1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sự tương đồng và khác biệt trong tang lễ của người việt gốc hoa và người việt ở hội an

50 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự tương đồng và khác biệt trong tang lễ của người Việt gốc Hoa và người Việt ở Hội An
Tác giả Võ Duy Nghĩa
Người hướng dẫn P.S. TS Lưu Trang
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Cử nhân Lịch sử
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2013
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 534,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời đề xuất các biện pháp nhằm bảo tồn, phát huy những giá trị tích cực của nó, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Sự tương đồng và khác biệt trong tang lễ của người Việt gốc Hoa và ng

Trang 1

ỌC N N

ỌC SƯ P M

K OA LỊC SỬ

K ÓA LUẬN TỐT N ỆP ỌC

Sự tương đồng và khác biệt trong tang lễ của người

Việt gốc oa và người Việt ở ội An

Chuyên ngành : Cử nhân Lịch sử

Người hướng dẫn : P S TS Lưu Trang

à Nẵng, tháng 5/ 2013

Trang 2

MỞ ẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong cuộc sống ai cũng có những vui buồn, hạnh phúc, đau thương mất mát nhưng có lẽ đau thương và mất mát hơn nhất trong mỗi người là người thân của họ ra

đi, vì thế người còn sống luôn tôn trọng và thương xót người đã chết

Thành phố Hội An là một thành phố nhỏ nằm ở miền Trung Việt Nam, thuộc tỉnh Quảng Nam Nơi đây xưa kia đã có một thời nổi tiếng với tên gọi Faifoo mà các thương nhân Nhật Bản, Trung Quốc, Bồ Ðào Nha, Italia v.v đã biết đến từ thế kỷ 16,

17 Hiện nay nơi đây có một bộ phận cư dân Người Hoa quan trọng đứng thứ 2 (sau người Việt) sinh sống đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ cho thương cảng quốc tế Hội An phát triển và đóng vai trò rất lớn đối với quá trình hình thành sắc thái văn hóa của khối cộng đồng cư dân Hội An Họ sống riêng biệt theo phong tục tập quán của mỗi nước” Từ xưa, nhân dân ta chịu ảnh hưởng lễ nghi của người Trung Hoa, cho nên lễ tang được cử hành trong khuôn khổ đó, tuy vậy cũng có khác đi nhiều chỗ, nhiều nghi

lễ đã được giản tiện, phù hợp với hoàn cảnh sống trong thực tế xã hội, nhất là ở các nơi thành thị Tuy nhiên một số lễ chính có ý nghĩa quan trọng vẫn còn được áp dụng Với mong muốn đào sâu, tìm hiểu về vấn đề khác biệt trong tang lễ của người Hoa và Người việt cũng là để nâng cao kiến thức trong quá trình học tập Đem lại một cái nhìn

cụ thể, chân thực và khoa học Đồng thời đề xuất các biện pháp nhằm bảo tồn, phát

huy những giá trị tích cực của nó, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Sự tương đồng và

khác biệt trong tang lễ của người Việt gốc Hoa và người Việt ở Hội An” làm khóa

luận tốt nghiệp

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Việc tìm hiểu về tang lễ của người Việt, người Việt tại Hội An đã được nhiều nhà

tổ chức, học giả, nhà nghiên cứ quan tâm Được trình bày trong nhiều tác phẩm sách, báo, tạp chí, báo cáo khoa học Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài bao gồm:

- Các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng tang ma của người Việt: Các công

trình nghiên cứu về tín ngưỡng tang ma của người Việt chỉ giới hạn trong phạm vi các

công trình nghiên cứu chung về tín ngưỡng của người Việt như: Nếp cũ: Tín ngưỡng

Việt Nam của Toan Ánh; Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng Việt Nam của Ngô Đức

Trang 3

Thịnh Các tác giả trong công trình trên đều khẳng định loại hình tín ngưỡng này trong

sự tồn tại của tín ngưỡng Việt Nam

- Các công trình nghiên cứu về phong tục tập quán và hệ thống tín ngưỡng ở Quảng Nam - Đà Nẵng: Các công trình này có số lượng phong phú, nghiên cứu toàn

diện trên nhiều phương diện của văn hóa Đà Nẵng- Quảng Nam, trong đó các công trình đó cũng bước đầu khảo sát hệ thống tín ngưỡng của cư dân xứ Quảng Tiêu biểu

cho hướng nghiên cứu này là các công trình: Văn hóa xứ Quảng một góc nhìn của Võ Văn Hòe, Hồ Tấn Tuấn, Lưu Anh Rô; Di sản văn hóa văn nghệ dân gian ở Hội An của

Trần Văn An… Có thể nói, tất cả các công trình nghiên cứu trên đã có những đóng góp to lớn trong thực tiễn nghiên cứu về phong tục tập quán, tang lễ của người Việt Nam Tuy vậy, vẫn chưa có một đề tài nào nghiên cứu về phong tục tập quán tang lễ ở Hội An, chưa so sánh được tang lễ của người Hoa và người Việt để người đọc có cái nhìn toàn diện Trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu trước và dựa trên tài liệu mà tôi thu thập được, tôi cố gắng góp phần làm sáng tỏ những điểm khác biệt trong tang lễ của người Hoa và người Việt

3 ối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Trên cở sở nghiên cứu về phong tục tang ma của người

Việt gốc Hoa và người Việt ở Hội An, đề tài tìm hiểu và lý giải những điểm tương đồng và khác biệt trong tổ chức tang ma của người Việt gốc Hoa và người Việt ở Hội

An

- Phạm vi nghiên cứu: Các công việc, các yếu tố liên quan đến tang lễ của người

Hoa và người Việt ở Hội An qua các tài liệu, kết hợp với việc nghiên cứu thực tiễn tại Hội An

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu

Để tiến hành nghiên cứu, chúng tôi tiếp cận các nguồn tư liệu sau:

- Tư liệu thành văn: Sách chuyên ngành, báo, tạp chí, internet, các văn bản ban hành, khóa luận tốt nghiệp, các công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực tang lễ

- Tư liệu điền dã: Chúng tôi tiến hành công tác điền dã, phỏng vấn cán bộ chuyên môn của Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, người dân tại địa phương, dịch vụ tang lễ

Trang 4

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến như: Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu, phương pháp đồng đại, phương pháp lịch đại, phương pháp thực địa, phương pháp bản đồ, phương pháp phỏng vấn

5 óng góp của đề tài

Nghiên cứu tương đối đầy đủ và có hệ thống về tang lễ của người Hoa và người Việt ở Hội An những điểm khác biệt, khóa luận sẽ có những đóng góp nhất định về mặt khoa học văn hóa lịch sử Khóa luận sẽ góp phần làm rõ hơn sự khác biệt trong tang lễ của người Hoa và người Việt ở Hội An

Kết quả nghiên cứu của khóa luận sẽ góp phần lý giải và cung cấp cơ sở khoa học, sự hình thành và phát triển của phong tục tang lễ của người Hoa và người Việt ở Hội An nói riêng và trên toàn lãnh thổ Việt Nam nói chung, có chính sách bảo tồn và phát huy những giá trị về phong tục tập quán hiện đang bị mai một Hội An cũng như trên cả nước

Ngoài ra, khóa luận còn là nguồn tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến phong tục tập quán của cư dân thành phố Hội An

Trang 5

LỜ CẢM ƠN

Trước hết tác giả khóa luận xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy

hướng dẫn PGS TS Lưu Trang, Ban chủ nhiệm khoa cùng các thầy cô trong

khoa Lịch sử, trường Đại học sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã chỉ bảo tận

tình, động viên, khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành

khóa luận

Tác giả xin trân trọng cảm ơn Sở văn hóa, thể thao và du lịch thành

phố Hội An, thư viện thành phố Hội An đã tạo điều kiện thuận lợi về mọi

mặt để tác giả hoàn thành luận văn

Trong thời gian đi thực tế, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình

của các già làng, trưởng thôn, thầy cúng và những người cung cấp thông tin

ở nhiều xã của Hôi An Tác giả chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó

Cuối cùng, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình,

bạn bè đã động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành

khóa luận

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2013

Tác giả khóa luận

Võ Duy Nghĩa

Trang 6

Chương 1: TỔN QUAN VỀ Ộ AN V P ON TỤC TAN LỄ CỦA

N ƯỜ V ỆT, N ƯỜ V ỆT ỐC OA Ở T N P Ố Ộ AN,

TỈN QUẢN NAM 1.1 Vài nét về thành phố ội An

1.1.1 iều kiện tự nhiên

Hội An nằm ở vị trí 15o53’ vĩ độ Bắc, 108o20’ kinh độ Đông, là một trong những trung tâm quan trọng của tỉnh Quảng Nam

