đem 5000 vào sửa đắp lại con đường này.”[115 ;48] Có thể nói thương

nghiệp thời kỳ này đã được quan tâm phát triển nhiều so với thời kỳ bắc thuộc,

sự phát triển kinh tế thương nghiệp nhằm phục vụ phong kiến phương Bắc Đến thời Lý, đồng tiền đã được thông dụng trong nội thương và ngoại thương Kinh tế tiền tệ đã có vai trò quan trọng, thu thuế cấp bổng lộc bằng

tiền “Năm 1013, nhà nước thu thuế bãi dâu bằng tiền và thóc Cuối năm

1040, nhân làm xong nhiều công trình Phật giáo, nhà Lý xá nửa tiền thuế cho

Trang 23

cả nước Sau đó vào cuối năm 1044, sau cuộc chiến tranh với Chiêm Thành nhà Lý lại tiếp tục xá nữa tiền thuế cho dân” [148; 48]

Nhà Lý còn cho phép dùng tiền để chuộc tội, và đồng tiền đã có vai trò quan trọng trong thuế khóa, tuy nhiên số tiền do các vua Lý đúc không đáp ứng nhu cầu giao lưu hàng hóa

Đến thời nhà Trần, đã kiến tạo được hệ thống giao thông đường thủy, bộ

là điều quan tâm ngay từ đầu của nhà Trần Năm 1244, Thái Tông lập ti thủy

lộ đề hình với mục đích là mở rộng các đường sông và đường bộ từ Thăng Long về các phủ lộ, chủ yếu ở các vùng đồng bằng Bắc Bộ và Thanh – Nghệ

Hệ thống giao thông sông, biển về trên bộ thời Trần phục vụ cho yêu cầu quân sự nhưng củng có nhiều tác dụng tốt cho thương nghiệp Đường bộ, đường thủy không còn do các địa phương nhân dân tự phát xây dựng mà là công tác của chính quyền địa phương, của triều đình trực tiếp tổ chức, xây dựng Đây là bước tiến lớn so với thời Lý Đường bộ hẳn là có đường thiên

lý, phủ lộ và các đường hàng huyện, hàng hương

Sông ngòi vốn là mạch giao thông quan trọng Truyền thống giao thông vận tải của người Việt là vận chuyển bằng thuyền Biển, sông, kênh đào đều dùng thuyền đi lại và chuyên chở

Tiêu biểu nhất cho mạng lưới nội thương là hệ thống chợ ở đồng bằng sông Hồng Số lượng chợ tương đối nhiều, có lẽ mỗi huyện củng có vài chợ,

phiên chợ này họp lệch với phiên chợ kia, “ Sứ giả nhà Nguyên là Trần Phu

có viết: “ Trong các xóm làng thường có chợ, cứ hai ngày họp một phiên, hàng hóa trăm thứ bày la liệt Hễ cứ năm dặm thì dựng một ngôi nhà ba gian, bốn phía đặt chổng để đặt nơi họp chợ” Ghi chép này không phải là phổ biến, chỉ là nơi mà sứ giả đi qua, song củng phản ánh cảnh tượng buôn bán ở vùng đồ mong bằng xung quanh Thăng Long”[210; 48]

Ngoài chợ ra còn có phố Các trung tâm phủ lị bên sông lớn, đầu mối giao thông thủy bộ đều có phố cả Phố Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) bờ sông Dâu là nơi buôn bán cố định

Trang 24

Nhìn chung, nội thương thời từ thế kỷ X đến XIV phát triển, nhất là thời

Lý – Trần

Ngoại thương

Từ năm 976, thuyền buôn nước ngoài đã đến xin buôn bán với nước ta Năm 1009, Lê Long Đĩnh xin đặt quan hệ buôn bán với nhà Tống, được nhà Tống cho thương với Châu Liêm và trấn Như Hồng (thuộc nam Quảng Tây – Quảng Đông)

Nhìn chung, sự phát triển kinh tế, từ nông nghiệp cho đến công thương nghiệp, dưới thời Đinh – Tiền Lê, khá đều đặn và ngày càng đa dạng Nó đã tạo điều kiện để nâng cao đời sống nhân dân, củng cố nhà nước trung ương tập quyền và nâng cao sức chiến đấu của nhà Đinh – Tiền Lê

