1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu thực trạng cây xanh đường phố tại quận hải châu – thành phố đà nẵng nhằm đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững

66 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 3,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau đó, được các nhà nghiên cứu khác bổ sung thêm và thống nhất: Lâm nghiệp đô thị là trồng và tạo lập, bảo vệ và quản trị cây xanh và các thực vật kết hợp dưới dạng cá thể, nhóm nhỏ hay

Trang 1

ỌC N N

ỌC SƢ P M KHOA SINH

Đà Nẵng, tháng 5/ 2013

Trang 2

LỜ CAM OAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Văn Quyền

Trang 3

Em xin gửi lời cám ơn sâu sắc nhất đến ThS Nguyễn Thị Đào – Giảng viên Khoa Sinh – Môi Trường, Trường Đại Học Sư Phạm – Đại Học Đà Nẵng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành Khóa luận Tốt nghiệp này

Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến toàn thể thầy cô khoa Sinh – Môi trường đã quan tâm, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt 4 năm học

và thực hiện Khóa luận

Em cũng chân thành cám ơn sự động viên của gia đình, cổ vũ tinh thần của bạn

bè, trao đổi rút kinh nghiệm và góp ý kiến của các bạn trong lớp giúp cho đề tài em hoàn thành thuận lợi

Đà Nẵng, ngày 26/05/2013 Sinh viên

Nguyễn Văn Quyền

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ẦU 1

C ƢƠN 1 TỔN QUAN T L ỆU 3

1.1 Giới Thiệu hệ thống cây xang đường phố 3

1.1.1 Khái niệm cây xanh đô thị 3

1.1.2 Cây xanh đường phố 4

1.1.2.1 Vai trò cây xanh đường phố 4

1.1.2.2 Phân loại cây xanh đường phố 6

1.1.3 Kỹ thuậy trồng, chăm sóc cây xanh đường phố 6

1.1.3.1 Các loại cây xanh bóng mát trong đô thị 6

1.1.3.2 Các tiêu chuẩn trồng cây xanh đường phố 6

1.1.3.3 Trồng cây xanh đường phố 7

1.1.3.4 Ô đất trồng cây xanh đường phố 8

1.1.3.5 Vườn ươm cây xanh 8

1.1.3.5 Quản lý cây xanh trên đường phố 9

1.2 Tình hình nghiên cứu cây xanh đường phố 9

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 9

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 10

1.2.3 Tình hình nghiên cứu ở thành phố Đà Nẵng 14

1.3 Đặc điểm khu vực nghiên cứu 15

1.3.1 Điều kiện tự nhiên 15

1.3.2 Tình hình kinh tế xã hội 16

Trang 5

C ƢƠN 2 Ố TƢỢN , ỊA ỂM, T Ờ AN, NỘ DUN V P ƢƠN

P ÁP N ÊN CỨU 18

2.1 Đối tượng nghiên cứu 18

2.2 Địa điểm nghiên cứu 18

2.3 Thời gian nghiên cứu 18

2.4 Nội dung Nghiên cứu 18

2.5 Phương pháp nghiên cứu 18

2.5.1 Phương pháp kế thừa có chọn lọc 19

2.5.2 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia 19

2.5.3 Phương pháp khảo sát thực địa 19

2.5.3.1 Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa 19

2.5.3.2 Phương pháp xử lý và bảo quản mẫu 19

2.5.3.3 Phương pháp giám định tên cây 20

2.5.3.4 Phương pháp lập danh lục 20

2.5.4 Phương pháp xử lý số liệu 20

C ƢƠN 3 KẾT QUẢ N ÊN CỨU V B ỆN LUẬN 21

3.1 Kết quả điều tra thành phần loài cây xanh đường phố tại quận Hải Châu – TP Đà Nẵng 21

3.1.1 Thành phần loài cây xanh đường phố tại quận Hải Châu – TP Đà Nẵng 21

3.1.2 Nhận xét về tính đa dạng cây xanh đường phố tại quận Hải Châu – TP Đà Nẵng 23

3.2 Mô tả đặc điểm một số loài cây xanh đường phố trên địa bàn quận Hải Châu – TP Đà Nẵng 24

3.2.1 Sao đen (Hopea odorata Roxb.) 24

Trang 6

3.2.2 Phượng vĩ (Delonix regia) 26

3.2.3 Lộc vừng (Barringtonia asiatica (L.) Kurz)) 27

3.2.4 Bồ đề ( Ficus religiosa) 28

3.2.5 Cây sấu (Dracontomelon duperreanum) 29

3.2.6 Vông đồng (Hura crepitans) 30

3.2.7 Bàng đài loan (Terminalia molineti) 31

3.3 Kết quả điều tra về số lượng, tình hình phân bố của các loại cây xanh đường phố trên địa bàn quận Hải Châu – TP Đà Nẵng 32

3.3.1 Số lượng các loài cây xanh đường phố trên địa bàn quận Hải Châu – TP Đà Nẵng 35

3.3.2 Tình hình phát triển của hệ thống cây xanh đường phố trên địa bàn quận Hải Châu – TP Đà Nẵng 35

3.3.2.1 Tình hình phát triển cây xanh đường phố trên địa bàn quận Hải Châu – TP Đà Nẵng 35

3.3.2.2 Phân loại theo cấp độ cây xanh đường phố của quận Hải Châu – TP Đà Nẵng 36

3.4 Các nhân tố tác động đến hệ thống cây xanh đường phố quận Hải Châu – TP Đà Nẵng 40

3.4.1 Tác động từ thiên nhiên 40

3.4.2 Tác động từ các hoạt động của con người 41

3.5 Đề ra giải pháp phát triển bền vững thống cây xanh đường phố quận Hải Châu – TP Đà Nẵng 43

3.5.1 Giả pháp giáo dục 43

Trang 7

3.5.2 Giải pháp quy hoạch 44

3.5.3 Giải pháp kỹ thuật 45

3.5.4 Giải pháp quản lý, tổ chức thực hiện 46

KẾT LUẬN V K ẾN N Ị 47

T L ỆU T AM K ẢO 50

P Ụ LỤC DAN LỤC BẢN B ỂU Bảng 3.1 Danh lục cây xanh đường phố điều tra tại quận Hải Châu – TP Đà Nẵng năm 2013 22

Bảng 3.2 So sánh thành phần loài cây xanh đường phố tại quận Hải Châu so với các quận khác của thành phố Đà Nẵng 23

Bảng 3.3 Số lượng loài CXĐP trên 18 tuyến đường tại quận Hải Châu – TP Đà Nẵng 32

Bảng 3.4 Phân loại cấp độ cây xanh đường phố tại các tuyến đường khảo sát trên địa bàn quận Hải Châu – TP Đà Nẵng 36

Trang 8

Hình 3.1 Ảnh hưởng của thiên tai đến cây xanh của thành phố Đà Nẵng 41

Hình 3.2 Cây xanh bị hạn chế phát triển do hệ thống dây điện (Đường Hùng Vương) 42

Hình 3.3 Lợi dụng cây xanh treo áp phích quảng cáo ở đường Quang Trung và Ba Mươi Tháng Tư 43

Trang 9

DAN LỤC V ẾT TẮT

GIS : Geographic Information System (Hệ thống thông tin địa lý)

Trang 10

MỞ ẦU

Việt Nam chúng ta đang trong quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước, sự chuyển đổi của Việt Nam – Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường và từ một đất nước rất nghèo trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình thấp trong vòng chưa đến 20 năm – đã trở thành một phần trong các sách giáo khoa về phát triển Nhưng một sự chuyển đổi khác của Việt Nam để trở thành một nền kinh tế công nghiệp, hiện đại vào năm 2020 hầu như mới chỉ bắt đầu Tuy nhiên, song song với sự phát triển kinh tế thì các hoạt động của con người trong nhiều thập kỷ gần đây đã làm tăng đáng kể những tác nhân gây hiệu ứng nhà kính (nồng độ khí thải trong các hoạt động công nghiệp, giao thông, sự gia tăng dân số…), làm trái đất nóng dần lên, từ đó gây ra hàng loạt những thay đổi bất lợi và không thể đảo ngược của môi trường tự nhiên

