Ở lứa tuổi trung học phổ thông thì có: Nghiên cứu “Khó khăn tâm lý và nhu cầu tham vấn của học sinh trung học phổ thông” của tác giả Dương Thị Diệu Hoa đưa ra kết quả nghiên cứu rằng hầu
Mục đích nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu thực trạng khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh THCS Lê Ngọc Giá, đề tài đề xuất một số biện pháp nhằm khắc phục những khó khăn trong hoạt động học tập của học sinh.
Khách thể, đối tƣợng nghiện cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: 186 học sinh lớp 9 trường THCS Lê Ngọc Giá, Điện Bàn - Quảng Nam
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh trường THCS Lê Ngọc Giá, Điện Bàn- Quảng Nam.
Giả thuyết nghiên cứu
Đa số học sinh trung học THCS có những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập ở những mức độ khác nhau Học sinh khá giỏi ít gặp khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập hơn học sinh trung bình, yếu.
Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nguyên cứu cơ sở lý luận của khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh
5.2 Nghiên cứu thực trạng khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh THCS
5.3 Đề xuất biện pháp giúp học sinh THCS vượt qua khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập.
Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp nghiên cứu tiểu sử
6.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
6.3 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
Ơ SỞ LÝ LUẬN VỀ K Ó K ĂN TÂM LÝ TRON
Lịch sử nghiên cứu
Khi bàn về khó khăn tâm lí trong học tập, tác giả A.V.Pêtrốpxki hướng đến đối tượng là khó khăn tâm lý của trẻ em khi đi vào lớp một Ông chia những khó khăn này ra làm ba loại:
Loại 1: Nhưng khó khăn có liên quan đến đặc điểm của chế độ học tập mới
Loại 2: Khó khăn trong việc thiết lập mối quan hệ giao tiếp mới với thầy cô và bạn bè
Loại 3: Khó khăn trong việc thích nghi với hoạt động mới Lúc đầu trẻ được sự chuẩn bị của gia đình, nhà trường, xã hội nên có tâm lý vui thích và sẵn sàng đi học Về sau trẻ giảm dần khát vọng và chán học
Bên cạnh đó, tác giả đề cập những nguyên nhân dẫn đến khó khăn và ảnh hưởng của chúng đến đời sống của trẻ đồng thời đề xuất biện pháp giải quyết khó khăn cho trẻ
Cũng đề cập đến vấn đề khó khăn tâm lý của trẻ em khi vào lớp một, nhà tâm lý học Mauricè Debesse trong công trình nghiên cứu của mình đã gọi lớp một là “trang sử mới của cuộc đời đứa trẻ” Đồng thời Mauricè Debesse cũng chỉ ra rằng, đứng trước ngưỡng cửa lớp một trẻ em gặp rất nhiều khó khăn tâm lý Chính những khó khăn này làm cản trở, ảnh hưởng tới sự thích ứng với hoạt động học tập của trẻ, làm trẻ sợ học, không muốn đến trường và kết quả học tập không cao
Bianka Zazzo, nhà tâm lý học và giáo dục học người Pháp, cùng với các cộng sự của mình thuộc trung tâm nghiên cứu trẻ em của Đại học Paris 10 đã tiến hành nghiên cứu về bước chuyển từ mẫu giáo lên cấp một của trẻ em Tác giả đã chỉ ra rằng, khó khăn tâm lý lớn nhất mà trẻ gặp phải làm cản trở đến sự thích ứng với hoạt động học tập của trẻ là “sự thay đổi môi trường hoạt động một cách triệt để, gọi là chuyển dạng hoạt động chủ đạo Mẫu giáo lấy hoạt động vui chơi làm chủ đạo, vừa học vừa chơi, hoạt động đa dạng, tính tự do tùy hứng cá nhân nặng hơn tính chỉ đạo của giáo viên Bước vào lớp một, học tập là chủ đạo, học sinh phải học nghiêm chỉnh theo sự chỉ đạo của giáo viên, theo nguyên tắc lớp học” [8]
Tóm lại, khó khăn tâm lý trong hoc tập là một hiện tượng tâm lý phức tạp nhưng ít đ ư ợ c các nhà tâm lý học nước ngoài quan tâm nghiên cứu Mặc dù trong công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã có những đóng góp nhất định trong việc phát hiện va nêu ra một số khó khăn tâm lý, đồng thời chỉ ra nguyên nhân của những khó khăn tâm lý đó Tuy nhiên, đối tượng mà các công trình nghiên cứu này hướng tới chủ yếu là những khó khăn tâm lý của trẻ vào lớp một, đồng thời họ cũng chưa nêu được định nghĩa cũng như vạch ra bản chất của những khó khăn tâm lý đó
Bàn về vấn đề này ở Việt nam cũng có một số tác giả đã nghiên cứu Ở lứa tuổi tiểu học có một số công trình như: Nhà giáo dục Nguyễn Thị Nhất trong tác phẩm “ 6 tuổi vào lớp 1” đã phát hiện ra nhiều khó khăn tâm lý mà trẻ lớp một phải vượt qua Tác giả cho rằng “trong quá trình lớn lên của trẻ em có những bước ngoặt chuyển tư giai đoạn này sang giai đoạn khác đòi hỏi trẻ em phải thay đổi phương thức sinh hoạt một cách triệt để.” Đồng thời tác giả cũng nêu ra một số khó khăn tâm lý cụ thể mà trẻ lớp một phải vượt qua:
- Trẻ phải rời bỏ cuộc sống thoải mái, đa dạng, vui nhộn, hoạt động tùy hứng ở mẫu giáo và khép mình vào kỷ luật nghiêm khắc của lớp học phổ thông
- Trẻ gặp khó khăn trong quan hệ với giáo viên
- Trẻ bị “vỡ mộng” khi vào học lớp một vì sự hân hoan hồi hộp chờ đón những điều hấp dẫn được thay bằng những điều khác xa với tưởng tượng của trẻ [7]
Năm 1995, tác giả Nguyễn Minh Hải trong bài “Những khó khăn tâm lý trong quá trình giải toán của học sinh tiểu học” đã đề cập đến các nguyên nhân khác nhau hạn chế năng lực giải toán của học sinh tiểu học Ở lứa tuổi trung học phổ thông thì có: Nghiên cứu “Khó khăn tâm lý và nhu cầu tham vấn của học sinh trung học phổ thông” của tác giả Dương Thị Diệu Hoa đưa ra kết quả nghiên cứu rằng hầu hết học sinh được khảo sát đều có trạng thái tâm lý lo lắng với các mức độ khác nhau về các lĩnh vực có liên quan tới học tập, quan hệ và sự phát triển của bản thân; nhận thức của học sinh phổ thông cho rằng hoạt động tham vấn đối với các em là cần thiết Ở lứa tuổi sinh viên thì có một số công trình:
Nghiên cứu “Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên năm nhất đại học sư phạm Hà Nội” của tác giả Nguyễn Xuân Thức đã tìm hiểu các biểu hiện của khó khăn tâm lý, nguyên nhân và những ảnh hưởng của chúng đến nhân cách của sinh viên [9, Tr 32-35]
Tác giả Đặng Thị Lan trong nghiên cứu “Một số khó khăn tâm lý trong hoạt động học ngoại ngữ của sinh viên những năm đầu ở trường Đại học ngoại ngữ - ĐHQG Hà Nội” đi vào tìm hiểu những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên và mức độ khó khăn giữa sinh viên nam và nữ, ảnh hưởng của khó khăn tâm lý tới sự phát triển tâm lý, nhân cách của sinh viên năm nhất và những nhân tố khách quan và chủ quan gây ra những khó khăn tâm lý đó
Tóm lại, khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập là một hiện tượng tâm lý phức tạp nhưng vấn đề này vẫn còn ít được quan tâm nghiên cứu Các công trình nghiên cứu về vấn đề này như đã nêu trên ít nhiều đã xây dựng được cơ sở lý luận và đưa ra những dữ kiện thực tiễn Qua tổng quan về vấn đề nghiên cứu cho thấy vẫn chưa có một công trình nào đề cập đến những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của ở lứa tuổi THCS.