Đến thời Lý, có một địa điểm ngoại thương quan trọng là cảng Vân Đồn

Là quần đảo ở phía Đông Bắc đất nước, có vị trí tự nhiên rất thuận lợi một quần đảo ở phía Đông Bắc đất nước, có vị trí tự nhiên rất thuận lợi cho thuyền

bè qua lại và trú đỗ, lại nằm trên trục hàng hải trú đỗ, lại nằm trên trục hàng hải Trung Quốc xuống các vùng Đông Nam Á

Quan hệ buôn bán truyền thống với các nước làng giềng như Trung Quốc, Chăm pa, việc buôn bán với các nước láng giềng khác ở các vùng Đông Nam Á như Xiêm La, đảo Dừa (ở Inđônêxia), Qua - ca (Ja va), Tam phật tề(Pa –lem – bang ở tây Java ) và Đông Malaxia Củng được thực hiện bằng đường biển Thuyền buôn của các nước này được đến buôn bán ở Vân Đồn ( Quảng Ninh)

Vì mục đích bảo vệ an ninh Quốc gia, an toàn của đất nước nên vua Lý chỉ cho phép thương nhân nước ngoài buôn bán ở một số địa điểm nhất đinh

và chịu sự kiểm soát của nhà nước

1.1.3 Về văn hóa

Đất nước bước vào thời kì độc lập tự chủ, nền văn hóa Đại Việt có điều kiện phát triển mạnh sau hơn 1000 năm nô lệ với tinh thần phục hưng mãnh liệt

Trang 25

Thời kì Ngô-Đinh-Tiền Lê khôi phục, thời kì Lí-Trần Phật giáo hưng thịnh phát triển rực rỡ, và đạt tới đỉnh cao rực rỡ

Giao lưu và tiếp nhận rộng rãi với văn hóa Trung Hoa, với phương châm

“Việt Nam hóa”những thứ văn hóa ngoại lai, nghĩa là tiếp nhận văn hóa và vận dụng cho phù hợp hoàn cảnh và bản lĩnh, tính cách dân tộc Việt Do đó nhân dân ta đã tạo nên một nền Nho giáo Việt Nam, Phật giáo mang đậm bản sắc Việt Nam

Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, việc tiếp nhận văn hóa Trung Hoa còn có những rập khuôn, máy móc: pháp luật phỏng theo Trung Quốc, tư tưởng Nho giáo trọng nam, khinh nữ, tầng lớp thấp hèn trong xã hội bị khinh rẻ…

Thành tựu văn hóa chính

Nền văn hóa dân tộc hồi phục nhanh chóng và phát triển mạnh mẽ, rực

rỡ, với sự đa dạng của văn hóa các dân tộc anh em suốt từ Bắc chí Nam Nước

ta đã có một nền văn hóa phong kiến ngang tầm khu vực, đủ sức tự cường và giữ vững độc lập dân tộc Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo đã viết:

“ Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế

một phương ”

( Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi)

Tiếp nhận Nho Giáo, Phật giáo, Đạo giáo Trung Hoa, theo xu hướng

“Tam giáo đồng quy”, trên cơ sở truyền thống dân tộc, trong đó Nho giáo là chủ yếu Lí Thánh Tông cho xây Văn Miếu thờ Khổng Tử năm 1070, Lí Nhân Tông lập trường Quốc Tử Giám năm 1076 Thời Lê, Nho giáo đạt đến độ thịnh vượng nhất, trở thành quốc giáo Nho sĩ chiếm địa vị cao trong xã hội,

Trang 26

trở thành lực lượng rường cột trong bộ máy quan lại phong kiến Việt Nam, văn hóa chuyển sang đỉnh cao kiểu khác: văn hóa Nho giáo

Các công trình nổi tiếng: Chùa Diên Hựu, tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, tượng Phật Quỳnh Lâm thời Lý, chùa tháp Phổ Minh, tháp Bình Sơn thời Trần.Với thành tựu về kiến trúc: Văn Miếu - Quốc Tử Giám, hoàng thành Thăng Long,

