Giả thuyết khoa học Công tác phát triển chương trình đào tạo hiện nay của nhà trường chưa được toàn diện, chưa đáp ứng triệt để được các bước của chu trình phát triển chương trình đào t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN THỊ HẠNH NGUYÊN
QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
HỮU NGHỊ VIỆT - HÀN
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Đà Nẵng - Năm 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN THỊ HẠNH NGUYÊN
QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của Luận văn: “Quản lý phát triển Chương trình
đào tạo ngành Công nghệ thông tin tại Trường Cao đẳng Công nghệ thông tin Hữu nghị Việt - Hàn” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố
cho tới thời điểm này
Đà Nẵng, ngày tháng năm
Tác giả
Trần Thị Hạnh Nguyên
Trang 4TRANG THÔNG TIN LUẬN VĂN Tên đề tài: Quản lý phát triển chương trình đào tạo ngành Công nghệ thông tin tại Trường cao đẳng Công nghệ thông tin Hữu nghị Việt – Hàn
Ngành đào tạo: Quản lý giáo dục
Họ và tên học viên: Trần Thị Hạnh Nguyên
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng
TÓM TẮT:
1 Những kết quả chính của luận văn
Luận văn đề cập có hệ thống cơ sở lý luận về phát triển chương trình đào tạo và quản lý phát triển chương trình đào tạo ngành Công nghệ thông tin tại Trường cao đẳng Công nghệ thông tin Hữu nghị Việt – Hàn
Luận văn khảo sát thực trạng công tác quản lý phát triển chương trình đào tạo ngành Công nghệ thông tin tại Trường cao đẳng Công nghệ thông tin Hữu nghị Việt – Hàn từ năm 2015 đến nay
Từ cơ sở lý luận và khảo sát thực trạng, nội dung luận văn đề ra các giải pháp quản lý phát triển chương trình đào tạo trong thời gian tới
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn nêu rõ hệ thống cơ sở lý luận về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý và phát triển chương trình đào tạo Đồng thời, cũng làm rõ vị trí, vai trò của chương trình đào tạo trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin cho khu vực miền Trung – Tây Nguyên Ngoài ra, luận văn cũng mô tả được những yếu tố tác động đến công tác quản lý phát triển chương trình
3 Hướng nghiên cứu tiếp theo
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể áp dụng trong quản lý phát triển chương trình đào tạo ngành Công nghệ thông tin tại Trường cao đẳng Công nghệ thông tin Hữu nghị Việt – Hàn Sau đó triển khai và theo dõi kết quả phản hồi để đánh giá hiệu quả ứng dụng của luận văn trong thực tiễn quản lý nhằm mục đích cho việc nghiên cứu sâu hơn và áp dụng rộng hơn
4 Từ khóa: Quản lý phát triển chươnSg trình đào tạo, phát triển chương trình
đào tạo, trường cao đẳng Công nghệ thông tin Hữu nghị Việt – Hàn
Xác nhận của cán bộ hướng dẫn Người thực hiện
PGS.TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh Trần Thị Hạnh Nguyên
Trang 5DEVELOP THE INFORMATION TECHNOLOGY TRAINING
PROGRAM AT KOREA – VIETNAM FRIENDSHIP
INFORMATION TECHNOLOGY COLLEGE
Major: Education Management
Student’s name: Tran Thi Hanh Nguyen
Supervisor’s name: Assoc Prof Nguyen Bao Hoang Thanh
Institution: The University of Danang – University of Science and Education
Abstract:
1 Main results:
This thesis contains a theoretical basis addressing the development of the curriculum and management of the development of the information technology training program
at the Korea - Vietnam Friendship Information Technology College
Masters thesis centers around the status of management development of information technology training program at the Korea - Vietnam Friendship Technology Information College from 2015 to the present
From the theoretical basis and the reality survey the content of the dissertation proposes management solutions to develop the training program for the forceable future
2 The scientific and practical significance of this thesis
The dissertation clearly states the basic system of theories on management of education and development of training programs At the same time also clarifies the role of training programs in the training of human resources in information technology for the Vietnam Central Highlands In addition the thesis also clarifies the factors that influence the management of program development
3 Research: Research results of the topic may be applied in the management and
development of information technology training programs at the Korea - Vietnam Friendship Information Technology College Also implement and monitor feedback to evaluate the applicability of the thesis in management practice for the purpose of further research and wider application
4 Key words: Development, management, training programs, development of training
programs, Korea - Vietnam Friendship Technology Information College
Supervisor’s confirmation Student
Assoc.Pro Dr Nguyen Bao Hoang Thanh Tran Thi Hanh Nguyen
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập, nghiên cứu tại Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng và để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của quý thầy, cô giáo, được sự quan tâm tạo điều kiện của cơ quan, sự động viên, giúp đỡ nhiệt tình của đồng nghiệp, bạn bè và gia đình
Do vậy, với lòng biết ơn chân thành nhất, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng cùng các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh, người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học, nhiệt tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ, động viên, giúp đỡ của Ban giám hiệu Trường cao đẳng Công nghệ thông tin Hữu nghị Việt – Hàn cũng như các đồng nghiệp, gia đình và người thân đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn này
Trong quá trình thực hiện, bản thân đã cố gắng tuy nhiên không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Với mong muốn luận văn góp phần vào sự phát triển, đổi mới công tác quản lý phát triển chương trình đào tạo của Trường cao đẳng Công nghệ thông tin Hữu nghị Việt – Hàn, kính mong các thầy giáo, cô giáo và các bạn quan tâm góp ý để luận văn hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, ngày tháng năm 2019
Tác giả
Trần Thị Hạnh Nguyên
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Cấu trúc của luận văn 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG NGHỀ 6
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1 Phát triển chương trình đào tạo trình độ cao đẳng nghề tại một số quốc gia6 1.1.2 Phát triển chương trình đào tạo trình độ cao đẳng ở Việt Nam 8
1.2 Các khái niệm chính của đề tài 9
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 9
1.2.2 Ngành, chuyên ngành đào tạo 11
1.2.3 Chương trình đào tạo 12
1.2.4 Phát triển chương trình đào tạo 14
1.2.5 Quản lý phát triển chương trình đào tạo 15
1.3 Vai trò cơ bản của chương trình đào tạo 15
1.4 Cách tiếp cận phát triển chương trình đào tạo nghề 16
1.4.1 Cách tiếp cận theo nội dung 16
1.4.2 Cách tiếp cận theo mục tiêu 17
1.4.3 Cách tiếp cận theo phát triển 18
1.4.4 Cách tiếp cận năng lực 19
1.5 Phân loại chương trình đào tạo 19
1.5.1 Phân loại dựa trên cấp độ tổ chức 19
1.5.2 Phân loại dựa trên cách tiếp cận 20
1.6 Chu trình phát triển chương trình đào tạo 22
1.6.1 Chu trình phát triển CTĐT trong đào tạo POHE 22
1.6.2 Chu trình phát triển CTĐT được sử dụng để nghiên cứu 24
1.6.3 Cách triển khai chu trình phát triển chương trình đào tạo 24
1.7 Quản lý phát triển chương trình đào tạo 29
1.7.1 Quản lý việc phân tích nhu cầu phát triển chương trình đào tạo 29
1.7.2 Quản lý việc xác định mục đích, mục tiêu của chương trình đào tạo 29
1.7.3 Quản lý việc thiết kế chương trình đào tạo 30
1.7.4 Quản lý việc thực thi chương trình đào tạo 31
1.7.5 Quản lý việc đánh giá chương trình đào tạo 31
Trang 81.9 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý phát triển chương trình đào tạo 33
1.9.1 Dân số và lực lượng lao động 33
1.9.2 Nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực của xã hội 34
Tiểu kết Chương 1 35
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN HỮU NGHỊ VIỆT - HÀN 36
2.1 Giới thiệu về Trường 36
2.1.1 Lịch sử hình thành 36
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy 37
2.1.3 Quy mô, ngành nghề đào tạo 37
2.1.4 Chiến lược phát triển chương trình đào tạo của Trường đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030 39
2.1.5 Mô hình phát triển chương trình đào tạo của Trường 41
2.1.6 Quản lý việc đánh giá chương trình đào tạo của Trường 41
2.2 Khái quát quá trình điều tra khảo sát 42
2.2.1 Mục tiêu khảo sát 42
2.2.2 Đối tượng khảo sát 42
2.2.3 Nội dung khảo sát 42
2.2.4 Tổ chức khảo sát 42
2.3 Thực trạng phát triển chương trình đào tạo ngành Công nghệ thông tin 43
2.3.1 Thực trạng việc phân tích nhu cầu đào tạo ngành Công nghệ thông tin 43
2.3.2 Thực trạng việc xác định mục đích, mục tiêu của chương trình đào tạo 53
2.3.3 Thực trạng việc thiết kế chương trình đào tạo 58
2.3.4 Thực trạng việc thẩm định, triển khai, thực hiện chương trình 59
2.3.5 Thực trạng việc đánh giá chương trình đào tạo 60
2.4 Thực trạng quản lý phát triển chương trình đào tạo ngành Công nghệ thông tin 62
2.4.1 Quản lý việc phân tích nhu cầu phát triển chương trình đào tạo ngành CNTT 63
2.4.2 Quản lý việc xác định mục đích, mục tiêu của chương trình đào tạo ngành CNTT của Trường 65
2.4.3 Quản lý việc thiết kế chương trình đào tạo 67
2.4.4 Quản lý việc thực thi chương trình đào tạo 68
2.4.5 Quản lý việc đánh giá chương trình đào tạo 69
2.5 Đánh giá chung 70
2.5.1 Điểm mạnh 71
2.5.2 Điểm yếu 71
2.5.3 Nguyên nhân 71
Trang 9CHƯƠNG 3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN HỮU NGHỊ VIỆT - HÀN 73
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý phát triển chương trình đào tạo ngành Công nghệ thông tin tại Trường 73
3.1.1 Nguyên tắc bám sát định hướng phát triển chương trình đào tạo ngành Công nghệ thông tin trình độ Cao đẳng 73