Một số vấn đề lý luận về khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập
Dưới góc độ tâm lý học xuất phát từ quan điểm cho rằng: Cuộc sống của con người là chuỗi những hoạt động kế tiếp nhau, đan xen nhau tác động vào đối tượng nhằm mục đích thỏa mãn một nhu cầu nhất định và chính kết quả của hoạt động là sự cụ thể hóa nhu cầu; và hoạt động chính là phương thức tồn tại của con người trong thế giới
Hoạt động được hiểu là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với thế giới khách quan nhằm tạo ra sản phẩm cho thế giới và cho chính con người
Như vậy, chúng ta có thể hiểu hoạt động là hệ thống động lực học của mối tương tác giữa chủ thể với thế giới nhằm tạo ra sản phẩm về phía thế giới và về phía con người
Hoạt động của con người gồm hai quá trình: Qúa trình đối tượng hóa khi con người tác động vào khách thể và quá trình chủ thể hóa con người chuyển những cái chứa trong thế giới vào bản thân
1.2.1.2 ặc điểm của hoạt động
Hoạt động bao giờ cũng là hoạt động có đối tượng Hoạt động là quá trình tác động vào thế giới, mà cụ thể là một cái gì đó Cái gì đó – chính là đối tượng Đối tượng xuất hiện ngay chính trong quá trình hoạt động, đặc điểm này biểu hiện hoạt động tích cực như trong hoạt động học tập, hoạt động nghiên cứu, hoạt động sáng tạo,
Hoạt động bao giờ cũng do chủ thể tiến hành Mỗi hoạt động cụ thể bao giờ cũng được thực hiện bởi một hay nhiều chủ thể của nó
Hoạt động vận hành theo nguyên tắc gián tiếp Trong hoạt động lao động người ta dùng công cụ lao động để tác động vào đối tượng lao động Công cụ lao động giữ vai trò trung gian giữa chủ thể lao động và đối tượng lao động, tạo ra tính gián tiếp trong hoạt động lao động Công cụ lao động có hai loại: công cụ kỹ thuật và công cụ tâm lý
Hoạt động bao giờ cũng có mục đích nhất định Mục đích là biểu tượng về sản phẩm hoạt động, có khả năng thỏa mãn nhu cầu nào đó của chủ thể, nó điều khiển, điều chỉnh hoạt động Mục đích của hoạt động luôn bị chế ước bởi nội dung xã hội
1.2.1.3 Khái niệm hoạt động học tập
Trong thực tiễn, con người có nhiều cách học khác nhau để tiếp thu kinh nghiệm xã hội, nhưng thông thường học tập được thường có hai dạng cơ bản: học ngẫu nhiên và học có mục đích
- Học ngẫu nhiên: Đây là dạng học được thực hiện một cách không chủ định Kết quả của hoạt động này chỉ thu được những tri thức rời rạc, không hệ thống, ngẫu nhiên, tiền khoa học Mục đích của cách học này là nhằm ứng phó với những tình huống, những vấn đề cụ thể trong cuộc sống Tuy nhiên để tồn tại và phát triển cũng như tác động, cải tạo thế giới hiện thực con người không chỉ dừng lại ở những tri thức kinh nghiệm mà đòi hỏi cần có một hệ thống tri thức khoa học, có tính khái quát cao để áp dụng vào mọi tình huống trong thực tiễn Để đạt được mục đích này con người cần tiến hành hoạt động học có hiệu quả hơn đó là học có mục đích
- Học có mục đích: là một dạng hoạt động đặc thù của con người Hoạt động học chỉ có thể thực hiện được khi con người phát triển ở một trình độ nhất định, có khả năng điều chỉnh những hành động của mình theo mục đích đã được ý thức Khả năng này thường bắt đầu hình thành vào lúc 5-6 tuổi Và khi hoạt động học được tiến hành đúng nghĩa của nó thì mới có thể hình thành hệ thống tri thức khoa học, kỹ năng, cấu trúc tương ứng của hoạt động tâm lý giúp phát triển toàn diện nhân cách cho con người
Khi bàn về vấn đề học tập có rất nhiều quan điểm khác nhau tùy vào cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu
I.B.Intenxơn cho rằng, học tập là hoạt động đặc biệt của con người nhằm mục đích nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và các hình thức nhất định của hành vi Nó bao gồm cả ý nghĩa nhận thức và thực tiễn
A.N.Lêônchiev, P.Iaganpêrin và N.Phatalưđina lại coi học tập xuất phát từ mục đích trực tiếp và từ nhiệm vụ giảng dạy được biểu hiện ở hình thức tâm lý bên ngoài và bên trong của hoạt động
V.V.Đavưdov quan niệm học tập dựa trên cơ sở nâng cao trình độ tư duy lý luận
N.V.Cudomina lại coi hoạt động học tập là loại học tập nhận thức cơ bản của sinh viên được thực hiện dưới sự hướng dẫn của cán bộ giảng dạy Trong quá trình này việc nắm vững nội dung cơ bản các thông tin mà thiếu nó thì không thể tiến hành được hoạt động nghề nghiệp tương lai
Các quan niệm trên về hoạt động học tập mặc dù chưa có sự thống nhất giữa các tác giả song các tác giả khác nhau ít nhiều đều xem xét hoạt động học tập có liên quan đến nhận thức hoặc tư duy và sâu hơn nữa là liên quan đến yếu tố nghề nghiệp Do cách tiếp cận khác nhau nên hoạt động học tập cũng được các tác giả nhấn mạnh ở những khía cạnh khác nhau nhưng họ vẫn gặp nhau ở một điểm chung đó là xem hoat động học tập là hoạt động có mục đích tự giác, có ý thức về động cơ và trong đó diễn ra quá trình nhận thức, đặc biệt là quá trình tư duy
Về phía các tác giả Việt Nam, như tác giả Lê Văn Hồng và Lê Ngọc Lan, khi nghiên cứu về hoạt động học tập đã có quan niệm như sau: Hoạt động học tập là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác và lĩnh hội những tri thức, kỹ xảo mới, những phương thức hành vi và nhưng dạng hoạt động nhất định
Hoạt động học tập có thể hiểu khái quát như sau:
TỔ CHỨ V P ƢƠN P ÁP N ÊN ỨU
Vài nét về khách thể nghiên cứu: Trường THCS Lê Ngọc iá, iện Bàn – Quảng Nam
Trường THCS Lê Ngọc Giá thuộc xã Điện Dương, huyện Điện Bàn, Quảng nam Được thành lập năm 1990 dành cho học sinh lớp 6,7,8 và 9 Ban đầu trường chỉ có 10 phòng học thiếu thốn rất nhiều Đến nay trường có 34 phòng học, 100% phòng học được trang bị tốt về ánh sáng, bàn ghế đảm bảo thoáng mát sạch sẽ, cảnh quan sư phạm tốt Giữ nhà vệ sinh học sinh và giáo viên luôn sạch đẹp Có 2 phòng máy phòng máy phục vụ việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học có hiệu quả cao Trường cũng đã cho lắp đặt hệ thống mạng vi tính Có 1 phòng thư viện thoáng mát dùng để mượn sách và đọc sách Trường cũng đã dành ra 3 phòng thực hành dành cho môn vật lý, hóa học và sinh học Trong điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị càng thiếu, cũ kỹ, lạc hậu phải tu sửa nhiều lần, trường đã cố gắng phát huy và tận dụng tối đa để có thể phục vụ cho hoạt động học tập của học sinh đạt kết quả cao Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên tổng cộng 47người Trong đó, có
38 giáo viên, 4 cán bộ và 5 nhân viên 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên chấp hành tốt các chủ trượng, chính sách của Đảng, Nhà nước, có tinh thần trách nhiệm cao trong mọi nhiệm vụ được giao Tham gia thực hiện tốt công cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” Trường THCS Lê Ngọc Giá được công nhận trường chuẩn từ năm 2007-
2008, từ đó đến nay nhà trường đã có sự vươn lên trong tất cả các phong trào, cụ thể 3 năm học gần đây trường được công nhận trường tiên tiến xuất sắc được ủy ban nhân dân tỉnh tặng bằng khen
Năm học 2012- 2013 trường đã tổ chức khai giảng cho 767 học sinh Trong đó, 4 lớp 6, 4 lớp 7, 5 lớp 8 và 6 lớp 9
Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng trường luôn hoàn thành xuất sác nhiệm vụ năm học Hằng năm trường luôn có đội ngũ học sinh đại diện cho trường đi thi học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh Trường không chỉ mạnh về hoạt động học tập mà một số phong trào hoạt động khác như thể dục thể thao trường phát triển sôi nổi và giành được thành tích cao.
Tiến trình nghiên cứu
Giai đoạn 1: Nghiên cứu lý luận, xác định các phương pháp nghiên cứu, xây dựng và lựa chọn công cụ khảo sát thực trạng Thời gian: từ thàng 1/2013 đến tháng 2/2013
Giai đoạn 2: Tổ chức nghiên cứu thực trạng Thời gian: từ thàng 2/2013 đến tháng 4/2013
Giai đoạn 3: Đề xuất biện pháp Thời gian: từ thàng 4/2013 đến tháng 5/2013.
Tiến hành nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Mục đích: Nghiên cứu lý luận để xây dựng đề cương nghiên cứu, cơ sở lý luận của đề tài, thiết kế và xây dựng bảng hỏi, bảng phỏng vấn, lựa chọn phương pháp phù hợp hơn làm cơ sở cho việc khảo sát thực trạng
Phương pháp: Các phương pháp sử dụng: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa những vấn đề lý luận của đề tài nghiên cứu
Nội dung: Tìm hiểu khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập, nguyên nhân của những khó khăn tâm lý trong hoạt động học
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
2.3.2.1 Phương pháp điều tra tiểu sử
Mục đích: Thu thập danh sách học sinh, kết quả rèn luyện và điểm học tập của học sinh
Cách tiến hành: phân tích, tổng hợp
Nội dung: Tiến hành thu thập số lượng học sinh của mỗi lớp, kết quả học tập, rèn luyện kỳ I của học sinh
2.3.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích: Thu thập số liệu về những biểu hiện của khó khăn tâm lý, nguyên nhân, hiệu quả học tập do ảnh hưởng của những khó khăn tâm lý
Cách tiến hành: Sử dụng bảng hỏi
Nội dung phiếu điều tra cụ thể như sau:
Câu 1 Tìm hiểu biểu hiện về mặt nhận thức, thái độ, xúc cảm của những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh THCS
- Khó khăn tâm lý về mặt nhận thức:
- Khó khăn tâm lý về mặt thái độ:
Với mỗi ý, khách thể sẽ chọn 1 trong 5 mức độ: không bao giờ, hiếm khi, thỉnh thoảng, thường xuyên, rất thường xuyên Tổng kết kết quả dưới hình thức cho điểm: không bao giờ: 0 điểm, hiếm khi: 1 điểm, thỉnh thoảng: 2 điểm, thường xuyên: 3 điểm, rất thường xuyên: 4 điểm
Câu 2: Khó khăn tâm lý biểu hiện trong kỹ năng học tập:
Các khó khăn tâm lý trong việc sử dụng các kỹ năng học tập, bao gồm: kỹ năng đọc sách, kỹ năng nghe giảng, kỹ năng ôn tập, kỹ năng thuyết trình, kỹ kiểm tra
Câu 3: Nguyên nhân của những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh
Các nguyên nhân được chia thành hai nhóm sau:
- Nhóm nguyên nhân khách quan:
- Nhóm nguyên nhân chủ quan:
Có 3 độ đánh giá nguyên nhân: nhiều, ít, không ảnh hưởng của những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh
Câu 4: Các khó khăn tâm lý đã ảnh hưởng đến hoạt động học tập của học sinh
- Kết quả học tập không cao
- Không hiểu nội dung bài học
- Không vận dụng được những kiến thức đã học vào giải bài tập hay tình huống thực tiễn
- Lượng kiến thức tiếp thu được ít và không hệ thống
- Không hoàn thành hoặc hoàn thành không tốt các nhiệm vụ học tập
- Không tham gia vào bài học trên lớp được
Câu 5 Những biện pháp nào để khắc phục những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập
Mục đích: Nhằm tìm hiểu sâu hơn thực trạng những khó khăn, nguyên nhân của những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập
Cách tiến hành: Đàm thoại
Nội dung: Nói chuyện xoay quanh các vấn đề về nguyên nhân dấn đến những khó khăn tâm lý trong học tập, những biện pháp khắc phục khó khăn Đối tượng phỏng vấn bao gồm: nhóm có học lực yếu, ttrung bình, khá, giỏi
Mục đích: Nhằm làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu và hỗ trợ cho các phương pháp nghiên cứu khác trong quá trình thu thập thông tin
Cách tiến hành: Quan sát, ghi chép hoạt động học của các lớp
Nội dung: Tham gia vào quá trình học tập trên lớp của học sinh để quan sát những biểu hiện vể thái độ và kỹ năng của khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh
Trong quá trình nghiên cứu còn có sự trao đổi với giáo viên dạy môn học và học sinh để có được kết quả nghiên cứu biểu hiện một số yếu tố tâm lý về khó khăn trong hoạt động học tập của học sinh
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu
Mục đích: Xử lý các thông tin từ biện pháp điều tra bằng bảng hỏi
Cách tiến hành: Sử dụng phương pháp thống kê toán học
Nội dung: Sau khi thu lại phiếu điều tra tiến hành sàng lọc Với những phiếu thiếu thông tin hay sai yêu cầu thì sẽ bị loại Số phiếu phát ra là 213 Số phiếu thu lại hợp lệ là 186 phiếu
Các thông số được sử dụng : tần số (f), trung bình ( ), tỉ lệ %, hệ số tương quan (r).
Những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh lớp 9 trường THCS Lê Ngọc Giá
3.1.1 Khó khăn tâm lý biểu hiện ở mặt nhận thức và thái độ trong hoạt động học tập của học sinh lớp 9 trường THCS Lê Ngọc Giá
3.1.1.1 Khó khăn tâm lý biểu hiện ở mặt nhận thức và thái độ trong hoạt động học tập của học sinh lớp 9 trường THCS Lê Ngọc iá dưới góc độ tổng quát
Bảng 3.1 Thực trạng mức độ khó khăn tâm lý biểu hiện ở mặt nhận thức và thái độ trong hoạt động học tập của học sinh lớp 9 trường THCS Lê Ngọc Giá
Biểu hiện Nhận thức Thái độ
Ghi chú: : giá trị trung bình
Qua khảo sát cho thấy, tất cả những học sinh đều có những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập ( =1.69>0)
Học sinh nhận thức tương đối tốt về việc học tập chính vì thế mà những khó khăn biểu hiện về mặt nhận thức ít xảy ra hơn khó khăn về mặt thái độ Căn cứ vào điểm trung bình mức độ thì có 3 khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh xảy ra thường xuyên: chán nản khi gặp môn học khó ( 2.34) (phụ lục 2), lo lắng quá mức về việc học ( =2.09) (phụ lục 2), mất bình tĩnh khi gặp những vấn đề khó trong học tập ( =2.02) (phụ lục 2) Ở học sinh lớp 9 thì việc học tập trở nên chán nản có thể lý giải điều này bởi “Em không hiểu những gì cô giảng” – Phan Bá Thanh (lớp 9.4) Hay có thể do sở thích các em không được bố, mẹ tôn trọng và bắt ép các em học tập quá nhiều Trần Đàm Sỷ (lớp 9.3): “Em thích học vẽ và chỉ muốn thi vào một trường cấp ba bình thường rồi sau đó sẽ theo đuổi ước mơ của mình, nhưng bố mẹ em không đồng ý, bắt học thêm triền miên để thi vào trường chuyên Không được làm theo ý mình nên đến lớp em chỉ ngồi chơi” Học tập không hiểu sẽ mất đi sự hứng thú với môn học, cảm thấy mệt mỏi, mọi kiến thức không thể tiếp thu được, thêm vào đó các em học quá nhiều lý thuyết
Lo lắng quá mức về việc học thường diễn ra bởi các em phải học một chương trình rất nặng, chịu áp lực từ gia đình, lại phải chuẩn bị để đối mặt với kỳ thi hết sức quan trọng, thi tốt nghiệp Áp lực học tập thúc đẩy các em cố gắng, phấn đấu nhưng áp lực quá lớn sẽ khiến cho các em mệt mỏi, trầm cảm, và khi không thể vượt qua có thể các em sẽ chọn giải thoát bằng cách tự tử Nhiều em cho biết do lịch học dày đặc nên thường xuyên bị stress, đau đầu, chóng mặt thậm chí còn cảm thấy sợ mỗi khi thức dậy vì phải đối mặt với lịch học căng thẳng Các em đã có những nhận thức đúng đắn về việc phải cố gắng nổ lực rất nhiều ở năm học cuối cấp này Nhiều em khi được trò chuyện thì cho biết: “Em phải cố gắng thi đậu vào trường cấp 3 vì nếu không đậu thì em chẳng biết phải làm gì nữa”
Các em có xu hướng thường mất bình tĩnh khi gặp vấn đề khó trong hoạt động học tập Điều này có thể do kỹ năng và kinh nghiệm của các em còn hạn chế chưa biết cách ứng phó với vấn đề gặp phải Những giờ học trên lớp không đủ để truyền thụ kiến thức của một bài học nên không việc rèn luyện cho các em các kỹ năng hầu như không có hơn nữa nhiều em còn quá rụt rè, nhút nhát Đa số học sinh thỉnh thoảng gặp những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập Đó là điều không thể tránh khỏi bởi học tập ở giai đoạn này các em phải chịu nhiều áp lực từ phía gia đình, nhà trường, xã hội
3.1.1.2 Khó khăn tâm lý biểu hiện ở mặt nhận thức và thái độ trong hoạt động học tập của học sinh lớp 9 trường THCS Lê Ngọc iá dưới góc độ giới tính
Bảng 3.2 Khó khăn tâm lý biểu hiện ở mặt nhận thức và thái độ trong hoạt động học tập của học sinh lớp 9 trường THCS Lê Ngọc Giá góc độ giới tính
Ghi chú: : giá trị trung bình
Khảo sát thực trạng cho thấy: Học sinh nam gặp nhiều khó khăn hơn các bạn nữ ( nam:1.75, nữ 1.62) Kết quả trò chuyện cùng với một số giáo viên bộ môn cũng như giáo viên chủ nhiệm thì hầu hết các ý kiến cho rằng thái độ học tập của các học sinh nam không tích cực điều này lý giải vì sao nam sinh gặp nhiều khó khăn tâm lý hơn nữ sinh Trong số 22 học sinh giỏi khảo sát ở lớp 9 không có học sinh nam nào Theo nhận xét của một số giáo viên dạy và làm công tác chủ nhiệm khối lớp 9 thì các em nam rất nghịch ngợm, ham chơi, tỏ ra chai lì với những lời chỉ dạy của giáo viên, nhiều em nam còn có hiện tượng bỏ tiết, trốn học đi chơi Học tập thì lười biếng, ham chơi, không vâng lời thầy cô giáo vì thế các em nam thường gặp nhiều khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập Ở học sinh nữ cũng như học sinh nam thì thường xảy ra những khó khăn tâm lý về mặt thái độ ( =1.77) hơn là nhận thức ( =1.29) Mức độ khó khăn về mặt nhận thức cũng như thái độ ở học sinh nam không có sự chênh lệch nhiều Như đã nói ở trên thì các em nam quá ham chơi, chưa nhận thức đúng nhiệm vụ chính trong giai đoạn này Các em chạy theo những ham muốn của bản thân đôi khi quên đi nhiệm vụ học tập vì thế xuất hiện cả những khó khăn về mặt nhận thức lẫn thái độ thường xuyên và mức độ không khác biệt nhiều
Ta thấy, ở cac em nữ sự chênh lệch này lớn Các em nữ đã nhận thức được vai trò, nhiệm vụ học tập, có ý thức về việc học tập của bản thân, các em ít gặp khó khăn về mặt nhận thức mà chủ yếu là những khó khăn về mặt thái độ
3.1.2 Khó khăn tâm lý biểu hiện ở mặt kỹ năng trong hoạt động học tập của học sinh lớp 9 trường THCS Lê Ngọc Giá
3.1.2.1 Khó khăn tâm lý biểu hiện ở mặt kỹ năng trong hoạt động học tập của học sinh lớp 9 trường THCS Lê Ngọc iá dưới góc độ tổng quát
Bảng 3.3 Khó khăn tâm lý trong kỹ năng học tập của học sinh lớp 9 trường
Khó khăn Thấy không cần thiết phải có kỹ năng này
Chưa biết hoặc không rõ cách thực hiện
Vận dụng kỹ năng chưa hiệu quả
Qua bảng số liệu cho thấy, khó khăn tâm lý chủ yếu ở kỹ năng học tập đó là vận dụng các kỹ năng học tập chưa hiệu quả(42.38%) Mức độ biểu hiện khó khăn ở mỗi kỹ năng là khác nhau Phần lớn các em học sinh vận dụng chưa hiệu quả kỹ năng ôn tập bài cũ (61.83%) (phụ lục 4) Đây là kỹ năng giúp cho quá trình hoạt động trên lớp đạt hiệu quả Kiến thức cũ các em không nắm được thì những bài giảng của cô trên lớp cũng không có tác dụng với các em “ Em nghe cô giảng nhưng không hiểu gì hết” - Hồ Thị Bích Thương ( lớp 9.4) Kỹ năng đọc sách đóng vai trò quan trọng trong quá trình học tập thế nhưng các em lại không được trang bị, các em lại thiếu kiến thức cũng như những kinh nghiệm để chọn được những quyển cần thiết, vì thế phần lớn các em vận dụng kỹ năng này không hiệu quả Theo cách đọc truyền thống, đọc hết trang này rồi tiếp đến trang khác Trong khi đó, sách tham khảo hiện nay rất nhiều, thời gian dành cho việc đọc sách hạn chế Các em cần được trang bị kỹ năng để đọc sách hiệu quả hơn, không phải mất nhiều thời gian vô ích khi phải đọc những quyển nhàm chán
Khó khăn “chưa biết hoặc không rõ cách thực hiện kỹ năng” chiếm tỉ lệ khá cao (38.99%), tập trung ở một số kỹ năng: Xây dựng kế hoạch học tập (49.46%), lập dàn ý cho bài kiểm tra (45.7%), tìm và lựa chọn sách, tài liệu để phục vụ cho việc học tập (43.55%) (phụ lục 4) Điều này cho thấy cách học truyền thống cung cấp cho các em kiến thức nhưng các em lại thiếu kỹ năng
Kỹ năng học tập đóng vai trò rất quan trọng giúp cho việc học của em đạt kết quả cao nhưng chưa được chú trọng
Khó khăn tâm lý “thấy không cần thiết có kỹ năng thể hiện thái độ của học sinh về vai trò tầm quan trọng của kỹ năng học tập Khảo sát cho thấy nhiều em không biết được ý nghĩa của việc lập dàn ý cho bài kiểm tra (25.81%) (phụ lục 4) hay lập thời khóa biểu cho ôn tập cho từng môn học (25.27%) (phụ lục 4) Thường các em quen với cách học của đại đa số học sinh đó là khi nào có kiểm tra hoặc thi thì mới học và học theo cảm hứng không có dàn bài hay kế hoạch cụ thể
3.1.2.2 Khó khăn tâm lý biểu hiện ở mặt kỹ năng trong hoạt động học tập của học sinh lớp 9 trường THCS Lê Ngọc iá dưới góc độ giới tính
Bảng 3.4 Mức độ khó khăn khi vận dụng kỹ năng học tập chưa hiệu quả của học sinh trường THCS Lê Ngọc Giá dưới góc độ giới tính
Khó khăn tâm lý Nam Nữ f Tỉ lệ % f Tỉ lệ %
Thấy không cần thiết phải có kỹ năng học tập 23 25.27 12 12.9
Chưa biết hoặc không rõ cách thực hiện 35 37.95 37 39.78
Vận dụng kỹ năng chưa hiệu quả 34 36.78 44 47.3
Qua khảo sát cho thấy, các em học sinh nữ có nhận thức tốt hơn các em nam về sự cần thiết phải có kỹ năng học tâp Có 12.9% nữ sinh nhận thấy không cần thiết phải có kỹ năng học tập trong khi đó ở nam sinh con số này gần như là gấp đôi (25.27%) Các em nữ thường chăm chỉ, siêng năng trong học tập hơn các em nam Nhiều em nam thấy không cần thiết phải có kỹ năng phân bố thời gian trong khi làm bài (18.28%) (phụ lục 5) Thực tế cho thấy, các em thường có sự tập trung vào làm một câu nhưng bỏ quên nhưng câu hỏi khác Học sinh Nguyễn Văn Tây - lớp 9.6 cho biết: “ Em thường thiếu thời gian khi làm bài kiểm tra, em cứ viết mà không để ý, đến khi cô nói hết giờ thì em vẫn còn một vài câu chưa làm xong, lần nào cũng vậy” Ngược lại, học sinh nữ phần lớn cho rằng kỹ năng lập dàn ý cho bài kiểm tra là không cần thiết (13.98 %) Nhiều học sinh nữ thiếu hiểu biết về kỹ năng sắp xếp và phân loại các tri thức đã học theo mối liên hệ để dễ dàng trong việc ghi nhớ (25.27%) ( phụ luc 5)
Giữa học sinh nam và học sinh nữ không có sự chênh lệch lớn về những kỹ năng mà các em chưa biết hoặc không rõ cách thực hiện Có 47.3% các em nữ đánh giá việc vận dụng kỹ năng học tập của các em chưa hiệu quả, ở nam con số này thấp hơn (36.78%) Thầy cô chú trọng việc dạy kiến thức hơn là kỹ năng Các em vận dụng chưa hiệu quả do không biết và không nắm rõ kỹ năng cũng có thể do các em chưa biết cách áp dụng phù hợp với bản thân
3.1.3 Mối tương quan giữa khó khăn tâm lý và học lực của học sinh trường THCS Lê Ngọc Giá
3.1.3.1 Mối tương quan giữa khó khăn tâm lý biểu hiện ở mặt nhận thức và thái độ trong hoạt động học tập với học lực
Bảng 3.5 Mối tương quan giữa khó khăn tâm lý biểu hiện ở mặt nhận thức và thái độ trong hoạt động học tập với học lực
Ghi chú: x : giá trị trung bình
Bảng số liệu cho thấy mức độ khó khăn tâm lý biểu hiện ở mặt nhận thức và thái độ của học sinh mỗi nhóm học lực khác nhau Nhóm ít gặp khó khăn tâm lý nhất đó là học sinh giỏi Các em gặp nhiều khó khăn về mặt thái độ hơn nhận thức Khó khăn chủ yếu chủ yếu là mất bình tĩnh khi gặp những vấn đề khó trong học tập ( x = 2.18) (phụ lục 6) Đối với các em học sinh giỏi việc đặt mục tiêu thi vào các trường chuyên, lớp chọn đã làm cho các em rất căng thẳng thêm vào đó lịch học dày đặc đã làm ảnh hưởng đến tâm lý, nhiều học sinh không giữ được sự bình tĩnh Trong hoạt động cần phải có sự bình tĩnh, bình tĩnh sẽ giúp ích cho học sinh rất nhiều Khi gặp vấn đề khó rất cần bình tĩnh để tìm ra lời giải Ta thường nghe câu “Sai một li đi một dặm” Khi không bình tĩnh, hành động một cách vội vàng hấp tấp dẫn có thể dẫn đến sai một bài toán hay lạc đề văn, Sự nôn nóng tìm lời giải cho một vấn đề khó làm cho các em nhìn vấn đề ở phạm vi hẹp, trong chiếc hộp không nhìn thấy tổng thể vấn đề, đã khó lại càng rối nên giải mãi không có lời đáp là chuyện dễ hiểu Hệ số tương quan thuận giữa khó khăn tâm lý về mặt nhận thức với nhóm học sinh giỏi ở mức thấp (r=0.25)
Nguyên nhân gây khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học
3.2.1 Nguyên nhân gây khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh lớp 9 trường THCS Lê Ngọc iá dưới góc độ tổng quát
Biểu đồ 3.1 Nguyên nhân gây khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh lớp 9 trường THCS Lê Ngọc Giá
Học tập Gia đình Bản thân Mối quan hệ khác
Kết quả khảo sát cho thấy,tất cả các nguyên nhân đều gây nên khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh Mức độ ảnh hưởng của từng nguyên nhân đến các nhân là khác nhau Học tập là yếu tố chủ yếu khiến cho các em gặp nhiều khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập ( =2.08) Việc học một khối lượng lớn kiến thức trong một ngày đã làm cho các em căng thẳng, tạo áp lực quá lớn: Đa số học sinh gặp khó khăn tâm lý là do khối lượng kiến thức quá lớn và khó = 2.49) (phụ lục 8)
Xuất phát từ chính bản thân học sinh Đây cũng là nhóm nguyên nhân có ảnh hưởng lớn đến khó khăn tâm lý của học sinh ( =2.04) Khả năng tư duy của bản thân hạn chế, kiến thức nền tảng của bản thân không đáp ứng được môn học,….đã ảnh hưởng đến việc các em tham gia hoạt động học tập trên lớp Những em rụt rè, tị ti, e ngại thiếu tự tin vào bản thân, sẽ ít khi tham gia phát biểu hay thuyết trình, các em thụ động trong học tập vì thế, các em cần phải có những thây đổi bản thân để có thể khắc phục được khó khăn Đây là việc rất khó đòi hỏi lòng quyết tâm của các em
Sự tập trung trong học tập đóng vai trò hết sức quan trọng, có tập trung thì học sinh mới có thể nghe giáo viên giảng thế nhưng lớp ồn ào đã ảnh hưởng đến việc tiếp thu bài mới của những học sinh bên cạnh ( = 2.46) (phụ lục 8)
Nguyên nhân ít gây khó khăn tâm lý đến hoạt động học tập của học sinh là gia đình Hiện nay, đời sống được nâng cao, bố mẹ có điều kiện cho con đi học Nhiều gia đình hết sức quan tâm đến vấn đề học tập của con cái, luôn tạo điều kiện tốt nhất để con có thể học tập như: Cho con đi học thêm, học kèm, dành trọn thời gian cho con học,
3.2.2 Nguyên nhân gây khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh lớp 9 trường THCS Lê Ngọc iá dưới các góc độ giới tính
Bảng 3.7 Nguyên nhân gây khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh lớp 9 trường THCS Lê Ngọc Giá dưới góc độ giới tính
Ghi chú: :Giá trị trung bình
Qua thực trạng khảo sát cho thấy tất cả các nguyên nhân ảnh hưởng lớn nhất đó chính là học tập Khối lượng kiến thức quá lớn và khó là nguyên nhân chủ yếu gây nên khó khăn tâm lý cho cả học sinh nam lẫn học sinh nữ Nhiều em cho rằng chương trình hiện nay quá nặng Nguyễn Văn Tô Hoài ( lớp 9.3): “ Nội dung nhiều bài rất dài, nhiêu khi chúng em phải chạy đua với thời gian” “Bài học nhiều lý thuyết quá, nhiều khi em không hiểu học nhiều như vậy để làm gì vì một thời gian là chúng em quên hết” – Mai Văn Cảnh (lớp 9.1)
Học tập cần có sự lắng nghe, có nghe thì mới hiểu được thế nhưng việc tổ chức trong lớp học không đạt hiệu quả Nhiều học sinh trong lớp ồn ào, mất trật tự trong tiết học là nguyên nhân chủ yếu khiến cho học sinh không thể tập trung học Trong các lớp được khảo sát thì phần lớn các em học sinh nữ cho rằng các bạn nam rất thiếu tính tích cực, các bạn thường xuyên nói chuyện khiến cho các bạn nữ ngồi xung quanh không thể nào tập trung trong khi đó giáo viên nhắc nhở nhiều lần nhưng tình hình vẫn không cải thiện Trong học tập cần phải tập trung, sự tập trung giúp cho quá trình lĩnh hội tri thức đạt hiệu quả Thế nhưng sự ồn ào, mất trật tự của một số học sinh có thể làm các em gián đoạn, không thể chú ý hay lắng nghe giáo viên giảng bài
Gia đình quan tâm, tạo điều kiện, giúp cho việc học tập của các em thuận lợi Tuy nhiên, việc bố mẹ đặt kì vọng quá lớn hay chăm sóc các em quá mức trong giai đoạn này vô tình đã khiến cho các em chịu áp lực Có tới 73.5% bố mẹ muốn con trở thành trí thức, 23.7%: muốn con giàu có, 26.6%: muốn con thành người có chức có quyền (nguồn: điều tra xã hội học 2003) Khi trò chuyện nhiều em chia sẻ: "Nhiều lúc em cảm thấy rất mệt, đau đầu, chóng mặt nhưng vẫn phải cố để học, vì nếu không thi được cấp 3 chắc chết" hay“Bố mẹ và cô giáo em đều bảo, không thi được đại học thì có thể đi học nghề, làm công nhân, còn trượt cấp 3 chẳng làm được gì nên phải cố mà học vì đây là bước ngoặt cuộc đời”.
Biện pháp khắc phục khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học
3.3.1 Biện pháp khắc phục khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh lớp 9 trường THCS Lê Ngọc iá dưới góc độ tổng quát
Biểu đồ 3.2: Biện pháp khắc phục khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh lớp 9 trường THCS Lê Ngọc Giá
1 Xác định lại động cơ học để làm gì
2 Dành nhiều thời gian cho việc học
3 Xây dựng lại thời khóa biểu cho việc học tập ở nhà
4 Tích cực tham gia các nhóm học tập
5 Tích cực phát biểu xây dựng bài
6 Nhờ bạn bè giúp đỡ
7 Nhờ sự giúp đỡ của người thân ( anh, chị, ba, mẹ, )
8 Thẳng thắn trao đổi với giáo viên
9 Đi học thêm, học kèm
Qua khảo sát cho thấy các biện pháp được hoc sinh sử dụng nhiều: Đi học thêm, học kèm (61.83%), nhờ bạn bè giúp đỡ (59.14%), dành nhiều thời gian cho việc học (57.53%) Việc nhiều em lựa chọn cách đi học thêm vì cho rằng trên lớp thầy, cô giảng nhưng chưa kỹ, việc đi học thêm cô sẽ giảng kỹ hơn, được cô hướng dẫn cách giải bài tập, Nhưng cũng có em đi học vì phụ huynh bắt phải đi học nhưng lại không muốn đi đến lớp học thêm chỉ để có mặt Nguyễn Minh Tuấn (lớp 9.6): “Ba, mẹ em bắt em phải đi học, học thêm toán, lý rồi hóa nữa Em không có thời gian” Khi được hỏi nếu không cần học thêm em có tin mình tự học ở nhà để có thời gian nghỉ ngơi mà vẫn đỗ được cấp 3, Nguyễn Lan Anh - học sinh giỏi tâm sự: "Em nghĩ mình vẫn có thể tự học được, nhưng bố mẹ em không yên tâm nên bắt phải đi học thêm Hơn nữa cả lớp đều đi học như vậy, nên chúng em coi chuyện "chạy sô" này cũng bình thường và dĩ nhiên phải làm thế"
Thẳng thắn trao đổi với giáo viên - Đây là biện pháp rất tích cực Giáo viên người thường xuyên tiếp xúc với học sinh, trực tiếp giảng bài sẽ dễ hiểu, thông cảm và chia sẻ nhưng lại ít được học sinh lựa chọn (26.24%) Học sinh chưa nhận thức được vai trò của giáo viên trong việc giúp đỡ để có thể khắc phục những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập Mặt khác ở lứa tuổi này các em đã có sự độc lập về học tập, muốn tự mình tìm hiểu nên không muốn vấn đề gì cũng hỏi cô giáo Người được chọn giúp đỡ nhiều nhất đó chính là bạn bè Điều này cũng dễ hiểu bởi ở lứa tuổi này thích được giao tiếp bạn bè Nhiều học sinh thường kể cho nhau nghe về mọi mặt sinh hoạt, đời sống và suy nghĩ của mình nên việc hỏi bài càng thêm dễ dàng hơn Khi được hỏi nhiều học sinh cho biết: “Có thể là bạn cùng lớp hoặc bạn khác lớp vì cùng học một chương trình bạn đó biết dễ hỏi”
Các biện pháp học sinh thực hiện chưa mang lại hiệu Các biện pháp học nhóm ít được áp dụng (31.72%) Khi được hỏi học sinh cho biết: “Chúng em rất ít khi họp nhóm, nếu cô phân công bài nhóm thì các em chia nhau ra làm rồi ghép lại chứ không đi họp tới ạ” - Học sinh Lê Thị Thảo ( lớp 9.3) hay học sinh Nguyễn Minh Tiến (lớp 9.1): “Họp nhóm không có kết quả, các bạn đến nói chuyện xong rồi về, em không thích họp nhóm”
3.3.2 Biện pháp khắc phục khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh lớp 9 trường THCS Lê Ngọc iá dưới góc độ giới tính
Biểu đồ 3.3: So sánh biện pháp khắc phục khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh lớp 9 trường THCS Lê Ngọc Giá góc độ giới tính
1 Xác định lại động cơ học để làm gì
2 Dành nhiều thời gian cho việc học
3 Xây dựng lại thời khóa biểu cho việc học tập ở nhà
4 Tích cực tham gia các nhóm học tập
5 Tích cực phát biểu xây dựng bài
6 Nhờ bạn bè giúp đỡ
7 Nhờ sự giúp đỡ của người thân ( anh, chị, ba, mẹ, )
8 Thẳng thắn trao đổi với giáo viên
9 Đi học thêm, học kèm
Học sinh nữ có xu hướng lựa chọn biện pháp đi học thêm là chủ yếu để khắc phục những khó khăn tâm lý trong hoạt động của mình Trần Thị Thu Thảo (lớp 95) cho rằng: “Học ở trên trường là chưa đủ, cần bổ sung kiến thức bằng việc đi học thêm, tuy nhiên em cũng nhận thấy việc đi học thêm làm ảnh hưởng tới thời gian tự học ở nhà” Nhiều em cứ nghĩ học không hiểu thì cần phải học thêm, bỏ ra khoảng thời gian rất lớn Đôi khi vì đi học thêm quá nhiều, về nhà mệt mỏi không kịp chuẩn bị bài cho ngày mai Rõ ràng khi bài cũ không nắm được thì các em sẽ khó có thể tiếp thu bài mới gây nên sự nhàm chán, không có hứng thú học tập Học tập quá mức có thể dẫn đến rối loạn tâm thần và thần kinh, các em học nhiều mà không không đạt được kết quả bao nhiêu Điều quan trọng là phương pháp học tập Các em chưa chú trọng tới việc lựa chọn phương pháp học tập phù hợp
So với các em nam thì các em nữ mạnh dạn hơn, tích cực phát biểu xây dựng bài Khi được hỏi lý do vì sao học sinh lại lười phát biểu các em nam lý giải như sau: “câu hỏi của cô giáo nhàm chán quá, đáp án có ngay trong sách chỉ cần nhìn vào và đọc” Câu hỏi quá dễ, làm cho các em có tâm lý “coi thường” không thích trả lời Còn đối với những câu hỏi khó thì các em ỷ lại các bạn học giỏi hơn Trong một số giờ dạy, thầy cô chưa thu hút được học sinh, không khích lệ được tính tự giác xây dựng bài Phương pháp dạy truyền thống làm cho các em chán nản
Một số em nam cũng cho biết thêm: “Em không thể nào thẳng thắn trao đổi với giáo viên khi có vấn đề thắc mắc” lý do em đưa ra đó là cô giáo quá nghiêm khắc, không tạo được hứng thú, tạo ra tâm lý căng thẳng, mệt mỏi, áp lực
Số đông học sinh nam và nữ đều cho rằng để khác phục khó khăn nên dành nhiều thời gian cho việc học tập
ề xuất biện pháp
Để có thể phòng tránh cũng như vượt qua được những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập thì yếu tố quyết định vẫn là chính bản thân học sinh vì vậy các em cần:
- Xác định động cơ học tập là việc cần làm đầu tiên Động cơ không chỉ thúc đẩy học sinh hành động mà còn định hướng cho hoạt động học tập của các em Học sinh cần xác định động cơ học tập là gì từ đó đưa ra những mục tiêu thật cụ thể Khi đã có động cơ học tập tốt thì các em sẽ luôn tự giác say mê học tập với những mục tiêu rõ ràng
- Lập kế hoạch học tập: Học sinh phải biết lập kế hoạch ngắn hạn, dài hạn cho từng môn, từng phần vào từng thời điểm phù hợp với điều kiện của bản thân Chọn ra những nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng để ưu tiên thực hiện trước và dành thời gian cho nó Cùng một lúc tập trung vào quá nhiều vấn đề thì không thể đạt kết quả cao được
Lựa chọn phương pháp học tập phù hợp Năng lực của mỗi học sinh khác nhau, vì thế các em phải tự lựa chọn cho mình phương pháp thích hợp nhất bởi chính bản thân các em mới biết phương pháp naò là thật sự hiệu quả
- Quá trình học tập trên lớp đạt hiêu quả thì tập trung, chú ý nghe giảng và ghi chép là điều cần thiết Tập trung, chú ý giúp các em theo dõi bài học tốt hơn, có những gì không hiểu có thể hỏi ngay giáo viên như vậy các em sẽ nhớ bài nhanh hơn Nghe giảng và ghi chép là những kỹ năng mà ai cũng phải sử dụng trong quá trình học tập Khả năng nghe và ghi chép của mỗi học sinh không giống nhau ở những môn học khác nhau Các em cần phải tự rèn luyện thói quen ghi chép để có được những thông tin cần thiết về môn học
- Đọc sách là kỹ năng hết sức cần thiết trong hoạt động học tập của mỗi học sinh Chính vì thế mà mỗi học sinh cần rèn luyện cho mình kỹ năng đọc sách Đọc sách hiệu quả không phải là đọc được càng nhiều trang càng tốt mà phải biết sau khi đọc thì mình tiếp thu được những gì và nó giúp ích gì cho hoạt động học tập của mình Đọc sách cũng cần phải có phương pháp rõ ràng
- Tích cực tham gia các hoạt động, phong trào của trường, lớp, tổ chức, đoàn thể, Các phong trào sẽ giúp các em hoà nhập, thiết lập mối quan hệ với mọi người Qua đó các em sẽ thấy tự tin, mạnh dạng hơn Tham gia các hoạt động đó cũng có thể giúp các em giải trí sau những giờ học mệt mỏi
- Mạnh dạn chia sẻ, trao đổi vấn đề khó khăn với giáo viên, bố, mẹ hay một người thân nào đó Bạn bè có thể giúp đỡ, hỗ trợ nhưng trong một số trường hợp cần phải có sự tham gia của người lớn thì vấn đề mới giải quyết được
Ngoài việc học học sinh cần trang bị cho bản thân các kỹ năng xã hội như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ứng xử, kỹ năng chia sẻ, đặc biệt là kỹ năng ứng phó với những khó khăn
Qua quá trình nghiên cứu, xuất phát từ việc phát hiện vấn đề cho đến việc nghiên cứu cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu cụ thể tôi đã tìm hiểu, đánh giá thực trạng khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh lớp 9 trường THCS Lê Ngọc Giá, những biểu hiện về mặt nhận thức, thái độ và kỹ năng, các nguyên nhân gây nên những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập Tìm hiểu ảnh hưởng của những khó khăn tâm lý đến kết quả hoạt động học tập của học sinh
Kết quả cho thấy hầu hết các em học sinh lớp 9 đều có những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của mình Các em học sinh khá giỏi có nhận thức đúng đắng về việc cần có những kỹ năng học tập hơn các học sinh yếu Nguyên nhân từ phía gia đình, học tập, bản thân và mối quan hệ xung quanh, đặc biệt ảnh hưởng đáng chú ý vẫn là khối lượng kiến thức quá lớn và nặng và tính cách rụt rè, nhút nhát của học sinh Những khó khăn tâm lý đã ảnh hưởng đến kết quả học tập của các em rất nhiều Ảnh hướng lớn nhất đó là kết quả học tập không cao Các em đã lựa chon cho mình những biện pháp để khắc phục những khăn
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập là một hiện tượng tâm lý phức tạp, nảy sinh trong quá trình học tập Nghiên cứu cơ sở lý luận giúp tìm hiểu những biểu hiện về mặt nhận thức, thái độ và kỹ năng cũng như những nguyên nhân gây nên những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận, tiến hành nghiên cứu thực tiễn
Kết quả nghiên cứu thực trạng cho thấy hầu hết các học sinh đều có những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của mình Các khó khăn chủ yếu là: Chán nản khi gặp môn học khó, lo lắng quá mức về việc học, mất bình tĩnh khi gặp những vấn đề khó trong học tập Khó khăn tâm lý biểu hiện ở các mặt nhận thức và thái độ Trong đó những khó khăn biểu hiện ở mặt thái độ có mức độ cao hơn, biểu hiện thường xuyên Về mặt kỹ năng học sinh lớp 9 cũng gặp phải những khó khăn tập trung ở việc chưa biết hoặc không rõ cách thực hiện và vận dụng kỹ năng chưa hiệu quả Sự khác nhau về giới tính ảnh hưởng đến mức độ khó khăn tâm lý của học sinh
Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh không chỉ chịu ảnh hưởng của những yếu tố khách quan mà còn bị chi phối bởi yếu tố chủ quan Để khắc phục những khó khăn tâm lý phần lớn học sinh lựa chọn biện pháp là đi học thêm học kèm nhưng không biết liệu biện pháp đó có mang lại hiệu quả hay không Hiện nay, việc học thêm đã trở thành một phong trào Học thêm có thật sự hiệu quả hay không hay chỉ là đi học để an tâm hơn với bạn bè.
Kiến nghị
Sắp xếp thời gian biểu hợp lý Tổ chức một số hoạt động giải trí giúp cho các em có thể bớt căng thẳng mệt mỏi khi phải học quá nhiều
Chuẩn bị cơ sở vật chất đáp ứng đủ nhu cầu để giờ học phát huy hiệu quả
Sắp xếp giờ học thực hành để các em có thể hiểu hơn thay vì học quá nhiều lý thuyết
Cải thiện công tác thư viện, đầu tư bổ sung thêm nhiều đầu sách để học sinh có thể thích thú đến đọc sách, tìm hiểu bài học
Xây dựng phương pháp dạy học tích cực khuyến khích tính tích cực của học sinh Tạo bầu không khí thân thiện
Thay đổi các phương pháp dạy học để học sinh cảm thấy hứng thú như tạo trò chơi, thảo luận nhóm, phần thưởng… Tổ chức lớp học sao cho thu hút được tất cả các thành viên cùng tham gia, hạn chế sự ồn ào mất trật tự của một số học sinh làm ảnh hưởng đến học sinh khác
Tạo cơ hội cho những học sinh yếu hơn được “tỏa sáng” và đánh giá cao khi các em có ý kiến hay Không nên hạ thấp các mức tiêu chuẩn để đánh giá một học sinh chăm chỉ
Công nhận sự cố gắng của học sinh Khuyến khích các em tham gia vào các hoạt động Không nên quá chú ý, quan tâm đến học sinh khá giỏi bỏ quên những em học yếu hơn
Giáo viên cần thường xuyên trò chuyện với học sinh để tăng cường mối quan hệ thầy – trò
Lắng nghe học sinh trình bày vấn đề với thái độ chăm chú nhất Luôn tỏ thái độ tôn trọng và động viên các em
Nắm bắt tâm lý của các em, chia sẻ những khi các em cần giúp đỡ Tránh những trường hợp thờ ơ, làm tổn thương lòng tự trọng của các em
Các thành viên trong gia đình thường xuyên trò chuyện để hiểu thêm về các em, khuyến khích các em học tập, tham gia các hoạt động tập thể qua đó có thể các em sẽ thấy tự tin hơn, có thể làm quen được những người bạn tốt giúp đỡ các em trong vấn đề học tập cũng như trong cuộc sống Dành thời gian để các em nghĩ ngơi
Thường xuyên liên lạc với giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn để nắm bắt tình hình học tập của các em
Về phía học sinh Để có thể vượt qua những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập và có thể phát triển một cách tốt nhất ở lứa tuổi này thì các em nên cởi mở trong các vấn đề của mình Trong quá trình học tập việc gặp khăn khăn tâm lý là điều không thể tránh khỏi Mỗi học sinh cần phải biết cách vượt qua những khó khăn để có thể đạt được những thành tích cao trong học tập