Hội An có phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Điện Bàn, phía Tây Nam giáp huyện Duy Xuyên Với vị trí này, Hội An có điều kiện thông thương với các địa phương khác của tỉnh Quảng Nam Đồi thời, từ Hội An xuôi theo các con sông và tuyến đường quốc

lộ có thể ra đến Đà Nẵng, vào Quảng Ngãi, Quy Nhơn Những địa bàn này có điều kiện thuận lợi về tự nhiên do đó góp phần vào hỗ trợ Hội An trong quá trình phát triển Phía Đông Hội An giáp với biển Đông, có Cửa Đại rất thuận lợi cho thương thuyền ra vào Đây chính là điều kiện để Hội An sớm có thể quan hệ thông thương với bên ngoài Ở ngoài biển Hội An khoảng 8 hải lý có cụm đảo Cù Lao Chàm, gồm 8 đảo lớn nhỏ là hòn Ông, hòn Tai, hòn Lao, hòn Dài, hòn Mồ, hòn Lá, hòn Khô mẹ và hòn Khô con; với tổng diện tích của các đảo hơn 15 km2, trong đó diện tích rừng chiếm khoảng 90% là một trong những cụm đảo có quan hệ lâu đời và quan trọng đối với sự phát triển của Hội An

Xét về điều kiện tự nhiên, do nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, Hội An có một phức

hệ sông ngòi, đầm, bàu khá dày đặc tạo thành hệ thống giao thông nội vùng và là nguồn cung cấp nước, thủy sản có giá trị Không chỉ có sông Thu Bồn, sông Cổ Cò cũng đóng vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển của Hội An Chính từ sông Cổ Cò

có thể xuôi ra Đà Nẵng, nối liền Đà Nẵng với Hội An, góp phần vào sự phát triển thịnh đạt của Hội An Tuy nhiên, vào cuối thể kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, do sự bồi đắp, việc đi lại giao thông trên sông Cổ Cò gặp nhiều khó khăn và do sự phát triển của tuyến đường sắt Đà Nẵng - Faifo, vì thế vai trò của sông Cổ Cò cũng như Hội An ngày càng suy giảm, nhường chỗ cho Đà Nẵng

Về khí hậu, Hội An có hai mùa rõ rệt, mùa khô và mùa mưa Mùa đông nhiệt độ trung bình khoảng 23 - 240 C Mùa hạ, nhiệt độ trong các tháng tương đối đồng đều nhau từ 280

- 300C Số giờ nắng trung bình trong năm 2.158 giờ Độ ẩm không khí

Trang 7

2.069 mm, phần lớn tập trung vào mùa đông, trung bình mỗi năm có 120 - 140 ngày mưa Tháng có mưa nhiều nhất là tháng 9, 10 vào thời gian này hàng năm, Hội An thường xuyên phải chịu cảnh lụt lội, ngập nước gây ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân

Địa hình, đất đai ở Hội An rất đa dạng, gồm đủ các loại hình sông, biển, đầm lầy, hồ… nhưng chủ yếu vẫn là địa hình có nguồn gốc sông và biển Tuy không có những đồng bằng rộng lớn như các vùng khác trong tỉnh, nhưng ở đây lại có một số vùng đất bồi rất màu mỡ, phù hợp với nhiều loại cây lương thực và rau màu Do địa hình ở đây chủ yếu có nguồn gốc sông và biển nên phần lớn đất đai ở đây thường bị chua, mặn, bạc màu Hơn nữa, do đất đai bị chia nhỏ thành nhiều loại ở những khu vực không tập trung đã khiến cho nông nghiệp ở Hội An khó có thể tổ chức trồng trọt quy mô lớn với một loại cây trồng nhất định nhưng bù lại cây trồng ở đây lại có sự phong phú về chủng loại và đa dạng các hoạt động sản xuất nông nghiệp

Ngoài ra, Hội An cũng có hệ thống các loại tài nguyên khá phong phú như Titan

ở Cẩm An, hệ thống tài nguyên nhân văn của phố cổ Hội An là điều kiện để phát triển kinh tế xã hội, phát triển du lịch của địa phương

1.1.2 iều kiện kinh tế xã hội

Hội An là vùng đất khá thuận lợi về điều kiện tự nhiên Do đó, trên cơ sở ban đầu những cư dân Hội An đã ra sức phát triển kinh tế nông nghiệp, bênh cạnh đó cũng phát triển các ngành thủ công, thương nghiệp, góp phần vào sự phát triển toàn diện của kinh

tế - xã hội ở Hội An

Ban đầu, người Chăm có địa bàn sinh sống ở Hội An đã ra sức phát triển kinh tế nông nghiệp Khi người Việt di cư đến Hội An, thay thế vai trò của người Chăm ở Hội

An đã ra sức phát triển kinh tế nông nghiệp trồng lúa Trên cơ sở kế thừa người Chăm, người Việt đã xây dựng nghề nông với hai vụ mùa chủ yếu là vụ mùa Hè - Thu và Đông - Xuân Cùng với làm nông nghiệp, cộng đồng người Việt ở Hội An còn biết làm thủy lợi, tưới tiêu Họ đã biết làm hệ thống các kênh, mương dẫn nước từ sông Thu Bồn, các đầm, kênh rạch để thau chua, rửa mặt và tưới tiêu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp được hiệu quả Bên cạnh sản xuất nông nghiệp với cây lúa là sản phẩm chủ đạo, các cây lương thực khác như khoai lang và các cây rau màu cũng được cư dân Hội An chú trọng mà một trong những địa chỉ nổi tiếng về trồng rau ở Hội An là làng Trà Quế Cùng với trồng trọt, cư dân Hội An còn kết hợp chăn nuôi các loại gia súc,

Trang 8

gia cầm như vịt, lợn, trâu, bò và các hoạt động đánh bắt, khai thác thủy hải sản, từ đó hình thành nên các làng chài nổi tiếng như An Bàng, Phước Trạch, Thanh Châu, Thanh Hà Từ đó, đã hình thành ở Hội An một nền nông nghiệp toàn diện

Mặc dù coi nghề nông là kinh tế chủ đạo, chiếm vị trí quan trọng trong đời sống, nhưng cư dân Hội An cũng phát triển các nghề thủ công truyền thống làm phụ trợ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp Ở Hội An đã hình thành nhiều nghề truyền thống nổi tiếng như: Nghề đan lát, làm nhà tre ở Sơn Mỹ, Sơn Phô, Thanh Hà; nghề dệt vải, dệt chiếu, thêu ở Cẩm Phô, Kim Bồng, Thanh Châu; nghề gương lược ở Thanh Hà; nghề làm thuốc Bắc, làm vàng mã, kim hoàn ở làng Minh Hương, trong đó hai làng nghề thủ công trở thành đặc trưng của Hội An được biết đến là làng gốm Thanh Hà và làng mộc Kim Bồng Các nghề thủ công vừa trở thành đặc trưng của Hội An, vừa đóng góp vào phát triển kinh tế xã hội, vừa tạo điều kiện cho sự phát triển du lịch ở Hội An Ngoài ra, trong các thế kỷ XVI - XVIII, do chính sách của chúa Nguyễn chú trọng phát triển kinh tế thương nghiệp Do đó, Hội An nhanh chóng phát triển mạnh

mẽ, trở thành trung tâm buôn bán của xứ Đàng Trong, là thương cảng quốc tế trên biển Tất cả hàng hóa từ các nơi được tập trung về Hội An và từ Hội An đem ra nước ngoài Các khu phố người Hoa, người Nhật theo đó cũng được hình thành như là một minh chứng cho sự phát triển thịnh đạt của nền thương nghiệp ở Hội An

Kể từ năm 2008, khi Hội An trở thành thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam Thì

được định hướng trở thành một thành phố “văn hóa - sinh thái - du lịch”, là một trung

tâm kinh tế - xã hội quan trọng của tỉnh Quảng Nam

An lúc này thuộc về lãnh thổ của Đại Việt

Đến thời nhà Hồ, cương giới phía Nam Đại Việt mở rộng đến Quảng Ngãi ngày nay Hồ Quý Ly lấy đất đó chia thành các châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa và thực thi nhiều chính sách, vừa động viên khuyến khích, vừa bằng hành chính kiên quyết để

Trang 9

người Việt vào định cư khai khẩn Nhưng trên thực tế, những vùng đất này quá xa tầm kiểm soát của nhà Hồ, cộng thêm sự tranh chấp, quấy phá liên tục của người Champa, nên những vùng đất mới này vẫn chỉ có cư dân Champa sinh sống, còn người Việt tuy

đã có mặt nhưng rất ít ỏi và cũng chưa thể định hình tổ chức làng xã một cách rõ ràng Sau sự kiện Nam tiến của Lê Thánh Tông năm 1471, tình hình xứ Thuận Quảng mới thực sự ổn định chính điều đó đã tạo thuận lợi cho cư dân Việt đẩy mạnh quá trình di

cư, khai phá và làm chủ vùng đất Hội An Điều này được chứng minh rất cụ thể khi trong gia phả các tộc họ tiền hiền ở các làng xã Cẩm Thanh, Thanh Hà, Cẩm Nam… đều ghi rằng tổ tiên của họ là người từ phương Bắc theo vua Lê Thánh Tông đi bình Chiêm, rồi ở lại đất Hội An khai khẩn lập làng

Việc di dân, lập làng ở Hội An và Đàng Trong tiếp tục được diễn ra mạnh mẽ gắn với kế sách tạo nghiệp lâu dài của các chúa Nguyễn bắt đầu từ cuối thế kỷ XVI Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa Nhằm củng cố thế lực cát cứ chống lại chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và tiến dần về phương Nam, năm 1602, Nguyễn Hoàng cho lập Trấn dinh Quảng Nam Sau đó chúa cho chia đặt lại hệ thống đơn vị hành chính của Thuận Quảng, tách huyện Điện Bàn của phủ Triệu Phong ra để lập phủ Điện Bàn Từ đây cả vùng đất rộng lớn từ đèo Hải Vân đến núi Đá Bia (Phú Yên) mới trở nên yên ổn, thu hút đông đảo cư dân chủ yếu ở vùng Thanh - Nghệ vào khai khẩn đất đai, tạo ấp, lập làng, xây dựng cuộc sống mới Vào thời điểm này, quá trình tụ cư của cư dân Đại Việt trên đất Hội An cũng đang định hình Đây chính là điều kiện thuận lợi để Hội An (Quảng Nam) tiếp nhận luồng di dân mới từ phía Bắc vào lập nghiệp

Cùng với việc định cư, lập làng của người Việt, trong thế kỷ XVII, do nhiều nguyên nhân, Hội An nổi lên như một trung tâm thương mại nổi tiếng không chỉ trong nước mà cả quốc tế với sự có mặt của thương thuyền các nước Trung, Nhật, Ấn Độ, Xiêm, Bồ, Hà, Anh, Pháp… đến giao thương mậu dịch Trong số các thương nhân đến buôn bán ở Hội An, có thương nhân người Trung Hoa và Nhật Bản đã được Chúa Nguyễn ưu ái cho lập phố định cư sinh sống và buôn bán lâu dài trên đất Hội An Như vậy, cùng với người Việt, người Trung Hoa và Nhật Bản đã góp phần thúc đẩy mạnh

mẽ thương cảng quốc tế Hội An phát triển và trở thành thành phần quan trọng trong cộng đồng cư dân Hội An thế kỷ XVII

Trang 10

Đến cuối thế kỷ XIX, hệ thống sông nước ở Hội An có nhiều biến động lớn, Cửa Đại di chuyển vị trí thường xuyên, ngày càng nông và có xu hướng hẹp dần; sông Cổ

Cò - con đường thủy nội địa nối Hội An với cảng Đà Nẵng trong nhiều thế kỷ trước bị bồi lấp, sự phát triển và bành trướng của hệ thống giao thông đường bộ, quốc lộ I, con đường giao thông huyết mạch của cả nước không đi qua Hội An khiến cho Hội An bị biệt lập Hơn nữa, trước âm mưu xâm chiếm của chủ nghĩa tư bản, triều Nguyễn đã

thực hiện chính sách “bế quan tỏa cảng” Những lý do đó đã dần làm mất đi vai trò

quan trọng của thương cảng Hội An vào đầu thế kỷ XX

Dưới thời Pháp thuộc, Hội An là tỉnh lỵ, nơi đặt hầu hết các cơ quan đầu não của chính quyền tay sai Ngày 20-10-1898, dưới sức ép của thực dân Pháp, vua Thành Thái đã ra chỉ dụ thành lập thị xã Faifo (Hội An) làm tỉnh lỵ Quảng Nam

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cùng với quyết định thành lập thị xã Hội

An, bao gồm 18 xã nội, ngoại thành, Tỉnh ủy Quảng Nam đẩy mạnh xây dựng lực lượng, ổn định đời sống nhân dân, chuẩn bị kháng chiến chống Pháp Hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Hội An cùng nhân dân cả nước đứng dậy chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược

Sau năm 1954, chính quyền ngụy Sài Gòn vẫn lấy Hội An làm tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam và tháng 7-1956, lập Khu hành chính Cẩm Phô, thuộc quận Điện Bàn Đến tháng 7-1962, chính quyền Sài Gòn chia tách Quảng Nam thành hai tỉnh là Quảng Nam, Quảng Tín và thành phố Đà Nẵng Tam Kỳ trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Tín, Hội An là tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam Đồng thời, chúng cho lập Quận Hiếu Nhơn thay cho Khu Hành chính Cẩm Phô, quận lỵ đóng tại Sơn Phô, Cẩm Châu Còn về phía Chính phủ Cách mạng thì đến tháng 11-1962, lại quyết định chia tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng thành 2 tỉnh mới là Quảng Nam và Quảng Đà Lúc này, Hội An thuộc tỉnh Quảng Đà

Sau ngày đất nước thống nhất, thị xã Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng

Từ tháng 1 năm 1997, thị xã Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam Đến năm 2008, thị xã Hội

An chính thức được công nhận là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam với diện tích 6.146,88 ha, 90.150 nhân khẩu, với 13 đơn vị hành chính, gồm 9 phường: Minh An, Sơn Phong, Cẩm Nam, Cẩm Phô, Thanh Hà, Tân An, Cẩm Châu, Cẩm An, Cửa Đại và

4 xã là Cẩm Hà, Cẩm Thanh, Cẩm Kim và xã đảo Tân Hiệp

Trang 11

1.2 Phong tục tang lễ của người Việt, người Việt gốc oa ở ội An

1.2.1 Tang lễ của người Việt ở ội An

Phong tục tang lễ của người Việt ở Hội An cơ bản giống với phong tục tang lễ của người Việt Khi biết chắc chắn người thân trong nhà đã qua đời, người chủ sự phải

cử người đi thông báo cho tất cả bà con, anh em ruột thịt biết (lúc này hàng xóm nghe tin họ cũng tự đến để giúp đỡ) cho người nấu cơm, bới thành chén cơm in (2 chén úp vào nhau), cắm đôi đũa và một quả trứng luộc đặt ở phía trên, bên đầu người chết; vuốt mặt người quá cố, chỉnh cho cơ thể người chết nằm cân đối, khoan thai, sau đó trải một tờ giấy vàng mã lên mặt người chết

Những việc trên đây tiến hành đồng thời với nhau cùng một lúc Lưu ý trong suốt thời gian người chết còn ở trong nhà (kể cả từ khi đã khâm liệm - nhập quan đến trước khi di quan) mọi người trong gia đình phải để ý không cho con mèo đi ngang qua người chết vì sợ rằng người chết sẽ bị dựng dậy Tiếp theo, gia chủ thắp hương lên bàn thờ gia tiên yết cáo với tổ tiên; rồi cử người đi đến các vị thầy để nhờ xem người mất năm đó tốt, xấu ra sao và các ngày, giờ tiến hành nghi lễ tang ma Việc xem ngày giờ mất của người quá cố rất quan trọng, đến mức khi người quá cố còn hấp hối người ta

đã thăm dò, cần thiết thì phải tìm cách (như nhỏ thuốc hồi dương, ngậm sâm ) để duy trì "sống" cho qua giờ - qua ngày mà thầy cho là xấu Bởi nếu người mất trúng vào các ngày trùng là rất xấu, đó là điểm không tốt Nếu trúng năm Thanh long cũng rất xấu, được Huỳnh long là rất tốt

Trường hợp trúng phải ngày - giờ - năm không tốt thì phải bàn với thầy để tìm cách giải trừ trong nghi lễ tang ma Ở Hội An, thông thường, khi một gia đình có người chết, họ không hoàn toàn tự lo liệu mà sẽ nhờ họ hàng thân thích, hàng xóm láng giềng giúp đỡ - Hộ tang, và nhờ một người trong tộc (không chịu tang) đứng làm chủ tang Bởi lúc này gia đình tang chủ rất bối rối không thể tự lo liệu được nên phải nhờ sự giúp đỡ là cần thiết Khi mọi người đã tập hợp đông đủ họ sẽ tiếp tục chia nhau mỗi người một việc để lo liệu như : đi sắm hòm, cát trắng, đồ khâm liệm, thần phục , sắm bàn, đồ vật để thiết lập bàn án trước linh cửu dâng hương, phúng điếu (chân đèn, nồi hương, bài vị/ảnh họa, liễn, triện, phướn, hoa quả, giấy tiền, vàng bạc, trầu cau );

có người lo chặt tre, chẻ lạt, thanh ngang để bó hòm sau khi liệm; và bố trí người che rạp, mượn bàn ghế, lo nước uống, đi chợ; lo mời ban nhạc lễ hoặc báo sư chùa để tụng kinh (nếu là tín đồ Phật giáo) Đặc biệt không được quên mời người có kinh nghiệm

Trang 12

lo giúp việc "phạn hàm" và khâm liệm Mọi việc chuẩn bị đã xong, tiến hành tục "phạn hàm" và lau, rửa cho người chết Tục phạn hàm - tức là lấy chiếc đũa đặt nơi cửa miệng người mất, bỏ gạo, muối được rửa sach vào miệng : nam 7 hạt, nữ 9 hạt, có nhà còn bỏ tiền đồng, châu ngọc, vàng Làm như vậy, ý để cho người chết có gạo, muối, tiền/vàng để đi đường từ dương gian về âm phủ Nam hết 7 ngày, nữ hết 9 ngày Tiếp theo phải dùng rượu phun, xoa để rửa, lau cho người chết sạch sẽ và nắn cho tư thế nằm ngay thẳng Lúc này mới mặc đồ liệm, gồm 2 lớp : 1 lớp vải trắng và 1 lớp vải