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo định hướng phát triển của Bộ và của Trường 73
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 74
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 74
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 74
3.2 Các biện pháp quản lý phát triển chương trình đào tạo ngành Công nghệ thông tin tại trường 75
3.2.1 Biện pháp 1: Thành lập các nhóm chuyên trách/ tổ biên soạn chương trình đào tạo ngành Công nghệ thông tin theo hướng chuyên sâu 75
3.2.2 Biện pháp 2: Xây dựng lộ trình phát triển chương trình đào tạo cho ngành CNTT trong đó có thể có kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn 77
3.2.3 Biện pháp 3: Hoàn thiện hệ thống văn bản quy định về phát triển chương trình đào tạo chung cho toàn trường trong đó có quy định riêng cho phát triển CTĐT ngành CNTT 79
3.2.4 Biện pháp 4: Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý và hệ thống thông tin quản lý phát triển chương trình đào tạo ngành Công nghệ thông tin 79
3.2.5 Biện pháp 5: Tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp trong công tác phát triển chương trình đào tạo cho ngành Công nghệ thông tin 82
3.3 Mối liên hệ giữa các biện pháp được đề xuất 83
3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 84
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 84
3.4.2 Đối tượng khảo nghiệm 84
3.4.3 Nội dung khảo nghiệm 84
3.4.4 Phương pháp khảo nghiệm 84
3.4.5 Kết quả khảo nghiệm 85
Xây dựng lộ trình phát triển chương trình đào tạo cho ngành CNTT trong đó có thể có kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn 87
Hoàn thiện hệ thống văn bản quy định về phát triển chương trình đào tạo chung cho toàn trường và quy định riêng cho phát triển CTĐT ngành CNTT 87
Tiểu kết Chương 3 89
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90 PHỤ LỤC PL1
Trang 10DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTTTT : Bộ Thông tin và Truyền thông
CBHD : Cán bộ hướng dẫn
CBQL : Cán bộ quản lý
CLĐT : Chất lượng đào tạo
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
CTĐT : Chương trình đào tạo
CNTT : Công nghệ thông tin
CNTT-TT : Công nghệ thông tin và Truyền thông
DN : Doanh nghiệp
GDNN : Giáo dục nghề nghiệp
HSSV : Học sinh - Sinh viên
KH-KT&CN : Khoa học – kỹ thuật và công nghệ
KNN : Kỹ năng nghề
KT-XH : Kinh tế - Xã hội
LĐ-TBXH : Lao động - Thương binh và Xã hội
NCXH : Nhu cầu xã hội
TĐCĐ : Trình độ Cao đẳng
TLTK : Tài liệu tham khảo
TTLĐ : Thị trường lao động
Trang 112.3 Danh mục thiết bị đào tạo cho ngành CNTT 51
2.5 Thực trạng hoạt động giảng dạy của giảng viên 60
2.10 Đánh giá công tác quản lý phát triển CTĐT tại trường so
với yêu cầu của Bộ về thiết kế chương trình 672.11 Đánh giá việc thực thi chương trình đào tạo 682.12 Đánh giá việc đánh giá chương trình đào tạo 693.1 Kết quả khảo sát về tính cấp thiết và tính khả thi của các
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Số hiệu hình và
biểu đồ Tên hình và biểu đồ Trang
1.4 Chu trình phát triển chương trình đào tạo 242.1 Sơ đồ Hệ thống tổ chức quản lý của Trường 372.2 Kết quả tuyển sinh, tốt nghiệp nghề CNTT (giai đoạn
3.3 Biểu đồ mô tả tính cấp thiết của các biện pháp 863.4 Biểu đồ mô tả tính khả thi của các biện pháp 86
Trang 13ràng, để đạt được mục tiêu phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ cần tới nỗ lực của toàn hệ thống giáo dục mà còn cần tới một
sự hợp tác chặt chẽ và toàn diện giữa các cơ sở giáo dục và giới doanh nghiệp nhằm đem lại lợi ích thiết thực cho cả hai bên và đóng góp cho sự phát triển KT-XH của địa phương và quốc gia Những định hướng đó của Nhà nước sẽ thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp ở nước ta
Hệ thống giáo dục của một quốc gia là đối tượng chịu sự điều chỉnh, thay đổi không ngừng của Chính phủ, sự chuyển dịch và phát triển của nền kinh tế và nhu cầu học tập của xã hội Đối với nước ta, nền giáo dục cũng không nằm ngoài quy luật đó; mặc dù đã đạt được một vài thành tựu đáng kể sau một chặng đường dài phát triển, nhưng bên cạnh đó hệ thống giáo dục nước ta đang tỏ ra yếu kém và không theo kịp nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao của nền kinh tế Đảng và Chính phủ đã nhận thức sâu sắc nhu cầu cần phải đổi mới của hệ thống giáo dục nước nhà, tại Nghị
quyết 14/2005/NQ–CP của Chính phủ ban hành ngày 02/11/2005 chỉ rõ “Phương pháp dạy/học lạc hậu với khối lượng học tập nặng về kiến thức, coi nhẹ phương pháp học tập, rèn luyện kỹ năng và thái độ” làm cho chất lượng đào tạo thấp và nới rộng khoảng
cách giữa những gì mà thị trường lao động cần và các cơ sở đào tạo có thể cung cấp; kết quả là các cơ sở sử dụng lao động phải đào tạo lại hoặc đào tạo tại chỗ sinh viên mới tốt nghiệp sau khi được tuyển dụng
Sự hội nhập và chịu ảnh hưởng ngày càng sâu sắc của quá trình toàn cầu hóa, nền kinh tế nước ta đang chuyển dịch và có những bước thay đổi to lớn đối với nhu cầu về nguồn nhân lực có kỹ năng Tuy nhiên, trước bối cảnh gia tăng nhanh về quy mô đào tạo nhưng chất lượng đào tạo lại không theo kịp nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp đã làm cho một bộ phận không nhỏ sinh viên ra trường khó tiếp cận được TTLĐ Trước tình hình đó, Đảng và Chính phủ tiếp tục đòi hỏi hệ thống giáo dục cần phải đổi mới mạnh mẽ và toàn diện hơn, do đó Nghị quyết 29–NQ/TW ngày 04/01/2013 đã ra đời, trong đó nêu rõ:“Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp Hệ thống giáo
Trang 14dục và đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của TTLĐ; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kĩ năng làm việc Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất ” Qua đó có thể phần nào thấy được
những điểm yếu cố hữu của hệ thống giáo dục đại học nước ta
Nghị quyết 29–NQ/TW cũng nêu rõ mục tiêu đổi mới hướng tới là “ Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hoà đức, trí, thể, mĩ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn” Mục tiêu của đổi mới là tạo chuyển biến căn bản, mạnh
mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực Trong đó, đối với giáo dục nghề nghiệp, tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều phương thức và trình độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ của TTLĐ trong nước và quốc tế
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 (Quyết định số 711/QĐ-TTg
ngày 13/6/2012) đặc biệt nhấn mạnh tập trung đổi mới: “Mục tiêu, nội dung, phương pháp” mà vấn đề cốt lõi của nội dung ở đây là đề cập đến CTĐT Do vậy, các
Trường cần đổi mới CTĐT theo hướng đa dạng hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa có tiếp thu chọn lọc những CTĐT tiên tiến của các nước phát triển, phù hợp với thực tế phát triển của Quốc gia Chương trình phải đảm bảo được tính liên thông (dọc, ngang), được kế thừa và phát triển
Chất lượng đào tạo phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố trong đó có chương trình đào tạo (CTĐT) CTĐT vừa là công cụ, vừa là thước đo trình độ phát triển kinh tế - xã hội
và khoa học – kỹ thuật của mỗi quốc gia cũng như của mỗi nhà trường Chất lượng giáo dục của nhà trường có đạt tiêu chuẩn, đáp ứng yêu cầu của xã hội, hay có đạt chuẩn so với yêu cầu của các trường trong khu vực, của quốc tế hay không tùy thuộc phần lớn vào chất lượng CTĐT của nhà trường Việc phát triển CTĐT theo hướng tiếp cận năng lực là xu hướng nổi bật trong thực tiễn phát triển CTĐT hiện nay Bên cạnh đó, phát triển chương trình dựa vào nhà trường với việc chuyển giao vai trò, trách nhiệm đến mỗi cán bộ làm công tác quản lý, mỗi giảng viên đã và đang ngày càng được coi trọng Phát triển chương trình không chỉ là công việc của cấp quản lý mà nó cần phải là công việc của cả giảng viên bởi giảng viên chính là chuyên gia trong lĩnh vực giảng dạy của mình Gắn giảng viên vào việc xây dựng và phát triển chương trình sẽ khích lệ tinh thần tự nguyện, tự giác, gắn lý thuyết với thực hành, gắn việc đào tạo phù hợp với nhu cầu xã hội Đó chính là tăng tính linh hoạt của một CTĐT
Trang 15Nếu chúng ta muốn đào tạo sinh viên để cung cấp cho TTLĐ, chúng ta cần phải tìm hiểu về thế giới nghề nghiệp để thấy rõ nhu cầu về nguồn nhân lực của họ cả về số lượng và chất lượng Từ đó có thể thấy, thế giới nghề nghiệp có thể tham gia vào quá trình phát triển CTĐT từ giai đoạn đầu tiên: điều tra nhu cầu thị trường Trong quá trình xây dựng CTĐT và đề cương chi tiết: các mô-đun, môn học, đồ án sự tham gia của thế giới nghề nghiệp giúp nhóm thiết kế CTĐT đưa ra những mô-đun, đồ án và phân bổ thời gian hợp lý, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của doanh nghiệp Trong quá trình thực hiện CTĐT, thế giới nghề nghiệp cũng có thể tham gia giảng dạy, hướng dẫn, đánh giá sinh viên Đồng thời, thế giới nghề nghiệp cũng chính là những thành phần không thể thiếu trong hoạt động đánh giá CTĐT Chính họ là người sử dụng sinh viên tốt nghiệp, họ chính là những người đánh giá khắt khe nhất Từ những thông tin phản hồi có được, nhà trường tiến hành điều chỉnh CTĐT cho phù hợp Một trong những vấn đề cần điều chỉnh là nội dung của CTĐT Đây là điều kiện tiên quyết đảm bảo thành công của đào tạo gắn với nhu cầu của TTLĐ Thế giới nghề nghiệp cần tham gia trực tiếp vào việc xây dựng và cải tiến CTĐT thông qua cung cấp thông tin
và phản biện nội dung CTĐT Trong những điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp và trường, có thể mời đại diện thế giới nghề nghiệp tham nhóm biên soạn chương trình Chính vì vậy, tác giả chọn cách tiếp cận năng lực để đề xuất các biện pháp quản lý phát triển chương trình đào tạo ngành Công nghệ thông tin theo định hướng ứng dụng nghề nghiệp
Đề tài nghiên cứu nhằm đưa ra phương pháp quản lý phát triển CTĐT tại Trường cao đẳng Công nghệ thông tin Hữu nghị Việt – Hàn có hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của trường, cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao cho khu vực miền Trung – Tây Nguyên, đáp ứng được triết lý của hệ thống tín chỉ cũng như chiến lược của Đảng và Nhà nước về phát triển CTĐT theo hướng giáo dục nghề nghiệp đối với các Trường Cao đẳng