Cây xanh, một thành phần quan trọng trong các công trình kiến trúc, có vai trò hết sức quan trọng trong việc điều hoà khí hậu, bảo vệ môi trường và giải quyết các vấn đề môi sinh Cùng với việc giảm thiểu nguồn ô nhiễm thì sử dụng cây xanh đang là giải pháp hiệu quả nhất trong việc bảo vệ môi trường Vì vậy, cây xanh đô thị đã trở thành chủ đề thu hút nhiều nhà khoa học quan tâm Trồng cây xanh trong đô thị hay xung quanh khu dân cư, khu công nghiệp để che nắng, giảm lượng bức xạ mặt trời, giảm tiếng ồn và bụi phát tán ra bên ngoài nhà máy, đồng thời tạo thẩm mỹ, cảnh quan môi trường trong khuôn viên các nhà máy của khu công nghiệp và tạo cảm giác êm dịu về màu sắc cho môi trường khu vực

Theo tổng cục môi trường, trong những năm gần đây, tỷ lệ che phủ cây xanh trong các thành phố lớn ngày một giảm, quy hoạch cây xanh cũng chưa đồng bộ Cá biệt, có thành phố chỉ đạt tỷ lệ che phủ cây xanh 2m2/người (bằng 1/10 so với tiêu chuẩn của các thành phố lớn, và bằng 1/20 so với nhiều thành phố ở các nước phát triển), thấp hơn rất nhiều so với mức khuyến cáo ở thành phố lớn theo định mức là 12-20m2

, thành phố trung bình là 9-14m2, thành phố nhỏ khoảng 7m2 Thêm nữa, tốc độ đô thị hóa nhanh đang diễn

ra trên cả nước trong khi chưa có vành đai xanh đủ tiêu chuẩn để bảo vệ môi trường Thiếu cây xanh được xem là “lá phổi xanh của thành phố” đã ảnh hưởng rất lớn đến việc cải thiện môi trường, đặc biệt là môi trường không khí tại các đô thị lớn Quỹ một triệu cây xanh cho Việt Nam được hình thành nhằm khắc phục phần nào tình trạng ô nhiễm không khí nói trên Chính phủ Việt Nam chủ trương khuyến khích xã hội hóa công tác bảo

vệ môi trường Quỹ "Một triệu cây xanh cho Việt Nam" là một hoạt động thiết thực để bảo

vệ môi trường sống và được đánh giá cao

Những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế của thành phố, cây xanh đô thị là vấn

đề mà thành phố cũng dành sự quan tâm UBND thành phố Đà Nẵng vừa có Quyết định

phê duyệt đề án xã hội hóa phát triển cây xanh đô thị thành phố Đà Nẵng giai đoạn

Trang 11

2013-2015 Theo đó, sẽ triển khai thực hiện thí điểm xã hội hóa phát triển cây xanh đô thị trên địa bàn các quận Hải Châu, Thanh Khê, Liên Chiểu, Cẩm Lệ, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn và huyện Hòa Vang Phấn đấu đến năm 2015, diện tích cây xanh đô thị bình quân đạt từ 7- 8m2/người

Tuy nhiên, việc thiếu quy hoạch cộng với sự triển khai không đồng bộ các dự án hạ tầng đã khiến nhiều tuyến đường ở Đà Nẵng vắng bóng cây xanh Có nơi cây xanh mới trồng đã chặt bỏ để trồng loại cây khác gây lãng phí lớn Các tuyến đường ở khu dân cư mới tại các quận Sơn Trà, Liên Chiểu, Cẩm Lệ hoàn thành đã mấy năm nay nhưng vẫn trong cảnh vắng bóng cây xanh Tại các tuyến đường khu vực trung tâm thành phố, việc quy hoạch trồng cây xanh hết sức tạp nham, lộn xộn Như tuyến đường Trần Phú, Đống

Đa, Lê Lợi, Phan Châu Trinh, Nguyễn Chí Thanh là sự hỗn tạp của đủ loại cây như lim xẹt, bằng lăng, giáng hương, bàng, phượng Có nơi người ta còn trồng cả cây trứng cá, xoài và các loại cây gỗ tạp khác Không chỉ vắng cây xanh, các tuyến đường còn có tình trạng trồng cây xanh thiếu quy hoạch gây lãng phí lớn Nhiều tuyến đường cây mới trồng chưa kịp tạo khoảng xanh thì buộc phải nhổ để mở rộng đường sá hoặc cây không phù hợp buộc phải thay thế

Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “ Nghiên cứu thực

trạng cây xanh đường phố tại Quận ải Châu – TP à Nẵng nhằm đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững ” cho Khóa Luận Tốt Nghiệp cho mình

Đề tài của chúng tôi nhằm giải quyết những vấn đề sau:

- Xác định thành phần loài, số lượng, sự phân bố của cây xanh đường phố quận Hải Châu – TP Đà Nẵng

- Đồng thời tìm hiểu những nhân tố tác động đến cây xanh đường phố và đề ra giải pháp phát triển bền vững

C ƯƠN 1 TỔN QUAN T L ỆU

Trang 12

1.1 Giới thiệu vệ hệ thống cây xanh đô thị

1.1.1 Khái niệm cây xanh đô thị

Từ thời kỳ sơ khai của nền văn minh nhân loại, cây xanh luôn luôn giữ vai trò quan trọng về mặt trang trí cảnh quan Người Trung Hoa, La Mã, Ai Cập, Hy Lạp đã sử dụng cây xanh để trang trí nhà ở, lăng miếu, đền thờ, tượng đài

Qua các thời kỳ phát triển của xã hội loài người, đô thị dần dần được hình thành

và không ngừng phát triển Cùng với sự phát triển của đô thị là hệ thống cây xanh Vì cây xanh là một bộ phận quan trọng của các công trình kiến trúc, nhất là đối với các công trình kiến trúc đô thị

Trước đây việc trồng cây xanh chủ yếu là để trang trí, và kiến trúc cảnh quan Vì vậy, trồng cây gì, ở đâu và trồng như thế nào thì hầu như phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của các nhà kiến trúc, sự yêu thích thiên nhiên của các nhà qúy tộc, sự ham mê của những người làm vườn Về phương diện bảo vệ môi trường có thể nói là chưa được chú ý, nếu

có thì chỉ mang tính cục bộ đối với một ngôi nhà, một vùng hay một khu vực nào đó

Đến giữa thế kỷ XX, do dân số tăng nhanh, sự phát triển của các ngành công nghiệp, sự gia tăng của các phương tiện giao thông làm cho môi trường đô thị bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng Cho nên, bảo vệ môi trường trở thành nhiệm vụ hết sức cấp bách

Cây xanh, một thành phần quan trọng trong các công trình kiến trúc, có vai trò hết sức quan trọng trong việc điều hoà khí hậu, bảo vệ môi trường và giải quyết các vấn đề môi sinh Cùng với việc giảm thiểu nguồn ô nhiễm thì sử dụng cây xanh đang là giải pháp hiệu quả nhất trong việc bảo vệ môi trường Vì vậy, cây xanh đô thị đã trở thành chủ đề thu hút nhiều nhà khoa học quan tâm Tuy nhiên, phải đến những năm đầu của thập kỷ 60 vấn đề này mới được nghiên cứu một cách hệ thống

Để nghiên cứu cây xanh đô thị, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều thuật ngữ để

mô tả như: phức hợp rừng, lâm nghiệp vành đai xanh, kỹ nghệ xanh, lâm nghiệp tiện ích, lâm nghiệp đô thị

Trong số các thuật ngữ đó thì lâm nghiệp đô thị là thuật ngữ được nhiều người chú ý và sử dụng Thuật ngữ này lần đầu tiên được giới thiệu tại trường Đại học Torondo (Canađa) vào năm 1965 Tuy nhiên, phải sau đó 5 năm, Jogensen (1970) mới đưa ra định nghĩa về thuật ngữ này Theo ông thì lâm nghiệp đô thị không chỉ liên hệ đến cây xanh đô thị hay quản trị các cây cá lẻ mà còn quản lý cây xanh trên toàn bộ diện tích chịu ảnh hưởng và sử dụng bởi quần thể cư dân đô thị Sau đó, được các nhà nghiên cứu khác bổ sung thêm và thống nhất: Lâm nghiệp đô thị là trồng và tạo lập, bảo vệ và quản trị cây xanh và các thực vật kết hợp dưới dạng cá thể, nhóm nhỏ hay dưới hoàn cảnh rừng trong các thành phố, ngoại ô của thành phố và nông thôn ngoại thành Theo định nghĩa này thì

