Vì vậy, nếu có sự hỗ trợ đắc lực của thí nghiệm hóa học và thiết bị dạy học sẽ là cầu nối giữa người dạy và người học và làm cho hai nhân tố này gắn kết với nhau trong việc thực hiện mục
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA HÓA
LÊ THỊ NA LY
Đề tài:
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN SƯ PHẠM
Đà Nẵng - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG G
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA HÓA
Đề tài:
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN SƯ PHẠM
Giáo viên hướng dẫn : ThS Phan Văn An
Đà Nẵng - 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lần đầu tiên thực hiện công việc nghiên cứu em đã gặp không ít khó khăn trong quá trình thực hiện Nhờ sự tận tình đặc biệt của thầy giáo – thạc sỹ Phan Văn
An đã giúp đỡ em vượt qua lần lượt những khó khăn và hoàn thành khóa luận này
Em xin khắc ghi và hứa sẽ phấn đấu, không ngừng học tập để tương lai trở thành người giáo viên giỏi cả về chuyên môn và nghiệp vụ
Cũng qua đây em xin gửi lời cảm ơn tới thầy chủ nhiệm và các thầy giáo, cô giáo trong hoa Hóa – Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, các thầy cô giáo cùng em các em học sinh hai trường THPT Phan Thành Tài và THPT Hòa Vang (Đà Nẵng), các bạn sinh viên lớp 09SHH khoa Hóa – Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng…đã tạo điều kiện giúp đỡ cũng như động viên em trong thời gian học tập và làm nghiên cứu để hoàn thành tốt khóa luận này
Vì nhiều lý do khách quan và chủ quan nên khóa luận này không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót nhất định, kính mong được sự góp ý nhận xét đánh giá của các thầy cô và toàn thể các bạn sinh viên
Em xin chân thành cảm ơn
Đà Nẵng, ngày 22 tháng 05 năm
2013
Sinh viên:
Lê Thị Na Ly
Trang 4PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chúng ta đang sống trong những thập niên của thế kỷ XXI, thế kỉ của nền văn minh trí tuệ và tri thức Nền văn minh tri thức coi tri thức là lực lượng trực tiếp sản xuất ra những sản phẩm có hàm lượng trí tuệ cao Để thích ứng và hòa nhập với trào lưu phát triển của các nước trên thế giới và trong khu vực phải có biện pháp mạnh mẽ, đồng bộ, khẩn trương khắc phục những khuyết điểm còn thiếu sót góp phần nâng cao chất lượng dạy học nói riêng và các bộ môn học ở trường phổ thông nói chung
Hóa học là một bộ môn khoa học thực nghiệm, vì vậy việc lồng ghép các thí nghiệm, các thiết bị dạy học vào trong các bài học hóa học giữ vai trò đặc biệt quan trọng Khuynh hướng chung của việc cải cách bộ môn hóa học trong nước và trên thế giới là tăng tỉ lệ thí nghiệm và nâng cao chất lượng thí nghiệm, các bài thực hành hóa học Trước đây, phương pháp dạy học của nước ta còn nặng nề về lí thuyết, rất nhiều học sinh do không hình dung được thí nghiệm xảy ra như thế nào nên không tiếp thu được kiến thức, việc hiểu bài nhớ bài là rất khó khăn Có những
em có thể nói là thông vanh vách về các lí thuyết nhưng đến khi cho các em thực nghiệm thì các em lại hoàn toàn lúng túng Không chỉ có những học sinh bình thường mà có thể thấy ngay ở các học sinh đi tham dự các kỳ thi Olympic Quốc tế điểm lý thuyết rất cao nhưng điểm thực hành thì thấp, không phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Vì vậy, nếu có sự hỗ trợ đắc lực của thí nghiệm hóa học và thiết bị dạy học sẽ là cầu nối giữa người dạy và người học và làm cho hai nhân tố này gắn kết với nhau trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo thì chất lượng giảng dạy và học tập được nâng cao
hóa học và các thiết bị dạy học vào giảng dạy trong các trường phổ thông Nhưng việc làm này hiện nay một số trường, một số giáo viên chưa quan tâm đúng mức
Việc đổi mới phương pháp dạy học đã và đang được triển khai trên toàn quốc rất lâu và đã nhiều tác giả nghiên cứu lĩnh vực này Tuy vậy, chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về thực trạng việc sử dụng thí nghiệm để nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở các trường phổ thông
Trang 5Xuất phát từ những tương quan trên và bản thân muốn tìm hiểu Vì vậy triển
khai đề tài: “Sử dụng thí nghiệm hóa học và thiết bị dạy học để nâng cao chất
lượng dạy học chương trình hóa vô cơ lớp 12 ở trường trung học phổ thông ” là
cần thiết, phù hợp với tình hình thực tiễn mang tính bức xúc về phương phương pháp dạy học Bộ môn Hóa học trong trường phổ thông nói riêng, phù hợp với chủ trương tăng cường phát triển kinh tế – xã hội nói chung
Tôi chọn đề tài này với mong muốn tích hợp, lồng ghép thí nghiệm hóa học
và thiết bị dạy học phần hóa vô cơ lớp 12 trong chương trình phổ thông để làm cơ
sở nghiên cứu những vấn đề sau khi giảng dạy ở phổ thông
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sử dụng hệ thống thí nghiệm hóa học và thiết bị dạy học để đổi
mới phương pháp dạy học góp phần nâng cao chất lượng dạy học chương trình hóa
vô cơ lớp 12 ở trường trung học phổ thông
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Để đạt được mục tiêu trên, chúng tôi phải hoàn thành những nhiệm vụ sau:
1 Nghiên cứu những vấn đề lý luận về phương pháp dạy học hóa học về thí nghiệm hóa học và thiết bị dạy học
2 Nghiên cứu thực trạng sử dụng TBDH, thí nghiệm hóa học ở trường phổ thông
3 Đề xuất trang thiết bị hợp lý và sử dụng có hiệu quả phục vụ cho việc nâng cao chất lượng dạy học
4 Triển khai việc sử dụng thí nghiệm hóa học và TBDH về chương trình hóa
vô cơ lớp 12 ở trường trung học phổ thông
- Triển khai thực nghiệm sư phạm
- Kiểm tra đánh giá sự phù hợp của kết quả nghiên cứu vào thực tiễn 2 trường phổ thông ở TP Đà Nẵng và Tỉnh QuảngNam
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu hệ thống các phương pháp dạy học nói chung và PPDH nói riêng
Trang 6- Phương pháp nghiên cứu lý luận giúp cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu cụ thể, mở rộng nghiên cứu những vấn đề liên quan và cho phép kế thừa những kết quả nghiên cứu của các tác giả
2 Trò chuyện, trao đổi, tìm hiểu việc học và dạy hóa học, nhằm xác định thực trạng việc sử dụng các DCTN, thí nghiệm hóa học trong quá trình dạy học hóa học Trên cơ sở đó xác định được những nội dung cần cải tiến DCTN, thí nghiệm cho phù hợp, đề xuất được hướng sử dụng hợp lý thiết bị dạy học phục vụ cho dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông
3 Phương pháp thực nghiệm: Nhằm kiểm chứng các kết quả nghiên cứu và khả năng thực hiện trong thực tế
5 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài đi sâu nghiên cứu việc sử dụng thí nghiệm hóa học và thiết bị dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học chương trình hóa vô cơ lớp 12 ở trường trung học phổ thông
Đề xuất phương pháp sử dụng thí nghiệm phục vụ dạy học hóa học ở trường trung học phổi thông và sử dụng một cách hợp lý các trang thiết bị dạy học đó theo hoàn cảnh của trường, của địa phương
Trang 7PHẦN 2: NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA THIẾT BỊ CỦA VIỆC
SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM HÓA HỌC VÀ THIẾT BỊ DẠY HỌC ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC CHƯƠNG TRÌNH HÓA VÔ CƠ LỚP 12 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Những phương hướng đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới và nước
ta
1.1.1 Khái niệm về phương pháp dạy học [6], [7]
Phương pháp là một phạm trù hết sức quan trọng đối với mọi hoạt động Có nhiều định nghĩa khác nhau về phương pháp Có thể định nghĩa: “phương pháp được hiểu là hệ thống các nguyên tắc, các thao tác có thể nhằm từ những điều kiện nhất định ban đầu tới một mục đích định trước”
Hiện nay có nhiều định nghĩa về phương pháp dạy học Xin nêu một định nghĩa mới nhất về phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học “là cách thức hoạt động của thầy trong việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động nhận thức của trò nhằm giúp trò chủ động đạt các mục tiêu dạy học”
Việc dạy học hóa học ở trường phổ thông gồm có 4 loại bài học:
1/ Giờ lý thuyết học bài mới:
Giờ lý thuyết học bài mới là hình thức tổ chức mà trong đó giáo viên trong một khoảng thời gian xác định hướng dẫn, tổ chức các hoạt động dạy học để học sinh giành lấy kiến thức và kỹ năng mới về hóa học
3/ Giờ ôn tập – luyện tập:
Trang 8Giờ ôn tập – luyện tập là hình thức tổ chức mà trong đó người giáo viên ôn tập, củng cố, hệ thống hóa kiến thức Luyện tập để rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức, đào sâu, mở rộng kiến thức và chính xác các khái niệm cơ bản của hóa học
4/ Kiểm tra:
Kiểm tra là hình thức tổ chức mà trong đó giáo viên tổ chức kiểm tra – đánh giá kết quả dạy học Đánh giá chất lượng kiến thức, kỹ năng của học sinh về bề rộng, bề sâu, độ bền, tính linh hoạt, khả năng vận dụng,… từ đó giáo viên biết được kết quả việc tổ chức hoạt động dạy học của mình để rút ra kinh nghiệm mà điều khiển kịp thời hoặc cải tiến phương pháp dạy học
1.1.2 Đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới và nước ta
1/ Đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới [6], [1]
Trong những năm gần đây, các tài liệu giáo dục và dạy học của nhiều nước trên thế giới đều chú ý đến mối quan hệ giữa dạy học và phát triển Dạy học không những trang bị cho học sinh kiến thức khoa học mà còn nhằm phát triển năng lực trí tuệ, năng lực sáng tạo
Do tác động của kinh tế thị trường, vai trò của giáo dục ngày nay càng được
đề cao và được xem như là một động lực trực tiếp nhất để bồi dưỡng nhân lực, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế xã hội Do tác động đó, nhà trường muốn tồn tại và phát triển thì phải đổi mới cách dạy học cả về mục tiêu, nội dung, phương pháp đến kiểm tra – đánh giá, trong đó phương pháp là yếu tố cuối cùng quyết định chất lượng đào tạo Từ đó, xuất hiện những hệ dạy học thích hợp với quá trình đào tạo phân hóa, cá thể hóa cao độ như hệ dạy học “tự học có hướng dẫn” đòi hỏi tỉ trọng
tự lực cao của người học, đồng thời cả sự điều khiển sư phạm thông minh khéo léo của người thầy Các phương pháp dạy học hiện đại được phát sinh từ những tiếp cận khoa học hiện đại như tiếp cận hệ thống, tiếp cận modun, phương pháp grap.v.v…Từ những phương pháp đó, đã xuất hiện những tổ hợp phương pháp dạy học như algorit dạy học, grap dạy học, modun dạy học,…Những tổ hợp phương pháp phức hợp này rất thích hợp với những hệ dạy học mới của nhà trường trong cơ chế thị trường hiện đại và chỉ có chúng mới cho phép người giáo viên sử dụng phối
Trang 9hợp có hiệu quả với những hệ thống đa kênh, kể cả kỹ thuật vi tính điều mà các phương pháp dạy học cổ truyền không có khả năng thực hiện
Việc đổi mới phương pháp dạy học phải gắn liền và chị sự chi phối của cả mục tiêu (M), nội dung (N), và phương pháp dạy học (P) theo cấu trúc:
Dạy học ngày nay đã đạt đến trình độ công nghệ, do vậy không chỉ nêu khẩu
hiệu: “Cải tiến phương pháp dạy học” đơn thuần mà cần có sự tiến hành theo tư
tưởng tiếp cận hệ thống, cải cách cả hệ thống giáo dục, xác định mục tiêu đào tạo, nội dung trí dục và từ đó đổi mới phương pháp dạy học
2/ Đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta [5]
Định hướng cơ bản trong đổi mới phương pháp dạy học là nhằm phát huy tính tích cực và sáng tạo của người học Đó cũng là xu hướng Quốc tế trong đổi mới phương pháp dạy học ở các trường phổ thông
Trên cơ sở xem xét các giá trị truyền thống, hiện đại, khả năng phát triển và hội nhập của nền giáo dục nước ta, việc đổi mới và phát triển phương pháp dạy học
ở nước ta đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 4 khóa VII (1/1993), Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 2 khóa VIII (12/1996), được thể chế hóa trong Luật giáo dục (12/1998) và được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ GD
và ĐT, đặc biệt chỉ thị số 15 (4/1999) Luật GD, điều 24.2 đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Việc đổi mới và phát triển phương pháp dạy học ở Việt Nam cần dựa trên các định hướng sau:
- Tính kế thừa và phát triển
Trang 10- Tính khả thi và chất lượng mới
- Áp dụng những phương tiện kỹ thuật hiện đại để tạo ra các tổ hợp phương pháp dạy học mang tính công nghệ
- Chuyển đổi chức năng từ thông báo – tái hiện sang tìm tòi – ơrixtic
- Cải tiến phương pháp kiểm tra đánh giá học sinh
Từ thực tế mục tiêu: “Học để biết, học để làm, học để làm người và học để cùng nhau chung sống”, định hướng cho giáo dục và dạy học, tự giải quyết vấn đề
Việc trang bị tốt năng lực này là một trong những hoạt động trọng tâm của việc đổi mới phương pháp dạy học trong điều kiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
Và việc đổi mới xác định nhìn nhận vấn đề theo hướng: phát triển năng lực nội sinh của người học đổi mới quan hệ thầy trò, đưa công nghệ hiện đại vào nhà trường
1.1.3 Một số mô hình đổi mới phương pháp dạy học hiện nay ở Việt Nam
1/ Phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm [4]
Phương pháp dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm thuộc về hệ thống các phương pháp dạy học hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực sáng tạo, khả năng tự giải quyết vấn đề
Trong phương pháp này, người học không thụ động, không chỉ nghe các thầy
cô giảng mà học sinh tích cực bằng hành động của mình Người học không phải được đặt trước những bài giảng kiến thức có sẵn mà lại đặt trước những tình huống, vấn đề cụ thể, thực tế của cuộc sống vô cùng phong phú, người học tự lực tìm hiểu, phân tích, tập xử lí tình huống, giải quyết vấn đề để tự mình khám phá những cái chưa biết, tự mình tìm ra kiến thức, chân lý
Kiến thức chủ quan mà người học tự tìm hiểu được đưa ra trình bày, bảo vệ, tranh luận đúng hay sai ở nơi tập thể lớp học Từ cách độc thoại của trò trở thành đối thoại của lớp
Lớp học trở thành nơi giao lưu trao đổi kiến thức giữa thầy và trò, giữa trò với nhau Bàn ghế được sắp xếp theo không gian chữ U để tiện việc hoạt động nhóm và vai trò chủ thể của người học với quan hệ giữa thầy cô và học trò
Thầy cô đảm nhiệm một trách nhiệm mới là chuẩn bị cho học sinh thật nhiều tình huống phong phú, chứ không phải nhồi nhét thật nhiều kiến thức vào đầu học sinh Thầy cô không còn là người truyền đạt kiến thức có sẵn, mà là người định
Trang 11hướng, đạo diễn cho học sinh tự tìm hiểu, khám phá chân lí, tự mình tìm ra kiến thức
2/ Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hóa người học
- Ý nghĩa: Đây là một phương hướng thể hiện rõ nét mối quan hệ giữa mục
tiêu, nội dung và phương pháp dạy học Chương trình này cũng nhằm đáp ứng một cách tích cực yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học để bồi dưỡng học sinh năng lực
tư duy, sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề
- Mục tiêu: Mục tiêu bao trùm cả chương trình là tạo chuyển biến cho toàn
xã hội về nhận thức và hành động theo hướng hoạt động hóa người học trong giảng dạy và học tập
Mục tiêu cụ thể là xây dựng cơ sở lý luận cho việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hóa người học, từ đó đưa ra một số mô hình dạy học nhằm giải quyết một số vấn đề cấp thiết theo hướng:
+ Dạy học thông qua hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo của học sinh + Hình thành công nghệ kiểm tra
+ Sử dụng phương tiện kĩ thuật, đặc biệt là công nghệ tin học trong quá trình dạy học
- Những nét đặc trưng cơ bản:
+ Xác lập vị trí chủ thể của người học, đảm bảo tính tự giác và sáng tạo của hoạt động học tập
Với định hướng “hoạt động hóa người học”, vai trò chủ thể của người học
được khẳng định trong quá trình học tập và hoạt động của bản thân mình Người học hoạt động một cách tự giác tích cực bằng động lực từ bên trong, bằng ham muốn khám phá chân lý thông qua sự điều khiển của thầy
+ Dạy việc học, dạy cách học thông qua toàn bộ quá trình dạy học
Vai trò của người thầy là nhà thiết kế, định hướng, ủy thác và điều khiển; người thầy lập kế hoạch cả về mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện và cả hình thức tổ chức khác nhau cho từng loại đối tượng khác nhau Người thầy định hướng, gợi mở cho học sinh các giai đoạn của công việc, biến các ý của thầy thành nhiệm vụ học tập tự nguyện, tự giác của trò Và thông qua phương pháp dạy học cụ thể hình thành phương pháp học tập cụ thể phù hợp với phương pháp của thầy
Trang 12Người thầy còn có nhiệm vụ điều khiển cho quá trình dạy học đi đúng hướng, đúng mục tiêu giáo dục đã định
1.1.4 Đổi mới phương pháp dạy học bộ môn hóa học ở trường trung học phổ thông [1]
Từ thực tế của ngành giáo dục, cùng với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho
sự phát triển đất nước, chúng ta đang tiến hành đổi mới phương pháp dạy học chú trọng đến việc phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, coi học sinh là chủ thể của quá trình dạy học Đây là nguyên tắc nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học Nguyên tắc này đã được nghiên cứu và phát triển mạnh mẽ trên thế giới và được xác định là một trong những phương hướng cải cách giáo dục phổ thông Việt Nam
Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa học nói riêng và các môn học
ở trường phổ thông nói chung Nên đòi hỏi phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng:
1/ Hoàn thiện chất lượng các phương pháp dạy học hiện có
- Xây dựng cơ sở lý thuyết có tính phương pháp luận để tìm hiểu bản chất của phương pháp dạy học (phương pháp dạy học như một khái niệm lý luận dạy học đại cương, cũng như phương pháp dạy học môn học )
- Tổ chức cho người học học tập hoạt động và bằng hoạt động tự giác tích cực và sáng tạo
- Phương pháp dạy học hóa học phải thể hiện được phương pháp nhận thức khoa học đặc trưng của bộ môn hóa học là thực nghiệm
- Tăng cường năng lực vận dụng tri thức đã học vào cuộc sống và sản xuất luôn đổi mới
- Sử dụng thuyết trình, thí nghiệm hóa học, đàm thoại, phương pháp nghiên cứu, bài toán hóa học
2/ Sáng tạo ra các phương pháp dạy học mới bằng các cách sau đây:
- Liên kết nhiều phương pháp dạy học riêng lẻ thành những phương pháp dạy học phức hợp có hiệu quả cao hơn
- Liên kết các phương pháp dạy học với các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại (như phương tiện nghe, nhìn, máy vi tính,…) tạo ra các tổ hợp phương
Trang 13pháp dạy học phức hợp có dùng kĩ thuật đảm bảo thu và xử lý các thông tin (tín hiệu) ngược ngoài kịp thời chính xác Trên lĩnh vực hóa học, ngoài việc, ngoài việc
sử dụng những phương tiện kỹ thuật chung như Projector trình chiếu Power point, còn kết hợp một số phần mềm mô phỏng mô hình nguyên tử, phân tử, phần mềm tạo dựng mô hình sản xuất, phần mềm thí nghiệm ảo
- Chuyển hóa phương pháp khoa học (chung và riêng rộng) thành phương pháp dạy học đặc thù môn học
- Về mặt chức năng, phương pháp dạy học chuyển dần trọng tâm từ tính chất thông báo tái hiện đại trà chung cả lớp sang tính chất tìm tòi ơrixtic, phân hóa , cá thể hóa cao độ tiến lên theo nhịp độ cá nhân
1.2 Sử dụng thí nghiệm dạy học và các phương tiện trực quan khác là phương pháp dạy học quan trọng nhất trong dạy học hóa học ở trường phổ thông
1.2.1 Hệ thống các phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông [1]
Phân loại các PPDH nói chung, và PPDH hóa học nói riêng là rất khó khăn, nhiều nhà nghiên cứu lý luận dạy học có những cách phân loại khác nhau Nhưng nhìn chung khi phân loại các PPDH có thể đồng thời dựa vào 3 cơ sở sau đây: Mục đích lý luận dạy học của quá trình dạy học; nguồn cung cấp kiến thưc cho HS; tính chất hoạt động trí tuệ của HS
Hệ thống PPDHHH được phân chia thành 3 loại phương pháp dạy học cơ bản:
Các phương pháp dạy học khi nghiên cứu tài liệu mới;
Các phương pháp dạy học khi hoàn thiện kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo;
Các phương pháp dạy học khi kiểm tra kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo
Bảng 1: Phương pháp dạy học khi nghiên cứu tài liệu mới
a) Theo phương pháp nhiên cứu hoặc
b) Theo phương pháp minh hoạ
Trang 14phương tiện nghe nhìn…
Học sinh làm việc với vật phân phát Quan sát khi tham quan
2 Các phương pháp thực
hành
Thí nghiệm của học sinh (thí nghiệm đồng loạt hay một số học sinh được định chỉ làm)
a) Giáo viên làm mẫu, học sinh bắt chước
b) Theo phương pháp nghiên cứu
c) Theo phương pháp minh hoạ
3 Các phương pháp dùng
lời
báo tái hiện b) Thuyết trình có nêu vấn đề
b) Vấn đề giải thích, minh hoạ
c) Vấn đáp tìm tòi phát hiện
(thông báo- tái hiện) b) Đọc tìm tư liệu minh hoạ cho kết luận đã biết c) Dùng sách, tìm trả lời cho câu hỏi (kiểu nghiên cứu)
Bảng 2: Phương pháp dạy học khi hoàn thiện kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo
pháp
1 Các phương pháp trực Biẻu diễn thí nghiệm, các a) Biểu diễn lại thí
Trang 15quan đồ dùng trực quan và các
phương tiện nghe nhìn
nghiệm, đồ dùng trực quan và phương tiện nghe nhìn theo kiểu khác
b) Dùng thí nghiệm biểu diễn làm bài tập
c) Công tác tự lực của học sinh khi quan sát phim giáo khoa
Làm việc với vật phân phát
a) Quan sát để minh hoạ kết luận đã học nhằm củng cố kiến thức
b) Làm bài tập nghiên cứu với các vật phân phát
3 Các phương pháp dùng
lờ.i
(khái quát hoá)
b) Báo cáo tổng kết của học sinh
Trang 16cứu khi dùng sách giáo khoa và tài liệu tham khảo
Bảng 3: Phương pháp dạy học khi kiểm tra kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo
a) Biểu diễn dưới hình thức bài tập kiểm tra b) Bài kiểm tra có sử dụng vật phân phát
2 Các phương pháp thực
hành
đã được làm hay quan sát khi học bài mới, khi
ôn tập
b) Làm thí nghiệm mới
nói hay kiểm tra viết
hỏi cho sẵn
b) Kiểm tra theo hình thức đàm thoại với cả lớp
gian ngắn
b) Kiểm tra viết sau khi
đã học xong một hay một số đề tài
c) Điền vào những phiếu kiểm tra chuẩn bị sẵn
Trang 17theo phương pháp Test
Trong mỗi loại PPDHHH đều có sử dụng các nhóm phương pháp: nhóm các phương pháp trực quan; nhóm các phương pháp thực hành; nhóm các phương pháp dùng lời
Trong môn hóa học ở trường phổ thông trung học, để nghiên cứu những hiện tượng hóa học và để rèn luyện những kỹ năng thao tác và giải quyết những bài toán thực hành, chúng ta phải nhờ đến phương tiện trực quan chủ yếu là thí nghiệm hóa học trong nhà trường
Trực quan trong hóa học chủ yếu là quan sát và thí nghiệm Nhờ quan sát và thí nghiệm HS không chỉ nhận thấy chất và quá trình hóa học nào còn tri giác được nhờ cảm giác và dựa vào đó để hình thành những biểu tượng đúng đắn về sự vật và hiện tượng hóa học Đó là những cơ sở của tư duy Trong dạy học hóa học người ta coi thực nghiệm là phương pháp rất quan trọng, phương pháp cơ bản để truyền thụ, khắc sâu kiến thức và rèn luyện kỹ năng thực hành cho HS
Trong dạy học hóa học, rèn luyện kỹ năng thực hành cho HS bao gồm cả việc rèn luyện kỹ năng sử dụng hóa chất, dụng cụ thí nghiệm, kỹ năng thực hiện những thao tác thực hành hóa học, kỹ năng tổ chức thí nghiệm hóa học Phát triển
kỹ năng thực hành còn giúp cho HS có thể chuyển từ tư duy trừu tượng vào thực tiễn, vì vậy thực hành được coi như thước đo của sự nắm vững lý thuyết và cũng là phương tiện để hoàn thiện kiến thức, rèn luyện kỹ năng kỹ xảo cho HS
Để giúp cho HS rèn luyện tích cực, chủ động độc lập sáng tạo trong học tập, tiếp thu kiến thức cũng như sự phát triển trong hoạt động nhận thức và thực tiễn sau này, trong dạy học hóa học cần phát huy tính tích cực của học sinh trong các khâu hoạt động nhận thức (quan sát, thực hành)
Muốn có hiệu quả cao trong dạy học hóa học, phải sử dụng một cách linh động, hợp lý các phương pháp, các nhóm phương pháp dạy học Sử dụng phương tiện trực quan trong việc dạy học hóa học là PPDH rất quan trọng, góp phần quyết định cho chất lượng lĩnh hội môn hóa học Thí nghiệm hóa học là phương tiện trực quan chính yếu, được dùng phổ biến và giữ vai trò quyết định trong dạy học hóa học
Trang 18Để đáp ứng yêu cầu đổi mới PPDH, nâng cao chất lượng dạy học môn hóa học trong trường phổ thông, việc cải tiến, sử dụng một cách có hiệu quả những thiết
bị dạy học, các phương tiện kỹ thuật dạy học cũng có vai trò đặc biệt quan trọng, rất cần được quan tâm giải quyết
1.2.2 Hệ thống các thiết bị dạy học ở trường phổ thông [1], [3]
1/ Khái niệm về thiết bị dạy học
Thực tế có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thiết bị dạy học Trong một số sách giáo trình giáo dục học và lý luận dạy học, nhiều tác giả cho rằng, thiết bị dạy học là những thiết bị vật chất, giúp giáo viên tổ chức quá trình dạy học có hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu và nhiệm vụ dạy học đã đề ra Tùy theo mục đích sử dụng
mà người ta hiểu về thiết bị dạy học với những ý khác nhau
Theo PGS.TS Vũ Trọng Rỹ, “Thiết bị dạy học hay phương tiện dạy học, đồ dùng dạy học là thuật ngữ chỉ một vật thể hoặc một tập hợp những đối tượng vật chất được giáo viên sử dụng với tư cách là phương tiện để điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh Còn đối với học sinh thì đây là nguồn tri thức, là các phương tiện giúp học sinh lĩnh hội các khái niệm, định nghĩa, lý thuyết khoa học, hình thành ở họ những kỹ năng, kỹ xảo, đảm bảo cho việc giáo dục, phục vụ các mục đích dạy học và giáo dục”