Xuất phát từ thực tế của nhà trường, đề tài “Quản lý phát triển chương trình đào
tạo ngành Công nghệ thông tin tại Trường cao đẳng Công nghệ thông tin Hữu nghị Việt – Hàn” được tôi chọn để nghiên cứu, làm Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Quản lý
giáo dục
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, đánh giá thực trạng quản lý phát triển chương trình đào tạo ngành Công nghệ thông tin tại Trường cao đẳng Công nghệ thông tin Hữu nghị Việt – Hàn, đề xuất các biện pháp quản lý nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Trường
3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động phát triển chương trình đào tạo của các Trường cao đẳng
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Trang 16Quản lý phát triển chương trình đào tạo ngành Công nghệ thông tin hiện nay tại Trường cao đẳng Công nghệ thông tin Hữu nghị Việt – Hàn
3.3 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là khảo sát thực trạng quản lý phát triển chương trình đào tạo ngành Công nghệ thông tin trình độ cao đẳng tại Trường cao đẳng Công nghệ thông tin Hữu nghị Việt – Hàn
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8/2018 đến tháng 10/2018
4 Giả thuyết khoa học
Công tác phát triển chương trình đào tạo hiện nay của nhà trường chưa được toàn diện, chưa đáp ứng triệt để được các bước của chu trình phát triển chương trình đào tạo
từ phân tích nhu cầu, xác định mục tiêu, thiết kế, thực thi và đánh giá cải tiến chương trình Vì vậy, nếu đề xuất được các biện pháp quản lý công tác xây dựng và phát triển chương trình đào tạo có tính khoa học và khả thi thì sẽ nâng cao chất lượng việc quản
lý phát triển chương trình đào tạo tại Trường cao đẳng Công nghệ thông tin Hữu nghị Việt - Hàn hiệu quả hơn
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan cơ sở lý luận về phát triển chương trình đào tạo trình độ cao đẳng Vai trò của chương trình đào tạo, phát triển chương trình đào tạo đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo phù hợp mục tiêu hội nhập, liên kết đào tạo
- Đánh giá thực trạng quản lý phát triển chương trình đào tạo tại Trường
- Đề xuất các biện pháp quản lý nhằm đưa công tác phát triển chương trình đào tạo hoạt động đúng quy trình, thống nhất, đồng bộ, phù hợp thực tế phát triển của Trường góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, trong quá trình nghiên cứu đã sử dụng những phương pháp sau:
6.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp này sử dụng để phân tích, tổng hợp dữ liệu các tài liệu có liên quan để tổng quan cơ sở lý luận về quản lý công tác phát triển chương trình đào tạo trình độ cao đẳng; đồng thời dự báo để tìm kiếm, xây dựng những giải pháp quản
lý phát triển chương trình đào tạo trình độ cao đẳng
6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu định lượng
Phương pháp điều tra: khảo sát bằng phiếu hỏi tại một số đơn vị sản xuất kinh doanh, người học để đánh giá về mức độ phù hợp với nhu cầu và thực trạng quản lý công tác phát triển chương trình đào tạo trình độ cao đẳng
Phương pháp nghiên cứu hồ sơ: nghiên cứu hồ sơ liên quan về phát triển chương trình đào tạo để phân tích thực trạng phát triển chương trình đào tạo
6.3 Phương pháp thống kê toán học: để xử lý các số liệu điều tra, tìm kiếm về
tính cấp thiết và tính khả thi của những giải pháp được đề xuất
Trang 177 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung Luận văn được trình bày trong 3 chương
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý phát triển chương trình đào tạo trình độ Cao đẳng
- Chương 2: Thực trạng quản lý phát triển chương trình đào tạo ngành Công nghệ thông tin tại Trường cao đẳng Công nghệ thông tin Hữu nghị Việt - Hàn
- Chương 3: Các biện pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý phát triển chương trình đào tạo ngành Công nghệ thông tin của Trường cao đẳng Công nghệ thông tin Hữu nghị Việt - Hàn
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG NGHỀ
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Phát triển chương trình đào tạo trình độ cao đẳng nghề tại một số quốc gia
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều quốc gia có nền giáo dục phát triển Để có được một nền giáo dục tiên tiến, đúng hướng, các quốc gia đã xây dựng chiến lược phát triển CTĐT rất khoa học, hiện đại, cập nhật gắn với mục tiêu phát triển nguồn nhân lực của quốc gia đó Những kết quả quản lý phát triển CTĐT tại các nước như: Singapore, Thái Lan, Úc… là bài học kinh nghiệm cho công tác quản lý phát triển CTĐT tại nước ta
1.1.1.1 Phát triển chương trình của Singapore
Việc xây dựng các chương trình ĐTN ở Singapore chủ yếu bởi các Học viện giáo dục kỹ thuật ITE (Institute of Technical Education), Bộ Giáo dục Singapore có trách nhiệm phân loại các CTĐT do trường xây dựng
Quản lý phát triển các CTĐT của ITE thông qua quản lý hoạt động phát triển chương trình theo một quy trình phát triển chương trình hệ thống với cấu trúc chương trình quy định trước cho toàn thể các ITE, bao gồm 05 giai đoạn là: Phân tích; thiết kế; phát triển; thực hiện và đánh giá; và việc đánh giá sản phẩm đạt được cuối cùng dựa trên 05 tài liệu liên quan đến chương trình bao gồm: tài liệu tiêu chuẩn năng lực (Skill Standard Manual); tài liệu tiêu chuẩn lớp học (Institution Norm Manual); danh mục thiết bị đào tạo tiêu chuẩn (Standard Training Equipment List); kế hoạch đào tạo (Training Specifications Manual); kế hoạch đánh giá (Test Plans Manual); và nội dung bài đánh giá (Phase Test Manual)
Các chương trình sẽ được ITE tổ chức đào tạo thử nghiệm ngay trong các khoá học của nhà trường và và sau đó được đánh giá, điều chỉnh, tổ chức đào tạo mở rộng
Tổ chức hoạt động phát triển chương trình của Singapore là dựa trên hình thức phát triển chương trình dựa vào trường (SBCD) là chủ yếu Do đặc trưng hệ thống đào tạo của
hệ thống đào tạo nghề Singapore là hệ thống nhỏ, chưa có hệ thống tiêu chuẩn trình độ đào tạo rõ ràng, phân bố mạng lưới các trường tập trung, việc phát triển các CTĐT nghề trong nhà trường đã khắc phục được các hạn chế của hình thức phát triển CTĐT theo hình thức SBCD gây ra và phát huy được ưu điểm của nó
1.1.1.2 Phát triển chương trình của Thái Lan
Quản lý phát triển dạy nghề ở Thái Lan chủ yếu tập trung tại cơ quan quản lý phát triển kỹ năng Trung ương của Thái Lan (DSD) (Department of Skill Development) Cơ quan DSD Trung ương chịu trách nhiệm trong các hoạt động:
Trang 19Phân tích nhu cầu đào tạo; Xây dựng mục tiêu đào tạo và phát triển các CTĐT; Tiêu chuẩn đảm bảo quá trình đào tạo; Phương pháp luận đào tạo và phát triển kỹ năng đào tạo; cụ thể là phát triển CTĐT; và Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng và các bài trắc nghiệm đánh giá kỹ năng
Tất cả các hoạt động này đều được tiến hành tập trung tại các cơ quan của DSD Trung ương và vùng Các CTĐT và tài liệu ĐTN được phát triển chủ yếu tại bộ phận kế hoạch và nghiên cứu công nghệ nằm trong cơ quan của DSD Trung ương theo kế hoạch hàng năm DSD của các vùng căn cứ theo các chương trình đã được ban hành và đặc trưng của vùng để tiến hành điều chỉnh cho phù hợp Quá trình điều chỉnh phải báo cáo lại cho DSD Trung ương về nội dung điều chỉnh trước khi đào tạo
1.1.1.3 Phát triển chương trình của Australia
Tại Australia có trình độ đào tạo quốc gia AQTF (Australian Quality Training Framework) là các tiêu chuẩn đào tạo ở mỗi cấp do Cơ quan thẩm quyền nhà nước về quản lý chất lượng đào tạo ANTA (Australia National Training Authority) quản lý Đào tạo AQTF gồm 6 cấp trình độ chuẩn của giáo dục nghề nghiệp, được xây dựng dựa trên các hệ thống tiêu chuẩn KNN quốc gia tương đối hoàn thiện và hệ thống quản
lý chất lượng ĐTN theo năng lực hoàn chỉnh với triết lý ĐTN rất rõ ràng đó là: Thu thập thông tin công nghiệp làm đầu vào cho các mục tiêu đào tạo; Hướng vào các yêu cầu của doanh nghiệp trong phát triển tiêu chuẩn năng lực; Xác định đào tạo công nhận và hệ thống chất lượng mềm dẻo; Thông tin cho tất cả các khách hàng của đào tạo và cung cấp các cơ hội đánh giá và công nhận chất lượng
Căn cứ trên đào tạo trình độ đào tạo, các tổ chức tư vấn đào tạo nghề quốc gia ITABs (Industry Training Advisory Body) phối hợp với doanh nghiệp tiến hành xây dựng các gói đào tạo (Training Package) trong phạm vi ngành nghề tư vấn dưới sự tài trợ một phần tài chính từ ngân sách nhà nước do ANTA phân bổ
Các gói đào tạo bao gồm các kỹ năng được xác nhận hoặc các tiêu chuẩn năng lực thực hiện; các hướng dẫn đánh giá và công nhận Chúng được thiết kế chuẩn cho đào tạo
và được ngành công nghiệp công nhận Sự thừa nhận và sự đánh giá các kỹ năng, kiến thức liên quan đến công việc và đảm bảo rằng đào tạo liên quan trực tiếp tới năng lực và
sự thực hiện tại chỗ làm việc Vì các gói đào tạo đã được công nhận ở cấp quốc gia, do đó những chủ sử dụng lao động có thể tin tưởng rằng nó là rất phù hợp với các ngành công nghiệp của họ mà không cần quan tâm tới người lao động được đào tạo ở đâu Gói đào tạo được công nhận trong thời hạn 03 năm và được xem xét lại trước 18 tháng
Các gói đào tạo sau đó được hoàn thiện để đảm bảo chất lượng đào tạo và được công nhận bởi Uỷ ban chất lượng đào tạo quốc gia (NTQC) (National Training Quality Council) sau đó chuyển tới hệ thống thông tin đào tạo quốc gia (NTIS) (National Training Information Service) để công bố công khai trên toàn Australia
Các cơ sở đào tạo nghề TAFE (Technical and Future Education) của Australia sẽ đăng ký mở các khóa học đáp ứng các gói đào tạo đã được công bố tại các tổ chức
Trang 20đăng ký đào tạo RTO (Registered Training Organisation) theo hướng dẫn đào tạo được triển khai từ các gói đào tạo, đăng ký bao gồm: các liên quan giữa chương trình hiện tại và yêu cầu chất lượng mới; mối quan hệ giữa cấu trúc chương trình hiện tại và các bài học mới; các quy định hoặc các giấy phép yêu cầu; thời gian danh nghĩa của các bài học và các chất lượng yêu cầu; các CTĐT mẫu; danh mục các nguồn lực hiện tại
và nguồn lực mới có thể được sử dụng triển khai đào tạo; bảng các kế hoạch tiến độ được chấp thuận cho thời gian học nghề
Các hướng dẫn này cũng được công khai trên thông tin đại chúng Trong quá trình đào tạo các chương trình vẫn được tiếp tục đánh giá điều chỉnh thông qua các chuyên gia quản lý duy trì nội dung chương trình thường được xem như là các nhà quản lý chương trình (CMMs - CurriculuM Managers), được chỉ định ban đầu bởi văn phòng đào tạo và giáo dục sau phổ thông (OTTE) của vùng, nhằm đánh giá và duy trì bản quyền nội dung chương trình và cung cấp một dịch vụ thông tin và tư vấn đào tạo Các chuyên gia này thuộc biên chế của cơ sở TAFE Các nhà quản lý chương trình là nguồn tư vấn chính trên các gói đào tạo, nội dung chương trình và các nguồn học liệu
có sẵn được phân bổ nằm trong nhóm ngành của họ Trách nhiệm của họ bao gồm: đóng góp phát triển chuyên môn trong các hướng dẫn đào tạo; tư vấn các thông tin ban đầu trên việc thực hiện các gói đào tạo; tư vấn trong thực hiện điều chỉnh nội dung CTĐT; tư vấn thông tin trong các quá trình đánh giá trong gói đào tạo; cung cấp các chỉ dẫn thích hợp cho triển khai CTĐT
1.1.2 Phát triển chương trình đào tạo trình độ cao đẳng ở Việt Nam
Phát triển CTĐT là một quá trình liên tục nhằm hoàn thiện không ngừng CTĐT Theo quan điểm này, CTĐT là một thực thể không phải được thiết kế một lần và dùng cho mãi mãi, mà được liên tục phát triển, bổ sung, hoàn thiện tuỳ theo sự thay đổi của trình độ phát triển kinh tế – xã hội, thành tựu khoa học – kỹ thuật và công nghệ, và cũng là theo yêu cầu của TTLĐ Nói cách khác, một khi mục tiêu đào tạo của nền giáo dục quốc dân thay đổi để đáp ứng nhu cầu xã hội, thì CTĐT cũng phải thay đổi theo,
mà đây lại là quá trình diễn ra liên tục nên CTĐT cũng phải được không ngừng phát triển và hoàn thiện Về mặt lý thuyết, thế giới nghề nghiệp gần như có thể tham gia vào tất cả công đoạn của phát triển CTĐT
Quản lý phát triển đã và đang được nhiều nước, nhiều tổ chức trên thế giới nghiên cứu và áp dụng với nhiều hình thức, quy trình khác nhau Ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu về quản lý phát triển CTĐT tiêu biểu:
1 PGS.TS.NSƯT Lê Quang Sơn, Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng) (2017), Lý luận quản lý và quản lý giáo dục (chuyên đề Sau Đại học);
2 PGS TS Nguyễn Văn Khôi (2010), Phát triển chương trình giáo dục;
3 GS.TS Nguyễn Đức Chính (chủ biên) - TS Vũ Lan Hương (2015), Phát triển chương trình giáo dục;
4 Nguyễn Vũ Bích Hiền (chủ biên) – Nguyễn Thị Thu Hằng – Phạm Ngọc Long
Trang 21(2015), Phát triển và Quản lý chương trình giáo dục
Các nghiên cứu có đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau trong quản lý phát triển CTĐT cũng như cơ sở lý luận Hầu hết các nghiên cứu chỉ đề cập đến phương pháp luận phát triển chương trình và một số khâu trong phát triển chương trình mà chưa có nghiên cứu chuyên sâu về quản lý phát triển CTĐT trình độ cao đẳng phù hợp với nhu cầu xã hội, do vậy việc nghiên cứu quản lý phát triển CTĐT là hết sức cần thiết
1.2 Các khái niệm chính của đề tài
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
1.2.1.1 Quản lý
Quản lý là quá trình thực hiện các công việc xây dựng kế hoạch hành động (bao gồm cả xác định mục tiêu cụ thể, chế định kế hoạch, quy định tiêu chuẩn đánh giá và thể chế hóa), sắp xếp tổ chức (bố trí tổ chức, phối hợp nhân sự, phân công công việc, điều phối nguồn lực tài chính và kỹ thuật…), chỉ đạo, điều hành, kiểm soát và đánh giá
kết quả, sửa chữa sai sót (nếu có) để hoàn thành mục tiêu của tổ chức đề ra
Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (CTQL là người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (người bị quản lý và các yếu tố chịu ảnh hưởng tác động của CTQL) về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội,… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt tới mục tiêu quản lý
Về thuật ngữ “Quản lý” có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng có chung các nội hàm chủ yếu sau:
- Quản lý luôn gắn liền một tổ chức (hệ thống), trong đó chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý nhằm đưa tổ chức đạt mục tiêu
- Khách thể quản lý (có thể là một nhóm người hay một người bị quản lý) tiếp nhận trực tiếp hoặc gián tiếp các tác động của chủ thể quản lý
- Phải có mục tiêu quản lý và mục tiêu hoạt động của tổ chức mà người quản lý
và mọi người bị quản lý hướng tới
- Phải có phương tiện thực hiện mục tiêu (luật pháp, chính sách và cơ chế; bộ máy tổ chức và nhân sự; cơ sở vật chất; môi trường và thông tin cần thiết,…)
- Đối tượng quản lý có thể trên quy mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, hệ thống (tổ chức); có thể là một con người, sự vật cụ thể hay một hoạt động,…
Trong công tác quản lý bao giờ cũng có chủ thể quản lý, khách thể quản lý quan
hệ với nhau bằng các tác động quản lý Quá trình quản lý phải có mục đích, nhiệm vụ hoạt động chung Khi thực hiện nhiệm vụ quản lý, chủ thể quản lý luôn hướng theo mục đích quản lý đã xác định để điều khiển đối tượng bị quản lý thực hiện mục tiêu chung của tổ chức Giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại tương hỗ nhau Chủ thể quản lý nảy sinh các động lực quản lý, còn khách thể quản lý thì làm nảy sinh các giá trị vật chất và tinh thần, đáp ứng nhu cầu của con người, thỏa mãn mục đích của chủ thể quản lý
Trang 22Hệ thống quản lý gồm 2 hệ liên kết nhau, đó là sự liên kết giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản lý Khi chỉ ra chủ thể quản lý thì phải chỉ ra đối tượng quản lý và ngược lại Mục tiêu của quản lý là tạo ra, tăng thêm và bảo vệ lợi ích của con người Công cụ quản lý là các phương tiện mà chủ thể quản lý dùng để tác động đến đối tượng quản lý như các văn bản luật, quyết định, chỉ thị, chương trình, kế hoạch, Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý; Các phương pháp quản lý gồm: phương pháp thuyết phục, phương pháp kinh tế, phương pháp hành chính - tổ chức, phương pháp tâm lý - giáo dục ; tùy theo từng tình huống cụ thể mà sử dụng các phương pháp khác nhau hoặc kết hợp các phương pháp với nhau Mô hình hoạt động quản lý có thể biểu diễn qua sơ đồ 1.1
Sơ đồ 1.1 Mô hình hoạt động quản lý
Như vậy: ở đâu có những hoạt động chung thì nơi đó có sự quản lý để đạt được những mục tiêu đã định Quản lý phải thực hiện bốn chức năng cơ bản đó là: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra Quá trình quản lý được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2 Quá trình quản lý 1.2.1.2 Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là quản lý hệ thống giáo dục bằng sự tác động có mục đích, có
Thông tin quản lý Quyết định quản lý
CHỦ THỂ
QUẢN LÝ
PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ
KHÁCH THỂ QUẢN LÝ
MỤC TIÊU QUẢN LÝ
Trang 23kế hoạch, có ý thức và tuân thủ các quy luật khách quan của những chỉ thể QLGD lên toàn bộ các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm đưa hoạt động giáo dục của cả hệ thống đạt tới mục tiêu giáo dục (xây dựng và hoàn thiện nhân cách người lao động phù hợp với yêu cầu phát triển KT-XH trong từng giai đoạn cụ thể)
Nếu tiếp cận giáo dục trên cả hai phương diện (nghĩa rộng và nghĩa hẹp) thì thấy QLGD bao gồm quản lý hệ thống giáo dục và quản lý trường học
+ Ở cấp độ quản lý hệ thống giáo dục có thể hiểu QLGD là những tác động có hệ thống, có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành bình thường và liên tục phát triển, mở rộng cả về số lượng cũng như chất lượng Như vậy, QLGD theo nghĩa rộng là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm huy động, tổ chức, điều phối, giám sát… một cách hiệu quả các nguồn lực cho giáo dục và các hoạt động phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH
+ Ở cấp độ hiểu QLGD là quản lý trường học thì QLGD là hệ thống những tác động có chủ đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể giảng viên, nhân viên, sinh viên, phụ huynh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục
Mặt khác, quản lý giáo dục đã được các nhà lý luận và quản lý thực tiễn đưa
ra một số định nghĩa dưới các góc độ khác nhau:
- Theo Đặng Quốc Bảo (1997): “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội”
- Theo Nguyễn Ngọc Quang (1989): “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động
có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”
Tóm lại: “Quản lý giáo dục là quá trình tác động có ý thức, kế hoạch, tổ chức và
hợp quy luật của chủ thể quản lý (các cơ quan Quản lý giáo dục các cấp: Bộ Giáo dục
và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo) tới khách thể quản
lý (các khâu của hệ thống giáo dục) nhằm làm cho các cơ sở giáo dục vận hành được bình thường và đạt tới các mục tiêu giáo dục đã đề ra”
1.2.1.3 Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là quá trình tác động của chủ thể quản lý tới các hoạt động trong cấu trúc của nhà trường, nhằm vận hành hệ thống tổ chức Nhà trường đạt tới mục tiêu của chính Nhà trường đề ra và các mục tiêu của Nhà nước, xã hội yêu cầu
1.2.2 Ngành, chuyên ngành đào tạo
1.2.2.1 Ngành đào tạo
Trang 24Ngành là một lĩnh vực khoa học, kỹ thuật hoặc văn hóa, cho phép người học tiếp nhận những kiến thức và kỹ năng mang tính hệ thống cần có để thực hiện các kỹ năng lao động trong khuôn khổ của một nghề cụ thể
Ngành đào tạo phải được ghi trong văn bằng tốt nghiệp
1.2.2.2 Chuyên ngành đào tạo
Chuyên ngành là sự đào tạo chuyên sâu kiến thức và kỹ năng cho người học trong phạm vi hẹp hơn của một ngành, hoặc là sự thu nhận kiến thức và kỹ năng trong một ngành mới khác Chuyên ngành chỉ được ghi trên văn bằng tốt nghiệp ở các trình
độ từ Thạc sỹ trở lên
1.2.3 Chương trình đào tạo
Trong lịch sử giáo dục, thuật ngữ “Chương trình đào tạo” xuất hiện từ 1820 tuy nhiên phải đến thế kỷ XX, thuật ngữ này mới được sử dụng một cách chuyên nghiệp ở Hoa Kỳ và một số nước có nền giáo dục phát triển [2, trg 41]
Kinh tế - xã hội phát triển, nhiều môn học mới được đưa thêm vào CTĐT Sự khác biệt giữa người học đã trở nên rõ rệt hơn đối với giảng viên và các nhà quản lý, định nghĩa về CTĐT được mở rộng hơn CTĐT được phân thành nhiều loại khác nhau: CTĐT cho khối cơ bản, khối kỹ thuật, khối thực hành,… Bobbitt (1924) cho rằng CTĐT có thể được định nghĩa là hệ thống các hoạt động nhằm phát hiện khả năng hoặc hoàn thiện người học [15]
Hollis và Doak Campbell (1935) cho rằng CTĐT bao gồm tất cả những hiểu biết
và kinh nghiệm mà người học có được sự hướng dẫn của nhà trường CTĐT được xem
là một chuỗi những kinh nghiệm được nhà trường phát triển nhằm giúp người học tăng cường tính kỷ luật, phát triển năng lực tư duy và hành động CTĐT gồm tất cả những
gì người học có được nhằm đạt các mục đích và mục tiêu cụ thể CTĐT được xây dựng theo khung lý thuyết và nghiên cứu hoặc những thực tiễn nghề nghiệp trong quá khứ hay hiện tại Như vậy, khái niệm CTĐT của Hollis và Doak Campbell được biểu diễn qua sơ đồ như sau: [14, trg.17]
Chương trình đào tạo Chuỗi hoạt động
Hoàn thiện người học
Phát hiện khả năng người học
Trang 25Theo từ điển Giáo dục học (NXB Từ điển bách khoa 2001), khái niệm CTĐT được hiểu là: “Văn bản chính thức quy định mục đích, mục tiêu, yêu cầu, nội dung kiến thức và kỹ năng, cấu trúc tổng thể các bộ môn, kế hoạch lên lớp và thực tập theo từng năm học, tỷ lệ giữa các bộ môn, giữa lý thuyết và thực hành, quy định phương thức, phương pháp, phương tiện, cơ sở vật chất, chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp của
cơ sở giáo dục và đào tạo”
Thuật ngữ “CTĐT” trong bảng từ vựng về giáo dục trong tiếng Việt có hai nghĩa khác nhau, tương ứng với hai từ trong bảng từ vựng về giáo dục trong tiếng Anh:
a) Nghĩa thông thường được sử dụng là một văn bản quy định mục đích và các mục tiêu cụ thể đặt ra đối với một ngành đào tạo, các khối kiến thức và các môn học, tổng thời lượng cùng thời lượng dành cho mỗi môn mà nhà trường tổ chức giảng dạy để trang bị kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết cho sinh viên theo học một ngành nào đó Nghĩa này tương đương với nội dung của thuật ngữ tiếng Anh “curriculum”
b) Nghĩa thứ hai tương đương với nội dung của thuật ngữ tiếng Anh “program” Đó
là “nội dung, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và các hoạt động học thuật của một đơn vị đào tạo của một đơn vị đào tạo (thường là cấp khoa hoặc bộ môn tùy theo cơ cấu tổ chức của từng đơn vị) đang triển khai để đào tạo một ngành học trong một bậc học nhất định, thường được kí hiệu bằng mã ngành” [6, trg 11-12]
Theo Điều 34 - Luật giáo dục nghề nghiệp 2014, chương trình đào tạo phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:
a) Thể hiện được mục tiêu đào tạo các trình độ; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng người học sau tốt nghiệp; phạm vi và cấu trúc nội dung, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả học tập đối với từng mô đun, tín chỉ, môn học, từng chuyên ngành hoặc từng nghề và từng trình độ
b) Bảo đảm tính khoa học, hiện đại, hệ thống, thực tiễn, linh hoạt đáp ứng sự thay đổi của TTLĐ; phân phối hợp lý thời gian giữa các khối lượng kiến thức, KNNN; đảm bảo việc liên thông giữa các trình độ GDNN với các trình độ đào tạo khác trong hệ thống GDQD
c) Được định kỳ rà soát cập nhật, bổ sung cho phù hợp với kỹ thuật công nghệ trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ [10, trg 22]
Hiện nay, để hỗ trợ các trường trong việc thiết kế các CTĐT, đồng thời vẫn tạo điều kiện cho các trường, giảng viên linh hoạt và chủ động hơn trong các nội dung CTĐT trước sự thay đổi nhanh chóng khoa học – kỹ thuật – công nghệ, khái niệm CTĐT được hiểu như sau:
CTĐT = CT học phần/mô đun bắt buộc + CT học phần/mô đun tự chọn
Trong đó:
- CT học phần/mô đun bắt buộc là những quy định chung về kiến thức, kỹ năng, thái độ mà tất cả sinh viên phải đạt được sau khi tốt nghiệp Đào tạo chương trình có
Trang 26thể được mô tả dưới dạng các tiêu chuẩn hoặc kết quả đạt được Chương trình xác định sự khác biệt về chương trình tương ứng với trình độ đào tạo khác;
- Phần nội dung cứng bao gồm những nội dung chương trình cốt lõi, ít thay đổi theo thời gian và được các trường có đào tạo cùng thừa nhận là không thể thiếu được, nhằm bảo đảm cho CTĐT có thể ứng dụng tại các trường và không bị thay đổi luôn sau từng khóa học
Thông thường cơ quan quản lý (Bộ Giáo dục và Đào tạo; Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) ban hành chương trình khung cho từng ngành/lĩnh vực ngành nghề Trên cơ sở chương trình khung được quy định bởi các
cơ quan quản lý giáo dục, các cơ sở giáo dục tổ chức xây dựng các CTĐT cho phù hợp với thực tiễn nhà trường Do đó, chương trình khung do Bộ LĐ-TBXH ban hành chưa phải là một CTĐT hoàn chỉnh Để hoàn chỉnh chương trình, các trường cần tổ chức xây dựng, thẩm định, duyệt chương trình dạy nghề của Trường như bổ sung phần nội dung tự chọn cho phù hợp với điều kiện thực tế của trường cũng như nhu cầu đào tạo của TTLĐ Tỷ lệ phần nội dung cứng và phần nội dung tự chọn trong CTĐT do cơ quan Nhà nước quy định
Với quan niệm như trên thì có thể hiểu CTĐT là một văn bản pháp lý quy định
về CTĐT cho từng nghề tương ứng với cấp độ trình độ đào tạo, trong đó có các yêu cầu bắt buộc về mục tiêu, cơ cấu nội dung, số lượng, thời lượng các mô đun, học phần,
tỷ lệ thời gian giữa lý thuyết và thực hành cùng với chương trình của những mô đun, học phần cốt lõi, không thể thiếu được trong đào tạo và ít thay đổi theo thời gian Đối với đào tạo nghề TĐCĐ hiện nay, đây là một cấp đào tạo nghề nghiệp cao nhất trong hệ thống đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp Mục tiêu chung của giáo dục nghề nghiệp là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ,
có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn Và mục tiêu cụ thể đối với đào tạo TĐCĐ để người học
có năng lực thực hiện được các công việc của trình độ trung cấp và giải quyết được các công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào công việc, hướng dẫn và giám sát được người khác trong nhóm thực hiện công việc [10, tr 2]
Tóm lại, Chương trình đào tạo là một bản thiết kế tổng thể cho hoạt động đào
tạo, trong đó thể hiện rõ toàn bộ nội dung của quá trình đào tạo, điều kiện, cách thức, quy trình tổ chức, đánh giá các hoạt động đào tạo để đạt được mục tiêu đào tạo
1.2.4 Phát triển chương trình đào tạo
Phát triển là biến đổi hoặc làm biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp
Trang 27Phát triển chương trình là xem xét chương trình như một quá trình phát triển và hoàn thiện nó hơn là một trạng thái hay một giai đoạn cô lập, tách rời Như vậy, phát triển chương trình là một quá trình thường xuyên, liên tục làm cho chương trình ngày càng hoàn thiện hơn; thực chất đó chính là các đợt cải cách giáo dục để đổi mới/điều chỉnh chương trình Phát triển chương trình phải là một quá trình khép kín và liên tục [7, trg.16]
Phát triển CTĐT là một ngành học, có một tập hợp hệ thống các khái niệm, nguyên tắc lý thuyết làm nền tảng, có đối tượng và nội dung nghiên cứu xác định, có các phương pháp nghiên cứu đặc thù Phát triển CTĐT còn được xem là một hoạt động, một quá trình xem xét các tác động từ xã hội để hoạch định chương trình, thực thi chương trình, cải tiến chương trình và đánh giá chương trình
Phát triển CTĐT là một quá trình liên tục nhằm hoàn thiện không ngừng CTĐT cho tương thích với trình độ phát triển của KT-XH, KH-CN, của đời sống xã hội nói chung Theo quan điểm này, CTĐT là một thực thể không phải được thiết kế một lần
và dùng cho mãi mãi mà được phát triển, bổ sung, hoàn thiện tùy theo sự thay đổi của trình độ phát triển KT-XH, của thành tựu KH-KT&CN, và cũng là theo yêu cầu của thị trường sử dụng lao động [8, tr 50]
Tóm lại, phát triển chương trình đào tạo được xem là một hoạt động, một quá
trình liên tục nhằm hoàn thiện không ngừng CTĐT, là quá trình xem xét các tác động
từ xã hội để hoạch định chương trình, thực thi chương trình, cải tiến chương trình và đánh giá chương trình Hay nói cách khác phát triển CTĐT là quá trình làm cho CTĐT tương thích với sự phát triển, yêu cầu xã hội và thị trường lao động
1.2.5 Quản lý phát triển chương trình đào tạo
Quản lý phát triển chương trình đào tạo là hệ thống cách làm hay tác động của cơ quan quản lý Nhà nước tới đối tượng tham gia để đảm bảo việc xây dựng/thiết kế, thực hiện, đánh giá và điều chỉnh CTĐT phù hợp với xu thế phát triển chương trình và bối cảnh của quốc gia và địa phương (được thể hiện qua mục tiêu đào tạo)
1.3 Vai trò cơ bản của chương trình đào tạo
Chương trình đào tạo là một trong các yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới quá trình đào tạo Căn cứ vào CTĐT: người dạy và người học xây dựng và triển khai các hoạt động dạy – học mang lại hiệu quả; các cơ sở đào tạo xây dựng và đổi mới phương pháp, phương tiện dạy học, triển khai dạy học và kiểm tra đánh giá người học, phát triển nhà trường; các doanh nghiệp/cơ quan sử dụng lao động lựa chọn lao động phù hợp, tổ chức các khóa đào tạo và bồi dưỡng; cơ quan quản lý Nhà nước thanh tra, kiểm tra hoạt động đào tạo, kiểm soát chuẩn đầu ra theo ứng vời từng ngành nghề đào tạo Thực tế, việc tổ chức đào tạo ở mỗi trường là khác nhau, do điều kiện về nguồn lực và do bảo đảm chất lượng đào tạo (đội ngũ giảng viên, CTĐT, cơ sở vật chất, ) khác nhau và cách thức tổ chức quản lý đào tạo cũng khác nhau, do đó dẫn tới chất lượng sản phẩm đào tạo ở mỗi Trường khác nhau
Trang 28Vì vậy, CTĐT ở mỗi trình độ có vai trò thống nhất mặt bằng trình độ về kiến thức chuyên môn, kỹ năng và văn hóa nghề nghiệp trong đào tạo các ngành, nghề khác nhau và làm căn cứ cho việc quản lý CLĐT, thống nhất nội dung cơ bản trong phát triển chương trình và công nhận kết quả học tập
Tóm lại, vai trò cơ bản của chương trình đào tạo là:
- Đối với cơ quan quản lý Nhà nước: là một trong các căn cứ để quản lý các hoạt động giáo dục, tiến hành kiểm tra, thanh tra và đánh giá kết quả đào tạo của nhà trường
- Đối với các cơ sở đào tạo: là cơ sở để xây dựng các đề cương chi tiết học phần, chương trình môđun/học phần; phát triển giáo trình, tài liệu, bộ học liệu học phần và các học liệu có liên quan; chuẩn bị các điều kiện đảm bảo chất lượng dạy học như trang thiết bị,
cơ sở vật chất và các hoạt động tạo thuận lợi khác; xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ
- Đối với cơ sở sử dụng lao động: là căn cứ để lựa chọn, bố trí công việc phù hợp với ngành nghề được đào tạo
1.4 Cách tiếp cận phát triển chương trình đào tạo nghề
1.4.1 Cách tiếp cận theo nội dung
Trong giai đoạn đầu của giáo dục nói chung và giáo dục nghề nghiệp nói riêng, giáo dục chỉ được coi là “quá trình truyền thụ kiến thức” Do vậy, điều quan trọng nhất
là khối kiến thức cần truyền thụ và CTĐT chỉ là phác thảo nội dung khối kiến thức cần dạy - học Hệ quả là người dạy chỉ cần tìm các phương pháp phù hợp để truyền đạt khối kiến thức một cách tốt nhất, vô hình chung đẩy người học vào thế thụ động Chúng ta thừa nhận vai trò rất quan trọng của khối kiến thức mà người dạy, người học phải cùng nhau đạt tới Nhưng quá trình đào tạo không chỉ đơn giản như vậy Trong thời đại bùng nổ thông tin với những tiến bộ như vũ bão của khoa học và công nghệ nhất là công nghệ thông tin viễn thông Cứ 5 - 7 năm khối lượng thông tin toàn cầu lại tăng gấp đôi Và nền giáo dục chỉ đơn thuần là quá trình “truyền thụ kiến thức” với thời gian đào tạo chính khóa gần như cố định (thậm chí còn giảm đi), thì người dạy - người học không đủ khả năng để truyền thụ cũng như tiếp thu khối kiến thức khổng lồ do thông tin mang lại Hơn nữa, cho dù có được kiến thức tối đa thì nó cũng nhanh chóng bị lạc hậu
Rất khó có thể đánh giá được mức độ hoàn thành chương trình thiết kế theo kiểu này; nguyên nhân là chương trình mới là những nét phác thảo về nội dung, kiến thức,
kỹ năng mà người dạy cần rèn luyện cho người học Bản thân người thiết kế nắm được mức độ, phạm vi, khối lượng kiến thức, kỹ năng cần có ở mỗi ngành học, học phần (thang bậc kiến thức, kỹ năng) Người dạy trực tiếp chưa chắc đã có khái niệm đầy đủ
về điều đó và hệ quả là sự tùy tiện trong biên soạn chương trình giảng dạy, đề cương bài giảng Người học sẽ còn bỡ ngỡ hơn vì không biết sẽ phải học, phải thi như thế nào Nhược điểm chính của cách tiếp cận trong thiết kế CTĐT theo nội dung là khó xác định được mục tiêu chi tiết, cụ thể, định hướng để thầy và trò cùng nhau đi tới, đồng thời qua đó xác định được chuẩn để kiểm tra, đánh giá thành quả giảng dạy - học
Trang 29tập của giảng viên và sinh viên
1.4.2 Cách tiếp cận theo mục tiêu
Cách tiếp cận theo mục tiêu, hay nói đầy đủ hơn là cách tiếp cận theo mục tiêu đào tạo, có cơ sở là mục tiêu đào tạo được xây dựng một cách chi tiết, bao gồm cả nội dung kiến thức, kỹ năng cần rèn luyện cho người học, phương pháp đào tạo, nguồn học liệu, cũng như phương thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập (đối chiếu với mục tiêu đào tạo) Mục tiêu đào tạo ở đây cũng là mục tiêu đầu ra của quy trình đào tạo thể hiện qua những thay đổi về hành vi người học từ lúc vào trường tới lúc ra trường và tham gia vào thị trường lao động
Theo cách tiếp cận này, nội dung, kiến thức, kỹ năng vẫn được coi trọng, song chỉ là những loại kiến thức, kỹ năng nhằm giúp đạt tới hệ mục tiêu đào tạo đã được xác định từ trước Theo cách tiếp cận này, dựa trên mục tiêu đào tạo đã được xác định một cách chi tiết, cụ thể (để có thể là chuẩn để vươn tới và đo lường đánh giá được), người thiết kế chương trình chọn nội dung kiến thức, kỹ năng cần đào tạo, phương pháp dạy - học, cũng như hình thức kiểm tra đánh giá phù hợp Có thể biểu diễn bằng
sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.3 Tiếp cận CTĐT theo mục tiêu
Một CTĐT được thiết kế trên cơ sở mục tiêu đào tạo cho ta một “khuôn mẫu chuẩn” được hình thành dẫn qua các giai đoạn khác nhau của quy trình đào tạo hay nói cách khác là một khóa học Đồng thời, chương trình đó cũng giúp xác định mục tiêu riêng biệt cho từng nhóm học phần, thậm chí từng học phần cụ thể cấu thành nên chương trình Căn cứ vào đó người dạy - người học có thể lựa chọn nội dung kiến thức các phương pháp, các chiến lược dạy - học tương ứng, các phương tiện phù hợp nhằm đạt mục tiêu Hơn nữa, một khi “chuẩn” đã được xác định, các phương tiện đạt chuẩn cũng đã hình thành, thì việc đánh giá mức độ đạt chuẩn của kết quả đào tạo cũng được tiến hành chính xác, khoa học hơn Kiểm tra - đánh giá kết quả đào tạo ở đây thực chất
là sự đối chiếu kết quả đào tạo với hệ mục tiêu của quy trình đào tạo đã xác định
Mục tiêu đầu ra
Kiểm tra, đánh giá
Quy trình đào tạo Phương pháp dạy Nội dung đào tạo
(Kiến thức kỹ năng)
Trang 30Thiết kế CTĐT trên cơ sở mục tiêu đào tạo rõ ràng có một số ưu điểm nhất định:
- Xác định mục tiêu đào tạo giúp xác định được mục tiêu chi tiết cụ thể của từng nhóm học phần, thậm chí từng học phần
- Xác định mục tiêu đào tạo giúp người dạy - người học biết rõ mình phải dạy - học kiến thức gì, kỹ năng gì, mức độ ra sao; từ đấy tìm ra được phương sách phù hợp với từng đối tượng để đạt hiệu quả cao nhất
- Xác định mục tiêu đào tạo cụ thể, để có thể đánh giá được kết quả đào tạo là hoàn toàn có thể thực hiện được một cách chính xác, khoa học
Mặc dù còn nhiều ý kiến bàn cãi về điểm yếu, điểm mạnh, song cách tiếp cận theo mục tiêu trong thiết kế CTĐT với phương cách khoa học trong lựa chọn nội dung đào tạo, tổ chức thực thi CTĐT chắc chắn sẽ còn phát huy tác dụng trong tương lai
1.4.3 Cách tiếp cận theo phát triển
Theo cách tiếp cận này CTĐT được xem là quá trình, còn giáo dục là sự phát triển (Kelly)
Giáo dục là sự phát triển với nghĩa là phát triển con người, phát triển mọi tiềm năng, kinh nghiệm để có thể làm chủ được bản thân, đương đầu với thử thách một cách chủ động, sáng tạo Giáo dục là một quá trình tiếp diễn liên tục suốt đời, do vậy mục đích cuối cùng không phải là thuộc tính của nó Cách tiếp cận này chú trọng đến
sự phát triển khả năng hiểu biết, tiếp thu ở người học hơn là truyền thụ nội dung kiến thức đã được xác định từ trước
Theo Kelly, theo cách tiếp cận này giáo dục là quá trình mà nhờ đó mức độ làm chủ bản thân làm chủ vận mệnh tiểm ẩn ở mỗi người được phát triển một cách tối đa Pan Hirst (1965) cho rằng giáo dục phải phát triển tư duy logic, năng lực sáng tạo, phát triển tri thức về mọi mặt hơn là hấp thụ lượng kiến thức trơ trọi
Whitehead (1932) cũng đã từng nói giáo dục là nghệ thuật sử dụng kiến thức hơn
là nắm được những ý tưởng trơ trọi
Theo J White (1995) con người không thể học tất cả những gì cần trong nhà trường, vì vậy CTĐT phải giúp tạo ra những sản phẩm “có thể đương đầu với những đòi hỏi của nghề nghiệp không ngừng thay đổi, với một thế giới biến động khôn lường” Tất cả những điều nói trên đòi hỏi phải thiết kế CTĐT như một quá trình bao gồm các hoạt động cần thực hiện giúp người học phát triển tối đa những kinh nghiệm, năng lực tiềm ẩn, tố chất sẵn có để đáp ứng những mục tiêu nói trên Nói cách khác, sản phẩm của quá trình đào tạo phải đa dạng tùy theo năng lực, phẩm chất cá nhân, kinh nghiệm riêng biệt của từng người học, chứ không thể rập theo khuôn mẫu
Theo cách tiếp cận này với quan điểm giáo dục là phát triển, còn CTĐT là quá trình, thì người thiết kế chú trọng nhiều hơn đến khía cạnh nhân văn của CTĐT Cụ thể
là, đối tượng đào tạo, từng cá thể trong quy trình đào tạo với nhu cầu và hứng thú của
họ được xem là điểm xuất phát của việc xây dựng CTĐT Nhà trường chỉ cung cấp các khối kiến thức (mô đun) cần thiết và giới thiệu các phương thức tổ hợp các khối kiến
Trang 31thức để đi tới một văn bằng xác định Mỗi người học, căn cứ vào nhu cầu, sở thích của bản thân, kinh nghiệm, kiến thức đã tích lũy được trước đó, có thể có sự tư vấn của cố vấn học tập, tự xây dựng cho mình một chương trình học tập riêng nhằm thỏa mãn mục tiêu của bản thân
Từ cách tiếp cận này, một lý thuyết về hệ phương pháp dạy - học theo quan điểm lấy người học làm trung tâm (learner’s centred approach) ra đời Các bài giảng được tổ chức dưới dạng các hoạt động khác nhau nhằm giúp người học lĩnh hội thông qua việc giải quyết tình huống, tạo cơ hội cho người học được thử thách trước trước những thách thức khác nhau Vai trò của người dạy chuyển thành người hướng dẫn người học được rèn luyện cách tự học, tự phát hiện và giải quyết vấn đề, tự điều chỉnh quá trình
tự đào tạo của mình với sự tư vấn của người dạy Tuy nhiên, cách tiếp cận này cũng nhận không ít những phê phán, chỉ trích vì người ta cho rằng cách tiếp cận này chú ý nhiều đến nhu cầu, sở thích của con người mà nhu cầu và sở thích lại hết sức đa dạng,
mà không phải ai cũng xác định đươc Đó là chưa nói nhu cầu sở thích của con người cũng dễ thay đổi
1.4.4 Cách tiếp cận năng lực
Năng lực là sự kết hợp chặt chẽ giữa kiến thức – kỹ năng – thái độ để thực hiện công việc cụ thể và được thể hiện qua thực tế nghề nghiệp Chương trình đào tạo theo tiếp cận năng lực được thiết kế giúp người học đạt được các năng lực cần thiết để thực hiện công việc chuyên môn trong thực tế
Trong tiếp cận năng lực, hồ sơ năng lực được xây dựng dựa vào phân tích nhu cầu thị trường, là điểm xuất phát để xây dựng nên chương trình đào tạo, thiết kế mục tiêu học tập, lựa chọn nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháo đánh giá kết quả học tập của sinh viên Điều đó giúp đảm bảo chắc chắn rằng, toàn bộ chương trình đào tạo gắn kết chặt chẽ với mục tiêu hình thành năng lực thực hiện cho người học Chương trình đào tạo POHE được xây dựng dựa vào cách tiếp cận năng lực nhằm giúp sinh viên đạt được các năng lực cần thiết mà thị trường lao động cần, tạo điều kiện cho sinh viên tốt nghiệp ra trường có thể thâm nhập thành công vào thị trường lao động Quá trình xây dựng và phát triển chương trình đào tạo POHE được thực hiện theo chu trình chặt chẽ, nhưng linh hoạt tùy theo mục đích của từng giai đoạn
1.5 Phân loại chương trình đào tạo
Việc phân loại CTĐT có nhiều cách khác nhau Trong luận văn này, tác giả trình bày hai cách phân loại: dựa trên cấp độ tổ chức và dựa trên cách tiếp cận trong xây dựng CTĐT
1.5.1 Phân loại dựa trên cấp độ tổ chức
Phân loại CTĐT theo các cấp độ tổ chức khác nhau từ trên xuống dưới (cấp quốc gia đến cấp bài học)
Có 07 cấp độ tổ chức CTĐT:
Trang 321.5.2 Phân loại dựa trên cách tiếp cận
Có thể phân loại CTĐT thành 03 loại: chương trình môn học, chương trình mô đun và chương trình đào tạo theo chuẩn nghề nghiệp
1.5.2.1 Chương trình môn học
Là loại CTĐT mà cấu trúc, nội dung cơ bản được xây dựng hay thiết kế chủ yếu
từ các môn học theo các lĩnh vực khoa học tự nhiên, xã hội – nhân văn và khoa học công nghệ Ví dụ phần lớn các CTĐT bậc cao đẳng là các chương trình thiết kế theo môn học thích hợp với từng trình độ đào tạo và ngành đào tạo Các môn học có thể là môn học theo một ngành, lĩnh vực khoa học, kỹ thuật như: Vẽ kỹ thuật, Điện kỹ thuật,…
Chương trình môn học có một số ưu điểm:
- Bảo đảm tính logic của hệ thống kiến thức, kỹ năng của từng học phần hoặc môn học;
- Mục tiêu đào tạo toàn diện, được thực hiện thông qua từng môn học, khối môn học và mỗi liên hệ giữa chúng;
- Dễ xây dựng và điều chỉnh chương trình do đã có nhiều kinh nghiệm dạy học
và tài liệu tham khảo
Tuy nhiên, chương trình môn học bộc lộ một số nhược điểm: Thời gian học kéo dài, nặng tính lý thuyết, đơn mục tiêu (môn học), không thuận tiện cho người học và nhu cầu thực tế về nhân lực ngoài xã hội Các kiến thức khoa học cơ bản và kiến thức,
kỹ năng nghề nghiệp bị tách rời theo môn học không thuận lợi cho quá trình hình thành năng lực nghề nghiệp, khó liên thông giữa các trình độ đào tạo, loại hình đào tạo
và lãng phí nhiều thời gian đào tạo
CẤP QUỐC GIA CẤP NGÀNH CẤP TRƯỜNG CẤP KHOA CẤP CTĐT
CẤP BÀI HỌC CẤP MÔN HỌC/MÔ ĐUN
Trang 331.5.2.2 Chương trình mô đun
Một trong những phương hướng đáng chú ý trong quá trình nghiên cứu phát triển CTĐT là nghiên cứu thiết kế các CTĐT theo mô đun Hay nói cách khác là CTĐT được xác lập trên cơ sở lựa chọn và tổ hợp các kiến thức, kỹ năng liên quan cùng các chỉ dẫn, quy trình cụ thể để tạo ra một trình độ nhận thức hay năng lực chuyên môn nhất định Sơ đồ cấu trúc CTĐT theo mô đun như sau:
1.5.2.3 Chương trình theo năng lực thực hiện theo chuẩn nghề nghiệp
Đây là CTĐT mà POHE đang áp dụng và thực hiện Đào tạo theo năng lực thực hiện có các đặc điểm sau:
- Người học được coi là hoàn thành CTDT khi chứng tó được thông thạo tất cả các năng lực quy định trong chương trình, không phụ thuộc vào thời lượng học tập;
- Người học có thể học theo năng lực và nhịp độ riêng của từng cá nhân Vì vậy người học có thể nhập học và kết thúc quá trình học tập ở các thời điểm khác nhau;
- Bằng cấp, chứng chỉ của người học được thể hiện đầy đủ nội dung và kết quả học tập theo CTĐT cơ sở để chuyển đổi, liên thông với những chương trình kế tiếp có liên quan hoặc ở trình độ cao hơn;
- Quá trình đào tạo chú trọng hình thành năng lực (các công việc, nhiệm vụ chuyên môn của nghề) theo các chuẩn mực, tiêu chuẩn hành nghề đặt ra
Phát triển CTĐT theo năng lực trên cơ sở đào tạo theo năng lực đáp ứng được các xu hướng của CTĐT là hướng tới người học, liên thông, linh hoạt và mở, hình thành năng lực hành nghề cụ thể Tuy nhiên, đào tạo theo mô hình này cũng có các hạn chế nhất định như:
- Người học khó thích ứng nhanh với thay đổi của công việc trong lao động nghề nghiệp do đào tạo hướng sâu vào một hoặc vài công việc cụ thể;
- Phải có điều kiện (trang thiết bị, vật liệu, tài liệu kỹ thuật) và môi trường gắn đào tạo với việc làm trực tiếp;
- Tổ chức đào tạo phức tạp do CTĐT linh hoạt và tính cá nhân hóa cao
Chương trình
M3 M1
Trang 34Dưới đây là chương trình đào tạo theo chuẩn nghề nghiệp:
1.6 Chu trình phát triển chương trình đào tạo
1.6.1 Chu trình phát triển CTĐT trong đào tạo POHE
Chu trình phát triển chương trình đào tạo theo Peyton và Peyton (1998):
(Nguồn: Dẫn theo Judy McKimm, 2004) Peyton and Peyton (1998) chỉ ra rằng chu kì phát triển chương trình đào tạo bao gồm các công đoạn chính là: đánh giá nhu cầu, thiết kế chương trình đào tạo, thực hiện chương trình đào tạo và sau đó kết quả đào tạo được đánh giá so với kết quả đánh giá nhu cầu về nguồn nhân lực cần đào tạo Thay đổi chương trình đào tạo kéo theo những thay đổi khác trong quản lý nguồn lực của nhà trường và xã hội Khi phát triển một
Đánh giá nhu cầu
Đánh giá kết quả đầu ra
Thực hiện chương trình
Thiết kế chương trình
Chu trình phát triển CTĐT
- Tên ngành/nghề đào tạo;
- Đối tượng tuyển sinh;
- Thời gian đào tạo;
- Mục tiêu đào tạo (kiến thức, kỹ năng, thái độ);
- Nội dung đào tạo;
- Phương pháp và tổ chức đào tạo;
- Quản lý và đánh giá đào tạo;
- Các điều kiện bảo đảm
về giảng viên, tài liệu, thiết bị, CSVC…
THẾ GIỚI NGHỀ NGHIỆP
- Quy mô và cơ cấu lao động;
- Giá cả sức lao động;
- Cung – Cầu nhân lực;
- Di chuyển – luồng lao động
Tiến bộ về giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ, phân công – tổ chức lao động
Trang 35chương trình đào tạo mới hay đổi mới một chương trình đang có theo tiếp cận POHE cần triển khai các bước sau:
1 Phân tích nhu cầu của thị trường lao động làm cơ sở cho việc xây dựng Hồ sơ nghề nghiệp và Hồ sơ năng lực;
2 Xác định mục tiêu đào tạo, xây dựng Hồ sơ nghề nghiệp, Hồ sơ năng lực, chuẩn đầu ra;
3 Phân tích hiện trạng đào tạo của nhà trường;
4 Xây dựng nội dung học tập, chủ đề học tập, sắp xếp hệ thống mô-đun/ học phần trong khung chương trình đào tạo;
5 Lựa chọn phương pháp giáo dục cho các học phần/mô-đun;
9 Thực hiện và cải tiến chương trình đào tạo;
10 Phát triển chiến lược đánh giá chương trình đào tạo thích hợp
Cách lý tưởng nhất để phát triển một chương trình đào tạo POHE mới là tiến hành theo tuần tự từng bước kể trên bắt đầu từ khảo sát nhu cầu của thế giới nghề nghiệp Quá trình này được trình bày trong sơ đồ vòng dưới đây Định kì các hoạt động phát triển chương trình đào tạo:
Ghi chú: Chu trình có thể bắt đầu tại bất cứ điểm nào
Đánh giá toàn bộ CT
Vòng phát triển CTĐT
Lựa chọn phương pháp giáo dục
Xây dựng nội dung học tập
Phân tích hiện trạng
Xác định mục tiêu Phân tích
nhu cầu
Trang 361.6.2 Chu trình phát triển CTĐT được sử dụng để nghiên cứu
Như vậy, có nhiều quan điểm trong tiếp cận khái niệm phát triển CTĐT Nhiều tác giả xem phát triển CTĐT là một quá trình liên tục bao gồm các yếu tố sau:
- Yếu tố thứ nhất: Phân tích nhu cầu phát triển chương trình đào tạo;
- Yếu tố thứ hai: Xác định mục đích, mục tiêu của chương trình đào tạo;
- Yếu tố thứ ba: Thiết kế chương trình đào tạo;
- Yếu tố thứ tư: Thực thi chương trình đào tạo;
- Yếu tố thứ năm: Đánh giá chương trình đào tạo
Năm yếu tố này được bố trí thành một vòng tròn khép kín, biểu diễn sự phát triển CTĐT như một quá trình diễn ra liên tục:
Sơ đồ 1.4 Chu trình phát triển chương trình đào tạo
Theo sơ đồ này, các yếu tố tác động qua lại lẫn nhau và phải xem xét từng yếu tố trong mối tác động của các yếu tố khác.[2, trg.109]
1.6.3 Cách triển khai chu trình phát triển chương trình đào tạo
1.6.3.1 Phân tích nhu cầu phát triển chương trình đào tạo
Trong quá trình phát triển CTĐT của một nghề cũng như chương trình của một học phần, việc đầu tiên cần làm là phân tích nhu cầu
a) Để phân tích nhu cầu phát triển chương trình một ngành/nghề, cần phân tích 4 nội dung:
- Bối cảnh phát triển chương trình - Xu thế phát triển của xã hội nói chung
- Trình độ phát triển của công nghệ nói chung, CNTT&TT nói riêng, khả năng sử dụng thành tựu của CNTT&TT vào đào tạo và nghiên cứu ngành học
- Xu thế phát triển của ngành học, bậc học
- Đặc điểm về người học trong xã hội đương đại
b) Để phát triển chương trình học phần, việc phân tích nhu cầu nhắm tới các đối tượng sau:
Phân tích nhu cầu
Đánh giá
chương trình
Thực thi chương trình
Thiết kế chương trình
Chu trình phát triển CTĐT
Xác định mục đích, mục tiêu
Trang 37- Mối quan hệ giữa học phần với mục đích, mục tiêu của cả CTĐT
- Những thông tin về người học
- Tính hữu dụng của kiến thức học phần khi học lên hoặc vận dụng nghề nghiệp
- Bối cảnh dạy học
- Những ưu tiên của cơ sở đào tạo
Kết quả của quá trình phân tích nhu cầu là cơ sở để xác định mục đích, mục tiêu của CTĐT [2, trg.110]
1.6.3.2 Xác định mục đích, mục tiêu của chương trình đào tạo
Trong khoa học giáo dục, các từ mục đích và mục tiêu thường được sử dụng thiếu sự giải thích cặn kẽ, tường minh, dẫn đến những cách hiểu khác nhau và nhất là cách đánh giá khác nhau khi xác định CLĐT (khi xem chất lượng là sự trùng khớp với mục tiêu)
- Định hướng trong giáo dục (aims of education)
Định hướng “aim” là việc đưa ra một hình mẫu và một phương hướng để thiết kế các hoạt động đặc thù nhằm đạt tới một sản phẩm hay một hành vi trong tương lai Định hướng là điểm xuất phát để tạo ra một hình mẫu lý tưởng, hay một tầm nhìn đầy cảm hứng đối với sản phẩm tương lai Định hướng phản ánh những nhận định giá trị, những ước vọng và phương hướng để các nhà giáo dục thiết kế quy trình đào tạo
- Mục đích trong giáo dục (Goals of Education)
Mục đích trong giáo dục là một cách xác định hình hài đầu ra của giáo dục Theo Sowell mục đích của giáo dục phải trả lời câu hỏi sau: “Một chương trình đào tạo, một học phần dự định dẫn người học đi theo hướng nào?”
Mục đích trong giáo dục chỉ đưa ra những phương hướng dự kiến mà không đề cập một cách dạy học cụ thể nào Ở mức độ nhất định, mục đích giáo dục nêu lên những đặc trưng cơ bản của người học cần đạt tới Một CTĐT có mục đích là đào tạo sinh viên thành người có văn hóa, có nghĩa là mong muốn sinh viên đạt được những kỹ năng tư duy phê phán, nhạy cảm với những nền văn hóa đa dạng và biết chịu trách nhiệm về việc học của mình
- Mục tiêu của giáo dục (Objectives of education)
Khác với định hướng (aim), mục đích (goal) mục tiêu (objective) được xác định
cụ thể, tường minh Từ định hướng, cái chung nhất, một khung chiến lược dài hạn, tới cái ngắn hạn, cụ thể hơn
- Mục đích chương trình (curriculum goals) là mong muốn đối với người học sau
khi họ hoàn thành chương trình đó HSSV đạt được mục đích này qua quá trình thực hiện từng hoặc tất cả các phân đoạn của chương trình trong một cơ sở giáo dục cụ thể Còn mục tiêu chương trình (curriculum objectives) là sự cụ thể hóa mục đích chương trình để có thể đo lường được, tức là được xác định như các chuẩn thực hiện đối với HSSV
- Mục tiêu CTĐT là sự cụ thể hóa mục đích của chương trình trong các lĩnh vực
Trang 38Triết lý về chương trình đào tạo → Định hướng → Mục đích → Mục tiêu
kiến thức, kỹ năng, thái độ Mục tiêu chương trình mô tả cụ thể những gì người học có thể thực hiện được sau khi học xong bậc học hay môn học
Có thể minh họa bằng sơ đồ sau:
Đối với CTĐT về khoa học tự nhiên, các nhà thiết kế có thể đặt mục đích là
“phát triển các kỹ năng xử lý thông tin của sinh viên khi tiếp cận tài liệu khoa học” Từ mục đích này có thể có hàng loạt các mục tiêu cụ thể căn cứ trên triết lý và nguyên tắc xây dựng CTĐT Mục tiêu trong giáo dục có thể được xây dựng ở nhiều mức khác nhau Bắt đầu là mục tiêu chung nhất (thường là sản phẩm đầu ra của một CTĐT cụ thể, một khoá học, học phần hay bậc học) tới mục tiêu cụ thể là một giờ học
Tùy theo cách tiếp cận trong thiết kế CTĐT, việc xác định mục tiêu đào tạo cũng khác nhau Nếu theo cách tiếp cận mục tiêu thì người thiết kế CTĐT sẽ xác định mục tiêu đầu ra, còn theo cách tiếp cận phát triển hay tiếp cận quá trình thì các nguyên tắc chỉ đạo quá trình lại được xem là mục tiêu của CTĐT
Mục đích là khái niệm rộng hơn mục tiêu Mục đích của CTĐT là sự diễn đạt khái quát cái đích chung nhất của CTĐT phải đạt tới định hướng cho toàn bộ quy trình đào tạo về năng lực chuyên môn, phẩm chất hành vi Còn mục tiêu đào tạo là sự mô tả cụ thể những gì người học có khả năng thực hiện được sau khi hoàn tất một khóa học hay học phần Một CTĐT phải có mục đích chung cho cả khóa học, đồng thời phải xác định mục tiêu cụ thể cho từng nhóm học phần, từng học phần Và từ đây mỗi học phần lại được xác định mục tiêu chi tiết (kiến thức, kỹ năng, thái độ) tới từng chương, từng bài
1.6.3.3 Thiết kế chương trình đào tạo
Trên cơ sở mục tiêu của CTĐT được xác định ở mức khái quát, quy định những năng lực mà người học phải có sau khi học xong học phần (hoặc một khóa đào tạo), công việc thiết kế CTĐT thực sự bắt đầu Quy trình thiết kế CTĐT được tiến hành theo các bước sau:
- Lựa chọn và sắp xếp nội dung đào tạo
Nội dung chương trình là tập hợp các sự kiện, khái niệm, nguyên lý, nguyên tắc,
lý thuyết,… về các lĩnh vực khoa học liên quan đến mục tiêu, chuẩn đầu ra của chương trình Phạm vi và độ sâu của các nội dung này cũng được quy định bởi chính mục tiêu và chuẩn đầu sra đó và được tổ chức phù hợp với trình độ nhận thức của người học
- Xác định phương thức tổ chức quá trình đào tạo
Có hai phương thức đào tạo hiện nay đang được áp dụng rộng rãi là niên chế và tín chỉ Phương thức đào tạo theo tín chỉ có ưu điểm là vừa đảm bảo đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho nhu cầu xã hội, vừa đáp ứng nhu cầu của người học Trong phương thức này, người học có thể căn cứ CTĐT, cách thức tổ hợp các tín chỉ để thiết
Trang 39kế một kế hoạch học tập phù hợp nhất với bản thân
- Xác định các hình thức tổ chức dạy học
Căn cứ vào mục tiêu và nội dung đã được xác định, lựa chọn và tổ chức như nói
ở trên, việc tìm kiếm các hình thức tổ chức dạy học phù hợp cũng là một khâu quan trọng tác động lớn tới hiệu quả dạy - học Có 3 lựa chọn cơ bản:
+ Lựa chọn về cấu trúc: lớp lý thuyết, làm việc nhóm, làm việc tại phòng thực
hành, hoạt động ngoài lớp học v.v
+ Lựa chọn quy trình: về thời gian, địa điểm học tập v.v
+ Lựa chọn công nghệ: máy vi tính, các loại bảng, website v.v
Hình thức tổ chức dạy học sẽ quy định các phương pháp dạy - học tương ứng
- Lựa chọn các phương pháp dạy học
Bởi phương pháp tạo nên hiệu quả của quá trình dạy học Trên thực tế, không tồn tại một phương pháp tuyệt vời cũng như không có một phương pháp tồi tệ Mỗi phương pháp đều có ưu và nhược riêng, do đó người dạy phải biết chọn lựa để phát huy những điểm mạnh và hạn chế những nhược điểm của từng phương pháp trong quá trình dạy học
- Lựa chọn và sử dụng phương tiện, công nghệ dạy học
+ Khi lựa chọn các phương tiện chỉ chọn các phương tiện hiệu quả nhất cho mục tiêu dạy - học Phải đảm bảo thiết bị là có sẵn và phương tiện càng dễ sử dụng càng có hiệu quả cao
+ Nếu yêu cầu sinh viên sử dụng máy vi tính ngoài lớp học phải đảm bảo sinh viên có thể tiếp cận với máy tính cùng phần mềm tương ứng Bên cạnh phương tiện dạy học hiện đại, thì những phương tiện dạy học tự tạo hay tài liệu phát tay cũng mang lại hiệu quả cao
- Xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá
Một quy trình đào tạo, đánh giá liên tục là một hoạt động mà bất kỳ giảng viên nào cũng phải thực hiện, ngay cả khi không có áp lực nào từ bên ngoài Quy trình đánh giá kết quả bao gồm các bước sau:
+ Xác định những mục tiêu chi tiết ứng với từng đơn vị nội dung của học phần + Lựa chọn các hình thức kiểm tra đánh giá
+ Thiết kế các công cụ kiểm tra đánh giá
1.6.3.4 Thực thi chương trình đào tạo
- Khi thực thi CTĐT, thì chương trình môn học/ mô đun quan trọng nhất cần xây dựng khi thực thi CTĐT
Đề cương học phần là tài liệu do giảng viên biên soạn để cung cấp cho người học trước khi giảng dạy môn học Đề cương học phần bao gồm thông tin về giảng viên, thông tin về học phần, mục tiêu học phần, tóm tắt nội dung học phần, nội dung chi tiết học phần, học liệu, hình thức tổ chức dạy học, chính sách đối với học phần và phương pháp, hình thức kiểm tra – đánh giá kết quả học tập
Trang 40- Xây dựng lịch trình giảng dạy
- Lập hồ sơ học phần:
+ Đề cương chi tiết– Lịch trình giảng dạy
+ Các tài liệu học tập có liên quan kể cả các tài liệu của giảng viên
+ Kết quả học tập của sinh viên khi kết thúc học phần
+ Ý kiến phản hồi của sinh viên sau khi kết thúc học phần
+ Ý kiến của đồng nghiệp sau dự giờ
+ Bài thi, kiểm tra của sinh viên
Hồ sơ học phần là cơ sở để điều chỉnh, cập nhật CTĐT sau mỗi khoá học và được đổi mới sau mỗi năm học Hiện nay, đào tạo Cao đẳng chính quy chuyển sang
mô hình đào tạo nghề do vậy sau khi xây dựng CTĐT nhà trường xây dựng chương trình môn học/mô đun cho từng môn học hoặc mô đun đào tạo; trên cơ sở đó xây dựng
đề cương chi tiết trước khi đưa vào giảng dạy
1.6.3.5 Đánh giá chương trình đào tạo
Mặc dù khó có thể đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về đánh giá CTĐT, nhưng cũng có thể tạm xác định một cách tiếp cận về đánh giá CTĐT như sau: “Đánh giá CTĐT là một quá trình thu thập các cứ liệu để có thể quyết định, chấp thuận, sửa đổi hay loại bỏ CTĐT đó” (A.C Orstein, F.D Hunkins 1998)
Đánh giá CTĐT nhằm phát hiện xem CTĐT được thiết kế, phát triển và thực hiện
đó có tạo ra hay có thể tạo ra những sản phẩm mong muốn hay không? Đánh giá giúp xác định điểm mạnh, điểm yếu của CTĐT trước khi đem ra thực hiện, hoặc để xác định hiệu quả của nó khi đã thực hiện qua một thời gian nhất định
Tùy theo cách tiếp cận trong thiết kế CTĐT, có thể có nhiều cách quan niệm về CTĐT, tuy nhiên mọi hoạt động đánh giá phải được căn cứ trên mục tiêu của CTĐT
và phải trả lời được 2 câu hỏi sau:
(1) CTĐT có đạt mục tiêu về chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ không?
(2) Làm thế nào để cải tiến CTĐT?
* Cập nhật và đánh giá CTĐT được thực hiện như sau:
1 Ít nhất 03 năm 01 lần, Hiệu trưởng các trường thành lập Hội đồng chuyên môn
để tổ chức đánh giá lại CTĐT đã ban hành để cập nhật, bổ sung những thay đổi trong quy định của nhà nước, những tiến bộ mới của khoa học công nghệ trong lĩnh vực ngành, nghề đào tạo; các kết quả nghiên cứu liên quan đến chương trình, những thay đổi trong các môn học, mô đun hoặc nội dung chuyên môn để phù hợp với thực tiễn sản xuất, kinh doanh và dịch vụ của TTLĐ
2 Việc sửa đổi, cập nhật, bổ sung những nội dung trong CTĐT được thực hiện theo các bước quy định tại Điều 6, Điều 7 của Thông tư này hoặc theo quy trình rút gọn và tổ chức đơn giản hơn, tuỳ theo mức độ sửa đổi, cập nhật, điều chỉnh và do Hiệu trưởng nhà trường quyết định