Trang 13

phạm vi và chức năng hoạt động của lâm nghiệp đô thị khá rộng liên quan đến nhiều lĩnh vực: lâm nghiệp, nông nghiệp, bảo vệ môi trường, kiến trúc, dịch vụ và thương mại

Như vậy, vai trò của cây xanh đã có sự thay đổi cơ bản về chức năng trong hệ sinh thái đô thị: trước đây chủ yếu là trang trí và kiến trúc cảnh quan thì nay là điều hoà khí hậu và bảo vệ môi trường Cây xanh đô thị đã trở thành một chuyên ngành khoa học thực sự - chuyên ngành lâm nghiệp đô thị Với quan điểm này đòi hỏi phải xây dựng một loạt các giải pháp khoa học công nghệ từ việc qui hoạch đến việc chọn loài cây trồng, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn cây trồng, các kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc và quản lý

Ở Việt Nam, việc trồng cây xanh đô thị đã được tiến hành từ hàng trăm năm Nhưng việc nghiên cứu về vấn đề này thì mới được thực hiện khoảng vài chục năm gần đây Điều đáng chú ý là các nghiên cứu mới chỉ tập trung ở hai Thành phố lớn là Hà Nội

và Thành phố Hồ Chí Minh Quan điểm về vấn đề cây xanh đô thị, các nhà nghiên cứu trong nước đều khẳng định: hệ thống cây xanh đô thị có vai trò hết sức to lớn trong việc điều hoà khí hậu, bảo vệ môi trường và kiến trúc cảnh quan Hệ thống cây xanh đô thị của nước ta chưa đáp ứng được yêu cầu về môi trường cảnh quan Tỷ lệ diện tích cây xanh quá ít, cơ cấu cây trồng chưa hợp lý Chúng ta vẫn còn thiếu một giải pháp đồng bộ cho việc phát triển hệ thống cây xanh đô thị

Cây xanh đô thị có thể chia làm nhiều loại tùy theo tính chất sử dụng và vị trí của khu đất trong cơ câu quy hoạch Các loại cây xanh đô thị bao gồm: [2]

Cây xanh công viên

Cây xanh vườn hoa

Cây xanh đường phố

1.1.2 Cây xanh đường phố

Cây xanh, một thành phần quan trọng trong các công trình kiến trúc, có vai trò hết sức quan trọng trong việc điều hoà khí hậu, bảo vệ môi trường và giải quyết các vấn đề môi sinh Cùng với việc giảm thiểu nguồn ô nhiễm thì sử dụng cây xanh đang là giải pháp hiệu quả nhất trong việc bảo vệ môi trường Vì vậy, cây xanh đường phố đã trở thành chủ

đề thu hút nhiều nhà khoa học quan tâm

1.1.2.1 Vai trò của cây xanh đường phố

Có tác dụng giảm ô nhiễm không khí

Không khí chứa bụi khi thổi qua các hàng cây xanh thì các hạt bụi sẽ bám vào mặt

lá cây do lực ma sát và trọng lượng của bản thân hạt bụi Các luồng không khí thổi qua tán

lá cây sẽ bị lực cản làm cho tốc độ của luồng không khí giảm và loãng đi Do đó một phần hạt bụi sẽ ngưng đọng trên lá cây, vì vậy có thể nói cây xanh có tác dụng lọc sạch bụi

trong không khí

Trang 14

Cây xanh có khả năng điều hòa khí hậu hấp thu bức xạ, làm cho không khí nóng bức ngột ngạt ở thành phố trở nên dịu mát, dễ chịu Ở những khu nhà san sát, nhà cao tầng nhất, không có cây xanh không khí thường nóng bức mà con người phải nhận lấy Trái lại,

ở những khu vực có cây xanh, cây đã “gánh” giùm phần lớn nhiệt lượng của mặt trời thải

ra hơi nước, tỏa mát không gian Bên cạnh đó, cây xanh che chở cho con người khỏi

những tia nắng gay gắt giúp bảo vệ da và sức khỏe của con người

Khả năng chắn gió, giảm tiếng ồn và tăng chất lượng không khí

Theo ước tính, cây xanh có thể làm giảm lượng khói bụi đến 6% bằng cách hấp thu các tác nhân gây ô nhiễm không khí như: NO2, CO, SO2, O3, khói, bụi

Giảm tải cho hệ thống thoát nước mưa đô thị

Một cây xanh phổ biến có khả năng giữ lượng nước mưa trung bình 200-290 lít/ năm Bên cạnh đó, các thảm cây xanh làm tăng chất lượng nước các thủy vực do hấp thụ chất ô nhiễm từ nước chảy tràn bề mặt, làm giảm lượng nước tập trung vào nguồn nước mặt và tăng trữ lượng nước ngầm

Làm giảm xói lỡ thủy vực

Cây trong khu vực ven thủy vực có vai trò làm giảm sự xói lở thủy vực nhờ sự ổn định đất đá bằng bộ rể của chúng

Về khía cạnh sinh học và thực phẩm

Cây xanh đảm bảo nơi sống cho động vật trên cạn và các loài thủy sinh

Cây xanh có thể cung cấp thực phẩm, nước, lớp phủ cho các loài chim, bó sát, động vật trên cạn

Về phương diện tâm sinh lý

Cuộc sống của con người luôn gắn bó và không thể tách rời khỏi thiên nhiên Vì vậy khi con người đứng trước các yếu tố tạo nên thiên nhiên (nước, cỏ cây hoa lá, núi non…) đều cảm thấy tâm hồn nhẹ nhàng và thư thái, như tìm được chốn yên bình sau khoảng thời gian ồn ào vội vã của cuộc sống

1.1.2.2 Phân loại cây xanh đường phố

Cây xanh đô thị có thể chia làm nhiều loại:

Theo vị trí trồng gồm: bulơva, dải cây xanh ven đường đi bộ(vỉa hè), dải cây xanh trang trí, dải cây xanh ngăn cách giữa các đường, hướng giao thông.[3]

Trang 15

Theo công dụng, cây xanh đường phố có các nhóm sau:

Nhóm cây ăn quả cho bóng mát

Nhóm cây cho bóng mát thường

Nhóm cây cho bóng mát có hoa đẹp

Nhóm cây gỗ và có giá trị kinh tế

Nhóm cây tạo hình trang trí

1.1.3 Kỹ thuật trồng, chăm sóc cây xanh đường phố

1.1.3.1 Các loại cây bóng mát trong đô thị

Theo quy định mức dự toán duy trì cây xanh đô thị do Bộ xây dựng ban hành năm 2009[4], cây xanh bóng mát được phân loại như sau:

Cây bóng mát mới trồng là cây từ sau khi trồng 90 ngày đến 2 năm

Cây xanh bóng mát từ sau khi trồng 2 năm trở đi, bao gồm:

Cây loại 1 (cây tiểu mộc): có chiều cao trưởng thành ≤ 6m; đường kính gốc ≤

1.1.3.2 Các tiêu chuẩn trồng cây xanh đường phố

Cây xanh trồng trên đường phố phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau:

Cây thẳng, dáng cân đối, không sâu bệnh

Cây không thuộc danh mục cây cấm trồng do Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố ban hành

Cây đưa ra trồng trên đường phố: cây tiểu mộc có chiều cao tối thiểu từ 1,5m trở lên, đường kính cổ rễ từ 5cm trở lên; đối với cây trung mộc và đại mộc có chiều cao tối thiểu 3m trở lên , đường kính cổ rễ từ 6cm trở lên

Cây đưa ra trồng nơi khác có chiều cao từ 2m trở lên, đường kính cổ rễ từ 3cm trở lên

Cây mới trồng phải được chống giữ chắc chắn, ngay thẳng

Cây xanh trồng trên đường phố phải được lắp đặt bó vỉa bảo vệ gốc cây Mẫu bó vỉa (kiểu dáng, kích thước, loại vật liệu) do Sở Giao Thông Công Chánh hướng dẫn thực hiện theo hướng đồng mức với vỉa hè, lề đường

1.1.3.3 Trồng cây xanh đường phố

Cây xanh trồng trên đường phố theo quy cách sau:

Đối với các tuyến đường lớn có chiều rộng vỉa hè trên 5m nên trồng các loài cây đại mộc hoặc trung mộc

Trang 16

Đối với các tuyến đường trung bình có chiều rộng vỉa hè từ 3m đến 5m nên trồng các loài cây trung mộc hoặc tiểu mộc Trong trường hợp áp dụng các giải pháp kiểm soát kích thước cây (như khống chế chiều cao cây, đường kính tán; xác định chu kỳ thay thế cây phù hợp), có thể thiết kế trồng cây đại mộc và phải được Sở Giao thông vận tải chấp thuận trước khi thực hiện.