Trong dạy học hóa học thường sử dụng các phương tiện trực quan sau đây:
a/ Thí nghiệm hóa học: mẫu các chất, dụng cụ, máy móc thiết bị, các quá
trình vật lí và hóa học
b/ Đồ dùng trực quan tạo hình: mô hình, hình mẫu các máy móc, thiết bị,
tranh ảnh, hình vẽ, băng hình, phim giáo khoa,…
c/ Đồ dùng trực quan tượng trưng: biểu đồ, sơ đồ, đồ thị,…
2/ Vị trí của các phương tiện dạy học trong quá trình dạy học (trong đó
có đồ dùng dạy học)
Trong quá trình dạy học, trong mọi hoạt động của con người, ba phạm trù nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học gắn bó chặt chẽ với nhau Mỗi nội dung hoạt động đòi hỏi các phương pháp và phương tiện tương ứng Trong dạy học cũng vậy, nội dung, phương pháp và phương tiện luôn luôn gắn bó với nhau Nhiều tác giả đã nghiên cứu cấu trúc của quá trình dạy học và đưa ra những mô hình cấu
Trang 19trúc khác nhau Nhưng các tác giả đều cơ bản thống nhất những thành tố quan trọng trong quá trình dạy học:
Mục đính, nội dung; Hoạt động dạy của thầy; Hoạt động học của trò;
Các phương tiện dạy học (trong đó có đồ dùng dạy học)
X.G Sapovalenko đưa ra mô hình dạy học
Môi trường chính trị xã hội – sự
tiến bộ của xã hội
Mục đích, nhiệm vụ nội dung dạy học
Hoạt động dạy
của thầy
Hoạt động học của trò
Các phương pháp phương tiện dạy học (có
đồ dùng dạy học)
Môi trường khoa học kỹ thuật
Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật
Trang 203/ Vai trò và khả năng của thiết bị dạy học
Nói về thiết bị dạy học, V.P Golov viết: “phương tiện dạy học là một trong những điều kiện quan trọng nhất để thực hiện nội dung giáo dưỡng, giáo dục và phát triển học sinh trong quá trình dạy học”
Đối với quá trình nhận thức: Đẩy mạnh và hướng dẫn hoạt động nhận thức
của học sinh
Ta biết rằng nhận thức là sự phản ánh thực tiễn trong bộ não con người Con người nhận thức được thế giới bên ngoài nhờ hệ thống tín hiệu thứ nhất và hệ thống tín hiệu thứ hai
Hệ thống tín hiệu thứ nhất là những gì nghe được, thấy được, cảm xúc được
từ thế giới bên ngoài (trù tiếng nói), là những thông tin về thế giới khách quan mà con người nhận được từ các giác quan, là cơ sở của sự phản ánh trực tiếp thực tiễn
Hệ thống tín hiệu thứ hai là ngôn ngữ (và chữ viết) là những thông tin về thực tiễn khách quan đã được trừu tượng hóa
Hệ thống tín hiệu thứ nhất là cơ sở của hệ thống tín hiệu thứ hai Người ta không thể hiểu được khi dùng ngôn ngữ để mô tả một khái niệm, một hiện tượng nếu không có những hiện tượng ban đầu của nào đó
Trong dạy học hóa học, GV sử dụng TBDH, các dụng cụ thí nghiệm để biểu diễn các thí nghiệm hoặc hướng dẫn HS làm thí nghiệm, nghiên cứu, thực hành, GV
có thể cung cấp cho HS những kiến thức bền vững, chính xác, giúp HS kiểm tra lại tính đúng đắn của các kiến thức đã học theo lý thuyết, sửa chữa, bổ sung chúng nếu không phù hợp với thực tiễn
Trong quá trình dạy học hóa học chúng ta còn gặp các hiện tượng, đối tượng nghiên cứu không thể cho HS quan sát trực tiếp được: cần phải dùng máy móc, dụng cụ hoặc dựa vào những hiện tượng gián tiếp các hiện tượng, tức là phải dùng các phương tiện kỹ thuật dạy học như máy chiếu overhead, diafim, băng hình, vi tính… nhờ đó mà HS có thể quan sát được cấu tạo tinh thể kim loại, cơ chế các phản ứng, cơ chế tạo thành các chất, hoạt động bên trong của các lò luyện gang, ứng dụng của oxi để hô hấp đối với người thợ lặn dưới đại dương hoặc nhà du hành trên tàu vũ trụ Người GV trong khi dạy học có thể dùng TBDH, các thiết bị kỹ thuật dạy học hướng dẫn, điều khiển các hoạt động nhận thức của HS
Trang 21Đối với khả năng thực hành: Các phương tiện dạy học trong đó có đồ dùng
dạy học – giúp kỹ năng thực hành của HS Chúng ta không những cần đào tạo những con người nắm vững những kiến thức khoa học, mà còn cần phải làm những con người giỏi thực hành, có bàn tay khéo léo để thể hiện những điều mà bộ óc suy nghĩ
Trong dạy học hóa học, thiết bị dạy học góp phần phát triển kỹ năng thực hành cho HS, là điều kiện, là phương tiện để tổ chức các hình thức thực hành; từ thí nghiệm biểu diễn của GV, các thao tác mẫu mực của thầy giúp HS hình thành những kỹ năng thí nghiệm đầu tiên một cách chuẩn xác Sau đó HS tự tay thực hiện những thí nghiệm nghiên cứu, thực hành lượng nhỏ, các thao tác thí nghiệm của các
em được tăng dần lên
Qua thực hành, hứng thú nhận thức của HS được kích thích Khi tiếp xúc với thực tiễn, tư duy của HS luôn luôn được đặt trước những tình huống mới, bắt buộc
HS phải suy nghĩ, tìm tòi phát triển trí sáng tạo
Qua thực hành những đặc tính kiên trì, cẩn thận, chính xác, tính trật tự ngăn nắp, kiên trì của HS được rèn luyện, tình yêu lao động được nảy nở Đó là những phẩm chất rất cần thiết đối với người lao động cần được hình thành cho HS qua một quá trình rèn luyện lâu dài, bằng những hoạt động thực hành đa dạng
Thực tiễn dạy học hóa học đã chỉ ra rằng thí nghiệm thực hành hóa học làm phương tiện cụ thể hóa và củng cố kiến thức, là phương tiện quan trọng nhất để cho
HS rèn luyện kỹ năng , kỹ xảo, giúp HS vận dụng kiến thức một cách độc lập để giải thích các hiện tượng quan sát được, vận dụng giải các bài tập thực nghiệm, năng lực thực hành của HS được rèn luyện và phát triển
Tính tích cực hoạt động nhận thức và kích thích hứng thú nhận thức cuar học sinh: Trong dạy học hóa học, đồ dùng dạy học được sử dụng tốt sẽ có tác dụng
kích thích hứng thú học tập của HS tạo ra động cơ học tập, rèn luyện thái độ tích cực đối với các tài liệu học tập mới Các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại như các máy chiếu overhead, diafim, băng hình, vi tính… cho phép giới thiệu với HS những kiến thức chính xác, mô tả một cách sinh động các quá trình, hiện tượng hóa học, kích thích HS chủ động tích cực hoạt động nhận thức, làm tăng năng suất lao động của GS và HS
Trang 22Theo Thái Duy Tuyên – Năng suất lao động của thầy giáo không chỉ thể hiện
ở số lượng HS do họ phụ trách, mà còn ở chất lượng kiến thức truyền thụ, ở khả năng tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS… điều đó cho phép rút ngắn thời gian học
Phát triển trí tuệ của học sinh: Cùng với lời dẫn dắt, hướng dẫn quan sát của
GV, khi sử dụng đồ dùng dạy học, thí nghiệm hóa học được sử dụng hợp lí, các kỹ năng quan sát phân tích, tổng hợp của HS được hình thành, phát triển Chẳng hạn các tập bảng trong dùng cho máy chiếu qua đầu, các phim giáo khoa, vi tính, các sự vật, các hiện tượng được trình bày không tách rời nhau và trong sự phát triển liên tục Điều đó ảnh hưởng có lợi cho quá trình khái quát hóa của HS; thông qua việc trình bày các sự kiện một cách logic, khoa học, việc sử dụng các đồ dùng dạy học sẽ bồi dưỡng cho HS phương pháp quan sát, phân tích, tổng hợp
Phát triển nhân cách học sinh: Một trong những mặt mạnh của TBDH là khả
năng tác động đến việc hình thành nhân cách của HS Thông qua việc sử dụng TBDH (như thí nghiệm hóa học, phim giáo khoa, băng hình…) góp phần hình thành
ở HS mặt hệ thống các khái niệm và nhạn thức về thế giới xung quanh, giúp HS xác nhận bản chất của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội Trên cơ sở đó giải thích mộ cách khoa học các sự vật, hiện tượng đã và đang xảy ra trong tự nhiên và
xã hội Điều đó củng cố niềm tin của HS vào chân lý khách quan và có tác dụng hướng dẫn hành động Có tác giả đã nhấn mạnh vai trò củ TBDH trong việc giáo dục tư tưởng chính trị, lao động, đạo đức và nhân cách của HS
Hợp lí hóa quá trình hoạt động của giáo viên và học sinh: Sử dụng hợp lí
TBDH giúp thầy trò mất ít thời gian và công sức vào những hoạt động phụ, thứ yếu
để giành nhiều thời gian vào nghiên cứu nội dung bài học
Việc sử dụng công cụ bảng đen, phấn viết, sách giáo khoa thường tổ chức cho các lớp học 30 – 40 học sinh Nhưng các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại
có thể cho phép hình thức tổ chức dạy học thay đổi, không những ở số lượng HS mà còn ở chất lượng kiến thức truyền thụ và khả năng tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS, phương pháp dạy học của thầy trò cũng thay đổi, phong cách tư duy và hành động của thầy trò cũng hợp lí và hiệu quả hơn
Trang 23Ngoài những nội dung trên, có tác giả đã nhấn mạnh vai trò của các phương tiện kỹ thuật dạy học trong việc cung cấp thong tin chính xác, đầy đủ về hiện tượng, đối tượng, giáo trình được nghiên cứu Do đó nâng cao chất lượng dạy học, khắc phục chủ nghĩa hình thức trong tri thức của học sinh
4/ Vai trò của từng loại thiết bị dạy học trong quá trình nhận thức của học sinh
Thiết bị dạy học hóa học không những chỉ làm công cụ lao động đặc biệt của
GV, mà còn nguồn tri thức, phương tiện giúp HS nắm vững các khái niệm, các qui luật, các hiện tượng hóa học, rèn luyện kỹ năng thực hành và góp phần giáo dục hướng nghiệp thong qua bộ môn hóa học
Học sinh quan sát và tri giác trực tiếp các chất, các phản ứng hóa học, các quá trình sản xuất, các ứng dụng của hóa học trong đời sống… để hình thành các hiện tượng và khái niệm hóa học Con đường này có ý nghĩa giáo dục to lớn Nó làm phát triển ở HS kỹ năng quan sát và rút ra kết luận từ sự quan sát, hoàn thiện tư duy con đường này càng có ý nghĩa đối với học sinh Để góp phần tích cực thực
hiện con đường tư duy này cần có các mẫu vật, TBDH, hóa chất, thí nghiệm phương tiện kỹ thuật dạy học…
Việc sử dụng hình ảnh của các vật trong quá trình dạy học làm cho việc vận dụng phương pháp trực quan thuận lợi vì không phải lúc nào cũng tạo ra được vật thật ngay ở trong các lớp học với những loại hình khác nhau và số lượng cần thiết Mặt khác không phải lúc nào vật thật cũng cần thiết cho quá trình dạy học Ý nghĩa giáo dục của con đường này là ở chỗ nó phát triển óc tưởng tượng, phát triển tư duy
của HS Để thực hiện con đường này cần trang bị cho nhà trường mô hình, hình vẽ, các ấn phẩm (tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ)các phương tiện kỹ thuật dạy học, các phương tiện nghe nhìn (các loại phim giáo khoa, băng ghi hình…)
Hoạt động thực hành học tập và thực hành xã hội công ích của học sinh:
Hoạt động thực hành học tập là phương pháp giúp HS thu nhận trên kinh nghiệm thực tế bản thân những kiến thức khoa học, để hoàn thiện và phát triển chúng, là phương pháp để thu được kỹ năng, kỹ xảo thực hành sử dụng kiến thức Hoạt động thực hành của HS được thực hiện dưới hình thức làm thí nghiệm, hoàn thành các bài làm vẽ và viết, bài làm thực hành trong phòng thí nghiệm, xưởng
Trang 24trường, tự làm TBDH… Thực tiễn cũng chỉ ra rằng, công tác thực hành trong dạy học hóa học cần được tổ chức bằng nhiều hình thức và được tạo thành một hệ thống
từ thấp đến cao: từ bài tập, thí nghiệm, thực hành đồng loạt, thực hành cá nhân, thực hành trong phòng thí nghiệm, vườn trường… đến lao động sản xuất và hoạt động xã hội công ích
Con đường này có ý nghĩa to lớn để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra cho các trường học trong việc góp phần giáo dục kỹ thuật tổng hợp, giúp cho HS làm quen với việc kết hợp lý thuyết với thực tiễn, lao động chân tay với lao động trí óc,
có tác dụng thiết thực gắn liền nhà trường với sản xuất, đời sống và hoạt động xã hội, giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề cho học sinh
Để thực hiện con đường này cần trang bị cho nhà trường các phương tiện thục hành trong thí nghiệm, các tài liệu phân phát…
Hoạt động ngôn ngữ: Nhận thức thế giới xung quanh qua ngôn ngữ và ký
hiệu có nghĩa là sử dụng hệ thống tín hiệu thứ hai trong tư duy Ở đây không có sự tri giác trực tiếp các sự vật và hiện tượng của thế giới xung quanh HS có được những biểu tượng nhờ vào tưởng tượng, xuất phát từ sự trình bày bằng lời nói của
GV hoặc trình bày trong sách Để thực hiện con đường này, cần có sách vở, báo chí, biểu đồ, các phương tiện trực quan khác để kết hợp giữa lời nói và sử dụng các đồ dùng dạy học thích hợp
Hóa học có nhiệm vụ nghiên cứu chất, sự biến đổi giữa chất này sang chất khác và những hiện tượng kèm theo sự biến đổi ấy Vì vậy thí nghiệm hóa học là nhóm TBDH hóa học quan trọng nhất, giữ vai trò đặc biệt trong dạy và học hóa học
Mỗi nhóm TBDH hóa học và các phương tiện trực quan trong phòng thí nghiệm đáp ứng nội dung, yêu cầu của từng con đường và có những yêu cầu phù hợp
5/ Những yêu cầu của thiết bị dạy học hóa học
Việc xác định yêu cầu của TBDH hóa học còn nhiều ý kiến khác nhau Tại hội nghị chuyên đề về TBDH khoa học cho nhà trường của các nước Châu Á – hái Bình Dương đã đề ra những yêu cầu sau:
Trang 25Thiết bị dạy học là nhân tố không thể thiếu được của quá trình dạy học Để xây dựng, lựa chọn, sử dụng thiết bị dạy học có hiệu quả, chúng ta cần lưu ý một số yêu cầu đối với thiết bị dạy học:
- TBDH phải phù hợp với đối tượng: phải xem xét đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi để lựa chọn các mẫu TBDH cho hoạt động dạy học
- TBDH phải phù hợp với khả năng và đặc điểm tư duy của học sinh Trong quá trình học tập, học sinh thường gặp khó khăn ở vấn đề trừu tượng Đó là lúc cần đến sự hỗ trợ của TBDH để vấn đề phức tạp trở nên dễ hiểu, phù hợp với lứa tuổi và trình độ nhận thức của HS
- TBDH phải mang tính sư phạm: phải phù hợp với các yêu cầu về mặt sư phạm: độ rõ, kích thước, màu sắc, dễ sử dụng, phù hợp với tâm sinh lí người học
- TBDH phải mang tính khoa học: đó là mức độ chuẩn xác trong việc phản ánh hiện thực
- TBDH phải mang tính kinh tế: đơn giản tiết kiệm nguyên vật liệu, giá thành
hạ, tiết kiệm nhiên liệu, và năng lượng liên tục
Như vậy, thiết bị dạy học có thể đơn giản hay hiện đại nhưng qua sử dụng,
nó phải cho kết quả chính xác, khoa học, đảm bảo yêu cầu về mặt mỹ quan, sư phạm, an toàn và giá cả hợp lí tương xứng với hiệu quả mà nó mang lại
1.2.3 Thí nghiệm hóa học ở trường phổ thông [1], [2]
1/ Phân loại các loại thí nghiệm
Trong các trường phổ thông thường sử dụng các hình thức thí nghiệm sau đây:
a/ Thí nghiệm biểu diễn của giáo viên: là hình thức thí nghiệm do giáo viên
tự tay trình bày trước học sinh
b/ Thí nghiệm học sinh: do học sinh tự làm với các dạng sau:
bài học
- Thí nghiệm thực hành: ở lớp học nhằm củng cố kiến thức đã học và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo làm thí nghiệm, thường được tổ chức sau một số bài học
- Thí nghiệm ngoại khóa (ngoài lớp): như thí nghiệm vui trong các buổi vui
về hóa học như ngày lễ, hội vui,…
Trang 26- Thí nghiệm ở nhà: thí nghiệm đơn giản và dài ngày giao cho học sinh tự làm ở nhà
2/ Ý nghĩa tác dụng của thí nghiệm hóa học
Trong dạy học hóa học, thí nghiệm hóa học thường được sử dụng để chứng minh, minh họa cho những thông báo bằng lời nói của giáo viên về các kiến thức hóa học Thí nghiệm hóa học dùng để nghiên cứu tính chất các chất, hình thành các khái niệm hóa học Sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học hóa học được coi là tích cực khi thí nghiệm hóa học được dùng làm nguồn kiến thức để học sinh khai thác, tìm tòi kiến thức hoặc dùng làm minh chứng, kiểm tra những dự đoán, suy luận lý thuyết, hình thành khía niệm
Thí nghiệm hóa học có vai trò hết sức quan trọng và chúng không chỉ là phương tiện, công cụ lao động sư phạm của hoạt động dạy học mà giúp cho quá trình khám phá, lĩnh hội tri thức của học sinh trở nên sinh động hơn, nhẹ nhàng hơn
và đạt được hiệu quả cao hơn Vì những lí do sau đây:
- Giúp cho học sinh dễ hiểu bài, hiểu chính xác, hiểu sâu hơn, nhớ lâu hơn và vận dụng tốt các kiến thức hóa học
- Giúp nâng cao niềm tin của học sinh vào khoa học
- Giúp kích thích hứng thú học tập bộ môn, tạo đông cơ và thái độ học tập tích cực, đúng đắn
- Giúp phát triển tư duy học sinh
Ngoài ra thí nghiệm biểu diễn hóa học còn có những ưu điểm riêng:
- Hình thành những kỹ năng thí nghiệm đầu tiên cho học sinh một cách chính xác: động tác thí nghiệm của thầy khi biểu diễn thí nghiệm tác động trực tiếp đến các giác quan của học sinh, làm cho họ hiểu, ghi nhớ và nhờ vậy mà hình thành trong trí nhớ các em kỹ năng thí nghiệm chính xác
- Tiết kiệm được thời gian, hóa chất và dụng cụ: thao tác thí nghiệm của giáo viên đã trở thành kỹ xảo nên tốn ít thời gian Hóa chất giáo viên sử dụng đúng theo hướng dẫn kỹ thuật và với một bộ dụng cụ và hóa chất đem sử dụng, giúp cho học sinh cả lớp hiểu được vấn đề nghiên cứu
3/ Yêu cầu và phương pháp tiến hành thí nghiệm
Thí nghiệm giáo viên