Chữ Hán trở thành văn tự chính thức của nước ta suốt thời kì này Nền văn học bằng chữ Hán phát triển rực rỡ Bên cạnh đó, nhân dân ta sáng tạo ra chữ Nôm để ghi âm tiếng Việt Thành tựu văn học Nôm có các tác giả, tác phẩm tiêu biểu như Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát… Đặc biệt là Truyện Kiều (3254 câu thơ lục bát) của Nguyễn Du, đỉnh cao thơ văn dân tộc

Văn hoá dân gian: Văn học truyền miệng tiếp tục phát triển: ca dao, tục ngữ, hò, vè

Nghệ thuật biểu diễn ca múa nhạc thời Lý- Trần phát triển phong phú, trong đó đặc sắc nhất là nghệ thuật múa rối nước có từ thời Lý Trò chơi dân gian: đánh phết, đánh đu, chọi trâu, lò cò, ô ăn quan đến nay vẫn còn bắt gặp, nhất là trong hội làng

Thủ công mĩ nghệ: thời kì này đã nung được nhiều loại men gốm bền đẹp: men ngọc, men hoa nâu, men nhiều màu

Tóm lại, những thành tựu nói trên cho ta thấy văn hóa Đại Việt là sự tiếp nối và kiện toàn bản sắc truyền thống văn hoá Việt Nam đã có từ thời tiền sử, thể hiện một nền văn hoá rực rỡ, phong phú, độc đáo, mang đậm tính dân tộc

và giàu tính dân gian; đồng thời khẳng định được bản sắc của một dân tộc đã trưởng thành, một quốc gia văn hiến, là cơ sở và sức mạnh để hội nhập với thế giới tiên tiến bên ngoài Đồng thời, là môi trường thuận lợi để Phật giáo phát triển

1.2 Cơ sở hình thành và phát triển của chế độ tăng quan

1.2.1 Nguồn gốc ra đời của Phật giáo

Trang 27

Đạo Phật mang tên người sáng lập là Đà (hay buddha)- thái tử Tất Đạt

Đa, con trai của vua Trịnh Phạn Vương (Suđhodana), vua nước Trịnh Phạn, một nước nhỏ thuộc bắc ẤN Độ ( nay thuộc đất Nê Pan) Ông sinh ra vào khoảng năm 623 TCN

Đạo Phật chính là giáo lý mà Phật Đà đã thuyết giảng Sau khi ra đời ở

Ấn Độ vào thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 9 TCN, đạo phật được lưu hành rộng rãi ở các Quốc gia trong khu vực Á – Phi, gần đây được truyền tới các nước

Âu – Mỹ Trong quá trình truyền bá của mình, đạo Phật đã kết hợp với tín ngưỡng, tập tục, dân gian, văn hóa bản địa để hình thành rất nhiều tông phái

và học phái, có tác động vô cùng quan trọng với đời sống xã hội và văn hóa của nhiều Quốc gia

1.2.2 Sự truyền bá phật giáo

Với vị trí của nước ta nằm ở Phương Đông, đặc biệt nằm trên đường giao thoa của hai nền văn minh cổ xưa của nhân loại là Ấn Độ và Trung Hoa Trong quá trình hình thành nền văn hóa dân tộc, Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc từ hai nền văn minh này, về mặt tôn giáo ảnh hưởng mạnh mẽ nhất là đạo phật Chính vì vậy, Việt Nam là nước duy nhất ở vùng Đông Nam Á có cả phật giáo Nam tông từ Ấn Độ và phật giáo Bắc tông ( còn gọi là phật giáo Đại Thừa) từ Trung Hoa du nhập vào Chính điều này đã làm cho phật giáo Việt Nam trở nên đa dạng hơn

Vào đầu công nguyên, Phật giáo từ Ấn Độ trực tiếp truyền vào Việt Nam theo đường biển cùng với các thương nhân Có thể nhận thấy rằng, ngay từ rất sớm Ấn Độ đã có mối quan hệ giao lưu buôn bán với các nước trên thế giới bằng đường biển và đường bộ như các nước Ả - Rập, các nước ven biển

Địa Trung Hải hay khu vực Đông Nam Á Lúc bấy giờ “ Miền Bắc nước ta

hay đất Việt, là nơi gần biển, có nhiều Tê Giác, Voi, Đồi mồi, Châu ngọc, Bạc, hoa quả, Vải” [47; 18] Chính vì vậy đã thu hút được nhiều thương nhân các

nước đến buôn bán rất đông, trong đó có thương nhân Ấn Độ Cùng với con đường thương mại, con đường truyền giáo củng theo đường biển, các nhà sư

Trang 28

Ấn Độ đã đến Việt Nam để truyền bá đạo phật Có thể nói rằng, phật giáo truyền bá vào Việt Nam khá sớm, từ cuối thế kỷ I, đầu thế kỷ II Lúc này nước

ta chỉ là một quận nhỏ của triều đại Hán nhưng phật giáo thực sự có mặt sớm

và phát triển “ Việt Nam ngay từ rất xa xưa đã được các cao tăngẤn Độ đến

truyền giáo trực tiếp, và thời điểm đó có thể là xưa hơn thời điểm Phật giáo vào miền nam Trung Hoa khá nhiều” [ 40; 22] Nhiều nhà nghiên cứu cho

rằng, thời kỳ này Luy Lâu ( Bắc Ninh) là một trung tâm Phật giáo không kém hai trung tâm ở Trung Quốc là Bành Thành và Lạc Dương Từ thế kỷ I đến thế

kỷ thứ V, sự truyền bá Phật giáo vào Việt Nam gắn liền với tên tuổi của một

số nhà sư Ấn Độ là Ma Ha Kì Vực, Khương TăngHội, Chi Lương Cương và một số nhà sư Trung Quốc là : Mâu Bác ( Mâu Tử), Du Pháp Lan, Du Đạo Toái, Đàm Hoằng Đến thế kỷ IV, ở Việt Nam đã có những nhà sư người Việt nổi tiếng như Huệ Thắng (440 – 479), Thích Đạo Thiền (457 – 483) được mời sang Trung Quốc để thuyết pháp

Như vậy cho đến cuối thế kỷ thứ VI, phật giáo Ấn Độ đã trở thành hệ tư tưởng của người Việt đối lập với hệ tư tưởng Nho Khổng của tầng lớp cai trị Tuy nhiên, Phật giáo Ấn Độ chỉ ảnh hưởng sâu sắc ở mấy thế kỷ đầu công nguyên Sau đó Phật giáo du nhập từ Trung Quốc sang

Làn sóng du nhập Phật giáo từ Trung Quốc sang Việt Nam muộn hơn so với Ấn Độ và có thể nói rằng, Phật giáo bắc Trung Hoa truyền vào ảnh hưởng

mạnh mẽ văn hóa nước ta “ hướng Tây Nam trực tiếp từ Ấn Độ sang trong

buổi đầu được thay thế bởi hướng Bắc xuống” [40 ; 33] Do Phật giáo ở Ấn

Độ đang bắt đầu suy thoái nên không thể sản sinh ra các nhà truyền giáo là Phật tử nữa Trong khi đó, mối quan hệ giao lưu giữa Việt Nam và Trung Hoa ngày càng được tăngcường, mặt khác Phật giáo Trung Hoa lại có bước phát triển mạnh mẽ Chính vì vậy, Phật giáo phía Bắc Trung Hoa đã lần lượt được truyền vào Việt Nam và nhanh chóng được người Việt tiếp nhận có ba tông phái lớn của Phật giáo truyền vào Việt Nam đó là Thiền Tông, Tịnh độ Tông

và mật Tông, trong đó Thiền Tông giữ vai trò nổi bật và quan trọng

Trang 29

Đến thế kỷ VI thời hậu Lý Nam, nhà sư người Ấn Độ Tỳ - ni – đa – lưu – chi là học trò của TăngXám ( tổ thứ 3 của tăngphái Trung Quốc) đến tu tại chùa Pháp Vân và trở thành tổ thứ nhất của phái Thiền ở Việt Nam Phái Thiền này truyền được 18 đời với 29 vị thiền sư từ pháp Hiền (626) đến Y Sơn (1216) Dòng thiền thứ hai của Phật giáo nước ta do Vô Ngô Vân Thông lập ra Vào năm 820, ông đến Việt Nam tu ở chùa Kiến Sơn ( Bắc Ninh, nay thuộc huyện Gia Lâm – Hà Nội) Phái thiền này truyền được 15 đời với 40 vị Thiền sư Phái này chủ trương tìm chân lý ngay ở hiện tại, trong bản thân mỗi nguời Chân lý chỉ có tu chính trực tiếp bằng niệm phật chứ không thể nắm bắt qua ngôn ngữ, văn tự

Như vậy, từ khi du nhập cho đến khi xuất hiện dòng thiền Vô Ngôn Thông, Phật giáo Việt Nam đã trải qua một thời gian khá dài Trong khoảng thời gian này, trung tâm Luy Lâu được xem là trung tâm phát triển mạnh Người Việt tự nguyện đến với đạo Phật, đã lấy nguyên lý từ bi, luân hồi, quả báo để tu luyện mình và giúp đỡ người khác Đến cuối thời kỳ Bắc thuộc, Phật giáo đã trở thành hiện tượng Phật giáo phổ biến

1.2.3 Sự phát triển của Phật giáo

Bước vào thế kỷ X, Nước ta đã giành được độc lập nên có điều kiện thuận lợi cho Phật giáo phát triển thêm một nước mới và có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực văn hóa, kiến trúc và cả về chính trị Các triều đại Phong kiến từ Đinh, Tiền Lê đến Lý, Trần đều có những chính sách nhằm nâng đỡ, khuyến khích đạo Phật

Thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, sau khi nước ta giành độc lập, tự chủ đạo Phật ngày càng được phát triển nhanh chóng, trở thành tôn giáo chiếm ưu thế trong

xã hội và có những đóng góp tích cực cho đất nước

Thời nhà Đinh, vua Đinh Tiên Hoàng triệu tập các cao tăngđể định rõ phẩm trật cho tăng già, phong cho sư Ngô Chân Lưu, đời thứ 4 của Thiền Vô Ngôn Thông làm chức Tăngthống

Thời nhà Lê, vua Lê Đại Hành trọng dụng những nhà sư có công giúp

Trang 30

triều đình đánh giặc, mời sư Đổ Thuận, đời thứ 10 của phái thiền Tỳ - ni – đa – lưu – chi làm cố vấn cho việc triều chính và bang giao, hỏi ý kiến sư Vạn Hạnh trước khi xuất quân đánh giặc Tống, cho phép các nhà sư Việt Nam sang Trung Hoa thỉnh kinh để truyền bá Phật Pháp

Sang thời Lý – trần, Phật giáo phát triển cực thịnh, có thể coi là đỉnh cao của Phật giáo và văn hóa Việt Nam

Đến thời Nhà Lý ( 1010 - 1225), Lý Công Uẩn vốn là học trò của sư Lý Khánh Vân, sau khi lên ngôi đã ban hành nhiều chính sách có lợi cho Phật giáo như xây dựng chùa chiền, cho các nhà sư sang Trung Hoa thỉnh kinh Các vua nhà Lý đều đều tôn sùng đạo Phật Lý Thái Tông ( 1802 – 1054) thuộc thế hệ thứ 7 của phái Thiền Vô Ngôn Thông, Lý Thánh Tông (1054 – 1071) thuộc thế hệ thứ nhất của phái Thảo Đường, đây là thiền phái kết hợp giữa Thiền Tông và Tịnh Độ Tông chú ý đến sự giải thoát của thiền Tông và Tịnh Độ Tông, chú ý đến sự kết hợp bằng tự lực và tha lực Trong xã hội thời nhà Lý, các tầng lớp quan lại và bình dân đều mộ Phật Ở nông thôn, chùa Phật trở thành trung tâm sinh hoạt văn hóa tinh thần cùng tồn tại song song bên cạnh ngôi đình của Nho giáo Đời lý có thể gọi là đời thuần nhất trong lịch sử nước ta, đó chính là ảnh hưởng của đạo phật

Nhà Trần lên nắm quyền tiếp tục kế thừa và phát triển nền tảng xã hội đã

có từ thời nhà Lý, trong đó có đạo Phật Điểm nổi bật nhất của đạo Phật giáo giai đoạn này so với thời kỳ trước là sự ra đời của thiền phái Trúc Lâm, do người Việt sáng lập mà vị tổ sư là vị vua Trần Nhân Tông, vị vua đã từ bỏ triều chính để xuất gia Với sự ra đời của phái Trúc Lâm, Trần Nhân Tông đã thống nhất đã thống nhất các thiền phái tồn tại trước đó và tập hợp các tông phái tồn tại trước đó và tập hợp các tông phái Phật giáo Việt Nam về một mối Đến nhà Hồ, Phật giáo có chiều hướng giảm sút Hồ Qúy Ly đã ra lệnh

sa thải bớt tăngđồ, ai chưa đến năm mươi tuổi phải hoàn tục và tổ chức thi về giáo lý nhà Phật, ai thông hiểu mới được ở lại làm sư Tuy vậy, ảnh hưởng cuả Phật giáo vẫn còn trong xã hội, nhất là tại các làng xã

Trang 31

Phật giáo đã trải qua thời trì phát triển cực thịnh dưới hai triều đại Lý – Trần, sang đến thời hậu Lê Những thập niên đầu của thế kỷ XVII xuất hiện những môn phái mới của Phật giáo như Tâm Tế, Tào Động Thời Trịnh – Nguyễn, Phật giáo đã không còn được ưa chuộng khi triều Nguyễn thành lập Mặc dù không được ủng hộ Nhưng sang thế kỷ XIX, Phật giáo đã không còn được ưa chuộng khi triều Nguyễn thành lập Mặc dù không được sự ủng hộ của triều đình song phật giáo vẫn có sức sống mạnh mẽ trong đời sống của nhân dân Vua Trần Nhân Tông đã tôn Tuệ Trung thượng sĩ tên thật là Trần Trung (1230 -1291) là anh ruột của Trần Hưng Đạo làm thầy, là người sáng tác nhiều tác phẩm đề cập đến những vấn đề cơ bản của thiền học, trong đó “ Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục” nổi tiếng Mặt khác, dưới thời Trần đã có một cuốn sách viết về đạo Phật tại Việt Nam là cuốn Thiền Uyển Tập Anh Cuốn sách này viết về các thiền sư Việt Nam từ cuối thế kỷ thứ VI đến thế kỷ XIII thì hoàn tất Số lượng chùa chiền củng như tăngsĩ tănglên rất nhiều Sách Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ chép: Các chùa như Hoàng Giang, Đồng

Cỏ, An Sinh, Yên Tứ, Phổ Minh dựng lên khắp nơi, những người cắt tóc làm tăngni bằng nữa dân số thường Nhất là huyện Đông Triều, chùa chiền dựng lên khắp nơi, làng lớn có hơn 10 chùa, làng củng hơn 5,6 chùa

Qua đây, có thể thấy rằng, Phật giáo thời Lý Trần đã có những bước phát triển cả về chiều rộng lãnh chiều sâu Nó đã trở thành một yếu tố của kiến trúc thượng tầng xã hội Việt Nam từ thế kỷ X đến XIV

1.2.4 Tư tưởng trọng Phật giáo của giai cấp cầm quyền

Phật giáo khi du nhập đã được các vua coi trọng và tư tưởng của đạo phật được vận dụng trong việc thực hiện các chinh sách trị nước, đặc biệt là thời Lý – Trần, phật giáo được ưu ái và luôn tạo điều kiện phát triển

Vào thời Đinh, Phật giáo bắt đầu được trọng dụng, nhà Đinh thành lập, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư, lấy niên hiệu là Thái Bình Nguyên Niên, nhằm xóa hẳn vết tích thống trị của hoàng đế phong kiến Trung Hoa, nêu cao ngọn cờ thống nhất độc lập quốc gia, lập triều chính, vua liền

Trang 32

nghĩ đến việc chỉnh đốn hàng ngũ Giáo Hội TăngGià và định phẩm trật cho các tăng sĩ lỗi lạc hữu công tham dự quốc chính, nên đã tặng chức Khuông Việt Thái sư cho ngài tăngthống Ngô Chân Lưu, ban chức TăngLục Đạo sĩ cho Pháp sư Trương Ma Ly và thiền sư Đặng Huyền Quang làm Sùng Chấn

Uy nghi

Về sinh hoạt chính trị, văn học trong nước lúc bấy giờ đều do các bậc tănggià hữu học nhận lĩnh trông coi Đạo Phật Việt được vương triều công nhận là quốc giáo kể từ nhà Đinh

Trong buổi đầu thời kỳ độc lập, Phật giáo là tôn giáo chiếm ưu thế trong

xã hội Trong nước nhiều chùa tháp được xây dựng Riêng ở Hoa Lư, năm

973, Nam Việt vương Đinh Liễn là con trai trưởng của Đinh Tiên Hoàng, cho dựng 100 cột đá khắc kinh Phật (gọi là kinh tràng) Thời Tiền Lê có vị sư Đỗ Pháp Thuận làm mưu sỹ đắc lực cho vua Lê Đại Hành Đến thời Lý, nhà sư Vạn Hạnh đã giúp vua trong việc chủ trương rời kinh đô ra Thăng Long và có nhiều đóng góp cho đất nước trong việc xây dựng và chống giặc ngoại xâm

“ Đặc biệt dưới thời Đinh – Tiền Lê còn có một bộ phận Tăng quan với

các chức năng Tăngthống, Tănglục, sùng chân uy nghi v.v Lê Hoàn đã dùng một vị đại sư làm Quốc Sư ( Ngô Chân Lưu) vừa phụ trách việc quản lí đạo phật vừa làm cố vấn cho nhà vua.” [112; 44]

Đên thời nhà Lý, vua Lý Thái Tổ chủ trương phát triển Phật giáo cho xây dựng nhiều chùa chiền trong nước, sai sứ sang Trung Quốc thỉnh kinh Tam Tạng Nhiều vị vua thời Lý đã tu hành theo Phật giáo như Lý Thái Tông theo thiền phái Vô Ngôn Thông; Lý Thánh Tông theo thiền phái Thảo đường, Lý Anh Tông và Lý Cao Tông cũng theo thiền phái Thảo đường thế hệ 3 Thời

Lý có nhiều vị sư nổi tiếng đức cao, đạo trọng như Vân Phong, Khuông Việt, Thảo Đường, Thông Biện, Viên Học, Tinh Không, Không Lộ, Đạo Hạnh, Minh Không, Giác Hải Đa số các vị sư này đều có nhiều công lao với đất nước được vua ban phong làm quốc sư Dưới triều Lý, đạo Phật hưng thịnh nhiều chùa chiền và sư sãi rất đông nên chùa có tiềm lực kinh tế mạnh

Trang 33

Đường lối an dân, trị nước của các vị vua triều Lý đã ảnh hưởng lớn bởi triết

lý từ bi của nhà Phật Thời Lý, vua coi dân như con rất gần gũi và chăm lo đời sống nhân dân nên đã huy động được sự đoàn kết, nhất trí trong dân đánh thắng giặc ngoại xâm hùng mạnh, bảo vệ độc lập đất nước Trong hai trăm năm trị vì, triều Lý trở thành triều đại oanh liệt trong lịch sử nước nhà

Thời Trần, tinh thần Phật giáo lại được kế thừa với màu sắc mới Vua Trần Thái Tông và vua Trần Nhân Tông trở thành những thiền sư tu hành theo phái Trúc Lâm đồng thời trở thành những vị vua tài giỏi Thiền sư Phù Vân, thiền sư Huyền Quang trở thành những hoà thượng giúp các vị vua triều Trần dựng nước và giữ nước thành công Tư tưởng Phật giáo nhập thế của các vị vua theo đạo Phật đã có ảnh hưởng sâu sắc trong dân chúng, giúp con người hướng thiện, góp phần ổn định xã hội Về mặt tôn giáo, điều đó làm cho Phật giáo phát triển thể hiện sự gắn bó giữa đạo với đời một cách chặt chẽ Trần Nhân Tông được tín đồ Phật giáo gọi là Phật hoàng Trần Nhân Tông để thể hiện sự tôn kính của con người vừa là vua, vừa là người sáng lập, đệ nhất tổ của Thiền phái Trúc Lâm Trần Nhân Tông trở thành tấm gương sáng trong lịch sử nước nhà thời Đại Việt đã lãnh đạo đất nước thắng lợi trong hai lần chống quân Nguyên Mông xâm lược, giữ vững chủ quyền dân tộc Trần Nhân Tông lấy đạo pháp như một phương tiện để phục vụ dân tộc

Cả hai thời Lý - Trần đều lấy Phật giáo là chủ đạo về tâm linh với tinh thần văn hoá quốc gia, các vị vua đã đưa Phật giáo vào đời sống đạo đức, chính trị, xã hội của quốc gia và của chính triều đại mình

Như vậy, tư tưởng Phật giáo đã gần gũi với tư tưởng của các triều đại phong kiến nước nhà, lấy tư tưởng của Phật giáo để làm nền tảng trị nước an dân và đã có những kết quả tốt đẹp trong quá trình dựng nước và giữ nước Đặc biệt là dưới triều đại Lý - Trần, Phật giáo có vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống và đời sống chính trị lúc bấy giờ Phật giáo đã hoà mình với dân tộc, gắn bó với dân tộc, các thiền sư đã xuất gia nhưng vẫn nhập thế để giúp đời, giúp nước, giúp dân bằng trí tuệ, hiểu biết của mình góp phần đắc

Trang 34

lực vào sự nghiệp bảo vệ tổ quốc thời kỳ độc lập tự chủ của dân tộc

Qua đây có thể nhận thấy rằng, Đạo Phật - một tôn giáo ngoại sinh đã nhanh chóng ăn sâu, bám rễ vào đời sống tinh thần của người dân và có ảnh hưởng sâu sắc tới mọi mặt của đời sống xã hội Việt Nam đặc biệt là triều Lý (

1009 – 1010) Tư tưởng từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn của đạo Phật cùng truyền thống thương yêu đồng loại của dân tộc Việt Nam hun đúc nên chủ nghĩa nhân đạo, tính nhân văn trong ứng xử của con người Việt Nam Tư tưởng ấy thẩm thấu vào đạo đức, tư tưởng của người cầm quyền, ảnh hưởng

tới chính sách nội trị ngoại giao của nhà nước

Hơn nữa, Lòng nhân ái, sự khoan dung, yêu dân như con đỏ của vua quan là một trong những nhân tố quan trọng làm cho nhân dân no ấm, kinh

tế, văn hóa được mở mang, đất nước thái bình thịnh trị, Nam bình Chiêm, Bắc phá Tống uy vũ biểu dương hiển hách

Tôn giáo nói chung, đạo Phật nói riêng ra đời không nhằm phục

vụ mục đích chính trị, nhưng trong tay người làm chính trị đạo Phật đã phát huy vai trò tích cực Đó là do giai cấp cầm quyền đã biết phát huy yếu

tố tích cực, tiến bộ của đạo Phật để phục vụ cho công cuộc xây dựng, bảo vệ

tổ quốc, chăm lo tới cuộc sống của nhân dân

Bên cạnh những ảnh hưỏng tích cực, đạo Phật còn có những ảnh hưởng mang tính chất không tiến bộ, nhiều khi các vua, nhất là thời Lý bị chi phối bởi quan điểm duy tâm, việc xây dựng nhiều chùa, Tháp đã ảnh hưởng tới quốc khố của nhà nước, nhiều sư sãi làm trái với điều răn của Phật, quy định của nhà nước, đôi khi còn lộng hành trên vũ đài chính trị làm rối loạn triều đình

Phật giáo du nhập và dần có chổ đứng trong lòng dân tộc Việt Nam, cùng với thời gian Phật giáo ngày càng phát triển, ảnh hưởng, chi phối trên nhiều lĩnh vực chính trị, văn hóa, giáo dục lúc bấy giờ, từ đó củng hình thành nên tầng lớp tăng quan trong bộ máy hành chính nhà nước

1.3 Khái niệm tăng quan

Ngày đăng: 09/05/2021, 17:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w