Đối với các tuyến đường nhỏ có chiều rộng vỉa hè hẹp dưới 3m, đường cải tạo bị khống chế về mặt bằng và không gian thì cần tận dụng những cây hiện có hoặc trồng tại những vị trí thưa công trình, ít vướng đường dây trên không và không gây hư hại các công trình sẵn có; có thể trồng cây trang trí, trồng dây leo theo trụ hoặc đặt chậu cây Trong trường hợp áp dụng các giải pháp kiểm soát kích thước cây phù hợp, có thể thiết kế trồng các loại cây bóng mát và phải được Sở Giao thông vận tải chấp thuận trước khi thực hiện

Khoảng cách giữa các cây trồng từ 4m đến 10m tùy thuộc vào loài cây đại mộc, trung mộc, tiểu mộc hoặc theo từng vị trí cụ thể của quy hoạch trên khu vực, đoạn đường Chú ý trồng cây ở khoảng trước tường ngăn giữa hai nhà phố, tránh trồng giữa cổng hoặc trước chính diện nhà dân đối với những nơi có chiều rộng vỉa hè dưới 5m

Khoảng cách các cây được trồng tính từ mép lề đường từ 0,6m đến 1,0m tùy thuộc vào loài cây đại mộc, trung mộc, tiểu mộc hoặc theo từng vị trí cụ thể của quy hoạch trên khu vực, đoạn đường

Cây xanh đường phố và các dải cây phải hình thành một hệ thống cây xanh liên tục và hoàn chỉnh, không trồng quá nhiều loại cây bóng mát trên một tuyến phố Trồng từ một đến hai loại cây bóng mát đối với các tuyến đường, phố có chiều dài dưới 2km Trồng

từ một đến ba loại cây bóng mát đối với các tuyến đường, phố có chiều dài từ 2km trở lên hoặc theo từng cung, đoạn đường

Đối với các dải phân cách có bề rộng dưới 2m chỉ trồng cỏ, cây bụi thấp, cây tạo hình hoặc các loại cây trang trí khác Các dải phân cách có bề rộng từ 2m trở lên có thể trồng các loại cây thân thẳng có chiều cao và bề rộng tán lá không gây ảnh hưởng đến an toàn giao thông, trồng cách điểm đầu dải phân cách, đoạn qua lại giữa hai dải phân cách khoảng 3m - 5m để đảm bảo an toàn giao thông

Cây bóng mát được trồng cách các góc phố 5m - 8m tính từ điểm lề đường giao nhau gần nhất; các loại cây được trồng tại khu vực giao lộ phải đảm bảo không gây ảnh hưởng đến tầm nhìn giao thông

Cây bóng mát được trồng cách các họng cứu hỏa trên đường 2m - 3m; cách cột đèn chiếu sáng và miệng hố ga 1m - 2m

Cây bóng mát được trồng cách mạng lưới đường dây, đường ống kỹ thuật (cấp nước, thoát nước, cáp ngầm) từ 1m - 2m

Trang 17

Các loại cây được trồng dưới đường dây điện phải đảm bảo hành lang an toàn lưới điện theo quy định của pháp luật về điện lực

Tại các trụ cầu, cầu vượt, bờ tường nghiên cứu thiết kế bố trí trồng dây leo để tạo thêm nhiều mảng xanh cho đô thị, có khung với chất liệu phù hợp cho dây leo để bảo vệ công trình Tại các nút giao thông quan trọng ngoài việc phải tuân thủ các quy định về bảo

vệ an toàn giao thông, tổ chức trồng các loại cây, tạo thành mảng xanh làm tăng vẻ mỹ quan đô thị

1.1.3.4 Ô đất trồng cây xanh đường phố:

Kích thước và loại hình ô đất trồng cây được sử dụng thống nhất đối với cùng một loại cây trên cùng một tuyến phố, trên từng cung hay đoạn đường

Xung quanh ô đất trồng cây trên đường phố hoặc khu vực sở hữu công cộng (có

hè đường) phải được xây bó vĩa có cao độ cùng với cao độ của hè phố nhằm giữ đất tránh làm bẩn hè phố hoặc các hình thức thiết kế khác để bảo vệ cây và tạo hình thức trang trí Tận dụng các ô đất trồng cây bố trí trồng cỏ, cây bụi, hoa tạo thành khóm xung quanh gốc cây hoặc thành dải xanh để tăng vẻ đẹp cảnh quan đô thị

1.1.3.5 Vườn ươm cây xanh

Trong quy hoạch đô thị phải dành quỹ đất để phát triển vườn ươm cây xanh đô

thị Không chuyển đổi đất để phát triển vườn ươm sang mục đích sử dụng khác

Tổ chức được giao quản lý và khai thác vườn ươm cây xanh đô thị có trách

nhiệm:

Bảo đảm việc sử dụng đất vườn ươm đúng mục đích

Chủ động phát triển vườn ươm cây phong phú về chủng loại; bảo đảm tiêu chuẩn kích thước, chất lượng khi xuất vườn nhằm đáp ứng kế hoạch cải tạo và phát triển cây

xanh hàng năm của đô thị

Chủ động nghiên cứu dẫn giống; thực hiện lai tạo, nhân giống các giống cây mới trong và ngoài nước có tán, lá, hoa màu sắc đẹp phù hợp với điều kiện môi trường đô thị; chú trọng việc thuần hóa các loài cây bản địa, đặc hữu, quý, hiếm đưa ra trồng trong công

viên, trên đường phố và các khu vực công cộng khác của đô thị

1.1.3.6 Quản lý cây xanh trên đường phố

Cơ quan được phân cấp quản lý cây xanh trồng trên đường phố có trách nhiệm thục hiện các công việc sau:

Trồng cây xanh đường phố:

Trồng thay thế cây xanh đường phố bị đốn hạ do sâu bệnh không có khả năng điều trị, cây chất, cây xanh có nguy cơ đổ ngã;

Trồng cây xanh theo quy hoạch chủng loại cây xanh trồng trên từng đường do Giám đốc Sở Giao thông công chánh hướng dẫn

Trang 18

Bảo quản ,chăm sóc cây xanh đường phố:

Cây trồng phải được định kỳ chăm sóc, cắt mé cành và nhánh nặng tán, lấy nhánh khô, khống chế chiều cao, chống sửa cây nghiêng, tạo dáng, bón phân, kiểm tra xử lý sâu bệnh và xác định tình trạng phát triển của cây để có biện pháp theo dõi, bảo vệ, xử lý kịp thời các tác động ảnh hưởng tới sự phát triển để làm tăng tuổi thọ của cây trồng Việc chăm sóc, cắt tỉa cây phải tuân thủ quy trình kỹ thuật đồng thời phải có biện pháp bảo đảm

an toàn cho người, phương tiện và công trình

Đơn vị được giao nhiệm vụ quản lý, chăm sóc cây xanh đô thị phải thường xuyên kiểm tra, kịp thời phát hiện cây trồng trên đường phố có khả năng đỗ ngã hoặc dẫn phóng điện tác động nguy hiểm tới người, phương tiện và công trình để có biện pháp khắc phục hoặc lập kế hoạch chặt hạ dịch chuyển cây trồng theo đúng quy định Xác định cây nguy

hiểm để lập hồ sơ theo dõi tình trạng phát triển và có kế hoạch thay thế kịp thời

Đối với cây xanh già cỗi không đảm bảo an toàn, mục đích sử dụng phải lập kế hoạch từng bước chặt hạ để thay thế dần Cây thay thế trồng mới phải có hình dáng,