Trang 27Trong khi tiến hành các thí nghiệm trên lớp, GV phải tuân thủ những yêu cầu sau đây:
+ Bảo đảm an toàn: đây là một yêu cầu quan trọng giáo viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về đảm bảo an toàn cho học sinh (và cho cả giáo viên) Muốn vậy, phải kiểm tra dụng cụ, hóa chất trước khi làm thí nghiệm; tuân thủ tất cả những quy định về bảo hiểm; nắm vững kĩ thuật thí nghiệm; làm đúng hướng dẫn, trau dồi kĩ năng thí nghiệm; luôn luôn cẩn thận, bình tĩnh, đề cao tinh thần trách nhiệm và hiểu được nguyên nhân của những trường hợp xảy ra nguy hiểm
+ Bảo đảm thành công: muốn bảo đảm thành công phải làm đúng kĩ thuật, các hóa chất đảm bảo chất lượng và nồng độ quy định, có kĩ năng thành thạo, phải chuẩn bị chu đáo và làm thử nhiều lần trước khi biểu diễn thí nghiệm trên lớp, trường hợp thí nghiệm không thành công cần bình tĩnh tìm nguyên nhân, tìm cách khắc phục rồi làm lại Nếu làm lại, thí nghiệm thành công thì sẽ không ảnh hưởng lòng tin của vào khoa học của học sinh
+ Thí nghiệm phải rõ, học sinh phải được quan sát đầy đủ: Khi biểu diễn thí nghiệm tất cả học sinh trong lớp phải quan sát được dấu hiệu bên ngoài của thí nghiệm Muốn vậy, giáo viên phải không được đứng che lấp thí nghiệm, kích thước dụng cụ và lượng hóa chất phải đủ lớn, bàn biểu diễn thí nghiệm phải có độ cao hợp
lí, ánh sáng tốt, có màu sắc thích hợp và thí nghiệm phải có hiện tượng quan sát được
+ Thí nghiệm phải đơn giản, dụng cụ thí nghiệm phải gọn gàng mĩ thuật và đảm bảo tính khoa học: muốn vậy các thí nghiệm được chọn làm thí nghiệm phải đơn giản về thiết bị, thời gian tiêu tốn ít (thường không quá 5 phút) Khi lắp dụng cụ thí nghiệm phải làm sao có được bộ dụng cụ vừa đẹp mắt, vừa đơn giản mà thuận lợi cho việc quan sát của học sinh, đảm bảo an toàn khi tiến hành thí nghiệm
+ Số lượng thí nghiệm trong một bài vừa phải: muốn vậy không nên làm nhiều thí nghiệm trong một tiết.Chỉ nên chọn những thí nghiệm phục vụ cho trọng tâm bài giảng, thể hiện tính chất đặc trưng của đối tượng nghiên cứu, nếu có thể có nhiều thí nghiệm cùng một loại thì chọn thí nghiệm nào đặc trưng, đại diện cho thể loại đó
Trang 28+ Phải biết kết hợp chặt chẽ thí nghiệm biểu diễn với trình bày bài giảng: đây là yêu cầu khó mang hai ý nghĩa lí luận và thực nghiệm, trong thực tế giảng dạy không ít giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu này Để kết hợp tốt thí nghiệm biểu diễn với trình bày bài giảng thì: trước khi biểu diễn giáo viên phải nói rõ mục đích của thí nghiệm, tác dụng của từng dụng cụ, chuẩn bị cho học sinh quan sát, định hướng cho học sinh quan sát những gì Trong khi biểu diễn phải luyện tập cho học sinh quan sát các hiện tượng xảy ra để họ nhận biết được các hiện tượng và đó là cơ
sở để họ giải thích được các hiện tượng và rút ra những kết luận khoa học của vấn
đề nghiên cứu
Trong thí nghiệm biểu diễn thì thí nghiệm là nguồn thông tin đối với học sinh, còn lời nói của giáo viên giữ vai trò hướng dẫn sự quan sát và chỉ đạo sự suy nghĩ của trò để đi đến kết luận đúng đắn hợp lí, qua đó họ lĩnh hội được kiến thức
Lí luận dạy học đã tổng kết được bốn hình thức kết hợp lời nói của thầy với biểu diễn thí nghiệm
Thí nghiệm của học sinh
Thí nghiệm nghiên cứu bài mới: khi học hóa học, HS được sử dụng dụng cụ thí nghiệm hóa chất để tự tay làm thí nghiệm, các em sẽ được làm quen với dụng cụ, hóa chất, tự điều khiển quá trình thí nghiệm của mình, quan sát, nghiên cứu và lĩnh hội tri thức Các em tự mình phối hợp các hoạt động trí óc với hoạt động chân tay, phối hợp các giai đoạn trong quá trình nhận thức khoa học Vì nó rèn luyện cho HS nhận thức và phân tích những dáu hiệu hiện tượng cụ thể bằng kinh nghiệm riêng của chính mình, và thu hút mọi khả năng của HS vào nhận thức đối tượng
Tổ chức cho HS làm thí nghiệm khi nghiên cứu tài liệu mới có thể cho toàn lớp cùng làm một thí nghiệm hoặc có thể cho từng nhóm HS thực hiện các thí nghiệm khác nhau Nếu tổ chức cho HS thực hiện thí nghiệm theo nhóm, GV cần có
sự tổ chức theo dõi các nhóm HS làm thí nghiệm, yêu cầu các em thay nhau làm thí nghiệm, không để chỉ một vài HS làm thí nghiệm biểu diễn trong nhóm
Thí nghiệm do HS làm có thể tiến hành theo phương pháp minh họa hoặc phương pháp nghiên cứu
Trang 29Thực tiễn chỉ ra rằng, thí nghiệm được tiến hành theo phương pháp nghiên cứu kích thích hoạt động tích cực của HS trong giờ hóa học hơn và tạo điều kiện phát triển kỹ năng làm việc độc lập của học sinh
Thí nghiệm thực hành: do HS tự làm khi hoàn thiện kiến thức nhằm ôn tập, củng cố, minh họa những kiến thức đã được học và để rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo thực hành Để thực hiện thành công thí nghiệm thực hành, HS được chuẩn bị trước
và ôn tập những nội dung kiến thức đã học
Giáo viên trên cơ sở điều kiện cơ sở vật chất (dụng cụ thí nghiệm, hóa chất ) xác định: nội dung thực hành thích hợp; chuẩn bị dụng cụ, hóa chất cần thiết; chuẩn bị các điều kiện khác như phòng thí nghiệm, bàn ghế…
Dự kiến cách tổ chức buổi thực hành, lường trước những khó khăn của HS
có thể gặp về thí nghiệm, về lý thuyết để có hướng giúp đỡ HS khắc phục
Để buổi thí nghiệm thực hành thành công, GV phải biết lựa chọn các thí nghiệm đơn giản , khả năng cho kết quả rõ ràng, dễ nhận biết; dụng cụ thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền, tiết kiệm hóa chất nhưng vẫn đảm bảo tính khoa học – sư phạm
Trình tự tổ chức buổi thực hành thường là:
Đầu giờ GV kiểm tra sự chuẩn bị các HS theo các yêu cầu mà GV đã thong báo trước
Giải thích ngắn gọn cacxhs tiến hành thí nghiệm, cách quan sát, ghi chép và
có thể lưu ý những vấn đề đặc biệt có thể xảy ra
Nhấn mạnh với HS những yêu cầu ngăn nắp, gọn gàng, an toàn, những qui tắc kỹ thuật trong khi làm TN
Hướng dẫn, và yêu cầu HS làm tường trình báo cáo kết quả TN Cuối buổi
TN thực hành nhất thiết GV phải yêu cầu HS thu dọn phòng TN, rửa sạch dụng cụ
TN, thu hồi bản chất theo đúng quy tắc trong phòng TN
Tổ chức được các giờ thực hành là rất quan trọng và hết sức cần thiết, trong chương trình hóa học phổ thông hiện hành đã qui định số tiết thực hành Nhưng với những nơi khó khăn về cơ sở vật chất đảm bảo thực hiện đầy đủ các tiết thực hành này rất khó đòi hỏi sự cố gắng rất lớn của người GV
Thí nghiệm ngoại khóa: gồm những TN ngoài lớp học thực hiện ở nhà trường dưới hình thức các tổ ngoại khóa hóa học, và các TN quan sát ở nhà
Trang 30Thí nghiệm ngoại khóa thực hiện ở trường bao gồm:
Thí nghiệm hóa học vui giúp HS hứng thú học tập và áp dụng những kiến thức đã học được vào thực tiễn Thí nghiệm hóa học vui hết sức phong phú, mỗi Gv biết tổ chức sẽ làm cho các em rất hứng thú và làm cho các buổi sinh hoạt ngoại khóa chuyên đề hóa học, các hội vui hóa học của HS them sinh động, hấp dẫn và có tác dụng gây tính tò mò khoa học của HS
Thí nghiệm thực hành và quan sát ở nhà:
Tiến hành thí nghiệm thực hành ở nhà cũng là một hình thức làm việc độc lập của HS, giúp HS tiếp thu một cách tự giác, hứng thú với môn hóa học Mặt khác góp phần phát triển tư duy, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo thực nghiệm và tạo điều kiện thiết lập mối quan hệ giữa các hiện tượng hóa học với thực tế cuộc sống hành ngày
1.3 Thực trạng sử dụng thí nghiệm hóa học và thiết bị dạy học ở các trường phổ thông hiện nay [1], [3]
Theo tư liệu kỷ yếu: Cùng với cơ sở vật chất trường,lớp học thì thí nghiệm
và thiết bị dạy học đầy đủ là một trong những điều kiện quyết định thành công của việc đổi mới phương pháp dạy học Sử dụng thiết bị dạy học sẽ tránh được tình trạng truyền thụ kiến thức một chiều, tạo động lực khuyến khích tư duy sáng tạo của đội ngũ giáo viên và học sinh, bồi dưỡng năng lực tự học, phát triển năng lực thực hành Có được các thiết bị dạy học thì người giáo viên sẽ phát huy hết năng lực sáng tạo của mình trong công tác giảng dạy, làm cho hoạt động nhận thức của học sinh trở nên nhẹ nhàng và hấp dẫn hơn Theo Bộ GD và ĐT công tác mua sắm trang
bị thiết bị dạy học những năm qua được ngành chú trọng Chỉ tính riêng trong năm học 2011-2012 nhiều địa phương trên cả nước đã đầu tư mua sắm bổ sung thiết bị dạy học tối thiểu, sách giáo khoa, sách giáo viên, tủ sách dùng chung, hóa chất,…với tổng kinh phí hơn 844 tỉ đồng Ngoài thiết bị dạy học tối thiểu theo danh mục qui định, nhiều nhà trường đã đầu tư các thiết bị hiện đại phục vụ tốt cho công tác đổi mới phương pháp dạy học của giáo dục
Ở nhiều trường đã trang bị, nâng cấp phòng thí nghiệm, mua thêm các trang thiết bị dạy học mới để thay thế cho các thiết bị đã bị hư hỏng, không sử dụng được Xây dựng danh mục thiết bị, tạo cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin giúp cho giáo viên sử dụng có hiệu quả vào dạy học Đa số giáo viên rất tâm huyết với nghề, có
Trang 31tinh thần trách nhiệm trong công việc, luôn đầu tư trăn trở, học hỏi kinh nghiệm về các thí nghiệm, về các mô hình, các tranh ảnh trong dạy học
Tuy nhiên, thực tế quá trình dạy và học trong hóa học cho thấy quá trình sử dụng còn nhiều bất cập:
- Khối lượng kiến thức quá nhiều trong khi thời gian lên lớp là rất hạn chế,
do vậy, việc làm thí nghiệm minh họa cũng bị hạn chế theo Ngoài ra với lượng kiến thức như vậy cũng dẫn đến cách dạy học nhồi nhét, lối truyền thụ thụ động, không tạo được cho học sinh năng lực tư duy độc lập sáng tạo
- Để dạy một bài có dùng thí nghiệm hóa học và các thiết bị dạy học sẽ vất
vả khi phải tự mình chuẩn bị với “lỉnh khỉnh” các đồ dùng, dụng cụ thí nghiệm, các
mô hình, tranh ảnh, Vì vậy, việc sử dụng thí nghiệm và thiết bị dạy học còn nhiều khó khăn
- Số lượng dụng cụ, thiết bị (dụng cụ thí nghiệm, máy vi tính, đèn chiếu, hóa chất, mô hình,…) phục vụ cho quá trình dạy học tương đối ít nên chỉ dùng trong tiết thao giảng, dự giờ, các tiết thực hành cũng bị hạn chế
- Một số giáo viên với tâm lý ngại làm thí nghiệm sẽ không thành công, sợ mất nhiều thời gian chuẩn bị trong giờ lên lớp vì hóa chất, dụng cụ và thời gian hạn chế nên chỉ sử dụng để đối phó khi cần
- Các hóa chất dùng trong thí nghiệm hóa học không được cung phát hằng năm nên đã cũ, cộng với chế độ bảo quản chưa tốt nên dễ bị biến chất dẫn đến thí nghiệm không thành công
- Một số ống nghiệm không đảm bảo chất lượng: chịu nhiệt kém, dễ vỡ trong các phản ứng tỏa nhiệt gây nguy hiểm cho giáo viên và học sinh
- Thực tế cho thấy, kiến thức, kỹ năng về công nghệ thông tin ở một số giáo viên còn hạn chế, chưa vượt đủ ngưỡng để đam mê và sáng tạo; thậm chí còn né tránh nên mức độ ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy trong nhà trường chưa cao, chưa rộng rãi và chưa thể trở thành một hệ thống đồng bộ trong môi trường giáo dục hiện nay
- Các thiết bị trực quan nghe nhìn như mô hình các nguyên tử, phân tử, mô hình khám phá ra hạt nhân nguyên tử, sự xen phủ trục và xen phủ bên,… ít được đưa vào sử dụng trong các bài lên lớp
Trang 32- Trong nhiều trường phổ thông chưa có cán bộ chuyên trách việc chuẩn bị thí nghiệm
1.4 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học hóa học
1.4.1 Về phía học sinh
- Phát huy tính chủ động tích cực, sáng tạo tư duy của học sinh
- Phương pháp dạy học truyền thống chú ý đến giáo viên ít chú ý đến học
sinh Học sinh học một cách thụ động
kiến thức, chưa mạnh dạn trong phát biểu xây dựng bài, chưa có phương pháp học tập thích hợp
- Thiếu động lực học tập, ỷ lại hoặc có quan niệm học để có công ăn việc làm
1.4.2 Về phía thầy cô
- Các phương pháp dạy học được sử dụng trong giờ hoá học chưa thể hiện được phương pháp nhận thức khoa học bộ môn
- Do lượng kiến thức truyền tải đến học sinh ngày một nhiều
1.4.3 Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 11 phần nói về giáo dục và đào tạo như sau:
Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận sôi nổi và cho nhiều ý kiến về Đề
án "Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" Trung ương nhận thấy, sau 16 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, nguồn lực có hạn, với sự cố gắng, nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, đặc biệt là của đội ngũ nhà giáo, sự nghiệp giáo dục và đào tạo của nước ta đã thu được những kết quả, thành tựu rất có
ý nghĩa trong việc thực hiện sứ mệnh nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Tuy nhiên, đến nay giáo dục và đào tạo nước ta vẫn chưa thực sự trở thành quốc sách hàng đầu, động lực quan trọng nhất cho phát triển; thậm chí còn không ít hạn chế, yếu kém, nhất là về chất lượng giáo dục - đào tạo; công tác quản
lý và cơ chế tạo nguồn lực và động lực cho phát triển Để có thể cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, nước ta đang đứng trước
Trang 33yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh dựa nhiều hơn vào yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) và kinh tế tri thức Sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong thời đại toàn cầu hoá, phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ đòi hỏi và cũng tạo điều kiện để nước ta đẩy mạnh toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao Những kết quả, thành tựu đã đạt được về quy mô, nguồn nhân lực và cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có cũng cho phép chúng ta chuyển sang giai đoạn phát triển mới, cao hơn về chất Đó chính là lý do giải thích vì sao Đại hội XI của Đảng đề ra chủ trương phải đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo
Trung ương yêu cầu phải đổi mới từ nhận thức tư duy, mục tiêu đào tạo, hệ thống tổ chức, loại hình giáo dục và đào tạo, nội dung và phương pháp dạy và học đến cơ chế vận hành, cơ chế quản lý, xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý,
cơ sở vật chất, nguồn lực, điều kiện bảo đảm thực hiện đổi mới toàn bộ hệ thống giáo dục, bao gồm giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục đại học, đào tạo nghề Đây là những vấn đề hết sức lớn lao, hệ trọng và phức tạp, còn nhiều ý kiến khác nhau, cần phải tiếp tục nghiên cứu, tổng kết, bàn bạc một cách thấu đáo, cẩn trọng, tạo sự thống nhất cao để ban hành Nghị quyết vào thời gian thích hợp Trước mắt, cần tiếp tục quán triệt các quan điểm, chủ trương của Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, Kết luận Hội nghị Trung ương 6 khoá IX và các kết luận, quyết định của Bộ Chính trị, chỉ đạo triển khai thực hiện thật tốt chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo từ nay đến năm 2020 theo Kết luận của Hội nghị lần này
Trang 34CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM HÓA HỌC
VÀ THIẾT BỊ DẠY HỌC ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC CHƯƠNG TRÌNH HÓA VÔ CƠ LỚP 12 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
2.1 Những vấn đề cơ bản của chương trình hóa vô cơ lớp 12 ở trung hoc phổ thông [9]
2.1.1 Vị trí và nhiệm vụ của chương trình hóa vô cơ lớp 12
Chương trình hóa vô cơ 12 nằm ở học kỳ II của lớp 12
Phần hóa học vô cơ lớp 12 ban khoa học tự nhiên có nhiệm vụ phát triển và hoàn chỉnh những kiến thức hóa học vô cơ ở cấp THCS và lớp 10, 11 THPT trên cơ
sở lí thuyết chủ đạo của chương trình Nội dung kiến thức phần vô cơ lớp 12 ban khoa học tự nhiên có thể chia thành hai phần như sau:
- Phần đại cương về kim loại, gồm các kiến thức chung về kim loại như: tính chất vật lí và hóa học chung của kim loại và hợp kim, sự ăn mòn kim loại và điều chế kim loại…
- Phần các kim loại cụ thể: phần này chủ yếu đi sâu vào tìm hiểu một số kim loại cụ thể quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân
Như vậy nội dung của phần thứ nhất mang tính định hướng giúp học sinh có cái nhìn khái quát về kim loại, có sự kết hợp với lí thuyết chủ đạo của chương trình
để đi sâu nghiên cứu một số kim loại cụ thể có nhiều ứng dụng trong thực tiễn
2.1.2 Nội dung và cấu trúc của chương trình hóa vô cơ lớp 12 ở trung học phổ thông
- Các bài học ở chương 5 trang bị thêm một số lí thuyết chủ đạo để nghiên cứu về kim loại và một số hợp chất của chúng Đó là vấn đề điện hóa: Dãy điện hóa của kim loại, thế điện cực chuẩn của kim loại, phản ứng hóa học trong pin điện hóa, trong ăn mòn kim loại và trong điện phân Chương 6,7 dạy về các kim loại cụ thể và một số hợp chất quan trọng của chúng Nội dung 2 chương này được thiết kế theo cấu trúc: Vị trí, cấu tạo → Tính chất → Điều chế, ứng dụng Chương 8 dạy về cách nhận biết các cation và anion trong dung dịch, chuẩn độ dung dịch
Cấu trúc chương trình hóa vô cơ lớp 12 ở trường trung học phổ thông gồm
có 4 chương:
Trang 35Chương 5: Đại cương về kim loại
+ Bài 19: Kim loại và hợp kim
+ Bài 20: Dãy điện hóa của kim loại
+ Bài 21: Luyện tập: Tính chất của kim loại
+ Bài 22: Sự điện phân
+ Bài 23: Sự ăn mòn của kim loại
+ Bài 24: Điều chế kim loại
+ Bài 25: Luyện tập: Sự điện phân – Sự ăn mòn kim loại – Điều chế kim loại
+ Bài 26: Bài thực hành 3: Dãy điện hóa của kim loại Điều chế kim loại + Bài 27: Bài thực hành 4: Ăn mòn kim loại Chống ăn mòn kim loại
Chương 6: Kim loại kiềm – Kim loại kiềm thổ - Nhôm
+ Bài 28: Kim loại kiềm
+ Bài 29: Một số hợp chất quan trọng của kim loại kiềm
+ Bài 30: Kim loại kiềm thổ
+ Bài 31: Một số hợp chất quan trọng của kim loại kiềm thổ
+ Bài 32: Luyện tập: Tính chất của kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ
+ Bài 33: Nhôm
+ Bài 34: Một số hợp chất quan trọng của nhôm
+ Bài 35: Luyện tập: Tính chất của nhôm và hợp chất của nhôm
+ Bài 36: Bài thực hành 5: Tính chất của kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ và hợp chất của chúng
+ Bài 37: Bài thực hành 6: Tính chất của nhôm và hợp chất của nhôm
Trang 36+ Bài 45: Luyện tập: Tính chất của crom, sắt và những hợp chất của chúng + Bài 46: Luyện tập: Tính chất của đồng và hợp chất của đồng Sơ lược về các kim loại Ag, Au, Ni, Sn, Pb
+ Bài thực hành 7: Tính chất hóa học của crom, sắt, đồng và những hợp chất của chúng
Chương 8: Phân biệt một số chất chất vô cơ Chuẩn độ dung dịch
+ Bài 48: Nhận biết một số cation trong dunh dịch
+ Bài 49: Nhận biết một số anion trong dung dịch
+ Bài 50: Nhận biết một số chất khí
+ Bài 51: Chuẩn độ axit – bazơ
+ Bài 52: Chuẩn độ oxi hóa – khử bằng phương pháp pemanganat
+ Bài 53: Luyện tập: Nhận biết một số chất vô cơ
+ Bài 54: Bài thực hành 8: Nhận biết một số ion trong dung dịch
+ Bài 55: Bài thực hành 9: Chuẩn độ dung dịch
Mục tiêu của phần hóa học vô cơ 12 ban khoa học tự nhiên:
Chương 5: Đại cương về kim loại
1 Về kiến thức:
a- Học sinh cần biết:
- Vị trí các kim loại trong hệ thống tuần hoàn
- Cấu tạo và liên kết trong tinh thể các kim loại
- Các tính chất vật lý quan trọng của kim loại
- Tính chất hoá học chủ yếu của kim loại (tính khử) và biểu hiện của tính
muối, với dung dịch axit…
- Dãy hoạt động hoá học của kim loại và chiều diễn biến của các phản ứng oxi hoá khử
b- Học sinh cần hiểu:
- Nguyên nhân dẫn đến các tính chất vật lý của kim loại và hợp kim như: ánh kim, tính dẻo, tính dẫn điện, dẫn nhiệt, tính cứng, nhiệt độ nóng chảy, tỉ khối
- Vì sao kim loại có tính khử
Trang 37- Cơ sở khoa học của việc xây dựng dãy hoạt động hoá học của các kim loại
- Nguyên nhân và chiều hướng diễn biến của các phản ứng oxi hoá khử
- Vì sao các kim loại bị ăn mòn và bảo vệ chúng như thế nào
- Tại sao các kim loại khác nhau phải có phương pháp điều chế khác nhau
c Học sinh vận dụng:
- Từ đặc điểm cấu tạo và liên kết trong tinh thể kim loại và hợp kim để so sánh, giải thích sự biến đổi các tính chất vật lý, hoá học của kim loại , hợp kim
- Sử dụng thế điện cực để xét đoán chiều phản ứng, tính hằng số cân bằng của phản ứng, hiểu được cấu tạo, nguyên tắc hoạt động của pin, acquy
- Nắm được bản chất, điều kiện, cơ chế của các dạng ăn mòn kim loại và các biện pháp bảo vệ chống ăn mòn kim loại
- Nắm được nguyên tắc chung điều chế kim loại và các phương pháp điều chế thích hợp cho các nhóm kim loại có tính khử khác nhau
2 Về kĩ năng:
- Kĩ năng giải các bài tập có liên quan đến thế điện cực như: so sánh các cặp oxi hoá khử, dự doán chiều và khả năng diễn biến của các phản ứng oxi hoá khử, ảnh hưởng của nồng độ đến thế điện cực, tính suất điện động của pin
- Kĩ năng viết các phương trình phản ứng ôxi hoá khử xảy ra trong pin, trong quá trình điện phân, trong các quá trình ăn mòn
- Kĩ năng giải các bài tập định lượng liên quan đến nồng độ, lượng chất tham gia, tạo thành sau phản ứng, điện phân…
- Kĩ năng giải các bài tập định tính: viết các phương trình phản ứng xảy ra trong các pin, trong quá trình điện phân, ăn mòn, các bài tập có liên quan đến giải thích các hiện tượng trong thực nghiệm
Trang 38- Vị trí, cấu hình electron trong nguyên tử, ứng dụng của kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm và một số hợp chất quan trọng của chúng
- Tác hại của nước cứng và các biện pháp làm mềm nước
b- Học sinh cần hiểu:
- Tính chất của kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm
- Tính chất hoá học của một số hợp chất của natri, canxi, nhôm
- Phương pháp điều chế kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm
- Khái niệm nước cứng, nước có tính cứng tạm thời, nước có tính cứng vĩnh cửu
c- Học sinh vận dụng:
2 Về kĩ năng:
- Biết tìm hiểu tính chất chung của nhóm nguyên tố theo quy trình: Dự đoán tính chất → Kiểm tra dự đoán → Rút ra kết luận
- Viết các PTHH biểu diễn tính chất hoá học của chất
- Suy đoán và viết được các PTHH biểu diễn tính chất hoá học của một số hợp chất quan trọng của natri, canxi, nhôm trên cơ sở tính chất chung của các loại hợp chất vô cơ đã biết
- Thiết lập được mối liên hệ giữa tính chất của các chất và ứng dụng của chúng
a- Học sinh cần biết:
- Cấu tạo nguyên tử, vị trí của kim loại chuyển tiếp trong bảng tuần hoàn
- Cấu tạo đơn chất của một số kim loại chuyển tiếp
b- Học sinh cần hiểu:
- Sự xuất hiện các trạng thái ôxi hoá
- Tính chất lí hoá học của một số đơn chất và hợp chất
- Sản xuất và ứng dụng của một số kim loại chuyển tiếp quan trọng
Trang 39c- Học sinh vận dụng:
- Biết yêu quý thiên nhiên và bảo vệ tài nguyên, khoáng sản
- Có ý thức vận dụng những kiến thức hoá học để khai thác, gìn giữ và bảo
vệ môi trường
Chương 8: Phân biệt một số chất vô cơ Chuẩn độ dung dịch
1/ Về kiến thức
a/ Học sinh cần biết:
- Biết phản ứng nhận biết một số cation và anion trong dung dịch
- Biết phản ứng tạo sản phẩm đặc trưng để nhận biết một số chất khí vô cơ
- Biết sự chuẩn độ, nguyên tắc của phương pháp chuẩn độ axit – bazơ, từ đó hiểu được mốt số ứng dụng của nó
b/ Học sinh cần hiểu:
- Hiểu cách nhận biết một số cation và anion, vô cơ trong dung dịch và cách nhận biết một số chất khí vô cơ
- Hiểu nguyên tắc của phương pháp chuẩn độ axit – bazơ và chuẩn độ oxi hóa – khử
c/ Học sinh vận dụng:
2/ Về kỹ năng:
Trang 40- Có thái độ học tập đúng đắng, say mê nghiên cứu khoa học
2.2 Sử dụng thí nghiệm hóa học và thiết bị dạy học góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn hóa học trong trường trung học phổ thông [2]
2.2.1 Tính cấp thiết của việc đổi mới PPDH hóa học trong trường trung học phổ thông
Từ thực trạng trang bị sử dụng TBDH và thí nghiệm hóa học ở trường phổ thông hiện nay như đã trình bày trong chương 1 Với tình hình trên đòi hỏi phải có những biện pháp mạnh mẽ, đồng bộ, nhằm khắc phục những nhược điểm thiếu sót, góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường phổ thông
Theo những nhà nghiên cứu đã đề xuất phương hướng đổi mới PPDH hóa học ở trường phổ thông là: các PPDH hóa học phải thể hiện được phương pháp nhận thức khoa học hóa học là thực nghiệm, tận dụng khai thác đặc thù môn hóa học tạo ra các hoạt động của HS một cách đa dạng phong phú Do đó, phải tăng cường sử dụng các thí nghiệm và phương tiện trực quan Khi sử dụng các thí nghiệm và phương tiện trực quan phải dạy cho HS biết tự nghiên cứu và tự học
Thí nghiệm hóa học sẽ góp phần hết sức quan trọng trong việc giúp GV chủ động thay đổi cách thức tổ chức hoạt động của thầy và trò, nhằm phát huy tính tích cực của HS nâng cao chất lượng dạy học môn hóa học trong các trường phổ thông
2.2.2 Đổi mới phương pháp dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông
1/ Những yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học hóa học
Để đáp ứng đòi hỏi mới của xã hội, mục tiêu của giáo dục trong giai đoạn hiện nay cũng thay đổi Sự thay đổi về mục tiêu đào tạo tác động đến nội dung và PPDH Đáp ứng đòi hỏi đó, PPDH hóa học cũng phải thay đổi để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn
Tư tưởng cơ bản đổi mới PPDH bộ môn là tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS
Tóm tắt những yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học:
- Đổi mới hình thức dạy học trên lớp: Hình thức dạy học không chỉ đơn giản như hiện nay mà trở nên đa dạng, phong phú hơn Hoạt động cá nhân, theo nhóm, giữa các nhóm và toàn lớp… trong đó cá nhân HS tăng cường hoạt động tích cực, độc lập