đỏ Tay chân, mặt mũi người chết cũng được bao bọc cẩn thận, sau đó dùng dây vải để buộc xác người chết cho ngay thẳng (nam buộc 7 dây, nữ buộc 9 dây) Sau khi khâm liệm thì làm lễ nhập quan, ở Hội An có tục liệm người chết bằng cát trắng - loại cát sạch (rất ít khi liệm bằng trà hoặc các vật liệu khác) Vì ngoài cát trắng - sạch còn có màu khác biệt với đất nơi nghĩa địa rất dễ nhận biết khi sau này phải cải táng, di dời

Để khâm liệm - nhập quan còn phải bỏ cát vào trong bao vải may sẵn đặt lên mắt, tai (gọi là điểm nhãn - điểm nhĩ), trên đầu đặt một cái gối cũng may bằng vải bỏ cát vào Dưới lưng của người chết (tức là đáy hòm) đặt một tờ giấy, dùng hương đã đốt lửa đục

lỗ thành hình Thất Tinh - biểu tượng của chùm sao Bắc Đẩu Nếu người chết còn phải chịu tang thì xé vải khăn tang đặt vào quan tài với ý biểu hiện sự hiếu thảo của người chết Xong việc, đặt người chết vào quan tài, nhưng phải làm thủ tục "hạ thổ", đặt người chết dưới đất, bên cạnh quan tài, nâng lên hạ xuống 3 lần rồi mới đưa vào đặt trong quan tài, đổ cát vào, khỏa cho bằng phẳng Sau đó đậy nắp hòm, nhưng phải đậy

hở, chờ đến đúng giờ nhập quan mới đậy kín, dùng lạt tre, thanh ngang tre (đặt dưới đáy hòm) rồi bó lại cho chặt bằng 3 vòng lạt tre Những người chết mất xác thì gia đình làm quan tài, cốt giả rồi mời thầy pháp làm lễ "chiêu hồn nhập cốt" hoặc những người chết nước thì mời thầy làm lễ "sao môi", "vớt vong"

Việc khâm liệm - nhập quan đã xong, lúc này quan tài được đặt ở gian giữa của nhà, gần với cửa ra vào và quan tài luôn được đặt quay đầu ra hướng ngoài, đồng thời thắp hai ngọn nến trắng trên quan tài và một đĩa đèn dầu để dưới quan tài cho ấm xác (nếu người chết " bất đắc kỳ tử" - ngoài đường - ngoài xá thì quan tài không đưa vào nhà mà phải dựng rạp ở ngoài sân, ngoài vườn)

Lúc này, bàn án trước linh cữu, chuẩn bị sẵn cũng được thiết lập để làm lễ trí linh: cúng linh hồn người quá cố và bây giờ mới thắp hương Những gia đình là tín dồ Phật giáo thì phía trước bàn án người mất lại có thêm bàn thờ Phật Tiếp theo là lễ

Trang 13

thành phục hay còn gọi là lễ phát tang, lễ này rất quan trọng nên phải có nhạc lễ hoặc

có thêm sư chùa đến tụng kinh Người được nhờ làm chủ tang sẽ đứng ra xé, phát khăn tang cho từng người chịu tang, theo thứ tự từ lớn đến bé, nam trước nữ sau, "nội" trước

"ngoại" sau (con cháu nội, ngoại) và người nhận/chịu tang phải bái lạy 4 lạy rồi mới mặc đồ tang hoặc chít khăn tang Con trai, con gái, vợ hoặc chồng, cháu đích tôn của người quá cố đều mặc đồ tang, trên đầu, lớn thì trùm khăn, nhỏ thì bịt mũ Các cháu thì chít khăn trắng, riêng các cháu nội trai theo thế hệ thứ tự từ khăn trắng đến khăn vàng, khăn đỏ Con trai trưởng, dâu trưởng áo có thêm miếng vải thừa ở sau lưng gọi

là dư ai (khóc thừa, thể hiện sự khóc thương vô bờ đối với người đã mất và để phân biệt với con trai thứ, dâu thứ) Con trai trưởng còn phải đội mũ rơm, đeo dây rơm, chống gậy (tang cha thì gậy bằng trúc, tang mẹ thì gậy bằng vông) Khi xé khăn tang hoặc may đồ tang thì không được thừa, không được thiếu Khi chít khăn không được

để hai đầu khăn trùng nhau (phải để thừa đầu ngắn, đầu dài - so le), vì sợ trùng Phần lớn con, cháu nội trai, dâu phải để tang 3 năm, cháu gái có thể tùy hoàn cảnh châm chế giảm bớt Còn lại, đều để tang 9 tháng đến 1 năm Nhìn chung, chồng của cô, vợ của cậu, chồng của dì mất thì không để tang Trường hợp bác, chú, cô, cậu, dì ruột của vợ mất mà cha mẹ của bản thân còn thì không để tang Ngược lại nếu bác, chú, cô, cậu, dì ruột của chồng mất mà cha mẹ của bản thân còn, việc để tang phải xin phép cha mẹ Anh em trai con nhà chú, nhà bác, bạn dì, cô cậu ruột thì không nhất thiết phải để tang, nhưng người mất là đích tôn, trưởng tộc/họ của mình thì phải để tang

Trong thời gian linh cữu còn quản tại nhà thì bà con ruột thịt, thân thích, hàng xóm, bạn bè đến viếng Khi viếng thắp hương bái hay lạy thì chỉ được 2 bái hoặc 2 lạy, lúc này con, cháu, vợ hoặc chồng của người mất luôn túc trực 2 bên để bái, lạy đáp lễ và trong thời gian này phải cúng cơm hằng ngày Ngày, giờ di quan, động quan,

hạ huyệt cũng đều đã được thầy cúng xem trước, tránh nhằm vào ngày xấu sẽ hại thêm con cháu, người thân Những đàn ông, thanh niên trong xóm/ giáp đều có trách nhiệm khiêng quan tài đến huyệt Trước khi di quan phải sắm lễ cúng "đạo lộ" (tức là cúng các vị thần đường xá mà linh cữu sẽ di chuyển qua) Lễ cúng này phải cúng vào ban đêm hoặc rạng sáng ngày di quan Đồng thời cũng phải có lễ cúng khai huyệt/ động thổ để đào huyệt chôn người quá cố tại nghĩa trang Huyệt chôn người chết phải được thầy địa lý xem trước chọn hướng kỹ càng Nếu chết xấu (như bị đâm, chém, tự tử )

có nơi người ta đào hai huyệt (một huyệt sâu, một huyệt cạn) khi đưa quan tài đến đặt

Trang 14

vào huyệt cạn làm lễ, sau đó chuyển sang huyệt sâu để chôn chính thức - có làm như vậy người ta mới tin rằng người chết mới yên tâm ở suối vàng mà không quấy nhiễu người nhà

Lễ động quan - di quan được diễn ra theo trình tự : Đội âm công (người khiêng)

do ông chấp lệnh đứng đầu, điều khiển vào bái quan (tài), làm lễ động quan Sau đó lui

ra để gia đình làm lễ triệt linh sàn (dọn dẹp bàn thờ) Triệt linh sàn xong thì đội âm công vào di quan - tức là khiêng quan tài đi ra Khi bắt đầu di quan ra, gia chủ phải cử một người đập bể một om/nồi đất ở trong góc gần sát nơi đặt quan tài gọi là để tống hồn thư của người chết đi theo linh cữu (có khi người ta dùng pháo tống) Thường người ta không di quan qua cổng chính mà mở một lối đi mới (phụ), khi quan tài khiêng qua cửa thì có tục người con trai trưởng nằm chắn ngang, ý muốn nói để cha

mẹ đi cho yên và khi qua cổng lại đặt một cái đòn gánh để nằm ngang Đồng thời khi quan tài khiêng ra đến cổng là người ta phải cho tháo dỡ ngay các tấm che, chắn ở sân trong những ngày tang lễ Đoàn di chuyển quan tài từ nhà ra đến đường chính (đường cái), người con trai trưởng phải bưng nồi hương (ý giữ việc hương hỏa, thờ cúng), các con thứ lo bưng di ảnh họa hay bài vị Tuy nhiên, tùy vào hoàn cảnh của từng người quá cố (có con hoặc không có con, có con trai hay con gái hoặc chết trẻ )mà sắp đặt việc này, nhưng ít nhất phải có người bưng nồi hương, đó là người thân ruột có trách nhiệm nhất của người quá cố Ra đến đường cái, thông thường đi đầu đám tang là người cầm đuốc để soi đường đồng thời vãi giấy tiền - vàng bạc ra đến tận huyệt, tiếp sau là người cầm phướn Phướn là một cây tre nhỏ để ít lá ở ngọn gắn lá triệu lên - triệu viết trên giấy đỏ bằng phấn hoặc vôi, đó là một hàng chữ Hán dài từ trên xuống dưới và số chữ theo 4 chữ "quỷ, khốc, linh, thính" - nghĩa là chữ cuối cùng không phạm hai chữ "quỷ, khốc" mà tốt nhất đàn ông nhằm chữ "linh", đàn bà nhằm chữ " thính" (Nam linh, nữ thính); Đến tiếp theo là bà lượt (bàn thờ có bát hương và di ảnh/bức họa hay bài vị người quá cố), thường người con trai trưởng phải đi lùi trước bàn lượt này, theo sau là ban nhạc và đến quan tài, rồi người nhà cùng bà con, thân thích, hàng xóm đi đưa tang Ở Hội An hầu như không có tục lăn đường như các địa phương khác

Trước khi hạ huyệt - hạ rộng, tức là di chuyển đặt quan tài xuống huyệt đã đào sẵn, người chủ đám tang phải làm lễ cúng trời đất, thổ công, thổ địa, báo cáo với những ngôi mộ xung quanh về thành viên mới Hạ/đặt quan tài vào huyệt xong phải

Trang 15

nhắm hướng cho đúng, canh nước cho cân bằng, rồi nhờ người biết chữ tuyên đọc triệu (thường là các thầycúng đọc) Kéo lá triệu trải dài theo quan tài, lật mặt chữ lên, đọc xong rồi úp xuống- 3 lần như vậy, xong rồi lấy nước bôi vào để xóa chữ đi, và vo nhàu

lá triệu bỏ xuống bên cạnh quan tài để lấp đất

Khi lấp đất những người chịu tang, bà con thân thiết đều bốc một nắm đất bỏ xuống ham ý như muốn cùng nhau góp phần đát cho mồ yên, mả đẹp Trong lúc tất cả mọi người lo di quan- đưa tiển quan tài ra nghĩa địa chôn cất người quá cố thì ở nhà có một nhóm người lo sắp đặt bàn thờ, vị trí phải được đặt ở gian nhà bên, không được đặt ở gian nhà giữa, nơi đã có bàn thờ gia đình, sau khi mãn khó (mãn tang) thì mới thỉnh/ đặt lên bàn thờ chung với gia tiên (những người đã quá cố từ trước), đồng thời

có nhóm lo nấu cơm cúng Khi đoàn đi tiển đưa chôn cất người chết về thì người con trai trưởng phải đặt ngay nồi hương, di ảnh họa/ bài vị lên bàn thờ được chuẩn bị/ sắp đặt trước, cơm cúng cũng được đặt lên và phải cúng việc lập bàn thờ cho người chết Cúng xong hạ xuống dọn mời những người đã giúp cho việc tang ma, chôn cất trở về

để cùng hưởng (ăn)

Sau 3 ngày phải có lễ cúng “mở cửa mả’, thường trong thời gian 3 ngày này (kể

từ lúc chôn xong) những nhà có điều kiện (điều kiện ở đây là các bậc bề trên của người chết đã được xây mộ, lập bia và gia đình có tiền) thì tiến hành xây mả, lập bia mộ cho người đã chết, công việc này phải hoàn tất trước khi cúng mở cửa mả, lập bia mộ cho người chết, công việc này phải hoàn tất trước khi cúng mở cửa mả Còn những gia đình không có điều kiện thì phải đợi sau 3 năm, khi nào có đầy đủ điều kiện và phải coi thầy cho được năm, được tuổi

Ở Hội An không có tục cải táng mà chỉ chôn một lần ổn định (ngoại trừ trường hợp do mộ nằm sát bờ sông, đất bị bồi lỡ hay những sự cố bất khả kháng nào đó…)

Lễ cúng mở cửa mả tại mả xong, người ta thường hay có mâm cơm mời những người đại diện cho làng – xã, xóm-giáp, tộc họ, những người đã nhiệt tình lo giúp gia đình trong những ngày lo tang lễ Đây cũng là dịp để gia đình cảm tạ- xin lỗi mọi việc đã qua đối với mọi người

Sau lễ mở cửa mả, gia đình còn phải lo cúng cơm vào các ngày làm lễ 7 ngày, 21 ngày, 49 ngày và 100 ngày (quan trọng nhất là lễ 49 ngày và 100 ngày) Sau khi người chết được một năm tròn thì làm lễ cúng giỗ đầu (cúng tiểu tường); năm thứ hai tổ chức giổ hết (lễ cúng đại tường), sau lễ này con cháu bỏ tang lên bàn thờ người đã chết, trừ

Trang 16

con trai trưởng và dâu trưởng, cháu đích tôn; đến sau ba năm, gia đình tổ chức lễ mãn tang hay còn gọi là mãn khó, trong lể này các khăn tang, bức trướng, câu chữ để thờ, bàn thờ… được đem đốt Lễ này những nhà có điều kiện kinh tể thường tổ chức cúng rất lớn, mời đông đủ bà con nội ngoại, thân hữu láng giềng đến dự Sau lễ này, bàn thờ người chết được chuyển nhập vào bàn thờ tổ tiên (đặt ở gian chính giữa nhà), đồng thời gia đình xem như từ đây hết tang, có thể làm mọi việc như làm nhà, dựng vợ, gả chồng cho con cái, thăm viếng hàng xóm láng giềng, bạn bè kể cả vào ngày lễ tết…

1.2.2 Tang lễ của người Việt gốc oa ở ội An

Khi người già lâm chung, con trai, con dâu, cháu trai, con gái chưa lấy chồng, anh em họ hàng thân sơ, tập trung lại để bàn bạc lo liệu, chăm sóc người già cho đến lúc người đó " nhắm mắt xuôi tay" Người xưa rất coi trọng tập tục này Để con cháu

có thể thể hiện tấm lòng hiếu thuận của mình đối với người thân nên khi trong nhà có người già lâm bệnh nặng thì dù cho con cháu đang ở xa, gia đình phải có trách nhiệm thông báo cho người đó biết thông tin không hay ngay Về phía con cháu, khi nhận được hung biến phải nhanh chóng trở về gặp mặt thân nhân lần cuối Tuy nhiên, cũng

có những người đang bận việc đại sự ở biên ải xa xôi hoặc định cư nước ngoài thì có thể châm chước, linh hoạt Nếu không, người thân không thể yên lòng " về trời" mà con cháu cũng cảm thấy ân hận suốt đời

Lúc người già lâm chung, con cái phải đứng xung quanh giường bệnh, khi nhắm mắt xuôi tay, con cháu phải gào khóc thảm thiết Tiếng khóc này không những thể hiện niềm đau xót, tiếc thương đối với người quá cố mà còn để thông báo cho hàng xóm láng giềng biết Những người hàng xóm nào ngày thường hay qua lại với tang chủ, khi hay biết tin buồn sẽ đến giúp đỡ gia đình lo liệu hậu sự

Người nào vì một số lý do không mấy quan trọng, đáng lẽ ra có thể gặp mặt người thân lần cuối nhưng lại bị chậm trễ thời gian trở về nhà thì thường bị thiên hạ khinh bỉ, chê cười thậm chí còn bị chỉ gia đình Âu Dương Dữ Sảnh trong " Bình phong hậu" viết : " Ngay cả lúc gặp mặt người thân lần cuối tôi cũng không thể đi, sau khi bệnh tình hồi phục trở lại tôi trở về nhà nhìn thấy cờ phướn trắng treo nhưng bố tôi kiên quyết không cho tôi vào nhà " Là con cháu của người quá cố, có đủ mọi điều kiện để có thể có mặt lúc ông bà, cha mẹ lâm chung nhưng lại cố tình không tới; điều này thể hiện sự bất mãn đối với người quá cố và cũng là một hành động không thể tha thứ của những người làm phận con cháu

Trang 17

Đối với người Việt gốc Hoa, người già trước khi chết, phải cởi bỏ y phục để tắm gội cho họ Dân gian thường dùng khăn bông thấm nước ấm, lau đầu và tay chân một lượt cho người già Cha thì con trai vào tắm, mẹ thì con gái vào tắm Những gia đình quyền quý thường là những người phục vụ đảm đương công việc này còn với những gia đình phổ thông thì con cái phải trực tiếp tiến hành lễ tiểu liệm Nhưng nếu gia đình thiếu người, người phụ nữ lớn tuổi trong gia đình cũng có thể tắm gội cho người chết

là nam giới

Sau khi tắm gội xong thì chuyển sang công việc thay quần áo Y phục bao gồm

áo ngoài, áo trong và giày dép Với những gia đình cẩn thận, họ sẽ chuẩn bị áo ngoài bằng vải bông mỏng Làm như thế vừa thuận lợi cho việc mặc áo cho người chết bởi sai khi tắt thở cơ thể người thường bị co cứng, lại vừa phù hợp theo yêu cầu lễ tục Sau khi người chết tắt thở lễ chiêu hồn là một nghi thức quan trọng trong phong tục ma chay của người Việt gốc Hoa ở Hội An, nó bắt nguồn từ thời kỳ nguyên thủy Thời cổ đại người ta vẫn thường gọi lễ chiêu hồn là " phục", có nghĩa là hô gọi hồn phách của người chết quay lại thể xác, để hy vọng đạt được sự phục sinh Trong "Trịnh huyền" có viết : " Phục, gọi là chiêu hồn" Kỳ thực nhiều người biết rõ rằng, mặc dù tổ chức lễ chiêu hồn nhưng hồn phách không thể trở lại và người chết không còn hy vọng sống lại Song để bày tỏ tình cảm, nghĩa vụ đối với người đã khuất nên nghi thức này mới được tổ chức long trọng

Sau khi người thân tắt thở, người nhà sẽ khóc thương đau đớn, khi khoảng thời gian này kết thúc người ta bắt đầu tiến hành lễ chiêu hồn Trong nghi thức tang lễ chỉ

có nghi thức khóc thương là diễn ra trước lễ chiêu hồn, còn tất cả mọi nghi thức khác đều phải tiến hành sau khi lễ chiêu hồn kết thúc

Người làm lễ chiêu hồn đứng hướng về phía Bắc Tay trái giữ cổ áo, tay phải nắm vạt áo, tay trái dao động đồng thời hô to " ông nọ bà kia trở về nào", gọi như thế liên tục 3 lần Sau khi thực hiện xong lễ chiêu hồn, người ta cuộn tròn bộ quần áo và ném xuống trước hiên nhà Cuối cùng người ta lấy bộ quần áo đó phủ kín thân thể của người đã chết, sau một hồi để xem người chết liệu có thể sống lại hay không Nếu người chết không thể sống lại người ta mới hoàn thành lễ chiêu hồn Lúc này phải đặt người chết lên trên một tấm gỗ đình thi Tấm phản gỗ này có thể đặt trong phòng, cũng

có thể đặt ở chính đường đại sảnh Xuất phát từ sự an toàn, người ta phải tiến hành nghi thức “thuộc quảng” Theo tục xưa, sau sau khi lễ chiêu hồn kết thúc người ta sẽ

Trang 18

dùng hoa bông đặt lên mũi người chết, để kiểm tra lại lần cuối xem liệu người thân đã ngừng thở hoàn toàn hay chưa Hoa bông rất nhẹ, nếu người chết vẫn còn thở thì hoa bông sẽ lay động Còn nếu người thân đã qua đời thực thì tiếp tục tổ chức lễ phạn hàm Người xưa cho rằng, bỏ gạo và tiền vào miệng người chết để giúp cho họ không

bị “bỏ đói” khi rời dương gian Nếu không làm như vậy, tới âm phủ họ sẽ trở thành quỷ nghèo ma đói Việc cuối cùng cần phải làm trong lễ tiểu liệm chính là dùng một tờ giấy màu vàng hoặc trắng để che lên mặt người đã khuất, chủ yếu là do lúc này khuôn mặt của người chết rất không ưa nhìn, dễ làm cho mọi người cảm thấy sợ hãi Quan niệm cũ cho rằng, người chết là ma, ma thường là hung bạo, ma lương thiện hiện thân phải dùng vải hoặc giấy để che mặt Tuy nhiên, nếu bạn bè người thân thích với gia đình tới phúng điếu, muốn xem mặt người chết lần cuối cùng, cáo biệt từ giã thì có thể lật tấm khăn, giấy che mặt để ngắm nhìn một lúc

Sau khi tiến hành xong lễ đại liệm việc canh giữ thi thể là một trong những tập tục tang lễ truyền thống của người Việt gốc Hoa ở Hội An Người trông coi thi thể thường là những thành viên trong gia đình hoặc những có cùng mối quan hệ huyết thống với người đã khuất, như : con trai, con dâu, cháu trai cháu gái, cháu dâu, chắt Người trông coi thi thể có hai trách nhiệm chủ yếu : Thứ nhất bảo vệ thi thể khỏi

sự xâm phạm của các hồn ma bên ngoài, đây là sự canh giữ mang tính chất tượng trưng Sau khi người ta tắt thở, linh hồn yếu đuối, rất dễ bị hồn ma quấy nhiễu, việc trông coi cẩn thận của con cháu người chết sẽ làm cho các hồn ma bên ngoài không dám đến gần thi thể Nhiệm vụ thứ hai là không để chó, mèo tới sát thi thể Chó nhà có thể xích, buộc lại còn chó ngoài thì không dễ gì vào nhà, cần đề phòng nhất là mèo Người xưa cho rằng, nếu chó mèo hoặc các con vật khác tới gần, có thể làm cho thi thể người chết đột ngột bật dậy, thậm chí còn đi lại tứ tung, ôm ghì lấy một vật nào đó, không thể nằm xuống được Giả sử một người sống bị thi thể chặt thì người có tới 80-90% khả năng sẽ bị chết Cũng có người nói, nếu để chó mèo bất thần nhảy qua xác chết, luồng điện dương ở mèo sẽ truyền vào thi thể, làm cho thi thể đột ngột bật dậy, chạy tứ tung trong nhà Ngày nay, hiện tượng này được giải thích nguyên nhân chủ yếu là do hiện tượng tĩnh điện Khi luồng điện âm tích tụ trong thi thể người mới chết chưa kịp thoát ra hết, gặp phải luồng điện dương cực mạnh cuốn hút, sẽ làm cho xác chết bật dậy

Trang 19

Việc không để chó hoặc mèo đến gần thi thể người mới chết, cũng có ý nghĩa phòng tránh trường hợp chó mèo cắn, gặm xác chết Nếu thi thể người chết bị chó mèo cắn phá thì con cháu đã không làm tròn trách nhiệm hiếu nghĩa của mình và họ sẽ mang mối ân hận này suốt đời

Sau khi tiến hành xong lễ đại liệm, người chết sẽ được chuyển vào quan tài Lúc này, công việc trông coi linh sàng sẽ chuyển sang giai đoạn bảo vệ canh giữ linh cữu Giai đoạn này quan trọng hơn rất nhiều so với giai đoạn trông coi linh sàng Khi túc trực linh sàng, mọi người bận rộn với công việc phát tang, chuẩn bị tang phục, linh đường, người trông coi giữ gìn linh sàng rất ít, chỉ 1 hoặc 2 người là đủ, người trông coi linh sàng có thể ngồi, có thể đứng, cũng có thể đi lại xung quanh linh sàng, miễn sao bảo đảm cho linh sàng không xảy ra chuyện gì là được Còn khi chuyển sang giai đoạn linh cữu, mọi công việc nội bộ tang lễ đã hoàn thành, những người cần bảo vệ trông coi linh cữu đều phải có mặt đầy đủ

Hai bên quan tài bày biện chiếu cỏ, con trai bên trái, con gái bên phải, lần lượt quỳ xuống hai bên linh cữu Người trông coi linh cữu không được nói chuyện với nhau Không khí phải thực sự trang nghiêm Trông coi thi thể là cách thể hiện đạo hiếu của con cháu đối với ông bà, cha mẹ Khi mọi người tới phúng điếu nếu gặp người khóc thương cho người chết thì người trông coi thi thể cũng phải khóc theo để tỏ lòng

bi điếu Chỉ đến khi tổ chức nghi thức đưa tang thì công việc trông coi linh cữu mới kết thúc

Khi cha mẹ qua đời, con cái phải có trách nhiệm thông tin cho gia tộc, trước hết

là tộc trưởng Nếu gia tộc nhỏ, ít họ hàng thân thích thì con cái người vừa chết phải trực tiếp đi thông báo cho từng gia đình trong dòng tộc Còn dòng tộc nào mà con cháu đầy đàn anh em nhiều thì con cái, con dâu hoặc cháu của người chết cắt cử nhau đi thông báo Ngày xưa gia tộc thường sống quần cư một thôn nên việc phát tang cũng khá thuận tiện, nhưng việc phát tang tuyệt đối không thể để người đời chê cưới là không hiểu lễ nghi Người phát tang phải mặc đồ tang phục Trong trường hợp gia đình có người đột tử, trang phục chưa thể chuẩn bị đầy đủ thì có thể sử dụng một hoặc hai vật gần giống với tang phục mang theo mình, ví dụ như : Buộc dây vải trắng quanh bụng, khi phát tang, thái độ phải tuyệt đối trang nghiêm, và có vẻ gì đó đau buồn vô hạn, giọng nói trầm xuống pha chút nghẹn ngào Nếu thông báo với người cao tuổi thì phải quỳ xuống, cúi đầu, khóc nức nở Sau khi thông báo xong phải xin phép cáo lui

Trang 20

ngay Bởi theo tục xưa, người mặc áo tang mà ở lại nhà người khác quá lâu là điều cấm kỵ Đối với thế hệ hậu sinh đã ra ở riêng thì không cần thông báo; cha mẹ hoặc anh em người đó sẽ có trách nhiệm cho anh ta biết Những nam nữ thanh niên trong gia tộc, nếu không có việc gì đặc biệt đều phải tới tang gia, giúp đỡ lo liệu sắp xếp mọi việc Bạn bè, người thân sống rải rác, mỗi người một nơi, nhưng việc phát tang đều phải do người trong gia tộc đảm nhiệm, thậm chí có lúc phải cần 10 tới 20 người phát tang

Đối với con cháu đi làm ăn xa, hoặc vì đường xá xa xôi cách trở hoặc khi nghe tin người thân qua đời, không thể có mặc lúc lâm chung nên khi nghe được tin dữ, phải ngừng dở mọi chuyện, chuẩn bị thu xếp hành trang lên đường trở về nhà chịu tang Đây chính là bôn tang Bôn có nghĩa là vôi Bôn tang là nhanh chóng trở về tham dự tang lễ hoặc bái tế lăng mộ

Bôn tang này xuất hiện tương đối sớm, và phạm vi khá rộng, sau khi nghe được tang sự người thân phải nhanh chóng khóc thương để thể hiện niệm đau đớn tột cùng Nhưng khóc không được quá độ, chỉ sau khi biết rõ về nguyên nhân tạ thế của người thân thì mới được tiếp tục khóc thương và thu xếp hành ý chuẩn bị lên đường về quê Điều kiện cho phép phải mang dấu hiệu tang sự đơn giản Tốc độ càng nhanh càng tốt Khi gần về tới nhà phải khóc thảm thiết hơn, đau đớn tột cùng Tới cổng ngõ nhà lại càng phải khóc to hơn, tóc phải buông xõa, chân lê bước tiến đến trước linh cữu Sau một hồi khóc lóc, người đó sẽ thay đổi tang phục, trở lại linh cửu và tiếp tục khóc Chỉ khi nào trong gia đình có người khuyên cản thì lúc đó mới dừng lại Người đi xa về nhà chịu tang, anh em họ hàng phải có người ra nghên đón, khóc cùng Nếu người về chịu tang không phải là còn cháu của người vừa chết, chỉ là họ hàng thân thích thì con cái người chết phải quỳ xuống dập đầu cảm tạ họ Trong trường hợp lúc dừng cữu đợi táng mà người bôn tang chưa thể về kịp, thì người đó không thể về nhà mà chạy thẳng tới chỗ phần mộ người đã khuất khóc thương bái tế, đồ tang sẽ do người nhà anh ta mang ra Trong "Lễ ký" viết: "Người ở xa về chịu tang không kịp đưa viếng, phải tới

mộ trước hết, quay về phía Bác mà khóc" Bái tế xong mới có thể cùng người thân trở

về nhà

Nghi thức ở xa về chịu tang này đã bắt đầu ghi chép lại từ đời nhà Chu, Xuân Thu Sau đó, trải qua hơn 2000 năm, nó được gìn giữ lưu truyền cho đến tận ngày nay

Trang 21

Khi đã chuẩn bị mọi thứ, đúng giờ tốt, linh cữu sẽ được chuyển đến địa điểm chôn cất người chết Đưa tang là giai đoạn chuyển linh cửu về phần đất mai táng Theo phong tục truyền thống, nghi thức này bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau như: quỳ biệt, đóng quan tài, “suất bồn”, khiêng linh cửu, khóc tang, tế lễ dọc đường, Đưa tang cũng chính là hộ tống người quá cố lìa xa gia đình, rời bỏ dương gian, bắt đầu bước vào một cuộc sống hoàn toàn mới - cuộc sống âm linh địa phủ Khi đưa linh cữu người quá cố xuống huyệt đã được đào sẵn, người ta cử hành những nghi thức hạ táng

Hạ táng là bước cuối cùng của tang lễ, nó là sự đánh dấu linh hồn của người chết

đã sang tới thế giới bên kia Khi người chết về trời, gia chủ liền tìm đến người cao tuổi nhất trong gia tộc, sau đó, sẽ có mấy người cùng đi đến mộ của gia tộc Căn cứ vào thân phận người quá cố, như tuổi tác, thành viên trong gia tộc để xác định vị trí mồ

mả Nếu người chết không qua đời đột ngột thì công việc này được hoàn thành khi người đó lâm bệnh đã đến hồi nguy kịch Chỉ khi người đó quy tiên, việc đào mộ mới được tiến hành Người Hoa gọi việc đào mộ huyệt là làm hố Thường đào hố là những người già cùng dòng tộc, cũng có khi có sự trợ giúp của hàng xóm Trong khoảng thời gian đào hố, con cháu gia đình có tang phải đến thắp hương mộ tổ và đốt một ít tiền giấy trước, sau đó mới tiến hành thắp hương khấn lễ mộ huyệt Nghi thức thắp hương khấn lễ rất đơn giản Chỉ cần thắp một nắm hương thơm rồi gập người sát đất lạy là được Điều đặc biệt là ba xẻng đất đầu tiên để đào hố do đích thân con cháu đào, thể hiện sự thương tiếc khôn nguôi đối với người đã mất Mộ huyệt giống như cái giếng có hướng lên, hướng xuống, một đầu to, một đầu nhỏ phù hợp với từng loại của quan tài Chiều dài, chiều rộng đều phải cách quan tài chừng 2 đến 3 thước

Độ sâu của mộ huyệt phải dựa vào địa thế của từng vùng Ở chỗ đất cao dày thì khi đào mộ huyệt phải đào sâu một chút; còn ở vùng đất thấp, trũng thì phải đào nông hơn Bình thường độ sâu của các mộ huyệt là bảy, tám thước, như vậy khi đặt linh cữu

độ dày tính từ linh cữu lên mặt đất sẽ là bốn đến năm thước

Sau khi đào xong mộ huyệt người ta đưa lửa vào đốt, tập tục này được gọi là nồi ấm Theo quan niệm người xưa, trải qua việc làm ấm mộ huyệt người chết sẽ được sống trong một thế giới ấm áp, dễ chịu Có người còn đổ một ít tro thảo mục xuống mộ huyệt với mong muốn để cho khói lửa không bao giờ tắt và cuộc sống sẽ mãi ấm áp, tươi đẹp

Trang 22

Khi đi đến mộ địa phu đòn phải điều chỉnh, đưa một đòn giường lên trên mộ huyệt, sau đó chỉnh linh cữu sao cho đúng: phía trước quay về hướng Bắc, phía sau quay về hướng Nam Trong linh cữu, đầu người quá cố phải hướng về phái Tây Bắc, chân hướng về phía Đông Nam, khi ngồi dậy thì mặt hướng về hướng Đông Nam Điều này tượng trưng rằng kiếp sau con người sẽ lại đi đến một thế giới loài người khác Đòn được làm bởi 2 sợi dây vải to và dày, một chiếc luồn phái trước, một chiếc luồn phía sau linh cữu, bốn đầu dây quấn vào hai thanh gỗ to dày cắm trên mặt đất, trông giống như chiếc ròng rọc Mỗi đầu dây sẽ do một người khỏe mạnh giữ, bên cạnh có hai hoặc ba người trợ giúp Điều quan trọng là phải giữ cho linh cữu thăng bằng không bị đổ Đến khi linh cữu đã treo lơ lửng trên mộ huyệt sẽ từ từ hạ xuống dưới đáy huyệt và rút sợi dây ra Ở những gia đình giàu có, quan tài của họ làm vừa to vừa dày nên để cho an toàn, chắc chắn thì ở giữa linh cữu phải luồng vào hai sợi dây nữa Các sợi dây có tên gọi riêng: hai sợi đầu quan tài được gọi là " khẩu hoa " hai sợi dây ở giữa gọi là " hoa bầu giục", bốn dây còn lại được gọi là "bát bả hoa", khi hạ quan tài xuống được gọi là "đẩu hoa"

Trong khi các phu kiệu hạ linh cữu xuống huyệt, người thân của người quá cố phải quỳ quanh huyệt mộ khóc thương vừa khóc vừa đốt những đồ vật làm bằng giấy như xe giấy, ngựa giấy, người giấy lúc này người thổi kèn cũng thổi bản tang cuối cùng

Khi đặt xuống dưới mộ huyệt cần phải điều chỉnh, định hướng một cách cẩn thận theo đúng hướng hợp lý, sau đó mới từ từ cẩn thận hạ xuống Tuy nhiên, mộ huyệt tương đối sâu, linh cữu lại nặng nên việc điều chỉnh linh cữu nhiều lúc cũng không mấy thuận lợi Vì vậy cách mọi người thường dùng là dựa vào sự linh động của những sợi dây để điều chỉnh hướng của linh cữu Nếu làm như vậy vẫn không được thì phải đưa những chiếc gậy xuống dưới mộ huyệt, lợi dụng sự giúp đỡ của hố đất bên dưới mộ huyệt mà điều chỉnh Bình thường mọi người không dùng tay để trực tiếp làm việc đó, phần vì do mộ huyệt tương đói sâu không dễ gì với tới được, phần vì do họ sợ rằng nếu lỡ với tay mạnh sẽ bị trượt, rồi ngã vào trong mộ huyệt sẽ gây ra chuyện lớn

và là một họa lớn Khi đặt linh cữu xong việc tiếp theo là đắp đất mộ huyệt Theo phong tục, con cả của người quá cố phải là người ném một hòn đất đầu tiên lên quan tài, tiếp đến là con kế và họ hàng thân thích Sau nghi thức cử hành lấp đất người ta mới dùng cuốc, xẻng xúc đất lấp đầy lên mộ Khi đất chưa phủ lên mặt linh cữu, một

Trang 23

số nơi còn có phong tục đặt một hộp đất nhỏ lên trên linh cữu, bên trong hộp để một ít ngũ cốc và các loại lương thực khác Nếu người quá cố là một cụ ông thì đặt hộp bên trái, nếu là một cụ bà thì đặt hộp bên phải Người ta quan niệm rằng là để khi hợp táng ( tức là thay mộ), chiếc hộp đó báo hiệu cho biết là đã sắp đào tới linh cữu Đôi khi lấp đất xong người con cả sẽ tự tay cầm lá cờ cắm lên trên mộ

Đó là nhứng nghi lễ khi hạ huyệt còn khi hạ táng xong, người Hoa còn có một quy tắc là những thành viên trong gia tộc, họ hàng của người quá cố tham gia đưa tiễn đều phải về nhà mình chứ không được trở lại gia đình tang gia

Người chết sau khi đã được chôn cất tử tế sẽ tiến hành lập bài vị Bài vị là một loại linh vị được lập nên để thờ cúng người quá cố, bài vị và linh vị đều là cách gọi cũ của dân gian Trong cuốn sách kinh điển cổ đại, tên chính thức của bài vị là "chủ" Mở rộng hơn nữa nó còn được gọi là tang chủ, khổ chủ, thần chủ, mộc chủ

Người xưa quan niệm, trước hết, lập bài vị là để tỏ niềm thương tiếc, nhớ thương đến người đã sinh ra mình, người đã chịu bao cực khổ, đổ bao mồ hôi, nước mắt, bao công sức làm nên cơ nghiệp gia đình Đó là người có ơn sâu nghĩa nặng đã sinh thành và nuôi dưỡng nên con cháu phải thường xuyên tưởng nhớ, không thể quên

đi ân đức của người đã mất Hơn nữa người ta tin rằng linh hồn của người quá cố vẫn tồn tại, chết đi chỉ là mất đi thể xác mà thôi Linh hồn có thể rời khỏi thân xác, trở thành hồn ma đi khắp nơi trên trái đát mà không có nơi nương tựa Cho nên con cháu phải có trách nhiệm lập bài vị cho người quá cố để cho linh hồn người chết có nơi nương tựa mà không phải lưu lạc nữa Bài vị chình là điểm tựa, là nơi trở về của linh hồn người quá cố; là một vật thể hiện sự thần thánh, linh thiêng của người đã mất Bên cạnh đó, lập bài vị là để thể hiện sự tôn kính đối với linh hồn người đã mất Người cổ xưa cho rằng linh hồn người chết có thể phù hộ, giúp đỡ người sau đời sau Lập bài vị, bốn mùa cúng lễ cho linh hồn người quá cố sẽ làm cho người đã mất có được sự ấm áp yên ổn, hưởng thụ những hương hỏa của con cháu Linh hồn người quá

cố sẽ có thể bảo vệ cho con cháu có được sự bình an trong cuộc sống, thậm chí còn tạo phúc, tạo lộc cho thế hệ sau

Sau khi lập bài vị xong con cháu trong dòng họ phải để tang Thông thường sau khi chôn ba ngày người ta mở cửa mả Khi mở của mả người ta chuẩn bị nhang, đèn, hương hoa Sau khi an táng, ngày nào cũng phải cúng cơm cho người chết đến hết 100 ngày Sau 49 ngày, gia đình sẽ mời tăng sư đến để tụng kinh sám hối cầu siêu cho

Trang 24

người chết Người Hoa khi làm giỗ chỉ tổ chức trong gia đình mà không mời người ngoài Người Hoa cho rằng sự báo hiếu đối với ông bà, cha mẹ quan trọng nhất lúc họ còn sống, khi mất rồi thì ăn uống linh đình là không cần thiết

Con người sau khi chết, linh hồn mặc dù đã lìa khỏi thể xác nhưng chưa thể lìa

bỏ ngay được mà phải trải qua 49 ngày, lúc đó linh hồn con người mới cách ly hoàn toàn thể xác Do đó, người xưa tin rằng, cứ 7 ngày lại cúng tế một lần, liên tục 7 lần trong 49 ngày, có thể làm cho linh hồn và thể xác hợp nhất lại với nhau, người chết có thể hồi sinh

Cũng có người cho rằng, ngày thất thất là văn hóa Phật gia Phật gia quan niệm, chúng sinh phàm giới sau khi chết, kẻ mắc tội lớn bị đày xuống địa ngục, người lương thiện, từ bi sẽ đắc đạo thành tiên, chúng sinh chẳng thể phút chốc mà luân hồi chuyển sinh được Trung gian tồn tại một trạng thái quá độ từ khi qua đời cho đến lúc linh hồn chuyển sinh thế gian, gọi là trung âm kỳ Vào giai đoạn này, mặc dù người đã rời xa hình thể, Nhưng vẫn có ngũ âm là : sắc, thụ, tưởng, hành, thức Thân người bé nhỏ như trẻ em, gọi là trung âm thân Trung âm lấy 7 ngày làm một kỳ, và có thể tìm thấy nơi linh hồn chuyển sinh thế gian 7 ngày vẫn chưa đạt được nhân duyên chuyển sinh thì tiếp tục kéo dài trung âm 7 ngày Người dài nhất có thể kéo dài tới kỳ thứ 7, là 49 ngày Trong 7 kỳ nói trên, nếu người thân có thể mỗi kỳ đều mời nhà sư tới thực hiện Phật sự cho người chết, siêu độ vong linh thì có thể làm tăng cơ hội đầu thai cho họ

Tổ chức tập tục thất thất gọi là tế thất, tế lần cuối cùng gọi là đoạn thất

Cũng theo quy định của người Việt gốc Hoa thì con cháu phải để tang là 3 năm đối với con trai, con gái là một năm Trước đây người Hoa ở Hội An còn có tục trong thời gian để tang không được cạo râu, hớt tóc… gia đình không có tiệc vui Ngày nay các phong tục như để râu, tóc không còn nữa Thủ tang còn được gọi là chịu tang, để tang - một tập tục sinh ra để biểu đạt tình cảm thương tiếc của những người đang sống đối với người đã mất Đối với người Việt gốc Hoa ở Hội An việc thủ tang cha mẹ luôn được đặt lên hàng đầu Đây cũng là một trong những yêu cầu thủ tang thường gặp Người thủ tang khi chịu tang thường hạn chế tắm rửa, thân thể trở nên tiều tụy, bề ngoài trở nên đen nhẻm Đây là sự thương xót được thể hiện ra dáng vẻ bên ngoài Tiếp đến là lời nói giao tiếp Trong thời kỳ này người thủ tang phải phải hết sức trầm lặng, không nói năng gì lúc nào cũng ưu tư sầu muộn Đây là biểu hiện sự thương xót về mặt lời nói, ngôn ngữ Sách “Lễ ký Tang đại ký” nói: “ Thời kỳ có tang cha

Trang 25

mẹ, hết việc tang thì bất ngôn kế tang, giao tiếp với con người Quần ngôn vương sự, bất ngôn quốc sự, với đại phu, sĩ ngôn công sự, bát ngôn gia sự Vì sao lại phải như vậy? “Bạch hổ thông nghĩa: trả lời: “tận tình tận nghĩa” Dụng ý đạo lý chính được đưa

ra chính là yêu cầu về lời nói, ngôn ngữ trong kỳ chịu tang

Thứ ba, là khóc thút thít Khóc tang khi tang lễ không thể khóc to, khóc âm ĩ mà khóc bằng không khí, khóc thút thít Đây chính là biểu hiện thương xót bằng âm thanh Thứ tư, là việc ăn uống trong vòng 15 tháng chịu tang tuyệt đối không được uống rượu, ăn thịt động vật Không chỉ có vậy, sự thương xót còn biểu hiện qua y phục Trong khi chịu tang, người chịu tang phải mặc những bộ y phục bằng vải thô dày đặc biệt

Phải tuyệt đối không được tham gia những hoạt động vui chơi, hội hè Đồng thời, căn cứ vào sự thân cận xa gần, quan hệ càng gần gủi, thân cận thì những tiết chế, hành

vi trong thời kỳ chịu tang càng có sự nghiêm ngặt, phạm vi hạn chế cũng rộng hơn Tóm lại, quá trình sinh sống của người Hoa ở Hội An là quá trình cộng cư với các dân tộc anh em ở Việt Nam, cùng chịu những tác động của những điều kiện lịch

sử, chính trị, xã hội Trong quá trình đó, người Hoa một mặt vẫn lưu giữ được những nét độc đáo bản sắc trong sinh hoạt gia đình của họ, đồng thời đã tiếp thu một cách có chọn lọc những yếu tố văn hoá mới, làm cho bức tranh sinh hoạt văn hoá của họ càng thêm đa dạng

Ngày đăng: 09/05/2021, 17:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w