đường kính chiều cao phù hợp với cảnh quan chung

Lập hồ sơ quản lý: đơn vị được phân công, phân cấp quản lý cây xanh đô thị phải

tổ chức thống kê về số lượng, chất lượng, đánh số cây, lập hồ sơ cây xanh cho từng tuyến phố, khu vực công cộng Đối với cây cổ thụ, cây cần bảo tồn ngoài việc thực hiện việc thống kê, phân loại, đánh số, cần phải treo biển tên và lập hồ sơ cho từng cây để phục vụ công tác bảo tồn, quản lý bảo đảm về mỹ thuật, an toàn khi chăm sóc Xác định cây nguy

hiểm để lập hồ sơ theo dõi tình trạng phát triển và có kế hoạch thay thế kịp thời

1.2 Tình hình nghiên cứu cây xanh đường phố

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Cây cỏ, hoa lá là một thành phần không thể thiếu được của tự nhiên Cây cỏ, hấp thụ khí cácboníc, nhả ra khí ôxy, là loại khí rất cần cho con người và muôn loài hít thở Trong thành phố đông người, nhiều ôtô, xe máy, thường đốt nhiều than dầu, thải ra nhiều khí cacbonic và nhiều loại khí độc hại vào không khí Nhờ có nhiều cây xanh nên lượng khí cacbonic và các khí độc hại khác không tăng lên quá cao, nhờ đó không khí đỡ ngột ngạt, khó thở Cây xanh giúp điều hòa khí hậu, bảo vệ môi trường và giải quyết các vấn đề môi sinh Chính vì vậy,chủ đề cây xanh luôn được sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới

Quốc gia đi đầu trong lĩnh vực này là Singapore, ở đây luôn đi đầu về sự hài hòa giữa cây xanh đô thị và xây dựng Singapore nổi tiếng là một ốc đảo xanh - sạch bậc nhất của thế giới Quốc gia Đông Nam Á này vẫn luôn được gọi với cái tên "Công viên trong thành phố" Hệ thống cảnh quan xanh ở đây được quy hoạch đến từng centimet Cảnh

Trang 19

quan xanh được bố trí ở khắp mọi công trình kiến trúc từ những khu nhà cao tầng, khu biệt thự riêng cho đến các resort Bất kỳ ở đâu, yếu tố xanh cũng được ưu tiên hàng đầu Không chỉ là cảnh quan bên ngoài, cây xanh còn được bố trí ngay lòng những công trình Các toà nhà cao tầng với lối kiến trúc hiện đại khỏe khoắn nhưng cũng không kém phần quyến rũ với những quy hoạch cảnh quan xanh từ khắp các đường phố cho tới bên trong của các toàn nhà Vì vậy, môi trường ở Singapore luôn được đánh giá vào loại sạch nhất trên thế giới và môi trường sinh thái trên đất nước này được đặc biệt quan tâm Chính phủ Singapore đã coi nhiệm vụ bảo vệ môi trường sinh thái là một nhiệm vụ chiến lược trong chính sách phát triển KT-XH Có thể nói, Singapore không chỉ xanh - sạch với môi trường trong cuộc sống mà còn trong cả phong cách kiến trúc xanh của mình.[19]

Theo kết quả nghiên cứu, bình quân diện tích ở Berlin, Đức là 50m2/người; ở Paris, Pháp là 25m2/người; ở Moscow, Nga là 44m2/người hay ở Anh, diện tích cây xanh

ở London là 9m2/người.[21]

Tại viện nghiên cứu cây xanh ở Canada (FCA), một cây xanh khỏe mạnh hấp thụ 2,5kg CO2/năm, một cây trưởng thành có thể hấp thụ từ 3000 đến 7000 hạt bụi/m2 không khí Một cây trưởng thành có thể cung cấp O2 cần thiết cho 4 người

Theo nghiên cứu của Đại học (Michigan State University, Urban Forestry), sự hiện diện của một cây gần nhà giảm 30% lượng không khí ô nhiễm Một cây trưởng thành hút mất 450 lít nước ở trong đất rồi trả lại về không khí dưới dạng hơi nước để làm mới không khí Một cây phong có đường kính 30cm, trong một mùa nó có thể hút được lượng chất kim loại nặng trong đất như 60mg Cadmium, 140mg Chrome, 820mg Nikel và 5200mg Pb.[19]

Một nghiên cứu thú vị được hai nhà sinh thái học người Mỹ là Stephen Mattews

và Paul Rodewald (Đại học bang Ohio) công bố “Cây xanh đô thị có vai trò quan trọng trong việc tiếp năng lượng cho chim di cư”.[20]

Thực hiện nghiên cứu này, hai nhà khoa học đã tiến hành gắn những chiếc thẻ nhỏ nặng 0,66g, có khả năng phát tín hiệu radio vào hơn 100 con chim hét Swainson (Catharus ustulatus), sau đó tìm cách thu thập dữ liệu về hành trình của 91 con trong thời gian nghiên cứu 4 năm

Tiến sĩ Matthews cho biết, các thẻ nhỏ ấy đã cung cấp cho họ một bộ số liệu độc nhất vô nhị về quá trình di cư và các trạm dừng chân của chim hét Swainson Nhờ đó, họ

có thể ghi lại quãng thời gian mà loài chim này nghỉ lại và nhận thấy quy mô của rừng

Trang 20

không phải là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chúng Thay vào đó, chúng bị chi phối nhiều hơn bởi các yếu tố bên trong như lượng mỡ dự trữ của cơ thể

Bên cạnh đó, ông cũng đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của độ che phủ cây trong thành phố khi cùng các nhà khoa học tiến hành kiểm tra những nơi chim sử dụng để kiếm thức ăn Trong 7 vị trí thảm cây được khảo sát thì có đến 5 vị trí thường thấy chim hét Swainson trú ngụ, thậm chí, chúng không rời khỏi địa điểm đã chọn dừng chân

Có thể nói, quá trình di cư là một giai đoạn quan trọng trong chu kỳ hàng năm của các loài chim có đặc tính này, bởi chúng dành đến 90% quỹ thời gian cho việc nghỉ ngơi

và lấy lại năng lượng tại các điểm dừng chân Đây là thông tin thực sự hữu ích cho việc đánh giá tầm quan trọng của môi trường trong thành phố và các khu đô thị đối với sự sinh tồn của loài chim hét Swaison nói riêng và các loài chim di cư nói chung

Một số nghiên cứu ở Mỹ đã phân tích tác động của cây xanh trên giá bán nhà ở, kết quả là việc tìm kiếm các giá trị của tài sản trong cây lót khu vực có thể lên đến 6% lớn hơn trong các lĩnh vực tương tự mà không có cây.[22]

Xu hướng hiện nay ai cũng mong muốn được gần gũi với thiên nhiên Mọi người đều muốn tìm cho mình sự nhẹ nhõm, thanh thoát sau những áp lực của cuộc sống thường ngày Theo một nghiên cứu ở Anh, tiến hành khảo sát dữ liệu từ 5.000 hộ gia đình nước này với 10.000 người trưởng thành trong 17 năm (từ 1991 đến 2008) khi họ chuyển nhà quanh thành phố, các nhà nghiên cứu của Đại học Exeter phát hiện việc sống trong một không gian xanh mang lại ảnh hưởng tích cực đáng kể Nó khiến họ giảm bớt căng thẳng thần kinh, và có mức độ thỏa mãn với cuộc sống cao hơn

Các nhà nghiên cứu cho rằng ảnh hưởng này với mỗi cá nhân có thể là nhỏ, nhưng

sẽ rất có ý nghĩa với cả cộng đồng lớn, giúp nhà chức trách có so sánh tốt hơn khi quyết

định đầu tư vào các điểm công cộng như xây dựng công viên "Việc sống trong khu đô

thị có mật độ cây cối cao có ảnh hưởng tốt đến tâm trạng, gần tương đương 1/3 so với ảnh hưởng của các "cú hích" lớn trong cuộc đời, như kết hôn", tiến sĩ Mathew White,

thành viên nhóm nghiên cứu cho biết

Theo USDA Forest service, “Cây xanh đặt đúng cách xung quanh các tòa nhà có thể làm giảm nhu cầu điều hòa không khí 30% và tiết kiệm được 20 – 50% năng lượng được sử dụng để sưởi ấm.[23]

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Trang 21

Cây xanh đô thị ai cũng hiểu đó là lá phổi xanh của thành phố nhưng vì lợi ích kinh tế, người ta cũng không ngần ngại đánh đổi một công viên bằng một tòa nhà cao tầng ngay trung tâm Theo nguyên tắc quy hoạch, mỗi công trình phải dành ít nhất 20% diện tích cho cây xanh, nhưng trong tình trạng tấc đất tấc vàng như hiện nay, diện tích này cũng bị xà xẻo Thiếu cây xanh tưởng như là chuyện nhỏ với quan niệm “chẳng chết ai” Nhưng cái giá phải trả trong tương lai thì vô cùng lớn, không chỉ cho môi trường mà cho

cả việc xây dựng nhân cách con người

Đánh giá của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết hiện nay cây xanh ở đô thị nước ta chưa đạt tiêu chuẩn về độ che phủ cũng như cân bằng hệ sinh thái Tại các vùng

đô thị hóa nhanh, chưa có vành đai xanh để bảo vệ môi trường Hệ thống cây xanh mới hình thành và tập trung tại các đô thị lớn và trung bình, còn tại các đô thị nhỏ, cây xanh chiếm diện tích không đáng kể So với các tiêu chuẩn và quy chuẩn thì tỷ lệ diện tích đất dành cho cây xanh còn rất thấp

Đã có nhiều nghiên cứu khoa học về cây xanh đô thị được tiến hành trên các thành phố Nhìn chung đều khẳng định: hệ thống cây xanh đô thị ở nước ta chưa đáp ứng được yêu cầu về môi trường cảnh quan Tỉ lệ diện tích cây xanh còn quá ít, cơ cấu cây trồng chưa hợp lý Chúng ta vẫn còn thiếu giải pháp đồng bộ cho việc phát triển cây xanh

đô thị

Năm 1999, Huỳnh Phong Ba và cộng sự với đề tài: “Xác định tập đoàn cây xanh

đô thị phục vụ cho việc xanh hóa các thị xã của tỉnh Quảng Nam” nhằm giúp hai thành phố Tam Kỳ và Hội An có những dự kiến phát triển hiệu quả trong quy hoạch cây xanh đô thị”.[4]

Năm 2000, Phạm Minh Thịnh , nghiên cứu hệ thống cây xanh đô thị trong kiến

trúc cảnh quan của thành phố Huế với kết quả thu được về thành phần loài cây xanh, đã xác định được 143 loài thuộc 54 họ trong đó cây xanh đường phố gồm 59 loài thuộc 24

họ, nhóm cây xanh công viên gồm 74 loài thuộc 32 họ, nhóm cây xanh khuôn viên gồm

64 loài thuộc 34 họ thực vật.[14]

Năm 2001, TS Đinh Quang Hiệp – Giảng viên bộ môn cảnh quan và Kỹ thuật hoa

viên – Đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh tiến hành xây dựng một số dữ liệu về cây xanh đường phố tại Hồ Chí Minh Góp phần hình thành cơ sở dữ liệu cho công ty chăm sóc cây xanh và là tiền đề cho những nghiên cứu về bản đồ cây xanh trên địa bàn sau này.[5]

Trang 22

Năm 2005, Trần Kim Nhạn, thực hiện Khóa luận Tốt nghiệp, Khoa Sư Phạm –

Đại học Cần Thơ, Ngành Sinh vật học, với đề tài: “ Khảo sát hiện trạng mảng xanh công viên, đường phố Quận Ninh Kiều, Cần Thơ”.[10]

Năm 2010, Nguyễn Danh và Phan Thị Thanh Thủy với đề tài: “Điều tra, đánh giá

thành phần loài cây xanh đô thị, khảo sát các mô hình bố trí các cây xanh trên đường phố

và công viên ở thành phố Pleiku” đồng thời nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây xanh đô thị nhằm đê xuất các phương hướng phát triển hệ thống cây xanh đô thị ở thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai Thành phần loài cây xanh đô thị tại đây đã xác định được 165 loài thuộc 140 chi trong 59 họ của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch Trong đó cây xanh đường phố có 57 loài thuộc 28 họ, cây xanh công viên có 130 loài, với

45 loài cây bóng mát thuộc 21 họ.[15]

Năm 2010, Cao Anh Tuấn sinh viên Khoa Lâm Nghiệp trường Đại học Nông Lâm

Huế đã thực hiện Khóa luận tốt nghiệp của mình với đề tài “Ứng dụng GIS trong đánh giá hiện trạng, quy hoạch và quản lý cây xanh đô thị tại một số tuyến đường ở thành phố Tam

Kỳ - Tỉnh Quảng Nam” để góp phần vào việc đánh giá hiện trạng đất và cây xanh đô thị tại Tam Kỳ nhằm phục vụ mục đích thiết kế quy hoạch cây xanh.[17]

Năm 2011, Nguyễn Văn Vui, Trương Thị Mỹ Phẩm, Ngô Trục Nhã, trường Đại

học Cần Thơ, đã tiến hành điều tra thực trạng cây xanh bóng mát và cây cảnh trang trí ở

TP Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Kết quả điều tra bước đầu đã xác định được cây xanh bóng mát và cây cảnh trang trí có 292 loài, 205 chi, 83 họ của 2 ngành thực vật bậc cao

(ngành Magnoliophyta và Pinophyta) Trong đó ngành Magnoliophyta chiếm ưu thế với

282 loài (chiếm 96,6%) tổng số loài Các họ có nhiều loài nhất là: Cactaceae (7 loài),

Asteraceae (9 loài), Dracaenaceae (9 loài), Apocynaceae (13 loài), Araceae (14 loài), Orchidaceae (14 loài), Euphorbiaceae (15 loài), Moraceae (15 loài), Fabaceae (18 loài), Arecaceae (20 loài).[18]

Năm 2011, Trương Thị Lệ, Trường Đại học Sư pham – Đại học Đà Nẵng, tiến

hành nghiên cứu thực trạng cây xanh đường phố Tam Kỳ - Tỉnh Quảng Nam đã thống kê được ở thành phố Tam Kỳ có 49 loài cây xanh đường phố thuộc 43 chi của 25 họ trong 2

ngành thực cật bậc cao có mạch, trong đó ngành hạt kín (Angiospermae) có 47 loài thuộc

41 chi của 23 họ, ngành hạt trần (Gymnospermae) có 2 loài thuộc 2 chi của 2 họ.[09]

1.2.3 Tình hình nghiên cứu ở Thành Phố à Nẵng

Trang 23

Hiện nay, cây xanh đường phố TP Đà Nẵng chưa có nhiều nghiên cứu về chủ đề này Đa số chỉ là các bài báo, nhận định và đánh giá về tình hình chung về cây xanh đô thị của thành phố Trên địa bàn TP Đà Nẵng có gần 60.000 cây xanh bóng mát các loại, trong

đó chiếm nhiều nhất vẫn là lim xẹt, sao đen, xà cừ, bàng, muồng tím, sấu; gần 675.500 m2thảm hoa, thảm cỏ trên 175 đường phố, 48 khu dân cư tập trung, trong các công viên, vườn hoa Ngoài ra, còn có hơn 32.480 cây xanh các loại và hơn 243.650 m2 thảm cỏ, thảm hoa trong khuôn viên các khu vui chơi công cộng, cơ quan, công sở, trường học, nhà dân Diện tích cây xanh trên đầu người đạt 1,26m2/người

Năm 2005, KTS Bùi Huy Trí và cộng sự của Viện quy hoạch xây dựng Đà Nẵng

đã nghiên cứu giải pháp phát triển hệ thống cây xanh đường phố Đà Nẵng nhằm đưa đến cho thành phố những dự kiến phát triển có hiệu quả trong quy hoạch cảnh quan đô thị.[16]

Ở nội thị Đà Nẵng, hiện nay chỉ còn lại một vài đường phố có nhiều cây xanh có nhiều năm tuổi như đường Lê Lợi, Quang Trung, Nguyễn Chí Thanh, Lý Tự Trọng…Ở những tuyến đường lớn mới mở như đường Nguyễn Hữu Thọ, 30-4, Hoàng Sa, Trường Sa… quy hoạch cây xanh vẫn còn nhiều chuyện đáng bàn, điển hình như trên đường 30-4, đoạn đầu đường phía Tượng đài 2-9 được trồng cây dừa, trong khi đó những đoạn đường còn lại lại trồng một loại cây khác Hay trên đường Nguyễn Hữu Thọ, hầu như thiếu vắng bóng cây xanh

Riêng những khu vực mới được chỉnh trang, mở rộng, xây dựng thì cây xanh còn nhiều vấn đề đáng nói Thí dụ tại các khu chung cư trên địa bàn phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà, mặc dù đã được đưa vào sử dụng từ năm 2006 đến nay, nhưng các khu chung cư như A1, A2, A4, A5, A6 (khối chung cư Vũng Thùng) hầu như không có cây xanh Những loại cây xanh được trồng ở các khu chung cư này chủ yếu do người dân trong các tổ dân phố đóng góp kinh phí rồi mua tự mua cây về trồng, trong đó có nhiều cây ít cho bóng mát như cây sao đen, lim…

Năm 2010, Nguyễn Quốc Hải, sinh viên khoa Sinh – Môi trường, trường Đại học

Sư phạm, Đại học Đà Nẵng thực hiện Khóa luận Tốt nghiệp với đề tài: “Nghiên cứu thực trạng cây xanh đường phố tại quận Thanh Khê – TP Đà Nẵng” qua đó góp phần hình thành cơ sở số liệu cho công tác quản lý cây xanh và là tiền đề nghiên cứu về bản đồ trên địa bàn thành phố sau này.[06]

Năm 2011, Lê Thị Phương, sinh viên khoa Sinh – Môi trường, trường Đại học Sư

phạm, Đại học Đà Nẵng thực hiện Khóa luận Tốt nghiệp với đề tài: “Nghiên cứu thực

Trang 24

trạng cây xanh đường phố tại quận Sơn Trà – TP Đà Nẵng nhằm đề ra giải pháp phát triển bền vững”.[12]

Năm 2012, Nguyễn Ngọc Phan, sinh viên khoa Sinh – Môi trường, trường Đại học

Sư phạm, Đại học Đà Nẵng thực hiện Khóa luận Tốt nghiệp với đề tài: “Nghiên cứu thực trạng cây xanh đường phố tại quận Liên Chiểu – TP Đà Nẵng nhằm đề ra giải pháp phát triển bền vững”.[11]

1.3 ặc điểm khu vực nghiên cứu

1.3.1 iều kiện tự nhiên

Vị trí của Quận Hải Châu

 Phía Bắc giáp Vịnh Đà Nẵng

 Tây giáp quận Thanh Khê và huyện Hòa Vang

 Đông giáp quận Sơn Trà và quận Ngũ Hành Sơn

 Nam giáp huyện Hòa Vang

Quận Hải Châu có diện tích 21,35 km2, chiếm 1,66% diện tích toàn thành phố Dân số :196.098 người, chiếm 21,17% số dân toàn thành phố; Mật độ dân số: 9.184,92 người/km2 (Theo niên giám thống kê thành phố Đà Nẵng năm 2010)

Quận Hải Châu có 13 đơn vị hành chính cấp phường: Hải Châu 1, Hải Châu 2, Thạch Thang, Thanh Bình, Thuận Phước, Hòa Thuận Tây, Hoà Thuận Đông, Nam Dương, Phước Ninh, Bình Thuận, Bình Hiên, Hòa Cường Nam, Hòa Cường Bắc

Với vị trí là một quận trung tâm, nằm sát trục giao thông Bắc Nam và cửa ngõ ra biển Đông, cùng một hệ thống hạ tầng giao thông phát triển mạnh, đồng thời là trung tâm hành chính, thương mại, dịch vụ của thành phố, tập trung đông dân cư và các cơ quan, văn phòng của hầu hết các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Vì vậy, quận Hải Châu có một tầm quan trọng đặc biệt trong sự phát triển của thành phố Đà Nẵng, giữ vai trò làtrung tâm chính trị-hành chính-kinh tế-văn hoá và là địa bàn trọng điểm về an ninh, quốc phòng của thành phố Đà Nẵng

1.3.2 Tình hình kinh tế xã hội

Năm 1997, từ khi trở thành đơn vị hành chính trực thuộc thành phố Đà Nẵng, quận Hải Châu đã có nhiều thay đổi theo hướng tích cực Trong 16 năm qua, quận Hải

Trang 25

Châu đã liên tục thay đổi gương mặt của mình Cùng với quyết tâm vượt qua gian khó của toàn thể cán bộ, quân và dân Đà Nẵng trong quá trình phát triển, quận Hải Châu quyết liệt

tự làm mới mình, vừa là nhu cầu tự thân, vừa là để đáp ứng yêu cầu của một quận trung tâm đầu tàu có sứ mệnh liên đới trách nhiệm đối với cả Đà Nẵng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước

Khai thác tốt những lợi thế sẵn có, trong những năm qua Hải Châu đã có những biến đổi rõ rệt về nhịp độ và khí thế phát triển Tốc độ GDP bình quân tăng cao hơn mức bình quân chung của thành phố Đà Nẵng, giá trị sản xuất các mặt hàng công nghiệp, nông nghiệp,thủy sản phát triển toàn diện … kim ngạch xuất khẩu tăng, các ngành du lịch thương mại, dịch vụ chuyển biến tích cực

Với chủ trương lấy dịch vụ làm đòn bẩy phát triển, cơ cấu kinh tế của quận Hải Châu đã chuyển dịch đáng kể theo hướng tăng tỷ trọng ngành dịch vụ thương mại Tỷ trọng của ngành dịch vụ trong GDP đạt 71,87% (năm 2011) và tốc độ tăng bình quân giai đoạn 1997-2011 là 14,29%/năm Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn quận năm 2011 là 52.225 tỷ đồng, tăng bình quân giai đoạn 1997-2011 là 14,73%/năm, trong đó tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn quận năm 2011 là 16.646 tỷ đồng, tăng bình quân giai đoạn 1997-2011 là 18,34%/năm

16 năm qua kể từ khi được thành lập, bộ mặt đô thị của Hải Châu đã có nhiều đổi thay Những khu phố mới kiến trúc đẹp, được xây dựng thay cho những khu phố cũ Nhiều khu chung cư khang trang mọc lên phục vụ các hộ dân nghèo ở các khu nhà ổ chuột quy hoạch giải tỏa Những tuyến đường rộng dài lấp lánh ánh điện thay cho những con đường gập ghềnh xuống cấp, tạo nên hệ thống giao thông thuận lợi, tác động tích cực, làm nên không gian đô thị hấp dẫn và văn minh hơn Các phân khu chức năng dần rõ nét, đã định hình các điểm nhấn về kiến trúc đô thị như: Khu Đảo xanh, đường Nguyễn Hữu Thọ, đường kè ven sông

Ngoài các khu dân cư cũ đã hình thành trước đây, kiến trúc hạ tầng gần như ổn định, đặc biệt ở các đường phố chính như Lê Duẩn, Hùng Vương, Phan Chu Trinh, Hoàng Diệu Theo quy hoạch chung của thành phố mở rộng cơ sở hạ tầng các khu dân cư, khu đô thị mới về phía Nam và Tây Nam của quận, 15 năm qua, thành phố và quận đã triển khai xây dựng các khu dân cư mới như khu dân cư Bình Hiên, Tuyên Sơn, Bình An, Tây Nam Hoà Cường, Đầm Rong, Thuận Phước, các khu dân cư số 1, số 2, số 4 thuộc khu đô thị mới Trường Sa-Nguyễn Tri Phương, đều có cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị đồng bộ Hiện đang triển khai xây dựng khu dân cư thu nhập thấp ở khu Trung Tạm (phường Hải Châu

Trang 26

2) và khu Châu Thành (phường Nam Dương) và đầu tư cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng đảm bảo đáp ứng nhu cầu nhà ở và sinh hoạt của người dân

Các công trình do Nhà nước và nhân dân cùng làm đã được đẩy mạnh, đến cuối năm 2011 đã có 100% mương cống, nền đường hẻm kiệt được bê tông hóa và 95% kiệt hẻm có điện chiếu sáng

Việc thiết lập kỷ cương trong quản lý đô thị, trật tự an toàn giao thông có nhiều tiến bộ, từng bước đi vào nề nếp Công tác quản lý quy hoạch, quản lý xây dựng được thực hiện nghiêm túc; kiên quyết xử lý các vi phạm quy hoạch, xây dựng trái phép… đã nâng cao được hiệu quả quản lý trong lĩnh vực này và không xảy ra các “điểm nóng” phức tạp

C ƢƠN 2

Ố TƢỢN , ỊA ỂM, T Ờ AN, NỘ DUN V P ƢƠN

PHÁP N ÊN CỨU

2.1 ối tƣợngnghiên cứu

Cây xanh đường phố gồm: nhóm cây cho bóng mát và nhóm cây cho bóng mát có hoa đẹp

2.2 ịa điểm nghiên cứu

Quận Hải Châu – TP.Đà Nẵng

2.3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 10/2012 đến tháng 05/2013

Trang 27

Tổng quan và viết đề cương nghiên cứu: Tháng 11/2012

Khảo sát thực địa: Tháng 11/2012 đến tháng 4/2013

Tổng hợp thống kê, phân tích số liệu và hoàn thành khóa luận: Từ 21/4/2013 đến 30/5/2013

2.4 Nội dung nghiên cứu

Xác định thành phần loài cây xanh đường phố tại quận Hải Châu – Tp.Đà Nẵng

 Mô tả một số loài cây xanh đường phố phổ biến và đặc trưng của khu vực nghiên cứu

 Khảo sát số lượng, tình hình phân bố của các loài cây xanh đường phố

 Tìm hiểu một số tác động đến hệ thống cây xanh đường phố tại địa bàn nghiên cứu

 Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển bền vững hệ thống cây xanh đường phố trên địa bàn nghiên cứu

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.2 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

Gặp gỡ và trao đổi với các chuyên viên kĩ thuật và cán bộ chăm sóc cây xanh đường phố có kinh nghiệm trong nghề

2.5.3 Phương pháp khảo sát thực địa

2.5.3.1 Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa

- Tiến hành thu mẫu theo tuyến

- Dụng cụ thu mẫu: cặp thực địa, sổ ghi chép, bút chù mềm, nhãn ghi số liệu, kéo cắt cây, máy ảnh

- Nguyên tắc thu mẫu:

Trang 28

+ Mỗi mẫu phải có đầu đủ các bộ phận nhất là các cành có lá, hoa và quả

+ Các mẫu thu trên cùng một cây thì ghi cùng một số liệu

+ Ghi chép nhanh những điểm để nhận biết ngoài thiên nhiên, nhất là các đặc điểm dễ mất khi bị khô

2.5.3.2 Phương pháp xử lý và bảo quản mẫu

- Mẫu được xếp thành từng bó khoảng 10 – 12 mẫu, cho vào túi ni lông kích thước

50 x 120, cho cồn 700

theo tỉ lệ 50% cồn và 50% nước, sau cho vừa ngập mẫu, buột chặt miệng túi lại mang về phòng thí nghiệm Thực vật – Khoa Sinh Môi Trường – Đại Học Sư Phạm – Đại Học Đà Nẵng để ép và sấy mẫu

- Chụp ảnh một số mẫu vật tự nhiên để minh họa

 Lên tiêu bản: Mẫu được đính trên giấy Croqui cỡ 21 x 41cm, có dán nhãn

theo quy định

2.5.3.3 Phương pháp giám định tên cây

- Phương pháp so sánh hình thái: dựa vào đặc điểm hình thái cơ quan sinh sản để phân biệt các loài

- Trong quá trình giám định thì sử dụng khóa phân loại của Phạm Hoàng Hộ 1991,

1992, 1993 trong tập “ cây cỏ Việt Nam ”, Tài nguyên cây gỗ Việt Nam – Trần Hợp(2003)

2.5.3.4 Phương pháp lập danh lục

- Danh lục được xếp thành từng chi, từng họ theo cách sắp xếp của Brummitt, 1992

Trang 29

- Trật tự các loài trong phạm vi từng chi, các chi trong từng họ được xếp theo thứ tự

3.1 Kết quả điều tra thành phần loài cây xanh đường phố tại quận ải Châu – TP

à Nẵng

3.1.1 Thành phần loài cây xanh đường phố tại quận ải Châu – TP à Nẵng

Qua quá trình khảo sát, điều tra CXĐP trên các tuyến đường trong quận chúng tôi thu được 99 mẫu thực vật, sau khi định loại chúng tôi đã thống kê được có 32 loài, 30 chi,

Trang 30

A.1 CYCADOPSIDA LỚP TUẾ

Trang 31

Nhận xét: Qua bảng 3.1 chúng tôi nhận thấy rằng thành phần loài cây xanh đường

phố tại quận Hải Châu khá đa dạng và phong phú với 32 loài, 30 chi, 20 họ thực vật Trong 32 loài điều tra được thì ngành Hạt trần có 2 loài chiếm 6,25%, ngành Hạt kín với

30 loài chiếm ưu thế tuyệt đối với 93.75% tổng số loài điều tra được

3.1.2 Nhận xét về tính đa dạng cây xanh đường phố tại quận ải Châu – TP à Nẵng

Để đánh giá mức độ của cây đa dạng của thành phần loài cây xanh đường phố tại quận Hải Châu chúng tôi lập bảng so sánh giữa các quận của thành phố về thành phần loài

Quận Thanh Khê (**)

Quận Liên Chiểu (***)

Tỉ lệ so sánh (%)

Trang 32

Nguồn: (*) Theo kết quả Khóa Luận Tốt nghiệp của Lê Thị Phương 2011.[7]

(**) Theo kết quả Khóa Luận Tốt nghiệp của Nguyễn Quốc Hải 2010.[9]

(***) Theo kết quả Khóa Luận Tốt nghiệp của Nguyễn Ngọc Phan 2012.[8]

Biểu đồ 3.1 Biểu đồ so sánh thành phần loài cây xanh đường phố các quận

ải Châu, Sơn Trà, Thanh Khê, Liên Chiểu của TP à Nẵng

Qua bảng 3.2 và biểu đồ 3.1 chúng tôi nhận thấy thành phần cây xanh đường phố tại quận Hải Châu là khá đa dạng về thành phần taxon

Quận Hải Châu với diện tích 21,35 km2 so với quận Liên Chiểu (79,13 km2), quận Sơn Trà (60,78 km2), quận Thanh Khê (9,3 km2) tuy diện tích không lớn nhưng thành phần loài cây xanh đường phố ở quận với số loài 32 chiếm 110,34% (quận Sơn Trà), 100% (quận Thanh Khê), 106,66% (quận Liên Chiểu) Với 20 họ chiếm 105,25% so với các quận Qua đó chúng ta thấy thành phần chủng loại cây xanh đường phố quận Hải Châu chiếm tỉ lệ khá cao so với các quận trong thành phố

Trang 33

3.2 Mô tả đặc điểm một số loài cây xanh đường phố trên địa bàn quận ải Châu –

Bộ (Ordo): Malvales (Bông)

Họ (Familia): Dipterocarpaceae (Dầu) Chi (Genus): Hopea

3.2.1.2 Đặc điểm

Thuộc loại cây gỗ lớn, thường

xanh, cao 30- 40m, thân hình trụ thẳng,

đường kính 60- 80cm, chiều cao dưới

cành 15-25m Vỏ ngoài nâu đen, nứt dọc

sâu thành những miếng dày, xù xì Vỏ

trong mầu nâu đỏ, nhiều sợi Cành non và

cuống lá phủ lông hình sao xám, sau nhẵn

Lá hình trái xoan thuôn hay hình mũi mác,

dài 8-14cm, rộng 3-6cm, đầu có mũi tù

ngắn, gốc hơi lệch, gân cấp hai 8-10 đôi,

nổi ở mặt dưới; gân nhỏ cong queo, gần

song song, hai mặt lá có lông hình sao, ở

nách gân cấp hai mặt dưới lá thường có

tuyến Cuống lá dài 12- 18mm

Cụm hoa hình chuỳ mang mang nhiều bông, mọc ở nách lá hay đỉnh cành; trục cụm hoa có lông xám trắng, mỗi cụm hoa thường mang 10-12 bông, mỗi bông có 4-6 hoa Hoa gần không cuống, lá đài 5, phía ngoài và trong có lông Cánh hoa 5, hình lưỡi hái, mép có răng, có lông ở ngoài Nhị 15-19; chỉ nhị rộng và dẹt, phía trên thót lại; bao phấn

có trung đới hình dùi, mảnh Bầu có lông, vòi nhẵn

Sao đen (Hopea odorata

Roxb.)

Ngày đăng: 09/05/2021, 16:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm